Đề tài này cần phải chuyển tải một phần nào đó về lịch sử của một vùng đất, về những di tích, danh thắng quốc gia nổi tiếng ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: Đại Giác Cổ Tự Chùa Phật
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT CÙ LAO PHỐ VÀ CHÙA ĐẠI GIÁC
Đôi nét về vùng đất, con người Cù Lao Phố
Sông Đồng Nai chia thành hai nhánh tại một khúc quanh, tạo nên dải đất sa bồi Cù lao Phố, nằm ở phía Đông - Nam thành phố Biên Hòa, hiện là xã Hiệp Hòa với diện tích 6,93 km² Cù lao Phố giáp với các phường Thống Nhất, Tân Mai, Tân Vạn, An Bình, Tam Hiệp, Quyết Thắng và Bửu Hòa Nơi đây còn được biết đến với các tên gọi như Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố và là vùng đất có giá trị văn hóa, lịch sử quan trọng, thu hút sự quan tâm của các nhà khảo cổ học Cù lao Phố được hình thành từ phù sa sông Đồng Nai trên nền đá cứng, có địa hình bằng phẳng, với khu vực cao nhất quanh Chùa Đại Giác (5,6m) và Gò Cát (3,6m), thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và cây ăn trái, đồng thời có đất sét đỏ mịn được khai thác để làm gốm và gạch ngói.
Sách Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức (viết khoảng năm 1820) không thấy ghi tên thôn xóm nào của cù lao Sắc thần thờ Nguyễn Hữu Cảnh
1Phạm Đức Mạnh (2011), Các quần thể mộ hợp chất ở Cù Lao Phố (Biên Hòa - Đồng
Nai) và di tồn Hán văn cổ, trong Nam bộ - đất & người, tập VIII NXB Đại học Quốc
Gia TP.HCM, TP.HCM.tr 257.
10 ghi miễu ở thôn Bình Hoành Cù lao Phố xưa có ba làng Nhất Hòa, Nhị Hòa, Tam Hòa
Làng Nhất Hòa bao gồm bốn ấp: Hưng Phú, Tân Giám, Bình Tự và Bình Xương Trong khi đó, làng Nhị Hòa có ba ấp: Tân Mỹ, Thành Hưng và Bình Kính, trong đó Bình Hoành đã được đổi tên thành Bình Kính, và Thành Hưng là kết quả của sự hợp nhất giữa hai ấp.
Làng Tam Hòa bao gồm bốn ấp: Bình Hòa, Long Quới, Hòa Quới và Bình Quan Vào khoảng năm 1928, ba làng đã hợp nhất thành xã Hiệp Hòa thuộc tổng Phước Vinh thượng, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hòa Năm 1963, chính quyền Sài Gòn đã chuyển xã Hiệp Hòa về quận Đức Tu Do yêu cầu của chiến trường, năm 1949 xã Hiệp Hòa thuộc huyện Vĩnh Cửu và năm 1960 được nhập về thị xã Biên Hòa Từ năm 1976, xã Hiệp Hòa chính thức thuộc thị xã Biên Hòa.
Cách đây vài trăm năm, cù lao Phố từng được bao phủ bởi rừng rậm Từ đầu thế kỷ 17, người Việt từ Đàng Ngoài đã di cư đến đây để sinh sống và làm ăn Nửa cuối thế kỷ này, nhóm di dân người Minh cũng được chúa Nguyễn cho phép định cư, cùng nhau khai phá rừng hoang và lập làng Để kiếm củi, người dân phải chèo xuồng vào rừng Bình Đa, Vĩnh Cửu Ven đường xuống bến đò Kho và An Hảo, rặng cây cao cuối cùng đã bị chặt hạ trong những năm đầu chống Pháp để ngăn chặn quân địch Hiện nay, chỉ còn lại một số cây dầu cổ thụ bên các đình, chùa ở các ấp.
Cù lao Phố có hai con rạch chính: rạch Ông Án dài 3 km với nhiều nhánh và rạch Lò Gốm ngắn 1 km, cả hai đều chảy ngoằn ngoèo Mặt nước của hai rạch này thay đổi đáng kể theo thủy triều, với diện tích lớn hơn khi triều lên Trước đây, khu vực này phong phú tôm, cá, cua, ốc, nhưng hiện tại đã giảm sút Trong thời kỳ kháng chiến, cây bụi dày đặc hai bên bờ rạch là nơi ẩn náu cho cán bộ Ngày nay, người dân đã khai hoang, mở rộng ruộng đồng, tạo điều kiện giao lưu giữa các ấp.
Cù lao Phố có nhiều bến đò, quan trọng nhất là bến đò Kho và bến đò
An Hảo là một địa điểm nhộn nhịp, đặc biệt vào buổi sáng và giờ tan ca chiều của công nhân từ các nhà máy trong khu công nghiệp Biên Hòa Trong khi đó, bến đò Long Kiểng sang Tân Mai lại ít khách hơn Trong hai thời kỳ kháng chiến, các bến đò Kho và An Hảo đã được di dời xuống các ấp Bình Xương, Long Quới để đảm bảo an toàn cho cán bộ khi di chuyển qua lại căn cứ du kích Bình Đa.
Sông Đồng Nai không chỉ chở phù sa bồi đắp đất đai Cù Lao Phố mà còn là chứng nhân lịch sử cho những cuộc khai hoang lập ấp của người dân Vào thế kỷ XVI, sông Đồng Nai là trạm dừng chân cho những lưu dân Việt đầu tiên đến Mô Xoài - Bà Rịa Đến năm 1679, một đoàn người hơn 3000 binh lính và gia quyến của Trần Thượng Xuyên đã vượt qua dòng sông để đến Cù Lao Phố, với ước mong tạo dựng cuộc sống mới Ngay khi đặt chân đến, họ đã cùng người Việt khai phá đất đai và phát triển nông nghiệp Ban đầu, họ trồng lúa, nhưng sau đó chuyển sang thương mại Dưới sự tổ chức của Trần Thượng Xuyên, Nông Nại Đại Phố nhanh chóng trở thành trung tâm thương mại lớn, thu hút nhiều tàu ngoại quốc, góp phần xây dựng nền tảng cho một thương cảng đô thị cổ ở miền Nam.
Vào năm 1698, Trần Thượng Xuyên đã đến Cù lao Phố theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Chu, cùng với thuyền của Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh ngược dòng sông Đồng Nai vào đất Đàng Trong Tại đây, Nguyễn Hữu Cảnh đã nỗ lực ổn định dân cư, xác định ranh giới các xóm làng, và lấy đất Nông Nại để thành lập Gia Định phủ, đồng thời lập huyện Đồng Nai.
Phước Long đã xây dựng dinh Trấn Biên và lấy đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình, đồng thời dựng dinh Phiên Trấn Cù Lao Phố đã trở thành mái nhà chung của các cộng đồng cư dân Hoa và Việt, hòa hợp và gắn bó để phát triển nghề nông và kinh doanh thương mại Sau gần 100 năm, Cù Lao Phố đã trở thành thương cảng Nông Nại sầm uất nhất miền Nam, giao thương với bên ngoài Đô thị cảng này tấp nập thuyền bè, với nền kinh tế phát triển và nông sản phong phú đáp ứng nhu cầu của thương nhân Tàu, Nhật, Mã Lai Động lực chính của cảng Nông Nại là những sản phẩm như gạo, đường, rượu, lụa, tơ, và nhiều sản phẩm khác từ Lục Chân Lạp.
Cù lao Phố (Nông Nại Đại Phố) hiện lên với vẻ đẹp khang trang và sầm uất qua miêu tả của Trịnh Hoài Đức, đặc biệt là khu vực Đại Phố nằm ở đầu phía Tây bãi.
Khi mới khai thác, Trần Thượng Xuyên đã chiêu tập các lái buôn người Trung Quốc để xây dựng một khu phố sầm uất với nhà ngói, tường vôi và lầu cao Dưới ánh mặt trời, những quán xá nhiều tầng rực rỡ bên sông tạo nên một không gian đô hội Khu phố lớn được lát đá trắng, phố ngang lát đá ong, và phố nhỏ lát đá xanh, tất cả đều phẳng phiu như đá mài Nơi đây thu hút đông đảo khách buôn, với thuyền biển và thuyền sông neo đậu sát nhau, tạo nên một trung tâm thương mại nhộn nhịp.
Cù lao Phố nổi bật với nguồn xuất khẩu chính là lúa gạo, đặc biệt là ở Đồng Nai, nơi lúa gạo phong phú và giá cả phải chăng Theo truyền thống, một tiền (60 đồng) có thể mua được 16 đấu thóc, và nếu so với đơn vị đo lường của Nhà nước, ba bát thóc theo cách đo dân gian tương đương với 30 bát.
2Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục tr 194
13 đong được 300 bát đồng của Nhà nước (tức bát định chuẩn) Giá rẻ như vậy, các nơi khác chưa từng có” 3
Nguồn gỗ quý từ Phủ Gia Định chủ yếu được sử dụng để làm tàu thuyền phục vụ giao thông đường thủy Cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên đã ghi chép trong sổ sách về hai vùng Đồng Môn và thủ Quang Hóa thuộc huyện Phước Long, nơi có các loại gỗ quý như sao, trắc, dầu, giáng hương và gụ.
Năm 1777 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vào đánh chúa Nguyễn ở Gia Định lần thứ hai Quân Lý Tài đóng ở núi Châu Thới bị đánh tan.
Phố lớn Nông Nại đã bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, trong khi vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh mẽ với sản xuất lúa hàng hóa vượt trội Các nhà buôn người Hoa đã di chuyển đến Chợ Lớn, hình thành thương cảng Sài Gòn thay thế cho cảng Nông Nại đã lụi tàn Cù lao Phố, từng là nơi nhộn nhịp với thuyền bè và buôn bán, giờ đây trở thành miền quê yên ả với dân số giảm sút Trịnh Hoài Đức trong tác phẩm Gia Định thành thông chí đã mô tả rằng nơi đây đã biến thành gò hoang, và mặc dù có người trở về sau chiến tranh, dân số chỉ còn lại chưa đến một phần trăm so với trước.
Vào thế kỷ 17 – 18, sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã dẫn đến nhu cầu lớn về nguyên liệu Các nước tư bản đã tiến hành xâm lược và chiếm đóng nhiều quốc gia để biến chúng thành thuộc địa, nhằm làm giàu cho chính quốc Nguyên liệu và nhân công rẻ mạt tại các thuộc địa, cùng với việc tạo ra thị trường tiêu thụ cho hàng hóa công nghiệp, chính là lý do khiến Pháp quan tâm đến Việt Nam.
Mùa thu năm 1858, chiến thuyền Pháp bắn phá cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta
3Lê Quý Đôn (2011),Phủ biên tạp lục, QIII, tr.223, dẫn theoĐịa chí Đồng Nai, (tập 3 -
Lịch sử) NXB Tổng hợp Đồng Nai.tr 123.
4Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Q VI, tr.375, dẫn theoĐịa chí Đồng Nai, (tập 3 - Lịch sử).NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001.tr 123.
Lịch sử hình thành chùa Đại Giác
Chùa Đại Giác, tọa lạc tại số 393/A2, ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 3000m² và nằm trong vùng đất cổ cù lao Phố Ban đầu, chùa được xây dựng theo hình chữ Nhị, nhưng qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc hiện tại đã chuyển sang hình chữ Đinh Năm 1952, do lũ lụt, chùa bị hư hại nặng nề và được trùng tu nhờ sự đóng góp của cộng đồng địa phương Đến năm 1960, dưới sự trụ trì của Hòa thượng Huệ Minh, toàn bộ hệ thống cột và tường bao đã được xây dựng lại, tạo nên quy mô kiến trúc như hiện nay Chùa Đại Giác, còn được gọi là Đại Giác cổ tự hay chùa Phật lớn, cách trung tâm thành phố Biên Hòa 1 km về hướng Đông Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km Nằm bên dòng sông Đồng Nai, chùa được bao bọc bởi cảnh quan thiên nhiên hài hòa, tạo nên vẻ đẹp uy nghiêm và thu hút du khách.
Vào giữa thế kỷ 17, ba nhà sư thuộc phái Lâm Tế tông đã đến Đồng Nai để hoằng hóa đạo Phật Nhà sư Thành Nhạc cùng phật tử xây dựng chùa Long Thiền vào năm 1664 tại xã Bửu Hòa, trong khi nhà sư Thành Trí đã dựng chùa Bửu Phong vào năm 1679 tại núi Bửu Long cùng người Hoa Đồng thời, nhà sư Thành Đẳng cũng đã khẩn hoang Cù lao Phố và xây dựng chùa Đại Giác vào năm 1665.
Chùa Đại Giác, cùng với chùa Bửu Phong và chùa Long Thiền, là ba công trình kiến trúc tôn giáo cổ nhất ở Đồng Nai Dù trải qua nhiều thăng trầm và trùng tu, chùa vẫn giữ được nét đặc trưng của kiến trúc cổ Đây là minh chứng cho sự hiện diện của người Việt tại Đồng Nai và là nơi truyền bá Phật giáo dòng Lâm tế từ Đàng ngoài vào thế kỷ XVII Chùa Đại Giác đã được công nhận là di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 993/QĐ, ngày 28-9-1990.
Chùa Đại Giác là một công trình kiến trúc tôn giáo quy mô, nằm trong không gian thoáng đãng và thơ mộng, vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính và sự trang nghiêm qua thời gian Đây không chỉ là nơi tôn thờ mà còn là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm của người dân địa phương Du khách đến chùa còn có cơ hội khám phá các địa danh lịch sử như Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, chùa Ông, đình Bình Quan, đình Bình Tự, rạch Lò gốm, bến đò An Hảo và bến đò kho, tất cả đều gắn liền với "Nông Nại Đại Phố" - một trong những thương cảng sầm uất nhất miền Nam vào thế kỷ XVII.
Vào năm 1412, một nhóm người Chân Lạp đã lập một thảo am nhỏ và bắt đầu làm rẫy, đặc biệt là trẻ em chăn trâu Họ theo những con trâu qua Cù lao để canh tác Tuy nhiên, do thú rừng phá hoại mùa màng, nhóm người này đã khắc một bức tượng Phật đẹp từ một gốc cây.
Chùa Phật Lớn 6 được xây dựng từ một gốc cây có hình tháp, bên trong có bức tượng Đức Phật đứng rất đẹp Ban đầu, thảo am thờ tượng Phật được làm từ gốc cây này Khi dân làng, đặc biệt là trong thời kỳ Nguyễn Hữu Cảnh mở đất phương Nam, đến sinh sống đông đúc, họ đã tu sửa thảo am thành một ngôi chùa hoàn chỉnh.
Vào năm 1702, Hòa thượng Thành Đẳng, đệ tử của tổ Nguyên Thiều, đã đến trụ trì chùa Đại Giác Đến năm 1800, Nguyễn Ánh đã chạy trốn quân Tây Sơn và trú ẩn tại chùa cùng với công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh, người có kiến thức sâu rộng về Phật học Trong thời gian ở chùa, công chúa đã tìm hiểu kinh sách và giác ngộ được Kinh Phật, từ đó xin phép Nguyễn Ánh ở lại chùa để xuất gia tu hành, nhằm tránh xa cuộc đấu tranh quyền lực Sau hai năm, khi nhà Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh lên ngôi vua vào năm 1802, lấy niên hiệu Gia Long và triệu hồi công chúa về kinh thành Mặc dù không thể cãi lệnh vua, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh vẫn lưu luyến cuộc sống thanh bạch nơi cửa Phật và nguyện không lấy chồng, quyết tâm ăn chay niệm Phật cầu cho triều đại nhà Nguyễn được thái bình thịnh trị.
6Sư Huệ Thiền – Ông nguyên là sư thầy trong chùa Đại Giác, hiện nay là trụ trì Chùa Phước Hội, TP BiênHòa, tỉnh Đồng Nai cho biết.
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã tri ân chùa bằng cách cho quân lính và đội tượng quân đến trùng tu, sửa chữa Nền chùa Đại Giác được voi dậm nên, từ đó chùa còn được gọi là “Chùa Tượng” Đặc biệt, vua đã cúng dường một tượng Phật A-Di-Đà bằng gỗ mít, cao 2,25 mét và bề ngang 1,25 mét, được đặt ở chánh điện, khiến chùa được biết đến với tên gọi Chùa Phật Lớn Tên gọi này cũng phản ánh ý nghĩa của chùa Đại Giác, với "Đại" nghĩa là lớn và "Giác" nghĩa là Phật Vào tháng 10 năm Minh Mạng nguyên niên (1820), nhà vua tiếp tục cho tu sửa chùa.
Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt là vào năm 1952 khi bão lụt gây hư hại nghiêm trọng cho chùa cũ được xây dựng bằng gỗ và ván Hòa Thượng Điều đã tiến hành xây dựng lại chùa bằng bê tông, trong đó đặc biệt lót gạch bông từ chánh điện đến hậu điện, giảng đường và nhà bếp, mặc dù gạch bông thời đó rất hiếm Ông cũng đã cho đúc cột và chèo bằng bê tông, thay thế cho các vật liệu gỗ truyền thống, và hiện nay những cột, chèo bê tông này vẫn còn tồn tại.
Kiến trúc bên ngoài chùa nổi bật với hai khối hình vuông trên mái, tạo nên vẻ độc đáo Sau khi vua Gia Long lên ngôi, ông đã ra lệnh xây dựng lầu chuông và lầu trống, nhưng công trình không hoàn thành, dẫn đến hình dáng hiện tại Mặc dù biết về quá trình hình thành của chùa, ít ai nắm rõ tiểu sử của các vị trụ trì từ xưa đến nay Việc tìm hiểu tiểu sử của các vị trụ trì sẽ giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc hơn về lịch sử và giá trị của chùa.
Các vị trụ trì chùa Đại Giác
Chùa Đại Giác là một di sản văn hóa quan trọng, gắn liền với tiểu sử của mười tám đời trụ trì Mỗi trụ trì đã đóng góp công sức của mình vào việc xây dựng, trùng tu và gìn giữ ngôi chùa, tạo nên một quá trình hình thành đầy ý nghĩa.
Trụ trì đời thứ nhất của chùa Đại Giác được ghi chép trong sách Tiểu sử chùa Đại Giác, cho biết rằng vào thời vua Giản Định đế (1407 – 1413), Trần Tân Hòa thượng đã được cử đi thỉnh Trương Thọ Thạch lão Hòa thượng từ chùa Quốc Ân, Trung Quốc về lập chùa Đại Giác tại Biên Hòa vào năm 1412 Ban đầu, chùa chỉ là một am nhỏ do người Chân Lạp dựng lên, phục vụ nhu cầu tâm linh của người dân địa phương Sau hơn 300 năm, chùa đã được người dân chăm sóc và tu sửa, trở thành một ngôi chùa của người Việt khi dân cư tập trung đông đúc tại khu vực này Sự tồn tại của một vị sư trong suốt 300 năm đã đặt ra nhiều câu hỏi cho các nhà nghiên cứu, nhưng cách lý giải cho rằng chùa Đại Giác bắt nguồn từ một am nhỏ và dần phát triển theo thời gian đã giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến sự hình thành của ngôi chùa này.
Vào năm 1704, Hòa thượng Minh Lương, húy Thành Đẳng, tự Minh Yêu (1686 – 1769) từ chùa Vạn Đức ở Hội An đã đến chùa Vạn Linh tại Khánh Hòa và sau đó được mời làm trụ trì chùa Đại Giác ở Biên Hòa Ngài là người Triều Châu, Trung Quốc, và là đệ tử của Tổ sư Nguyên Thiều – Siêu Bạch.
7Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Tổ đình Đại Giác, Tiểu sử chùa Đại Giác
8Sư Huệ Thiền – Ông nguyên là sư thầy trong chùa Đại Giác, hiện nay là trụ trì Chùa Phước Hội, TP BiênHòa, tỉnh Đồng Nai.
Hòa thượng Minh Lương, thuộc dòng Lâm tế chánh tông đời thứ 34, đã có công hoằng hóa và mở mang ngôi Tam bảo lớn tại chùa Thập Tháp, Bình Định và chùa Quốc Ân, Thừa Thiên Huế Đệ tử của Ngài rất đông, dẫn đến việc nhiều người nhớ đến và sau này lấy tên Hòa thượng làm Tổ khai sơn chùa Đại Giác Ngài tịch vào ngày 15 tháng 4 năm 1769, thọ 84 năm, và hiện nay tháp cùng long vị của Ngài được thờ tại chùa.
Trụ trì đời thứ ba: Hòa thượng Thiệt Truyền húy Phật Minh tự Giác
Hòa thượng Liễu, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35, xuất gia từ khi còn nhỏ và đã có công trùng tu chùa Ngài viên tịch ở tuổi 81, và hiện tại tháp cùng long vị của ngài được thờ tại chùa.
Trụ trì đời thứ tư: Kế nghiệp là Thiền sư Linh Nhạc, húy Phật Ý
Ngài (1725 – 1821) gốc người Minh Hương, Trung Quốc, là đệ tử của Hòa thượng Thành Đẳng Sau khi trụ trì chùa một thời gian, ngài giao chùa lại cho đệ tử Mật Hoằng và di chuyển xuống Gia Định để khai khẩn đất đai, xây dựng chùa Từ Ân và trụ trì chùa Quốc Ân Khải Tường (nay thuộc Quận 3, TP Hồ Chí Minh) Là bậc cao tăng giác ngộ, ngài đã biết trước những oan trái của Thiền sư Thiệt Thành, thuộc dòng Lâm tế đời thứ 35 Thiền sư Phật Ý đã tịch vào năm Tân Tỵ.
Vào năm 1774, Chúa Nguyễn đã xác lập lãnh thổ phía nam và thành lập nhà nước Đàng Trong Để mở rộng đất đai, ông khuyến khích người dân vào Nam khai phá đất hoang, dẫn đến sự di cư của đông đảo người Việt và thương nhân người Hoa đến Phiên Trấn, phủ Gia Định (nay là Đồng Nai) Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc cũng theo chân họ vào Nam, không chỉ để nâng đỡ đời sống tinh thần của lưu dân mà còn để truyền bá đạo Phật Trên đường đi, ông gặp một tăng sĩ cùng tuổi và họ đã kết thành huynh đệ Tại làng Tân Lộc, hai nhà sư cùng nhau khai phá rừng và dựng am lá vào khoảng năm 1744 để thờ Phật và tu hành, thu hút nhân dân trong vùng đến cầu nguyện và nghe thuyết giảng về Phật pháp.
Vào những ngày 14, rằm, 30 và mùng 1 âm lịch, có 27 lễ sám được tổ chức Sau vài năm, nhà sư vô danh đã tách ra và lập am riêng, cách am cũ vài chục mét, nhằm thuận tiện cho việc tu hành.
Vào năm Nhâm Thìn 1752, thiền sư Linh Nhạc đã xây dựng chùa Từ Ân nhờ sự cúng thí và quyên góp của nhân dân, với ý nghĩa mang lại bình an và hạnh phúc cho bá tánh nhờ lòng từ bi của đức Phật Cùng thời gian đó, một nhà sư vô danh đã tu bổ am lá thành chùa Khải Tường, nhằm mở rộng phước lành cho cộng đồng Sau khi vị sư trụ trì chùa Khải Tường viên tịch, thiền sư Phật Ý - Linh Nhạc đã đảm nhận trụ trì cả hai chùa Trong giai đoạn chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cả hai ngôi chùa trở thành nơi trú ngụ cho chúa và đoàn tùy tùng, với chùa Từ Ân dành cho chúa và quan quân, còn chùa Khải Tường dành cho các phi tần.
Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi với hiệu Gia Long, vua đã phong thiền sư Phật Ý - Linh Nhạc làm Hòa thượng và cho trùng tu hai ngôi chùa mà ông từng nương trú, lánh nạn, đồng thời ban “sắc tứ” cho các chùa này.
Ngày 20 tháng 11 năm Tân Tỵ (1821), thiền sư Phật Ý - Linh Nhạc viên tịch tại chùa Từ Ân, thọ 97 tuổi, sau đó di cốt được đưa vào tháp trong khuôn viên chùa Qua thời gian và thời tiết, tháp tổ (thiền sư Phật Ý – Linh Nhạc) bị hư hại nặng nề.Đến năm Quí Hợi 1923, Thiền sư Hồng Hưng tổ chức lễ thỉnh
9,3Thích Thanh Từ - Thường viện Thường Chiếu, Thiền sư Việt Nam, phần 4, Thiền sư
Phật Ý – Linh Nhạc (1725 – 1821) NXB Thành hội Phật giáo TP.HCM, DL 1999 – PL
28 hài cốt của Tổ Phật Ý Linh Nhạc đã được đưa về chùa Giác Lâm, nơi sẽ xây dựng tháp mới bên cạnh tháp của Hòa thượng Tổ Tông Viên Quang trong khuôn viên chùa.
Thiền sư Mật Hoằng, húy Tổ Ấn, thuộc đời thứ năm trụ trì, sinh năm 1735 tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Năm 1749, khi mới 15 tuổi, ông đã vào Gia Định và tu hành tại chùa Đại Giác, dinh Trấn Biên Đến năm 1773, Thiền sư Mật Hoằng được bổ nhiệm làm trụ trì chùa Đại Giác ở Biên Hòa, Đồng Nai.
Trong giai đoạn chống lại nhà Tây Sơn từ năm 1778 đến 1801, Nguyễn Ánh đã nhiều lần phải lánh nạn tại các chùa ở miền Nam như chùa Kim Cang, Bửu Phong, Tập Phước, và Long Nguyên Nguyễn Vương cũng tạm trú tại chùa Đại Giác, Từ Ân và Khải Tường Trong thời gian này, con gái thứ ba của Nguyễn Vương, Công chúa Ngọc Anh, đã lánh nạn tại chùa Đại Giác và sau đó xin xuất gia thọ giới với Thiền sư Mật Hoằng Hành trạng của Công chúa hiện vẫn chưa được rõ ràng, nhưng trong tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Huê năm 1915 đã đề cập đến bà.
Công chúa Ngọc Anh, chị của Vua Minh Mạng, đã tìm đến chùa Đại Giác để tu hành khi còn trẻ, trong thời kỳ tị nạn nhà Tây Sơn Tại đây, bà sống một cuộc đời trầm tư, mặc tưởng và hành đạo một cách sùng mộ.
Giai thoại lịch sử
Chùa Đại Giác không chỉ là nơi lưu dấu chân của Hoàng tộc nhà Nguyễn mà còn sở hữu những bảo vật quý giá, trong đó có câu đối viết bằng máu của công chúa Ngọc Anh, con gái vua Gia Long Nhiều bậc cao niên đã chia sẻ về những giá trị lịch sử và tâm linh của chùa, thu hút những người hướng về đất Phật đến vãn cảnh Vậy đâu là sự thật về những bảo vật này?
Chùa vẫn lưu giữ hai di vật quý giá liên quan đến Công chúa Ngọc Anh, trong đó có tấm hoành phi “Đại Giác Tự” dài khoảng 2 m, được phụng cúng vào năm 1820 Tuy nhiên, trong năm lũ lụt, người dân đã lột những miếng vàng mỏng trên bức hoành phi để bán lấy tiền mua thức ăn, và hiện nay bức hoành phi đã được sơn lại màu vàng.
Báu vật thứ hai là bút tích của công chúa Ngọc Anh, được biết đến với tên gọi “bức huyết thư”, trong đó công chúa đã dùng máu của mình viết trên lụa để tặng chùa một câu đối Bút tích này hiện vẫn được các thế hệ sư trụ trì trân trọng gìn giữ Hành động của công chúa, khi dùng máu để viết câu đối tặng ngôi chùa mà mình từng lui tới trong những lúc khó khăn, là một điều hiếm thấy trong lịch sử Giá trị của bút tích càng được nâng cao nhờ những lời trong câu đối, phản ánh tâm hồn và lòng thành của người xuất gia.
Bức huyết thư được sư Huệ Thiền lồng trong khung kính, được viết bằng chữ Hán và đã được các bậc tiền nhân phiên ngữ cùng tạm dịch với nội dung như sau:
Ưng - Ngọc Anh công chúa mệnh đề tại Biên Hòa, Đại Giác cổ tự, thể hiện sự tôn vinh đạo đức và trí tuệ Đại than nguyên chính đạo, nhấn mạnh việc vượt qua danh lợi và những ảo tưởng trong cuộc sống.
Giác ngộ hóa huyền cơ, chiếu tham sân si sắc tướng chân như, cứu cánh bất sinh bất diệt, ngũ uẩn giai không
Tạm dịch: dịch bởi Sư thầy Huệ Thiền 14
"Kính ghi-Công chúa Ngọc Anh - Đại Giác cổ tự, đất Biên Hòa
Làm người trong chính đạo, phải xem danh lợi như gió bụi, như bóng nước xoáy vần, chẳng thấu vô minh, tất cả chỉ là huyễn
Tỏ ngộ được huyền cơ, soi rọi được tham sân si, sắc tướng của chân như rốt cuộc chẳng sanh diệt, năm uẩn đều là không
Vận trời năm Giáp Dần
Ngày tốt tháng đầu mùa hạ"
Các thế hệ nhà sư và Phật tử tại chùa Đại Giác coi những dòng tuyệt bút của công chúa Ngọc Anh là kim chỉ nam dẫn dắt họ đến cõi Phật Hiện nay, bức huyết thư còn lại được sư ông Huệ Thiền giữ lại, trong khi ông Long Thiền đã đem bức thư về chùa Long Thiền để chôn cất Trước khi chôn, sư Huệ Thiền đã kịp phô-tô và lưu giữ phiên bản Sau khi chôn cất, ông Long Thiền viên tịch, và cho đến nay, vị trí chôn cất bức huyết thư vẫn chưa được biết đến.
Chùa Đại Giác không chỉ là một di tích lịch sử mà còn gắn liền với câu chuyện tình yêu giữa một Thiền sư và một Công chúa nhà Nguyễn Dấu tích của mối tình độc đáo này vẫn được lưu truyền trong dân gian, với nhiều tình tiết huyền bí Theo tài liệu ghi chép, Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, hiệu Liên Hoa, là vị sư đầu tiên ở miền này, góp phần làm nổi bật giá trị văn hóa và tâm linh của chùa Đại Giác.
14 Sư Huệ Thiền – Ông nguyên là sư thầy trong chùa Đại Giác, hiện nay là trụ trì Chùa Phước Hội, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cho biết
Nam được phong Quốc sư vào những năm cuối đời vì trốn tránh mối tình nhiệt huyết của nàng công chúa đã sống ở ngôi chùa này
Thiền sư Liễu Đạt, hiệu Liên Hoa (?-1823), là một nhân vật quan trọng trong phái thiền Lâm Tế, đời thứ 35 Mặc dù thông tin về năm sinh và quê quán của sư không rõ ràng, nhưng sư được biết đến là đệ tử của Hòa thượng Minh Vật - Nhất Tri, có thể đã qui y tại chùa Kim Cang (Bình Thảo, Đồng Nai) Với tư chất thông minh và phẩm hạnh nghiêm mật, sư được vua triệu về kinh đô Huế, giữ chức Tăng cang chùa Thiên Mụ từ năm 1813 đến 1823, đồng thời được cử làm pháp sư giảng thuyết Phật pháp trong nội cung của vua Gia Long.
Thiền sư nổi bật với vẻ đẹp trai, oai nghiêm và tài năng hùng biện, thu hút đông đảo quần chúng và Phật tử Trong số các đệ tử của sư, có Thái trưởng công chúa Long Thành, chị ruột chúa Nguyễn Phúc Ánh, người đã quy y và thọ Bồ Tát giới với pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt Mỗi tháng, sư vào nội cung để thuyết giảng Phật pháp cho hoàng gia, và nhờ tài đức của mình, vua Minh Mạng đã phong cho sư danh hiệu Liên Hoa Sự ngưỡng mộ tài năng và đức độ của Thiền sư đã khiến Thái trưởng công chúa có ý định gắn bó duyên trần với người.
Ngày 20 tháng 11 năm Tỵ (1821), Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc viên tịch ở chùa Từ Ân, mà Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt không hề hay biết Mãi đến đầu năm 1823, có các quan đại thần từ Gia Định ra kinh đô Huế dự lễ, sư mới biết được tin đó, và nhân duyên cớ này sư khẩn thiết xin nhà vua cho về Gia Định Chuyện duyên tình này đương nhiên là không thể, nên thiền sư đã chọn phương pháp “tránh duyên” bằng cách xin về trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định
Nguyên nhân sâu xa về việc xin về này được đề cập trong sách Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, trong đó có đoạn: “Khi về đến chùa Từ Ân, Hòa thượng Liên Hoa có kể rằng: Khi ”
Hoàng cô Tế Minh, tức Thái trưởng công chúa Long Thành, là đệ tử của thiền sư và đã thọ giới Bồ tát với pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt Bà có tình cảm sâu đậm với Hòa thượng và muốn gặp gỡ, nên đã xin phép vua vào Gia Định với lý do cúng dường chùa Từ Ân Vào tháng 10 năm Quý Mùi (1823), khi thiền sư đang ở chùa Sắc Tứ Từ Ân thì nhận được tin Hoàng cô đến cúng dường, khiến ông lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra Để tránh tình huống khó xử, thiền sư đã tìm đến chùa Giác Lâm ở Phú Thọ để hỏi ý kiến Thiền sư Viên Quang, và nhận được lời khuyên giữ tâm bình thản và sinh hoạt tự nhiên.
Trong thời gian Hoàng cô ở chùa, Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt thường xuyên đến thăm, nhưng bỗng dưng sư biến mất mà không ai biết lý do Hoàng cô buồn bã, không thiết ăn uống, và khi hỏi Tăng chúng, mọi người đều không biết thiền sư Liên Hoa ở đâu Sức khỏe của Hoàng cô ngày càng sa sút, lo ngại cho bổn tự, cuối cùng mọi người đã tiết lộ sự thật về sự biến mất của thiền sư Nhận được tin này, Hoàng cô đã thông báo với quan trấn Gia Định về việc lên chùa Đại Giác để cúng dường, và quan tổng trấn đã cử phái đoàn hộ tống Hoàng cô.
Sau khi đến chùa dâng lễ cúng dường, Hoàng cô đã nhờ đưa đến tịnh thất của thiền sư Liên Hoa Với tâm thành kính, cô đảnh lễ trước tịnh thất và xin gặp thiền sư lần cuối trước khi hồi kinh Tuy nhiên, thiền sư không trả lời Không nản lòng, Hoàng cô đã suy nghĩ kế khác và quỳ trước cửa thất, thưa rằng: “nếu Hoà thượng ”.
39 không tiện ra tiếp, xin Hoà thuợng cho con nhìn thấy bàn tay của Hòa thuợng, đệ tử cũng hân hoan mà ra về” 15
Trong khoảnh khắc im lặng, thiền sư đưa tay ra qua cửa nhỏ, Hoàng cô vội vàng ôm lấy và hôn tay ngài một cách trìu mến, sau đó quỳ lạy và khóc nức nở Đêm đó, vào khoảng canh ba, khi mọi người đang say giấc, tịnh thất của thiền sư bỗng bùng cháy, và khi mọi người chạy ra dập lửa, tịnh thất đã bị thiêu rụi hoàn toàn Nhục thân của thiền sư cũng bị cháy đen Trong lúc mọi người bàn tán xôn xao, có người phát hiện bài kệ của thiền sư được viết bằng mực đen trên vách chánh điện.
THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần
THÀNH không vẩn đục vẫn trong ngần
LIỄU tri mộng huyễn chơn như huyễn ĐẠT đạo mình vui đạo mấy lần
Các lễ hội chính
Lễ Phật Đản diễn ra vào ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm, kỷ niệm ngày sinh của Thái tử Tất-Đạt-Đa (Siddhartha), người đã tìm ra con đường cứu khổ cho nhân loại và được tôn kính là Đức Phật Thích-Ca (Sakya) Đây là một trong những lễ hội lớn nhất của Phật giáo, đặc biệt tại Đại Giác cổ tự.
Hàng năm, vào mùa sen nở, người con Phật trên khắp thế giới hân hoan tưởng nhớ những lời dạy của đức Thế Tôn, đặc biệt là ngày kỷ niệm đản sanh của Ngài Là đệ tử của Phật, chúng ta luôn tin tưởng vào trí tuệ viên mãn của Ngài và giữ trong lòng niềm thành kính vô biên Hàng triệu trái tim hướng về mười phương chư Phật, dâng nén tâm hương Giới - Định - Tuệ, cầu nguyện cho thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc, và quốc gia thịnh vượng.
Hằng năm, Đại Giác cổ tự tổ chức lễ Đức Phật Đản sinh vào ngày 15 tháng 4 âm lịch Vào lúc ba giờ sáng, các sư thức dậy để thực hiện nghi lễ công phu, nhằm diệt trừ ham muốn và tăng cường nội lực Điều này giúp các sư khác biệt với con người bình thường, không chạy theo những dục vọng như tiền bạc, danh vọng hay sắc đẹp Đến sáu giờ sáng, các ni sư trang nghiêm chuẩn bị đạo tràng, làm cho ngôi tam bảo trở nên lộng lẫy và sạch đẹp.
Vào lúc tám giờ, Phật tử tề tựu đông đủ để lễ chùa, khói nhang thơm ngát lan tỏa khắp nơi, mọi người thành tâm cầu nguyện cho bản thân và gia đình Đến chín giờ, không khí rạo rực chờ đón lễ tắm Phật, diễn ra trang trọng với sư trụ trì rưới nước lên tượng Đức Phật Các tăng ni và Phật tử lần lượt tham gia tắm Phật để thể hiện lòng thành kính Mười giờ, các sư bắt đầu cúng ngọ, trong khi khu vực đãi khách trở nên náo nhiệt với mọi người xếp hàng lấy cơm chay, một truyền thống thể hiện lòng tôn kính với Đức Phật và mong muốn tu tâm thanh tĩnh Đến mười hai giờ, lễ Phật Đản hoàn mãn.
Ngày lễ Phật đản là dịp để mọi người tưởng nhớ đến ngày đức Phật ra đời và những lời dạy quý giá của Ngài Những giáo lý này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trân trọng cuộc sống và loại bỏ những tội ác trong bản thân thông qua việc tu tâm và tích đức Lời dạy của đức Phật đã thấm nhuần vào tâm hồn của hàng triệu tăng, ni và Phật tử trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam.
1.5.2 Đại lễ Vu Lan – Dâng y và lễ húy kỵ lần thứ 8 cố ni sư Thượng Diệu Hạ Quang - viện chủ chùa Phước Hội, trụ trì chùa Đại Giác
Ngày lễ Vu Lan xuất phát từ sự tích ngài Mục Kiền Liên, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca, nhờ phước đức cúng dường và sức chú nguyện của Tam bảo, mẹ ngài đã thoát khỏi kiếp ngạ quỹ và sinh về thiên giới Học theo tấm gương hiếu hạnh của ngài, các đệ tử Phật, đặc biệt ở các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Bắc truyền, tổ chức lễ Vu Lan để hồi hướng phước đức và cầu nguyện cho cha mẹ hiện tại cũng như cha mẹ trong quá khứ Lễ hội Vu Lan ở mỗi quốc gia mang những nét đặc trưng riêng, như ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Việt Nam.
Lễ Vu Lan ở Việt Nam ngày càng được tổ chức quy mô và trọng thể, thể hiện sự hồi sinh và phát triển của Phật giáo Đây là dịp để người Phật tử bày tỏ lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đồng thời cầu nguyện và cúng dường Tam bảo để hồi hướng công đức cho họ và cho tất cả chúng sanh Nhiều nơi còn tổ chức đại lễ trai đàn chẩn tế nhằm cúng dường, bố thí và cầu nguyện cho các vong linh, âm linh cô hồn.
Trong ngày lễ Vu Lan, người Việt tổ chức một nghi thức đặc biệt mang tên cài hoa hồng, thể hiện lòng hiếu thảo và tôn kính cha mẹ Nghi thức này không chỉ khiến nhiều người xúc động khi cài hoa lên ngực áo, mà còn là dịp để họ hồi tâm tỉnh giác, sống tốt hơn và trân trọng hơn những người đã sinh thành ra mình Những giọt nước mắt rơi khi cài đóa hồng trắng là minh chứng cho tình cảm sâu sắc và nỗi nhớ thương cha mẹ.
Để bày tỏ lòng kính trọng đối với Ân sư đã dày công giáo dưỡng Huệ mạng, Đại Giác cổ tự đã tổ chức lễ Húy Kỵ lần thứ 8 để tưởng niệm cố Ni Sư Thượng Diệu Hạ Quang.
Lễ Vu Lan Dâng Y và cầu siêu Cửu Huyền Thất Tổ diễn ra vào ngày 15 và 16 tháng 7 âm lịch hàng năm, thu hút hàng ngàn Phật tử và du khách Các ni sư nỗ lực tổ chức lễ hội trọng đại này, trong đó có lễ Thượng Phan vào lúc ba giờ chiều, nhằm cầu nguyện cho quốc thái dân an và hòa bình thế giới Lễ Thượng Phan mang ý nghĩa sâu sắc đối với tăng ni, Phật tử và toàn thể người dân Việt Nam Đúng mười sáu giờ, lễ Công Phu bắt đầu với tiếng chuông cổ vang lên, nhang, đèn được thắp sáng cùng với cháo loãng, bánh và trái cây được dâng lên.
Tại sân chùa, các sư tụng kinh cúng cô hồn và cầu nguyện cho những người đã khuất Vào lúc 18 giờ 30, tăng ni và Phật tử hội tụ để làm lễ khai kinh, cầu nguyện cho quốc thái dân an và siêu độ Cửu Huyền Thất Tổ Không khí trang nghiêm bao trùm không gian thanh tịnh, mang lại cho Phật tử và du khách cảm giác thanh nhàn, thoải mái và bình yên trong tâm hồn.
Ngày lễ trọng đại bắt đầu vào sáng sớm ngày 16/07 âm lịch, lúc ba giờ sáng, các sư thức dậy để công phu, diệt ham muốn và tăng nội lực cho bản thân Đây là nghi lễ hàng ngày của các tăng, ni, giúp họ khác biệt với con người bình thường Đến sáu giờ sáng, các ni sư trang nghiêm đạo tràng, chuẩn bị cho lễ hội Vào bảy giờ năm mươi lăm phút, tiếng trống cổ vang lên, đánh dấu sự bắt đầu của mùa lễ hội với sự tiếp đón các đoàn quan khách Khoảng tám giờ ba mươi phút, Phật tử tề tựu về chùa, tạo nên không khí tấp nập Đúng chín giờ, không khí im lặng nhường chỗ cho tiếng kinh Vu Lan, mang lại sự thanh tĩnh và trang nghiêm, nơi mọi người cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ Sau lễ cúng, nghi thức “bông hồng cài áo” diễn ra, biểu tượng cho tình yêu và sự cao quý, thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với bậc sinh thành.
Vào ngày Vu Lan, nhiều người Việt thường cài một bông hoa màu hồng lên áo để thể hiện lòng biết ơn đối với cha mẹ còn sống Đối với những ai đã mất mẹ, họ sẽ cài hoa trắng như một biểu tượng của nỗi nhớ và tôn kính.
Ngày lễ Vu Lan là dịp để người trẻ nhớ về Mẹ - Cha, những bậc sinh thành mà trong cuộc sống hiện đại, nhiều người có thể đã lãng quên Những ai mang hoa hồng sẽ tự hào vì còn có Mẹ - Cha bên cạnh, trong khi hoa trắng là lời nhắc nhở về những gì quý giá mà họ đã mất.
Vào lúc mười giờ, lễ cúng Ngọ và cung tiến Giác Linh được tổ chức, đây là lễ cúng cơm và lễ giỗ của cố ni sư Thượng Diệu Hạ Quang Tiếp theo, vào mười một giờ, sẽ diễn ra lễ cúng dường Trai Tăng Đến mười hai giờ, Chư Tôn Đức sẽ được cung tiễn hồi quy bản tự.