1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của thủ đô hà nội đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố 2001

221 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định hướng xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội
Tác giả GS.TS. Tô Xuân Dân, TS. Vũ Trọng Lâm
Trường học Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế xã hội, Quản lý nhà nước, Phát triển đô thị
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố
Năm xuất bản 2001
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị về phươnghướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong thời kỳ 2001-2010 đ∙ xác định vị thế của Thủ đô Hà Nội "là trái tim của cả nước, đầu

Trang 1

Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội

! " #

đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố năm 2001

Định hướng xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tốc

hà nội Mã số: 01X-07/03-2001-1

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Tô Xuân Dân, Phó Viện trưởng

Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

phó chủ nhiệm kiêm thư ký khoa học đề tài: TS Vũ Trọng Lâm, Trưởng phòng Kế hoạch - Quản lý khoa học Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

Hà Nội - 2001

Trang 2

Chương 1: vai trò của thủ đô Hà Nội trong sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

I Đặc điểm và vị thế của Thủ đô Hà Nội

1.1 Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

1.2 Tài nguyên x∙ hội - nhân văn

1.3 Đặc điểm dân số, lao động

1.4 Vị thế Thủ đô Hà Nội

II Khái quát thực trạng và định hướng phát triển kinh tế

- xã hội Thủ đô Hà Nội

2.1 Những thành tựu và hạn chế chủ yếu về phát triển kinh tế

- x∙ hội của Hà Nội trong 10 năm qua

2.2 Mục tiêu và định hướng chủ yếu phát triển kinh tế - x∙

hội Thủ đô Hà Nội đến năm 2010, tầm nhìn đến năm

2020

III Cơ chế, chính sách đặc thù với việc quản lý Thủ đô ở

nước ngoài

3.1 Vai trò, vị thế Thủ đô của một số nước trên thế giới

3.2 Cơ chế, chính sách, luật pháp đặc thù đối với Thủ đô của

một số nước trên thế giới

3.3 Bài học kinh nghiệm quốc tế vận dụng trong việc xây

dựng cơ chế, chính sách đặc thù của Thủ đô Hà Nội

111111151617

19

19

23

2727

II Những qui luật và xu hướng khách quan tác động

mạnh mẽ, đòi hỏi sự phát triển nhanh chóng và bền vững

47

47

Trang 3

của Thủ đô Hà Nội

2.1 Tác động của qui luật kinh tế thị trường và xu hướng hội

nhập quốc tế đối với sự phát triển của Thủ đô Hà Nội

2.2 Tác động của qui luật phát triển đô thị và quá trình đô thị

hoá gia tăng trong thời đại hiện nay đối với sự phát triển

của Thủ đô Hà Nội

2.3 Tác động của xu hướng dân chủ hoá thực tế và phi tập

trung hoá ngày càng cao đối với sự phát triển của Thủ đô

Hà Nội

2.4 Tác động của nhân tố thời gian và nguy cơ tụt hậu đối với

sự phát triển của Thủ đô Hà Nội

III Các quan điểm, mục tiêu định hướng chủ yếu trong

việc xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với Hà Nội

3.1 Khái niệm cơ chế, chính sách đặc thù

3.2 Sự cần thiết và khả năng xây dựng cơ chế, chính sách đặc

thù đối với Thủ đô Hà Nội

3.3 Những nguyên tắc chủ yếu của việc xây dựng cơ chế,

2.1 Quá trình cải cách hành chính của Thành phố Hà Nội

trong thời gian qua

2.2 Định hướng những cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy

7474

74

8587

87

Trang 4

mạnh việc thực hiện cải cách hành chính ở Hà Nội 92

chương 4: thực trạng và định hướng cơ chế,

chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý tài chính công, phân cấp quản lý ngân sách

nhà nước tại thủ đô Hà Nội

I Thực trạng cơ chế, chính sách về quản lý tài chính công

1.1 Khái quát về tài chính công

1.2 Cơ chế, chính sách về quản lý tài chính công hiện hành

II Định hướng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao

hiệu quả quản lý tài chính công

2.1 Mục tiêu cải cách tài chính công

2.2 Định hướng cơ chế, chính sách đặc thù trong quá trình

thực hiện cải cách tài chính công

chương 5: thực trạng hoạt động và định hướng

cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt

động các doanh nghiệp của thủ đô Hà Nội

A Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

I Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp ngoài

quốc doanh ở Hà Nội

1.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD)

1.2 Quan điểm phát triển DNNQD của Đảng và Nhà nước

1.3 Thực trạng cơ chế, chính sách đối với các DNNQD của

Hà Nội

1.4 Tình hình hoạt động của các DNNQD của Hà Nội

II Định hướng cơ chế, chính sách nhằm phát triển và

nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNQD Hà Nội

2.1 Hoàn thiện khung pháp luật

2.2 Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính

sách nhằm phát triển mạnh DNNQD

2.3 Tăng cường quản lý nhà nước đối với các DNNQD

2.4 Khuyến khích thành lập các tổ chức đại diện hỗ trợ phát

triển các DNNQD

97979797

104104

104

110110

110110113114

126

133133

134139

140

Trang 5

B Đối với doanh nghiệp nhà nước

I Thực trạng hoạt động của các DNNN của Hà Nội

1.1 Khái niệm DNNN và quản lý nhà nước đối với DNNN

1.2 Các chủ trương, chính sách sắp xếp DNNN của Đảng và

Nhà nước

1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN

II Định hướng cơ chế, chính sách nhằm tiếp tục sắp xếp,

đổi mới, phát triển DNNN của Hà Nội

2.1 Quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc cơ bản

2.2 Các định hướng cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy việc

tiếp tục đổi mới DNNN

141141141

142144

151151153

Chương 6: thực trạng và định hướng cơ chế,

chính sách đặc thù đẩy mạnh hoạt động đầu tư

nước ngoài trên địa bàn thủ đô Hà Nội

I Khái quát về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Hà Nội

1.1 Khung khổ pháp lý về đầu tư nước ngoài

1.2 Thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Hà Nội

II Định hướng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao

khả năng huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư

nước ngoài trên địa bàn Hà Nội

2.1.Mục tiêu, phương hướng huy động và sử dụng vốn đầu tư

nước ngoài trên địa bàn Hà Nội

2.2 Một số định hướng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm huy

động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài trên

địa bàn Hà Nội

157157157159

165165

165

chương 7: Thực trạng và định hướng cơ chế,

chính sách đặc thù trong công tác quản lý xây

dựng và phát triển đô thị ở thủ đô Hà Nội

I Thực trạng công tác quản lý quy hoạch xây dựng, kiến

trúc và bảo vệ môi trường ở Thủ đô Hà Nội

1.1 Nội dung quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc và bảo

Trang 6

vệ môi trường ở Hà Nội

II Quan điểm, mục tiêu và định hướng cơ chế, chính sách

nâng cao hiệu quả quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc

và bảo vệ môi trường ở Thủ đô Hà Nội.

2.1 Quan điểm, mục tiêu

2.2 Những định hướng chủ yếu của các cơ chế, chính sách

nhằm nâng cao hiệu quả quản lý quy hoạch xây dựng,

kiến trúc và bảo vệ môi trường ở Thủ đô Hà Nội

173

181181

181

chương 8: Thực trạng và định hướng cơ chế,

chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý, phát triển văn hoá - xã hội ở thủ đô Hà Nội

nâng cao hiệu quả quản lý văn hoá - xã hội, phát triển

nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài ở Hà Nội

2.1 Quan điểm, mục tiêu

199199

214216

Trang 7

Danh sách các thành viên đề tài

1 Chủ nhiệm đề tài:

GS.TS Tô Xuân Dân, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - x∙ hội Hà Nội

2 Phó Chủ nhiệm kiêm Thư ký khoa học đề tài:

TS Vũ Trọng Lâm, Trưởng phòng Kế hoạch - Quản lý khoa học Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - x∙ hội Hà Nội

Các thành viên đề tài:

3 GS.TS Trần Ngọc Hiên, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

4 TS Phạm Duy Nghĩa, Chủ nhiệm bộ môn Luật Kinh tế, Khoa Luật, Đạihọc Quốc gia Hà Nội

5 TS Trần Huy Sáng, Phó Trưởng ban Tổ chức chính quyền TP Hà Nội

6 TS Lê Anh Sắc, Ban Tổ chức Chính quyền Thành phố Hà Nội

7 CN Phạm Đức Tài, Ban Tổ chức Chính quyền Thành phố Hà Nội

8 TS Nguyễn Trọng Hanh, Vụ trưởng Vụ Qui hoạch và quản lý xây

dựng, Bộ Xây dựng

9 TS Nguyễn Thành Công, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

10 TS Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

11 TS Vũ Quốc Bình, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

12 TS Hoa Hữu Lân, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

13 Ths Phạm Xuân Sơn, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

14 CN Lê Ngọc Châm, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

15 CN Nguyễn Mạnh Quân, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

16 CN Nguyễn Quí Nghị, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

17 CN Nguyễn Thị Bích Ngọc, Văn phòng UBND Thành phố Hà Nội

18 TS Lê Anh Tuấn, Hội Kinh tế Hà Nội

19 PGS.TS Nguyễn Lang, Hội Kinh tế Hà Nội

Các cơ quan giúp đỡ và phối hợp thực hiện đề tài:

1 Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường Hà Nội

2 Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội

3 Sở Tài chính - Vật giá Hà Nội

4 Cục Thống kê Hà Nội

5 UBND các quận, huyện cùng một số các DN, cơ quan quản lý nhànước, các Trường đại học, Viện nghiên cứu trên địa bàn Thủ đô HàNội

Trang 8

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, nhiều nước luôn dành cho Thủ đô nước mình những cơchế, chính sách đặc biệt theo hướng phân cấp quyền hạn, trọng trách toàndiện cao hơn các địa phương khác của cả nước1

Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị về phươnghướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong thời kỳ 2001-2010 đ∙ xác định vị

thế của Thủ đô Hà Nội "là trái tim của cả nước, đầu n∙o chính trị - hành

chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và

Nội xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù cho Hà Nội trên nguyên tắc bảo đảm quy hoạch và quan hệ phối hợp ngành-l∙nh thổ và quan hệ

Thủ đô, kết hợp hiệu quả các nguồn lực trên địa bàn, đẩy nhanh phát triểnkinh tế - x∙ hội Thủ đô vững chắc, toàn diện, xứng đáng với vị thế đặc biệt

và quan trọng của Thủ đô

Trong thực tiễn chuyển đổi cơ chế ở nước ta hiện nay, có không ítchủ trương đúng đắn đ∙ được TW thông qua, song chưa được triển khaitrong thực tế cuộc sống Là nơi đóng trụ sở của các cơ quan TW và tụ hộinhiều điều kiện thuận lợi khác về cơ sở hạ tầng và nhân lực, tài chính, HàNội có thuận lợi và cần thiết áp dụng thí điểm những quyết sách đổi mớiquan trọng đó của cả nước, tạo đột phá về cơ chế, chính sách và động lực

để thúc đẩy phát triển kinh tế - x∙ hội của Hà Nội và vùng kinh tế trọng

điểm Bắc Bộ nói riêng, của cả nước nói chung

Thực trạng kinh tế - x∙ hội Thủ đô hiện nay còn tồn tại nhiều bứcxúc cần giải quyết; nhiều tiềm năng chưa được khai thác hoặc sử dụngkhông có hiệu quả Trong khi đó sự phát triển của Hà Nội hiện nay đang cónhững khó khăn, trở ngại mà một trong các nguyên nhân quan trọng nằm là

do sự bất cập hoặc thiếu những cơ chế, chính sách cần thiết, thích hợp Dovậy, việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù cho Thủ đô đang ngàycàng định hình và đậm nét hơn, song hiện nay vẫn chưa có công trìnhnghiên cứu nào cấp Nhà nước và Thành phố một cách toàn diện về vấn đềnày Đề tài "Định hướng xây dựng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của của Thủ đô Hà Nội" hy vọng góp phần giải quyết các yêu cầu nói trên

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá thực trạng vận hành, các tác động 2 mặt (tích cực và nhữngbất cập) của cơ chế, chính sách hiện hành đang áp dụng trên địa bàn HàNội trong các lĩnh vực kinh tế - x∙ hội chủ yếu; tham khảo một số kinh

1

Thậm chí như Malaysia hay Canada và cả LB Nga đ∙ dành cho Thủ đô quy chế như của một bang độc lập.

Trang 9

nghiệm quốc tế về cơ chế, chính sách đặc thù của thủ đô một số nước trênthế giới, từ đó làm rõ sự cần thiết và khả năng khách quan của việc xâydựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội trong điều kiệnhiện nay.

- Xây dựng các nguyên tắc, quan điểm, mục tiêu trong việc xây dựng

hệ thống cơ chế, chính sách đặc thù với các điều kiện, giải pháp cần thiết

để áp dụng cho Thủ đô trong các lĩnh vực kinh tế - x∙ hội phù hợp với tinhthần Nghị quyết 15-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụphát triển Thủ đô thời kỳ 2001-2010 và Pháp lệnh Thủ đô nhằm đẩy nhanhtốc độ và nâng cao hiệu quả phát triển Thủ đô Hà Nội theo hướng toàndiện, hiện đại và bền vững, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn x∙hội, cải thiện căn bản chất lượng sống của người dân Thủ đô Trên cơ sở đó

đề xuất kiến nghị với Trung ương về một số cơ chế, chính sách đặc thù đốivới Thủ đô Hà Nội

3 Phạm vi, nội dung nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài phải bao quát tổng thể các hoạt

động kinh tế - x∙ hội của Thủ đô Hà Nội, đứng trên góc độ cơ chế, chínhsách quản lý nhà nước để xem xét, đánh giá vai trò và tác động của chúng,tìm ra những điểm mạnh và hạn chế, bất cập của những cơ chế, chính sáchhiện hành để từ đó đề xuất kiến nghị về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm

đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - x∙ hội của Thủ đô

Với khuôn khổ và thời gian nghiên cứu hạn chế, đề tài không có điềukiện đề cập toàn diện và chi tiết, cụ thể những cơ chế, chính sách đặc thùcần có của Thủ đô mà trước hết tập trung vào việc xác định rõ các nguyêntắc, quan điểm, mục tiêu trong việc xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách

ấy nhằm tạo nên khung khổ chung và sự đồng bộ cần thiết Đồng thời, đềtài lựa chọn một số lĩnh vực chủ yếu trong hoạt động kinh tế - x∙ hội củaThủ đô để phát triển các nguyên tắc, quan điểm chung ấy Cụ thể là:

- Đề tài nghiên cứu thực tiễn phát triển và cơ chế quản lý nhà nước

đối với Thủ đô của một số nước trên thế giới Phân tích bối cảnh trong nước

và quốc tế, các nguồn lực phát triển, các qui luật và nhân tố tác động kháchquan, thời cơ và thách thức cùng với yêu cầu phát triển Hà Nội với vị thế làThủ đô của cả nước

- Thực trạng và những tác động của phân cấp quản lý Nhà nước trên

địa bàn Thủ đô trong các lĩnh vực và khía cạnh của đời sống kinh tế - x∙hội Thủ đô, trong các lĩnh vực chủ yếu:

+ Phân cấp quản lý, thực hiện cải cách hành chính + Quản lý tài chính công, phân cấp quản lý ngân sách nhànước tại Hà Nội

+ Quản lý doanh nghiệp+ Quản lý và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn+ Quản lý hoạt động xây dựng và phát triển đô thị

Trang 10

+ Quản lý hoạt động văn hóa - x∙ hội.

- Đi sâu vào việc nghiên cứu các quan điểm, mục tiêu định hướngtrong phân cấp và xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp với các

điều kiện, giải pháp cần thiết để áp dụng cho Thủ đô nhằm đẩy nhanh tốc

độ và nâng cao hiệu quả phát triển Hà Nội trong giai đoạn 2001-2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử, quan điểm đổi mới của Đảng, sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụthể như: phương pháp thống kê, so sánh và tổng hợp, phân tích và điều trax∙ hội học để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra

Đề tài xuất phát từ những lý luận cơ bản thuộc đối tượng nghiên cứu,tham khảo những kinh nghiệm quốc tế có liên quan đến việc quản lý vàphát triển Thủ đô, phân tích khuôn khổ pháp lý và các chính sách của Nhànước đối với Thủ đô, đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách hiện hànhtrong một số lĩnh vực kinh tế - x∙ hội của Thủ đô Hà Nội, từ đó đưa ranhững kiến nghị và giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ và nâng cao hiệu quảphát triển Thủ đô theo hướng toàn diện, hiện đại và bền vững

5 ý nghĩa của đề tài

Về hiệu quả kinh tế:

Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần phát huy các lợithế so sánh của Thủ đô, kết hợp hiệu quả các nguồn lực trên địa bàn, nângcao tinh thần chủ động, sáng tạo trong quản lý Nhà nước và điều hành sảnxuất kinh doanh của các cơ quan Nhà nước, DN và doanh nhân trên địabàn tạo ra động lực mới, sức mạnh mới và khả năng cạnh tranh kinh tếmới cho Thủ đô, để bảo đảm Hà Nội phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững,xứng đáng là một trong những đầu tầu kinh tế của vùng và cả nước, chủ

động hội nhập kinh tế quốc tế

Về hiệu quả x∙ hội:

Trên cơ sở hợp lý hoá cơ chế quản lý Nhà nước trên địa bàn, làm tăngcác động lực phát triển kinh tế - x∙ hội, nâng cao chất lượng sống, củng cố

sự đoàn kết, ủng hộ và lòng tin của nhân dân và quốc tế vào sức mạnh vàtương lai Thủ đô, từ đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toànx∙ hội trên địa bàn, cũng như trên cả nước

Trang 11

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 9chương:

hiện đại hoá đất nước

đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội

- Chương 9: Những kiến nghị đối với Trung ương về một số cơ chế, chính

được áp dụng trên địa bàn Thủ đô Hà Nội

Trang 12

Chương 1: Vai trò của thủ đô Hà Nội trong

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

i đặc điểm và vị thế của thủ đô Hà Nội

1.1 Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, với vị trí20°53’ đến 21°23’ vĩ độ bắc và từ 105°44’ đến 106°02’ kinh độ đông HàNội tiếp giáp 5 tỉnh: phía bắc giáp Thái Nguyên; phía đông giáp Bắc Ninh,Hưng Yên; phía tây giáp Vĩnh Phúc; phía nam, tây nam giáp Hà Tây.Thành phố gồm bảy quận nội thành (Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng,

Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân) và năm huyện ngoại thành (SócSơn, Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì) với tổng diện tích 920,97km2, bằng 0,28% diện tích tự nhiên của cả nước với dân số là 2.734.100người (tính đến hết năm 2000), chiếm 3,5% dân số cả nước

Địa hình Hà Nội, có cấu trúc địa chất không phức tạp so với nhiềukhu vực khác ở miền Bắc nước ta Phần lớn diện tích của Hà Nội và vùngphù cận là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theohướng chung của địa hình và cũng là theo hướng của dòng chảy sôngHồng

Phía bắc Hà Nội là vùng đồi núi thấp và trung bình, d∙y Sóc Sơn với

đỉnh cao nhất là Chân Chim có độ cao 462m Phía Tây của Hà Nội và vùngphụ cận là d∙y núi Ba Vì với đỉnh cao nhất là đỉnh Vua có độ cao 1270m;ngoài ra còn có các đỉnh Tản Viên (1227 m) và Ngọc Hoa (1131 m) Vùng

đồi núi của Hà Nội và phụ cận có thể tổ chức nhiều loại hình du lịch vàphát triển chăn nuôi,

Nhìn chung địa hình của Hà Nội so với các khu vực khác ở miền Bắc

và miền Trung là tương đối đơn giản, nhưng cũng khá đa dạng, làm nềntảng cho cảnh quan tự nhiên, tạo những nét độc đáo cho phong cảnh, cũngnhư cho việc phát triển các loại hình kinh tế, đặc biệt là phát triển du lịch

Khí hậu Hà Nội mang đặc trưng của khí hậu vùng nhiệt đới giómùa, với 2 mùa chủ yếu trong năm: mùa nóng và mùa lạnh

Nhiệt độ không khí trung bình năm của Hà Nội khá cao: 240C.Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm lên tới 12,50C.Nhiệt độ tối đa có thể lên đến trên 400C nhưng ít khi xảy ra Nhiệt độkhông khí tối thiểu có thể xuống 5 - 70C, kéo dài 7 -12 ngày Có trườnghợp nhiệt độ xuống đến 2,70C (ngày 12/1/1995 tại Gia Lâm)

Độ ẩm trung bình các tháng trong năm dao động từ 80% đến 88%

Độ ẩm không khí trung bình nhỏ nhất có thể xuống đến 16% vào tháng 12

và tháng 1

Trang 13

Lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1.250 - 1.870mm Số ngàymưa trong năm là 140 ngày, phân bố không đều và hình thành 2 mùa Mùamưa thường tập trung tới 85% lượng mưa cả năm và chiếm đến 1400 -1500mm Mưa lớn nhất rơi vào tháng 8, đây cũng là tháng thường có nhiềucơn b∙o nhất, với 16 - 18 ngày mưa, lượng mưa trung bình khoảng 300 -350mm.

Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn Hà Nội khá dày đặc, khoảng 0,5km/km2, thuộc hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Thái Bình

Độ dốc của sông nhỏ, uốn khúc quanh co Hệ thống sông Hồng ở địa phận

Hà Nội dài khoảng 54km, có lưu lượng dòng chảy bình quân là 90km3, baogồm một số sông nhánh: sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tích ở phía hữu ngạn,sông Đuống ở phía tả ngạn Hệ thống sông Thái Bình nằm ở phía Đông Bắccủa thành phố gồm các sông nhánh: sông Công, sông Cà Lồ, sông Cà Lài,sông Cầu Ngoài ra còn có các hệ thống sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu,sông Lừ, sông Sét

Nhìn chung, nước sông Hồng và sông Đuống chất lượng tương đốitốt Nhưng các sông khác trong thành phố bị ảnh hưởng nhiều của nướcthải sinh hoạt và công nghiệp của Thành phố

Về hồ đầm: Hà Nội có nhiều hồ đầm tự nhiên vừa tạo môi trườngcảnh quan sinh thái đẹp cho thành phố, rất có giá trị trong việc kết hợp xâydựng các công viên giải trí, nơi dạo mát vui chơi, nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng chonhân dân Thủ đô, vừa để làm nơi tiêu nước khi có mưa, làm nơi dự trữ nướctưới cho cây xanh thành phố Do yêu cầu đô thị hoá và cũng do thiếu quihoạch, quản lý kém nên nhiều ao hồ đ∙ bị san lấp để lấy đất xây dựng Một

số đầm và vùng trũng ở Thanh Trì, Đông Anh được cải tạo để nuôi cá hoặckết hợp nuôi cá với trồng lúa Diện tích ao, hồ, đầm của Hà Nội hiện cònlại vào khoảng 3600 ha Khu vực nội thành tập trung khá nhiều hồ, có tới

27 hồ, đầm Trong đó có những hồ lớn như Hồ Tây, Bảy Mẫu, Trúc Bạch,Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Thủ Lệ, Văn Chương, Giảng Võ, Ngọc Khánh,Thành Công Ngoài ra, còn nhiều hồ, đầm lớn nhỏ khác phân bố khắp cácquận huyện của thành phố Có thể nói hiếm có một Thủ đô nào trên thếgiới có nhiều hồ, đầm như ở Hà Nội

Chế độ thuỷ văn của Hà Nội tương ứng với đặc điểm của địa hình vàkhí hậu, chia ra làm 2 mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ trùng vớimùa mưa, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 Lũ cao nhất vào tháng 8, lượngnước chiếm tới 70-75% tổng lượng nước cả năm Mùa cạn thường kéo dàihơn mùa mưa, tới 7 tháng, từ tháng 11 đến tháng 5 Lượng nước mưa vàmực nước sông thấp nhất vào tháng 3

Nguồn nước ngầm: Hà Nội có mỏ nước ngầm với trữ lượng lớn Đó

là nguồn tài nguyên quý Nguồn nước này luôn được bổ sung, chất lượngnói chung tốt và có tầng phủ bảo vệ chống ô nhiễm Tổng trữ lượng dự trữkhoảng 1 - 1,2 triệu m3/ngày

Trang 14

Như vậy, nguồn nước của Hà Nội tương đối dồi dào, có thể đáp ứng

nước về từ các nơi khác xung quanh như hồ Hoà Bình

Đất đai của Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên là 92.097 ha Diện

tích đất ngoại thành chiếm 91%, nội thành chỉ có 9% Trong tổng số diệntích đất tự nhiên, diện tích sông hồ chiếm 5,96%, núi đá chiếm 0,13%

Nội thành Hà Nội, phần lớn diện tích đất đai được đánh giá là khôngthuận lợi cho xây dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụt lún,nứt đất, sạt lở, trôi trượt dọc sông, cấu tạo nền đất yếu, Một số diện tíchnội thành là vùng đất trũng lầy thụt do quá trình đầm lầy hoá

Tài nguyên khoáng sản của Hà Nội có vị trí, cấu trúc đặc biệt, rấtphong phú và đa dạng

Hà Nội và vùng phụ cận có 500 mỏ và điểm quặng của gần 40 loạikhoáng sản khác nhau đ∙ được phát triển và đánh giá ở các mức độ khácnhau Có những nhóm khoáng sản chủ yếu như:

Trong vùng Hà Nội và phụ cận đ∙ phát hiện được 51 mỏ và điểmquặng than, trong đó có 2 mỏ quy mô trung bình, 18 mỏ nhỏ, với tổng trữlượng dự tính hơn 200 triệu tấn

Khoáng sản kim loại: gồm 4 loại sau:

- Kim loại đen: Về sắt, Hà Nội và các vùng phụ cận có 85 mỏ và

điểm quặng, với tổng trữ lượng 393,68 triệu tấn, chủ yếu phân bố ở phíaBắc và Tây Bắc Hà Nội

- Kim loại màu: về đồng có 2 mỏ và 12 điểm quặng nằm ở phía tây

Hà Nội Nhìn chung, qui mô nhỏ, hàm lượng thấp Chỉ có thể khai thác sửdụng cho yêu cầu nhỏ

- Kim loại quý: chủ yếu là vàng Trên l∙nh thổ Hà Nội và vùng lâncận đ∙ xác định được 20 mỏ và điểm quặng vàng Trong số này có 4 mỏ đ∙

được đánh giá là Trại Cau, Hoà Khô, Na Lương, Chợ Bến với tổng trữlượng dưới 1 tấn

- Kim loại hiếm:

Về thiếc - vonfram: có 10 mỏ và điểm quặng, trong đó có 1 mỏ lớn,

4 mỏ trung bình, 1 mỏ nhỏ và 5 điểm quặng có triển vọng Trữ lượng toànvùng quặng vào khoảng 40.000 tấn SnO2

Về thuỷ ngân, trong vùng đ∙ phát triển được 6 mỏ và điểm quặng,trong đó chỉ có mỏ Trại Gạo (Hải Dương) có quy mô trung bình, trữ lượngkhoảng 13.000 tấn thuỷ ngân kim loại

Về antimoan, đ∙ phát hiện được 8 mỏ và điểm quặng, có quy mônhỏ, trữ lượng chưa được đánh giá

Trang 15

Khoáng sản không kim loại:

Hầu hết các nguyên liệu không kim loại đều trong trạng thái đangtìm kiếm phát hiện và đang được chú ý nghiên cứu để đưa vào khai thác sửdụng

Hà Nội và khu vực chung quanh có 2/3 diện tích là đồi núi, trong đó

đá vôi và các loại mácma chiếm phần quan trọng Khoảng hơn 1/3 diện tíchcòn lại la vùng đồng bằng có nhiều loại sét, cát, cuội sỏi tích tụ với chiềudày hàng trăm mét

Đ∙ phát hiện được 23 mỏ đá vôi các loại với trữ lượng dự tínhkhoảng 4 tỷ tấn; đá hoa có tổng trữ lượng 80 triệu tấn; đôlômit có trữ lượng131,5 triệu tấn Có 85 mỏ sét các loại với trữ lượng khoảng 1 tỷ tấn

Tóm lại trên địa bàn Hà Nội và các khu vực lân cận có khá nhiềuloại khoáng sản khác nhau thuộc 6 nhóm: khoáng sản cháy cứng, kim loạiquý, nguyên liệu hoá học, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng, nướckhoáng Trong các loại kể trên có nhiều loại có quy mô dự trữ hoặc có chấtlượng có thể đáp ứng một phần đáng kể cho các loại yêu cầu và phát triển

Hà Nội Một vài loại khoáng sản như vàng, chì kẽm, đồng, an timoan đ∙

được khai thác sử dụng từ lâu, còn phần lớn các loại khoáng sản khác chỉmới được phát hiện đánh giá trong vài ba chục năm gần đây và hầu nhưchưa được khai thác sử dụng

Về tài nguyên sinh vật, sinh thái và du lịch: Hà Nội có hàng trăm nghìn cây xanh thuộc 50 loài thực vật bậc cao được trồng trên các công viên, vườn hoa, đường phố.

Có tất cả 48 công viên, vườn hoa, vườn dạo ở 7 quận nội thành vớitổng diện tích là 138 ha (kể cả hồ nước) và 377 ha thảm cỏ Diện tích câyxanh, b∙i cỏ là 25,6 ha, nếu tính cả diện tích hồ nước là 138,3 ha Nhữngcông viên, vườn hoa của Hà Nội đ∙ được hình thành qua nhiều thời kỳ pháttriển Vườn bách thảo Hà Nội được xây dựng cách đây hơn 100 năm 1890

đến nay còn nhiều loại cây quý, kích thước lớn Tất cả các công viên, vườnhoa ngày càng được củng cố và phát triển, hiện đang phát huy tác dụng làmnơi vui chơi, nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân thủ đô

Nhìn tổng thể, Hà Nội ngày càng có sức thu hút khách du lịch trong

Nam, là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hoá, x∙ hội ngàycàng phát triển tiêu biểu cho văn hoá và truyền thống dân tộc Việt Nam.Ngoài ra Hà Nội là một thành phố có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có nhiều

di tích, lịch sử, văn hoá nổi tiếng, nhiều di tích cách mạng tiêu biểu củalịch sử Việt Nam cận đại và đương đại

Hà Nội có nhiều địa danh nổi tiếng về cảnh quan thiên nhiên như:

Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm, Đền Sóc Du lịch trên sông Hồng, du lịch quacác phố cổ với 36 phố phường là những nơi khá hấp dẫn

Trang 16

Gần 1000 năm phát triển, Hà Nội luôn là trung tâm văn hoá của cảnước Hệ thống thống tài sản văn hoá tập trung đậm đặc với mật độ cao: 2

di sản/km2 Trên địa bàn Hà Nội có khoảng 1.744 di tích lịch sử văn hoá,trong đó có 499 đơn vị được xếp hạng cấp quốc gia, 308 đơn vị đang được

1.2 Tài nguyên xã hội - nhân văn

Lịch sử Hà Nội được bắt nguồn từ những ngày đầu dựng nước của tổtiên ta Ngay từ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang, ông cha ta đ∙ đếnlàm ăn sinh sống ở vùng Hà Nội Đó là những thôn xóm định cư của cư dânnông nghiệp Đến đầu thế kỷ 11, khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư vềThăng Long thì công cuộc xây dựng mới mở rộng và phát triển Hà Nộichuyển dần từ một làng quê thành đất kinh kỳ, nơi hội tụ nhân tài, vật lựccủa bốn phương

Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi hội tụ "nguyên khí" của dân tộc, làniềm tự hào chung của đất nước Điểm cốt lõi của bản sắc văn hoá ThăngLong-Hà Nội không chỉ biểu hiện ở các giá trị văn hoá rất phong phú và đadạng, mà còn ở chỗ hội tụ các tinh hoa để tạo dựng nên nhân cách conngười Thủ đô với "Hào khí Thăng Long" "Sỹ khí Hà Thành", "Người TràngAn", "Hà Nội thanh lịch"

Cư dân tứ xứ hội tụ về Hà Nội đem theo những phong tục lề thói địaphương, rồi được chắt lọc, nâng cao chau chuốt trong khung cảnh văn hoákinh kỳ, tạo thành nếp sống "thanh lịch Hà Nội"

Trong số những tính cách tạo nên nét thanh lịch của người Hà Nộiphải kể đến các đặc trưng riêng như hài hoà, hiếu học, chuyên cần, hào hoa

và sáng tạo Chính từ đó mà tạo nên mặt bằng dân trí cao, có nhiều ngườithành tài

Nhân dân Hà Nội nhanh nhạy với cái mới, có nhiều yếu tố thuận lợi

để đi tới quá trình công nghiệp hoá, phát triển dịch vụ và hiện đại hoáthành phố, nhân dân có nhiều ngành nghề truyền thống có giá trị kinh tế vàvăn hoá cao, và sẽ có thể tạo ra những sản phẩ văn hoá ở đỉnh cao của đấtnước (nhất là trong một số lĩnh vực công nghiệp, sản xuất mỹ nghệ, lĩnhvực hội hoạ, nhạc, ca nhạc, sáng tác văn học, ) Tuy nhiên, hiện naynhững giá trị truyền thống và các thành tựu văn hoá chưa phát huy hiệu

Trang 17

quả, chưa được chuyển hoá thành các tác nhân kinh tế cho quá trình pháttriển2.

1.3 Đặc điểm dân số, lao động

Về qui mô dân số , tính đến cuối năm 2000, dân số Hà Nội có2.734.100 người (chiếm 3,5% dân số cả nước), trong đó dân số nội thành là1.460.400 người (chiếm 53,4% dân số toàn thành phố)

Do thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, Hà Nội đ∙cơ bản kiểm soát được việc phát triển dân số tự nhiên Tỷ lệ phát triển dân

số tự nhiên từ 1,72% năm 1991 đ∙ giảm từng bước đến cuối năm 2000 chỉcòn 1,09%

Tuy nhiên, do sức hút của quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt củaquá trình đô thị hoá đ∙ tạo ra các dòng di dân đến Hà Nội, chủ yếu là khuvực nội thành, tìm việc ngày càng lớn (có thời điểm lên tới 20 vạn người)

Điều này tạo ra một sức ép lớn về mọi mặt cho quá trình phát triển kinh tế x∙ hội của Thủ đô Do đó, quản lý chặt chẽ về biến động cơ học của dân số

-là cơ sở quan trọng cho dự báo và hoạch định chính sách về dân số củathành phố

Dự tính năm 2000, số người trong độ tuổi lao động của Hà Nội cókhoảng 1.624.200 người; đến năm 2005 - khoảng 1.821.800 người; đếnnăm 2010 - khoảng 1.920.000 người Ngoài ra chưa kể đội ngũ đông đảolao động ngoại tỉnh vào Hà Nội tìm việc làm thêm Sự gia tăng nhanhchóng nguồn lao động đ∙ gây áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làmtrong giai đoạn hiện nay và cả những năm sau

Về trình độ văn hoá, Hà Nội là địa phương đầu tiên trong cả nướchoàn thành phổ cập trung học cơ sở trên toàn thành phố, tỉ lệ biết chữ củadân số Hà Nội là 99,6% Trình độ văn hoá của nguồn lao động Hà Nội cótương đối cao Tính đến năm 1999 có 85,96% số người tốt nghiệp từ trunghọc cơ sở trở lên, riêng tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm 45,3% (trong

đó tỷ lệ này ở quận Thanh Xuân đạt 61,61%)

Tuy trình độ văn hoá của lao động Hà Nội cao nhất so với vùng đồngbằng sông Hồng và so với cả nước, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhữngnhiệm vụ đang đặt ra của công cuộc CNH, HĐH Thủ đô Đây là một tồn tạicần phải tập trung giải quyết trong giai đoạn 2001 - 2010

Về trình độ chuyên môn, Hà Nội là một trong những tỉnh, thành phố

có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao Hiện nay thủ đô Hà Nội tập trung cáctrường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu nhiều nhất so với các địa phươngkhác trong cả nước (112 viện nghiên cứu; 43 trường đại học, cao đẳng; 34trường trung học chuyên nghiệp; 41 trường dạy nghề; ngoài ra còn có nhiều

tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghệ hiện đại, tiêntiến) Đây là điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng, phân bố,

sử dụng lao động trên địa bàn Hà Nội Năm 2000, có gần 43% nguồn lao

2

UBND Thành phố Hà Nội, Dự thảo báo cáo tổng hợp Qui hoạch phát triển kinh tế - x∙ hội của Thủ đô

Trang 18

động đ∙ qua đào tạo, có bằng từ sơ cấp trở lên (tỷ lệ của cả nước là hơn13%).

Tuy nhiên, lao động có trình độ, chuyên môn kỹ thuật chủ yếu tậptrung ở thành thị; còn ở khu vực nông thôn, chủ yếu là lao động phổ thôngchưa có chuyên môn kỹ thuật Cơ cấu lao động còn nhiều bất hợp lý, có sựmất cân đối lớn giữa đào tạo đại học, cao đẳng với đào tạo nghề, hiện naycơ cấu: Đại học-Cao đẳng/Trung học chuyên nghiệp/Công nhân kỹ thuậttheo tỷ lệ 1 - 0,8 - 1, trong khi đó tỷ lệ hợp lý trên thế giới là 1 - 4 - 10,

điều này tạo ra sự bất cập, l∙nh phí và hiệu quả thấp trong đào tạo và sửdụng nguồn nhân lực

Cơ cấu phân bố lực lượng lao động trong các thành phần kinh tế có

sự thay đổi cơ bản từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI theo hướng: tỷtrọng lao động khu vực kinh tế quốc doanh giảm dần, tỷ trọng lao độngkhu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh

Trong những năm qua, Hà Nội là địa phương có tỷ lệ thất nghiệp caonhất trong cả nước, năm 1999 tỷ lệ thất nghiệp của Hà Nội là 5,59%; trong

đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 8,96%, khu vực nông thôn là1,4% Năm 2000, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm còn 7,95%

Tình hình thất nghiệp ở thành phố đang tiếp tục gia tăng và chịu sức

ép của nhiều yếu tố, đặc biệt là do việc tổ chức, sắp xếp lại sản xuất ở cácDNNN làm cho bộ phận lao động thiếu việc làm và mất việc làm ngàycàng tăng Mặt khác, do quá trình đô thị hoá, việc tăng dân số cơ học, đặcbiệt là tình trạng lao động ngoại tỉnh về thành phố tìm việc làm, học sinh,sinh viên ra trường không trở về các địa phương mà ở lại Hà Nội tìm việccũng đ∙ gây sức ép lớn cho Thành phố trong công tác giải quyết việc làm

Tác phong lao động cũng như lề lối làm việc của người lao động trêncả nước nói chung và người lao động ở Hà Nội nói riêng còn chưa phù hợpvới công cuộc đổi mới hiện nay Người lao động Hà Nội cần phải rèn luyệntác phong công nghiệp ngay cả trong lao động lẫn trong sinh hoạt đờithường Vì thế, cần phải có những biện pháp, cơ chế, chính sách đồng bộ,

có tác dụng mạnh mẽ để đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng nguồnnhân lực Hà Nội

Nhìn tổng thể, bên cạnh những khó khăn chung của cả nước, các

đặc điểm tự nhiên và x∙ hội tương đối thuận lợi cho sự phát triển Thủ đô.Mười năm tới đang đặt ra cho Thủ đô những cơ hội và những thách thứcmới Hà Nội cần có những chính sách mới, các giải pháp đồng bộ, nhằm sửdụng và phát huy tối đa các nguồn lực đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế -x∙ hội Thủ đô

1.4 Vị thế Thủ đô Hà Nội

Hà Nội có vị trí địa lý - chính trị quan trọng, có ưu thế đặc biệt so

với các địa phương khác trong cả nước, là trái tim của cả nước, đầu n∙o

chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo

Trang 19

dục, kinh tế và giao dịch quốc tế3, là vùng đất “địa linh nhân kiệt” với lịch

sử nghìn năm văn hiến, nơi hội tụ và giao thoa các giá trị văn hoá truyềnthống của dân tộc Người dân Hà Nội thanh lịch, tiếp thu nhanh nhạy cáimới, có khả năng sáng tạo ra những giá trị văn hoá, tinh thần có giá trị Với

vị thế là Thủ đô, Hà Nội vừa có những tiềm năng, lợi thế so sánh; vừa cónhững thách thức, không thuận lợi trong quá trình phát triển Thủ đô

trong phát triển kinh tế - x∙ hội:

Là đầu n∙o chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá,khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, Hà Nội đượcNhà nước chỉ đạo, tập trung đầu tư về mọi mặt trong quá trình xây dựng vàphát triển Thủ đô Có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận những thànhtựu khoa học công nghệ và tinh hoa văn hoá thế giới, giải quyết kịp thời,hiệu quả những vấn đề kinh tế-x∙ hội phát sinh có liên quan trong quá trìnhtoàn cầu hoá, hội nhập khu vực và quốc tế

Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan đầu n∙o của Đảng và Nhà nước,các đại sứ quán, các cơ quan ngoại giao đoàn, các văn phòng đại diện củacác tổ chức quốc tế, đây là ưu thế để tăng thêm trí tuệ cho công tác tư vấntrong việc hoạch định các chính sách phát triển ở Hà Nội hiện có 43trường đại học và cao đẳng, 34 trường trung học chuyên nghiệp, 41 trườngdạy nghề, 112 viện nghiên cứu (chiếm 86% tổng số các viện nghiên cứutrong cả nước), ngoài ra còn có nhiều tổ chức, doanh nghiệp hoạt độngtrong các ngành công nghệ hiện đại, tiên tiến Nếu thu hút và tranh thủ

được sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các bộ, ngành Trung ương, các việnnghiên cứu, các trường đại học trên địa bàn thì sẽ có được lợi thế to lớn sovới các tỉnh, thành phố khác trong cả nước

Hà Nội đ∙ và sẽ giữ vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất ở Bắc bộ, cósức hút và khả năng lan toả rộng lớn, tác động trực tiếp tới quá trình pháttriển của vùng Bắc bộ Đồng thời vừa có khả năng khai thác thị trường rộnglớn của vùng và của cả nước để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm công nôngnghiệp và dịch vụ4

Hà Nội còn có ưu thế so với các địa phương khác ở khu vực phía Bắctrong công tác tuyên truyền vận động và tổ chức triển khai thu hút đầu tưvào Hà Nội, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa, mở rộng các dịch

vụ công nghệ cao, dịch vụ tài chính - ngân hàng, dịch vụ đối ngoại, dulịch, Về lâu dài, chính khả năng kế thừa, lôi cuốn, quy tụ và đồng kết

được nhiều tiềm lực, điều kiện từ bên ngoài, cũng như năng lực tự tích lũy

được về kinh nghiệm và bản lĩnh l∙nh đạo, kinh doanh, trình độ phát triển

về hạ tầng kỹ thuật, các nguồn vốn, nguồn nhân lực, tri thức - công nghệ

sẽ tạo tiền đề và động lực mạnh mẽ nhất cho sự phát triển và cất cánh củaThủ đô trong tương lai

3

Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô

Hà Nội trong thời kỳ 2001-2010.

4

UBND Thành phố Hà Nội, Dự thảo báo cáo tổng hợp qui hoạch phát triển kinh té - x∙ hội của Thủ đô

Trang 20

Mặt khác , Thủ đô Hà Nội có những khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội:

Là nơi những chủ trương, chính sách của Nhà nước được ban hành;

là trung tâm đầu n∙o về chính trị, vì thế mỗi động thái chủ trương, chínhsách và thực tiễn của Thành phố Hà Nội đều có sự chi phối trực tiếp và giántiếp nhất định đến đời sống kinh tế - x∙ hội của cả nước, điều đó không chophép Thành phố dễ dàng triển khai các thử nghiệm quyết sách quản lý,

điều hành của các cấp chính quyền nhằm tạo ra sức bật mới cho quá trìnhphát triển kinh tế - x∙ hội như một số thành phố khác

Do sức hút của quá trình phát triển kinh tế, Hà Nội trở thành nơi hội

tụ dòng di cư tự do, đặc biệt của quá trình đô thị hoá đ∙ tạo ra các dòng didân, người ở tỉnh ngoài về Hà Nội kếm việc làm (có lúc lên đến 9,5 vạnngười), khiến tốc độ đô thị hóa bị thúc ép tăng nhanh hơn tốc độ phát triểncơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ quản lý đô thị (tỷ lệ dân số nội thành của

Hà Nội hiện nay là 57,6% so với mức trung bình cả nước là 23,5%) Điềunày tạo ra một sức ép lớn về mọi mặt cho quá trình phát triển kinh tế - x∙hội của Thủ đô

Là đầu mối giao thông của khu vực phía Bắc, Hà Nội phải đối mặtvới nạn buôn lậu, làm hàng giả, buôn bán ma tuý Điều này không chỉ tạosức ép cao lên việc triển khai thực hiện các chính sách x∙ hội của Đảng vàNhà nước, mà còn buộc Hà Nội phải đối diện với mức độ gia tăng các loạitội phạm và tệ nạn x∙ hội - mặt trái của nền kinh tế thị trường

Thủ đô cũng là địa bàn trọng yếu mà các thế lực thù địch tập trungchống phá Tập trung phát triển kinh tế, nhưng Thành phố phải dành nhiềuthời gian để không ngừng chăm lo ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, trật

tự an toàn x∙ hội

Hà Nội đang ngày càng cảm nhận rõ rệt hơn thách thức giữa hai yêu

cầu đều quan trọng và cấp thiết như nhau: thứ nhất, yêu cầu phải đẩy

nhanh tốc độ và đồng bộ hoá sự phát triển, đuổi kịp với Thủ đô các nước,

góp phần tạo động lực cho phát triển kinh tế vùng và kinh tế cả nước; thứ hai, yêu cầu phải phát triển bền vững, nhất là bảo đảm sự ổn định về chínhtrị, trật tự an toàn về x∙ hội, sự lành mạnh về môi trường văn hoá và sinhthái, cũng như phải phấn đấu để "giữ nhịp" ổn định hóa cho toàn bộ quátrình phát triển kinh tế - x∙ hội trong tương lai của cả nước

II khái quát Thực trạng và định hướng phát triển kinh tế xã hội Thủ đô Hà Nội

-2.1 Những thành tựu và hạn chế chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội trong 10 năm qua

2.1.1 Những thành tựu chủ yếu đã đạt được:

Về phát triển kinh tế

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoátập trung, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng x∙

Trang 21

hội chủ nghĩa, trong 10 năm qua, kinh tế - x∙ hội Thủ đô đ∙ có bước pháttriển cơ bản Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 và 1996

- 2000 đều đạt và vượt mức kế hoạch đề ra; kinh tế Thủ đô đ∙ vượt qua thời

kỳ suy thoái, tăng trưởng nhanh và liên tục

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Hà Nội thời kỳ 1991-1995 đạt12,52%, thời kỳ 1996-2000 là 10,60% Hà Nội là một trong số các địaphương có tốc độ tăng trưởng cao, gấp 1,3 - 1,5 lần so với tốc độ tăngchung cả nước (tốc độ tăng GDP trung bình của Thủ đô giai đoạn 1990-

1999 cao hơn cả nước từ 3-4%/năm); tổng giá trị GDP của Thành phố ướcnăm 2000 gấp 2,9 lần so với năm 1990 và 1,6 lần so với năm 1995 Năm

2000, GDP của Hà Nội chiếm 7,22% so với cả nước, khoảng 41% so vớitoàn vùng Đồng bằng sông Hồng và 65,47% so với vùng kinh tế trọng điểmphía Bắc

Trong cơ cấu GDP của Thành phố, kinh tế nhà nước Trung ươngchiếm tỷ trọng 57,2% (năm 2000), có tốc độ tăng trưởng bình quân9,57%/năm (giai đoạn 1996-2000); tương ứng, kinh tế nhà nước địa phương

chiếm tỷ trọng 9,2%, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,5%/năm, khu vực

ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng 19,9%, tăng trưởng bình quân 7,9%/năm;

khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 13,7%, tăng trưởng bìnhquân 25,6%/năm

Cơ cấu kinh tế Thủ đô chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện

đại hoá, từ công nghiệp nông nghiệp dịch vụ chuyển sang công nghiệp dịch vụ - nông nghiệp, có tác động tích cực đến lĩnh vực hoạt động và tổchức sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Tỷ trọngngành công nghiệp mở rộng tăng từ 29,1% năm 1990 lên 38% năm 2000;ngành dịch vụ từ 61,9% giảm xuống còn 58,2% năm 2000; ngành nông-lâm nghiệp và thuỷ sản từ 9% giảm xuống còn 3,8% năm 2000

-Hà Nội là địa bàn thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài Khuvực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 0% năm 1990 lên 12,64% trong cơcấu GDP Thành phố năm 2000 Các doanh nghiệp có vốn FDI có tiềm lựclớn cả về vốn, nhân lực và công nghệ, do đó các doanh nghiệp trong nuớcphải nhanh chóng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để tồn tại vàphát triển

Vốn đầu tư x∙ hội tăng mạnh trong các thành phần kinh tế, song vốn

của Hà Nội thời kỳ 1996-2000 Tỷ trọng đầu tư từ nguồn vốn trong nướctăng mạnh và tăng ở tất cả các nguồn: Vốn nhà nước chiếm tỷ trọng 11,1%năm 1996 tăng lên 21,5% năm 2000; vốn tín dụng nhà nước từ 1,8% lên

3,2%; vốn DN tự đầu tư từ 17,8% tăng lên 20,3%; vốn đầu tư của các

thành phần kinh tế ngoài nhà nước từ 15,4% lên 26%; vốn dân tự đầu tư từ 1,3% tăng lên 7,1%.

Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn diễn ra sôi động, với sự thamgia của mọi thành phần kinh tế Mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thời

kỳ 1991-1999 là 21,7%/năm, thời kỳ 1996-1999 là 16,17%/năm; đưa kim

Trang 22

ngạch xuất khẩu trên địa bàn từ 755 triệu USD (năm 1995) lên 1.525 triệuUSD (năm 2000) Kim ngạch nhập khẩu bình quân giai đoạn 1996-2000tăng trên 18%/năm, tỷ trọng nhập khẩu trang thiết bị máy móc, nguyên vậtliệu, vật tư phục vụ sản xuất chiếm 42,6% trong tổng số kim ngạch nhậpkhẩu (năm 1991) tăng lên 94,74% (năm 2000), góp phần từng bước hiện

đại hoá công nghệ sản xuất của nền kinh tế

Mức sống của người dân Hà Nội cũng tăng nhanh, khẳng định một thịtrường có sức mua cao GDP bình quân đầu người tăng từ 470 USD (năm1991) lên 915 USD (năm 1999), gần 990 USD vào năm 2000, bằng khoảng2,29 lần mức bình quân của vùng Đồng bằng sông Hồng và 2,07 lần mứcbình quân của cả nước

Về xây dựng và quản lý đô thị:

Trong những năm qua, công tác xây dựng và quản lý đô thị đ∙ cóchuyển biến tích cực Công tác đầu tư phát triển được đẩy mạnh Tình hìnhgiao thông vận tải ra vào Thành phố đ∙ được cải thiện Sân bay Nội Bài

được nâng cấp và mở rộng, hệ thống giao thông đường không, đường thuỷchuyển biến tốt Đ∙ xây dựng một số khu đô thị mới và mở rộng đượcnhiều tuyến đường, trục đường lớn, nút giao thông quan trọng: Liễu Giai-Nguyễn Chí Thanh, Láng - Hoà Lạc, Láng Hạ, Trần Khát Chân - Đại CồViệt, đường Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Quốc Việt phù hợp với quyhoach chung Nhà ở đ∙ có cải thiện, mức bình quân nhà ở hiện này là6m2/người so với 4,5m2/người năm 1990 Các lĩnh vực cấp nước, thoátnước, chiếu sáng, công viên cây xanh, vệ sinh môi trường đ∙ và đang đượcchú trọng đầu tư Tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải tăng từ 40% (năm 1990) lên80% Khối lượng cung cấp nước sạch tăng lên 2,5 lần Đang triển khai dự

án ODA về xây dựng hệ thống thoát nước; xây dựng xong trạm bơm tiêuthoát Yên Sở giai đoạn I với công suất 45m3/giây, cùng với việc cải tạo hệthống sông thoát nước thải nội thành Tăng diện tích đất xanh từ1,8m2/người (năm 1990) lên 3,5 m2/người hiện nay Bộ mặt đường phố HàNội ngày càng khang trang, sạch đẹp, phát triển theo hướng đô thị hiện đại

Đến nay cơ bản không còn hộ đói và nhà dột nát, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn1,3% (theo chuẩn hiện hành) Cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá,thực hiện nếp sống mới trong cưới hỏi, tang lễ và thực hiện dân chủ ở cơ

sở có chuyển biến tích cực

Hệ thống chính trị, an ninh quốc phòng:

An ninh chính trị Thủ đô tiếp tục được giữ vững, công tác quốcphòng địa phương từng bước đi vào nề nếp Thành phố đ∙ xây dựng thế trận

Trang 23

quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân Trật tự an toànx∙ hội đ∙ có chuyển biến tích cực.

Hệ thống chính trị từ Thành phố đến cơ sở được củng cố, phát triển.Hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp của Thành phố có những mặttiến bộ Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được tiêu chuẩnhoá Các thủ tục hành chính tiếp tục được xem xét, cải tiến theo hướng một

đầu mối

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đ∙ bước đầu đổi mới nộidung, phương thức hoạt động, góp phần phát triển kinh tế- x∙ hội Thủ đô

Tóm lại, sau những năm đổi mới, Hà Nội đ∙ có bước phát triển toàn

diện Kinh tế Thủ đô đ∙ tăng trưởng liên tục, đạt mức cao hơn so với mứcbình quân chung của cả nước Vai trò của Hà Nội trong vùng kinh tế trọng

điểm Bắc Bộ và trong nền kinh tế quốc dân ngày một nâng cao Hạ tầng kỹthuật đô thị được tăng cường; Thủ đô từng bước được cải tạo và xây dựngtheo hướng đồng bộ, hiện đại Vấn đề môi trường đ∙ và đang được quantâm Công tác văn hóa x∙ hội đạt được những thành tựu tốt, được các Bộ,Ngành TW đánh giá là địa phương có nhiều chỉ tiêu dẫn đầu cả nước Nôngthôn ngoại thành đ∙ có bước khởi sắc Hệ thống chính trị được củng cố; anninh quốc phòng được giữ vững; trật tự an toàn x∙ hội được đảm bảo Đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân đ∙ có bước cải thiện rõ rệt, mứcsống tăng lên hơn 2 lần so với năm 1990 Quan hệ đối ngoại được mở rộng,

vị thế của Thủ đô trong khu vực và quốc tế ngày càng được nâng cao Năm

1999, Hà Nội là thành phố duy nhất trong khu vực châu á - Thái BìnhDương được nhận danh hiệu cao quý của UNESCO "Thành phố vì Hoàbình"

1998 đến nay bị giảm sút Đầu tư cho phát triển vẫn ở tình trạng dàn trải,chưa tập trung đúng mức cho những ngành và sản phẩm chủ lực

Mặc dù kinh tế trong những năm qua tăng trưởng khá, song nhìnchung tăng trưởng chưa đều và chưa ổn định Sản xuất vẫn còn phân tán,công nghệ lạc hậu, chưa tạo được nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá thànhhạ và mẫu m∙ phù hợp với nhu cầu của thị trường nên khả năng cạnh tranh

Trang 24

thấp Chưa có chiến lược xuất khẩu và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế cụthể để phát huy và tập trung sức mạnh của nền kinh tế Thủ đô.

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tuy đ∙ được đầu tư nhưng còn thấp

so với yêu cầu phát triển KT-XH trong khi tốc độ đô thị hoá nhanh nênngày càng quá tải Mạng lưới giao thông chưa đồng bộ; tình trạng thiếunước sạch, úng ngập và thiếu nhà ở đang là những vấn đề đang đượcnhiều người quan tâm, lo lắng Các khu vui chơi giải trí còn ít

Các cơ sở hạ tầng x∙ hội như: hệ thống trường học, bệnh viện, cáctrung tâm văn hoá, thể thao mặc dù đ∙ được quan tâm đầu tư, song đangtrong tình trạng quá tải, thiếu thốn về cơ sở vật chất, cần được tập trung đầutư trong những năm tới

Nhiều vấn đề x∙ hội bức xúc chậm được khắc phục; tăng dân số cơhọc ở tỉnh ngoài về Hà Nội chưa có xu hướng giảm, một số tệ nạn x∙ hội cóchiều hướng gia tăng

Bộ máy quản lý còn cồng kềnh; chế độ trách nhiệm cá nhân trongquản lý điều hành còn chưa rõ; thủ tục hành chính còn rườm rà Một bộphận cán bộ có biểu hiện suy thoái, quan liêu, tham nhũng Việc phâncông, phân cấp giữa Trung ương và Hà Nội chưa rõ ràng, chưa có cơ chế,chính sách đặc thù tạo điều kiện cho Thủ đô Hà Nội phát triển nhanh

2.2 Mục tiêu và định hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô

Hà Nội đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020.

Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 21/12/2000 của Bộ Chính trị về phươnghướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong giai đoạn 2001-2010, Pháp lệnhThủ đô, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ XIII đ∙chỉ rõ: bước vào thế kỷ 21, Thủ đô Hà Nội khẳng định tiếp tục đẩy mạnhcông cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu thựchiện mục tiêu chiến lược phát triển Thủ đô năm 2010: "Để xứng đáng là

trái tim của cả nước; đầu n∙o chính trị - hành chính quốc gia; trung tâm

năm tới, gắn với chuẩn bị 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Thành phố phải

bảo đảm ổn định vững chắc về chính trị, trật tự an toàn x∙ hội; phát triển kinh tế-khoa học công nghệ-văn hoá-x∙ hội toàn diện, bền vững; xây dựng

về cơ bản nền tảng vật chất - kỹ thuật và x∙ hội của Thủ đô x∙ hội chủ nghĩa giàu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, đậm đà bản sắc ngàn năm văn hiến; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tích cực chuẩn bị tiền đề của kinh tế tri thức, phấn đấu trở thành một trung tâm ngày càng có uy tín ở khu vực, xứng đáng với danh hiệu "Thủ đô anh hùng".

Trang 25

Trong 10 năm tới, Hà Nội phát triển theo những định hướng cơ bản sau:

Về phát triển kinh tế:

Tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN,

nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, khả năng hội nhập kinh tế

nước, củng cố, nâng cao hiệu quả của kinh tế tập thể, tạo điều kiện để cácthành phần kinh tế phát triển đồng bộ Đảm bảo kinh tế Thủ đô có nhịp độ

tăng trưởng ổn định, vững chắc với cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng ưu

tiên phát triển các lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, hiệu quả kinh tế lớn, giải quyết nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp; đẩy mạnh hoạt động kinh

2010 tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm khoảng 10-11%, tốc độ tăng giá trịsản xuất công nghiệp bình quân đạt 14-15%/năm, dịch vụ đạt 10-10,5%/năm, nông nghiệp đạt 2,5-3%/năm, xuất khẩu đạt 16-18%/năm.GDP của Hà Nội tăng 2,7 lần so với năm 2000 Thu nhập bình quân củanhân dân tăng 2 lần so với năm 2000

Nhiệm vụ trọng tâm của Hà Nội trong giai đoạn tới là cơ cấu lại nềnkinh tế, đầu tư mạnh phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, chútrọng chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành và cơ cấu sản phẩm; điều chỉnh, sắpxếp lại công nghiệp; tập trung phát triển những ngành có thế mạnh nhưdịch vụ, công nghệ thông tin, sinh học; tăng cường quan hệ chặt chẽ trongcơ cấu thống nhất của nền kinh tế, xây dựng những ngành kinh tế chủ lực;

thực hiện tốt cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế từng bước, vững chắc theo hướng dịch vụ - công

Phát triển mạnh lực lượng sản xuất, kết hợp chặt chẽ với xây dựngquan hệ sản xuất phù hợp, định hướng XHCN, tạo ra sự phát triển đồng bộ,bền vững Đẩy mạnh cải cách khu vực kinh tế nhà nước Chú trọng đổi mớicơ cấu đầu tư Hỗ trợ đầu tư để hình thành đồng bộ các loại thị trường Đẩymạnh thu hút đầu tư nước ngoài; chuẩn bị tích cực để chủ động hội nhậpkinh tế khu vực và thế giới

Tập trung đầu tư đổi mới đồng bộ thiết bị công nghệ và nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực để tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả của kinh

tế Thủ đô Thực hiện cải cách nhằm phát huy vai trò chủ đạo của khu vựckinh tế nhà nước; đồng thời phát triển mạnh các thành phần kinh tế ngoàinhà nước Chỉ đạo xây dựng, phát triển các loại hình kinh tế hợp tác đadạng về sở hữu, về hình thức họat động; củng cố, đổi mới, phát huy vai tròcác hợp tác x∙ sau chuyển đổi Tổ chức cuộc vận động sâu rộng trong cáctầng lớp nhân dân tăng cường sử dụng hàng hoá trong nước

Tích cực cùng cả nước chủ động tham gia các tổ chức thương mại khuvực và quốc tế như AFTA, WTO, mở rộng hợp tác kinh tế song phương,

đa phương Phấn đấu đưa xuất khẩu trở thành lĩnh vực quan trọng của kinh

tế Hà Nội Nâng cao chất lượng và cơ cấu lại các nhóm hàng xuất khẩu,

Trang 26

nâng tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng sản phẩm công nghiệp lên80-85% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội vào năm 2010, đặcbiệt chú trọng những mặt hàng sử dụng nguyên liệu chủ yếu trong nước,chế biến sâu, hàm lượng chất xám cao Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởngxuất khẩu trên địa bàn bình quân 14%-15%/năm giai đoạn 2001-2005 và15%-16%/năm giai đoạn 2006-2010; đến năm 2005 kim ngạch xuất khẩutrên địa bàn đạt 2,9 - 3 tỷ USD và đến năm 2010 đạt 6-7 tỷ USD Từngbước giảm tình trạng nhập siêu.

Mở mang và nâng cao chất lượng các ngành nghề dịch vụ một cách

bó, phục vụ hiệu quả sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp trên địa bàn,

đồng thời phải tranh thủ và phục vụ tốt yêu cầu phát triển kinh tế vùngtrọng điểm phía Bắc và kinh tế cả nước Phát triển các loại dịch vụ chấtlượng cao, bao gồm dịch vụ: du lịch, thương mại, tài chính - ngân hàng,bảo hiểm, hàng không, bưu chính - viễn thông, kiểm toán, pháp luật, dịch

vụ đối ngoại và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất và tinhthần lành mạnh của nhân dân Xây dựng Hà Nội thành trung tâm thị trườnghàng hoá bán buôn, xuất nhập khẩu, trung tâm tài chính hàng đầu ở khuvực phía Bắc và có vai trò quan trọng của cả nước Tham gia thị trườngchứng khoán an toàn, có hiệu quả Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trịsản xuất bình quân ngành dịch vụ giai đoạn 2001-2005 đạt 9-10%/năm,giai đoạn 2006-2010 đạt 10-10,5%/năm

ngành hàng, sản phẩm sử dụng công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, cóhàm lượng chất xám cao Lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp chủlực: cơ kim khí, điện-điện tử-công nghệ thông tin, dệt-may-giày, chế biếnthực phẩm, vật liệu xây dựng Bố trí, sắp xếp lại các cơ sở công nghiệp theohướng: lấp đầy và nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp mới, các khucông nghiệp vừa và nhỏ; cải tạo, chuyển hướng sản xuất và có kế hoạchtừng bước di chuyển các doanh nghiệp gây ô nhiễm đến khu vực ít dân cư,

đầu tư chiều sâu và mở rộng các khu công nghiệp cũ ở ngoại thành còn khảnăng về quỹ đất và phù hợp với quy hoạch chung, chuyển giao một số cơ sởcông nghiệp không phù hợp với điều kiện Thủ đô sang địa phương phụ cận,

đồng thời khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ đẩy mạnh

sản xuất tạo nhiều việc làm, phát huy các nguồn lực trong dân Phấn đấu

đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân giai đoạn2001-2005 là 14,5-15,5%, giai đoạn 2006-2010 là 14 - 15%/năm

Phát triển nông nghiệp và kinh tế ngoại thành theo hướng nông

nông nghiệp bình quân giai đoạn 2001-2005: 3,5-4%/năm, giai đoạn 2010: 2,5-3%

2006-Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật để phát triểnkinh tế ngoại thành Từng bước nâng cao chất lượng các sản phẩm nôngnghiệp Ưu tiên phát triển nông nghiệp sạch; các nghề, làng nghề truyềnthống, làng nông nghiệp sinh thái; đầu tư tạo giống mới, công nghệ mới

Trang 27

phục vụ sản xuất nông nghiệp, chú trọng công nghệ bảo quản, chế biến sauthu hoạch Giải quyết tốt thị trường tiêu thụ hàng nông sản Phát triển nôngnghiệp và kinh tế ngoại thành gắn với đô thị hoá, xây dựng nông thôn mới;từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng dần

tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp, rút ngắn sự cách biệt giữa nộithành, ngoại thành

Về xây dựng và quản lý đô thị:

Phát triển Hà Nội với không gian mở theo hướng Bắc, Tây Bắc,hướng Tây và Tây Nam; xây dựng mạng lưới đô thị vệ tinh xung quanhThủ đô theo qui hoạch thống nhất; nghiên cứu việc chỉnh trị sông Hồng vàqui hoạch khai thác hai bên sông Hồng Xây dựng Thủ đô theo hướng cơ sởhạ tầng đi trước một bước

Về phát triển văn hoá-xã hội, con người Thủ đô:

Xây dựng nền văn hoá Thủ đô tiên tiến, giàu bản sắc ngàn năm vănhiến Phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ Giải quyếttốt những vấn đề văn hoá - x∙ hội Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị dưới 6%;hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương Xây dựng conngười Hà Nội vừa có phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, vừa kếthừa, phát huy truyền thống ngàn năm Thăng Long - Hà Nội Quan tâm đầutư xây dựng thiết chế văn hoá cơ sở đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụvăn hoá của nhân dân

Đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội:

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc thànhquả cách mạng, các cơ quan đầu n∙o của Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhândân; đảm bảo ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn x∙ hội; xây dựngThủ đô thành thành trì chủ nghĩa x∙ hội của cả nước

Xây dựng chính quyền các cấp:

Kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thốngchính trị, trọng tâm là nâng cao năng lực l∙nh đạo, chỉ đạo, hiệu lực, hiệuquả quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; phát huy vai tròcủa Mặt trận Tổ quốc Thành phố, các đoàn thể nhân dân, quyền làm chủ vàsức mạnh đại đoàn kết toàn dân; Hà Nội đi đầu trong cải cách hành chính,xây dựng nền hành chính hiện đại, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Thực hiện mục tiêu và các định hướng chiến lược trên, khi hoạch

định và triển khai kế hoạch phát triển kinh tế-x∙ hội trong từng thời kỳ 5 năm và hàng năm, phải quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau:

- Xác định đúng, phát huy tốt các tiềm năng và thế mạnh, khắc phụcnhững mặt không thuận về địa-kinh tế của Thủ đô; tranh thủ sự chỉ đạo sátsao và toàn diện của Trung ương, sự phối hợp của các địa phương trong cảnước, hiệu quả hợp tác quốc tế tạo ra nền kinh tế mở với sự phát triển đồng

bộ các loại thị trường, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Khaithác nguồn lực trong nước là quyết định, tranh thủ nguồn lực bên ngoài làquan trọng

Trang 28

- Trong quá trình chỉ đạo, quán triệt phương châm: phát triển kinhtế-x∙ hội là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền lànhiệm vụ then chốt, quản lý đô thị là nhiệm vụ thường xuyên quan trọng.Trong tổ chức thực hiện cần kết hợp hài hoà các lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hoá, x∙ hội, an ninh quốc phòng; phát triển lực lượng sản xuất gắn liềnvới xây dựng, củng cố, phát huy tác dụng của quan hệ sản xuất phù hợp;tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng x∙ hội Kết hợp giảiquyết các vấn đề cấp bách trước mắt với kiên trì thực hiện các mục tiêu cơbản, lâu dài; xác định đúng trọng tâm, các khâu đột phá, có những bước đi,giải pháp sáng tạo, hiệu quả, đi tắt đón đầu, đẩy nhanh tốc độ phát triểnThủ đô Tạo lập sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả của hệ thống chính trị, củacác ngành các cấp; kết hợp xây và chống, lấy xây là chính.

- Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có đức, tài, bản lĩnh và tâmhuyết với sự nghiệp cách mạng Phát triển đội ngũ trí thức, doanh nhân,nghệ nhân, công nhân kỹ thuật lành nghề, đủ năng lực, trình độ thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô

Triển vọng Thủ đô Hà Nội vào năm 2010, tầm nhìn 2020:

Đến năm 2010, Hà Nội sẽ cơ bản xây dựng được nền tảng vật chất x∙hội của Thủ đô văn minh, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc và văn hoáThăng Long - Hà Nội Tổng sản phẩm x∙ hội (GDP) của Hà Nội tăng 2,7lần so với năm 2000 Kinh tế Thủ đô phát triển bền vững với cơ cấu kinh tếdịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Thể chế kinh tế thị trường định hướngx∙ hội chủ nghĩa được hình thành đồng bộ Du lịch và dịch vụ chất lượngcao trở thành ngành kinh tế trọng điểm Công nghệ hiện đại ở các DNchiếm tỷ lệ trên 65% Văn hoá - giáo dục - khoa học - công nghệ thực sựtrở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - x∙ hội Đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân được cải thiện, thu nhập của người dân tăng gấp 2lần so với mức hiện nay Vị thế của Thủ đô trong khu vực và quốc tế tiếptục được tăng cường Đến năm 2020, hoàn thành cơ bản sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá; có trình độ phát triển tương đương với Thủ đô cácnước trong khu vực

IIi Cơ chế, chính sách đặc thù với việc quản lý Thủ đô ở nước ngoài

3.1 Vai trò, vị thế Thủ đô của một số nước trên thế giới

3.1.1 Vài nét về quy hoạch phát triển thủ đô qua các thời kỳ lịch sử

Thủ đô là trung tâm quyền lực, nơi diễn ra các quyết định chính trị

ảnh hưởng tới đời sống và tương lai của một dân tộc, của khu vực, và đôikhi là của toàn thế giới Khác với các đô thị khác, thủ đô có chức năng đảmbảo cho tính tập trung và lâu dài của quyền lực, tạo điều kiện thực hiệncông việc quản lý đất nước một cách có hiệu quả.5 Quy hoạch và phát triểnthủ đô vì lẽ đó phải góp phần thực hiện các chức năng chính trị, kinh tế và

5

Gottmann and Harper, eds 1990 Since Megalopolis: The Urban Writtings of Jean Gottmann Baltimore and London: The John Hopkins University Press, tr 63

Trang 29

x∙ hội của thủ đô Xây dựng pháp luật và chính sách đặc thù đối với thủ đô

là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong quá trình này

Việc quy hoạch các thủ đô trên thế giới đ∙ có một lịch sử phát triểnlâu đời Ngay từ thời tiền sử, dấu ấn trong các thư tịch cổ, dấu ấn trong cáckhai quật về các thành phố cổ ở Ai Cập, Trung Quốc, ấ n Độ, và các nướckhác ở Trung Đông đ∙ cung cấp nhiều bằng chứng về các chính sách đặcthù xây dựng các cố đô, ví dụ như quy hoạch thủ đô theo một hệ thống

đường phố nhất định, phân chia thành các quận và khu vực có những chứcnăng hành chính, tín ngưỡng, thương mại riêng biệt, xây dựng các tiện íchcông cộng như hệ thống cấp thoát nước.6

Trong thời Trung cổ, với sự lớn mạnh của tầng lớp thương nhân, cácchính sách phát triển đô thị có những bước phát triển mới, tập trung vàoquy hoạch các khu thương mại, chợ, quảng trường, các trung tâm quân sự,pháo đài, thành trì Trong thế kỷ XIV, dân số trong các đô thị đ∙ gia tăng7.Thủ đô thời trung cổ cũng đảm nhận dần các chức năng hậu cần phục vụquân sự Mặc dù vậy, các cơ sở phúc lợi công cộng của thủ đô trong thời kỳnày còn rất sơ khai và nghèo nàn

Bước sang thời kỳ cận và hiện đại, cùng với sự phát triển của chủnghĩa tư bản, dân số và quy mô các thủ đô cũng như đô thị đ∙ gia tăngnhanh chóng Với sự xuất hiện của đường sắt, ô tô, tàu điện, tàu điện ngầm,

xe buýt, mạng lưới giao thông và các cơ sở phúc lợi công cộng đ∙ đượcthay đổi mang tính cách mạng Việc quy hoạch đô thị đ∙ đảm nhận ngàycàng nhiều hơn các chức năng x∙ hội, quy hoạch đô thị đ∙ được lập pháphoá Anh Quốc đ∙ ban hành Luật quy hoạch đầu tiên trên thế giới vào năm

1909, ở Hoa Kỳ, Hội nghị quốc gia đầu tiên về quy hoạch đô thị cũng đ∙

được tổ chức vào năm 1907 Paris, Berlin hay Tokyo đều đ∙ phát triển mởrộng nhanh chóng về quy mô, trở thành những đô thị tập trung quyền lựcchính trị cũng như kinh tế của các nhà nước quốc gia

Tuy nhiên, cũng trong thế kỷ XX, xu hướng phân quyền cho chínhquyền các địa phương (mở rộng tự quản địa phương), và sự hình thành cácthiết chế chính trị đa quốc gia (Liên minh Châu Âu, Liên hợp quốc, Tổchức thương mại thế giới, NATO, các tổ chức khu vực ) cũng đ∙ ảnhhưởng đến tính tập trung quyền lực kinh tế và chính trị của các thủ đô Cuối

thế kỷ này, thủ đô thường không còn là các trung tâm quyền lực chính trị

Thêm nữa, cuộc cách mạng công nghệ, thông tin và sự thay đổi của

đời sống kinh tế theo xu hướng toàn cầu hoá cũng ảnh hưởng đến vai tròtruyền thống của thủ đô Nếu như thành trì là tượng trưng quyền lực trungtâm trong thời phong kiến; công xưởng, xí nghiệp là tượng trưng cho thời

đại công nghiệp tư bản, thì ngày nay các ngân hàng, trụ sở điều hành củacác công ty trong các toà nhà hành chính mới là biểu tượng của tập trung

6

The development of urban planning, [http://www.britanica.com]

Trang 30

quyền lực.8 Dịch vụ ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn và quan trọng hơntrong đời sống kinh tế Những điều kiện mới của các xu hướng chính trịphân quyền cho địa phương, của cách mạng công nghệ và làn sóng toàncầu hoá, những thách thức về bùng nổ dân số, các vấn đề môi trường, lao

động và an sinh x∙ hội trong những năm đầu của Thế kỷ XXI đ∙ ảnh hưởng

đến quá trình quy hoạch một thủ đô hiện đại

3.1.2 Những yếu tố chủ yếu tác động đến vai trò và vị thế của Thủ đô

Các thủ đô không giống với các thành phố khác bởi thủ đô thường lànơi tập trung quyền lực chính trị, kinh tế và đầu n∙o của bộ máy hànhchính Vai trò, vị thế của thủ đô của các nước trên thế giới được xác địnhbởi các yếu tố chủ yếu dưới đây:

a Trung tâm quyền lực quốc gia

Thủ đô thường là nơi tập trung ý chí chính trị và quyết định cácquyết sách lớn của nhà nước, thường là nơi đặt trụ sở các cơ quan quyềnlực chính trị và nhà nước Trụ sở ban l∙nh đạo các đảng phái chính trị,nghiệp đoàn, các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan ngoại giao đều

được đặt ở Thủ đô Tuy nhiên, trong các nhà nước có phân chia và đốitrọng quyền lực, ví dụ như ở Hoa Kỳ, CHLB Đức, Pháp hoặc Anh, quyềnlực tư pháp không tập trung tại thủ đô Các toà án hiến pháp và các toà tốicao thường được đặt tại nhiều thành phố, chứ không tập trung ở Thủ đô.9

b Trung tâm kinh tế lớn

Thông thường, thủ đô là các trung tâm công nghiệp, tài chính vàngân hàng, cũng như là trung tâm thông tin London, Paris, Mexico Cityhay Bangkok thuộc mô hình thủ đô này Tuy nhiên, do những điều kiệnlịch sử khác nhau, nhiều thủ đô không đảm nhận được chức năng trung tâmkinh tế, ví dụ Washington D.C (Hoa Kỳ), Bern (Thụy sĩ), Ankara (Thổ NhĩKỳ), Bonn (thủ đô CHLB Đức trước kia) hay Ottawa (Canađa) hoặcPretoria (Nam phi) Các thủ đô này nhỏ bé và không thể so sánh được vớicác trung tâm kinh tế lớn trong các quốc gia đó Mặc dù vậy, khu vực côngchức và lao động trong hành chính công cũng như các dịch vụ kèm theolàm cho những thành phố này có ý nghĩa kinh tế khác biệt với các đô thịkhác

c Trung tâm hành chính quốc gia

Khoa học chính trị và quản lý hành chính ngày càng nhấn mạnh sựphân biệt giữa chính khách và công chức, giữa các thiết chế chính trị và bộmáy hành chính Ngoài chức năng là trung tâm của các tổ chức quyền lựcchính trị (Quốc hội, Chính phủ), thủ đô thường cũng là nơi đặt trụ sở các

bộ và các cơ quan điều hành khác của chính phủ, nơi đặt các sứ quán cácnước cũng như trọng điểm của nhiều thủ tục hành chính, giao lưu trong và

8

Campbell, Scott, Understanding Capital Cities, sđd, tr 14-20

9 Xem thêmHenry J Abraham, The Judiciary: The Supreme Court in the Governmental Process,

University of Virginia, [1987], pp 5-20 Toà bảo hiến của Đức đặt tại thành phố Karlruhe, ngoài ra 5 toà tối cao của Đức đặt tại năm thành phố khác nhau.

Trang 31

ngoài nước Trong thời đại thông tin, chức năng này cũng có thể được san

sẻ cho những thành phố khác, ví dụ một số bộ phận hành chính có thể đượcphân về cho các địa phương khác nhau, ví dụ một số bộ của Chính phủCHLB Đức có cơ sở đặt tại Berlin và Bonn, Bộ quốc phòng Hoa Kỳ(Pentagon) cũng đặt bên ngoài Washington, D.C 10

d Trung tâm văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ

Do thủ đô là nơi tập trung quyền lực và đại diện cho các quốc gia,cho nên từ kiến trúc đô thị, đến đời sống văn hóa, giáo dục, khoa học côngnghệ, thủ đô các nước thường có những điểm khác biệt so với các đô thịkhác Điều này thể hiện ở sự tập trung các cơ sở văn hóa, đào tạo, khoa họccông nghệ, hệ thống thông tin đại chúng cũng như mối giao lưu với thế giớibên ngoài Sự bao cấp của Chính phủ cho việc xây dựng và sử dụng cáccông trình văn hóa, khoa học, giáo dục (các cơ sở đào tạo, trường đại học,viện nghiên cứu công viên, nhà hát, bảo tàng, sân vận động ) làm cho Thủ

đô có nhiều ưu thế hơn so với các đô thị khác trong các lĩnh vực văn hóa,giáo dục, khoa học công nghệ.11

e Trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng, truyền thống dân tộc.

Đối với các nước có nền văn minh lâu đời, thủ đô còn là trung tâmcủa truyền thống lịch sử, trung tâm tôn giáo và tín ngưỡng (ví dụ Athen,Jerusalem, Rôma, Kyodo ) Theo một nghĩa như vậy, thủ đô đôi khi đượcxem như biểu tượng của một dân tộc, một quốc gia

3.2 Cơ chế, chính sách, luật pháp đặc thù đối với Thủ đô của một số nước trên thế giới

3.2.1 Cơ sở hiến pháp, địa vị hành chính đặc biệt

Từ những vị trí đặc biệt như đ∙ phân tích ở trên, thủ đô của các nướcthường có một vị trí pháp lý tương đối đặc biệt Trong một số nhà nước liênbang, ví dụ CHLB Đức, Liên bang Nga, Malaysia hay Canada, thủ đô cóquy chế của một bang, có đại diện tham gia Hội đồng liên bang (Thượngviện) Một số đô thị khác, ví dụ như London trực tiếp được quản lý hànhchính bởi Chính phủ, hoặc Washington D.C có địa vị pháp lý của mộtquận trực thuộc Chính phủ liên bang, một truyền thống đ∙ được duy trì từnhững năm 1800 khi hình thành Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ở Trung Quốc,Thủ đô Bắc Kinh là một trong ba thành phố lớn trực thuộc chính phủ Trung

ương, có địa vị pháp lý như một tỉnh (bên cạnh Thượng Hải và Thiên tân)

Với tư cách là các bang trong nhà nước liên bang hoặc các tỉnh trongcác nhà nước đơn nhất, thủ đô có quyền tự quản địa phương độc lập, bắt

đầu từ việc thành lập các cơ quan quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp),cho đến hoạch định chính sách, ban hành pháp luật (văn bản luật và vănbản pháp quy thi hành luật) Thường xuất hiện sự phân chia rạch ròi giữa

10

Campbell, sách đ∙ dẫn, tr 5-7

11 Việc di chuyển Thủ đô từ Bonn sang Berlin và nguồn đầu tư vào Thủ đô mới này đ∙ làm cho Berlin mau chóng trở thành trung tâm văn hóa lớn nhất Châu Âu, có thể tham khảo Deutschland, Forum fuer

Trang 32

thẩm quyền của thủ đô với tính cách là một địa phương và chính phủ Trung

ương Thông thường các chính sách quản lý kinh tế, x∙ hội, giáo dục, xâydựng, thậm chí an ninh và cảnh sát đều do các bang quyết định bởi các cơquan quyền lực riêng của mình Thủ đô thường có đại diện trong Thượngviện, các đạo luật của liên bang khi thông qua đều cần đến sự đồng ý củaThượng viện.12

3.2.2 Chính sách về tài chính, ngân sách

Sự độc lập của thủ đô với tính chất là một bang trong lĩnh vực ngânsách được pháp luật một số nước quy định trong Hiến pháp.13 Về nguyêntắc, với tư cách là một bang, thủ đô phải tự chịu trách nhiệm cho các khoảnthu chi ngân sách Để làm được điều đó, pháp luật thuế có nhiều quy địnhnhằm:

• Xác định các loại thuế, lệ phí và đóng góp khác mà Thủ đô được thu

và sử dụng

• Xác định các loại thuế Thủ đô được uỷ nhiệm thu và uỷ nhiệm chi

• Cách thức phân chia và bù trừ các nguồn thuế giữa Chính phủ Trung

ương và các bang sau mỗi năm tài chính

3.2.3 Chính sách về đầu tư; xây dựng, quản lý đô thị tại một số thủ đô:

a/ Matxcơva:

Có diện tích như Dallas, Texas, với dân số 9,3 triệu người Cũng nhưcác thủ đô khác, thành phố Matxcơva tập trung các cơ quan chính quyền,các cơ sở kinh doanh, tài chính, trung tâm giao thông liên lạc Theo phápluật của Liên bang Nga, thành phố Matxcơva có một khuôn khổ luật phápriêng, có những quy định nhằm tạo ưu đ∙i kinh doanh và hấp dẫn đầu tưnước ngoài Trong đó đáng chú ý đến một số điểm sau:

• Matxcơva tiếp nhận phần lớn đầu tư nước ngoài trực tiếp của Nga(chiếm gần 67% lượng FDI đầu tư từ năm 1994)

• Matxcơva chiếm tới 80% nguồn thu thuế toàn liên bang và đóng góp30% cho ngân sách liên bang

• Matxcơva là nơi tập trung gần 85% các nguồn lực tài chính toàn liênbang

• Là nơi tập trung các thị trường tiêu dùng lớn, chiếm gần 28% doanh thuhàng hoá của toàn liên bang.14

chính sách về đầu tư nước ngoài của liên bang thì Matxcơva và một sốthành phố, vùng đặc biệt khác được coi là những đối tượng đặc biệt quan

Trang 33

trọng Chính quyền Matxcơva có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chínhsách địa phương nhằm tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào thành phố.

Ví dụ như: các công ty đầu tư nước ngoài có thể mua quyền sử dụng dàihạn các lô đất với thời gian thuê tối đa là 49 năm và có thể kéo dài thờigian thuê tiếp thêm 49 năm; Chính quyền thành phố khuyến khích và hỗ trợ

đầu tư nước ngoài dưới hình thức là các đối tác (hiện tại với cơ chế quản lý,

điều hành và huy động danh mục vốn đầu tư thông qua 420 công ty huy

động vốn qua phát hành chứng khoán); Chính quyền thành phố Matxcơva

có quyền thu hút các nguồn tín dụng với bảo đảm vốn vay bằng ngân sáchcủa thành phố; có thể đảm bảo các khoản đầu tư và tín dụng bằng tài sản;thành phố có thể dàn xếp các điều khoản sinh lợi, đôi khi bằng quyền mualại tài sản trong khu vực dự án; Chính quyền thành phố có thể trợ cấp, cắtgiảm một số khoản thuế (bao gồm thuế thu nhập và thuế tài sản) cho các dự

án đầu tư đem lại những lợi ích x∙ hội quan trọng đối với thành phố

nước ngoài là đối tượng đánh thuế của thuế liên bang (áp dụng cho toànliên bang, trong đó có Matxcơva) Thuế tài sản và thuế thu nhập cá nhâncũng tuân theo các điều khoản của luật thuế của toàn Liên bang Theo phápluật hiện hành, một số thuế suất đang được áp dụng ở Matxcơva như sau:

• Thuế thu nhập doanh nghiệp (30%)

• Thuế tài sản (1,5%/năm, có định giá lại tài sản hàng năm)

• Thuế VAT (20%)

Đặc biệt tại Matxcơva, ngoài các khoản thuế kể trên, theo một Nghịquyết của Viện Duma Thành phố, người bán hàng còn phải trả một khoảnthuế doanh thu (sales tax) là 2% trên doanh thu bán hàng Ngoài ra, thànhphố Matxcơva áp dụng các điều khoản sau liên quan tới các đối tượng nướcngoài như: Các công ty nước ngoài trả thuế đất phụ thuộc vào địa điểm (từ

447 USD/ha đất ngoại ô đến 24.022 USD/ha đất nội thành)

Thuế địa phương (Matxcơva) bao gồm: Thuế bảo dưỡng nhà ở, cáctiện ích x∙ hội (1,5% doanh thu); thuế trên các nguồn thu liên quan đếngiáo dục (1% cho các khoản thanh toán hàng năm); thuế quảng cáo đối vớicác công ty nước ngoài, (5% tổng chi phí quảng cáo); thuế lao động nướcngoài Tất cả những người làm công nước ngoài bắt buộc phải đăng ký vớicơ quan nhập cư Matxcơva Một công ty muốn thuê lao động nước ngoàiphải tiến hành đăng ký với cơ quan này

b/ Bắc Kinh:

Từ khi thực hiện cải cách, cùng với sự phát triển kinh tế với tốc độcao và tiến trình đô thị hoá ngày càng gia tăng, Trung Quốc đ∙ hình thànhcác đại khu kinh tế, trong đó lấy các quần thể đô thị làm điểm tựa Song dotrình độ phát triển không đồng đều ở các đô thị, đồng thời do có những hạnchế trong việc huy động các nguồn tài nguyên nên Chính phủ không thểcùng lúc đầu tư phát triển các thành phố trung tâm Do vậy Trung quốc đ∙xác định một số các thành phố trọng điểm và tiến hành những biện pháp áp

Trang 34

dụng nhằm tạo điều kiện cho các thành phố này có những điều kiện cạnhtranh thuận lợi so với các thành phố khác trên thế giới, cụ thể một số điểmchính sau:

a) Giao quyền cho các thành phố đ∙ được lựa chọn được phép làm thí

điểm tổng hợp về cải cách mở cửa đô thị Trước hết là xây dựng cơ chế thịtrường định hướng x∙ hội chủ nghĩa, thành phố thí điểm phải đi đầu trongviệc hội nhập với quỹ đạo của thị trường quốc tế Việc thí điểm này đượcthực hiện dưới "sự l∙nh đạo thống nhất của trung ương, sự điều hành vĩ môthống nhất và theo khuôn khổ của thị trường thống nhất cả nước" Về tiến

độ là phải cố gắng thực hiện nhanh nhưng phải đi từng bước vững chắc

b) Phải tạo ra các điều kiện cần thiết và thuận lợi để các tổ chức tíndụng, ngân hàng, trụ sở của các công ty lớn trong và ngoài nước đặt tạithành phố Nhà nước di chuyển các trụ sở chính của các ngân hàng lớnhoặc của ngành nghiệp vụ lớn tới các thành phố thí điểm; Căn cứ vàonhững yêu cầu của đô thị trung tâm để đẩy nhanh, nới rộng việc cấp phépcho các tổ chức tiền tệ nước ngoài và nới rộng phạm vi kinh doanh Nhằmthu hút ngày càng nhiều ngân hàng, các tổ chức tiền tệ nước ngoài và cáccông ty xuyên quốc gia đến đặt trụ sở chính

c) Mở rộng quyền tự chủ và lập pháp Thành phố thí điểm sẽ là nơi

mở cửa thoáng nhất, trình độ quốc tế hoá cao nhất, có hoạt động tiền tệngân hàng mạnh nhất, có khả năng tốt nhất trong việc tiếp nối với cácthông lệ và tập quán quốc tế

Ví dụ, thành phố có các quyền tự chủ như: cho phép phát hành tráiphiếu xây dựng; xác định và điều chỉnh các thuế suất; huy động vốn nướcngoài; di chuyển vốn; cho phép tự quy định về xuất nhập cảnh; trong khuônkhổ chung của luật pháp, cho phép cơ quan lập pháp của thành phố đượcquyền đi trước cả nước trong việc lập pháp trong các lĩnh vực kinh tế, trong

đó đặc biệt chú trọng tới những lĩnh vực cần phải tiếp cận với thị trường thếgiới, nhằm đẩy nhanh việc hình thành thể chế và cơ chế mới

Cụ thể, nằm trong vành đai phát triển các đại khu kinh tế, chínhquyền thành phố trực thuộc Chính phủ trung ương, Bắc kinh được xác định

là trung tâm về chính trị, văn hoá và quan hệ quốc tế, đồng thời là mộttrong những khu đô thị lớn về công nghiệp, tài chính và thương mại Ngày27/2/1995 thủ đô Bắc Kinh được chính thức công nhận là thành phố mở

được hưởng các đặc quyền, chính sách ưu tiên như của các thành phố mởcửa ven biển khác Cụ thể Bắc Kinh được xác định những điều kiện ưu tiên

và những lợi thế chính thức sau:

• Là trung tâm chính trị và văn hoá, có ảnh hưởng lớn về chính trị kinh tế - x∙ hội,

-• Là nơi tập trung bộ máy chính quyền trung ương, tất cả các bộ, cáccơ quan trung ương đếu đóng trên địa bàn,

• Là nơi tập trung tất cả các hoạt động mang ý nghĩa cao nhất về chínhtrị, kinh tế, khoa học - công nghệ,

Trang 35

• Là nơi tiến hành các hoạt động trao đổi văn hoá với các quốc gia trênthế giới.

Thực tế tới nay đ∙ có hơn 166 quốc gia có sứ quán tại Bắc Kinh,

đồng thời thành phố đặt quan hệ chặt chẽ - thành phố kết nghĩa - với hơn

22 quốc gia

Nằm trong vành đai phát triển kinh tế vùng Liaodong Shandong Bắc Kinh với những lợi thế về địa lý, dân số, nguồn tài nguyên, là mộttrong những vùng được xác định là có tiềm năng thị trường rất lớn, năng

-động nhất, có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới phát triển kinh tế TrungQuốc trong tương lai, do vậy Bắc Kinh nằm trong sự điều chỉnh của quyhoạch tổng thể của Uỷ ban quốc gia đồng thời nằm trong mối liên kết vớitỉnh, thành phố khác trong vành đai phát triển nhằm tạo thế hạt nhân pháttriển, đóng góp cho sự phát triển của kinh tế toàn quốc

Bắc Kinh là một trung tâm công nghiệp nặng, có tiềm lực kinh tếmạnh trong nhiều ngành nghề Từ năm 1990, GNP tăng vững chắc với tốc

độ 11%/năm, Bắc Kinh là thành phố có tiềm lực kinh tế lớn thứ hai trongtoàn quốc (sau Thượng Hải)

Là nơi đóng trụ sở của Ngân hàng trung ương nhân dân Trung Quốc,của các tổ chức tài chính, bảo hiểm lớn trong và ngoài nước, Bắc kinh đóngvai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực thi các hướng dẫn, chính sách tàichính, chính sách điều chỉnh kinh tế vĩ mô Trong những năm gần đâythành phố đ∙ khuyến khích mạnh mẽ và tạo điều kiện cho các tổ chức tàichính quốc tế đóng trụ sở, trở thành thành phố có số lượng văn phòng đạidiện của các tổ chức tài chính quốc tế lớn nhất nước

Từ năm 1995, thuế thu nhập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàitrong lĩnh vực sản xuất và trong phạm vi thẩm quyền của chính quyềnthành phố thấp hơn 24%

c/ Singapore:

Là một quốc gia thành thị, chính phủ Trung ương cũng đồng thời làchính quyền thành phố, các cơ quan chức năng của thành phố, đồng thờicũng do chính phủ trực tiếp quản lý Singapore đất chật, người đông, tàinguyên thiên nhiên khan hiếm, do đó các nhà l∙nh đạo hết sức coi trọngviệc thu hút vốn nước ngoài để phát triển kinh tế Trong hàng loạt các vănbản luật như Pháp lệnh xây dựng các ngành công nghiệp mới, Pháp lệnh

mở rộng ngành công nghiệp mới (năm 1959), trong đó đặc biệt quan trọng

là Pháp lệnh khuyến khích phát triển kinh tế (năm 1967) Nội dung chủ yếucủa Pháp lệnh khuyến khích phát triển kinh tế là miễn thuế 10 năm chonhững công trình có vốn đầu tư lớn, hoặc thời gian hoàn vốn lâu, hoặc trình

độ kỹ thuật cao Tất cả các dự án mà Singapore thấy cần thiết đều đượchưởng chế độ ưu đ∙i như ngành công nghiệp mới và không bị hạn chế sốlượng đầu tư, như được miễn nộp 40% thuế thu nhập doanh nghiệp (thuếcông ty) trong thời gian 5-10 năm

Trang 36

Về quản lý đầu tư xây dựng: Khu đô thị trung tâm Singapore nằmgần cửa sông Singapore, vốn là khu phố cũ, từ thời thực dân thống trị dokhông có quy hoạch thống nhất nên đô thị phát triển vô tổ chức, các loại

đất bị sử dụng lộn xộn, xây dựng chen chúc, giao thông bế tắc Trong chiếntranh thế giới thứ hai lượng dân nhập cư rất lớn dẫn tới việc hình thành cáckhu ổ chuột, nhà tạm, do vậy đ∙ làm ảnh hưởng một cách nghiêm trọng đến

an ninh, môi trường và trật tự chính trị Sau chiến tranh, chính quyềnSingapore đ∙ đặt vấn đề cải tạo đô thị trung tâm này lên hàng đầu Việc cảitạo và đổi mới gặp khó khăn đầu tiên là phải thanh lý nhà ổ chuột và cáckhu đất bị chiếm trái phép Vì vậy năm 1960 chính phủ đ∙ cho thành lậpCục phát triển nhà ở chịu trách nhiệm thực hiện các kế hoạch xây dựng cáckhu tập thể (đến năm 1974 đổi thành Cục xây dựng lại đô thị), Cục cóquyền quyết định khu vực nào được xây dựng lại, quy định trong vòng 3năm những người có đất tư hữu phải xây dựng lại nhà cửa theo quy hoạchchung, nếu không sẽ bị tịch thu đất và tài sản Cục đ∙ xúc tiến thành lậpngân hàng đất đai thông qua đó những người có đất tư hữu không thực hiện

đúng hạn việc xây dựng lại nhà cửa có thể bị cưỡng chế trưng thu, do vậy

đ∙ đẩy nhanh được tiến độ đổi mới đô thị nói chung

quyền hành chính công một cấp Điều này làm giảm bớt tính quan liêu và

sự cạnh tranh, chồng chéo trong các cấp hành chính sẵn có nhằm tăngcường và đảm bảo thực thi các kế hoạch phát triển hiệu quả, đúng hạn.Thẩm quyền ra quyết định cao nhất là Nội các chính phủ được phép phêduyệt tất cả các dự án, kể cả các dự án có vốn từ ngân quỹ phát triển quốcgia Công tác quy hoạch và thực thi quy hoạch được thực hiện bởi cácphòng thuộc chính phủ và các bộ có liên quan (thông qua các bộ trưởngchịu trách nhiệm trực tiếp về quy hoạch và thực hiện quy hoạch trước nộicác chính phủ)

Mặc dù các bộ đều có vai trò quyết định trực tiếp, quan trọng đếncông tác phát triển đô thị, nhưng các hoạt động chính đều do Bộ Phát triểnquốc gia chịu trách nhiệm Bộ này chịu trách nhiệm thực thi các công tácliên quan đến quản lý và phát triển hạ tầng Singapore như: nhà công, táiphát triển đô thị, dịch vụ công, các công trình giải trí, công viên (trong bộnày có cơ quan tái phát triển đô thị có quyền quy hoạch và giám sát đô thị)

Cũng giống như các nước khác, chìa khoá để phát triển và đảm bảo

đô thị hoá bền vững là vấn về quy hoạch Hạn chế đất để phát triển, mật độdân số quá cao, thị trường lao động vận hành không hiệu quả là kết quả củaviệc không kiểm soát được quá trình phát triển, không kiểm soát được cácbức xúc đô thị

Singapore là một trong số lượng ít ỏi các nước có chuẩn bị và thựchiện rất tỷ mỷ quy hoạch tăng trưởng và phát triển đô thị Quy hoạch củaSingapore mang hình dáng của hệ thống quy hoạch của nước Anh (như thủ

đô London và một số thành phố khác thuộc Anh), đó là dạng quy hoạchtổng thể mang tính chất luật (được luật hoá) với tầm nhìn rộng và dài hạn.Các quy hoạch này là một kênh quan trọng để phối hợp hỗ trợ các hoạt

Trang 37

động phát triển, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, đồng thời là địnhhướng phát triển đất dài hạn.

Giống như tại Anh, việc phát triển đất là đối tượng chính liên quan

đến các điều chỉnh của luật Các nhà phát triển và quy hoạch thực hiện quátrình kiểm soát sự phát triển, đo lường tính sát thực giữa viễn cảnh quyhoạch và thực tế thực hiện Điểm mấu chốt của hệ thống các thể chế, cơchế, chính sách kiểm soát sự phát triển của Singapore là bản quy hoạchtổng thể, Singapore đ∙ nỗ lực vươn lên từ một thành phố của ổ chuột trởthành một thành phố xanh với điều kiện sống tốt

Để có sự tăng trưởng liên tục giúp Singapore trở thành một thànhphố toàn cầu, trong bản quy hoạch tổng thể năm 1991 đ∙ xác định các mụctiêu chủ yếu như: thoả m∙n tất cả các nhu cầu mang tính chức năng đô thịcơ bản gắn với cải thiện môi trường và chất lượng sống; luôn trong tư thếcạnh tranh năng động về phát triển kinh tế so với các thành phố đứng đầukhác; đảm bảo lưu thông hàng hoá, con người có hiệu quả để hỗ trợ và thúc

đẩy phát triển kinh tế; trở thành một thành phố á đông tiêu biểu có mộtkhông hai, bền đẹp, tận dụng tất cả những lợi thế về địa lý, lịch sử, khí hậu

và vốn quý văn hoá của Singapore, với khẩu hiệu "Tạo thành phố ốc đảo,nơi đó cân bằng giữa lao động và nghỉ ngơi, giữa văn hoá và thương mại:một thành phố đẹp, đặc trưng, duyên dáng, với thiên nhiên, với mặt nướcbao quanh đô thị, tất cả hoà quyện để phát triển"

Từ kinh nghiệm của Singapore cho thấy không có một bản quyhoạch tổng thể, một cách tiếp cận nào là duy nhất trong quản lý và pháttriển hạ tầng đô thị Thay vào đó là có rất nhiều sự lựa chọn, từ những giảipháp có tính x∙ hội - tổ chức cũng như giải pháp thuần tuý mang tính x∙hội Singapore đ∙ tiếp cận kiểm soát, định hướng phát triển đô thị, xác định

sự lựa chọn, ra quyết định thông qua việc kết hợp hài hoà các mục đích x∙hội - môi trường, thoả hiệp về phương thức kỹ thuật tiến hành Đó là tậptrung, tiếp cận một cách thực dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu cơ bản vềkinh tế, nhà ở sau đó tiến tới đáp ứng các yêu cầu khác để chất lượng sốngtốt hơn

Có thể thấy chính quyền Singapore đ∙ sớm đề xướng các thể chếhành chính, các kế hoạch chiến lược để kiểm soát và định hướng phát triển

đô thị Rất khó tổng kết để đưa ra một mô hình duy nhất, bởi Singapore cónhững sự khác biệt về nhân khẩu học, về cấu thành chính trị - x∙ hội, về mô

hình chính quyền thành phố - quốc gia tập trung duy nhất Tuy nhiên có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

các cấp l∙nh đạo cao nhất từ công tác nhà ở tới các vấn đề phát triển kinh

tế Nếu thiếu sự cam kết mang ý nghĩa chính trị việc thực thi các kế hoạch

sẽ đầy những khó khăn, thách thức Trong thực tế, từ năm 1959 các thể chếchính trị đ∙ không ngừng hỗ trợ trực tiếp và cụ thể đối với việc thực hiệncác kế hoạch, quy hoạch đ∙ đề ra Các kết quả đạt được về nhà ở, phát triển

Trang 38

kinh tế, quản lý phát triển đô thị, giải quyết tốt vấn đề môi trường luôn

được coi là thước đo những cam kết của các cấp chính quyền

như các thách thức, trở ngại Sau khi đ∙ xác định rõ các ưu tiên, cơ quan lậppháp, các cơ quan hành chính tập trung tạo môi trường cơ chế, chính sáchthực thi và hỗ trợ các mục tiêu ưu tiên đ∙ đề ra Từ kinh nghiệm thực tế củaSingapore, điều đặc biệt quan trọng là các cơ chế, chính sách trên luôn theosát và được điều chỉnh phù hợp với những thay đổi của tình hình thực tế.Trong cơ cấu quản lý hành chính, Singapore thông qua cơ chế tổ chức tậptrung để tránh trùng lắp, quan liêu, cạnh tranh Như vậy trong khi các nướcphương Tây sử dụng hình thức phi tập trung, phân quyền tối đa là chìakhoá của sự phát triển thì Singapore cho một minh hoạ thú vị về một môhình quản lý hành chính tập trung với thẩm quyền cao nhất nhằm để phốihợp tốt hơn, đảm bảo khả năng thực thi cao nhất các kế hoạch, quy hoạch

đ∙ đề ra

d/ Tôkyô:

Tôkyô - Thủ đô Nhật Bản với chức năng là trung tâm kinh tế, tiền tệcòn là trung tâm chính trị quốc gia, ngoài ra còn có chức năng là trung tâmsản xuất công nghiệp hiện đại Tôkyô có vai trò to lớn như vậy vì một sốnguyên nhân chính sau:

Trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là trong giai đoạn xâydựng lại nền kinh tế, chính phủ trung ương nắm toàn quyền quyết định mọichính sách quan trọng về kinh tế, vì vậy mọi công ty, xí nghiệp quan trọng

đều phải đặt trụ sở chính tại Tôkyô để tiếp cận với cơ quan chính quyền

liên hệ giữa các công ty và chính phủ trung ương đòi hỏi các công ty phảinhanh chóng nắm bắt các thông tin chính xác, nhanh chóng để có thể cócác quyết định đúng đắn trong kinh doanh)

lợi cho thu thập và sử dụng thông tin, thúc đẩy các công ty tập trung tại

đây Tôkyô có những điều kiện giao thông thuận tiện, sức lao động dồi dào,

đội ngũ nhân tài khoa học kỹ thuật công nghệ lớn mạnh, hệ thống dịch vụ

đầy đủ, thị trường hàng công nghiệp rộng lớn

Bên cạnh các chính sách quản lý đô thị chung, Chính phủ đ∙ banhành các văn bản luật chủ yếu đặc thù sau: Luật về khu vực thủ đô; Luật vềcác khu khai thác phát triển thuộc khu đô thị thủ đô Tôkyô; Luật hạn chếcông nghiệp tại khu đô thị cũ thuộc khu vực thủ đô; ban hành "Dự thảoquan niệm về cải tạo thủ đô" và "Quy hoạch dài hạn của quận Tôkyô lầnthứ hai"

Từ năm 1987, Nhật Bản đ∙ biên soạn "Kế hoạch khai thác tổng hợptoàn quốc lần thứ tư", trong đó nêu "Tập hợp đô thị Tôkyô, với tính chất làmột cứ điểm của vòng cung Thái Bình Dương, là khu đại đô thị trụ cột thếgiới, dự báo thành phố sẽ đảm nhận một cách tập trung chức năng tiền tệ

Trang 39

quốc tế, thông tin quốc tế, và các chức năng thành phố thế giới với trình độthế giới: vai trò của nó với tính cách là địa bàn giao lưu mang tính thế giới

sẽ tăng lên" Để tăng cường quốc tế hóa thành phố, Nhật Bản đ∙ nêu lên 4biện pháp bao gồm: đẩy mạnh hoạt động giao lưu quốc tế, xây dựng các cơquan giao lưu quốc tế, xây dựng các phương tiện nhằm giáo dục tính quốc

tế cho cư dân đô thị và xây dựng thành phố trở thành nơi mà người nướcngoài cảm thấy thân thiết

Những văn bản trên tuy có khác nhau về nội dung và trọng điểmsong phương hướng chung là đều nhất trí tránh sự tập trung quá mức về dâncư, sản xuất, cần khai thác và phát triển các vùng xung quanh, làm cho toàn

bộ khu vực Tôkyô phát triển đồng bộ, tổng hợp Trong các quy hoạch và kếhoạch đều nổi bật tư tưởng là thành phố phải phát triển liên tục, trở thànhthành phố trung tâm quốc tế

3.2.4 Chính sách quản lý doanh nghiệp, phát triển kinh doanh của một

số thành phố trên thế giới

Trong những công bố mới đây của mình, Kuebler, chuyên gia hàng

đầu về pháp luật kinh doanh của CHLB Đức đ∙ buộc phải thừa nhận rằngmô hình quản lý doanh nghiệp ở châu Âu đ∙ tỏ ra có nhiều điểm bất hợp lý

so với pháp luật và chính sách khuyến khích kinh tế của Hoa Kỳ.15 Tại đây,môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh đ∙ diễn ra không chỉ giữa cácbang, mà còn diễn ra giữa các đô thị, giữa các địa phương Việc điều tiếtchính sách tại cấp địa phương có một vai trò lớn trong việc khuyến khíchkinh tế phát triển Trong một bài nghiên cứu, sau khi khảo sát kinh nghiệmlập quy của một số thành phố của Hoa Kỳ như San Diego, New York City,Colorado, Adrian T Moore và Tom Rose16 đ∙ đi đến một số kết luận nhưsau:

Thứ nhất, các giấy phép hành nghề mà địa phương cấp và quản lý

đ∙ không phát huy được tác dụng trong việc điều tiết kinh doanh Việc cấpphát một cách hạn chế các giấy phép hành nghề này thường dẫn đến nhiềutiêu cực trong bộ máy hành chính, độc quyền trong kinh doanh và cản trởcạnh tranh Vì lẽ đó, nhiều đô thị ở Hoa Kỳ đ∙ mạnh dạn xóa bỏ những quy

định trước đây về cấp phép hành nghề, ví dụ cho các nghề xây dựng, tẵc-xi,khách sạn và nhà trọ, chiếu phim và biểu diễn nghệ thuật, buôn bán đồ cũ,dịch vụ giải trí, vận tải, dịch vụ trông xe, buôn bán lưu động, vv

Thứ hai, song song với việc đơn giản hóa thủ tục kinh doanh, các đô

thị lớn của Hoa Kỳ đều khuyến khích cạnh tranh tư nhân Họ cho rằng,cạnh tranh là một sự điều tiết thị trường có hiệu quả và có lợi cho ngườitiêu dùng Chức năng quản lý kinh tế của các đô thị là khuyến khích và

điều tiết cạnh tranh

Thứ ba, trong tiến trình cải cách quá trình lập quy và giám sát thực

hiện các quy định pháp luật tại đô thị, một số đô thị của Hoa Kỳ đ∙ tìm

15 Kuebler, The economic law in times of global market, RIW, [2001], April, pp 37-40

16

Adrian T Moore and Tom Rose, regulatory Reform at the Local Level, RPPI Policy Study No 238,

Trang 40

cách giám sát chi phí lập quy, tìm cách đánh hiệu quả của chính sách trongtương quan với lợi ích cộng đồng Xóa bỏ các rào cản pháp lý, làm cho cácchính sách và quy định tại địa phương ngày càng trở nên đơn giản, dễ hiểu,minh bạch chính là làm cho việc quản lý kinh tế ngày càng trở nên ít tốnkém và mang lại hiệu quả cao hơn.

3.2.5 Về chính sách khuyến khích khoa học công nghệ và đào tạo của

một số nước và vùng lãnh thổ liên quan đến sự phát triển của Thủ đô.

Đối với các nước, thủ đô còn là trung tâm khoa học công nghệ, nơitập trung nhiều trường đại học, thu hút các nhà khoa học đầu ngành Do đó,kinh nghiệm về phát triển khoa học công nghệ và đào tạo của đất nước liênquan đến chính sách cơ chế đặc thù của Thủ đô trong việc khuyến khíchphát triển khoa học công nghệ

a/ Singapore:

Singapore nhấn mạnh đến việc phát triển công nghệ cao có giá trị giatăng lớn Với kế hoạch 5 năm (1996-2000) nhắm mục tiêu vào 3 lĩnh vựcchủ chốt: cải tiến năng lực công nghệ nội sinh; khuyến khích nghiên cứu vàphát triển (R & D) của khu vực tư nhân và tăng số nhà nghiên cứu trong cảnước Hiện nay, tại Singapore khu vực tư nhân cung cấp 65% tổng chi phí

trong nước dành cho R&D Những mục tiêu của quốc gia bao gồm: mục

then chốt, cụ thể tăng số nhà khoa học và kỹ sư vào khoảng 50% vào năm

2000 và tăng thêm 50% nữa vào năm 2005 Với mục tiêu dài hạn hơn, nhấnmạnh đến việc phát triển nghiên cứu chiến lược và đổi mới bền vững

Cụ thể, chiến lược dài hạn bao gồm: chiến lược bồi dưỡng nhữngnăng lực đổi mới và kinh doanh công nghệ; xác định những trường đại học

và viện nghiên cứu có vai trò trụ cột như "những động lực cho công tácnghiên cứu chiến lược thích đáng đối với nền kinh tế"

Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực hiện nay của Singapore là nângcao trình độ khoa học, với mục tiêu là các trường đại học đóng một vai tròquan trọng trong việc lấp hố ngăn cách giữa nghiên cứu của các trường đạihọc với khả năng ứng dụng trong công nghiệp Cụ thể, để tạo thuận lợi choviệc thương mại hoá đổi mới công nghệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cáctrường đại học của Singapore đ∙ lập ra những liên doanh với tư nhân đểkinh doanh những kết quả nghiên cứu của trường

b/ Nhật Bản:

Tiến hành nghiên cứu ứng dụng trên cơ sở thương mại phục vụ cáckhách hàng trong ngành công nghiệp đ∙ trở thành một hoạt động then chốtcủa các trường đại học Sự gia tăng cộng tác không chỉ trong nghiên cứu

mà còn trong cả phát triển giáo dục và đào tạo các nhà khoa học và kỹ sư.Thông qua cộng tác nhằm tạo lập cơ cấu liên ngành để nâng cao kỹ năngcủa những cán bộ khoa học Thực tế, những chính sách của Nhật Bản vềkhoa học công nghệ (KHCN) đ∙ nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiêncứu cơ bản từ đầu thập kỷ 90, nhưng chỉ thông qua sự kết hợp cải thiện bối

Ngày đăng: 02/07/2023, 08:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w