Với hy vọng góp phần xây dựng và bổ sung vào bức trang ngôn ngữ học của tiếng Việt Nam Bộ cuối TK XIX trên cứ liệu văn bản văn học Nam Bộ, chúng tôi quyết định chọn tiêu đề “Đặc điểm về
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGƠN NGỮ
CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP
TRƯỜNG NĂM 2013
Tên cơng trình:
ĐẶC ĐIỂM VỀ PHONG CÁCH KHẨU NGỮ VÀ PHONG CÁCH NGƠN NGỮ VIẾT CỦA TIẾNG VIỆT NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ( KHẢO SÁT
QUA MỘT SỐ VĂN BẢN VĂN HỌC NAM BỘ)
Sinh Viên Thực Hiện: Lê Phương Thảo
Lớp : Ngơn ngữ K10
Niên khĩa: 2010 – 2014
Người hướng dẫn : TS Đỗ Thị Bích Lài
TP Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 03 năm 2013
Trang 2CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT 1
DẪN NHẬP 2
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CƠ SỞ 11
1.1.Các vấn đề lí thuyết về phong cách học 11
1.2.Phong cách khẩu ngữ 13
1.3.Phong cách ngôn ngữ viết (phong cách ngôn ngữ văn chương) 15
1.4.Giới thiệu sơ lược về các tác giả và tác phẩm được chọn làm ngữ liệu để khảo cứu của đề tài 17
Chương II Đặc điểm về phong cách khẩu ngữ của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX 19
2.1.Xét về phương diện ngữ âm 19
2.2.Xét về phương diện từ vựng 31
2.3.Xét về phương diện ngữ pháp 39
Chương III Đặc điểm về phong cách ngôn ngữ viết của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX 47
3.1.Xét về phương diện ngữ âm 47
3.2.Xét về phương diện từ vựng 58
3.3.Xét về phương diện ngữ pháp 71
KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DẪN NHẬP
1.Lí do chọn đề tài
Những năm cuối thế kỷ XIX là thời kì nền văn học viết của nước ta đi từ giai đoạn phôi thai và đang dần tiến đến thời kì trưởng thành Nằm trong tổng thể đó, văn học quốc ngữ Nam Bộ đã có những đóng góp vô cùng to lớn, đảm nhiệm vai trò tiên phong, dẫn đường Nền văn học quốc ngữ Nam Bộ đã sản sinh ra hàng chục cây bút với một lượng tác phẩm lớn và được độc giả đương thời tiếp nhận nồng nhiệt
Tuy nhiên có một thực tế cần phải thừa nhận rằng: dù đóng vai trò tiên phong, mở đường nhưng dường như bộ phận văn học này chưa được đánh giá đúng tầm quan trọng của nó Đã có nhiều bài viết về văn học quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn cuối TK XIX, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu tỉ mỉ những đóng góp to lớn của bộ phận văn học này Cũng như chưa có công trình nào đi sâu chuyên biệt nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ học của một số văn bản văn học xuất bản ở Nam Bộ trong giai đoạn cuối TK XIX Trong những năm trở lại đây, nhận thấy vai trò quan trọng cũng như sự đóng góp lớn lao của văn học quốc ngữ Nam Bộ, đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu, khảo sát, đánh giá để đưa bộ phận văn học này về lại vị thế thế đúng đắn của nó Trong
số đó phải kể đến những công trình “Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn
học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX” của PGS – TS Đoàn
Lê Giang làm chủ nhiệm đề tài và công trình “Tiếng Việt Nam Bộ cuối thế TK
XIX – 1945: Những vấn đề về từ vựng.” do TS Đỗ Thị Bích Lài làm chủ nhiệm
đề tài Đây là những công trình nghiên cứu văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối TK XIX – đầu TK XX với một quy mô lớn, khoa học và vô cùng tỉ mỉ
Với hy vọng góp phần xây dựng và bổ sung vào bức trang ngôn ngữ học của tiếng Việt Nam Bộ cuối TK XIX trên cứ liệu văn bản văn học Nam Bộ,
chúng tôi quyết định chọn tiêu đề “Đặc điểm về phong cách khẩu ngữ và
phong cách ngôn ngữ viết của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX (khảo sát qua một số văn bản văn học Nam Bộ)” làm đề tài nghiên cứu khoa học của chúng
tôi
Trang 52.Lịch sử nghiên cứu đề tài
Chữ quốc ngữ chúng ta đang sử dụng vốn do các giáo sĩ Châu Âu tạo ra khi họ mới đến Việt Nam vào đầu TK XVI Trong số này công trình của A De Rhodes là đáng kể nhất với cuốn từ điển Việt – Bồ - La xuất bản 1651 khi tác giả kế tục những thành quả của những người đi trước như Gaspar de Amara (từ điển Việt – Bồ), Antonia Barboso (từ điển Bồ - Việt)
Khi quân Pháp vào chiếm Việt Nam hồi giữa TK XIX, song song với tiếng Pháp, chữ viết này càng được sử dụng triệt để khi người ta nhận ra được hiệu quả thiết thực của nó, rồi trở thành chữ viết chính thức của cả nước, vì vậy gọi là chữ quốc ngữ Với hình thái dấu chữ, các dấu thanh và các khuôn vần, chữ quốc ngữ tiêu biểu được lối nói riêng biệt của người Việt Nam, nhưng thật
ra cũng chưa được hoàn thiện và hoàn mỹ lắm Chữ quốc ngữ được lan rộng ở Nam Kỳ sớm hơn cả là nhờ một số học giả đã nắm bắt được học thuật Âu tây khi người Pháp mới đến Việt Nam
Tiếng Việt ở Nam Bộ vào nửa sau TK XIX không chỉ phát triển mạnh mẽ trong sinh hoạt giao tiếp mà còn cả trong việc nghiên cứu sâu về chính bản thân tiếng Việt Ngay tại Nam Bộ vào cuối TK XIX cũng đã xuất hiện những nghiên cứu rất sớm về ngôn ngữ học một cách nghiêm túc, cho dù khoa học ấy chỉ mới bắt đầu chớm nở ở Châu Âu Trương Vĩnh Ký là người đi tiên phong trong lĩnh vực này Ngoài ra còn có những đồng nghiệp và học trò của ông với cùng tâm huyết đưa chữ quốc ngữ đến với tầng lớp người Việt Nam ở Nam Bộ như Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản,…
Trong lĩnh vực ngôn ngữ, có rất nhiều công trình nghiên cứu về chữ quốc ngữ thời kì phôi thai Những nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển
của chữ quốc ngữ thời kì phôi thai rất có giá trị như “Chữ quốc ngữ từ TK XVII
→ cuối TK XIX” của Lê Ngọc Trụ, “Những chặng đường của chữ viết quốc ngữ” của Thanh Lãng, hay “Nhận xét sơ bộ về một vài đặc điểm ngôn ngữ trong văn xuôi cuối thế kỉ XIX” của Nguyễn Tài Cẩn Bên cạnh đó, cũng có
nhiều công trình nghiên cứu về Tiếng Việt như “Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt”
Trang 6của Nguyễn Kim Thản và “Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ
nghĩa” của Cao Xuân Hạo
Trên ngữ liệu là các văn bản văn học và báo chí trong giai đoạn cuối thế
TK XIX – XX, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
-“Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế
kỷ XIX – đầu thế kỷ XX” (2009) của PGS – TS Đoàn Lê Giang làm chủ nhiệm
đề tài
-“Tiếng Việt Nam Bộ cuối thế TK XIX – 1945: Những vấn đề về từ vựng.”
(2010) do TS Đỗ Thị Bích Lài làm chủ nhiệm đề tài
Ngoài ra còn có các luận văn và khóa luận nghiên cứu về tiếng Việt Nam
Bộ, chẳng hạn như:
-Bùi Quang Thục Anh, Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt (Khảo sát qua Gia
Định báo), Khóa luận tốt nghiệp đại học, trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, 2011
-Dương Thị My Sa, Từ địa phương Nam Bộ trong một số tác phẩm văn
học Nam Bộ giai đoạn cuối TK XIX – đầu TK XX, Khóa luận tốt nghiệp đại học,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, 2009
-Nguyễn Văn Thành, Đặc điểm từ vựng và ngữ pháp trong tác phẩm của
Trương Vĩnh Ký, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Tp Hồ Chí Minh, 2009
-Khúc Thủy Liên, Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt trong một số tác
phẩm Nam Bộ giai đoạn cuối TK XIX, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, 2011
Từ lịch sử nghiên cứu đề tài chúng ta có thể thấy rằng, chưa có một đề tài hay công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và bao quát về phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết của tiếng Việt Nam Bộ cuối TK XIX , được khảo sát qua một số văn bản văn học Nam Bộ của nhiều tác giả như Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn trọng Quản Vì
vậy, có thể nói rằng, đề tài “Đặc điểm về phong cách khẩu ngữ và phong cách
ngôn ngữ viết của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX (khảo sát qua một số văn
Trang 7bản văn học Nam Bộ)” của chúng tôi là một đề tài mới mẻ và cần được đào sâu
khai thác
3.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Đề tài có mục đích nghiên cứu, tìm hiểu, mô tả và phân tích về phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết trên ba phương diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp được thể hiện trong các văn bản văn học Nam Bộ cuối thế kỉ XIX Đề tài đưa ra cho mình các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
1.Xây dựng cơ sở lí luận của đề tài về phong cách học, phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết
2.Thống kê các từ được dùng trong các văn bản VHNB cuối TK XIX dựa trên ba tiêu chí ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
3.Miêu tả, phân tích và bước đầu đưa ra những nhận xét theo kết quả thống kê về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết qua các văn bản văn học Nam Bộ giai đoạn cuối TK XIX
Từ đó làm sáng rõ hai phong cách này, tạo đà cho việc vận dụng ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi mà không kém phần tinh túy vào sinh hoạt hàng ngày cũng như trên các phương tiện truyền thông đại chúng
Kết quả của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho học sinh – sinh viên quan tâm đến phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết Góp thêm một tiếng nói trong công cuộc bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
4.Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, để nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách thấu đáo, khoa học, chúng tôi sử dụng kết hợp những hình thức nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu lịch sử xã hội: đây là một phương pháp nghiên cứu để đánh giá đúng tầm quan trọng, mức độc đóng góp của những phong cách được sử dụng trong các tác phẩm văn học Nam Bộ đối với tiến trình phát triển văn học của khu vực Vì thế, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có tìm hiểu bối cảnh của văn học quốc ngữ Nam Bộ trong những năm cuối thể kỷ XIX
để có thể hiểu sâu sắc và đúng đắn được vai trò phong cách của tiếng Việt trong giai đoạn này
Trang 8Phương pháp thống kê được sử dụng như là một trong những phương pháp chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài này Chúng tôi áp dụng thống kê toàn bộ văn bản, các các ngữ liệu dựa theo đặc điểm ngôn ngữ của địa phương như những từ biến âm, từ đơn, từ ghép, từ láy…
Phương pháp phân tích tổng hợp: để tìm hiểu, đánh giá phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết được sử dụng trong các văn bản VHNB cuối
TK XIX chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp những ngữ liệu liên quan đến
đề tài về mặt kết cấu, ngữ âm, từ vựng và ngữ nghĩa để có thể so sánh với các phương ngữ khác hoặc với tiếng Việt toàn dân
Phương pháp so sánh: khi sử dụng phương pháp này chúng tôi so sánh, đối chiếu các từ, ngữ, câu giao tiếp thông thường nhằm làm rõ thêm đặc tính xã hội, ngữ pháp của tiếng Việt trong từng thời kì Để từ đó thấy rõ hơn những điểm nổi bật của phong cách tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX
Phương pháp miêu tả: chúng tôi sử dụng phương pháp này để miêu tả những hình thức ngữ âm, từ vựng, cú pháp được sử dụng trong phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết
5.Đối tượng nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Với tên đề tài “Đặc điểm về phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn
ngữ viết của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX (khảo sát qua một số văn bản văn học Nam Bộ)” đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong cách khẩu ngữ và
phong cách ngôn ngữ viết được sử dụng trong các văn bản văn học của những nhà văn Nam Bộ xuất bản trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX Cụ thể đó là các văn bản của các nhà văn sau đây:
-Trương Vĩnh Ký : “Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi” (theo bản in nhà hàng C.Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1881), “Cường từ thức truyện” (Sài Gòn, 1888), “Kiếp phong trần” (Sài Gòn, 1882) “
-Nguyễn Trọng Quản : “Thầy Lazarô Phiền” (1887)
-Trương Minh Ký: “Chư quấc (quốc) thại hội” (1891)
-Huỳnh Tịnh Của: “Chuyện tên Giáp” ( Sài Gòn, 1895), “Chuột có
nghĩa” (Sài Gòn, 1885), “Bốn mươi ngàn” (Sài Gòn, 1885)
Trang 9Trong đề tài này, chúng tôi chỉ chọn các văn bản văn học quốc ngữ Nam
Bộ vì từ trước đến nay, trong giai đoạn này các văn bản bằng chữ Hán, chữ Nôm đã được nghiên cứu nhiều, còn văn học quốc ngữ ít hoặc chưa được nghiên cứu
Với nguồn ngữ liệu được chọn từ các tác phẩm nêu trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài này là phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết Đề tài
sẽ tiến hành thống kê trên cơ sở đó sẽ miêu tả, phân tích, so sánh về phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết xét trên ba bình diện: ngữ âm, từ vựng
và ngữ pháp
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài của chúng tôi góp phần nghiên cứu nguồn gốc và sự phát triển của tiếng Việt và chữ quốc ngữ trong các văn bản văn học Nam Bộ cuối TK XIX dưới góc độ phong cách học Đồng thời góp phần bổ cứu cho việc nghiên cứu phong cách học tiếng Việt giai đoạn cuối TK XIX qua ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp sử dụng trong các văn bản văn bản VHNB với tư cách là một bộ phận tạo nên tiếng Việt toàn dân trong một giai đoạn lịch sử rất có ý nghĩa, giai đoạn mà lần đầu tiên tiếng Việt có những sự chuyển biến quan trọng, cũng là mở đầu cho sự thay đổi chữ viết từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, mà một trong những biểu hiện rõ rệt và mạnh mẽ của nó là trên văn bản văn học viết và báo chí Ngoài ra còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, biên soạn sách
về giảng dạy và học tập tiếng Việt ở các bậc học hiện nay của nước ta Các kết quả nghiên cứu còn giúp hỗ trợ cho việc biên soạn từ điển nói chung, từ điển tiếng Việt Nam Bộ nói riêng và các loại từ điển hữu quan khác Những tác phẩm này là tài liệu tham khảo quý giá cho những nghiên cứu về tiếng Việt thời kì đầu TK XX
Chúng tôi biết rằng những đóng góp trên là ít ỏi nhưng chúng tôi cũng hi vọng rằng đề tài này sẽ là nền móng cho việc tìm hiểu, đánh giá một cách chân thực, toàn diện về phong cách của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX nói riêng cũng như với những người say mê văn học quốc ngữ nói chung và phục
vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu văn học
Trang 107.Kết cấu của đề tài
Đề tài này gồm trang Nội dung chính của đề tài được triền khai thành 3 chương:
Chương I Một số vấn đề lí thuyết cơ sở
1.1.Các vấn đề lí thuyết về phong cách học
1.1.1.Khái niệm phong cách học
1.1.2.Đối tượng của phong cách học
1.1.3.Các khái niệm cơ bản của phong cách học
1.2.Phong cách khẩu ngữ
1.2.1.Khái niệm của phong cách khẩu ngữ
1.2.2.Đặc trưng của phong cách khẩu ngữ
1.2.3.Đặc điểm của phong các khẩu ngữ
1.3.Phong cách ngôn ngữ viết
1.3.1.Khái niệm phong cách ngôn ngữ văn chương
1.3.2.Đặc điểm ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ văn chương 1.4.Giới thiệu sơ lược về các tác giả và tác phẩm được chọn làm ngữ liệu
để khảo cứu của đề tài
Trang 11Chương II Đặc điểm về phong cách khẩu ngữ của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX
2.1 Xét về phương diện ngữ âm
2.1.1 Biến thể âm đầu
2.1.2 Biến thể âm chính
2.1.3 Biến thể âm cuối
2.1.4 Biến thế thanh điệu
Trang 12Chương III Đặc điểm về phong cách ngôn ngữ viết của tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX
3.1 Xét về phương diện ngữ âm
3.1.1 Biến thể âm đầu
3.1.2 Biến thể âm chính
3.1.3 Biến thể âm cuối
3.1.4 Biến thể thanh điệu
Trang 13CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CƠ SỞ
1.1.Các vấn đề lí thuyết về phong cách học
1.1.1.Khái niệm phong cách học
Trong những nét chung nhất, phong cách học được hiểu là khoa học nghiên cứu về sự vận dụng của ngôn ngữ; nói cách khác đó là khoa học về các quy luật nói và viết có hiệu lực cao Nói và viết có hiệu lực do hai nhân tố chi phối : nhân tố bên ngoài lời nói: lời nói phải hợp với chân lí, hợp logic; nhân tố thứ hai là nhân tố ngôn ngữ: bao gồm các phương tiện thuộc các cấp độ của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp quyết định hiệu lực
của lời nói Theo Cù Đình Tú: “Phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ
học nghiên cứu nguyên tắc, quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định” Tuy
nhiên, phong cách học với tư cách là một ngành học bộ phận của ngôn ngữ học chỉ khảo sát các phương tiện ngôn ngữ chi phối việc nói viết có hiệu lực
1.1.2.Đối tượng của phong cách học
Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học đều nhận định phong cách học phải nghiên cứu ba vấn đề như sau: nội dung biểu cảm của ngôn ngữ; các quy luật lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong hoạt động nói năng; các phong cách chức năng ngôn ngữ
Trong đó, yếu tố biểu càm đóng vai trò quan trọng và chiếm vị trí ưu tiên nghiên cứu trong ngành phong cách học Tuy nhiên, để vận dụng được yếu tố biểu cảm, trước hết phải vận dụng được “nội lực” của ngôn ngữ, mà ở đây là các phương tiện biểu hiện ngôn ngữ, đó là các phương tiện ngữ âm, từ vựng, cú pháp Muốn yếu tố biểu cảm hành chức thì người sử dụng ngôn ngữ phải lựa chọn cho đúng Yếu tố biểu cảm là cái cuối cùng mà phong cách học cần chỉ ra được, còn lựa chọn lời nói là cái đầu tiên phong cách học khảo sát
Ngoài ra, cũng có một số nhà ngôn ngữ học lại đưa ra quan điểm coi đối tượng của phong cách học là các phong cách chức năng ngôn ngữ Ở Việt Nam, những nhà nghiên cứu phong cách học cũng có những nhận định và lý giải khác nhau về tượng của phong cách học, song nhìn chung, họ đều coi đối tượng
Trang 14của phong cách học là sự lựa lời Bàn về điều này có Cao Xuân Hạo, Đinh
Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Hoàng Trọng Phiến, v.v Trong giáo trình Phong cách
học tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc đã nêu lên quan điểm của mình khi đưa ra khái
niệm phong cách học: “Phong cách học, trong nghĩa chung nhất, là bộ môn
trong ngành ngôn ngữ học nghiên cứu các nguồn phương tiện ngôn ngữ dồi dào và các nguyên tắc lựa chọn, sử dụng những phương tiện này trong việc diễn đạt một nội dung tư tưởng, tình cảm nhằm đạt được những hiệu quả thực
tế mong muốn, trong những điều kiện giao tiếp khác nhau”
1.1.3.Các khái niệm cơ bản của phong cách học
1.1.3.1.Đặc điểm tu từ
Đặc điểm tu từ hay màu sắc tu từ là khái niệm của phong cách học chỉ phần nội dung có tính chất bổ sung cho phần thông tin cơ bản của một hình thức biểu đạt cùng nghĩa Phần tin này một mặt chỉ rõ thái độ đánh giá, tình cảm với đối tượng được nói đến, một mặt chỉ rõ giá trị sử dụng trong phong cách chức năng ngôn ngữ của hình thức biểu đạt cùng nghĩa Đặc điểm tu từ chính là nghĩa hàm ẩn chứa trong phần nội dung bổ sung
Phần nội dung bổ sung là phần tin riêng cho một hình thức biểu đạt cùng nghĩa, bao gồm:
-Sắc thái biểu cảm: là nội dung bổ sung chỉ rõ thái độ đánh giá, tình cảm với đối tượng được nhận thức và được nói đến trong đơn vị ngôn ngữ
-Màu sắc phong cách: phần chỉ rõ phạm vi sử dụng tức giá trị phong cách chức năng của hình thức biểu đạt cùng nghĩa
1.1.3.2.Chuẩn mực ngôn ngữ
Chuẩn mực ngôn ngữ là một khái niệm rộng, đó là toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng và đã được mọi người thừa nhận và đã được coi là đúng, là một mẫu mực trong một xã hội nhất định và trong một thời đại nhất định cũng như toàn bộ các quy tắc sử dụng của xã hội đới với ngôn ngữ đó Chuẩn mực chỉ mang tính tương đối và luôn biến đổi Vì chuẩn mực là những quy ước, chỉ dẫn nên khái niệm không chuẩn mực không đồng nghĩa với sai Sự nhầm lẫn về cách phát âm, lẫn lộn nghĩa là chệch chuẩn mực và sai
Trang 15nhưng việc dùng từ địa phương, cấu tạo từ mới có tính chất phát kiến thì chỉ là lệch chuẩn mực chứ không phải là sai
1.1.3.3.Phong cách chức năng ngôn ngữ
Phong cách chức năng ngôn ngữ là một phạm trù cơ bản nhất của phong cách học Phong cách chức năng ngôn ngữ thường được gọi tắt là “phong cách ngôn ngữ” hay đôi khi là “phong cách”
Phong cách chức năng ngôn ngữ là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc biểu thị quy luật lựa chọn, sử dụng các phương tiện biểu hiện tùy thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp
Về phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ, đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học, nhà phong cách học đưa ra những cách phân loại của mình Tùy vào việc nhấn mạnh tiêu chí phân loại nào mà có những cách phân loại khác nhau Tuy nhiên, chúng tôi thấy cách phân loại sau là hợp lý hơn cả:
-Phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ tự nhiên
-Phong cách ngôn ngữ gọt giũa:
+Phong cách ngôn ngữ hành chính
+Phong cách ngôn ngữ báo chí
+Phong cách ngôn ngữ chính luận
+Phong cách ngôn ngữ khoa học
+Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Vì đặc thù của đề tài là tập trung miêu tả phong cách tiếng Việt Nam Bộ cuối thế kỷ XIX nên chúng tôi chỉ đi vào mô tả phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ
tự nhiên và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, ở đây là phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ viết
1.2.Phong cách khẩu ngữ
1.2.1.Khái niệm phong cách khẩu ngữ
Theo Đinh Trọng Lạc, phong cách khẩu ngữ là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện vai của người tham gia
Trang 16giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày Cụ thể hơn đó là vai của tất cả những ai với tư cách cá nhân trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người khác Phong cách khẩu ngữ được chia ra hai biến thể: khẩu ngữ tự nhiên và khẩu ngữ văn hóa
Ngôn ngữ được sử dụng trong phong cách khẩu ngữ tồn tại cả ở hai dạng nói và viết, mà dạng nói là chủ yếu Tồn tại dưới dạng nói là những lời trò chuyện, tâm sự, thăm hỏi, trao đổi, nhận xét, đánh giá, phân tích, triết lý… Tồn tại dưới dạng viết là những dòng thư ngắn báo tin, chào hỏi, những đoạn nhật
ký Ở đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu phong cách khẩu ngữ ở dạng nói, được thể hiện qua những lời hội thoại của các nhân vật trong các văn bản văn học Nam Bộ cuối thể kỷ XIX
Chức năng của ngôn ngữ được thực hiện trong phong cách khẩu ngữ là chức năng giao tiếp lí trí, chức năng cảm xúc và chức năng tạo tiếp
1.2.2.Đặc trưng của phong cách khẩu ngữ
Trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc đã nêu ra những đặc trưng cơ bản sau đây của phong cách khẩu ngữ:
-Tính cá thể của phong cách khẩu ngứ thể hiện ở vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi người khi trao đổi, chuyện trò, tâm sự với người khác Mỗi lời nói đều thể hiện đặc điểm sinh lí, đặc điểm tâm lý, đặc điểm xã hội của riêng từng người không ai giống ai
-Tính cụ thể là đặc điểm nổi bật của phong cách khẩu ngữ Phong cách khẩu ngữ tránh lối nói trừu tượng, chung chung, thường sử dụng lối nói cụ thể, nổi bật Tính cụ thể đã làm cho sự giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày trở nên
dễ dàng, nhanh chóng, ngay trong những vấn đề trừu tượng
-Tính cảm xúc gắn chặt với tính cụ thể Lời nói trong phong cách này mang tính cảm xúc tự nhiên Những cách diễn đạt đầy màu sắc tình cảm đã nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tế đời sống muôn hình muôn vẻ
Ngôn ngữ trong phong cách khẩu ngữ trở thành nơi quy tụ những tinh hoa của tiếng nói dân tộc
Trang 171.2.3.Đặc điểm của phong cách khẩu ngữ
-Ngữ âm trong phong cách khẩu ngữ: Dạng tồn tại chủ yếu của phong cách khẩu ngữ là dạng nói Trong dạng nói người ta có thể thấy được tất cả các biến thể ngữ âm, những từ địa phương Trong phong cách khẩu ngữ, khi nói người ta phát âm thoải mái theo một tập quán phát âm địa phương với sự thể hiện không theo chuẩn mực chung Ngày nay do sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều người đã có ý thức khắc phục tập quán phát âm địa phương của mình, hướng theo cách phát âm chuẩn mực chung của cả nước -Từ ngữ của phong cách khẩu ngữ: Đặc điểm nổi bật trong sử dụng từ ngữ của phong cách khẩu ngữ là hay sử dụng những từ ngữ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc Phong cách khẩu ngữ sử dụng nhiều ngữ khí từ, cảm thán từ với nhiều màu sắc tình cảm khác nhau để thực hiện chức năng giao tiếp Ngoài ra phong cách khẩu ngữ còn ưa dùng từ láy; thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ và lối nói tắt
-Cú pháp của phong cách khẩu ngữ: điểm nổi bật về về mặt cú pháp là hay dùng những câu hỏi, những câu cảm thán, những câu nói trực tiếp, những câu đưa đẩy Trong phong cách này, cấu trúc bị động thường được chuyển thành cấu trúc chủ động Bên cạnh đó , phong cách khẩu ngữ có những kết cấu riêng mà những phong cách khác ít sử dụng
-Tu từ trong phong cách khẩu ngữ: phong cách khẩu ngữ hay dùng ví von,
so sánh để lời nói có hình ảnh Ngoài ra còn hay sử dụng cách diễn tả khoa trương, nói giảm để tô đậm hình ảnh khiến người nghe chú ý
1.3.Phong cách ngôn ngữ viết (phong cách ngôn ngữ văn chương)
1.3.1.Khái niệm phong cách ngôn ngữ văn chương
Phong cách ngôn ngữ văn chương là một dạng tồn tại sáng chói và toàn diện nhất của ngôn ngữ dân tộc Phong cách ngôn ngữ văn chương thực hiện đồng thời ba chức năng: thông báo, tác động và thẩm mĩ Chính vì những chức năng đặc biệt này mà không một phong cách nào lại có khả năng diễn đạt một cách đa dạng và phong phú như phong cách ngôn ngữ văn chương Phong cách ngôn ngữ văn chương thực hiện thực hiện chức năng của mình một cách gián tiếp qua trung gian là hình tượng văn học Điều này có nghĩa là hiểu được ngôn
Trang 18từ không có nghĩa là đã hiểu nội dung tác phẩm muốn truyền đạt muốn hiểu được nội dung này thì phải phân tích ngôn ngữ tác phẩm theo cách riếng của phong cách ngôn ngữ văn chương để từ đó tiếp cận được hình tượng văn chương mà ngôn từ đang miêu tả
1.3.2.Đặc điểm ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ văn chương
1.3.2.1.Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương
Trong phong cách ngôn ngữ văn chương một hình thức diễn đạt được cho
là có tính thẩm mỹ khi đạt được những yêu cầu sau: tính chính xác của hình thức biểu đạt, tính logic, tính tiết kiệm, tính hài hòa và vẻ đẹp âm thanh – cú pháp – hình ảnh của hình thức biểu đạt Ngoài ra, ngôn ngữ văn chương phải là ngôn ngữ tạo hình, ngôn ngữ biểu cảm và có khả năng xây dựng hình tượng văn chương
Nói tóm lại, ngôn ngữ văn chương thực hiện đồng thời chức năng thông báo và chức năng thẩm mỹ
1.3.2.2.Sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ của các phong cách khác trong ngôn ngữ văn chương
Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ tổng hòa các phương tiện biểu hiện của mọi phong cách Ngôn ngữ văn chương mang dấp của ngôn ngữ hành chính, chính luận, khoa học và ngôn ngữ khẩu ngữ tự nhiên Vì vậy mà ngôn ngữ văn chương luôn biến chuyển, không đơn điệu, dập khuôn theo ngôn ngữ của phong cách nào Và chính những nhà văn đã khiến cho các phương tiện biểu hiện ngôn ngữ của các phong cách khác đi vào ngôn ngữ văn chương một cách hài hòa và tự nhiên
1.3.2.3.Ngôn ngữ văn chương vừa tôn trọng chuẩn mực, vừa đi chệch chuẩn mực và mang dấu ấn của tác giả
Việc tôn trọng những chuẩn mực đã làm cho các tác phẩm văn học không chỉ được đón nhận nồng nhiệt trong lòng độc giả mà còn khiến nó trở thành mẫu mực để các ngành nghiên cứu khác lấy làm tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu Song, việc tuân theo hầu hết các chuẩn mực đã làm mất đi vẻ tự nhiên và gây ra ra cảm giác nhàm chán cho các tác phẩm văn học Chính điều này đã đòi hỏi nhà văn cần phải xác định thế nào là chuẩn mực chung của ngôn
Trang 19ngữ dân tộc và tránh chủ quan, coi ngôn ngữ của mình hay của một hóm người
là chuẩn mực cho ngôn ngữ của cả một dân tộc Các nhà văn cần phải không ngừng sáng tạo cho mình lối nói mang dấu ấn cá nhân, “khơi những nguồn chưa ai khơi” (chữ dùng của Nam Cao), có thể mạnh dạn sử dụng phương ngữ vào trong tác phẩm một cách có chọn lọc để tạo hình tượng văn học và ghi lại dấu ấn cá nhân của tác giả
1.4.Giới thiệu sơ lược về các tác giả và tác phẩm được chọn làm ngữ liệu
để khảo cứu của đề tài
1.Huỳnh Tịnh Của (1830 – 1908)
Huỳnh Tịnh Của ( Paulus Của ) quê ở huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa (nay là huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), là một nhà văn hóa học và ngôn ngữ học có đóng góp xuất sắc trong việc nghiên cứu, phát triển và truyền bá chữ quốc ngữ trong giai đoạn đầu, đặc biệt là ở Nam Bộ Các công trình của ông chủ yếu là về văn học, báo chí và ngôn ngữ học, một trong số đó là quyển
“ Đại Nam quấc âm tự vị” (1885, 1886) rất có giá trị Trong đề tài này chúng
tôi tiến hành khảo sát dựa trên những tác phẩm trong “Chuyện giải buồn” (2
tập, 112 truyện, in lần đầu năm 1880 và 1885)
ngôn ngữ học “ Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi” (1876) là một trong những tác
phẩm tiêu biểu của ông
Trang 20sáng tác truyện, thơ và sách ngôn ngữ Ông có nhiều đóng góp quan trọng trong
việc phát triển nền văn học Quốc ngữ Việt Nam “Chư quấc thại hội” (1896) là
một trong những tác phẩm tiêu biểu của Trương Minh Ký
4.Nguyễn Trọng Quản (1865 – 1911)
Từng đi du học ở Lycee D’Alger, Algerie Sau khi tố nghiệp ông trở về làm giáo viên, rồi giám độc trường sơ học Nam Kỳ và là nhà văn, nhà báo,
tham gia sáng tác và viết cho các báo Tác phẩm nổi bật có “ Thầy Lazarô
Phiền” (1887) Tác phẩm là một hiện tượng độc đáo, mới cả về nội dung lẫn
hình thức nhưng liên tục nhiều năm sau đó không có một tác phẩm nào kế thừa
Trang 21Chương II Đặc điểm về phong cách khẩu ngữ của tiếng Việt Nam Bộ cuối
thế kỷ XIX
Trong chương này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu phong cách khẩu ngữ của tiếng Việt Nam Bộ cuối TK XIX xét trên ba phương diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Vấn đề này được khảo cứu dựa trên lời đối thoại giữa các nhân vật
được thể hiện trong các tác phẩm tiêu biểu ở giai đoạn này như : Thầy Lazaro
Phiền (Nguyễn Trọng Quản), Kiếp phong trần (Trương Vĩnh Ký)
2.1.Xét về phương diện ngữ âm
Có thể nói, điều làm nên sự khác biệt giữa các vùng miền trân cả nước chính là lối phát âm riêng biệt Những trường hợp khác biệt ấy được gọi là biến thể phát âm Những biến thể phát âm này sẽ bộc lỗ rõ trong giao tiếp khẩu ngữ Trong các tác phẩm văn chương, để miêu tả đúng cách nói năng riêng của từng nhân vật, nhà văn có thể khai thác các biến thể phát âm bằng cách ghi lại đúng cách phát âm của nhân vật qua những con chữ Có thể thấy những biến thể phát
âm xuất hiện dày đặc trong các tác phẩm giai đoạn này như bịnh – bệnh, chơn –
chân , chun – chui, đờn – đàn, nhứt – nhất, thơ – thư v.v Những biến thể phát
âm này khi thì khác âm đầu, âm chính, khi thì lại khác âm cuối hay thanh điệu
so với từ toàn dân tương đương Và để thuận tiện cho việc theo dõi, khi sử dụng thuật ngữ, trong trường hợp biến thể phát âm âm đầu (hoặc âm chính, âm
cuối hay thanh điệu) chúng tôi xin rút gọn thành biến thể âm đầu (hoặc âm
chính, âm cuối hay thanh điệu)
2.1.1.Biến thể âm đầu
Các trường hợp biến thể âm đầu xuất hiện tương đối nhiều trong các tác phẩm văn học giai đoạn cuối TK XIX Sau đây, chúng tôi sẽ xem xét các trường hợp biến thể âm đầu theo từng nhóm biến âm cơ bản
Nhóm biến âm [l-] (chữ viết “l”)
Theo thống kê âm [l-] có 02 biến thể: [l→n], [l→c] Thường [l-] sẽ biến thành một âm vang [n-], và thành âm [c-]
- Kiểu biến âm [l → n]: tần suất 1(lên – nên)
Ví dụ:
Trang 22“Mà cũng không khỏi vì cách ít tháng (khi ấy tôi đã nên mười lăm tuổi)
thì có lịnh truyền dạy bắt những con nhà có đạo cầm tù lại hết.” (TLP)
- Kiểu biến âm [l – c]: tần suất 1 (lóa – chóa)
Ví dụ:
“…ta ghé vào thấy tùng thấy chóa con mắt nghĩa là lạ con mắt…” (KPT)
Nhóm biến âm [kw-] (chữ viết “qu”) và nhóm biến âm [sw-] (chữ viết
“xu”)
Bên cạnh các kiểu biến đã nói như trên, còn xuất hiện từ biến âm kiểu [kw
→ z] và kiểu [sw → s] Ở đây do trường hợp biến âm đệm chỉ xuất hiện ở cặp biến âm [kw → z] và kiểu [sw → s] nên chúng tôi sẽ xếp âm đệm [w] vào cùng với âm đầu [k-] và [s-] Các từ thuộc nhóm biến âm này được thể hiện như sau:
- Kiểu biến âm [kw → z] :tần suất 1 (quay – giay), trong kiểu biến âm này,
âm đệm [w] đã bị triệt tiêu và đây cũng là kiểu biến âm tiêu biểu thường thấy
Phương ngữ Nam Bộ như trong trường hợp nhồm nhoàm – nhồm nhàm
“Ngày kia tôi nhớ đến sự cực tôi, thì trí khôn tôi nó bắt xao xiến bối rối
làm cho tôi như điên vậy, thì tôi đi ra vườn cho có gió mát giải phiền một ít.”
(TLP)
Nhóm biến âm [ŋ-] (chữ viết “ng”)
Âm [ŋ-] được ghi nhận ở hai kiểu biến âm : [ŋ → ɲ], [ŋ – v]
- Kiểu biến âm [ŋ → ɲ]: tần suất 1 (ngắm – nhắm)
Trang 23Nhóm biến âm [n-] (chữ viết “n”)
Nhóm biến âm [n-] cũng có 02 kiểu biến âm là: [n → d], [n → ɲ]
- Kiểu biến âm [n → d]: tần suất 2 (nỗi – đổi)
Ngoài các nhóm biến âm vừa xét, chúng tôi nhận thấy còn có các nhóm
biến âm chính chỉ gồm một kiểu biến âm như: [b] (chữ viết “b”), [m-] (chữ viết
“m”), [d-] (chữ viết “đ”), [t’-] (chữ viết “th”), [ ʈ-] (chữ viết “tr”), [z-] (chữ viết
“d”) Cụ thể như sau:
- Biến âm kiểu [b → f]: bỏng – phỏng Kiểu biến âm này có tần suất 1
Ví dụ:
“…ông thầy thuốc đang giặc thuốc nơi chơn tôi bị phỏng.” (TLP)
- Biến âm kiểu [m → z]: mở - dở Kiểu biến âm này có tần suất 2
“Ba bữa sau tôi xuống tàu mà về Gia – định đặng sáu tháng, kế lấy ông
quan ba mắc bệnh phải về Tây, thì để tôi lại cho Đức cha Lefèbvre.” (TLP)
- Biến âm kiểu [ t’ →s]: thoáng – xoáng Kiểu biến âm này có tần suất 1
Trang 24“Khi bạn tôi uống rồi, đến ngày mai thì không chổi dậy khỏi giường cũng
không ăn uống gì đặng.” (TLP)
- Biến âm kiểu [z → l]: dần dần – lần lần Kiểu này có tần suất 3
Ví dụ:
“…vậy lần lần tôi bớt vô đồn ăn cơm với các quan nữa cho nên tôi đã
khuất mặt người đờn bà ấy đi.” (TLP)
2.1.2.Biến thể âm chính
Nhóm biến âm chính [i] và [u] (chữ viết “i” và “u”)
Nhóm biến âm [i] và [u] có thể nói là hai nhóm khá đặc biệt Vì đặc trưng ngữ âm của [i] và [u] có độ mở nhỏ nhất, nên khi biến âm sẽ có hai trường hợp như sau:
• Độ mở tăng
• Độ mở giữ nguyên
Dưới đây là những ví dụ cho hai nhóm biến âm này:
Âm chính [i] có 02 kiểu biến âm: [ i → a], [i → ă]
- Biến âm kiểu [ i → a] :tần suất 18 (sinh – sanh, tính – tánh, lĩnh – lãnh)
Ví dụ:
“Tôi sanh ra là năm 1847 nhằm năm Tự - đức tức vị” (TLP)
“Nhơn vì tánh con người ta làm vậy, nên tục nói rằng…” (KPT)
“Thầy dám lãnh mười tên lính đi bắt cướp chăng?” (TLP)
- Kiểu biến âm [i → ă]: tần suất 2 (bình – bằng)
Ví dụ:
“Xin thầy đi bằng an, đến sau khi thầy có xuống Bà – rịa, thì tôi xin thầy
hảy đọc một kinh nơi mồ LAZARO PHIỀN.” (TLP)
Âm chính [u] có 04 kiểu biến âm là: [u → uo], [u → ɯɤ], [u → ɤˇ], [u → ɯ] Kiểu này có 4 đơn vị với tần số 15
- Biến âm kiểu [u → uo]: tần suất 5 (chủ - chúa)
Trang 25Ví dụ:
“ Thầy ôi! Thầy còn trẻ chưa biết đủ việc đời: hay là còn đang lúc có
phước, thầy chưa từng sự đau đớn, nên thầy nói tôi điên, tôi không điên đâu
thầy!” (TLP)
- Kiểu biến âm [u → ɤˇ]: tần suất 10 (dù – dầu)
Ví dụ:
“ Dầu tội nó thể nào thì tôi cùng quên rồi.” (TLP)
- Kiểu biến âm [u → ɯ]: tần suất 1(múc – mức)
Ví dụ:
“Không đứa nào mức nước thau rửa mặt.” (KPT)
Nhóm biến âm chính [ie] (chữ viết “iê”)
Âm chính [ie] có 02 kiểu biến âm như sau: [ ie → e ], [ie → ɤ]
- Kiểu biến âm [ ie → e ]: tần suất 6 (điều – đều, hiềm – hềm)
Ví dụ:
“ Khi ấy đạo ta phải chịu nhiều đều khốn cực lắm,…” (TLP)
“Tôi thấy viên đạn gần trúng tôi thì tôi giận quá sức cho nên sự tôi hềm
thù thầy Liểu lại càng thêm nữa” (TLP)
- Kiểu biến âm [ie → ɤ]: tần suất 6 (quyền – quờn)
Ví dụ:
“Vậy quan tham biện liền cho tôi đủ quờn phép khí giái quân lính cùng
dạy tôi phải lo xuất hành cho kíp” (TLP)
Nhóm biến âm chính [a] và [ă] (chữ viết “a” và “ă”)
Một trong những đặc trưng của [a] và [ă] là có độ mở lớn nhất nên khi biến âm [a] và [ă] sẽ bị biến thành các âm vận nguyên âm hẹp hơn hoặc giữ nguyên độ mở qua khảo sát chúng tôi nhận thấy các trường hợp sau đây:
Âm chính [a] có 04 kiểu biến âm như sau: [a → ɯɤ], [ a → ɤˇ], [ a → ie], [a → ɤ]
- Kiểu biến âm [a → ɯɤ] : tần suất 1 (đang – đương)
Ví dụ:
Trang 26“…vì đương khi nói mà tôi mệt, thì có khi phải nín mà lâu đi chăng?”
(TLP)
- Kiểu biến âm [ a → ɤˇ]: tần suất 27 (này – nầy, mày – mầy, bay – bây)
Ví dụ:
“ Điên ! Thầy nầy điên” (TLP)
“ Mầy còn cha mẹ bà con tại Bà – rịa không?” (TLP)
“Cha! Chả! Nó cự bây! Bắn!” (TLP)
- Kiểu biến âm [ a → ie]: tần suất 3 (bảo – biểu)
Ví dụ:
“ Thì ông biểu thông ngôn nói cùng tôi rằng…” (TLP)
- Kiểu biến âm [a → ɤ]: tần suất 2 (đàn – đờn)
Ví dụ:
“…vậy lần lần tôi bớt vô đồn ăn cơm với các quan nữa cho nên tôi đã
khuất mặt người đờn bà ấy đi.” (TLP)
Âm chính [ă] có 02 kiểu biến âm : [ ă → ɤˇ], [ ă → a]
- Kiểu biến âm [ ă → ɤˇ]: tần suất 1 (chặn – chận)
Ví dụ:
“ Ăn cướp đã chận đàng Saigon mà đánh ghe buôn nhiều lắm” (TLP)
- Kiểu biến âm [ ă → a]: tần suất 2 (đằng – đàng)
Ví dụ:
“ Khi thầy tôi nghe kêu thì tưởng là ăn cướp, nên trèo lên mui mà bắn
chúng nó; chẳng ngờ đàng kia tưởng ăn cướp bắn cự thì bắn lại; mà tại thầy
tôi ở trên mui cho nên bị đạn mà chết đi.” (TLP)
Nhóm biến âm chính [ɤˇ] ( chữ viết “â”)
Âm chính [ɤˇ] thường xuyên bị biến đổi trong lối phát âm của phương ngữ Nam Bộ Khi khảo sát các văn bản VHNB cuối TK XIX, chúng tôi nhận thấy, có 03 kiểu biến âm sau đây: [ɤˇ → ɤ], [ɤˇ → ɯ], [ɤˇ → ie] Ở nhóm biến
âm này, âm lượng của biến thể hầu như không thay đổi so với âm lượng bạn
đầu Dưới đây là những trường hợp cụ thể:
- Kiểu biến âm [ɤˇ → ɤ] : tần suất 21 (nhân – nhơn, chân – chơn)
Trang 27Ví dụ:
“ …làm cho ai nấy tưởng tôi là người nhơn đức, song hẳn thật tôi là đứa
tội lổi là ngần nào.” (TLP)
“ …song lửa mới vừa tới cháy hai chơn tôi thì sự đau đớn làm cho tôi
quên hết mọi sự cùng bắt tôi chạy ra cửa mà ra khỏi tù.” (TLP)
- Kiểu biến âm [ɤˇ → ɯ]: tần suất 7 (nhật – nhựt, giật – giực, nhất – nhứt)
Ví dụ:
“Vậy ngày kia nhằm ngày chúa nhựt khi xem lể về, ông già thầy Liểu rủ
tôi ra vườn đi dạo chơi.” (TLP)
“ …song ổng vừa ngó thấy ngục cháy thì giực mình té ngữa mà chết.”
(TLP)
“…tôi những thấy súng ống khí giái luôn, nhứt là khi ngủ thì tôi thấy tôi
bị ăn cướp bắt mà bắn tôi hoài.” (TLP)
- Kiểu biến âm [ɤˇ → ie]: tần suất 4(thật – thiệt)
Ví dụ:
“ Người ấy không lịch sự thiệt, song coi phải thể người mà thôi: tiếng nói
dịu dàng, mặt mủi cách điệu, tính nết ăn ở thì dể làm cho người ta thương lắm.” (TLP)
Nhóm biến âm chính [ɯ] (chữ viết “ư”)
Nhóm biến âm chính [ɯ] gồm 02 kiểu biến âm: [ɯ → ɤˇ], [ɯ → ɤ]
- Kiểu biến âm [ɯ → ɤˇ]: tần suất 10 (mừng – mầng)
“ Xin thầy chịu khó mở rương tôi ra mà lấy cái thơ để trong ấy mà đọc,
rồi tôi sẽ nói tiếp theo cho thầy nghe” (TLP)
“Chớ kiếp phong trần anh nói đó là kiếp gì?” (KPT)
Trang 28“Phong trần nghĩa là gió bụi, chỉ là cái đời tạm, đời gởi này,…” (KPT)
“Nhơn vì tánh con người ta làm vậy, nên tục nói rằng…” (KPT)
Nhóm biến âm chính [ɤ] (chữ viết “ơ”)
Theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhóm biến âm chính [ɤ] có 02 kiểu
biến âm: [ɤ →uo], [ɤ → a]
- Kiểu biến âm [ɤ →uo]: tần suất 1 (với – vuối)
“Vậy quan tham biện liền cho tôi đủ quờn phép khí giái quân lính cùng
dạy tôi phải lo xuất hành cho kíp” (TLP)
Ngoài ra còn có các nhóm biến âm chính chỉ gồm một kiểu biến như: [ɔ] (chữ viết “o”), [e] (chữ viết “ê”), [o] (chữ viết “ô”), [ε ] (chữ viết “e”), [ɯɤ] (chữ viết “ươ”), [uo] (chữ viết “uô”)
Cụ thể như trong các trường hợp sau đây:
- Kiểu biến âm [ɔ → ie]: tần suất 2 (họp – hiệp)
“ Tôi không đi Bà – rịa, tôi đi dưỡng bịnh tại Vủng – tàu, vì tôi có bịnh
tức đã hai năm nay,…” (TLP)
“ Mà cũng không khỏi vì cách ít tháng (khi ấy tôi đã nên mười lăm tuổi)
thì có lịnh truyền dạy bắt những con nhà có đạo cầm tù lại hết;…” (TLP)
- Kiểu biến âm [o → u]: tần suất 1 (thối – thúi)
Ví dụ:
“…thì ngục ấy hóa ra thúi tha, gớm ghiết lắm…” (TLP)
Trang 29- Kiểu biến âm [ε → a]: tần suất 2 (đem – đam)
Ví dụ:
“ …mà những người ấy chẳng dám đam tôi về nhà vì sợ quan nói giấu
người có đạo mà bắt chăng.”(TLP)
- Kiểu biến âm [ ɯɤ → a]: tần suất 11 (đường – đàng)
Ví dụ:
“ Vậy khi tôi thấy tôi còn một mình bơ vơ giữa đàng không cha không mẹ
không bà con cô bác.” (TLP)
- Kiểu biến âm [uo → u]: tần suất 1 (nguôi – ngui)
Ví dụ:
“Ai dại mà chịu làm cha ăn cướp, bởi vậy cho nên tôi không khi nào ngui
sự lổi bạn tôi đã phạm cùng tôi đặng.” (TLP)
2.1.3.Biến thể âm cuối
Những trường hợp biến âm cuối trong phương ngữ Nam Bộ xuất hiện không nhiều so với những trường hợp biến âm còn lại
Nhóm biến âm [-ŋ] (chữ viết “ng”)
Nhóm biến âm [-ŋ] có 02 kiểu biến âm như sau: [ŋ → n], [ŋ → Ø] Nhưng chủ yếu xoay quanh kiểu [ŋ → n]
- Kiểu biến âm [ŋ → n]: tần suất 5 (phăng – phăn, càng – càn, ráng – rán, nhưng – nhơn)
Ví dụ:
“ Tôi phăn phăn đi đặng vài dặm đàng như vậy cho đến khi chơn tôi bị
cháy nó phồng lên mà làm tôi đau đớn lắm…” (TLP)
“Nói rồi tham biện quở trách tôi sao không hỏi cho kỉ càn cùng dạy tôi về
mà chôn cất thầy ấy cho tử tế.” (TLP)
“Khó bề nào cũng rán với con, đòi mấy lễ phải sắm đi mấy lễ; đòi món gì
vật gì cũng phải chạy.” (KPT)
“Nhơn vì tánh con người ta làm vậy, nên tục nói rằng…” (TLP)
- Kiểu biến âm [ŋ → Ø]: tần suất 1 (khinh – khi)
Ví dụ:
Trang 30“Vậy thì ai ai cũng có tài, vật vật đều có ích; thì không nên khi người, cũng không nên khi vật hé?” (KPT)
Nhóm biến âm [-k] (chữ viết “c”)
- Kiểu biến âm [k → t]: tần suất 2 (ghiếc – ghiết, giặc – giặt)
Ví dụ:
“…thì ngục ấy hóa ra thúi tha, gớm ghiết lắm…” (TLP)
“ Đến năm 1870 là năm có giặt người Allemanha và người Phalangsa
đánh cùng nhau thì hai anh em tôi ra đi thi tại Saigon.” (TLP)
Nhóm biến âm [-t] (chữ viết “t”)
- Kiểu biến âm [t → k]: tần suất 4 (giật – giực, tắt – tắc, chút – chúc)
Ví dụ:
“ …song ổng vừa ngó thấy ngục cháy thì giực mình té ngữa mà chết.”
(TLP)
“Song vừa lại đến nơi thì thầy Liểu đã tắc hơi rồi” (TLP)
“…chớ còn thầy Liểu thì tôi không thương tiếc chúc nào.” (TLP)
Nhóm biến âm [-n] ( chữ viết “n”)
- Kiểu biến âm [ n → ŋ]: tần suất 4 (lặn – lặng, chẵn – chẳng, khôn – không, han – hang)
Ví dụ:
“ …khi ấy mặt trời đã lặng rồi…” (TLP)
“ Tôi đã thương người ấy như vậy là một năm chẳng, cho đến khi thi đậu
mà ra khỏi trường” (TLP)
“ Nói sự phước hai đứa tôi thì không cùng, tôi tưởng có ít người mà
thương vợ như tôi.”(TLP)
“Thầy có phép quan sai đi bắt cướp, mà bởi thầy kia đã không nói hỏi
hang cho rỏ trước khi bắn lại cho nên chết thì phải chịu; thầy không tội gì!”
(TLP)
Nhóm biến âm [-i] (chữ viết “i”)
- Kiểu biến âm [i → ŋ]: tần suất 1 (lưỡi – lưởng)
Ví dụ:
Trang 31“Những lời như vậy thì nó làm cho tôi đau đớn như lưởng gươm đâm
thấu vào lòng tôi vậy.” (TLP)
Nhóm biến âm [-m] (chữ viết “m”)
- Kiểu biến âm [m → n]: tần suất 1 (chăm – chăn)
Ví dụ:
“…thì cũng nhờ cha mẹ chăn giữ coi só từ điều, đường đi nước bước dạy
lời ăn tiếng nói,…” (KPT)
2.1.4.Biến thể thanh điệu
Sáu thnah điệu của tiếng Việt chia làm sáu nhóm, trong các văn bản VHNB cuối TK XIX gồm có 04 nhóm biến thể thanh điệu: biến thể thanh sắc [5], biến thể thanh nặng [6], biến thể thanh ngã [3], biến thể thanh hỏi [4]
“ Vậy tôi xin thầy hãy lặng tai mà nghe tôi…” (TLP)
-Kiểu biến thanh sắc – hỏi [5 → 4]: tần suất 11(thế - thể)
Ví dụ:
“ Thầy ôi! Thầy nghe tôi thì thầy biết tôi là thể nào?” (TLP)
- Kiểu biến âm sắc – ngang [5 → 1]: tần suất 1 (xúi – xui)
“Vậy quan tham biện liền cho tôi đủ quờn phép khí giái quân lính cùng
dạy tôi phải lo xuất hành cho kíp” (TLP)
- Kiểu biến thanh [6 – 2]: tần suất 2 (vậy – vầy)
Trang 32- Kiểu biến thanh ngã – hỏi [3 → 4]: tần suất 32 (rễ - rể, lỗi - lổi, dữ - dử, dẫu - dẩu, hãy - hảy, rỡ - rở, dễ - dể, vỗ - vổ, rưỡi - rưởi, rõ - rỏ, mũi - mủi, sẵn – sẳn, hãi – hải, rĩ – rỉ, nữa – nửa)
“…làm cho ai nấy tưởng tôi là người nhơn đức, song hẳn thật tôi là đứa
tội lổi là ngần nào.” (TLP)
“ Tôi ở giúp đức cha được một năm rưởi cùng học chữ quốc ngữ cho đén
năm 1864 thì đức cha cho tôi vô trường Latinh” (TLP)
“Khi coi đi coi lại, rỏ là ghe thầy ấy, thì tôi dạy đậu ghe lại ăn cơm, soạn
sửa khí giái, vì tối nay nước lớn thì sẽ có ăn cướp mà bắn.” (TLP)
“ Một ít nữa thì tôi sẽ giết một người kia vô tội, mà bây giờ tôi còn gượng
mà cười đặng, thì mặt mủi tôi hóa ra gớm ghiết lắm.” (TLP)
“Súng ống vừa sẳn sàng, thì vừa ghe thầy Liểu đi giữa dòng sông, ngang
ghe tôi; tôi liền dạy tên cai đứng nơi lái mà kêu ghé” (TLP)
“…cho nên tôi sợ hải và trách mình tôi lắm” (TLP)
“Song dầu mà lương tâm tôi cắn rứt tôi thể nào thì tôi cũng không quên
sự lổi của thầy Liểu và bạn của tôi đã phạm với tôi.” (TLP)
“Xin thầy đừng rầu rỉ làm chi, tôi không chết đâu; tôi đã chịu thuốc rồi, ít
ngày đây thì tôi sẽ lành.” (TLP)
“…tôi không còn trông cậy gì về sự sống nó nửa, thì tôi cho mời các chức
đến mà đọc kinh giúp kẻ mong sanh thì.” (TLP)
Nhóm biến thể thanh hỏi [4]
- Kiểu biến thanh [4 → 3]: tần suất 4 (nửa – nữa)
Ví dụ:
Trang 33“Khi tôi đặng phép thì trong lòng tôi bồi hồi run sợ, nữa vui nữa buồn, vì
tôi có ý xin đặng đủ quờn phép mà làm một sự quái gở kia, cho bằng lòng tôi mới thôi.” (TLP)
Như vậy, vừa qua chúng tôi đã xem xét một cách cụ thể các trường hợp biến thể phát âm mang hong cách khẩu ngữ Thông qua đó, các tác giả văn học cuối TK XIX vẫn định hình được khuôn ngữ âm của các đơn vị Điều này góp phần đáng kể vào việc xây dựng bức tranh ngôn ngữ mang đậm màu sắc phương ngữ Nam Bộ
Từ láy (số lượng, tỷ lệ)
Từ ghép (số lượng, tỷ lệ)
1039 (25.56%) Thầy Lazaro
Phiền
(89.43%)
21 (0.39%)
574 (10.18%)
2.2.1 Từ đơn
Từ đơn là những từ mà thành phần cấu tạo của nó chỉ có một hình vị Xét
về vỏ vật chất của tín hiệu, nó chỉ 1 âm tiết – đơn tiết Từ đơn trong Tiếng Việt trên các văn bản văn học Nam Bộ cuối TK XIX có thể là yếu tố vay mượn (gốc Hán và gốc Pháp), có thể là yếu tố thuần Việt Nếu đó là yếu tố thuần Việt thì
vỏ vật chất của nó được cấu tạo theo mô hình âm tiết tiếng Việt, mô hình có các âm vị đoạn tính là Âm đầu + Âm đệm + Âm chính + Âm cuối, với thanh điệu là âm vị siêu đoạn tính
Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào phân tích chứng minh một số ví dụ cụ thể
Trang 342.2.1.1 Từ đơn là yếu tố thuần Việt
Theo khảo cứu của chúng tôi, từ đơn là yếu tố thuần Việt chiếm số lượng không nhỏ trong các văn bản VHNB cuối TK XIX Trong số đó có rất nhiều từ
là từ địa phương, từ cũ, từ cổ, biệt ngữ, tiếng lóng Trong đề tài này chúng tôi chỉ khảo cứu những từ không phải là bất kỳ một từ đơn, từ ghép nào mà ta có thể tìm thấy trong bất kì văn bản nào khác của giai đoạn này với sự xuất hiện trong ngữ cảnh cụ thể của nó, và cũng có thể các từ này ít hoặc không còn xuất hiện, hoặc xuất hiện dưới một hình thức ngữ âm biến thể, không hoàn toàn giống với hình thức ngữ âm ở đây, hoặc có sự thay đổi về trật tự các thành tố vv…
- Trong “Thầy Lazaro Phiền”
“Tôi lại cuối xuống xem bọt nước vận lên sau lái tàu,…khi có yếng sáng
trăng giọi xuống.”
( yếng nghĩa là ánh, tia sáng do một vật phát ra hay phản chiếu)
“Nhiều kẻ nghe tin ấy thì mầng, nhiều kẻ thì sợ, nhưng mà mầng sợ cũng
không bao lâu, vì binh Tây chưa đến nơi thì ngục đã bị đốt ra tro mạt hết rồi.”
“Vậy khi tôi thấy tôi còn một mình bơ vơ giữa đàng không cha không mẹ
không bà con cô bác.”
(đàng : đường)
“…còn dưới chơn tôi thì có một ông thầy thuốc đang giặc thuốc nơi chơn
tôi bị phỏng”
(giặc nghĩa là đắp thứ gì đó vào vết thương để chữa trị)
“ Khi tôi mới vô trường thì tôi kết nghĩa làm anh em vuối một người tên
là Verô Liểu ”
Trang 35(vuối nghĩa là với ?)
“…mà nay bỏ đã dò lòng tôi mà biết rõ sự thật.”
(bỏ là cách gọi trong đạo người đàn ông nhận đỡ đầu, cho tên Thánh người nam được rửa tội nhập đạo Thiên Chúa.)
“Nay bỏ vú lại muốn lo cho tôi đôi bạn nữa.”
(vú là người phụ nữ đỡ đầu cho người nữ khi chịu phép rửa tội trong đạo thiên Chúa)
“Ơn ngải chi đâu mà đền Mi Lazare!”
(ngải nghĩa là nghĩa)
“Những lời như vậy thì nó làm cho tôi đau đớn như lưởng gươm đâm
thấu vào lòng tôi vậy.”
(lưởng nghĩa là lưỡi)
“ …mà những người ấy chẳng dám đam tôi về nhà vì sợ quan nói giấu
người có đạo mà bắt chăng.”
(đam nghĩa là đem)
“Tôi vô nhà thấy bạn tôi bắt một cái nồi siêu trên bếp thì tôi hỏi rằng:
Mình sắc gì đó vậy.”
(siêu: loại ấm bằng đất nung, thường dùng để sắc thuốc uống hay nấu nước)
“Tôi về Bà rịa đặng ba bữa rày cho gần cha linh hồn.”
(rày nghĩa là nay, thời điểm ddnag được nói tới)
- Trong “Kiếp phong trần”
“ Vì vậy người ở đời, vang danh phú quý, vinh hiển, cao quờn lớn chức,
cùng là hèn mọn, bần tiện, vô danh, cô thế độc một.”
(quờn nghĩa là quyền)
“ Mà như nhắc của hai bên ra mà đọ nhau thì của mình thấy xoáng qua
đó thua xa lắm.”
(xoáng nghĩa là thoáng ? )
“Người ta có hồn có xác, nên phải kể xác là cái tợ con mắt mình ngó thấy
được trước rồi,…”
(tợ nghĩa là gì)
Trang 362.2.1.2 Từ đơn là yếu tố gốc Hán
- Trong “Thầy Lazaro Phiền”
“Tôi sanh ra là 1847 nhằm năm Tự Đức tức vị”
(tức có nghĩa là tại)
Ngoài ra còn có những từ đơn biến âm do kị húy:
Phúc / Phước
“Phải mà tôi biết người thiết nghĩa ấy sẽ phá sự phước tôi, thì tối sẽ xa
lánh người ấy là thể nào?” (TLP)
Kiểu 1: lặp hoàn toàn
Ví dụ: oa oa, lần lần (dần dần), luôn luôn, phăn phăn (phăng phăng), vo
vo, tím tím, ròng ròng
Ví dụ:
“ Phải tập lần lần sau lâu mới cử động được…” (KPT)
“Thì tôi nghe một viên đạn đi vo vo bên tai tôi, cùng một tiếng súng nổ
nơi ghe thầy Liểu.” (TLP)
Kiểu 2: lặp phụ âm đầu và khuôn vần, nhưng có sự chuyển đổi về thanh
Ví dụ: tội lổi
“Bởi vậy, bề ngoài người ta gọi tôi là người nhơn đức, mà hẳn thật tôi là
đứa tội lổi giả hình mà thôi…” (TLP)
Kiểu 3: lặp âm đầu và thanh nhưng chuyển đổi vần
Ví dụ: sọt sẹt, lỗ lã, lếu láo, xôn xao, cục cựa, dại dột, sốt sắng, dại dột
“…chơi ít bữa, rồi lại biến lại tước, sọt sẹt nóng rét…” (KPT)
Trang 37“Nghĩ đi nghĩ lại mà coi, thật quả như lời anh nói đó chúc, bấy lâu tôi ơ
hờ lếu láo bất ý chẳng có xét tới làm chi, hay bỏ qua, nghe anh mới nhớ mới
biết rõ là có như vậy.” (KPT)
“Thuở ấy là năm 1860 tôi được mười ba tuổi thì tôi nghe nói xôn xao
rằng:…” (TLP)
“Tôi ở nhà thương hơn bốn mưới ngày; không cục cựa vì đặng hai chơn
tôi bị bó lại, cho nên đi đâu không được” (TLP)
Kiểu 4: lặp vần và thanh nhưng chuyển đổi âm đầu
Ví dụ: lục đục, lao đao, cheo leo, lận đận, thong dong, bối rối, bồi hồi, áy náy, bồn chồn, bơ vơ, sáng láng
“ Tại anh một năm tơi tôi, những lục đục ở nhà, không có nói ra mà đi
đâu, nên mới không biết.” (KPT)
“…tuy coi bộ thong dong mặc lòng, mà trong bụng trăm lo ngàn
tưởng,…” (KPT)
“…hao tổn tinh thần, ăn không ngon, nằm không ngủ, thao thức bối rối
bồi hồi áy náy tâm thần; thì chẳng phải là trừ nhau sao?” (KPT)
“Trời, bồn chồn sao đặng, đổi đời sao nên?” (KPT)
“Vậy khi tôi thấy tôi còn một mình bơ vơ giữa đàng không cha không mẹ
không bà con cô bác.” (TLP)
Kiểu 5: lặp âm đầu, chuyển đổi vần và thanh
Ví dụ: vui vẻ, đau đớn, lần lựa, thầm thì, sung sướng, thong thả, dơ dáy, thúi tha, rỏ ràng, dịu dàng, sẳn sàng, lạ lùng, màu mỡ, dong dảy
“Tôi lần lựa như vậy cho đến tàu đi ra khỏi xóm chiếu…” (TLP)
“ Thầy còn trẻ chưa biết đủ việc đời: hay là còn đang lúc có phước, thầy
chưa từng sự đau đớn, nên thầy nói tôi điên, tôi không điên đâu thầy!” (TLP)
2.2.2.2 Láy tư
Ngoài ra, còn có kiểu láy tư, đó là phương thức cấu tạo từ láy abac, cụ thể
là nếu a là một từ có nghĩa, còn bc là một khuôn láy nào đó Mặc dù khi đứng riêng b và c không có khả năng làm bổ tố cho a, có nghĩa là không tồn tại riêng biệt những kết hợp ab và ac, nhưng khi ghép với nhau thành một một khối abac thì khối này lại có nghĩa của a cộng thêm sắc thái của bc
Trang 38Ngó → ngó quanh ngó quất
Ví dụ:
“Khi tôi ra khỏi ngục thì chẳng biết đi đâu, ngó quanh ngó quất thì thấy
những người lạ hay là những kẻ ngoại quen,…” (TLP)
Hình thức abac có thể là kết quả của nhiều phương thức cấu tạo từ khác nhau Chúng ta có thể xen yếu tố a vào bc như “mượn mai mượn mối”
Ví dụ:
“Ôi thôi! Chịu lòn đầu lụy, mượn mai mượn mối đi nói.” (KPT)
- Ngoài ra, còn có phương thức cấu tạo aabb như trong “muôn muôn vàn vàn” , hay
Ví dụ:
“Trời đất đã sinh ra làm vậy mà thật là hay : ấy người ta muôn muôn
vàn vàn như kiến cỏ ở trên mặt trái đất này, mà có phải khác mặt nhau hết
thảy không ?” (KPT)
2.2.3 Từ ghép
2.2.3.1 Từ ghép đẳng lập
- Trong “Thầy Lazaro Phiền”
“Ông già tôi trước khi đốt ngục thì đã xán bịnh rồi,…”
(xán bịnh: nghĩa là tình trạng bệnh xấu hơn, nguy hiểm hơn mức đang mắc phải)
“…tôi không đi thì tôi sẽ bạc ngải và dại dột là dường nào.”
( bạc ngải nghĩa là bạc nghĩa, không có tình nghĩa, đối xử vô tình với nhau)
“Vậy quan tham biện liền chi tôi đủ quờn phép khí giái quân lính cùng
dạy tôi phải lo xuất hành cho kíp.”
(quờn phép là biến thể của quyền phép, khí giái là biến thể của khí giới,
vũ khí trang bị cho lính khi ra trận, phát âm theo cách của phương ngữ)
“Ăn cướp đã chận đàng Sài gòn mà đánh ghe buôn nhiều lắm.”
(ghe buôn: loại ghe có mui, kích thước lớn, chuyên dùng để bán hàng lưu động trên sông)
Trang 39“Khi coi đi coi lại,…rõ là ghe thầy ấy…soạn sửa khí giái vì tối nay nước
lớn thì có ăn cướp mà bắn.”
(nước lớn: cách dùng để chỉ con nước từ mực thấp lên cao, nước lên mỗi ngày)
“Phải mà tôi biết người thiết nghĩa ấy sẽ phá sự phước tôi, thì tôi sẽ xa
lánh người ấy là thể nào?”
(thiết nghĩa: kết nghĩa, gắn bó xem nhau như người thân)
“Mọi người đều bị đóng trăng hết, cho nên những kẻ đau đớn bịnh hoạn,
hay là những kẻ có việc cần phải đi ra, mà bị lính không cho đi thì lại phải làm nhiều sự dơ dáy nói mình nằm.”
(đóng trăng là đóng gông hay cùm cho kẻ phạm tội)
- Trong “Kiếp phong trần”
“Có kẻ việc vàn không dời tay?”
“Còn làm sao có người dong dảy, có người cùi đày?”
“Dạy cho biết thờ cha kính mẹ, thuận thảo anh em, tế nhường cậu cô chú
bác cùng người lớn.”
2.2.3.2 Từ ghép chính phụ
- Trong “Thầy Lazaro Phiền”
“Ngày chúa nhựt mà muốn xem lễ cho được, thì phải chịu nhiều đều rất
cam khổ là quá chừng.”
(chúa nhựt là biến thể của chủ nhật)
“Song thật trong lòng tôi quyết kiếm thế nào mà báo cừu hai người đã
phá sự phước tôi như vậy.”
(báo cừu có nghĩa như báo thù : đáp lại bằng một hành động trả thù) Ngoài ra, còn có những từ ghép khó xác định được có phải là từ ghép chính phụ hay từ ghép đẳng lập
Ví dụ:
“ Tôi lại kiếm thế mà oán thù” (TLP)
(kiếm thế: tìm cách, bằng cách nào đó thực hiện một việc gì)
“Song dầu mà tôi thương người ấy mặc lòng, tôi cũng chẳng tỏ sự ấy ra
cho thầy Liểu là anh em thiết nghĩa với tôi hay.” (TLP)
Trang 40(mặc lòng: thể hiện sự chân thành trong quan hệ với người nào đó)
“Tôi ra làm thông ngôn đặng 6 tháng.” (TLP)
(thông ngôn: những gì liên quan đến điện tín, thông tin liên lạc)
2.2.4 Từ xưng hô
Từ xưng hô trong tiếng Việt vô cùng phong phú do tính chất của mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng Việt Nam, nó lại càng phong phú hơn khi khác nhau ở các vùng miền phương ngữ và được bổ sung thêm những yếu tố của những vùng miền khác Trong các văn bản VHNB cuối TK XIX những từ xưng hô được đưa vào và sử dụng chọn lọc trong phong cách khẩu ngữ
-Ở hàng cha mẹ: Cha, mẹ chính là tiếng gọi phổ biến ở Nam Bộ cuối thế
kỷ XIX Ngoài ra còn xưng là ông già, bà già
Ví dụ:
“Hết mười năm chưa làm được cái gì cho cha mẹ nhờ, những nhờ cha
mẹ mà thôi!” (KPT)
“Ông già tôi là người có đạo dòng tử tế, vốn là người Quảng – bình, mà
vô ở Đất – đỏ đã lâu; còn bà già tôi là người Gia – định.” (TLP)
-Ở hàng ngang cha mẹ: các từ gọi những người ngang hàng cha mẹ như:
cô, dì, chú, bác, cậu…
Ví dụ:
“…thì cũng nhờ cha mẹ chăn giữ coi sóc từ điều, đường đi nước bước, dạy lời ăn tiếng nói, dạy cho biết thờ cha kính mẹ, thuận thảo anh em, tế nhường cậu cô chú bác cùng người lớn.” (KPT)
-Ở quan hệ hôn nhân: vợ, chồng, bạn tôi, mình
Ví dụ:
“Dầu mà vợ chồng đã về cùng nhau rồi, song lòng tôi còn thương tưởng
như trước.” (TLP)
“Lại gặp bạn tôi thì cũng lấy làm có phước lắm, vì cũng có lòng thương
tôi như tôi đã thương vậy.” (TLP)
“Tôi vô nhà thấy bạn tôi đang bắc một cái siêu trên bếp thì tôi hỏi rằng:
Mình sắc gì đó vậy?” (TLP)