1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ chứng minh dạy học phát triển trí thông minh (iq) của học sinh qua môn hóa học

48 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ. Chứng minh dạy học phát triển trí thông minh (IQ) của học sinh qua môn Hóa học
Tác giả Ngô Xuân Quỳnh
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 434,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn dạy học cho thấy phương pháp dạy học hiện nay tuy đãnhiều đổi mới nhưng cũng chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, ở trườngphổ thông các thầy cô quan tâm đến nội dung và phương phá

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chúng ta đang sống ở thế kỉ XXI, thế kỷ của tri thức khoa học vàcông nghệ cao Điều đó đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải đổi mới mạnh

mẽ, sâu sắc và toàn diện Nghị quyết BCH Trung Ương Đảng khoá VIII

đã chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo ra những con người

có đủ phẩm chất, năng lực để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, làm chủ trithức khoa học công nghệ hiện đại, có năng lực phát huy giá trị văn hoádân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng thựchành giỏi”

Phát triển năng lực nhận thức, tư duy độc lập, sáng tạo và rèn tríthông minh cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trong củanhà trường phổ thông Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhấnmạnh: “Chương trình và sách giáo khoa phải đảm bảo dạy cho học sinhnhững nguyên lí cơ bản toàn diện về các mặt đức dục, trí dục, mĩ dục.Đồng thời tạo cho các em điều kiện phát triển trí thông minh, khả năngđộc lập suy nghĩ và sáng tạo Cái quan trọng của trí dục là rèn luyện tríthông minh và sức suy nghĩ …Phương pháp giảng dạy bao giờ cũng điđôi với nội dung giảng dạy, anh dạy như thế nào giúp cho người học trò,người sinh viên óc khả năng độc lập suy nghĩ, giúp cho cái thông minhcủa họ làm việc, phát triển chứ không phải giúp cho họ có trí nhớ Phải

có trí nhớ nhưng chủ yếu là giúp cho họ phát triển trí thông minh sángtạo” Do đó nhà trường phổ thông phải đào tạo ra những con người cóphẩm chất trí tuệ, chủ yếu là những phẩm chất của sức suy nghĩ, của tưduy: óc suy nghĩ độc lập sáng tạo, trí thông minh

Trang 2

Thực tiễn dạy học cho thấy phương pháp dạy học hiện nay tuy đãnhiều đổi mới nhưng cũng chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, ở trườngphổ thông các thầy cô quan tâm đến nội dung và phương pháp học tậpđáp ứng tốt cho các kì thi nhưng chưa chú trọng thích đáng vào rèn luyệnphát triển trí tuệ, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thực vào thực tiễn, đặcbiệt là phát triển tư duy Hóa học Tư duy Hóa học là loại hình rất cần thiếttrong dạy học và làm việc sau này của học sinh

Trong dạy học hoá học, có thể nâng cao chất lượng dạy học và pháttriển năng lượng nhận thức của học sinh bằng nhiều biện pháp vàphương pháp khác nhau Giải bài tập hoá học với tư cách là một phươngpháp dạy học và có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục, rèn luyện vàphát triển học sinh Mặt khác, cũng là thước đo trình độ nắm vững kiếnthức và kỹ năng hoá học của học sinh

Như vậy người thầy không chỉ cung cấp kiến thức mà còn dạy cáchhọc, phát huy khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp, nhận xét, đánh giá,phát hiện vấn đề làm cho học sinh chủ động trong học tập, say mênghiên cứu, gạt bỏ tư tưởng ngại và sợ Hóa học, làm cho Hóa học trởthành một môn học gần gũi và thiết thực đối với học sinh

Vì vậy, cần phải nghiên cứu bài tập hóa học trên cơ sở hoạt động

tư duy của học sinh, từ đó đề ra cách hướng dẫn học sinh tự lực giải bàitập, thông qua đó để tư duy của họ phát triển Do đó, việc nghiên cứu

chủ đề “ Mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ Chứng minh dạy học phát triển trí thông minh (IQ) của học sinh qua môn Hóa học” là rất cần thiết.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 3

- Tìm hiểu mối quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ Nghiên cứucác quan điểm về trí tuệ, đặc điểm của phát triển trí tuệ, những yếu tố tácđộng lên chỉ số IQ và hiệu chỉnh văn hoá xã hội đối với trình diễn trí tuệ,mối quan giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ.

- Tìm hiểu về mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí thông minh

IQ của học sinh qua môn hoá học Nghiên cứu hoạt động tư duy của họcsinh trong quá trình học tập môn hoá học, xây dựng biện pháp nhằm pháttriển năng lực tư duy và rèn trí thông minh hoá học cho học sinh thôngqua việc giải bài tập môn hoá học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về dạy học

Nghiên cứu lý luận về sự phát triển trí tuệ, phát triển trí thông minh (IQ).Nghiên cứu mối liên hệ giữa dạy học và phát triển trí thông minh(IQ).Soạn thảo nội dung dạy hóa học có sự phát triển trí tuệ thông minh (IQ)

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi trung học phổ thông

Lứa tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì vàkết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15 –

25 tuổi, được chia làm hai thời kỳ:

+ Thời kỳ từ 15 – 18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên

+ Thời kỳ từ 18 – 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên

Lứa tuổi học sinh THPT thuộc giai đoạn đầu

Yếu tố ảnh hướng tới sự phát triển của học sinh THPT

Đặc điểm về sự phát triển thể chất: Tuổi học sinh THPT là thời kỳđạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bướcvào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Sự phát triển củathể chất lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý và nhân cáchcũng như ảnh hưởng tới những lựa chọn trong cuộc sống

Điều kiện sống và hoạt động

+ Vị trí trong gia đình:Trong gia đình, lứa tuổi trung học phổthông đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn Cha mẹ bắtđầu trao đổi với con cái ở lứa tuổi này về một số vấn đề quan trọng tronggia đình Học sinh lứa tuổi này bắt đầu quan tâm đến nề nếp, lối sống,sinh hoạt và điều kiện kinh tế của gia đình Đây là lứa tuổi vừa học tậpvừa lao động

Trang 5

+ Vị trí trong nhà trường: Ở nhà trường, học tập vẫn là chủ đạonhưng tính chất và mức độ thì cao hơn lứa tuổi thiếu niên Lứa tuổi nàyđòi hỏi tính tự giác và độc lập hơn Trong giai đoạn này, nhà trường có

vị trí quan trọng, đây là nơi không chỉ trang bị tri thức mà còn tác độnghình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho mỗi học sinh

+ Vị trí ngoài xã hội: hoạt động lúc này đã vượt ra khỏi phạm vicủa nhà trường, ảnh hưởng của xã hội tới nhóm này rất mạnh Ở lứa tuổinày đã có suy nghĩ về việc lựa chọn nghề và cách sống trong tương lai

Đặc điểm hoạt động học tập: Học tập vẫn là hoạt động chủ đạo củahọc sinh trung học phổ thông Với những yêu cầu cao hơn về tính tíchcực và độc lập trí tuệ Thái độ đối với việc học tập cũng có sự thay đổi:Thái độ tự ý thức về việc học tập cho tương lai được nâng cao, có thái độlựa chọn đối với từng môn học và đôi khi chỉ chăm chỉ học những mônđược cho là quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp tới tương lai Ở lứatuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập đã trở nên xác định vàthể hiện rõ ràng hơn, học sinh thường có hứng thú ổn định đối với mộtmôn khoa học hay lĩnh vực nào đó

Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ: Lứa tuổi trung học phổ thông làgiai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thể được hoànthiện nên tạo điều kiện cho phát triển trí tuệ Cảm giác và tri giác lứatuổi này đã đạt mức độ của người lớn Điều này làm cho năng lực cảmthụ được nâng cao Trí nhớ cũng phát triển rõ rệt, học sinh đã biết sửdụng nhiều phương pháp ghi nhớ chứ không chỉ ghi nhớ một cách máymóc (học thuộc) Hoạt động tư duy của học sinh trung học phổ thôngphát triển mạnh, ở thời kỳ này học sinh đã có khả năng tư duy lý luận,trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo Những năng lực như phân tích,

so sánh, tổng hợp cũng phát triển

Trang 6

Sự phát triển của tự ý thức: Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bậttrong sự phát triển nhân cách của học sinh trung học phổ thông, nó có ýnghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Điều này khiếnhọc sinh quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhâncách và năng lực riêng, cũng như tự đánh giá khả năng của mình Giaiđoạn này, học sinh không chỉ tự ý thức về cái tôi của mình mà còn nhậnthức vị trí của mình trong tương lai Xuất hiện khuynh hướng phân tích

và tự đánh giá bản thân mình một cách độc lập

1.2 Bản chất hoạt động dạy học

1.2.1 Khái niệm hoạt động dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục

Trong cuộc sống xã hội loài người, mọi cá nhân lớn lên được vềmặt tâm lý, trí tuệ hay cảm xúc … là nhờ vào quá trình thẩm thấu dầnnhững kinh nghiệm của xã hội loài người Như vậy quá trình trưởngthành về mặt xã hội của con người được thực hiện là nhờ cơ chế ditruyền xã hội, tức là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những kinhnghiệm của xã hội loài người, nhờ đó trẻ lớn lên thành người Cơ chế ditruyền xã hội này được thực hiện hiệu quả nhất qua con đường dạy học.Dạy học là quá trình biến năng lực của loài người thành năng lực của cáthể Để làm được điều này thì cá nhân phải hoạt động nhưng họ không

tự làm được mà cần có sự giúp đỡ của người lớn, của thế hệ đi trước, củanhững nhà giáo dục

Nói đến hoạt động dạy học là nói đến hoạt động đặc trưng của nhàtrường Việc dạy có thể diễn ra mọi lúc mọi nơi bởi bất cứ ai, nhưng hoạtđộng dạy học là hoạt động đặc thù của nhà trường bởi hoạt động này đượctiến hành có kế hoạch, có mục đích tôn chỉ rõ ràng, với nội dung mang

Trang 7

tính khoa học và tính hệ thống và đặc biệt được dẫn dắt bởi đội ngũ đượcđào tạo sư phạm chuyên nghiệp.

Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục, là một trong nhữngcon đường quan trọng nhất để thực hiện mục đích giáo dục Về bản chất,không có dạy học nào mà lại không hàm chứa giáo dục trong nó vàkhông có giáo dục nào lại không có sự dạy Đó cũng là lý do vì sao dạyhọc là con đường giáo dục cơ bản và đặc trưng của nhà trường Hơn nữanội dung các môn học chứa đựng thành tựu khoa học, những kinhnghiệm của xã hội loài người cũng như những giá trị của chúng nên khitiếp nhận những nội dung này, người học được hướng dẫn luôn cả sựchiếm lĩnh con đường đạt kiến thức và hình thành thái độ với những gìloài người tạo ra Dạy có thể diễn ra thường ngày, được tiến hành bởi bất

cứ ai Nhưng dạy học là dạy trong nhà trường và được tiến hành bởi cácnhà sư phạm, những người được đào tạo nghề dạy học Dạy thường ngàythường là giúp người học có được những hiểu biết mang tính chất kinhnghiệm để người học có thể thích ứng với cuộc sống hiện tại Dạy thườngngày có nhược điểm là những tri thức kinh nghiệm không đủ để ngườihọc thích nghi với mọi hoàn cảnh của cuộc sống, tri thức này có tính chấttình huống và thiếu tính hệ thống Để khắc phục được nhược điểm nàychúng ta phải tiến hành dạy trong nhà trường

Hoạt động dạy học trong nhà trường

Dạy học trong nhà trường chủ yếu dạy cho con người những tri thứckhoa học, hình thành những năng lực người ở trình độ cao Dạy thườngngày cũng dạy cho mỗi cá thể những năng lực người, nhưng đó là nhữngnăng lực đẻ tồn tại trong cuộc sống xã hội Việc dạy trong nhà trườnggiúp mỗi các nhân lĩnh hội được tri thức một cách có hệ thống, khoa học

và họ được đào tạo theo một phương thức đặc biệt và người dạy là người

Trang 8

có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm Vì vậy khi nói tới hoạtđộng dạy học, chúng ta hiểu là dạy học theo phương thức nhà trường.Như vậy, trong nhà trường dạy học cũng là con đường giáo dụcquan trọng góp phần thực hiện những nhiệm vụ giáo dục cơ bản khác

1.2.2 Mục đích hoạt động dạy học

Mục đích hoạt động dạy học là xác định trước những biến đổi trongnhận thức và nhân cách người học sau quá trình dạy Nhìn chung mụcđích cuối cùng của hoạt động dạy học là giúp người học lĩnh hội nền vănhóa xã hội, phát triển tâm lý, hình thành nhân cách Mục đích này thểhiện ở việc ngời học tái hiện, nắm vững, vận dụng, đánh giá… nội dungkiến thức của từng bài học, môn học cụ thể Sự trưởng thành nhân cáchngười học sau quá trình học, được thể hiện ở chính quá trình xã hội hóangười học Tức là bằng hoạt động và giao tiếp của mình người học hòanhập vào các mối quan hệ xã hội và lĩnh hội nền văn hóa xã hội nhờ vaitrò trung gian của giáo dục

Để đạt được mục đích, người dạy tổ chức quá trình tái tạo tri thức,kinh nghiệm lịch sử xã hội ở người học Người dạy sử dụng tri thức như

là phương tiện, vật liệu để tổ chức và điều khiển người học lĩnh hội trithức Người dạy tạo ra được sự tích cực trong hoạt động học của ngườihọc, làm cho người học vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội vừa biếtcách chiếm lĩnh nó Tính tích cực này quyết định chất lượng học tập củangười học Như vậy, quá trình dạy học có tính thuận nghịch, có mụcđích, được thay đổi một cách kế tiếp nhau giữa thầy và trò Trong đóthầy tổ chức điều khiển, trò lĩnh hội kinh nghiệm xã hội Để tiến hànhhoạt động dạy có hiệu quả cao đòi hỏi người dạy phải có những phẩmchất năng lực cần thiết

1.2.3 Tổ chức hoạt động dạy học

Trang 9

Bản chất của hoạt động dạy chính là quá trình tổ chức và điềukhiển quá trình học của người học Khái niệm tổ chức trong hoạt độngdạy của người dạy chính là quá trình dẫn dắt người học thực hiện cáchành dộng học bằng hệ thống các thao tác xác định Cụ thể:

Xác định mục đích cần đạt của mỗi bài học và những yêu cầu cầnthực hiện để có thể đạt được mục đích đề ra

+ Cung cấp phương tiện, điều kiện để người học thực hiện hoạtđộng học

+ Thiết kế quy trình thực hiện nhiệm vụ của hoạt động

+ Chỉ dẫn người học làm theo quy trình

+ Đánh giá và hướng dẫn người học tự đánh giá kết quả đạt được

Đó là công việc chính trong quá trình thực hiện hoạt động dạy củangười thầy Tuy nhiên, sự hấp dẫn hay hiệu quả của giờ học phụ thuộcrất nhiều vào những phương pháp thầy sử dụng trên lớp

Xét về bản chất của phương pháp dạy học, theo L.X Vygotsky, cóchia kiểu dạy học mà tương ứng với nó là hai kiểu phương pháp dạy họckhác nhau:

+ Dạy học dựa vào mức độ hiện có của người học: Đây là vùngphát triển hiện có, ở đây người học đã có vốn tri thức, kỹ năng, phươngpháp nhất định Dạy học kiểu này không mang lại cái mới cho ngườihọc, không tạo ra sự phát triển mà chỉ củng cố những gì người học đã có

+ Dạy học hướng vào vùng phát triển gần nhất: Đây là vùng chứađựng những gì người học chưa biết ngày hôm nay nhưng ngày mai sẽbiết dưới sự giúp đỡ của người thầy Dạy theo kiểu này thầy giúp hìnhthành kiến thức, rèn luyện kỹ năng, chiếm lĩnh phương pháp mới, là dạyhọc phát triển

1.3 Sự phát triển trí tuệ

Trang 10

1.3.1 Khái niệm trí tuệ và những khái niệm có liên quan

1.3.1.1 Những khái niệm có liên quan

Trước khi có khái niệm về trí tuệ chúng ta cần tìm hiểu thêm vềcác yếu tố liên quan đến trí tuệ như:

Năng lực (ability): Năng lực là tổ hợp hài hòa các thuộc tính độcđáo của cá nhân (tâm lý và sinh lý), phù hợp với yêu cầu của một hoạtđộng nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả!

+ Năng lực tự nhiên (natural ability): Tư chất - bẩm sinh, ditruyền

+ Năng lực được đào tạo (trained ability): Hình thành những nănglực mới ở con người bằng con đường giáo dục, đào tạo và tự đàotạo (hình thành trên năng lực tự nhiên)

Năng khiếu (giftedniss): Hệ thống tiền đề bên trong dựa trênnhững tư chất bẩm sinh di truyền cho phép con người giải quyết đượcmột hay vài yêu cầu nhất định nào đó của cuộc sống, mặc dù chưa đượcđào tạo

Như vậy, có thể quan niệm năng khiếu như một dạng của năng lực

tự nhiên và mỗi người bình thường đều có một năng khiếu nhất định.Tuy nhiên, năng khiếu không đa dạng như tư chất mà chỉ được thể hiệntrong một lĩnh vực nhất định: năng khiếu kinh doanh, âm nhạc … Năngkhiếu muốn phát triển tốt cần được đặt trên một chương trình giáo dục.Nếu không được phát hiện kịp thời để bồi dưỡng, luyện tập thì năngkhiếu sẽ bị mất

Tài năng (talent): Tổ hợp các điều kiện bên trong và bên ngoàithuận lợi tạo ra khả năng đạt thành tích hoạt động rất cao (thời điểm hiệntại)

Trang 11

Ví dụ, Albert Einstein – nhà bác học thiên tài người Mỹ gốc Đức

là một ví dụ điển hình Hồi nhỏ, ông đi học muộn đến mức cha mẹ sợcon họ có những vấn đề về trí tuệ, ở tiểu học không bộc lộ một năngkhiếu gì, là một học sinh trung bình tại trường trung học và thi hỏng vàotrường kĩ thuật tổng hợp và lần thứ 2 mới đỗ vào trường này Với sựquyết tâm học tập và lòng yêu toán vô bờ bến, ông đã trở thành một tàinăng lớn, thậm trí là một thiên tài của thế kỉ 20

Thiên tài (genius): Con người đạt được những thành tựu vô songtrong lịch sử, mang đến những giá trị mới hoàn toàn trên bình diện toànnhân loại, mở ra một thời kì mới, một bậc mới của sự phát triển trongmột hoặc nhiều lĩnh vực hoạt động nào đó, như một mốc son đánh dấumột bậc phát triển cao hơn của xã hội loài người

1.3.1.2 Khái niệm về trí tuệ

Các nhà khoa học coi: Trí tuệ là năng lực học tập nhưng khôngđồng nhất với nhau (Freeman F.S,1963; Aiken L.R, 1987): Học tập làđiều kiện cần thiết để phát triển trí tuệ Trí tuệ là năng lực tư duy trừutượng (Terman L,1937): sử dụng có hiệu quả các khái niệm và vật tượngtrưng (kí hiệu) Trí tuệ là năng lực thích ứng là sự tác động qua lại giữa

cá nhân và môi trường xung quanh nhưng cần xem sự tác động qua lại

đó là một sự thích ứng tích cực, có hiệu quả chứ không phải là sự thíchnghi đơn giản.Còn các nhà TLH Liên xô thì xem xét trí tuệ với các thuộctính của nhân cách, trí tuệ được hình thành và thể hiện trong hoạt động,trí tuệ bị quy ước bởi các điều kiện xã hội và trí tuệ có khả năng thíchứng

Đối với các nhà tâm lý học hành vi, khái niệm trí tuệ không chứađựng cùng một nội hàm Cho đến nay vẫn chưa được định nghĩa trí tuệ

Trang 12

mà chỉ có được thống nhất chung là trí tuệ, là khả năng tư duy trừutượng hoặc khả năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.

Vậy có thể nhìn nhận Trí tuệ là một cấu trúc động tương đối độclập của những năng lực nhận thức và xúc cảm của cá nhân, hình thành vàthể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hóa – lịch sử quy định,đảm bảo sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cải tạohiện thực đáp ứng các mục tiêu cuộc sống của cá nhân và xã hội

1.3.2 Các chỉ số của sự phát triển trí tuệ

Có nhiều quan điểm khác nhau về chỉ số của sự phát triển trí tuệ,song tựu chung sự phát triển trí tuệ thể hiện ở các chỉ số sau:

Tốc độ của sự định hướng trí tuệ: sự nhanh trí khi giải quyết cácnhiệm vụ, bài tập , tình huống

Tốc độ khái quát hoá đó: là sự nhanh chóng hiểu biết bản chất củavấn đề từ các dữ kiện đa dạng và phong phú của nó

Tính tiết kiệm của tư duy: được xác định bởi số lần các lập luạncần và đủ để đi đến kết quả , đạt được mục đích

Tính mềm dẻo của trí tuệ: được thể hiện ở sự dễ dàng hay khókhăn trong việc xây dựng lại hoạt động cho thích hợp với những biến đổicủa điều kiện Tính mềm dẻo còn được thể hiện ở kĩ năng như:

- Kỹ năng biến thiên cách giải quyết vấn đề phù hợp biến thiên củađiều kiện

- Kỹ năng xác lập sự phụ thuộc giữa những kiến thức đã có sangmột trật tự khác ngược với chúng và trật tự tiếp thu

- Kỹ năng đề cập cùng một hện tượng theo nhiều quan điểm khácnhau

Tính phê phán của trí tuệ: là tinh thần hoài nghi khoa học, thể hiệnđặc biệt ở kĩ năng đánh giá tri thức mà mình lĩnh hội

Trang 13

Sự hiểu biết sâu sắc: về một lĩnh vực là phân biệt được cái bảnchất và không bản chất ciủa sự vật hiện tượng

Hiểu được các đặc điểm hay chỉ số phát triển trí tuệ này có thể làmthước đo để các nhà giáo xác định mức độ phát triển của người học vàcũng là cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy – học sao cho đạt được mụcđích mà giáo dục đề ra [1, tr 50]

1.4 Dạy học và sự phát triển trí tuệ

1.4.1 Mối quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ

Dạy học và sự phát triển trí tuệ có quan hệ biện chứng với nhau, trongđó:

- Sự phát triển trí tuệ là mục đích của dạy học Dạy học cung cấp trithức, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh, hình thành các biện pháp trí tuệ vànăng lực trí tuệ cho học sinh (óc quan sát, tưởng tượng…)

- Phát triển trí tuệ là điều kiện cho dạy học vì nếu học sinh phát triểntrí tuệ sẽ tiếp thu tri thức nhanh chóng và dễ dàng Trình độ trí tuệ đạtđược là điều kiện để dạy học ở trình độ trí tuệ cao hơn

- Dạy học phải kích thích hoạt động học mà hoạt động học phụthuộc vào năng lực của học sinh

Để phát triển trí tuệ cho người học, việc dạy cần đảm bảo những nguyêntắc sau:

- Dạy học phải có tính định hướng, phù hợp với trình độ phát triểnhiện tại của người học, làm cho người học hôm nay còn cần đến thày,ngày mai họ có thể đứng trên đôi chân của mình (Vưgotxki)

- Tôn trọng vốn sống của người học khi dạy học: hãy khai thác tối

đa vốn kinh nghiệm để trang bị kiến thức mới, hãy tạo ra kết cấu mới từnhững kiến thức và kinh nghiệm đã có Cách này làm cho kiến thức củangười học luôn được củng cố và có được nền tảng vững chắc

Trang 14

- Trang bị tri thức lý luận khâi quât bằng câch khâi quât hóa câckinh nghiệm của người học, điều năy giúp người học hiểu một câch sđusắc bản chất sự vật hiện tượng, từ đó họ có thể linh hoạt vă mềm dẻotrong giải quyết vấn đề của thực tiễn.

- Lăm cho người học có ý thức về toăn bộ quâ trình học tập, tự giâchọc tập bởi nếu người học không tự giâc học thì việc dạy vẫn nằm bínngoăi câi đầu của người học Việc chỉ ra cho người học thấy tầm quantrọng, sự cần thiết của nội dung băi học đối với cuộc sống hiện tại vătương lai của người học

Hoạt động dạy học vă hoạt động học tập gắn bó chặt chẽ với nhau

vă thănh công của câc hoạt động năy phụ thuộc văo nhau, nhưng trongmối quan hệ năy, người học lă người quyết định thănh bại của họ, ngườidạy chỉ lă môi trường, lă người chỉ đạo, hướng dẫn người học mă thôi 1.4.2 Dạy học vă phât triển trí thông minh (IQ)

Trí thông minh lă một cấu trúc phức hợp hòa nhập nhiều loại nănglực, có tính độc lập tương đối, ổn định nhưng không tĩnh tại mă phâttriển nhờ sự trải nghiệm của câ nhđn qua sự tương tâc giữa câc tố chấtsinh học vă môi trường văn hóa xê hội Trí thông minh gồm nhiều thănhphần, vì vậy, nhă tđm lý học Howard Gardner đê đưa ra lý thuyết đa tríthông minh gồm 8 kiểu thông minh khâc nhau: Lý thuyết của RobertSternberg được dựa trín cơ sở nghiín cứu về việc chế biến thông tin thìthuyết đa trí tuệ (theory of multiple Intelligence) của Howard Gardner(1983) dựa trín hoạt động của nêo bộ Gardner cho rằng: Nêo bộ đê tạo

ra câc hệ thống riíng biệt cho những năng lực tương ứng khâc nhau mẵng gọi lă câc trí tuệ Theo Gardner có 7 kiểu loại trí tuệ khâc nhau vămỗi kiểu được phât triển đến một mức độ khâc nhau trong mỗi conngười

Trang 15

- Trí tuệ ngôn ngữ (Linguistic Intelligence) là năng lực diễn tảngôn ngữ dễ dàng bằng cách nói hay viết Các nhà thơ, nhà văn, nhà báo

là những thí dụ rõ nhất về loại trí tuệ ngôn ngữ Họ rất nhạy cảm với âmthanh, nhịp điệu và nghĩa của các từ, nhạy cảm với những chức năngkhác nhau của ngôn ngữ Trí tuệ ngôn ngữ nằm ở phần não trái: Thùytrán trái kiểm soát các khả năng nói, còn thùy thái dương trái điều khiển

sự hiểu biết ngôn ngữ

- Trí tuệ logic – toán học ( Logical – Mathematical Intelligence): lànăng lực tính toán phức tạp và lý luận sâu sắc Tiêu biểu cho loại trí tuệnày là các nhà toán học và các nhà khoa học nói chung Các nhà khoahọc lớn có tài nhìn thấu suốt vấn đề phức tạp và cảm nhận được giảipháp trước khi đưa ra bằng chứng Trí tuệ này nằm trong bán cầu nãotrái nhưng không có liên hệ chuyên biệt với một vùng nào cả Cho nên,

nó dễ bị ảnh hưởng do sự suy thoái toàn bộ hơn là các tổn thương, taibiến của não Trường hợp những người chậm phát triển trí tuệ lại có thểthực hiện các phép toán với tốc độ cực nhanh

- Trí tuệ âm nhạc (Musical Intelligence): Đó là năng lực tạo ra vàthưởng thức các nhịp điệu, cung bậc (của nốt nhạc), âm sắc, biết thưởngthức các dạng biểu cảm của âm nhạc Loại trí tuệ này độc lập rõ hơn cácloại khác Một người tầm thường về âm nhạc có thể đặc biệt xuất sắc ởcác lĩnh vực khác Một số trẻ tự kỷ lại có khả năng chơi một loại nhạc cụnào đó Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là các nhà soạn nhạc, các nghệ sĩbiểu diễn violong Đây có lẽ là loại trí tuệ phát triển sớm nhất ở trẻ con.Loại trí tuệ này chủ yếu nằm ở bán cầu não phải, nhưng khu trú kémchính xác hơn ngôn ngữ và có thể mất đi do những tổn thương ở não

- Trí tuệ không gian (Spatial Intelligence): Bao gồm các khả năngtiếp nhận thế giới thị giác không gian một cách chính xác và khả năng

Trang 16

thực hiện những biến đổi với sự tri giác ban đầu của mình Nó cho phéptưởng tượng hình dạng của các sự vật với góc nhìn khác với người khác.Loại trí tuệ này cần thiết cho việc định hướng và trí nhớ thị giác củachúng ta, đặc biệt là sự định hướng trừu tượng trong không gian Người

có loại trí tuệ này có thể diễn tả tư tưởng và dự định của mình dưới dạng

kí họa Điển hình cho loại trí tuệ này là các nhà hàng hải, các kỳ thủ, họa

sĩ và nhà điêu khắc Loại trí tuệ này chủ yếu nằm ở phía sau bán cầu nãophải Sự tổn thương của vùng não này có thể làm người bệnh khôngnhận ra được người thân và nơi chốn rất quen thuộc trước đây

- Trí tuệ vận động cơ thể (body – Kinesthetic Intelligence): Gồmcác thành tố cơ bản là các năng lực kiểm soát vận động của cơ thể mình

và cần nắm chắc các đối tượng một cách khéo léo Ở đây, cơ thể thamgia trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề, thường nhanh hơn cả trí óc,nhất là trong các tình huống nguy hiểm và trong khi chơi thể thao Điểnhình cho loại trí tuệ này là các nghệ sĩ múa, các nhà thể dục dụng cụ, cácnghệ sĩ kịch câm Loại trí tuệ này nằm ở trung khu vận động của bán cầunão trái (đối với phần cơ thể bên phải) và bán cầu não phải (đối với phần

cơ thể bên trái) Các tổn thương não bộ thường chỉ ảnh hưởng đến sự chỉhuy một phần cơ thể

- Trí tuệ về bản thân (Intrapersonal Intelligence): Bao gồm nhữngnăng lực đánh giá các cảm xúc của bản thân mình, năng lực phân biệtgiữa các cảm xúc ấy và đưa chúng vào hướng dẫn hành vi Sự hiểu biết

về những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, về những thèm muốn vàtrí thông minh của mình Người có trí tuệ loại này là những người hiểubiết về bản thân mình một cách cặn kẽ và chính xác Tuy nhiên, loại trítuệ này có ở mọi người với các cường độ và mức độ khác nhau Trùytrán là trung tâm của loại trí tuệ này, tổn thương ở phần dưới thùy trán

Trang 17

dẫn đến sự kích thích hay hưng phấn, tổn thương ở phần trên thùy tránthì tạo ra thờ ơ và vô cảm.

- Trí tuệ về người khác (Interpersonal Inteliigence): Bao gồmnhững năng lực nhận thức rõ ràng và đáp ứng lại các tâm trạng, khí chất,động cơ và các thèm muốn của người khác một cách thích hợp Người

có trí tuệ loại này có khả năng xâm nhập vào tư tưởng của người khác,

có khả năng khích lệ và nâng đỡ người khác Tiêu biểu cho loại trí tuệnày là những nhà trị liệu, người bán hàng, các linh mục, nhà sư phạm.Thùy trán cũng có vai trò quan trọng đối với loại trí tuệ này Các tồnthương ở thùy trán có thể làm mất khả năng thấu hiểu người khác và làmthay đổi hoàn toàn nhân cách Sự lão hóa có khả năng làm mất đi tất cảmọi khả năng xã hội của con người

- Trí tuệ tự nhiên (Naturalist Intelligence): Đây là loại trí tuệ thứ 8

mà sau này Gardner mới nêu ra và bổ sung thêm vào 7 loại trí tuệ trướcđây Đó là năng lực phân biệt một cách tinh tế giữa hệ thực vật và hệđộng vật của thế giới tự nhiên hoặc giữa các mẫu vật và những thiết kế

do con người tạo ra Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là các nhà thực vật,người đầu bếp vv

Quan điểm của Gardner đã được đánh giá cao nhưng cũng bị phêphán Mô hình của ông được đánh giá cao vì đã thừa nhận ngữ cảnh vănhóa của trí tuệ, đã tính đến nhiều năng lực của con người và hệ thống cơbản (khung) của nó, đã quan tâm đến việc phân tích trí tuệ ở nhà trường

và các môi trường ứng dụng khoa học khác Một số nhà sư phạm chấpnhận lý thuyết của Gardner và sử dụng một số trắc nghiệm truyền thống

để đánh giá một số loại trí tuệ như trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic – toánhọc, trí tuệ không gian Hiện tại vẫn chưa có cách nào chứng minh sự ổnđịnh và tính ứng nghiệm của việc thực hiện các trắc nghiệm đối với các

Trang 18

trí tuệ mới (Ulric Neisser, 1996) Có những quan điểm cho rằng các trítuệ mà Gardner trình bày này thực chất là các tài năng (talent) chứkhông phải là các trí tuệ (Sandra Scarr,1985) Một số quan điểm kháccho rằng các loại trí tuệ của Gardner tương quan với nhau rất cao, về cơbản là đo lường một loại trí tuệ giống nhau, nhưng một số loại quanđiểm khác lại cho rằng các loại trí tuệ này có vẻ giống như một bảng liệt

kê các phong cách học tập và phong thái nhân cách chứ không phải lànhững năng lực hay trí tuệ Cũng có những quan điểm khác cho rằng 8loại trí tuệ của Gardner chỉ là sự mô tả các năng lực và dẫn đến 8 điểm

số trắc nghiệm IQ chứ không phải là một điểm số (Lester A Lefton,2000)

1.5 Trí thông minh

1.5.1 Khái niệm trí thông minh

Theo tác giả Hoàng Phê, “Thông minh là có trí lực tốt, hiểu nhanh,tiếp thu nhanh, là nhanh trí và khôn khéo, tài tình trong các ứng đáp, đốiphó [8]

Các nhà tâm lý học cũng có những quan điểm khác nhau và giảithích khác nhau về trí thông minh nhưng đều có chung một nhận định:

“Trí thông minh không phải là một năng lực đơn độc, nó là sức mạnhtổng hợp của nhiều loại năng lực” Theo điều tra tâm lý và quan điểmcủa các nhà tâm lý học Trung Quốc, trí thông minh bao gồm khả năngquan sát, khả năng của trí nhớ, sức suy nghĩ, óc tưởng tưởng, kỹ năngthực hạnh và sáng tạo Trí thông minh là sự phối hợp tốt các năng lực đó

để làm thành một kết cấu hữu hiệu [9]

Theo tác giả Lý Minh Tiên thì định nghĩa về trí thông minh đượcnhiều nhà nghiên cứu đề nghị coi trí thông miwnh như một nhóm khảnăng được biểu hiện và đánh giá qua điểm số mà những trắc nghiệm trí

Trang 19

tuệ đo được Định nghĩa là thuận lợi cho việc nghiên cứu có liên quanđến một thuật ngữ rất trừu tượng là “trí thông minh”, mở ra hướng đođạc, lượng hóa các khả năng trí tuệ [10]

Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, “Thông minh là nhanh nhạynhận ra mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng và biết vận dụng mốiquan hệ đó theo hướng có lợi nhất để đạt được mục tiêu [7]

1.5.2 Đo trí thông minh của học sinh

Phương pháp đo trí thông minh hay còn gọi là xác định chỉ sốthông minh IQ Phương pháp này được đề xuất vào năm 1905 bởi nhàtâm lý học người Pháp là Alfred Binet Hiện nay người ta dùng cácphương pháp xác định để định lượng các chức năng trí tuệ Tất cả cácphương pháp đó đều dùng trắc nghiệm bao gồm các lần thử qua khẩuvấn và các lần thử theo hiệu năng để đánh giá mức độ thông minh cũngnhư kết quả học tập [7]

Các nhà khoa học nghĩ ra những bộ đề IQ Có những bộ gòm 20bài, có bộ 30 bài Làm đúng nhiều thì được nhiều điểm Làm nhanh cũngđược nhiều điểm Số điểm thể hiện mức độ thông minh của mỗi ngườibằng số, gọi là chỉ số thông minh Chỉ số thông minh càng cao càngthông minh Chỉ số thông minh IQ trung bình là 100

IQ từ 85 đến 114 được xếp vào loại trung bình

IQ từ 165 đến 179: thiên tài hiếm có

IQ từ 180 đến 200: thiên tài siêu việt

Trang 20

IQ trên 200: trên đời không có ai có thể sánh được, IQ không thể

đo được

Người ta thử đo IQ cho học sinh các bậc khác nhau Trong khi ởcác lớp dưới, IQ của học sinh thường ở mức , thì ở cuối bậc phổthông trung học thường đạt trên mức

1.5.3 Rèn luyện thông minh cho học sinh

Với học sinh THPT thì phương pháp rèn luyện trí thông minh sẽ ởmức độ cao hơn, rèn luyện bằng các câu hỏi mang tính logic cao, các ôchữ, hình vẽ IQ, trắc nghiệm IQ đòi hỏi kiến thức sâu sắc và sự vận dụnglinhh hoạt, hiệu quả

Môn hóa học là một môn hóa học là một môn khoa học tự nhiênchứa đựng nhiều vấn đề khoa học hay và khó, đòi hỏi người nghiên cứuphải là người thông minh, có tư duy sắc bén Hóa học không đơn thuầnnghiên cứu lý thuyết mà luôn gán liền thực tiễn, được chứng minh bằngthực nghiệm Do vậy, môn hóa học góp phần bồi dưỡng cho người họcnăng lực tư duy độc lập, sáng tạo ngay trong thực tế Nếu người họcđược tiếp nhận một phương pháp dạy học hiện đại, coi trọng sự pháttriển của người học thì thông qua môn hóa học, học sinh được bồidưỡng, phát triển năng lực tư duy, rèn luyện trí thông minh, dần dầnnăng lực nhận thức được nâng cao, sự phối hợp các năng lực của bảnthân cũng ngày càng linh hoạt, có nghĩa là phát triển được trí thôngminh Để làm được điều này, bản thân người giáo viên phải soạn đượcmột hệ thống bài tập chứa đựng yếu tố tư duy chứ không phải tái hiệnkiến thức thuần túy Mỗi bài tập đưa ra đòi hỏi học sinh phải vận dungcác thao tác tư duy để giải quyết, đặc biệt tình huống “có vấn đề” có ýnghĩa quan trọng Bên cạnh hệ thống bài tập có chất lượng cao khôngthể thiếu phương pháp giải hiệu quả Muốn học sinh có tư duy phát triển

Trang 21

thì ngay từ đầu phải xâu dựng, cung cấp cho các em công cụ giải toánhóa học cơ bản mà từ đó các em có thể vận dụng trong từng trường hợp

cụ thể

1.6 Bài tập hóa học

1.6.1 Khái niệm bài tập hóa học

Bài tập hóa học là phương tiện để dạy học sinh tập vận dụng kiếnthức Một trong những tiêu chí đánh giá sự lĩnh hội tri thức hóa học là

kỹ năng áp dụng tri thức để giải quyết bài tập hóa học chứ không chứkhông phải là kỹ năng kể lại tài liệu đã học Bài tập hóa học là một trongnhững phương tiện có hiệu quả để giảng dạy môn hóa học, tăng cường

và định hướng hoạt động tư duy của học sinh [11] 1.6.2 ý nghĩa, tácdụng của bài tập hóa học

Thực tiễn DH HH ở trường THPT cho thấy, BTHH có những ýnghĩa và tác dụng to lớn:

+ Làm chính xác hoá những khái niệm  HH; củng cố, đào sâu và

mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn; chỉ khi vậndụng kiến thức vào giải BT, HS mới nắm được kiến thức một cách sâusắc

+ Giúp HS ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực

+ Rèn luyện các kĩ năng HH như cân bằng PTPƯ, tính theo côngthức và PT…

+ Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống,lao động sản xuất và bảo vệ môi trường

+ Rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ HH và các thao tác tư duy

Ý nghĩa phát triển

+ Phát triển các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độclập, thông minh và sáng tạo

Trang 22

Theo quan niệm của tâm lý học hiện đại, năng lực của con người

là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội Năng lực phát triển cùngvới sự phát triển của ã hội Giáo dục là động lực cho sự phát triển nănglực con người [10]

Con người muốn phát triển năng lực, nhân cách của bản thân thìphải hoạt động Trong quá trình hoạt động con người khám phá ra bảnchất của sự vật, hiện tượng và thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển theoquy luật

Như vậy, muốn học sinh có tư duy phát triển, rèn luyện trí thôngminh thì giáo viên phải tạo điều kiện để học sinh được hoạt động mộtcách tích cực, khoa học thông qua việc giải bài tập hóa học Qua đó họcsinh sẽ có những phẩm chất tư duy mới, thể hiện ở:

- Năng lực phát hiện vấn đề mới

- Tìm ra hướng mới

- Tạo ra kết quả học tập mới

Để có được những kết quả trên, người giáo viên cần ý thức đượcmục đích của hoạt động giải BTHH, không phải chỉ là tìm ra đáp sốđúng mà còn là phương tiện khá hiệu quả để rèn luyện tư duy hoá họccho học sinh BTHH phong phú và đa dạng, để giải được BTHH cầnphải vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử dụng các thao tác tư duy so

Trang 23

sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, Qua đó họcsinh thường xuyên được rèn luyện ý thức tự giác trong học tập, nâng caokhả năng hiểu biết của bản thân

Thông qua hoạt động giải bài tập sẽ giúp cho tư duy được rènluyện và phát triển thường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị laođộng, nâng khả năng hiểu biết thế giới của học sinh lên một tầm caomới, góp phần cho quá trình hình thành nhân cách toàn diện của họcsinh

- Bài tập định tính là dạng bài tập không khai thác sâu kỹ năng tínhtoán, nhưng lại có thể khai thác mạnh đặc trưng của môn hóa học Bàitập định tính giúp học sinh phát triển năng lực quan sát (quan sát thínghiệm, sơ đồ, hình vẽ, mô hình, cấu tạo của chất), rèn luyện được thaotác tư duy để chuẩn bị cho việc giải quyết các bài tập định lượng, gắn lýthuyết với thực tế (giải thích hiện tượng tự nhiên, tác hại của hóa chấtvới môi trường) Bài tập định tính còn giúp học sinh ôn tập, củng cố kiếnthức, làm chính xác các khái niệm, quy luật và có cái nhìn tổng quát hơn

về toàn bộ kiến thức hóa học phổ thông

- Bài tập định lượng giúp học sinh củng cố kiến thức về tính chấthóa học của các chất một cách sâu sắc Bài tập định lượng rèn luyện chohọc sinh các thao tác tính toán hóa học cơ bản, gắn liền với thực tế củaphòng thí nghiệm (pha hóa chất), sản xuất (sản xuất acid, bazo, phânbón) Tính toán hóa học giúp rèn luyện kỹ năng sử dụng mối quan hệ vềlượng giữa các chất trong một quá trình hóa học (bảo toàn khối lượng,bảo toàn điện tích, bảo toàn electron, …)

Cùng một bài tập, ngay cả bài tập lý thuyết đơn giản thì với mỗihọc sinh khác nhau cách giải cũng khác nhau Chính sự khác nhau đógiúp giáo viên đán h giá một cách tổng quát năng lực tư duy của mỗi

Trang 24

học sinh Học sinh có cách giải quyết vấn đề khéo léo, nhanh chóng vàhiệu quả là học sinh có tư duy phát triển.

Người giáo viên giỏi phải là người biết đưa ra bài tập chứa đựngcác tình huống có vấn đề để kích thích sự ham mê học tập, để học sinhgiỏi bộc lộ các năng lực hiện có và mài giũa nó ngày một sắc bén hơn,học sinh khá và trung bình có cơ hội rèn luyện các năng lực của bản thân

để làm việc hiệu quả hơn Bài tập càng phong phú, chính xác, sâu sắc,chứa đựng nhiều yếu tố tư duy thì càng trở thành phương tiện hiệunghiệm Cụ thể, phải làm sao cho thông qua hoạt động giải bài tập, họcsinh sử dụng thành thạo các thao tác tư duy như so sánh, phân tính, tổnghợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, thường xuyên được rèn luyện cácnăng lực quan sát, trí nhớ, tưởng tưởng Một điều quan trọng không thểthiếu là làm cho học sinh thấy hứng thú, thỏa mãn sau khi giải thànhcông một bài tập, thấy được giá trị của lao động khoa học

Sơ đồ sau đây làm rõ mối quan hệ giữa việc giải bài tập hóa học vàphát triển tư duy, rèn trí thông minh

Sơ đồ 1: Quan hệ giữa hoạt động giải bài tập và việc phát triển tưduy, trí thông minh

Ngày đăng: 02/07/2023, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3. Thí nghiệm thu khí bằng phương pháp dời chỗ nước - Mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ  chứng minh dạy học phát triển trí thông minh (iq) của học sinh qua môn hóa học
Hình 2.3. Thí nghiệm thu khí bằng phương pháp dời chỗ nước (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w