Nghè, đoạn từ cầu Bông đến cầu Kiệu” được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng không gian mặt nước trong đô thị nói chung và khu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè nói riêng, cũng như x
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát và đánh giá giá trị thẩm mỹ tại lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè, TP.HCM, được thực hiện thông qua ý kiến và nhận xét của người dân trong khu vực Nghiên cứu này nhằm làm rõ những cảm nhận và đánh giá của cộng đồng về không gian sống và cảnh quan tại khu vực này.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
5.1.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Tổng hợp thông tin, tài liệu từ các bài báo, tạp chí, sách chuyên ngành,… từ các nguồn sau:
- Phòng Nghiên cứu và thông tin Đô thị
- Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố
- Thư viện trung tâm Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
- Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
5.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp Để thực hiện tốt công tác thu thập dữ liệu sơ cấp làm cơ sở nghiên cứu của nhóm, chúng tôi tập trung nghiên cứu dữ liệu định lượng bằng phương pháp phỏng vấn bảng hỏi với số bảng hỏi khoát sát là 175 phiếu Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp Green Map System (GMS) là một phương pháp đánh giá trực tiếp trên bản đồ giúp nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu một cách phù hợp với nghiên cứu của nhóm nhất Ngoài những phương pháp nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát là một công cụ để nhóm nghiên cứu tìm hiểu và thu thập thông tin cho đề tài này.
Phương pháp xử lý thông tin
Thông tin thứ cấp sẽ được tổng hợp theo các nhóm vấn đề như vai trò của không gian mặt nước trong đô thị, giá trị của không gian mặt nước, và các phương pháp nâng cao giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước Đối với thông tin sơ cấp, dữ liệu thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm MS Excel và SPSS.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước trong đô thị ngày càng trở nên quan trọng khi nhu cầu con người tăng cao Nhiều nghiên cứu cho thấy giá trị thẩm mỹ, bên cạnh các giá trị môi trường, sinh thái, xã hội, kiến trúc cảnh quan và kinh tế, đóng góp đáng kể vào sự hấp dẫn của không gian mặt nước Tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu và người dân Việt Nam, do đó cần có nghiên cứu để nâng cao nhận thức và bảo tồn giá trị thẩm mỹ hiệu quả hơn Mặc dù giá trị thẩm mỹ được quy hoạch bởi cơ quan chức năng, người dân vẫn là đối tượng thụ hưởng và tham gia vào các hoạt động bảo vệ và nâng cao giá trị này Vì vậy, việc đánh giá giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước trong đô thị là một vấn đề cần thiết để nghiên cứu.
Sự tham gia của người dân vào các hoạt động cộng đồng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển bền vững Tuy nhiên, sự chấp nhận này còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Do đó, việc nghiên cứu nhận thức và hành vi của người dân trong việc bảo tồn và nâng cao giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước đô thị là cần thiết Nghiên cứu này cũng sẽ cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho Thành phố Hồ Chí Minh trong việc đánh giá giá trị không gian mặt nước.
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này giới thiệu một khái niệm mới, giúp các nhà nghiên cứu và người dân hiểu rõ hơn về giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước trong đô thị, một chủ đề trước đây ít được chú ý Đây cũng là nguồn thông tin quý giá cho người dân, các nhà nghiên cứu và nhà đầu tư, giúp họ tiếp cận đầy đủ các giá trị của không gian mặt nước trong môi trường đô thị.
Đề tài này tiếp cận từ góc độ đánh giá và nghiên cứu hành vi của người dân trong việc bảo vệ và nâng cao giá trị thẩm mỹ cho không gian mặt nước đô thị Nó cung cấp cơ sở cho các nhà quản lý và chính quyền thành phố xem xét khía cạnh xã hội trong công tác bảo tồn và phát triển giá trị của không gian mặt nước trong đô thị.
Kết cấu đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm bốn phần:
Phần Dẫn nhập trình bày các yếu tố chính của đề tài, bao gồm lý do lựa chọn, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp áp dụng, phạm vi nghiên cứu, tổng quan về đề tài, và ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn mà đề tài mang lại.
- Chương 1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 1 sẽ giải thích các khái niệm liên quan đến đề tài và tổng quan về giá trị thẩm mỹ của khu vực nghiên cứu, tạo nền tảng cho việc thiết kế nghiên cứu của nhóm tác giả.
- Chương 2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 2 trình bày thực trạng lưu vực nghiên cứu và giá trị thẩm mỹ của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, thông qua đánh giá của người dân Bên cạnh đó, chương cũng phân tích mức độ tác động của cộng đồng đối với giá trị thẩm mỹ của kênh này.
Kết luận sẽ tổng hợp các kết quả nghiên cứu, đánh giá những ưu và nhược điểm của quá trình nghiên cứu, đồng thời đưa ra các đề xuất cho các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1: Giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè có sự khác nhau về (1) không gian và (2) thời gian
Giả thuyết 2 cho rằng có sự khác biệt trong các yếu tố ảnh hưởng đến cách người dân đánh giá giá trị thẩm mỹ của KGMN tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè.
Giả thuyết 3 cho rằng giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè được thể hiện qua bốn yếu tố chính: cảnh quan xung quanh, màu sắc, mùi hương, và tính biểu tượng của cảnh quan hai bên.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận
1.1 Giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước và các khái niệm liên quan
Để đảm bảo sự nhất quán trong các khái niệm được định nghĩa rõ ràng và hướng tiếp cận các vấn đề liên quan đến đề tài, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thao tác hoá các khái niệm có liên quan như sau.
“Nhận thức” là quá trình phản ánh và tái tạo hiện thực trong tư duy con người, dựa trên thực tiễn khách quan, theo quan điểm của Chủ nghĩa Marx - Lenin.
Nhận thức là quá trình biện chứng phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, giúp con người tư duy và tiến gần hơn đến khách thể Quá trình này diễn ra qua các giác quan, trí nhớ và ý thức, với các cấp độ từ nhận biết, phân biệt, tư duy, ghi nhớ đến đánh giá và giải quyết vấn đề Nhận thức càng cao về sự vật/hiện tượng, sự thuyết phục càng chắc chắn, dẫn đến quan điểm và niềm tin rõ ràng hơn Khi đó, con người chấp nhận sự vật/hiện tượng mà không cần tranh luận hay minh họa thêm Trong nghiên cứu, khái niệm “nhận thức” được hiểu là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người qua quá trình tiếp thu có phản biện, từ đó dẫn đến hành vi tác động ngược lại với nguồn thông tin Nếu người dân nhận thức rõ về giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước, họ sẽ có những đánh giá phù hợp và khách quan.
"Đánh giá" có nghĩa là nhận định giá trị của một đối tượng, có thể là con người, tác phẩm nghệ thuật hoặc sản phẩm hàng hóa Các từ đồng nghĩa với "đánh giá" bao gồm phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận và xem xét.
2 Viện ngôn ngữ học (1994) Từ điển tiếng Việt Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Dịch vụ và đội ngũ giáo viên đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục và môi trường Đánh giá tác động môi trường cũng là một yếu tố cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững trong các lĩnh vực này.
"Hành vi" là chuỗi các hành động lặp đi lặp lại, phản ánh các hoạt động của cơ thể nhằm đáp ứng kích thích từ môi trường Hành vi của cá nhân hay cộng đồng được hiểu là phản ứng đối với các tác nhân ban đầu, theo quan điểm của John B Watson, các cá nhân sẽ thể hiện cùng một hành vi trong cùng điều kiện Tuy nhiên, George H Mead cho rằng giữa tác nhân và phản ứng còn có các yếu tố trung gian như nhu cầu sinh lý và nhận thức Điều này cho thấy hành vi của cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm đặc điểm của sự vật, môi trường xung quanh, và nhận thức cá nhân Trong thực tế, cá nhân thường phải cân nhắc nhiều hành vi khác nhau, dẫn đến việc lựa chọn hành vi hợp lý nhất, theo lý thuyết lựa chọn hợp lý, quyết định của cá nhân phụ thuộc vào các kích thích có ích cho bản thân, trong đó nhận thức đóng vai trò quan trọng.
Theo từ điển Tiếng Việt của Giáo sư Hoàng Phê, "biểu tượng" được định nghĩa là hình ảnh tượng trưng, phản ánh nhận thức vượt lên trên cảm giác, cung cấp hình ảnh tương đối đầy đủ về sự vật Hình ảnh này vẫn tồn tại trong nhận thức của chúng ta ngay cả khi không còn tương tác với sự vật hay hiện tượng đó Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm đã quyết định áp dụng khái niệm này để giải thích cho đối tượng người dân được khảo sát.
TS Nguyễn Kim Dung đã đưa ra một số ý kiến đóng góp nhằm cải tiến chất lượng công tác kiểm tra và đánh giá kết quả học tập ở bậc phổ thông Nghiên cứu này được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh và được truy cập vào ngày 29 tháng 9 năm 2012.
4 Dusenbery, David B (2009), Living at Micro Scale, p 124 Harvard University Press, Cambridge, Mass
25 hệ thống quan niệm khi tiến hành khảo sát về tính biểu tượng của GTTM tại KGMN kênh NL-TN
Giá trị thẩm mỹ là một giá trị đặc thù, tồn tại song song với các giá trị khác như giá trị thực dụng và giá trị đạo đức Tất cả các lớp giá trị này đều phản ánh bản chất giá trị học, trong đó mọi dạng giá trị như cái thiện, cái hữu ích, sự công bằng, cái đẹp và cái cao cả đều biểu đạt giá trị của khách thể dựa trên vai trò của nó trong hoạt động sống của xã hội, giai cấp, tầng lớp xã hội hoặc cá nhân Do đó, trong lĩnh vực thẩm mỹ cũng như các lĩnh vực định hướng giá trị của con người, khái niệm "giá trị" gắn liền với khái niệm "đánh giá", mô tả hệ thống quan hệ giá trị từ cả hai phương diện chủ quan và khách quan.
Giá trị thẩm mỹ được xác định bởi mối quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, phản ánh lối cảm thụ vô tư và trực tiếp, kết hợp giữa tinh thần và cảm tính Điều này giúp nhận thức và đánh giá hình thức, nội dung, cấu trúc, mức độ tổ chức và trật tự của các đối tượng trong thực tế.
- Những sự vật và hiện tượng tự nhiên có thể soi ngắm cảm tính;
- Bản thân con người (dáng vẻ, hoạt động, hành vi, ứng xử);
- Những đồ vật do người sáng tạo ra thành “tự nhiên thứ hai”;
- Những sản phẩm của hoạt động tinh thần (khoa học, chính luận,…) mà cấu trúc của chúng có thể cảm nhận và đánh giá một cách cảm tính;
- Các tác phẩm nghệ thuật thuộc mọi loại hình
Mặt nước là nước tồn tại trên bề mặt lục địa, bao gồm sông, hồ và vùng đất ngập nước, và có thể được phân biệt với nước ngầm và nước trong khí quyển Trong nghiên cứu, khái niệm không gian mặt nước được định nghĩa là khu vực bao gồm mặt nước của các kênh, rạch, sông hồ cùng với không gian cây xanh và tiểu cảnh xung quanh Cụ thể, không gian mặt nước của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè được xác định bao gồm mặt nước và không gian cây xanh (bờ kè) nằm hai bên sông, được giới hạn bởi hai con đường Trường Sa và Hoàng Sa.
"Cảnh quan" là một khu vực rộng lớn có thể quan sát từ một điểm, định nghĩa này giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng và dễ hiểu Tuy nhiên, khi xem xét theo khía cạnh địa lý, văn hóa và tự nhiên, cảnh quan bao gồm tất cả các đặc trưng có thể nhìn thấy của một khu vực Điều này bao gồm các yếu tố vật lý như núi, đồi, và nguồn nước như sông, hồ, biển; các yếu tố sống như thảm thực vật bản địa; các yếu tố do con người tạo ra như hình thức sử dụng đất, tòa nhà và cấu trúc; cùng với các yếu tố tạm thời như ánh sáng và điều kiện thời tiết.
1.2 Lý luận về cấu trúc - chức năng
Thuyết Cấu trúc - Chức năng trong quy hoạch không gian đô thị bao gồm quy hoạch kinh tế - xã hội đô thị và quy hoạch không gian vật lý Nghiên cứu “Đánh giá giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước trong đô thị (trường hợp kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đoạn từ cầu Bông đến cầu Kiệu)” tiếp cận thuyết này theo khía cạnh quy hoạch không gian vật lý, nhằm làm rõ vai trò của không gian sống trong đô thị.
Quy hoạch không gian là quá trình tổ chức và phân bổ các yếu tố vật chất như nhà ở, công sở, đường xá, cầu cống và công trình công cộng trong một không gian ba chiều một cách hợp lý và có tính toán.
1.3 Lý luận về nhận thức và hành vi
Những người theo thuyết hành vi cho rằng động cơ cá nhân rất khác nhau nhưng không ảnh hưởng lớn đến hành vi con người Họ cho rằng động cơ mang tính chủ quan, trong khi hành vi lại diễn ra liên tục và thay đổi theo tình huống Do đó, động cơ trở nên không còn ý nghĩa Theo quan điểm này, con người bị chi phối bởi tác động của môi trường, và khi môi trường thay đổi, hành vi của con người cũng sẽ thay đổi theo.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Tổng quan về lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè
1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Lưu vực NL – TN có diện tích khoảng 33 km², trải dài qua 7 quận nội thành TP.HCM, bao gồm toàn quận Phú Nhuận và một phần các quận 1, 3, 10, Tân Bình, Gò Vấp và Bình Thạnh Khu vực này có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Hàng năm, lưu vực NL - TN chịu ảnh hưởng của hoàn lưu khí quyển miền nhiệt đới cận xích đạo, với hai hướng gió chính là Đông Bắc và Tây Nam.
Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè dài 9,740m, có cao độ từ 0.5 – 8.0m, với 18% diện tích thấp hơn 2m (Trần Thị Mỹ Hồng và Lê Song Giang, 2013) Độ sâu trung bình của kênh là 5m, chảy từ Tây Bắc đến Đông Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc thoát nước ra sông Sài Gòn theo dòng chảy tự nhiên Ngoài ra, lưu vực còn bao gồm các nhánh kênh phụ như rạch Cầu Bông và rạch Văn Thánh.
Thành phố Hồ Chí Minh có lượng mưa trung bình vượt 1500mm mỗi năm trong giai đoạn 2005-2015, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của các kênh rạch trong khu vực.
Kênh NL - TN đảm bảo cung cấp đủ nước để duy trì dòng chảy, đồng thời cũng thực hiện chức năng thoát nước sinh hoạt trong đô thị Do đó, kênh này còn chứa một lượng nước thải sinh hoạt hàng ngày từ người dân.
Biểu đồ 1.Lượng mưa trung bình năm giai đoạn 2005 – 2015
(Nguồn: Niên giám thống kê TP.HCM năm 2010 và 2015)
1.2 Thực trạng người dân sử dụng không gian mặt nước kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Kênh NL - TN có nhiều hình thái uốn lượn, tạo ra những khoảng không gian mặt nước rộng lớn Hai bên bờ kênh là hàng cây xanh và các tiểu cảnh, hoa, cùng với những tiện ích thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể, tập thể dục, đi dạo và nghỉ mát.
Một hoạt động nổi bật diễn ra hàng ngày tại khu vực khảo sát của nhóm nghiên cứu là tập thể dục của người dân Vào khoảng 5 giờ 30 phút sáng, khi nhóm nghiên cứu có mặt, đã có nhiều người tham gia các hoạt động như chạy bộ, đi dạo và vận động Các hoạt động thể dục rất đa dạng, được chia thành nhiều nhóm khác nhau tùy theo đối tượng và nhu cầu Một số người sử dụng máy tập thể dục bên bờ kênh, vừa tập vừa trò chuyện hoặc ngắm cảnh Ngoài ra, còn có nhóm tập thể dục dưỡng sinh và nhóm đi dạo, chạy bộ, tạo nên không gian sinh động bên mặt nước của kênh.
NL - TN là một không gian công cộng, nơi người dân có thể tự do tham gia các hoạt động xã hội, giao tiếp và tương tác, từ đó gắn kết cộng đồng.
Hình 10 Người dân sử dụng không gian hai bên kênh NL - TN để tập thể dục vào buổi sáng (Nguồn: nhóm nghiên cứu)
Nhóm nghiên cứu đã tự đặt ra câu hỏi về lý do người dân lựa chọn các không gian công cộng, đặc biệt là những không gian mặt nước.
Trong quá trình khảo sát, nhóm nghiên cứu đã rút ra một số kết luận quan trọng về không gian công cộng trong đô thị Đầu tiên, không gian công cộng được xác định là những khu vực miễn phí và dễ tiếp cận Thứ hai, cảnh quan thiên nhiên, bao gồm cây xanh và mặt nước, giúp tạo ra tâm lý thoải mái cho cư dân giữa sự ngột ngạt của đô thị Thứ ba, không khí tại các không gian mặt nước trong đô thị thường trong lành hơn so với những khu vực có nhiều công trình nhà ở Thứ tư, tính thuộc về của cộng đồng được thể hiện rõ trong những không gian này Cuối cùng, khả năng tương tác giữa người dân trong các không gian công cộng cao hơn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Công ty TNHH Thuyền Sài Gòn đã được UBND TP.HCM cấp phép khai thác tour du lịch bằng du thuyền trên kênh NL - TN, góp phần tăng giá trị không gian mặt nước.
Sở Du lịch TP.HCM nhận thấy hoạt động du thuyền trên kênh NL - TN chưa được khai thác hiệu quả, với chỉ một số chuyến vào buổi tối và không hoạt động vào buổi sáng Nhóm nghiên cứu chỉ ra ba nguyên nhân chính: (1) tình trạng tái ô nhiễm trên kênh NL - TN; (2) giá trị thẩm mỹ của KGMN chưa đủ ấn tượng để thu hút người dân; và (3) tính biểu tượng của cảnh quan hai bên KGMN còn thấp Các biểu tượng tại KGMN như chùa, cầu, và toà nhà có thể tạo ấn tượng mạnh mẽ, cùng với các tiểu cảnh như hoa và cây xanh cũng góp phần thu hút sự chú ý Tuy nhiên, nếu không có sự phân tích và khảo sát kỹ lưỡng, người dân sẽ khó nhận ra những yếu tố biểu tượng này.
Hình 11 Du thuyền trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè ra mắt năm 2015 5
Một vấn đề quan trọng khi xem xét tình hình sử dụng không gian mặt nước tại kênh NL - TN là các hoạt động tiêu cực làm giảm mỹ quan đô thị Hoạt động câu cá trái phép diễn ra dọc hai bên kênh NL - TN, mặc dù có biển báo cấm, vẫn tiếp tục diễn ra, gây ảnh hưởng xấu đến giá trị thẩm mỹ của khu vực Hình ảnh người dân câu cá không chỉ làm mất mỹ quan mà còn dẫn đến việc vứt rác như ly nhựa, tàn thuốc và bao nylon xuống lòng kênh, tạo nên tình trạng ô nhiễm và rác thải trên vỉa hè.
Hình 12 Người dân câu cá trái phép tại khu vực kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đoạn khảo sát của nhóm nghiên cứu (Nguồn: nhóm nghiên cứu)
5 https://news.zing.vn/thuyen-du-lich-tren-kenh-nhieu-loc-thi-nghe-bi-nem-da-post711571.html truy cập lúc 14 giờ 32 phút ngày 19/04/2019
Hình 13 Rác trôi nổi trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đoạn khảo sát của nhóm nghiên cứu (Nguồn: Nhóm nghiên cứu)
Người dân sống gần kênh NL - TN thường sử dụng lan can trên vỉa hè để phơi đồ cá nhân như khăn, quần áo, chăn màn và giẻ lau, gây ra tình trạng nhếch nhác và mất mỹ quan cho không gian mặt nước của kênh Hành động này đã tác động tiêu cực đến giá trị thẩm mỹ của khu vực.
Người dân đang phơi đồ trên lan can ven kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè trong khu vực khảo sát, cho thấy các hoạt động cộng đồng sử dụng không gian công cộng tại kênh này.
Tài nguyên thiên nhiên (TN) có sự đa dạng phong phú và ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá trị thẩm mỹ của khu vực, bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực Trước thực trạng sử dụng kinh tế gắn với môi trường tự nhiên (KGMN) tại kênh nước và tài nguyên (NL - TN), người dân sẽ có những đánh giá khác nhau về giá trị thẩm mỹ của khu vực này Những đánh giá này sẽ được trình bày chi tiết trong phần tiếp theo của đề tài.
Đánh giá giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước tại kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Trong quá trình đánh giá giá trị thẩm mỹ của KGMN tại kênh NL - TN, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng mẫu khảo sát chủ yếu tập trung vào những người tham gia hoạt động ở hai bên bờ kênh Điều này dẫn đến việc mẫu có thể thiên lệch về một nhóm đối tượng cụ thể Tuy nhiên, điều quan trọng là mẫu khảo sát vẫn bao gồm những người dân đang trực tiếp có mặt tại KGMN của kênh NL - TN, cho phép họ tương tác trực tiếp và phản ánh những vấn đề cốt lõi.
Nhóm nghiên cứu đã phát ra 175 phiếu và nhận lại 175 phiếu với đầy đủ thông tin cần thiết cho đề tài, đạt tỷ lệ 100% Biểu đồ 2 và 3 dưới đây trình bày thông tin về đối tượng nghiên cứu tại KGMN kênh NL-TN.
Biểu đồ 2 Thông tin về giới tính Biểu đồ 3 Thông tin về độ tuổi
Nhóm nghiên cứu đã phân tích không gian mẫu và nhận định rằng tại KGMN, kênh NL - TN có sự tham gia của các đối tượng thuộc nhiều độ tuổi khác nhau.
Cảnh quan là khu vực rộng lớn có thể quan sát từ một điểm, và trong nghiên cứu này, nó được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá giá trị thẩm mỹ của KGMN tại kênh NL - TN Các yếu tố cảnh quan bao gồm cây xanh, hoa, mặt kênh và các toà nhà làm phông nền cho góc nhìn Dưới đây là bảng thang điểm mà người dân sử dụng để đánh giá yếu tố cảnh quan.
Bảng 1 Kết quả đánh giá yếu tố cảnh quan
Giá trị Tần suất Tỷ lệ (%) Phần trăm lũy tiến (%)
Theo thang điểm đánh giá, yếu tố cảnh quan của KGMN tại kênh NL - TN luôn đạt từ 3 điểm trở lên, với 49.1% người đánh giá cho điểm tối đa 5, 30.9% cho điểm 4 và 20% cho điểm 3 Điều này cho thấy giá trị thẩm mỹ của KGMN tại khu vực này được người dân đánh giá tương đối cao Tuy nhiên, cần xem xét cụ thể từng đoạn để xác định có những điểm nào bị đánh giá không tốt Phân tích cảnh quan từng đoạn cho thấy mỗi đoạn khảo sát có những đặc trưng riêng, dẫn đến những nhận định và đánh giá khác nhau từ phía người dân.
Nhóm nghiên cứu đã phân tích 7 bản đồ GMS để đánh giá mức độ ấn tượng của cảnh quan, cho thấy người dân có nhiều đánh giá tích cực hơn về cảnh quan trong khu vực khảo sát Trước khi xem xét các đánh giá cụ thể theo từng đoạn, nhóm đã đưa ra những nhận xét chung về ấn tượng tốt và không tốt của người dân đối với tiêu chí cảnh quan Hình 15 minh họa kết quả đánh giá yếu tố cảnh quan của không gian mặt nước trong khu vực nghiên cứu.
Hình 15 Kết quả đánh giá cảnh quan không gian mặt nước trên bản đồ GMS tại khu vực nghiên cứu gồm các đoạn 1(a); 2(b); 3(c); 4(d); 5(e); 6(f); và 7(g)
Nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp quan sát và tham gia cùng người dân trong quá trình đánh dấu các điểm trên bản đồ GMS Kết quả cho thấy, hầu hết những điểm mà người dân lựa chọn đều có những yếu tố nổi bật Đặc biệt, những điểm ấn tượng tích cực chủ yếu tập trung ven bờ kênh NL - TN, dọc theo đường Trường Sa.
Mật độ che phủ cây xanh ven bờ kênh NL - TN phía đường Trường Sa rất cao, tạo nên một cảnh quan thống nhất và ấn tượng Cây xanh là yếu tố chủ đạo, góp phần làm cho không gian nơi đây trở nên thu hút và gần gũi với người dân.
Thứ hai, vào những buổi sáng sớm, ven bờ kênh NL - TN, phía đường Trường
Những đàn cá bơi gần mặt nước sát bờ tìm thức ăn như lá cây rụng, sâu, và côn trùng tạo nên sự thích thú cho người dân khi ngắm nhìn Khu vực gần chân cầu Bông, mặc dù không có bóng cây xanh, vẫn gây ấn tượng mạnh mẽ với sự tập trung của nhiều đàn cá Tuy nhiên, hiện tượng này chỉ xuất hiện ở một số đoạn nhất định trong khu vực khảo sát, không phải ở tất cả các nơi.
Trong khu vực nghiên cứu của nhóm, nhiều loài hoa được trồng thành từng đoạn khác nhau, tạo ra sự chuyển tiếp cảnh quan sinh động và đa dạng Điều này không chỉ làm cho cảnh quan trở nên hấp dẫn hơn mà còn để lại ấn tượng mạnh mẽ với người dân.
Hình 16 Hình thức hoa trang trí cảnh quan tại khu vực nghiên cứu.
Mặc dù khu vực nghiên cứu có nhiều cảnh quan ấn tượng, nhưng mặt kênh NL - TN lại cho thấy những điểm không tốt Nguyên nhân của vấn đề này đã được xem xét và rút ra.
Rác trôi nổi trên sông tạo ra những điểm ấn tượng không tốt, làm cho không gian mặt nước bị phá vỡ Điều này khiến nhiều người dân cảm thấy khó chịu và có ấn tượng tiêu cực về môi trường xung quanh.
Một nguyên nhân khác khiến cảnh quan nơi đây bị đánh giá xấu là hình ảnh những người dân câu cá trái phép Nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra rằng trong 7 đoạn khảo sát, hầu hết các đoạn đều có sự tham gia của người dân vào hoạt động câu cá Đặc biệt, người dân trong khu vực nghiên cứu được phân chia thành hai nhóm chính: những người tham gia câu cá trái phép.
Nhiều người dân chỉ đến KGMN tại kênh NL - TN để sinh hoạt tập thể và nghỉ mát Họ cho rằng việc câu cá trái phép tại đây không chỉ làm mất mỹ quan đô thị mà còn gây nhếch nhác cho cảnh quan chung của khu vực nghiên cứu.
Một nguyên nhân gây ấn tượng xấu cho cảnh quan KGMN tại kênh NL - TN là việc người dân phơi đồ dùng cá nhân trên lan can ven kênh Hành động này đã ảnh hưởng tiêu cực đến cảm nhận của du khách khi đến thăm khu vực này.
Hành vi của cộng đồng đối với giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước
Hành vi của cộng đồng ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc đánh giá giá trị thẩm mỹ của KGMN tại kênh NL - TN Nhóm tác giả tập trung vào hành vi nhận thức của người dân đối với giá trị thẩm mỹ này, vì nó là yếu tố quyết định trong việc đánh giá giá trị thẩm mỹ của KGMN tại kênh NL - TN.
3.1 Mức độ quan tâm của cộng đồng
Theo khảo sát, 60.6% người dân cho rằng yếu tố thẩm mỹ rất quan trọng trong việc thu hút họ đến KGMN kênh NL - TN, trong khi 39.4% cho rằng yếu tố này quan trọng Không có ý kiến nào cho rằng yếu tố thẩm mỹ không quan trọng Điều này cho thấy cộng đồng đánh giá cao tác động của thẩm mỹ đối với sự tham gia của người dân vào các hoạt động tại KGMN trong đô thị.
Biểu đồ 4 Kết quả tác động của yếu tố thẩm mỹ đến sự thu hút người dân
Theo khảo sát, 79.4% người dân cho rằng giá trị thẩm mỹ của kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè tăng sẽ kéo theo sự gia tăng các giá trị khác trong khu vực Hơn 20% ý kiến cho rằng không có sự gia tăng này Người dân tin rằng việc nâng cao giá trị thẩm mỹ sẽ thu hút du khách, thúc đẩy hoạt động kinh doanh và gia tăng giá trị kinh tế cho khu vực.
Việc tăng cường phát triển du lịch tại kênh NL - TN sẽ thúc đẩy mô hình du lịch tour bằng du thuyền, khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch Đồng thời, giá trị thẩm mỹ của khu vực kênh NL - TN cũng sẽ gia tăng, kéo theo sự tăng trưởng giá trị đất đai ven kênh này.
Biểu đồ 5 Kết quả khảo sát giá trị thẩm mĩ của kênh NL - TN tăng kéo các giá trị khác của khu vực tăng hay không
Người dân đã nhận thức được giá trị thẩm mỹ của kênh NL - TN và hiểu rằng nó ảnh hưởng đến đời sống của họ cũng như các giá trị khác mà kênh có thể mang lại Từ đó, họ có những hành động cụ thể nhằm bảo vệ và nâng cao giá trị thẩm mỹ của kênh NL - TN.
3.2 Hành vi của cộng đồng
Kết quả khảo sát cho thấy hoạt động dọn vệ sinh mặt kênh và ven kênh được đánh giá là rất quan trọng trong việc bảo vệ và nâng cao giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh NL - TN Ngược lại, hoạt động tuyên truyền nhằm khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động này lại không được đánh giá cao về hiệu quả.
Theo kết quả khảo sát, 73.7% người dân đánh giá hoạt động dọn vệ sinh mặt kênh và ven kênh với mức độ quan trọng 5/5 điểm, trong khi hơn 25% còn lại đánh giá từ 4/5 điểm trở xuống Điều này cho thấy hầu hết người dân đều nhận thức cao về tầm quan trọng của việc dọn vệ sinh mặt kênh.
Biểu đồ 6.Mức độ quan trọng của hoạt động dọn vệ sinh mặt kênh và ven kênh
Theo khảo sát, 58.9% người tham gia đánh giá hoạt động trồng cây xanh và cải tạo cảnh quan đạt 4/5 điểm về mức độ quan trọng, trong khi 38.9% đánh giá đạt 5/5 điểm Điều này cho thấy hoạt động này được người dân coi trọng trong việc bảo vệ và nâng cao giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh NL - TN.
Biểu đồ 7.Mức độ quan trọng của hoạt động trồng cây xanh, tham gia cải tạo cảnh quan
Hoạt động trang trí không gian ven kênh là rất quan trọng, với hơn 90% người dân đánh giá cao vai trò của nó trong việc bảo vệ và nâng cao giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh NL - TN.
Trang trí có vai trò quan trọng trong việc tạo nên bản sắc cho KGMN kênh NL - TN, giúp không gian trở nên sinh động và mang đậm nét đặc trưng của KGMN trong đô thị.
Biểu đồ 8.Mức độ quan trọng của hoạt động trang trí không gian ven kênh
Hoạt động tuyên truyền bảo vệ không gian mặt nước trong đô thị được nhóm nghiên cứu đánh giá cao về khả năng nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường và giá trị thẩm mỹ của không gian kênh NL - TN Kết quả khảo sát cho thấy 58.3% người dân cho rằng hoạt động này quan trọng với mức đánh giá 4/5, 21.7% đánh giá 3/5, và một số ít còn lại đánh giá 5/5.
Biểu đồ 9.Mức độ quan trọng của hoạt động tuyên truyền bảo vệ không gian mặt nước trong đô thị
Hầu hết các đánh giá của người dân về các hoạt động bảo vệ và nâng cao giá trị thẩm mỹ của kênh NL - TN đều tích cực Điều này cho thấy sự quan tâm và ủng hộ mạnh mẽ từ cộng đồng đối với những nỗ lực này.
Đã có nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc tham gia các hoạt động cải tạo và chỉnh trang, nhằm nâng cao giá trị thẩm mỹ cho kênh NL - TN.
Kiểm định giả thuyết thống kê
Trong nghiên cứu định lượng, việc chọn phương pháp kiểm định giả thuyết phụ thuộc vào đặc điểm của biến quan sát và mục tiêu của giả thuyết Bảng 5 dưới đây sẽ trình bày đặc điểm của các biến quan sát được nhóm nghiên cứu xây dựng trong bảng hỏi, cùng với phương pháp kiểm định thống kê tương ứng cho từng giả thuyết của đề tài.
Bảng 5.Mô tả biến quan sát và lựa chọn phương pháp kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết Mục tiêu kiểm định Biến quan sát Biến chia nhóm
Giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước tại kênh Nhiêu
Nghè có sự khác nhau về (1) không gian và (2) thời gian
Kiểm tra sự khác biệt giữa
2 hoặc nhiều nhóm độc lập
- Tính biểu tượng của cảnh quan hai bên
Nominal variables – nhiều hơn 2 nhóm:
- Tính biểu tượng của cảnh quan hai bên
Có sự khác biệt trong việc đánh giá giá trị thẩm mỹ đối với KGMN tại kênh
Thị Nghè của người dân khi xét đến các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân người phỏng vấn, mục đích sử
Kiểm tra sự khác biệt giữa
2 hoặc nhiều nhóm độc lập
- Tính biểu tượng của cảnh quan hai bên
- Ý kiến về GTTM sẽ làm tăng giá trị khác
- Tính biểu tượng của cảnh quan hai bên
Nominal variables – nhiều hơn 2 nhóm:
- Hoạt động diễn ra tại khu vực
61 dụng không gian và quan điểm của họ về GTTM nghiên cứu
- Tính biểu tượng của cảnh quan hai bên
- Khoảng cách từ nhà đến khu vực khảo sát
- Tần suất sử dụng không gian tại khu vực khảo sát
- Tầm quan trọng của GTTM
Independent- Samples Kruskal Wallis test
Giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước tại kênh Nhiêu
Kiểm tra sự khác biệt giữa
2 hay nhiều nhóm phụ thuộc
- Tính biểu tượng của cảnh
Nghè được biểu hiện bởi các yếu tố như cảnh quan, màu sắc, mùi và tính biểu tượng Trong nghiên cứu, nhóm xác định các giả thuyết cụ thể, bao gồm giả thuyết không (Ho) và đối thuyết (H1) Giả thuyết thường là những phát biểu không cho thấy sự khác biệt hoặc không có yếu tố ảnh hưởng đến các biến quan sát Sau khi thực hiện kiểm định giả thuyết thống kê, p-value được so sánh với các mức ý nghĩa 1%, 5% hoặc 10% Nếu p-value nhỏ hơn mức ý nghĩa kỳ vọng (thường là 5%), giả thuyết không sẽ bị bác bỏ và đối thuyết được chấp nhận Ngược lại, nếu p-value lớn hơn mức ý nghĩa kỳ vọng, đối thuyết sẽ bị bác bỏ và giả thuyết không được chấp nhận Mặc dù có thể xảy ra sai lầm trong việc bác bỏ hoặc chấp nhận các giả thuyết, nhưng trong phạm vi nghiên cứu này, các sai lầm sẽ không được phân tích sâu hơn Kết luận của từng giả thuyết chủ yếu dựa vào việc so sánh p-value hoặc Sig với các mức ý nghĩa 1%, 5% hoặc 10%.
4.1 Kết quả kiểm định giả thuyết 1
Như mô tả trong bảng 12, các cặp giả thuyết không - đối thuyết được phát biểu và kiểm định như sau:
Giả thuyết H 1-0 : Yếu tố cảnh quan xung quanh của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
63 giữa các đoạn nghiên cứu là như nhau
Giả thuyết H 1-1 :Yếu tố cảnh quan xung quanh của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa các đoạn nghiên cứu có sự khác nhau
Giả thuyết H 2-0 : Yếu tố màu sắc của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa các đoạn nghiên cứu là như nhau
Giả thuyết H 2-1 :Yếu tố màu sắc của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa các đoạn nghiên cứu có sự khác nhau
Giả thuyết H 3-0 : Yếu tố mùi của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa các đoạn nghiên cứu là như nhau
Giả thuyết H 3-1 : Yếu tố mùi của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa các đoạn nghiên cứu có sự khác nhau
Giả thuyết H 4-0 : Yếu tố tính biểu tượng của cảnh quan hai bên của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa các đoạn nghiên cứu là như nhau
Giả thuyết H 4-1 :Yếu tố tính biểu tượng của cảnh quan hai bên của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa các đoạn nghiên cứu có sự khác nhau
Kết quả phân tích one-way ANOVA cho thấy tất cả các giá trị Sig đều nhỏ hơn 1%, tương ứng với độ tin cậy 99% Điều này cho phép bác bỏ tất cả các giả thuyết H0 và chấp nhận đối thuyết H1, xác nhận sự khác biệt trong giá trị trung bình của các tiêu chí đánh giá GTTM của KGMN theo từng đoạn tại khu vực nghiên cứu.
Bảng 6.Kết quả kiểm định one-way ANOVA cho các tiêu chí GTTM theo phân đoạn trong khu vực nghiên cứu
Giả thuyết H 5-0 : Yếu tố cảnh quan xung quanh của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa thời gian nghiên cứu là như nhau
Giả thuyết H 5-1 :Yếu tố cảnh quan xung quanh của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa thời gian nghiên cứu có sự khác nhau
Giả thuyết H 6-0 : Yếu tố màu sắc của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa thời gian nghiên cứu là như nhau
Giả thuyết H 6-1 :Yếu tố màu sắc của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa thời gian nghiên cứu có sự khác nhau
Giả thuyết H 7-0 : Yếu tố mùi của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa thời gian nghiên cứu là như nhau
Giả thuyết H 7-1 : Yếu tố mùi của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa thời gian nghiên cứu có sự khác nhau
Giả thuyết H 8-0 : Yếu tố tính biểu tượng của cảnh quan hai bên của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa thời gian nghiên cứu là như nhau
Giả thuyết H 8-1 : Yếu tố tính biểu tượng của cảnh quan hai bên của kê nh Nhiêu Lộc - Thị Nghè giữa thời gian nghiên cứu có sự khác nhau
Kết quả phân tích Independent-Samples T-test cho thấy tất cả các giá trị Sig đều lớn hơn 10%, tương ứng với độ tin cậy 90%, do đó không đủ cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0 về sự khác biệt trong giá trị trung bình của các tiêu chí đánh giá GTTM của KGMN theo hai khoảng thời gian sáng và tối Tuy nhiên, có cơ sở để kết luận rằng tồn tại sự khác biệt về phương sai của yếu tố mùi giữa hai khoảng thời gian này, cho thấy không có sự đồng đều trong kết quả đánh giá về mùi của KGMN trong khu vực nghiên cứu.
Bảng 7.Kết quả phân tích Independent-Samples T-test với các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thẩm mỹ
Như vậy có thể thấy, giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước tại kênh NL -
TN cho thấy sự khác biệt về các yếu tố cảnh quan như màu sắc, mùi và tính biểu tượng trong không gian khảo sát, trong khi không có sự khác biệt nào về thời gian khảo sát giữa buổi sáng và buổi tối.
4.2 Kết quả kiểm định giả thuyết 2
❖ Kiểm định cho biến chia nhóm là định danh (nominal) – 2 nhóm
Bảng 8.Kết quả phân tích Independent-Samples T-test
Kết quả phân tích Independent-Samples T-test cho thấy tất cả các giá trị Sig (2-tailed) đều lớn hơn 10%, không đủ cơ sở bác bỏ giả thuyết H0 về sự khác biệt trong giá trị trung bình của các tiêu chí đánh giá GTTM của KGMN theo giới tính Tuy nhiên, có sự khác biệt về phương sai của yếu tố màu sắc giữa nam và nữ, với giá trị Sig trong kiểm định Levene nhỏ hơn 5% cho toàn khu vực nghiên cứu.
Bảng 9.Kết quả phân tích Independent-Samples T-test cho 2 nhóm “đồng ý” và
Kết quả kiểm định cho hai nhóm “đồng ý” và “không đồng ý” cho thấy giá trị thẩm mỹ của kênh NL - TN có ảnh hưởng đến các giá trị khác trong khu vực Phân tích (bảng 9) chỉ ra rằng yếu tố màu sắc và tính biểu tượng của cảnh quan có sự khác biệt về mức đánh giá trung bình giữa hai nhóm, với mức ý nghĩa 10% và 5% Đặc biệt, yếu tố tính biểu tượng còn cho thấy sự khác biệt về phương sai giữa hai nhóm Yếu tố mùi chỉ có sự khác biệt về phương sai mà không có ý nghĩa về giá trị trung bình Điều này cho thấy ý kiến về mối quan hệ giữa GTTM của KGMN và các giá trị khác có ảnh hưởng đến đánh giá của các đối tượng khảo sát, nhưng không phải tất cả các tiêu chí đều bị ảnh hưởng.
❖ Kiểm định cho biến chia nhóm là định danh (nominal) – nhiều hơn 2 nhóm
Bảng 10 trình bày tổng hợp phân tích ANOVA cho các tiêu chí của giá trị thương mại (GTTM) dựa trên các nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và các hoạt động mà người được phỏng vấn thực hiện trong khu vực nghiên cứu.
Kết quả phân tích ANOVA cho thấy, chỉ duy nhất yếu tố mùi có sự khác biệt về
Điểm trung bình đánh giá giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau đạt 69 tại mức ý nghĩa 5% Kết luận cho thấy có đủ cơ sở để chấp nhận tất cả các giả thuyết không về sự ảnh hưởng của (1) tuổi, (2) trình độ học vấn, (3) nghề nghiệp, và (4) hoạt động mà người được khảo sát thường xuyên thực hiện trong khu vực nghiên cứu.
❖ Kiểm định cho biến chia nhóm là phân loại hoặc thứ bậc (categorical)
Phương pháp kiểm định được áp dụng là kiểm định Kruskal Wallis cho mẫu độc lập, thuộc nhóm phương pháp kiểm định phi tham số Kết quả kiểm định được trình bày trong các bảng 18, 19 và 20.
Bảng 11.Phương pháp kiểm định được sử dụng trong trường hợp này là Independent-
Samples Kruskal Wallis đối với biến nhà các đây bao xa
Giả thuyết H 25-0 : Không có sự khác nhau giữa khoảng cách từ nhà đến khu vực nghiên cứu khi đánh giá cảnh quan của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Giả thuyết H 25-1 : Có sự khác nhau giữa khoảng cách từ nhà đến khu vực nghiên cứu khi đánh giá cảnh quan của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Kết quả kiểm định giả thuyết cho thấy giá trị Sig = 0.471 > 0.05, do đó không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thuyết H21-0 Chúng ta chấp nhận giả thuyết H21-0 với độ tin cậy 95%, điều này có nghĩa là không có sự khác biệt mang tính thống kê.
70 đánh giá cảnh quan giữa trình độ học vấn khác nhau trong khu vực nghiên cứu
Bảng 12.Phương pháp kiểm định được sử dụng trong trường hợp này là Independent- Samples Kruskal Wallis đối với biến tần suất đến KGMN kênh NL-TN
Giả thuyết H 29-0 : Không có sự khác nhau giữa tần suất đến kênh NL-TN khi đánh giá cảnh quan của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Giả thuyết H 29-1: Có sự khác nhau giữa tần suất đến kênh NL-TN khi đánh giá cảnh quan của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Kết quả kiểm định giả thuyết cho thấy giá trị Sig = 0.072, lớn hơn 0.05, do đó không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thuyết H21-0 và chấp nhận giả thuyết này với độ tin cậy 95% Tuy nhiên, với độ tin cậy 90%, giá trị Sig vẫn là 0.072.
< 0.1 nên có đủ bằng chứng để loại bỏ giả thuyết H29-0 và chấp nhận giả thuyết H21-1
Có sự khác biệt thống kê trong đánh giá cảnh quan giữa các tần suất đến kênh NL-TN khác nhau trong khu vực nghiên cứu.
Giả thuyết H 30-0 : Không có sự khác nhau giữa tần suất đến kênh NL-TN khi đánh giá màu sắc của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Giả thuyết H 30-1: Có sự khác nhau giữa tần suất đến kênh NL-TN khi đánh giá màu sắc của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Kết quả kiểm định giả thuyết cho thấy giá trị Sig = 0.026 < 0.05, cho phép loại bỏ giả thuyết H29-0 và chấp nhận giả thuyết H21-1 với độ tin cậy 95% Điều này chỉ ra rằng có sự khác biệt thống kê về đánh giá màu sắc giữa các tần suất đến kênh NL-TN khác nhau trong khu vực nghiên cứu.
Giả thuyết H 31-0 : Không có sự khác nhau giữa tần suất đến kênh NL-TN khi đánh giá mùi của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Giả thuyết H 31-1: Có sự khác nhau giữa tần suất đến kênh NL-TN khi đánh giá mùi của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Kết quả kiểm định giả thuyết cho thấy giá trị Sig = 0.580, lớn hơn 0.05, do đó không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thuyết H30-0 và chấp nhận giả thuyết H31-0 với độ tin cậy 95% Điều này chỉ ra rằng không có sự khác biệt thống kê về đánh giá mùi giữa các tần suất đến kênh NL-TN khác nhau trong khu vực nghiên cứu.
Giả thuyết H 32-0 : Không có sự khác nhau giữa tần suất đến kênh NL-TN khi đánh giá tính biểu tượng của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Giả thuyết H 32-1: Có sự khác nhau giữa tần suất đến kênh NL-TN khi đánh giá tính biểu tượng của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Kết luận
Kết quả khảo sát cho thấy nghiên cứu đánh giá giá trị thẩm mỹ của KGMN trong đô thị, đặc biệt là kênh NL - TN, là một trong những nghiên cứu tiên tiến tại Việt Nam Để nâng cấp và cải tạo không gian mặt nước, cần phải dựa vào khảo sát đánh giá giá trị thẩm mỹ từ người dân, nhằm nâng cao hiệu quả của không gian này So với các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những kết luận quan trọng.
Giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè có sự khác biệt rõ rệt giữa các không gian khác nhau, được đánh giá bởi người dân thông qua các yếu tố như cảnh quan, mùi, màu sắc và tính biểu tượng Kết quả khảo sát cho thấy sự đa dạng trong nhận thức về giá trị thẩm mỹ của KGMN tại kênh này.
Sự chênh lệch trong các giá trị đánh giá giữa NL - TN ở các đoạn khác nhau là không lớn Đặc biệt, vào buổi sáng và buổi tối, người dân không nhận thấy sự khác biệt trong đánh giá về giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh NL - TN.
Nhóm nghiên cứu đã khảo sát và phân tích, kết luận rằng giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh NL - TN không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân hay lý do mà người dân chọn đến KGMN tại kênh NL.
Điều này tạo thuận lợi cho các nghiên cứu tiếp theo trong việc lựa chọn mẫu khảo sát và đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, sự đồng nhất về quan điểm của người dân, khi không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân, cũng gây khó khăn cho việc phát hiện những quan điểm trái chiều và ý kiến chủ quan, từ đó hạn chế sự đa dạng trong cách nhìn nhận của cộng đồng.
Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng, qua kết quả kiểm định thống kê, hai yếu tố chính ảnh hưởng đến giá trị thẩm mỹ của kênh NL - TN là cảnh quan và mùi Việc đánh giá dựa trên hai yếu tố này sẽ mang lại hiệu quả cao hơn và mức độ tin cậy được chấp nhận cũng cao hơn Ngoài ra, hai tiêu chí màu sắc và tính biểu đạt cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá thẩm mỹ.
Tượng có độ tin cậy tương đối thấp, do đó có thể được sử dụng như tiêu chí phụ hoặc tham khảo trong việc đánh giá giá trị thẩm mỹ KGMN sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong quá trình này.
Cộng đồng địa phương đã nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động bảo vệ và nâng cao giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh NL - TN Mặc dù nghiên cứu hiện tại chỉ tập trung vào nhận thức hành vi của người dân, nhưng đây sẽ là nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo, giúp khám phá sâu hơn và phát hiện những vấn đề khó nhận diện hơn.
Tại KGMN kênh NL - TN, giá trị thẩm mỹ đang tồn tại bên cạnh các giá trị khác nhưng chưa được đánh giá đầy đủ và sâu sắc Người dân chỉ có cái nhìn chung chung về giá trị thẩm mỹ của không gian này, với nhiều vấn đề còn mơ hồ Nguyên nhân chính là khái niệm về giá trị thẩm mỹ của không gian mặt nước trong đô thị còn mới mẻ và thiếu bộ tiêu chí đo lường chuẩn, gây khó khăn trong việc đánh giá.
Khuyến nghị
Vào ngày 09/05/2019, UBND quận 3 đã hợp tác với đơn vị tư vấn để nghiên cứu quy hoạch chỉnh trang đô thị khu vực bờ kênh Nhiêu Lộc, với tổng diện tích khoảng 110 ha, bao gồm một phần các phường 7, 9, 10, 11, 13 và 14 Dự án sẽ ảnh hưởng đến khoảng 54.000 người dân, với mục tiêu phát triển khu vực ga Sài Gòn và bố trí các chức năng dọc kênh Nhiêu Lộc Đồng thời, dự án sẽ cải tạo cảnh quan hai bên bờ kênh, tổ chức giao thông, bổ sung công viên, và bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử đặc trưng của từng khu vực.
Khu vực chỉnh trang sẽ bao gồm 7 dự án quan trọng, trong đó có dự án Khu chung cư trung tâm thương mại Lê Văn Sỹ tại phường 13, dự án Khu tái định cư tại khu vực Xí nghiệp đầu máy Sài Gòn ở phường 11, cùng với khu vực Nhà ga Hòa Hưng và các khu chỉnh trang đô thị tại các phường 7, 9, 11 và 14.
6 https://tuoitre.vn/nghien-cuu-chinh-trang-khu-vuc-hon-110ha-doc-kenh-nhieu-loc-20190509124942936.ht m truy cập 9 giờ 10 phút ngày 19/05/2019
Nhóm khảo sát đã thực hiện nghiên cứu nhằm đóng góp cho dự án chỉnh trang đô thị, tập trung vào việc phân tích giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh NL - TN và nhận thức của người dân về các hoạt động bảo vệ và nâng cao giá trị này Dựa trên kết quả phân tích, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những kiến nghị quan trọng.
Cần tăng cường các biện pháp ngăn chặn tình trạng câu cá trái phép tại khu vực kênh NL - TN, vì hoạt động này đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mỹ quan đô thị và giá trị thẩm mỹ của KGMN Hiện tại, các cơ quan chức năng đang treo biển cấm câu cá, nhưng phương pháp này chưa mang lại hiệu quả Do đó, cần tìm kiếm một phương án phù hợp hơn để giải quyết vấn đề này.
Cộng đồng là đối tượng chính sử dụng KGMN trong đô thị, do đó, việc cho phép người dân tham gia vào các hoạt động cải tạo và nâng cao giá trị thẩm mỹ của KGMN không chỉ nâng cao tính trách nhiệm của họ mà còn giúp họ nhận thức được quyền lợi của mình, từ đó khuyến khích bảo vệ không gian chung.
Nhóm nghiên cứu đề xuất sử dụng hai tiêu chí là cảnh quan và mùi để đánh giá giá trị thẩm mỹ của KGMN kênh NL - TN Bên cạnh đó, các yếu tố này có thể được phân chia thành nhiều chỉ báo nhỏ, giúp thuận tiện cho việc đo lường và thu thập thông tin từ người dân.