Những tác động này làm thay đổi các hành vi, cách ứng xử trong người Cơ Mục đích của việc nghiên cứu “Cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng” nhằm lý giải xu
Trang 1CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CƠ HO SRÊ CÔNG GIÁO
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Mã số: 5 03 10
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN HỒNG LIÊN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu vần đề 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2.1 Đối tượng nghiên cứu 3 2.2 Phạm vi nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9
4.1 Phương pháp luận 9
4.2 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Kết cấu của luận văn 11
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
11 CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG GIÁO TRONG CỘNG ĐỒNG CƠ HO SRÊ HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
1 Khái quát về cộng đồng Cơ ho Srê huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng
13 1.1 Vài nét về huyện Đơn Dương 13
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và môi trường 13
1.1.2 Lịch sử 16
1.1.3 Dân tộc, dân cư 17
Trang 31.1.4 Kinh tế- xã hội, văn hóa-giáo dục 21
1.2 Người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương 23
1.2.1 Tên gọi
23 1.2.2 Nhóm địa phương của người Cơ ho 25
1.2.3 Người Cơ ho Srê huyên Đơn Dương 28
2 Quá trình du nhập của Công giáo vào các vùng Cơ ho Srê, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng 48
3 Quá trình phát triển của Công giáo trong các vùng Cơ ho Srê, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng 56
3.1 Cách cử hành các nghi thức phụng vụ 57
3.2 Tổ chức giáo hội 62
3.3 Nghi lễ 71
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA ĐỜI SÔNG CÔNG GIÁO TRONG CỘNG ĐỒNG CƠ HO SRÊ, HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 1.Tác động của đời sống Công giáo trong cộng đồng Cơ ho Srê huyện Đơn Dương 93
1.1 Tác động của Công giáo đến cộng đồng Cơ ho Srê 93
1.1.1 Cấu trúc bon làng truyền thống 93
1.1.2 Các sinh hoạt trong cộng đồng bon làng truyền thống
98 1.1.3 Các hoạt động từ thiện xã hội 103
Trang 41.1.4 Giáo dục 108
1.2 Tác động của đời sống Công giáo trong đời sống gia đình 113
1.2.1 Hôn nhân 113
1.2.2 Gia đình 117
1.2.3 Tang lễ 127
1.3 Tác động của đời sống Công giáo trong đời sống cá nhân
134 2 Vài suy nghĩ về xu hướng phát triển của Công giáo trong cộng đồng Cơ ho Srê huyện Đơn Dương 145
KẾT LUẬN 151
PHỤ LỤC 159
Phần I: Bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, và ảnh minh họa 160
I Bản đồ 161
II Sơ đồ 163
III Biểu đồ 167
IV Ảnh minh họa 169
Phần II: Danh mục bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, và ảnh minh họa 202
I Danh mục bản đồ, sơ đồ, biểu đồ 203
II Danh mục ảnh 203
Phần III: Danh sách người tham gia phỏng vấn 106
Một số từ trong ngôn ngữ Việt chuyển sang ngôn ngữ Cơ ho
112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Lâm Đồng là tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên, Đơn Dương là huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng Cư dân huyện Đơn Dương bao gồm nhiều thành phần tộc người, như Kinh, Churu, Cơ ho, Mạ, Xtiêng, Raglai, Nùng, Tày, Thái … Mỗi tộc người có những điểm khác nhau về nguồn gốc lịch sử, mang những sắc thái riêng về văn hóa, ở trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều
Dân tộc Cơ ho là cư dân bản địa của huyện Dơn Dương, cư trú hầu hết tại các xã trên địa bàn huyện Theo danh mục xác định thành phần dân tộc năm1979, Dân tộc Cơ ho bao gồm các nhóm địa phương: Srê, Nộp, Cờ Dòn, Chil, Lạt (Lạch) và Tờ Ring (Tring)
Dân tộc Cơ ho ở huyện Đơn Dương theo tín ngưỡng đa thần, nhưng thời gian gần đây, đã có một bộ phận người Cơ ho theo Công giáo Đa phần, người Cơ ho theo Công giáo thuộc nhóm Cơ ho Srê
Cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo có sự khác biệt về văn hóa, tổ chức xã hội, so với cộng đồng người Cơ ho Srê không tôn giáo
Cộng đồng Công giáo Cơ ho Srê đã làm thay đổi mối quan hệ tộc người trong mối quan hệ với cộng đồng người Cơ ho, và sự thay đổi có những mặt tích cưc, nhưng cũng có những mặt hạn chế, trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng Cơ ho
Cộng đồng Công giáo người Cơ ho Srê, trước lúc là cộng đồng Công giáo đã là cộng đồng gắn kết theo cộng đồng tộc người Cơ ho, khi theo Công giáo hình thành cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo, như vậy, cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo vừa được gắn kết theo cộng đồng tộc người, vừa được gắn kết
Trang 6theo tôn giáo, nên tính cố kết cộng đồng khá bền chặt Tính cố kết không chỉ giới hạn trong mối quan hệ tộc người, mà còn mở rộng sang những tộc người khác, vì người Cơ ho Srê Công giáo có thể có số lượng không nhiều so với người Cơ ho, tức là cộng đồng Công giáo Cơ ho Srê có thể là cộng đồng thiểu số xét trong cộng đồng tộc người Cơ ho, nhưng khi liên kết với cộng đồng Công giáo đã trở thành cộng đồng lớn về mặt tôn giáo Như thế, tính thiểu số của cộng đồng lúc ban đầu hình thành không còn, cộng đồng nhỏ lúc ban đầu đã trở thành một thành phần của cộng đồng lớn về mặt tôn giáo Đây là yếu tố góp phần tạo nên xu hướng cố kết cộng đồng, nhờ mối liên kết giữa những người Công giáo với nhau trong cùng một cộng đồng tộc người, khác tộc người Đây cũng là yếu tố tạo nên xu hướng phân ly giữa những người Công giáo với những người không Công giáo và các tôn giáo khác không phải là Công giáo, diễn ra trong cùng một cộng đồng tộc người, và khác tộc người
Khi một bộ phận người Cơ ho Srê theo Công giáo, đời sống Công giáo tác động trong đời sống cộng đồng, trong đời sống gia đình và trong đời sống cá nhân Những tác động này làm thay đổi các hành vi, cách ứng xử trong người Cơ
Mục đích của việc nghiên cứu “Cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng” nhằm lý giải xu hướng biến đổi đời sống của cộng
đồng người Cơ ho Srê Công giáo so với cộng đồng người Cơ ho Srê không Công
Trang 7giáo trong cùng cộng đồng tộc người Cơ ho, qua đó thấy được những tích cực và những hạn chế của đời sống Công giáo khi tác động vào cộng đồng người Cơ ho Srê, trên cơ sở đó, có được cái nhìn đúng về tôn giáo, về dân tộc, thể hiện qua các việc cụ thể, như: tôn trọng ý thức tộc người và văn hóa tộc người; tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo, qua đây có được những biện pháp phù hợp để phát triển kinh tế-xã hội bền vững trong bản thân tộc người Cơ ho Srê, tạo được mối đoàn kết dân tộc và tôn giáo, đưa đến việc thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo có hiệu quả
Ngoài ra, nghiên cứu “Cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng” còn có những mục đích như: tìm hiểu những nét văn hóa
truyền thống của người Cơ ho Srê; những nét văn hóa mới được hình thành do người Cơ ho Srê giáo lưu với đời sống Công giáo; những nét văn hóa truyền thống của người Cơ ho Srê mà người Công giáo Cơ ho Srê còn được bảo lưu; những nét văn hóa truyền thống của ngươi Cơ ho Srê không phù hợp với việc thực hành đời sống đức tin Công giáo nên người Cơ ho Srê đã bỏ Với những tư liệu tìm hiểu được sẽ góp thêm phần giúp các nhà làm chính sách dân tộc và tôn giáo, các cơ quan tại địa phương, có được cái nhìn đúng hơn về đời sống Công giáo trong văn hóa của người Cơ ho Srê
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo cư trú tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Nhưng Luận văn không nghiên cứu chung toàn diện về cộng đồng người Cơ ho Srê theo đạo Công giáo, mà chỉ tập trung nghiên cứu về đời sống Công giáo của cộng đồng người Cơ ho Srê, những yếu tố văn hóa truyền thống của người Cơ ho Srê
Trang 8không bị tác động bởi đời sống Công giáo, và những yếu tố văn hóa truyền thống của người Cơ ho Srê bị đời sống Công giáo tác động, qua đấy tìm hiểu những tích cực và những hạn chế của đời sống Công giáo khi du nhập vào cộng đồng người Cơ ho Srê, từ đó tìm hiểu được xu hướng phát triển của Công giáo trong cộng đồng này
Để thấy rõ đặc trưng tộc người của người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương, góp phần tìm ra những tương đồng và khác biệt trong việc tìm hiểu cộng đồng người Cơ ho ở Việt Nam, luận văn tìm hiểu cả người Cơ ho Srê theo Công giáo đang cư trú tại một vài huyện lân cận như huyện Di Linh, huyện Đức Trọng, huyện Lâm Hà
2.2 Phạm vi nghiên cứu
• Thời gian
Công giáo du nhập vào vùng đất Lâm Đồng khá sớm, nhưng có mặt tại huyện Đơn Dương từ năm 1946, do sự truyền đạo của các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, người Canada, là Denis Paquette, Louis PhilippeVaillancourt, Fichel Laliberté [35, tr 112]
Trong năm 1950, số lượng tín đồ Công giáo tại huyện Đơn Dương tăng đông thêm, do một số người Việt có đạo từ nhiều tỉnh khác nhau (chủ yếu là các tỉnh miền Bắc), với những hoàn cảnh xã hội khác nhau, đến định cư tại huyện Đơn Dương, hình thành nên những giáo xứ toàn tòng
Từ năm 1954 đến nay, số lượng tín đồ nơi đây vẫn tiếp tục tăng, do cư dân từ các tỉnh khác đến nơi đây lập nghiệp, phần lớn theo hình thức di dân tự do Riêng vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó có người Cơ ho Srê, Công giáo chính thức du nhập vào nơi đây từ năm 1958, do linh mục truyền
Trang 9đạo là François Darricau, thuộc Hội Thừa Sai Paris (Mission Etrangé de Paris
- gọi tắt: MEP)
Từ năm 1958 đến năm 1975, truyền đạo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đơn Dương đa phần là các giáo sĩ người nước ngoài
Từ sau năm 1975 đến nay, công cuộc truyền giáo, cũng như việc chăm lo cho đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Đơn Dương, trong đó có người Cơ
ho Srê, do giáo phận Đà Lạt đảm nhiệm, trong sự cộng tác của các linh mục, các tu sĩ nam và nữ, người Việt Nam Trong khoảng thời gian vừa nêu, đạo Công giáo phát triển mạnh ở tỉnh Lâm Đồng nói chung, ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đơn Dương nói riêng, nhờ những điều kiện thuận lợi như: số lượng linh mục và tu sĩ truyền đạo trong giai đoạn này đông hơn các giai đoạn trước; có hạn chế bớt bất đồng về ngôn ngữ do phần lớn người dân tộc thiểu số nơi đây đã biết nói và nghe tiếng Việt; sự ra đời của các điều chế canh tân Giáo hội trong Công đồng Vatican II, và các điều chế canh tân này bước đầu đã được triển khai thực hiện trong Giáo Hội tại Việt Nam, trong đó có huyện Đơn Dương
Vài nét vừa nêu cho thấy, Công giáo có mặt tại huyện Đơn Dương từ năm 1946; chính thức du nhập vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đơn Dương, trong đó có người Cơ ho Srê, từ năm 1958; phát triển mạnh ở tỉnh Lâm Đồng nói chung, ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đơn
Dương nói riêng từ sau năm 1975 đến nay Do vậy, nghiên cứu về “Cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng” lấy mốc
thời gian từ năm 1958 cho đến nay, trong đó, nghiên cứu kỹ hơn ở mốc thời gian từ sau năm 1975 đến nay
Trang 10• Không gian
Không gian nghiên cứu của luận văn là huyện Đơn Dương Tuy nhiên, người Cơ ho Srê Công giáo chỉ cư trú tập trung ở một số xã Do đó, tác giả chỉ chọn một số điểm trong huyện để khảo sát như: giáo xứ Ka Đơn (xã Ka Đơn), giáo xứ Próh (xã Próh), giáo xứ Thạnh Mỹ (thị trấn Thạnh Mỹ) giáo xứ Lạc Hòa (xã Ka Đô) …
• Các lĩnh vực thuộc phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đời sống của người Cơ ho Srê và đời sống Công giáo của người Cơ ho Srê Công giáo, qua đấy tìm hiểu được Công giáo đã tác động như thế nào trong một bộ phần người Cơ ho Srê, mà đã làm biến đổi phong tục tập quán của họ Đời sống của người Cơ ho Srê bao hàm: thiết chế tổ chức xã hội; các phong tục tập quán trong hôn nhân, gia đình, tang ma; các lễ hội Đời sống Công giáo của người Cơ ho Srê Công giáo bao hàm: việc học hỏi và giảng dạy giáo lý, việc thực hành các phép bí tích và việc tổ chức các sinh hoạt Công giáo
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Người Cơ ho, trước và sau năm 1975 có nhiều công trình viết về họ Một
công trình viết vào năm 1970 là: “Đồng Bào Các Sắc Tộc Thiểu số ở miền Nam” của Nguyễn Khắc Dĩ Trong công trình này, tác giả viết về nguồn gốc,
phong tục của các tộc người miền Nam Việt Nam trong đó có tộc người Cơ
ho
Sau năm 1975, do hoàn cảnh có nhiều thuận lợi về mặt khách quan cũng như chủ quan, như: Miền Nam Việt Nam đã được giải phóng; sự ra đời của một đội ngũ đáng kể các cán bộ nghiên cứu trẻ và đặc biệt là sự thành lập của ban Dân tộc học viện Khoa học Xã hội miền Nam Việt Nam sau đổi lại
Trang 11là Ban Dân Tộc Học viện Khoa học Xã hội tại Thành Phố Hồ Chí Minh Kết quả của những điều kiện thuận lợi trên, nhiều công trình nghiên cứu về các dân tộc ở miền Nam được công bố Một số công trình như: năm 1983, Sở Văn
hoá thông tin tỉnh Lâm Đồng xuất bản cuốn “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng”
dày trên 300 trang, do nhà nghiên cứu Mạc Đường chủ biên Công trình này giới thiệu về vấn đề dân cư và dân tộc ở Lâm Đồng, quá trình phát triển tộc người và những biến đổi xã hội ở Lâm Đồng trong lịch sử, cùng một số bài viết giới thiệu về văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng,
trong đó có bài “Người Kơho” của tác giả Nguyễn Văn Diệu và Phan Ngọc Chiến Nhìn chung công trình “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng” có thể được xem
là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về các dân tộc thiểu số
gốc Tây Nguyên ở Lâm Đồng Năm 1984, công trình “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)” của Ban Dân Tộc Học,Viện Khoa học xã hội
tại thành phố Hồ Chí Minh, do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, xuất bản tại Hà Nội, đã ra mắt bạn đọc Trong công trình này, các tác giả giới thiệu tổng quát về các dân tộc ở miền Nam trong đó có dân tộc Cơ ho Người Cơ ho được giới thiệu trong công trình này là một bức tranh khái quát về kinh tế, văn hóa, xã hội.Vào năm 1999, Nhà xuất bản Thống kê đã xuất bản sách
“Dân tộc – dân cư Lâm Đồng”, của tác giả Trần Sĩ Thứ Trong cuốn sách
này, tác giả đã trình bày khái quát về đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá của các dân tộc đang cư trú tại tỉnh Lâm Đồng Đặc biệt, tác giả dành chương đầu tiên giới thiệu về nguồn gốc của các dân tộc đang định cư tại Lâm Đông,
trong đó có dân tộc Cơ ho Trên cơ bản, sách “Dân tộc – dân cư Lâm Đồng”
giúp cho người đọc có được sự hiểu biết chung về các dân tộc đang cư trú tại Lâm Đồng Năm 2003, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản cuốn
Trang 12“Dân tộc Cơ ho ở Việt Nam” do nhà nghiên cứu Bùi Minh Đạo chủ biên Công trình này đã “giới thiệu tương đối đầy đủ và sinh động chân dung đời sống mọi mặt của dân tộc Cơ ho từ truyền thống sang hiện đại dưới tác động của những điều kiện tự nhiên và dân cư mới, bao gồm môi trường cư trú, tộc danh, dân số, phân bố, đặc điểm hình thái nhân chủng, lược sử tộc người, các hoạt động kinh tế, các thiết chế xã hội các dạng thức của văn hoá, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần Không chỉ thế, cuốn sách còn dành một chương trình bày truyền thống đấu tranh cách mạng và xây dựng cuộc sống mới vẻ vang và đáng tự hào của dân tộc được giới thiệu Cuốn sách là đóng góp mới cho ngành dân tộc học Một giản chí dân tộc cần thiết và có ý nghĩa nhằm góp phần gìn giữ, phát huy vốn văn hoá truyền thống và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở vùng người Cơ ho” [10, tr.7-8 ] Cùng thời điểm, một luận văn
thạc sĩ của học viên cao học Lê Minh An, ngành Sử học, trường ĐaÏi học Đà Lạt, do phó giáo sư, tiến sĩ Cao Thế Trình hướng dẫn đã công bố Luận văn
có tên “Bước đầu tìm hiểu về Công giáo ở Lâm Đồng và công tác quản lý nhà nước đối với Công giáo tại địa phương” Trong luận văn này, tác giả trình bày
khá chi tiết về sự du nhập của Công giáo vào Lâm Đồng, về sự hình thành một số giáo xứ đầu tiên Tác giả cũng đã nêu lên mặt tích cực và hạn chế của Công giáo Ngoài ra còn có một số bài giới thiệu trong các tạp chí
chuyên ngành, tiêu biểu là bài “Truyền thống và biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Srê ở xã Tam Bố, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng” của tác giả Bùi Thị Bích Lan, trong tạp chí Dân tộc học số 2/ 2003; và bài “Tập quán sinh đẻ và nuôi dạy con của người Kơho (xã Lộc Nam, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng)” của tác giả Đào Quang Vinh, trong tạp chí Dân tộc học số
5/2001 Trong hai bài viết nêu trên, bài của tác giả Bùi Thị Bích Lan bàn về sự biến đổi trong hôn nhân, gia đình của người Cơ ho Srê xã Tam Bố, huyện
Trang 13Di Linh, còn bài của tác giả Đào Quang Vinh viết về một số tập quán trong sinh đẻ và nuôi dạy con của người Cơ ho xã Lộc Nam, huyện Bảo Lộc Gần
đây, năm 2005, nhà xuất bản Trẻ đã xuất bản công trình “Người Kơho ở Lâm Đồng, nghiên cứu nhân học về dân tộc và văn hóa”, do Phan Ngọc Chiến chủ biên Cuốn sách “là một tập hợp các bài viết của nhiều tác giả từ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt Sách gồm có hai phần Phần I là những bài viết về những vấn đề học thuật và lý thuyết trong nhân học liên quan đến thành phần dân tộc, bản sắc dân tộc và văn hóa … Phần II gồm những bài viết về một số khía cạnh sinh hoạt kinh tế – văn hoá và văn hoá nổi bật của người Kơho và người Chil ở Lâm Đồng, cùng với một phân tích tài liệu thư tịch và điền dã về bản sắc và thành phần dân tộc của họ” [4, tr.11] Qua những bài viết của các tác giả, “Người Kơho ở Lâm Đồng, nghiên cứu nhân học về dân tộc và văn hóa”đã làm rõ thêm những vấn đề của sự phân loại dân tộc ở
Việt Nam
Nhìn chung, trong số các công trình, bài viết nêu trên ít bàn đến người Cơ
ho ở Huyện Đơn Dương, đặc biệt là người Cơ ho Srê theo Công giáo Do vậy, luận văn sẽ nghiên cứu về cộng đồng người Cơ ho theo Công giáo tại nơi này
4 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu về dân tộc và tôn giáo, thuộc chuyên ngành Dân tộc học, nên luận văn chủ yếu vận dụng cơ sở lý thuyết của chuyên ngành Dân tộc học Ngoài ra, luận văn còn dựa trên quan điểm chủ nghĩa Marx – Lênin, cụ thể là phép biện chứng, đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ phổ biến và vận động không ngừng; Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đền dân tộc
Trang 14và tôn giáo, và chính sách đoàn kết dân tộc của Việt Nam, là cơ sở lý thuyết quan trọng mà luận văn vận dụng trong nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát và quan sát tham dự là cách để tác giả thu thập tư liệu về: kiến trúc tổng quan của các ngôi nhà thờ; cách trang trí trong và ngoài nhà thờ; cách trang trí trên bàn thờ trong gia đình người Cơ ho Srê và một số gia đình người dân tộc khác cùng cộng cư; việc thực hành các nghi lễ Công giáo trong nhà thờ, trong gia đình người Cơ ho Srê, trong một vài gia đình các dân tộc khác cùng cộng cư như: Việt, Churu, Tày, Nùng … ; cơ cấu tổ chức trong các giáo xứ …
Trong quá trình thu thập tư liệu ở các lĩnh vực vừa nêu, tùy mức độ cần khách quan, hay không cần khách quan, mà tác giả chọn cách quan sát, hay quan sát tham dự, hay kết hợp cả quan sát và quan sát tham dự Đối với việc thu thập tư liệu trong các lĩnh vực như: kiến trúc tổng quan của các ngôi nhà thờ; cách trang trí trong và ngoài nhà thờ; cách trang trí trên bàn thờ trong gia đình người Cơ ho Srê và một số gia đình thuộc các tộc người khác cùng cộng, tác giả dùng phương pháp quan sát, nhằm đạt mức độ khách quan Đối với việc thu thập tư liệu trong việc thực hành các nghi lễ Công giáo trong nhà thờ, trong gia đình người Cơ ho Srê, trong một vài gia đình các dân tộc khác cùng cộng cư như:Việt, Churu, Tày, Nùng … , trong cơ cấu tổ chức trong các giáo xứ …, tác giả dùng kết hợp quan sát và quan sát tham dự, vì thiết nghĩ, tư
Trang 15liêu trong các lĩnh vực vừa nêu, cần khách quan, nhưng cũng cần hiểu cạnh kẽ
Phương pháp so sánh được dùng để so sánh cộng đồng người Cơ ho Srê Công giáo với cộng đồng người Cơ ho Srê không Công giáo, nhằm tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt, qua đó thấy được những tích cực và những hạn chế của Công giáo khi tác động vào người Cơ ho, từ đó tìm thấy xu hướng phát triển Công giáo trong cộng đồng Cơ ho
Nghiên cứu định tính (qualitative researchs) đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin cho đề tài Công cụ nghiên cứu định tính được sử dụng là những cuộc phỏng vấn sâu (indept interview), phỏng vấn tập trung (concentrated interview), những vị linh mục, những ông trùm, những vị trong ban điều hành giáo xứ tại các nhà thờ có người Cơ ho Srê, hay người đồng bào dân tộc thiểu số cư trú
Những phương pháp liên ngành (interdisciplinary Study) như: thống kê, đồ bản … được dùng nhằm mục đích làm rõ hơn những yếu tố văn hóa mới trong quá trình giao lưu văn hóa (acculturation) giữa văn hóa của người Cơ ho Srê với văn hóa Công giáo, từ đó thấy rõ đặc trưng tộc người của người Cơ ho Srê Công giáo huyện Đơn Dương
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục theo quy định của một luận văn thạc sĩ, kết cấu của luận văn gồm hai chương:
- Chương I: Quá trình du nhập và phát triển của Công giáo trong cộng đồng người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng
- Chương II: Aûnh hưởng của Công giáo trong cộng đồng người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng
Trang 166 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
- Luận văn cung cấp một số những thông tin về phong tục tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo của cộng đồng người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương, góp phần giới thiệu thêm tư liệu về người Cơ ho Srê nơi đây, giúp Nhà nước đề ra những chính sách phát triển dân tộc và tôn giáo phù hợp cho người Cơ ho
- Những tư liệu về các hoạt động trong sinh hoạt Công giáo của một bộ phận người Cơ ho Srê, và của các giáo xứ có người Cơ ho Srê cư trú, được trình bày trong luận văn, góp phần trong việc hiểu rõ hơn về quá trình du nhập và phát triển của Công giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây, trên cơ sở đó góp phần vào việc tìm hiểu những biến đổi trong đời sống tôn giáo của người Cơ ho nơi đây, nhất là những năm đầu thế kỷ XXI
- Cuối cùng, qua việc tìm hiểu ảnh hưởng của Công giáo trong đời sống cộng đồng, trong đời sống gia đình, trong đời sống cá nhân ở người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương, góp phần cho thấy sự giao lưu giữa văn hóa của người Cơ
ho Srê nơi đây và văn hóa Công giáo, qua đó sẽ thấy được những mặt tích cực và những mặt hạn chế của Công giáo trong việc lưu giữ và phát triển văn hóa dân tộc Cơ ho Những tư liệu này sẽ góp phần gợi mở cho những người làm nhiệm vụ trong công tác dân tộc và công tác tôn giáo nơi đây, có cái nhìn đúng hơn về tôn giáo, về dân tộc, từ đó, luôn tôn trọng ý thức tộc người và văn hóa tộc người, tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo, qua đây có được những biện pháp phù hợp để phát triển kinh tế-xã hội bền vững trong bản thân tộc người Cơ ho Srê, tạo được mối đoàn kết dân tộc và tôn giáo, đưa đến việc thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo có hiệu quả
Trang 17CHƯƠNG I
QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA CÔNG GIÁO TRONG CỘNG ĐỒNG CƠ HO SRÊ,
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Dương, tỉnh Lâm Đồng
1.1 Vài nét về huyện Đơn Dương
1.1 1 Đặc điểm tự nhiên và môi trường
Đơn Dương là một trong 11 huyện của tỉnh Lâm Đồng, nằm về phía Nam
cao nguyên Di Linh, có tổng diện tích tự nhiên 611,5 km2 Phía Bắc giáp Đà Lạt và huyện Lạc Dương, Đông và Đông Nam giáp huyện Ninh Sơn của tỉnh Ninh Thuận, Tây giáp huyện Đức Trọng Đơn Dương có vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội
Địa hình huyện “Đơn Dương có dạng hình lòng chảo hơi lệch về hướng Tây Bắc – Đông Nam Núi cao bao bọc phía Bắc, Đông Bắc có đỉnh núi cao nhất là Yang Kuét (1562m) Núi thấp bao bọc phía Nam, Đông Nam Phần núi cao bị chia cắt mạnh, hiểm trở, hiện trạng là đất rừng và đất trống đồi trọc, diện tích 45.926 ha, chiếm 25% diện tích tự nhiên, là nơi tập trung trên 90% đất nông nghiệp và 80% dân số toàn huyện Trong vùng lòng chảo gồm có các tiểu địa hình cao nguyên banzan, các bãi bồi phù sa nhỏ hẹp, các gò đồi thoải của đá trầm tích, biến chất Độ cao tuyệt đối toàn huyện dao động từ 1160m đến 1600m, với
Trang 18địa hình trên các dòng chảy chính (chủ yếu là sông Đa Nhim và các phụ lưu) đều có hướng Đông Bắc – Tây Nam” [36, tr.14-15] Nhìn chung, địa hình Đơn Dương
chia làm 3 dạng chính: Địa hình núi cao; địa hình đồi thoải lượn sóng, địa hình thung lũng sông suối Với các dạng địa hình vừa nêu khá thuận lợi cho huyện Đơn Dương phát triển nông – lâm nghiệp sinh thái
Đơn Dương là vùng đất có thổ nhưỡng khá phong phú và đa dạng “Theo kết quả điều tra của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp năm 1978, điều tra bổ sung phục vụ cho quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh (1980 -1988) và điều tra chỉnh lý đất của Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp Miền Trung năm 1999 thì vùng Đơn Dương có 4 nhóm đất và 12 loại đất khác nhau”
[36, tr.15-16]
Theo số liệu địa chính ngày 1 tháng 1 năm 2005 của huyện Đơn Dương,
(phòng Tài Nguyên và môi trường huyện Đơn Dương cung cấp ngày 5- 10 -2005),
tổng diện tích huyện Đơn Dương 61.032 ha, trong đó, đất nông nghiệp 16.817 ha, đất lâm nghiệp 37.716 ha, đất phi nông nghiệp 2310 (đất nhà ở là 437 ha, đất chuyên dùng 1.042 ha), đất chưa sử dụng 2.856 ha
Đơn Dương nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa
vùng cao nguyên nên mang đầy đủ tính chất khí hậu của vùng “Nhiệt độ trung bình hàng năm 24 0 C, ít bị ảnh hưởng gió bão, mỗi năm chia làm 2 mùa: mùa mưa từ tháng tư đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Thời tiết tương đối ôn hòa … , thích hợp cho việc trồng cây lương thực, cây ăn trái, cây công nghiệp”[43, tr.736] Lượng mưa trong năm là 1.327mm, tháng cao nhất
(tháng 6) là 319mm, tháng thấp nhất (tháng 1,12) là 0 mm Số giờ nắng trong năm là 2.524 giờ, tháng cao nhất là 273 giờ, tháng thấp nhất là 90 giờ Hướng
gió chính là Đông – Tây và Tây Nam [36, tr 5- 6]
Trang 19Tài nguyên rừng của huyện chủ yếu là những cánh rừng nguyên sinh đa dạng về động, thực vật Sự đa dạng ấy phải kể đến khu vực đầu nguồn sông Đa Nhim (hay chính là lưu vực của hồ Đa Nhim), độ che phủ ở đây rất cao hơn 70% Các khu vực còn lại có độ che phủ giảm dần và độ che phủ thấp nhất là cánh rừng thuộc địa phận xã Ka Đơn và Tu Tra, ở đây tỉ lệ che phủ khoảng 28 -33%
Tài nguyên nước của huyện được đánh giá cao từ nguồn nước của hệ thống sông Đa Nhim Nguồn nước của hệ thống sông này cung cấp chính nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống cư dân trong huyện Mặt khác, từ khi xây dựng hồ Đơn Dương từ hệ thống sông Đa Nhim, tài nguyên nước này được biến thành điện năng cung cấp nguồn điện cho lưới điện quốc gia
Như vậy, qua vài nét khái quát cho thấy điều kiện tự nhiên và môi trường của huyện Đơn Dương có nhiều ưu thế thuận lợi trong nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội của địa phương Các điều kiện thuận lợi tiêu biểu cần nêu như: địa hình và đất đai đa dạng giúp huyện Đơn Dương phát triển nền nông nghiệp theo nhiều loại hình sinh thái Đặc biệt, thời tiết khí hậu mang đặc điểm của vùng á nhiệt đới thuận lợi cho việc phát triển các cây ăn quả và rau đậu xứ lạnh Hai ưu thế vừa nêu tạo điều kiện khá tốt trong việc tìm kiếm và mở rộng thị trường sản phẩm trong và ngoài nước Ngoài ra, tiềm năng về nguồn nước cũng như các loại đất trong vùng cho phép mở rộng diện tích lúa nước, nhằm bảo đảm nguồn lương thực, đây là động lực góp phần ổn định đời sống dân cư trong vùng, nhất là vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế nêu trên, điều kiện tự nhiên và môi trường của huyện Đơn Dương cũng gây nên một số hạn chế trong nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội của địa phương Hạn chế tương đối quan trọng, do địa hình thung lũng và nằm trong lưu vực của hệ thống sông Đa Nhim, nên về kinh tế – xã hội đã hình thành hai vùng rõ rệt,
Trang 20trong đó mỗi vùng có những đặc điểm kinh tế – xã hội khác nhau, có những thế mạnh và hạn chế khác nhau, do vậy khá khó khăn cho việc định ra những chính sách, các mục tiêu trong việc đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, cũng như khai thác các thế mạnh của huyện Vì thế, nắm rõ hơn đặc điểm này chính là nhằm đề ra được những chính sách, những kế hoạch phù hợp cho việc đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội cũng như khai thác các thế mạnh tại địa phương
1.1.2 Lịch sử
Huyện Đơn Dương được hình thành như ngày nay đã trải qua nhiều giai
đoạn lịch sử khác nhau Một số sự kiện lịch sử có tính chất bước ngoặt như: “năm
1899, vùng đất Đơn Dương thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng Năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, vùng đất Đơn Dương ngày nay thuộc huyện Tân Khai, đạo Ninh Thuận Năm 1920, cùng với việc tái lập tỉnh Đồng Nai Thượng, quận Dran- Fyan được thành lập Ranh giới của quận lúc bấy giờ rất rộng, phía Đông và Nam giáp với Ninh Thuận, Bình Thuận, phía Tây kéo dài đến Đại Ninh … Theo sắc lệnh số 126- NV ngày 19-5-1958, chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Tuyên Đức, chia Dran thành 3 quận: Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương Quận Đơn Dương trước năm 1975 có các xã: Xuân Thọ, Xuân Trường, Lạc Nghiệp, Lạc Xuân, Lạc Lâm, Thạnh Mỹ, Loan, Tà Năng, Ninh Gia, Tu Tra Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, sau nhiều lần thiết lập lại hệ thống hành chính, vùng đất Bồng Lai, Bắc Hội, xã Loan, xã Tà Năng được giao về huyện Đức Trọng; các xã Xuân Trường, Xuân Thọ được giao về thành phố Đà Lạt Tháng 4 năm 1977, huyện lỵ Đơn Dương chuyển từ Lạc Nghiệp về Thạnh Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo phát triển Trải qua nhiều biến đổi, hiện nayï, huyện Đơn Dương có 2 thị trấn Thạnh Mỹ, Dran và 8 xã: Lạc Xuân, Lạc Lâm, Ka Đô, Ka Đơn, Tu Tra, Quảng Lập, Próh, Đạ Đờn” [43, tr.735]
Trang 211.1.3 Dân tộc và dân cư
Theo số liệu thống kê có đến ngày 31-12-2004, huyện Đơn Dương có tổng số dân là 90 482 người, trong đó nam là 45 275 người, chiếm tỉ lệ 50,03%; nữ là
45 207 người, chiếm tỉ lệ 49,96%
Cư dân huyện Đơn Dương phần lớn là các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á và ngữ hệ Nam Đảo, trong đó, có tộc người là cư dân bản địa (Churu, Cơ ho, Mạ), có tộc người di cư từ nơi khác đến (Xtiêng, Raglai, Kinh, Nùng, Tày, Thái …), do vậy, mỗi tộc người có những điểm khác biệt về nguồn gốc lịch sử, mang những sắc thái riêng về văn hóa, ở trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều Các cư dân bản địa, trong xã hội truyền thống cũng như hiện nay, họ cư trú thành các bon (làng) Đây là đơn vị tổ chức xã hội cao nhất, mang tính xã hội tương đối hoàn chỉnh, tương đối độc lập và cách biệt, khép kín về khu vực canh tác, khu vực cư trú; với thiết chế xã hội khá chặt chẽ, có ranh giới lãnh thổ, quyền sở hữu đất, rừng được xác định; có các luật lệ, lễ thức gắn với mỗi bon (làng) Đứng đầu mỗi bon (làng) là các chủ làng, ông là những người lớn tuổi, có
uy tín nhất trong làng, được bầu chọn trong các thành viên trong làng Hỗ trợ đắc lực cho chủ làng trong việc cai quản bon làng còn có hội đồng già làng, có thầy cúng Cho đến nay, nhiều phong tục, tập quán trong hôn nhân và gia đình của cư dân bản địa huyện Đơn Dương còn mang đậm dấu vết của chế độ mẫu hệ Trong hôn nhân, phía nữ giữ vai trò chủ động, và sau khi kết hôn, đôi vợ chồng trẻ cư trú bên gia đình nhà vợ Trong gia đình, nếu ở xã hội truyền thống tồn tại hai hình thức tổ chức gia đình lớn mẫu hệ và gia đình nhỏ mẫu hệ, thì hiện nay, xu thế phát triển chung là đang diễn ra mạnh mẽ quá trình giải thể các gia đình lớn mẫu hệ chuyển dần sang gia đình nhỏ mẫu hệ, và loại hình gia đình nhỏ mẫu hệ đang ngày càng chiếm ưu thế Nhưng dù gia đình lớn mẫu hệ hay gia đình nhỏ
Trang 22mẫu hệ, con cái sinh ra theo họ mẹ, quyền thừa kế tài sản thuộc về những người con gái, ông cậu (em của mẹ) có vai trò quan trọng trong việc hôn nhân của các cháu trong gia đình chị gái, hay em gái
Hoạt động kinh tế truyền thống của cư dân bản địa nơi đâyï là hình thức kinh tế chiếm đoạt, cụ thể như săn bắn và hái lượm Ngoài ra, các dân tộc nơi đây còn trồng lúa nước, lúa rẫy và các loại cây thực phẩm khác như: khoai lang, khoai mì, bầu, bí … Việc canh tác của các dân tộc bản địa nơi đây phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Thường, mỗi năm các dân tộc bản địa nơi đây chỉ canh tác một vụ vào mùa mưa, mùa nắng đất bỏ hoang Hiện nay, nhờ điều kiện tưới tiêu tốt, lại học được cách canh tác của các tộc người khác cùng cộng cư, đặc biệt là người Kinh, nên cư dân bản địa huyện Đơn Dương ngoài các loại hình kinh tế truyền thống, họ còn trồng các loại cây hoa màu như: rau, củ, quả … cung cấp nguồn thực phẩm cho các tỉnh, thành phố lân cận, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh
Các tộc người di cư từ nơi khác đến, người Kinh chiếm đa số Theo thống kê hộ khẩu và nhân khẩu các loại dân tộc, có đến ngày 30 tháng 5 năm 2005, trên địa bàn huyện Đơn Dương, dân tộc Kinh có 58.715 người, chiếm 64,89%
dân số toàn huyện (số liệu dân tộc do Công an huyện Đơn Dương cung cấp ngày 20-9-2005, tỉ lệ dân số của tác giả) Tiến trình di cư của người Kinh đến vùng đất
huyện Đơn Dương ngày nay phần lớn diễn ra theo từng đợt, mỗi đợt gắn liền với các biến động lớn về chính trị - xã hội của đất nước Đợt di cư đầu tiên từ năm
1917, thực dân Pháp đến mở đồn điền, nhà máy, mộ phu ở nhiều miền của đất nước, đông nhất là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận Khi đường xá, đồn điền xây dựng xong, người Kinh ở lại khai khẩn đất và lập làng sinh sống Hiện nay, bộ phận con cháu của họ đang cư trú tại xã, thị trấn,
Trang 23như thị trấn Dran, thị trấn Thạnh Mỹ, và xã Quảng Lập Đợt di cư lần hai diễn ra trong những năm từ 1954 đến năm 1975 Trong giai đoạn này, một đợt di cư lớn diễn ra trong năm đầu, phần lớn cư dân ở các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Hải Hưng, đa phần trong số họ là những giáo dân Họ đến ở những địa bàn được chuẩn bị trước và hình thành nên những vùng tập trung người Kinh mới như: Lạc Lâm, Lạc Viên, Lạc Sơn Hiện nay, con cháu họ đang cư trú tại chỗ cũ và một phần đã chuyển đến cư trú ở một số các xã khác như Ka Đô, Ka Đơn, Próh … Trong những năm tiếp theo là những đợt di dân tự do của các cư dân, trong đó,
đa phần là các cư dân miền Trung thuộc các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định Hiện nay, cư dân này và con cháu họ cư trú hầu hết các xã trong huyện, đặc biệt tại xã Ka Đô và xã Quảng Lập Đợt di cư lần thứ ba diễn ra từ năm 1975 đến nay, động lực của đợt di dân này là do chính sách điều chỉnh lao động, mở rộng phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ của Nhà nước ta Người dân di cư trong giai đoạn này chủ yếu là dân cư thuộc các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định Hiện nay, họ và con cháu của họ cư trú tại hầu hết các xã trên địa bàn
Hiện nay, người Kinh định cư ở hầu hết các xã, thôn trong huyện Đơn Dương, nhưng tập trung đông nhất tại các xã Lạc Lâm, Lạc Viên, Lạc Sơn, Thị trấn Thạnh Mỹ, Thị trấn Dran … Các hoạt động kinh tế của cộng đồng người Kinh có tác động tích cực đến kinh tế – xã hội cổ truyền của các cư dân bản địa tại địa phương Bởi lẽ, các hoạt động kinh tế của cộng đồng người Kinh tại huyện Đơn Dương, là những mô hình kinh tế - xã hội cụ thể, trực quan, sống động, gần gũi, giúp đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây giao lưu trao đổi, để từng bước đổi mới và phát triển các phương thức sinh hoạt kinh tế truyền thống của mình, nhằm đạt hiệu quả cao, góp phần ổn định và cải thiện đời sống vật chất và
Trang 24tinh thần Đây chính là sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa cư dân người Kinh và
cư dân người dân tộc thiểu số tại Đơn Dương
Trong các dân tộc di cư từ nơi khác đến huyện Đơn Dương, ngoài người Kinh còn có một số các dân tộc khác, có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm thứ nhất là các dân tộc miền núi phía Bắc như người Tày, Thái, Nùng, Mường, Thổ, Mán, Dao; nhóm thứ hai là các dân tộc Tây Nguyên như M’nông, Ê Đê, H’Rê, Raglai, Xtiêng
Ơû nhóm thứ nhất, có một phần di cư đến Đơn Dương trước và sau năm
1945, phần còn lại di cư đến sau năm 1975 Phần dân cư thuộc lớp người thứ nhất, đa phần trong số họ có đời sống khá giả, cư trú chủ yếu ở thị trấn hoặc gần các thị trấn Hoạt động kinh tế chính của họ hiện nay là buôn bán, chỉ có một bộ phận nhỏ trong số họ làm nông Do có điều kiện tiếp xúc với cơ chế thị trường nên phong tục tập quán của họ có nhiều biến đổi Tuy nhiên, họ vẫn giữ được những đặc trưng cơ bản về nếp sống, các phong tục tập quán cổ truyền trong cưới hỏi, trong tang ma, điển hình như: hôn nhân theo chế độ phụ quyền, tín ngưỡng đa thần và thờ cúng tổ tiên Đối với lớp dân cư di cư đến sau năm 1975,
so với lớp người di cư đến trướcï, họ vẫn lưu giữ nhiều phong tục tập quán cổ truyền, nhất là trong trang phục của phụ nữ, như khăn đội đầu của dân tộc Thái và dân tộc Tày, quần xà cạp của dân tộc Thổ …
Hiện nay, những tộc người thuộc nhóm thứ nhất vừa nêu, sống tập trung ở một số xã như: xã Ka Đô, Thị trấn Dran, xã Lạc Nghiệp
Ơû nhóm thứ hai, họ đến cư trú tại huyện Đơn Dương chủ yếu do di dân tự
do hoặc do kết hôn Bộ phận cư dân này chiếm số lượng không nhiều, do vậy, họ không thể quần cư hình thành nên các làng tập trung mà đa phần họ cư trú xen
Trang 25kẽ với các tộc người khác Hiện nay, đa phần họ cư trú tại các xã Ka Đô, Lạc Xuân, Thị Trấn Thạnh Mỹõ
Một vài nét cho thấy, cư dân huyện Đơn Dương thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau Mỗi dân tộc có một sắc thái văn hóa riêng của tộc người bên cạnh những sắc thái văn hóa chung do điều kiện địa lý, môi trường nhân văn, yếu tố vùng quy định Nhờ vậy, văn hóa của các tộc người nơi đây đa dạng, phong phú trên cơ sở thống nhất chung theo vùng
1.1.4 Kinh tế- xã hội, văn hóa- giáo dục
Đơn Dương nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng cao nguyên, cộng thêm kiến tạo địa hình là những cánh đồng không rộng nhưng bằng phẳng nên Đơn Dương là vùng đất thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp, và đây cũng là ngành kinh tế chiếm vị trí ưu thế hơn các ngành kinh tế khác như: các ngành công nghiệp và xây dựng; các ngành dịch vụ
…
Cơ cấu trong ngành nông nghiệp của huyện Đơn Dương chủ yếu trồng trọt và chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ chỉ chiếm một vị trí nhỏ Hàng hóa trong dịch vụ chủ yếu chỉ xoay quanh các mặt hàng thiết yếu cho tiêu dùng của nhân dân, và các mặt hàng vật tư phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp Trong trồng trọt, các loại cây trồng phần lớn là cây lương thực và thực phẩm Trong chăn nuôi, cư dân phần lớn nuôi gia súc và gia cầm Trồng trọt cũng như chăn nuôi đều kinh doanh theo hình thức hộ gia đình
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến và công nghiệp khai thác lâm sản Tính từ năm 2001 đến sơ bộ năm 2005, các cơ sở công nghiệp khai thác lâm sản có chiều hướng giảm (năm
2001 có 22 cơ sở, năm 2002 có 19 cơ sở, năm 2003 có 22 cơ sở 17, năm 2004 có
Trang 2617 cơ sở, sơ bộ năm 2005 có 17 cơ sở ), ngược lại, các cơ sở công nghiệp chế biến ngày càng tăng (năm 2001 có 469 cơ sở, năm 2002 có 461 cơ sở, năm 2003 có 482 cơ sở, năm 2004 có 481 cơ sở, sơ bộ năm 2005 có 491 cơ sở ) Các ngành sản xuất trong công nghiệp chế biến, ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống chiếm số lương lớn nhất (năm 2001 có 228 cơ sở, năm 2002 có 219 cơ sở, năm
2003 có 228 cơ sở, năm 2004 có 227 cơ sở, sơ bộ năm 2005 có 228 cơ sở), kế đó là ngành sản xuất trang phục (năm 2001 có 140 cơ sở, năm 2002 có 140 cơ sở, năm 2003 có 141 cơ sở, năm 2004 có 141 cơ sở, sơ bộ năm 2005 có 141 cơ sở), ngành sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản chiếm số lượng ít nhất (năm 2001 có 1
cơ sở, năm 2002 có 1 cơ sở, năm 2003 có 1 cơ sở, năm 2004 có 1 cơ sở, sơ bộ năm 2005 có 1 cơ sở), riêng ngành sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy không có Tính tới tại thời điểm 31/12/2004, trên địa bàn huyện đã có 2 doanh nghiệp nhà nước (Nông trường giống bò sữa, Lâm trường bò sữa), một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Công ty Thanh Sơn, Công ty TNHH Apollo, Công ty TNHH Orientation, Công ty TNHH Azuzac, Công ty liên doanh Kiến
Quốc Viet can, Công ty TNHH Agropac, Công ty TNHH Đông Thăng …)
Nhìn chung, nền kinh tế huyện Đơn Dương trong những năm qua khá phát triển và ổn định Đời sống của nhân dân ngày được cải thiện, tỉ lệ đói nghèo ngày càng giảm đáng kể (Năm 1991 tỉ lệ đói nghèo chiếm 20%, năm 1988 giảm xuống còn 11,64 %, đến năm 1999 chỉ còn 7,35%) Các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng với hỗ trợ đầu tư từ nhiều nguồn vốn bước đầu đã đáp ứng nhu cầu phát triển, tiêu biểu như cho đến hiện nay, trên địa bàn huyện đã có 16 công trình phúc lợi lớn nhỏ, 2 trạm phát lại truyền hình … Trong lĩnh vực y tế và giáo dục cũng được đầu tư khá hoàn thiện với một lượng vốn đầu tư cho phát triển khá cao (năm 2004 vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo 740 triệu
Trang 27đồng, y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 400 triệu) Kết quả là tính đến giữa năm học 2004 -2005 trên địa bàn huyện đã có 11 trường mẫu giáo với 3384 học sinh, và 121 giáo viên; 36 trường phổ thông với 22502 học sinh, và 935 giáo viên Toàn huyện đã có 1 bệnh viện, 2 phòng khám đa khoa khu vực và phân viện, 10 trạm y tế xã, thị trấn Thiết nghĩ, việc đầu tư vốn cho việc phát triển y tế và giáo dục là cần thiết góp phần tạo Cơ hội phát triển nhanh và ổn định trong giai đoạn sắp tới của địa phương
1.2.1 Tên gọi
Dân tộc Cơ ho là một trong 54 dân tộc Việt Nam, theo tổng điều tra dân số tháng 4 năm 1999, dân tộc Cơ ho có 128.723 người, địa bàn cư trú phần lớn ở tỉnh Lâm Đồng và miền núi các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hoà, Ninh Thuận [10, tr.24]
Về tộc danh Cơ ho, “trong Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam do Tổng cục Thống kê công bố năm 1979 và trong các văn bản, ấn phẩm hiện hành, tộc người đang nói đến được gọi bằng tộc danh chính thức là Cơ ho Ngoài tên gọi
Cơ ho, trong các tài liệu cũ trước năm 1975 và tại tỉnh Lâm Đồng hiện nay, dân tộc này còn được gọi bằng các biến danh Kơ ho, K’ho, Ka Ho …” [10, tr 20] Cho
đến nay, có những ý kiến khác nhau trong việc giải thích tên tộc danh Cơ ho
Tác giả Mạc Đường, chủ biên sách “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng” cho rằng,
“Căn cứ trên những tài liệu điền dã dân tộc học, từ những năm 50 của thế kỷ này, các nhà nghiên cứu đã nhận định tộc danh Kơho bắt nguồn từ một khái niệm trong tiếng Chăm cổ có nghĩa tương ứng là người ở “ phía trên cao”, “ người miền núi” Tộc danh Kơho được đặc trưng cho các nhóm dân tộc có chung một ngôn ngữ ở vùng núi Lâm Viên ( xem G Brochet và J Dournes - Lexique Polyglotte,
Trang 28France - Asie, Sài Gòn, 1953, tr.57) là một tộc danh có tính tập hợp cao nhóm tộc người cùng ngôn ngữ trong một vùng địa lý dân cư cụ thể ” [11, tr.31] Trong
cùng cuốn sách vừa nêu trên, Nguyễn Văn Diệu và Phan Ngọc Chiến giải thích
“Kơho: theo truyền thuyết của người Srê ở Di Linh thì đó là tên của một người chủ làng đầu tiên khai khẩn vùng đất sinh sống hiện nay của họ” [11, tr.246] Kế
thừa kết quả nghiên cứu của những tác giả nêu trên, tác giả Bùi Minh Đạo, chủ
biên sách “Dân tộc Cơ ho ở Việt Nam” nhận định, “hiện có hai thuyết giải thích ý nghĩa tộc danh Cơ ho Thuyết thứ nhất được khởi xướng bởi hai học giả người Pháp G.Brochet và J Dournes vào năm 1953, trong đó, cho rằng, tộc danh Kơ ho là một từ Chăm, do người Chăm đặt ra, khởi thuỷ dùng để chỉ toàn bộ các sắc dân khác người Chăm, cư trú ở miền núi, vùng cao, về sau chuyển sang chỉ sắc dân lớn nhất trong vùng, là tộc người đang nói đến (TL.36) Thuyết này được nhắc lại và tán đồng trong một số ấn phẩm của Nha công tác miền Thượng thuộc chế độ Sài Gòn cũ Nó cũng được chia sẻ bởi tác giả Mạc Đường trong sách Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng (Mạc Đường (chủ biên) và các tác giả Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng Sở Văn hoá tỉnh Lâm Đồng, 1983, tr.31) Thuyết thứ hai, cũng được trình bày trong sách vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng nói trên, bởi hai tác giả Nguyễn Văn Diệu và Phan Ngọc Chiến, trong đó, căn cứ vào thuyết của người Srê, cho rằng, khởi thủy, Cơ ho là tên chủ làng đầu tiên đã khai khẩn vùng đất của người Srê, về sau, trải qua một thời kỳ dài trong lịch sử, từ tên người, Cơ ho mới chuyển thành tộc danh (Mạc Đường (chủ biên) và các tác giả Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng Sở Văn hoá tỉnh Lâm Đồng, 1983, tr.246) [10, tr.20-21] Vương Hoàng Trù trong sách “Người Kơho ở Lâm Đồng, nghiên cứu nhân học về dân tộc và văn hóa” cho rằng, nguồn gốc danh xưng Cơ ho,“nó bắt nguồn từ cách gọi của người Chăm để chỉ những tộc người thuộc ngữ hệ Môn - Khmer sống gần với họ và không cùng ngôn ngữ với họ Những tộc người đó không chỉ là người Xrê, người Chil, người
Trang 29Lạch, người Nộp … (hiện nay được gộp chung vào dân tộc Kơho) mà cả người Mạ, người M’nông, người Xtiêng … cũng có thể được người Chăm gọi là Kơho” [4,
1.2.2 Nhóm địa phương của người Cơ ho
Về tộc người, “người Cơ ho không phải là một tộc người thuần nhất mà bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau … Theo danh mục Thành phần các dân tộc thiểu số Việt Nam công bố năm 1979, người Cơ ho có các nhóm địa phương như sau: Srê, Nộp, Cà Dòn, Chil, Lạt (Lạch)” [10, tr 22] “Trong một tài liệu xuất bản năm 1982, Hickey viết rằng Kơho là một nhóm ngôn ngữ và nên được phân chia thành nhiều dân tộc khác nhau, trong đó người “Maa”, “Sre”, và
“Lat ” đã được xác định rõ, còn “Tring”, “Nọp”, “Rdaa”, “Koyon”, và “Dalaa” thì ít rõ ràng hơn (trang 6) Các tác giả cuốn Minority Groups in the Republic of Vietnam có vẻ cùng quan niệm Kơho là một nhóm ngôn ngữ bao gồm nhiều nhóm dân tộc khác nhau là “Chrau, Kil, Lat, Laya, Ma, Nop, Pru, Rien, Sre, và Tring”
Trang 30(Schrock, Joann L., et al, 1996, Minority Groups in the Republic of Vietnam Department of the Army Pamphlet No 550-105 Washington D.C : Headquarters, Department of the Army, trang 389)” [4, tr.232] Tác giả Mạc Đường, chủ biên sách “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng”, xuất bản năm 1983, nhận định, nhóm tộc danh Cơ ho “ là một tộc danh có tính tập hợp cao nhóm tộc người cùng ngôn ngữ trong một vùng địa lý dân cư cụ thể Các tộc danh khác như Chil, Lạt, Srê, Cơdon hay còn gọi là Queton, Kayon, Mangtố, Tôla hay Tơla, Baja, Tangâu hay Đangao, Langâu hay Langao”[11, tr 31] Một bài viết có tựa đề “người Kơho” của hai tác giả Nguyễn Văn Diệu và Phan Ngọc Chiến, trong cùng sách “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng”, Mạc Đường (chủ biên), xuất bản năm 1983, cho rằng “ người Kơho
… bao gồm các nhóm địa phương Srê, Nộp, Cơdon, Tố La (Tơ La), Măng Tố (prô),
B aja, Tà Ngâu (Đạ ngao), Chil, Lạt”[11, tr.246] “Nhà nghiên cứu Phan Xuân Biên, từng nghiên cứu nhiều năm về người Kơho và Chil ở Lâm Đồng, … Ông viết: Dân tộc K’ho (Cơho) ở Nam Tây Nguyên: ngoài nhóm Srê là hạt nhân, các nhóm khác như Nộp, Kơdòn, Chil, Lạt, Tơring có lẽ cần phải nghiên cứu kỹ hơn Có thể Chil, Lat, Tơring vốn có cùng nguồn gốc, nhưng trong quá trình lích sử đã có những hướng phát triển khác nhau, không có những quan hệ gần gũi với các nhóm như Srê, Tố La, La dạ, La Ngâu v.v….(ibid )” [4, tr.215-216] Các tác giả viết về các dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên ở Lâm Đồng, trong sách “Địa chí Lâm Đồng”, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, 2001, cũng cho rằng dân tộc Cơ ho
“gồm nhiều nhóm địa phương như : Srê, Chil, Nộp, Lạch, Cơ Dòn”[43, tr.76]
Tác giả Trần Sĩ Thứ, trong sách “Dân tộc dân cư Lâm Đồng”, nhà xuất bản thống kê, 1999, cùng quan điểm cho rằng dân tộc Cơ ho gồm năm nhóm địa
phương như vừa nêu trên Tác giả Bùi Minh Đạo, chủ biên sách “ Dân tộc Cơ ho
ở Việt Nam “, xuất bản năm 2003, cho rằng dân tộc Cơ ho bao gồm nhiều nhóm địa phương, “Khẳng định số lượng nhóm địa phương của dân tộc Cơ ho là bao
Trang 31nhiêu vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu”[10, tr.23] “Ông Đàm Xuân Đêu, Trưởng ban Dân tộc - Miền núi tỉnh Lâm Đồng, cho biết hiện nay trong dân tộc Kơho có khoảng 10 nhóm mang các tên gọi Xrê, Lạch, Chil, Nộp, Tố La, Măng Tố, Prộ, Lai Yạ, Cờ Đòn, Bơ Ya Ông nói, cho đến hiện nay ý nghĩa và nguồn gốc của từ Kơho vẫn còn là một “ẩn số” Người ta chưa biết tộc danh Kơho xuất phát từ đâu và mang ý nghĩa gì trong khi ý nghĩa của tên gọi của các nhóm địa phương có thể hiểu được”[4, tr.249] Tác giả Phan Ngọc Chiến, chủ biên sách “ Người Kơho ở Lâm Đồng, nghiên cứu nhân học về dân tộc và văn hoá”, trình bày một số nhân xét cá nhân về thành phần dân tộc ở Lâm Đồng, tác giả viết: “trong quá khứ, và cho đến hiện nay, ngoài cộng đồng ngôn ngữ Kơho bao gồm một số dân tộc thuộc ngữ hệ Môn- Khmer kể cả người Mạ, ở Lâm Đồng còn có sự tồn tại của một cộng đồng dân tộc mang tên Kơho và có lẽ cộng đồng dân tộc này chỉ có hai nhóm địa phương trước khi được các nhà dân tộc học mở rộng để bao gồm nhiều nhóm khác Hai nhóm địa phương đó là KơhoXrê, tức là người Kơho làm ruộng nước, và Kơho Mir (theo nguồn thông tin ở xã Đạ K’ Nàng, người Kơho Xrê ở bên kia (tức là phía nam) đèo Phú Sơn (thuộc huyện Lâm Hà) thường gọi nhóm Kơho Mir là Kơho Mạ), là những người Kơho sinh sống bằng nghề làm rẫy (mir)” [4, tr.232]
Từ những đoạn trích dẫn nêu trên cho thấy, đến hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về số lượng nhóm địa phương của dân tộc Cơ ho, nhưng tựu chung, tất cả các ý kiến nêu trên đồng quy tại điểm chung cho rằng, Cơ ho Srê là nhóm địa
phương trong cộng đồng dân tộc mang tên Cơ ho
Về tên gọi “Cơ ho Srê”, hầu hết các nhà nghiên cứu đồng tình cho rằng,
“Srê” theo tiếng Cơ ho có nghĩa là “nước”, do vậy, “Cơ ho Srê” nghĩa là người
Cơ ho chuyên làm ruộng nước (xem : Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, trang 108; Mạc Đường (chủ biên) và một nhóm tác giả, Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Sở Văn
Trang 32hoá thông tin tỉnh Lâm Đồng, 1983, trang 248; Bùi Minh Đạo (chủ biên), Vũ Thị Hồng, Dân tộc Cơ ho Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003, trang 23; Phan Ngọc Chiến (chủ biên), Người Kơho ở Lâm Đồng, nghiên cứu nhân học về dân tộc và văn hoa, Nhà xuất bản trẻ, 2005, trang 232) Trong thời gian nghiên
cứu tại địa bàn huyện Đơn Dương, chúng tôi phỏng vấn một số người dân tại thôn Ka Đô Mới xã Ka Đô, thôn Cambuốtte I của xã Tu Tra; thôn Ka Rái, thôn
Ka Đê, thôn Krăngchơ thuộc xã Ka Đơn; thôn Ka Đô Mới thuộc xã Ka Đô; thôn M’lon thuộc thị trấn Thạnh Mỹ; thôn Mơ Răng thuộc xã Lạc Lâm; thôn LaBouye thuộc xã Lạc Xuân; thôn Ka Rái xã Ka Đơn … , hầu hết người dân địa phương đều giải thích giống ý kiến của các nhà nghiên cứu như nêu trên
Hiện nay, “nhóm Kơho Xrê cư trú trên một địa bàn rộng lớn gồm nhiều huyện khác nhau từ Bảo Lộc đến Di Linh, Đức Trọng, Đơn Dương, và Lâm Hà”
[4, tr.233] Tại địa bàn huyện Đơn Dương, theo kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở 01/04/1999, Đơn Dương có 13747 người Cơ ho, trong đó có người Cơ
ho Srê, phân bố trong các thôn thuộc các xã, như: thôn Cambuốtte I của xã Tu Tra; thôn Ka Rái, thôn Ka Đê, thôn Krăngchơ của xã Ka Đơn; thôn Ka Đô Mới của xã Ka Đô; thôn Suối Thông A, thôn Dròn của xã Đạ Ròn; thôn M’lon, thôn Nghĩa Hội của thị trấn Thạnh Mỹ; thôn Mơ Răng của xã Lạc Lâm; thôn Lạc Bình, thôn LaBouye, thôn B’Kăn của xã Lạc Xuân; thôn Hamasing của thị trấn Dran
1.2.3 Người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương
Hiện nay, trên địa bàn huyện Đơn Dương, đa phần nhóm Cơ ho Srê theo Công giáo Theo số liệu của Toà Tổng Giám Mục Đà Lạt cung cấp ngày 22/9/2005, trong toàn giáo hạt Đơn Dương có 11.809 người, phân bố ở các giáo xứ như: giáo xư Tu Tra, giáo xư Próh, giáo xư Ka Đơn, giáo xư Ka Lạc Hoà (Ka Đô), giáo xư Lạc Viên, giáo xứ Lạc Sơn, giáo xứ Thạnh Mỹ, giáo xư Suối
Trang 33Thông Phần người Cơ ho còn lại theo Tin Lành, cư trú chủ yếu tại thôn Hamasing của thị trấn Dran Xét ở thời điểm hiện tại, người Cơ ho huyện Đơn Dương chỉ theo Công giáo hoặc Tin Lành, chưa theo các tôn giáo khác
Người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương là một nhóm địa phương của cộng đồng dân tộc với tên gọi chung Cơ ho, nên trong xã hội truyền thống, họ cũng
cư trú theo hình thức bon làng “Các đơn vị xã hội cao như xã, tổng, huyện, tỉnh, nhà nước tuy được áp đặt vào vùng Kơho từ thời thuộc Pháp, nhưng với người dân, vai trò và hiệu lực vẫn còn mờ nhạt cho đến mãi ngày thống nhất đất nước năm 1975”[10, tr 100] Trong xã hội cổ truyền, làng của người Cơ ho, “về mặt địa lý, làng là một khoảnh đất rộng vài ba cây số vuông, trên vùng núi cao hoặc đuôi thung lũng Giữa các làng có đường ranh giới đánh dấu bằng các cột mốc thiên nhiên như con sông, rìa suối hoặc đỉnh đồi do các chủ làng quy ước với nhau Về kinh tế, mỗi thành viên trong làng đều có quyền quản lý một số đất đai của cộng đồng làng theo sự hướng dẫn của người đứng đầu làng và các chủ rừng (…) Làng là đơn vị kinh tế mang tính chất tự cung tự cấp” [40, tr 111] Về mặt xã hội, “làng Cơ ho vốn là những công xã thị tộc mẫu hệ, trong đó, trừ những người là chồng, là rể từ các công xã khác tới do quan hệ hôn nhân, bao gồm những người cùng huyết thống tính theo dòng mẹ, với quy mô trên dười 100 người,
cư trú trong 5-10 nóc nhà dài” [10, tr 100] Hiện nay, người Cơ ho Srê huyện
Đơn Dương vẫn cư trú theo hình thức bon làng Về địa lý, làng thường ở dưới các thung lũng thấp hoặc vùng cao nguyên tương đối bằng phẳng Ranh giới giữa các làng thường được đánh dấu bởi các dãy núi hay các dòng sông, đôi lúc là một cây xoài hay cây đa Qua khảo sát tại địa bàn huyện Đơn Dương, chúng tôi nhận thấy, làng của người Cơ ho Srê phân bố trên hai dạng địa hình chính, là dưới các thung lũng và trên những những vùng đồi bằng phẳng Các làng nằm dưới các thung lũng thấp, như: làng M’lon, làng Nghĩa Hội thuộc thị trấn Thạnh Mỹ; làng
Trang 34Mơ Răng thuộc xã Lạc Lâm; làng Lạc Bình, làng LaBouye, làng B’Kăn thuộc xã Lạc Xuân Các làng tọa lạc trên những vùng cao nguyên tương đối bằng phẳng, như làng Cambuốtte I thuộc xã Tu Tra; làng Ka Rái, làng Ka Đê, làng Krăngchơ thuộc xã Ka Đơn; làng Ka Đô Mới thuộc xã Ka Đô; làng Hamasing thuộc thị trấn Dran; làng suối thông A thuộc xã Đạ Ròn Về kinh tế, mỗi hộ trong làng được quyền sở hữu một số đất đai trong làng dưới sự hướng dẫn của chủ làng, trong quyền quản lý của nhà nước, và làng không còn là một đơn vị kinh tế tự cung, tự cấp mà có sự thông thương trao đổi với các làng khác trong vùng Về xã hội, làng là một công xã láng giềng, mang đậm dấu vết của công xã thị tộc mẫu hệ, và phần lớn, các thành viên trong làng đều là những người có quan hệ họ hàng với nhau về phía mẹ Trong truyền thống, mỗi làng được hình thành bởi những ngôi nhà sàn dài sát cạnh nhau, có những ngôi nhà dài hàng trăm mét, hiện nay như ngôi nhà dài như thế không còn nữa mà thay thế vào đó là những ngôi nhà làm bằng ván lợp tôn hay xây bằng xi măng lợp tôn hoặc ngói Những ngôi nhà sàn truyền thống còn rất ít, thậm chí không còn
Trang phục của người Cơ ho Srê nơi đây tương đối giống với các dân tộc bản địa cùng cộng cư Trong truyền thống, vào những ngày thường, phụ nữ thường mặc váy (ùi), phần từ thắt lưng trở lên thường để trần, hoặc đôi khi mặc áo; đàn ông đóng khố (trònh), phần từ thắt lưng trở lên để trần Trong xã hội truyền thống cũng như hiện nay, người Cơ ho Srê, giống với người Cơ ho Nộp và người Cơ ho Lạt (Lạch), họ không tự dệt y phục, mà chủ yếu do trao đổi mua bán từ các nhóm địa phương có nghề dệt, như Cơ ho Chil, hoặc người Mạ, hoặc người Chăm Váy (ùi) là một tấm vải (dệt theo kích thước của người mặc) vấn quanh người Kiểu váy không phụ thuộc vào tuổi tác của người mặc Khố (trònh) là một tấm vải rệt theo khổ 2m x 20 – 40 cm; phía hai đầu khố có kết nhiều dải
Trang 35tua Trong những ngày lễ tết, trang phục của họ Cơ hầu như không có gì thay đổi, ngoại trừ đeo ở cổ, tay, tai một số những phụ trang đi kèm như nhẫn, các vòng cườm, bông tai Đối với cô dâu, chú rể họ cũng mặc trang phục có kiểu giống như ngày thường, chỉ khác là chiếc quầy, chiếc khố là những cái mới nhất mà họ có Phụ trang cô dâu đeo trong ngày cưới là những chuỗi hạt cườm, chiếc nhẫn bằng bạc Hiện nay, đa phần người phụ nữ không còn mặc quầy, đàn ông không đóng khố, thay vào đó là mặc quần theo kiểu người Việt Họ chị mặc quầy và đóng khố trong những dịp lễ hội mang tính chất truyền thống Cô dâu mặc xoa-rê, chú rể mặc véc- tông theo kiểu phương Tây Riêng các thầy cúng hiện nay không còn hành nghề
Trang sức phổ biến nơi người Cơ ho là nhẫn bạc (sơ biăt priă), vòng đeo tay bằng đồng (kòng) và những chuỗi cườm (dăng đong) Nhẫn bạc (sơ biăt priă) được đeo ở cả nam và nữ Kiểu loại không phụ thuộc giới tính, tuổi tác của người sử dụng Giống như nhẫn bạc (sơ biăt priă), vòng đeo tay bằng đồng (kòng) dùng cho cả hai giới nam và nữ Kiểu dáng của vòng có khác theo giới, thường vòng của nữ có kích cỡ nhỏ mảnh hơn vòng của nam, trên vòng có những đường nét trạm khắc Khác nhẫn bạc và vòng đồng, những chuỗi cườm (dăng đong) chỉ được phụ nữ dùng Chuỗi cườm (dăng đong) của người Cơ ho Srê giống chuỗi cườm (dăng đong) của người Churu, nhưng khác chuỗi cườm (dăng đong) của người Cơ ho Chil Chuỗi cườm (dăng đong) của người Cơ ho Srê gồm nhiều sợi kết bện với nhau Chuỗi cườm (dăng đong) của người Cơ ho Chil thường chỉ có một sợi Hạt cườm (gar đong) trong chuỗi cườm của người Cơ ho Chil có kích thước lớn hơn hạt cườm trong chuỗi cườm của người Cơ ho Srê
Trang 36Hiện nay, người Cơ ho Srê nơi đây, xu hướng chung là một số trang sức hiện đại đang dần thay thế cho những trang sức truyền thống Việc dùng trang sức hiện đại đang chiếm thị hiếu chung trong người Cơ ho Srê nơi đây
Do chịu sự chi phối bởi môi trường địa lý, sinh thái vùng văn hóa, đặc biệt là đặc điểm của phương thức canh tác, tạo nên những sắc thái văn hóa trong ăn uống riêng biệt mang tính chất vùng, bên cạnh các sắc thái văn hóa trong ăn uống mang đặc trưng chung của tộc người Người Cơ ho Srê cư trú huyện Đơn Dương giống người Cơ ho Srê cư trú tại các địa phương khác, trong truyền thống cũng như hiện nay, phương thức canh tác của họ là trồng lúa trên ruộng nước, nên gạo là lương thức chính trong các bữa ăn thường ngày Tuy nhiên, có nhiều điểm khác biệt về thực phẩm trong cấu trúc bữa ăn của cùng người Srê nhưng cư trú trong những địa phương khác nhau Người Cơ ho Srê cư trú trong các vùng sâu, vùng xa, gần rừng núi thì trong bữa ăn của họ có nhiều rau rừng đặc biệt là măng tre, nhiều cá, cua, ốc tát được trong các sông suối Thực phẩm trong các bữa ăn của họ thường đơn giản và có nhiều món ăn mang tính chất dân giã Ngược lại, người Cơ ho cư trú gần các thị trấn, thị tứ, bữa ăn tương đối phong phú, trong bữa ăn có nhiều rau, hoa, quả Thức ăn của họ đa phần do tự trồng trọt hoặc mua ngoài chợ Đi phụ kèm với thức ăn trong bữa ăn thường là rượu cần (rờnờm) Tuy nhiên, có nhiều trường hợp họ chỉ uống rượu cần mà không ăn, nhất là vào trong những dịp đón khách Hiện nay, ở một bộ phận dân cư dân tộc, vào những ngày lễ, tết, đám cưới, đám ma, họ uống bia hoặc rượu trắng thay rượu cần (rờnờm) Trong truyền thống, thức hút phổ biến của người Cơ ho Srê nơi đây là lá cây rừng, thuốc rê Hiện nay, hầu như người Cơ ho Srê nơi đây hút thuốc rê, hoặc bắt chước người Việt hút thuốc lá
Trang 37Trong nông nghiệp, công cụ canh tác lúa nước thường là cuốc, cày, bừa; công cụ canh tác hoa màu thường dùng các loại như chà gạt, bồ cào, xà bất Trước đây, khi cày, bừa đất hay chuyên chở vật liệu từ nhà ra vườn, hoặc chuyên chở hoa màu từ vườn về nhà người Cơ ho Srê nơi đây chủ yếu dùng sức kéo của trâu bò hay sức người Ngày nay, họ đã sử dụng một số loại động cơ cơ giới như máy cày, máy bừa, xe gắn máy … Việc lưu thông thường ngày đa phần là dùng
xe gắn máy, thi thoảng mới có người đi bộ Hầu hết trong các gia đình đều có Tivi, đầu máy, máy hát … Tuy nông cụ, công cụ trong sinh hoạt phong phú và tiến bộ, nhưng người Cơ ho Srê và các dân tộc thiểu số cùng cộng cư tại huyện Đơn Dương vẫn dùng Gùi khá phổ biến Gùi dùng vào nhiều chức năng khác nhau Gùi được dùng là một công cụ không thể thiếu trong nông nghiệp như: dụng cụ đựng hạt giống khi gieo hạt, chuyên chở sản phẩm khi thu hoạch … Gùi là dụng cụ không thể thiếu trong sinh hoạt thường ngày như: đựng thức ăn khi ra vườn, dùng đi chợ hoặc đi chơi thăm bà con họ hàng Gùi đựng các vật dụng thờ cúng vào các ngày cúng của gia đình, dòng họ, bon làng, điển hình như lễ mở mắt trong đám tang …
Với những đồ gia dụng trong nhà, những nông cụ trong sản xuất nông nghiệp, các phương tiện vận chuyển cùng với những thay đổi trong trang phục và đồ ăn, thức uống thường ngày góp phần cho thấy đời sống của người Cơ ho Srê nơi đây đã có nhiều thay đổi Dù thay đổi để bắt kịp nhịp tiến bộ của xã hội thì một số phong tục tập quán của họ vẫn không mất đi Điển hình như cho đến hiện nay, họ vẫn cư trú theo hình thức bon làng Trong xã hội cổ truyền, làng của người Cơ ho có thiết chế tự quản khá chặt chẽ Đứng đầu làng có một chủ làng
(quăng bon) và một hội đồng già làng gồm các chủ nóc (kun pang) “Chủ làng thường là người đàn ông đứng tuổi, giàu có (nhiều đất đai, trâu, chiêng, ché), được dân làng vị nể bởi có kinh nghiệm sản xuất, khả năng giao dịch và kiến thức
Trang 38về luật tục dân tộc Nếu làng bao gồm nhiều dòng họ khác nhau thì chủ làng thường là người có uy tín của dòng họ lớn nhất trong làng”[10, tr.102] Chủ làng
(quăng bon) do cộng đồng dân làng bầu chọn chứ không do cha truyền con nối Việc đảm nhiệm chức chủ làng không tính theo nhiệm kỳ, mà thời gian đảm nhiệm chức vụ dài hay ngắn phụ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh khách quan Thường, chủ làng (quăng bon) chỉ được bãi nhiệm khi quá già yếu không đảm đương nổi, hay bệnh tật qua đời Tuy nhiên, chủ làng (quăng bon) cũng có thể bị phế truất nếu dân làng thấy người chủ làng đó không xứng đáng về đạo đức phẩm chất hoặc năng lực điều hành Ngoài ra cũng có trường hợp chủ làng bị bãi nhiệm vì trong làng xảy ra các dịch bệnh, thiên tai, mất mùa … , trong trường hợp này, dân làng quan niệm vị chủ làng đương nhiệm không được thần linh phù trợ
“Quyền hạn và trách nhiệm của chủ làng khá rộng lớn và toàn diện, bao gồm: Về chính trị, là đại diện cao nhất của làng như một đơn vị tổ chức xã hội độc lập có quyền bình đẳng với các làng xung quanh;về kinh tế, điều hành việc làm ăn, sản xuất và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của làng; về xã hội, điều phối các mối quan hệ giữa các thành viên trong làng với nhau và giữa làng mình với các làng khác thông qua và theo luật tục và tập quán pháp dân tộc; về ngoại giao, thay mặt dân làng tiếp đón đại diện các buôn láng giềng và khách từ nơi khác đến thăm hỏi, buôn án, giao dịch …, về tín ngưỡng, là chủ tế trong các lễ hội cộng đồng như lễ ăn mừng lúa mới, lễ cầu mưa … Ngoài ra, quyết định các công việc lớn trong làng như chiến tranh, chuyển làng, chọn đất lập làng cũng là công việc của chủ làng” [10, tr 102-103] “Người chủ làng tuy nắm quyền lực công cộng, nhưng không độc đoán chuyên quyền, chủ làng chỉ đại diện cho dân làng, cho cộng đồng, thực hiện ý nguyện của dân làng, quyền lực của chủ làng không phải là quyền lực cá nhân, ông ta chưa đứng tách ra, càng chưa đứng lên trên cộng đồng, mà cũng chỉ là một thành viên của cộng đồng, cùng ăn, cùng ở, cùng
Trang 39lao động sản xuất, cùng chiến đấu để bảo vệ buôn làng như các thành viên khác của cộng đồng” [6, tr 609- 610]
Giúp việc cho chủ làng (quăng bon) điều hành các công việc cộng đồng là một số chức dịch cũng do dân cử như: Hội đồng già làng (rơ gum bon, kơ loa
rơ băng bon, chau krạ hay chau krạ bon), người trông nom, quản lý đất đai (chau pô bri, chau quăng bri hay chau át pu te bri), thầy bói (pơ thía), thầy cúng (pơ dâu hay chau lo yàng), bà mụ đỡ đẻ (chau mu le con, chau đưng đê hay chau boi) Hội đồng già làng (rơ gum bon, kơ loa rơ băng bon, chau krạ hay chau krạ bon) bao gồm trên dưới 10 người, là những người già, các trưởng họ từ các nhà dài, nắm vững phong tục tập quán, có nhiệm vụ tư vấn cho chủ làng về công việc trọng đại của làng, cũng như tư vấn cho chủ làng về công việc xét xử các vụ việc theo luật tục Người trông nom quản lý đất đai hay chủ rừng (chau pô bri, chau quăng bri hay chau át pu te bri) có trách nhiệm giúp chủ làng xem xét, theo dõi việc quản lý và sử dụng đất đai, rừng suối và các nguồn tài nguyên đất rừng của các gia đình thành viên trong và ngoài cộng đồng theo luật tục Thầy bói (pơ thía) làm công việc đoán định nguyên nhân dẫn đến ốm đau, rủi ro xảy
ra trong làng, trong dòng họ hay trong các gia đình Trên cơ sở những đoán định của thầy bói, thầy cúng sẽ biết phải tiến hành việc cúng bái thế nào để người ốm hết bệnh, người gặp không may tai qua nạn khỏi Thầy cúng (pơ dâu hay chau lo yàng) trong nhiều trường hợp còn là thầy thuốc chữa bệnh (chau dưng teh), người có khả năng giao tiếp với thần linh, cầu khấn thần linh đem lại những điều tốt lành cho con người trong các lễ nghi nông nghiệp của gia đình và cộng đồng Bà mụ (chau mu le con, chau đưng đê hay chau boi) làm các công việc đỡ đẻ cho các sản phụ trong làng [10, tr.103-104] Hiện nay, trong các làng của người Cơ ho Srê huyện Đơn Dương không còn chủ làng (quăng bon), mà chỉ có hội đồng già làng (rơ gum bon, kơ loa rơ băng bon, chau krạ hay chau krạ bon)
Trang 40Già làng trong Hội đồng già làng không qua bầu cử mà tất cả những người lớn tuổi, có sức khỏe đều được mời vào hội đồng già làng của làng Hội đồng già làng (rơ gum bon, kơ loa rơ băng bon, chau krạ hay chau krạ bon) không còn quyền quyết định tuyệt đối mọi việc trong làng cũng như trong gia đình các thành viện của bon làng như trong truyền thống, mà các quyền này đã bị san sẻ sang các tổ chức chính quyền địa phương, các tổ chức của các tôn giáo (Tin Lành, Công giáo)
Trong xã hội truyền thống cũng như hiện nay, mỗi làng người Cơ ho Srê nơi đây bao gồm nhiều dòng họ (cớp chưi) hợp thành, tiêu biểu như làng Ka Đô Mới thuộc xã Ka Đô gồm có các họ chính là Sol ao, Lâm viên, B’nahria, Nưng sang, Touprong, Drong, Touneh, Đa đơng; làng Ka Rái thuộc xã Ka Đơn gồm có các họ là Sol ao, Lâm viên, B’nahria, Nưng sang … Cai quản dòng họ là trưởng họ, thường là chồng của người phụ nữ cao tuổi có uy tín trong ho (pô cớp chưi)ï Mỗi dòng họ lại bao gồm các hộ gia đình (hiu) Đứng đầu gia đình là các chủ nhà (pô hiu) Trưởng họ và chủ gia đình đại diện cho họ và giai đình mình trong việc cùng chủ làng, hội đồng già làng bàn bạc quyết định các công việc liên quan đến cộng đồng
“Tham gia vào công việc duy trì xã hội không thể không kể đến vai trò hết sức to lớn của luật tục Đó là luật tục chưa thành văn, nội dung bao gồm rất nhiều điều cụ thể nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên, trong đó, đặc biệt nhằm duy trì tập quán liên quan đến hôn nhân gia đình, đến giữ gìn trật tự xã hội và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nơi cư trú, được truyền miệng từ đời này qua đời khác, được dân làng, nhất là chủ làng và các già làng nhớ rõ và vận dụng nhuần nhuyễn vào cuộc sống hằng ngày” [10, tr.105] Điển hình như trong hôn nhân, theo luật tục của người Cơ ho
nơi đây, sau khi đã tiến hành lễ hỏi, nếu cậu con trai bỏ cô gái thì gia đình nhà