Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trên chiến trường Đông Nam Bộ đã xuất hiện những hình thức đấu tranh sáng tạo, kết hợp đấu tranh ở cả ba vùng chiến lược miền núi, đồng bằng,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TP.HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 2Table of Contents
DẪN LUẬN 1
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN CƯ, TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH VÀ SƠ LƯỢC VỀ CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ THỜI KỲ TRƯỚC 1945 9
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống đấu tranh của nhân dân miền Đông Nam Bộ 9
1.2 Chiến tranh du kích ở Đông Nam Bộ từ Nam Kỳ khởi nghĩa 1940 đến trước năm 1945 20
1.3 Các chủ trương của Đảng đối với chiến trường Đông Nam Bộ 25
CHƯƠNG 2: CHIẾN TRANH DU KÍCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM BỘ 1945 – 1954 31
2.1 Giai đoạn 1: Từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 đến ngày 19 tháng 12 năm 1946 31
2.2 Giai đoạn 2 từ 1947 đến năm 1950 46
2.3 Giai đoạn 3: Từ 1951 – 1954 68
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CHIẾN TRANH DU KÍCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 – 1954) 88
3.1 Đặc điểm 88
3.2 Vai trò, ý nghĩa 102
3.3 Bài học kinh nghiệm 104
KẾT LUẬN 109
Trang 3Kế thừa những truyền thống yêu nước quý báu của dân tộc, quân dân miền Đông Nam Bộ đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ hy sinh tổn thất, với lời
thề “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”,
với niềm lạc quan kiêu hãnh, “miền Đông gian lao mà anh dũng” của “Thành đồng
Tổ quốc”, đã cùng cả nước lập những chiến công xuất sắc đánh thắng thực dân
Pháp và can thiệp Mỹ, kết thúc bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, chuyển cách mạng Việt Nam sang giai đoạn mới
Trên nền tảng chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích miền Đông Nam
Bộ phát triển từ không đến có, từ nhỏ hẹp đến rộng lớn, phát triển cả ở nông thôn
và đô thị Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trên chiến trường Đông Nam Bộ đã xuất hiện những hình thức đấu tranh sáng tạo, kết hợp đấu tranh ở cả
ba vùng chiến lược (miền núi, đồng bằng, đô thị), đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và các hình thức đấu tranh khác; đồng thời cũng sớm xuất hiện thế trận lòng dân, lòng đất kiên cường vững chắc và cách đánh sâu, đánh hiểm, hiệu suất chiến đấu cao bằng hình thức đặc công, biệt động của các lực lượng bán vũ trang
Trang 4và vũ trang đô thị của các ban công tác thành, tự vệ thành, các đội cảm tử quân, thanh niên xung phong xuất quỷ nhập thần, khiến cho quân thù phải khiếp vía kinh hoàng Đó chính là những bài học kinh nghiệm ban đầu hết sức quý báu đã được kế thừa và vận dụng đưa lên trình độ cao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc
Từ lý do trên, đề tài “Chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954” nhằm vào những mục đích cụ thể là:
- Phục dựng lại bức tranh tương đối hoàn chỉnh về chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp toàn dân, toàn diện, giúp độc giả hiểu sâu sắc hơn về dải đất miền Đông Nam Bộ anh dũng, đi trước về sau cho độc lập tự do của dân tộc
- Trên cơ sở đó, rút ra những đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chiến tranh du kích trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đối với cuộc kháng chiến chống Pháp
và bài học kinh nghiệm để kế thừa, vận dụng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)
- Góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu cho chiến tranh nhân dân địa phương nói riêng và nguồn tư liệu lịch sử dân tộc trong cuôc kháng chiến chống Pháp nói chung Đồng thời giúp thế hệ trẻ hôm nay hiểu rõ hơn tội ác của thực dân Pháp để ngày càng tự hào với những chiến công vang dội, trang sử vẻ vang của ông cha
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử quân sự dân tộc ta để lại một kho tàng kinh nghiệm vô giá, những bài học sâu sắc cho muôn đời Càng tự hào và trân trọng di sản quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam của
cả dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong công cuộc đổi mới, đất nước bước sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta cần vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử, phát huy tinh thần anh hùng dân tộc, tinh thần yêu nước nồng nàn cũng như truyền thống lãnh đạo, chiến đấu dũng cảm và sáng tạo của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta để xây dựng và bảo vệ tổ quốc ta
Trang 5Mỗi người Việt Nam chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Chủ
tịch Hồ Chí Minh “Các vua Hùng đã
có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” 1
Với ý thức sâu sắc giữ gìn và phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Các nhà sử học giàu tâm huyết
đã cho ra mắt bạn đọc rất nhiều những tác phẩm xung quanh vấn đề lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam
Bộ sách đầu tiên mà chúng ta phải nhắc đến đó là bộ “Lịch sử quân sự Việt Nam” gồm 14 tập của Viện lịch sử quân sự Việt Nam Có thể nói đây là bộ sách rất
công phu và có giá trị, được xem như bộ sử lớn đương đại Tác phẩm đã dựng lại toàn bộ hoạt động quân sự của dân tộc ta trong cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ tổ quốc, kể cả những cố gắng mở nước của cha ông ta và các cuộc nội chiến
từ thời Hùng Vương – An Dương Vương cho đến ngày nay theo lịch đại trên tất cả các mặt sau: lịch sử khởi nghĩa và chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự, lịch sử
tổ chức quân sự, lịch sử tư tưởng quân sự, lịch sử kỹ thuật quân sự Bên cạnh đó, tác phẩm cũng góp phần thực hiện nghị quyết của trung ương của Đảng về công tác khoa học và công nghệ, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và giáo dục lòng tự hào dân tộc, củng cố tinh thần đoàn kết của nhân dân ta, cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta hăng hái tiến lên vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh
Tác phẩm thứ hai là “Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam 1944 – 1975”
của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2005 được tái bản cho ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954 – 2004), 60 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (1944 – 2004) và 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (1975 – 2005) Nhằm khẳng định vai trò của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong lịch sử quân sự nước ta Đúng như Hồ
Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền
thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, HN, 1996
Trang 6ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi
sự nguy hiểm, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”2
Dưới sự lãnh đạo và tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội Nhân dân Việt Nam được sinh ra và lớn lên trong cao trào cách mạng của toàn dân, góp phần cùng với toàn dân lật đổ ách thống trị của
đế quốc Nhật, Pháp, làm cách mạng thắng lợi, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Đồng thời cùng với toàn dân, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh đánh bại đội quân xâm lược thực dân Pháp và tên đế quốc đầu sỏ đông quân, hung hãn và xảo quyệt nhất là đế quốc Mỹ, góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước và làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với
hai nước Lào và Campuchia anh em, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quân đội
ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” 3
Ngoài những tác phẩm nêu một cách khái quát về chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam như trên thì còn một số tác phẩm khác nói về phương thức chiến tranh du kích như ở chiến trường Tây Nguyên, đồng bằng Sông Cửu Long, chiến trường Bắc Bộ và Nam Trung Bộ trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp (1945 – 1954) do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1998 xuất bản Các công trình này tổng kết, chủ yếu là nhằm làm rõ hơn về phương thức tiến hành chiến tranh du kích trên mỗi chiến trường trong không khí chống thực dân Pháp chung của cả nước Đồng thời rút ra một số đặc trưng về chiến tranh du kích của các chiến trường trên để làm rõ tính kế thừa và phát triển chiến tranh dân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Về Nam Bộ và Đông Nam Bộ cũng có một số tác phẩm, tiêu biểu như:
“Nam Bộ 1945 – 1975 những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam” của PGS.TS Hà Minh Hồng – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố
Trang 7Hồ Chí Minh, 2008 Tác phẩm là sự ghi dựng lại cuộc đấu tranh của quân và dân Nam Bộ trên nền chung của 30 năm chiến tranh cách mạng Chiến trường trên mảnh đất này ác liệt và kéo dài, những tổn thất về người về của trên đất Nam Bộ trong suốt cuộc chiến tranh không thể tính được Nam Bộ có sào huyệt của chủ nghĩa thực dân cũ và mới nhưng Nam Bộ cũng là đầu mối và bàn đạp, nơi quyết định cuối cùng của thế trận chiến tranh nhân dân cách mạng Việt Nam Con người nơi đây thì cương trực và kiên quyết, dũng cảm và mưu trí, đất Nam Bộ thấm đượm nghĩa tình và rộng mở khoan dung Ra khỏi chiến tranh là Nam Bộ lại vươn lên đi đầu trong đói nghèo và lạc hậu, đi trước trong mở cửa, hội nhập với thế giới
và khu vực Đó chính là những vấn đề cốt lõi, là nhân tố cơ bản tạo ra và nhân lên sức mạnh Việt Nam trong 30 năm chiến tranh cách mạng Đồng thời cho chúng ta thấy được đây là cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường, đầy mưu trí, sáng tạo của quân
và dân ta trên chiến trường Nam Bộ - cuộc đấu tranh vừa mang tính chất phổ quát, vừa có nét đặc thù không thể lẫn
Tác phẩm thứ hai, đó là “Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945 – 1975)”
của Nhà xuất bản Quân đội Nhân Dân, Hà Nội, 1990 Công trình gồm hai tập: tập một là trình bày cuộc kháng chiến chống Pháp, tập hai là cuộc kháng chiến chống
Mỹ Thông qua việc trình bày một cách có hệ thống diễn tiến cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, tác phẩm còn cho người đọc thấy rõ, đúng và đủ những nội dung lịch sử chủ yếu, những bước ngoặt quan trọng, tìm ra quy luật phát triển và những nhân tố thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân trên chiến trường miền Đông Nam Bộ
Tác phẩm thứ ba “Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 – 1975)” – Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, HN, 2003 Đến với công trình này, độc giả phần nào sẽ thấy được quá trình xây dựng và phát triển của Đảng bộ miền Đông Nam Bộ, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ với phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ giai đoạn (1945 – 1975) – một giai đoạn cực kỳ quan trọng và vẻ vang của lịch sử cách mạng nước nhà
Trang 8Tác phẩm thứ tư “chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945 – 1954)” của Hồ
Sơn Đài – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, tập trung trình bày về bối cảnh, nguyên nhân hình thành, quá trình tồn tại phát triển và các hoạt động chức năng của các căn cứ địa; đồng thời, tác giả cũng mở rộng nghiên cứu các vấn đề liên quan, đặt lịch sử hình thành, phát triển và hoạt động của căn cứ địa trong bối cảnh cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước và riêng ở miền Đông Nam Bộ, từ đó phân tích đặc điểm, đánh giá vai trò của nó đối với tiến trình chung của cuộc kháng chiến
Và cuối cùng là “Lịch sử chiến khu Đ” – Nhà xuất bản Đồng Nai, 1997
Đây là tác phẩm trình bày riêng về lịch sử chiến khu Đ với tư cách là một căn cứ địa kháng chiến Đó là sự hình thành chiến khu, quá trình xây dựng đi đôi với bảo
vệ chiến khu, mọi hoạt động xung quanh việc thực hiện nhiệm vụ chức năng của một căn cứ, cùng toàn bộ những sự kiện lịch sử tiêu biểu đã diễn ra trên vùng đất ngày càng được mở rộng của chiến khu Đ và địa bàn có liên quan trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau Vùng đất chiến khu Đ xưa với những ưu điểm địa lý và nhân văn của nó, chắc chắn còn giữ một vai trò hết sức quan trọng Bên cạnh đó, tác phẩm ra đời còn nhằm thỏa mãn phần nào lòng mong mỏi của hàng vạn cán bộ chiến sĩ đồng bào giờ đây khi cuộc chiến tranh giải phóng đã lùi
xa vào dĩ vãng – lòng vẫn canh cánh nhớ đến một thời chiến đấu hy sinh
Có thể nói, có rất nhiều tác phẩm bàn về chiến tranh, phương thức tiến hành chiến tranh ở Việt Nam qua các cuộc kháng chiến trong lịch sử dân tộc Nhưng chưa có tác phẩm nào nghiên cứu một cách toàn diện về chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
Vì vậy, đề tài: “chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954” mong muốn góp phần thiết
thực vào việc nghiên cứu vấn đề này
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) Trong đó, đề tài
đề cập đến sự hình thành, phát triển của chiến tranh du kích từ xây dựng lực lượng
Trang 9vũ trang, căn cứ địa, hoạt động tổ chức dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Phạm vi nghiên cứu là tất cả những hoạt động của phương thức tiến hành chiến tranh du kích ở chiến trường Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp
và những đóng góp của phương thức chiến tranh này đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Thời gian nghiên cứu: Đề tài tìm hiểu về chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Nam Bộ suốt 9 năm của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn như: Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Phòng tư liệu – Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Thư viện Tổng hợp, Thư viện Khoa học Xã Hội Thành phố
Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường quân khu 7, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Ngoài ra, nguồn tư liệu từ Internet cũng được đề tài quan tâm cập nhật
Trên cơ sở phương pháp luận sử học Marxist, đề tài đã sử dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử là: kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, đề tài bước đầu tiếp cận và vận dụng các phương pháp: phương pháp phân tích, so sánh lịch sử
5 Đóng góp của đề tài
Qua việc thu thập, hệ thống một khối lượng tư liệu xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau có liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu, đề tài cung cấp những thông tin cần thiết về chiến tranh du kích trên chiến trường miền Đông Nam Bộ (1945 – 1954)
Đề tài tập trung làm rõ sự hình thành, phát triển, quá trình hoạt động của chiến tranh du kích ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong 9 năm (1945 – 1954)
Từ đó, đề tài sẽ góp phần bổ sung những mảng trống (hoặc chưa được tô đậm) trong bức tranh toàn cảnh về chiến tranh du kích ở miền Đông Nam Bộ, góp
Trang 10thêm những luận cứ khoa học và thực tiễn để nhận thức đầy đủ hơn về chiến tranh
du kích ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước
Đề tài chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), góp phần bổ sung nguồn tư liệu cho lịch
sử kháng chiến chống Pháp của dân tộc
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương với nhiều mục và tiểu mục:
Chương 1: Vài nét khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, truyền thống đấu tranh và sơ lược về chiến tranh du kích ở miền Đông Nam
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN
TỰ NHIÊN, DÂN CƯ, TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH VÀ SƠ LƯỢC
VỀ CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ THỜI KỲ
Miền Đông Nam Bộ là cụm danh từ chỉ vùng đất phía Đông của Nam Bộ, theo sự phân chia địa giới hành chính thời kỳ 1945 – 1954 thì miền Đông Nam Bộ rộng 25.913 km2, gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh Trong cuộc kháng chiến chống Pháp quay trở lại xâm lược lần thứ hai, tổ chức chiến trường miền Đông Nam Bộ luôn có sự thay đổi phù hợp với nhiệm vụ trọng tâm của từng giai đoạn lịch sử
Ngay sau ngày Nam Bộ kháng chiến, ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy Nam Kỳ chia Nam Bộ ra làm 3 chiến khu: Khu 7 miền Đông; khu 8 miền Trung và khu 9 miền Tây Miền Đông Nam bộ gồm Thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh
Tháng 12 năm 1948, thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Tây Ninh tách ra thành lập khu Sài Gòn – Chợ Lớn Khu 7 còn lại các tỉnh Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một
Trang 12Tháng 7 năm 1950, Khu Sài Gòn – Chợ Lớn nhập trở lại Khu 7 Tháng 8 năm 1950, thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn và một số huyện vùng ven tách ra thành lập đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn trực thuộc Bộ Tư Lệnh Nam Bộ Khu 7 còn lại các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh
Đầu năm 1951, Xứ ủy Nam Kỳ (sau Đại hội Đảng lần thứ hai đổi là Trung ương Cục miền Nam) bố trí lại chiến trường, sắp xếp lại lực lượng, kiện toàn Nam
Bộ cho phù hợp với điều kiện chiến đấu mới Theo đó, Khu 7, Khu 8 và Khu 9 giải thể lấy sông Tiền làm ranh giới, toàn Nam Bộ được chia làm hai phân liên khu là phân liên khu miền Đông và phân liên khu miền Tây Phân liên khu miền Đông gồm các tỉnh: Bà Chợ (Bà Rịa và Chợ Lớn cũ ), Gia Ninh (Gia Định và Tây Ninh cũ), Thủ Biên (Thủ Dầu Một và Biên Hòa cũ), Tân Mỹ Gò (Tân An, Mỹ Tho và
Gò Công cũ), Long Châu Sa (Long Châu Tiền và Sa Đéc cũ) Tổ chức chiến trường này tồn tại đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Như vậy, trên cơ sở địa lý có từ trước năm 1945, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tổ chức hành chính và hành chính quân sự ở Đông Nam Bộ luôn có sự thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của lực lượng vũ trang trong đó có chiến tranh du kích phát triển đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc đi đến thắng lợi
Ngày nay, về tổ chức quân sự miền Đông Nam Bộ thuộc Quân khu 7 có diện tích tự nhiên là 23.546 km2 với tổng dân số 14.025.387 người (theo thống kê ngày 1 tháng 4 năm 2009) gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và Tây Ninh
Điều kiện tự nhiên của miền Đông Nam Bộ
- Địa hình ở miền Đông Nam Bộ tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình từ 20 mét đến 200 mét so với mực nước biển Nhìn toàn bộ bề mặt địa hình được chia thành các vùng chính sau:
Vùng đất đỏ Bazan là dải đất cao, kéo dài theo ranh giới phía Đông Bắc miền Đông Nam Bộ thấp dần xuống phía Nam, ở hai khu vực chính Lộc Ninh và Xuân Lộc, có độ cao trung bình từ 100 đến 2.000 mét Bề mặt địa hình gợn sóng
Trang 13do sự xen kẽ của các dãy đồi thấp rất thoải và thung lũng rất rộng, tỉnh thoảng có những ngọn núi cao từ 300 đến 800 mét
Vùng phù sa cũ là vùng đất ở phần Đông Nam các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé (nay là tỉnh Bình Phước) và đại bộ phận tỉnh Tây Ninh, có độ cao từ 15 đến 100 mét Bề mặt địa hình khá bằng phẳng, nghiêng dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Rải rác có những thung lũng rộng và đồi thoải với độ cao tương đối không quá 25 mét
Vùng phù sa mới là phần đất phía Nam các tỉnh Thủ Dầu Một (nay là Bình Dương), Biên Hòa (nay là Đồng Nai) về phía biển, có độ cao trung bình từ 3 đến
15 mét
Địa hình miền Đông Nam Bộ rất thuận lợi cho việc trú đóng, tổ chức, huấn luyện và cơ động của các đơn vị vũ trang tập trung, là địa bàn lý tưởng để thực hiện các trận đánh và các chiến dịch
- Núi ở miền Đông Nam Bộ là đoạn cuối của dãy Trường Sơn, tách bạch từng ngọn không cao đột ngột xuất hiện ở hầu khắp các tỉnh Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dẩu Một, Tây Ninh nhưng có ý nghĩa về mặt quân sự như, núi Thị Vải, núi Mây Tàu (ở Bà Rịa), núi Chứa Chan (Biên Hòa), núi Cậu (ở Thủ Dầu Một), núi Lớn (ở Vũng Tàu), núi Bà Rá (Thủ Dầu Một)… Trong đó ngọn cao nhất là núi Bà Đen cao 986m Do đặc điểm đơn lẻ, đột xuất cho nên núi ở miền Đông Nam Bộ có
ý nghĩa đặc biệt về mặt quân sự Nó vừa là công sự, điểm tựa, vừa là tháp canh thiên nhiên có tầm quan sát khống chế rộng với địa hình đồng bằng xung quanh
- Rừng ở miền Đông Nam Bộ chiếm 1/3 diện tích đất tự nhiên ở Đông Nam
Bộ (9.475km2) gồm rừng giống, rừng Sác và rừng trồng (rừng cao su) Trong đó có các khu rừng nguyên sinh được xếp hạng quốc gia như vườn quốc gia Nam Cát Tiên (gồm một phần các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước), rừng Bình Châu – Phước Bửu (Xuyên mộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) Rừng ở miền Đông Nam Bộ
có vị trí chiến lược quan trọng trong hai cuộc kháng chiến Rừng được xây dựng thành những căn cứ địa cách mạng hoàn chỉnh góp phần bảo vệ, huấn luyện, xây dựng, phát triển và có tác dụng che dấu lực lượng cách mạng; tạo hành lang nối thông miền Đông với hậu phương lớn miền Bắc; rừng miền Đông Nam Bộ lại
Trang 14không cách xa các đô thị lớn, tạo nên bàn đạp lợi hại tiến công các cơ quan đầu não quân sự của địch bằng lối du kích, bí mật Ngoài ra, rừng ở miền Đông Nam
Bộ còn là kho tài nguyên lớn về nguyên vật liệu xây dựng lán trại, nhà ở, nam dược chữa bệnh, về nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào, về nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến để phát triển kinh tế kháng chiến Tuy nhiên, rừng miền Đông Nam Bộ cũng không kém phần khắc nghiệt, gây ra không ít bệnh hiểm nghèo, ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ của ta
- Miền Đông Nam Bộ có ba tỉnh: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Tân An giáp vương quốc Campuchia, có đường biên giới dài 650km Địa hình miền biên giới khá bằng phẳng, chia thành hai vùng cao thấp rõ rệt Vùng đất cao gồm các huyện Tân Biên (của tỉnh Tây Ninh); Lộc Ninh, Phước Long (tỉnh Thủ Dầu Một) phần lớn là các khu rừng rậm, rừng chồi xen kẽ nhiều trảng trống Vùng đất thấp gồm các huyện Châu Thành, Bến Cầu, Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh); Đức Huệ, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng (tỉnh Tân An) là vùng đất ruộng và giồng gò trên nền đất ẩm thấp của phù sa cũ
Do cấu trúc địa hình bằng phẳng, có đường giao thông thủy bộ thuận lợi, nhân dân vùng ven biên giới 2 nước vốn có tập quán thường xuyên qua lại làm ăn, cùng nhau đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược
- Miền Đông Nam bộ có ba tỉnh, thành phố (gồm 5 huyện, 16 xã theo địa giới hành chính hiện nay, không kể Côn Đảo) giáp với biển Đông, với chiều dài mép nước 190 km Có thể chia bờ biển miền Đông Nam Bộ thành hai đoạn: đoạn phía Đông qua Long Đất, Xuyên Mộc bờ biển cao gồm có những giồng, đụn, bãi cát trắng hoặc vàng trải dài, có cửa Lộc An, Hồ Cốc vào đất liền và nhiều đoạn rất thuận lợi cho tác chiến đổ bộ đường biển Đoạn phía Tây, bờ biển thấp, sình lầy,
có nhiều cửa sông lớn như Soài Rạp, Đồng Tranh, Cần Giờ, Ngã Bảy, Lòng Tàu…
Nhìn chung, bờ biển miền Đông Nam Bộ có địa hình khúc khuỷu, nhô ra xa
và lõm vào sâu sâu, xen kẽ một số núi cao đột xuất, bãi cát dài với nhiều cửa biển,
có cửa Cần Giờ nối Sài Gòn với biển Đông Sát các cửa biển có nhiều khu rừng rậm rạp, sông rạch chằng chịt, có địa thế hiểm trở Vì vậy, vừa là cửa ngõ thông thương tiện lợi từ bên ngoài bằng đường biển vào Sài Gòn và các tỉnh, vừa là khu
Trang 15vực trọng yếu cho việc tổ chức phòng thủ bảo vệ bờ biển và tiến công các phương tiện giao thông đường thủy của địch
- Miền Đông Nam Bộ có nhiều con sông ngòi, hầu hết những con sông lớn đều chảy từ miền biên giới và cao nguyên phía Bắc, Đông Bắc đổ về phía Nam, Đông Nam ra biển Đông như:
Sông Đồng Nai: bắt nguồn từ núi Lang Biang cao nguyên Lâm Viên của tỉnh Lâm Đồng chảy ra biển Đông Sông dài 500km, lưu vực rồng 38.600 km2 Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, một sông mẹ với rất nhiều phụ lưu: sông La Ngà bên tả ngạn, Sông Bé, sông Sài Gòn bên hữu ngạn
Sông La Ngà: bắt nguồn từ Đông Bắc Bảo Lộc đổ ra sông Đồng Nai (thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay) Trên địa bàn miền Đông Nam Bộ sông dài 78 km có nước chảy quanh năm
Sông Bé: bắt nguồn từ Đông Bắc Phước Long (Thủ Dầu Một) đổ ra sông Đồng Nai đoạn dưới thác Trị An Sông Bé có tính chất như một con suối lớn, lòng sông hẹp, nhiều đá tảng, dòng chảy quanh co uốn khúc Mùa mưa, nước đầu nguồn
đổ xuống mạnh, phía hạ lưu nước dâng ngập đột ngột và chảy xiết Mùa khô, lòng sông trơ và đá tảng có thể qua lại dễ dàng
Sông Sài Gòn: bắt nguồn từ các nhánh suối vùng biên giới phía Bắc, chảy qua các vùng đồng ruộng, làng mạc của tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Sài Gòn và
đổ ra sông Đồng Nai ở Tân Thuận Đông Đoạn từ Dầu Tiếng về Đồng Nai lòng sông rộng và sâu, quanh năm thuyền bè lưu thông thuận tiện
Đoạn cuối sông Sài Gòn, Nhà Bè, Lòng Tàu, Ngã Bảy lập thành một cửa ngõ quan trọng từ đất nước thông ra Biển Đông là con đường vận chuyển hàng chiến lược vào miền Nam
Ngoài những con sông kể trên miền Đông Nam Bộ còn có rất nhiều con sông và kênh rạch khác nhau như sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây; sông Thị Vải; sông Dinh; rạch Thị Nghè; kinh Bến Nghé; kinh Bến Lức … Có thể nói đây là hệ thống giao thông đường sông rất quan trọng nối liền giữa các địa phương ăn thông với biển Đông rất thuận lợi cho sinh hoạt, lưu thông vận chuyển và đồng thời là nguồn bồi đắp phù sa, tưới tiêu nước phục vụ cho sản xuất
Trang 16- Miền Đông Nam Bộ có hệ thống đường bộ rất thuận lợi cho việc vận chuyển kinh tế và quân sự, nối thông miền Đông với Cao nguyên Tây Nguyên lên đến biên giới Campuchia, ra miền Trung, miền Bắc như: Quốc lộ 1 là con đường con đường xương sống xuyên từ Bắc vào Nam qua địa phận Biên Hòa, Sài Gòn, Tây Ninh đi Phnômpênh (Campuchia) Quốc lộ 13 khởi điểm từ Quốc lộ 1 chạy xuyên Đông Dương từ Sài Gòn qua Campuchia đến Luôngphabăng (Lào); Quốc lộ
14 (nay là đường Trường Sơn) từ Lộc Ninh lên Buôn Mê Thuột; Quốc lộ 20 từ Dầu Dây lên Đà Lạt…
Bên cạnh đó, còn có hàng loạt các đường liên tỉnh, liên huyện nối các tỉnh, các huyện trong vùng với nhau như: liên tỉnh lộ 1 nối thị xã Thủ Dầu Một với Phước Long; liên tỉnh lộ 2 nối Xuân Lộc với Phước Tuy; liên tỉnh lộ 3 nối Xuân Lộc với Quốc lộ 20; liên tỉnh lộ 15 nối Sài Gòn với Nhà Bè; liên tỉnh lộ 25 nối bến phà Thủ Thiêm – Sài Gòn với Long Thành…
Đường xe lửa: có tuyến chạy từ miền Bắc vào qua các tỉnh Biên Hòa, Sài Gòn, Chợ Lớn xuống Mỹ Tho, Sài Gòn – Đà Lạt, Sài Gòn –Lộc Ninh
Nhìn chung, đường giao thông bộ ở đây tương đối bằng phẳng, ít đèo dốc, thuận lợi cho việc lưu thông kể cả mùa nước lớn
- Miền Đông Nam Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới Cũng như các vùng khác ở Nam Bộ, một năm ở miền Đông Nam Bộ chia làm hai mùa rất rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 Nhiệt độ trung bình hàng năm ở miền Đông Nam Bộ là 26,90 Mặc dù ngày và đêm khác nhau khá nhiều nhưng mức chệnh lệch giữa các mùa trong năm không đáng kể Chế độ khí hậu ở miền Đông Nam Bộ ảnh hưởng hưởng sâu sắc đến các hoạt động quân sự Mùa mưa, nước ngập các sông rạch và vùng trũng thấp, nước suối dâng cao và chảy mạnh ở vùng cao, đường sá lầy lội, việc đi lại cơ động gặp nhiều khó khăn Ở miền rừng núi, độ ẩm cao, bệnh tật ở con người dễ phát triển, phương tiện
vũ khí kỹ thuật dễ bị hư hại do ôxy hóa và nấm mốc phá hoại 5 tháng mùa khô là khoảng thời gian đặc biệt thuận lợi cho cả địch và lực lượng kháng chiến tổ chức hành quân cơ động và tác chiến
Trang 17Từ những điều kiện tự nhiên ở miền Đông Nam Bộ tạo nên địa thế chiến lược ba vùng rất rõ rệt, rất thuận lợi cho việc phát động chiến tranh du kích Tuy
nhiên, miền Đông Nam Bộ lại ở xa Trung ương cho nên việc nhân chi viện từ
Trung ương rất khó khăn đòi hỏi quân dân miền Đông phải phát huy tinh thần tự lực tự cường, tính sáng tạo trong chiến đấu
Vị trí của chiến trường Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống
Pháp lần thứ hai
Với những đặc điểm về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã làm cho Đông Nam Bộ có một vị trí đặc biệt trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược nhiều thế kỷ của nhân dân ta
Trong cuộc chiến xâm lược nước ta lần thứ hai, thực dân Pháp đã chọn Sài Gòn làm nơi gây hấn đầu tiên, và từ đó tạo bàn đạp để tấn công các tỉnh miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, rồi các tỉnh Trung Bộ và ra phạm
vi cả nước Tại đây, chúng đặt bản doanh của đạo quân viễn chinh xây dựng thủ đô của chính phủ ngụy quyền tay sai biến Sài Gòn thành trung tâm chính trị, đảng phái, tôn giáo, kinh tế, văn hóa, là nơi tập trung và đầy đủ nhất chủ nghĩa thực dân kiều cũ ở Việt Nam và Đông Dương Trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã ưu tiên bố trí ở miền Đông Nam Bộ một bộ phận lực lượng lớn quân viễn chinh với những đơn vị ứng chiến cơ động mạnh và trang bị binh khí kỹ thuật hiện đại, xây dựng hệ thống các đường giao thông chiến lược xung yếu, hệ thống sân bay cơ bản và dã chiến rộng khắp; xây dựng hệ thống kho tàng trữ lớn, hỗ trợ tối đa cho tư bản thực dân khai thác ngành kinh tế cao su phục
vụ cho cuộc chiến tranh
Đối với ta, vùng đất kéo dài từ phía Tây Bắc lên phía Bắc và phía Đông ở miền Đông Nam Bộ tạo thành một dãy hành lang rộng lớn gắn liền với vùng rừng núi cực Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên và Đông Nam Campuchia, có rừng rậm, núi cao, trải rộng thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ địa, đóng quân, che giấu lực lượng và phòng thủ; những khu vực chiến trường thuận lợi cho cách đánh du kích, những trận đánh vận động, đánh hậu cứ địch… có nhiều đường tiếp cận nhiều hướng từ Sài Gòn
Trang 18Vùng bình nguyên với hàng chục vạn hecta đồn điền cao su, vùng đất thấp
ở vùng ven xung quanh Sài Gòn, dọc đôi bờ phía hạ lưu các sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ với những cánh đồng lúa, hoa màu và vườn cây ăn trái bạt ngàn, là đất đai phì nhiêu, làng mạc sầm uất, nhân dân giàu lòng yêu nước và có truyền thống đấu tranh cách mạng, rất thuận lợi cho việc phát triển phong trào nhân dân
du kích chiến tranh rộng rãi Đồng thời đây cũng là nơi cung cấp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến Các khu vực Nhà Bè, Cần Giờ… là những khu vực có rừng cây thấp, sông rạch chằng chịt, địa thế hiểm yếu rất thuận lợi cho việc che giấu lực lượng, lập căn cứ bảo đảm tiến, thoái dễ dàng
Vùng đô thị gồm Sài Gòn, Biên Hòa, Vũng Tàu và các tỉnh lị khác với đặc điểm nhà cửa san sát, dân cư tập trung đông, nhiều công sở, trường học, cơ sở kinh
tế rất thuận lợi cho phát triển chiến tranh du kích trong lòng đô thị, nhất là trên mặt trận đấu tranh chính trị Đồng thời đây cũng là nơi cung cấp sức người, sức của, cơ
sở vật chất, kỹ thuật, hàng hóa cao cấp cho nhu cầu kháng chiến Đô thị miền Đông Nam Bộ lại nằm trong thế bao quanh của nông thôn đồng bằng và rừng núi,
có mối liên hệ chặt chẽ các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với xung quanh Vùng ven đô có nhiều chướng ngại vật thiên nhiên, địa thế hiểm yếu, rất thuận lợi cho việc trú ém lực lượng, xây dựng căn cứ du kích và bàn đạp đứng chân ở ngay sát nội đô, đồng thời dễ dàng nối thông với các căn cứ lớn Bên cạnh đó, chiến trường miền Đông Nam Bộ cũng có những khó khăn đó là nguồn lúa gạo, thực phẩm không nhiều, khí hậu rất nặng nề dễ sinh bệnh tật ở các vùng rừng núi, địa hình bị chia cắt, đi lại khó khăn ở các vùng trũng thấp trong mùa mưa Đồng thời lại là địa bàn trọng điểm trong chính sách càn quét và bình định của địch vì vậy cuộc chiến đấu giữa ta và địch luôn diễn ra quyết liệt
Như vậy, với vị trí chiến lược quan trọng như vậy, miền Đông Nam Bộ là một chiến trường trọng điểm ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là nơi đich thường thực hiện những âm mưu thủ đoạn chiến thuật, chiến lược nhằm bình định cách mạng Trong kháng chiến chống Pháp, địch đã xây dựng miền Đông Nam Bộ thành một trung tâm chỉ huy đánh phá cách mạng miền Nam Trong đó, Sài Gòn được tổ chức như một thủ phủ tập trung nhiều cơ quan đầu não của địch
Trang 19nhằm tạo một đối trọng với căn cứ địa Việt Bắc Việc tập trung binh lực, phương tiện chiến tranh, cơ quan đầu não và quân sự lớn của địch ở miền Đông Nam Bộ Đồng thời, tạo ra những mục tiêu để lực lượng cách mạng với phương thức dùng quân tinh nhuệ bí mật đánh vào sào huyệt địch, thực hiện “lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”
1.1.2 Dân cư và truyền thống đấu tranh
Về dân cư
Cộng đồng dân cư ở miền Đông Nam Bộ gồm cư dân bản địa và lưu dân từ phía Bắc vào gồm nhiều dân tộc như người Việt, Hoa, Khmer, Chăm, Chơro, Stiêng, Tày,… trong đó người Việt chiếm đa số Đồng bào dân tộc ở Miền Đông Nam Bộ trong những năm tháng khởi đầu kháng chiến, những thời kỳ gian khổ luôn là chỗ dựa vững chắc của các lực lượng cách mạng trong đó có lực lượng du kích Trong quá trình cuộc kháng chiến chống Pháp, rất đông cán bộ, bộ đội và đồng bào từ nhiều địa phương khác về chiến đấu, công tác, sinh sống đã góp phần vào sự tăng trưởng dân số ở miền Đông Nam Bộ: năm 1943 là 1.951.800 người, năm 1953 là 2.536.866 người, năm 1955 là 3.641.500 người4
Cư dân ở miền Đông Nam Bộ có nhiều tôn giáo khác nhau, có các tôn giáo như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, đạo Cao Đài…
Phật giáo: có số lượng tín đồ đông so với các tôn giáo khác ở Nam Bộ Cao Đài: có rải rác khắp miền Đông Nam Bộ Trong kháng chiến, đạo Cao Đài bị phân hóa thành nhiều hệ phái khác nhau Trong những hệ phái đó có một ít
hệ phái (như ở Tây Ninh) do lực lượng phản động đội lốt tôn giáo Cao Đài để xây dựng quân đội riêng, chống phá cách mạng rất quyết liệt
Thiên Chúa giáo: chiếm phần lớn dân số ở Đông Nam Bộ Phần lớn, họ là trí thức tiểu tư sản, một số là nông dân, nhân dân lao động ở thành thị Các giáo xứ
và nhà thờ có hầu hết ở khắp các nơi Thực dân Pháp đã lợi dụng triệt để bọn phản động để tổ chức gián điệp và lực lượng thân binh hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và phá hoại kháng chiến
4
Dẫn theo Hồ Sơn Đài, (1996), Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ 1945 – 1954, NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, tr 35
Trang 20Tuy vậy, đại đa số đồng bào tín đồ vẫn giữ vững truyền thống yêu nước, tích cực tham gia kháng chiến, nuôi dưỡng lực lượng vũ trang
Truyền thống đấu tranh của nhân dân:
Nhân dân miền Đông Nam Bộ vốn mang truyền thống yêu nước, bất khuất, đánh giặc giữ nước của dân tộc từ hơn 4.000 năm, lại phải đấu tranh với thời tiết khắc nghiệt trong quá trình khai phá đã hun đúc thêm tinh thần dũng cảm, ý chí quật khởi, tình yêu quê hương, đất nước, ý chí kiên cường chống xâm lược, chống
áp bức bất công… Chính những tính cách đó đã tạo nên sức mạnh của tinh thần chiến đấu bề bỉ kiên cường trong suốt cuộc trường chinh chống các thế lực ngoại xâm của nhân dân Nam Bộ nói chung và nhân dân Đông Nam Bộ nói riêng
Ngay từ những ngày đầu đặt chân lên đất Gia Định, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã phải đụng độ với 5.000 nông dân trang bị gậy gộc, giáo mác cùng phối hợp với quân triều đình đánh cho giặc xâm lược lâm vào thế sa lầy hàng năm trời Cùng với các cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa tư tưởng của các sĩ phu, trí thức yêu nước như Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông… là các cuộc khởi nghĩa diễn ra liên tục và rộng khắp
Tiếp theo là các cuộc khởi binh của phong trào Cần Vương của Nguyễn Trung Trực với câu nói bất hủ “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”; của nghĩa quân Trương Định dưới lá cờ “Bình Tây Đại Nguyên Soái” kiên quyết chiến đấu chống cả “Triều lẫn Tây” kéo dài suốt 7 năm
Đếm năm 1885, từ Bà Điểm – mười tám thôn vườn trầu, Phan Công Hớn cùng nhân dân nổi dậy chiếm quận lỵ Hóc Môn rồi kéo về Sài Gòn được đồng bào Bình Chánh, Bà Hom, An Lạc nhiệt liệt hưởng ứng dấy lên thành phong trào khởi nghĩa của nông dân xung quanh Sài Gòn…
Sang đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới diễn ra những biến đổi hết sức sâu sắc Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga và phong trào cách mạng vô sản thế giới đã thổi bùng lên một luồng sinh khí mới vào Việt Nam Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, với các chi bộ đầu tiên ở Phú Riềng, Sài Gòn và lần lượt các nơi khác ở khắp miền Đông Nam Bộ, phong trào cách mạng chuyển sang một bước ngoặt mới Đầu những năm 30 đến trước cuộc chiến tranh thế giới
Trang 21thứ hai các cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn (tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son), công nhân các đồn điền cao su (tiêu biểu là Phú Riềng) và các cuộc đấu tranh của nhân dân Gia Định, Tây Ninh, Tân An, Bà Rịa liên tiếp diễn ra Trong cao trào đấu tranh 1936 – 1939, cùng với phong trào chống sưu cao, thuế nặng ở nông thôn các tỉnh Tại Sài Gòn hình thành một lực lượng của “Mặt trân dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương” do Đảng lãnh đạo
Đến tháng 7 năm 1940, lợi dụng tình thế thực dân Pháp ở Đông Dương và Xiêm có chiến tranh, Xứ ủy Nam Kỳ quyết định phát động cuộc khởi nghĩa Nam
Kỳ Tuy cuộc khởi nghĩa không thành do thời cơ chưa chín muồi và lộ bí mật nhưng nhân dân 18 tỉnh Nam Bộ đã nhất tề vùng dậy, quân đội tầm vông, dao, búa, cuốc xông lên đập tan bộ máy kìm kẹp ở địa phương, lập nên chính quyền “tự quản” hoặc Xô Viết…
Thực dân Pháp đã dùng cả hải, lục, không quân để đàn áp khốc liệt Xứ ủy Nam Kỳ lần lượt bị bắt gần hết Năm 1941, tại trường bắn Tân Thới (Hóc Môn), thực dân Pháp đã bắn 5 lãnh tụ Cộng sản kiên trung là Võ Văn Tần, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Văn Cừ và Nguyễn Thị Minh Khai để uy hiếp tinh thần quần chúng
Sau ba lần bị càn quét, Xứ ủy Nam Kỳ trong thực tế không còn và bị mất liên lạc với Trung ương Đảng Nghị quyết 8 của Trung ương Đảng ra tháng 5 năm
1941 mãi đến tháng 8 năm 1943 mới vào đến Nam Bộ Nhưng khi có chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12 tháng 3 năm 1945) của Thường vụ Trung ương Đảng và Lời kêu gọi chuẩn bị Tổng khởi nghĩa của Tổng
bộ Việt Minh (tháng 7 năm1945), thì phong trào đã nhanh chóng được phục hồi và
có bước phát triển vượt bậc Cũng từ tháng 8 tháng 1945, không khí tiền khởi nghĩa đã lan rộng khắp thành thị, nông thôn…
Sau khi Hà Nội giành chính quyền hai ngày, Tân An mở đầu khởi nghĩa ở Nam bộ (ngày 21 tháng 8 năm 1945), tiếp sau đó đến Tây Ninh (ngày 24 tháng 8 năm 1945) và sau cùng là Sài Gòn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa (ngày 25 tháng 8 năm 1945)
Trang 22Như vậy, truyền thống đấu tranh của nhân dân miền Đông Nam Bộ “Hào khí Đồng Nai” đã bắt gặp chủ nghĩa yêu nước và học thuyết Marx – Lenin đã sản sinh ra một “miền Nam đất thép thành đồng”, “gian lao mà anh dũng”
1.2 Chiến tranh du kích ở Đông Nam Bộ từ Nam Kỳ khởi nghĩa 1940 đến trước năm 1945
1.2.1 Khái niệm chiến tranh du kích
Bàn về chiến tranh du kích, F Engels – nhà chiến lược quân sự Marxist
viết: “Một dân tộc muốn giành độc lập cho mình thì không được tự giới hạn trong
những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích khắp nơi, đó là phương thức duy nhất nhờ
đó mà một dân tộc nhỏ có thể chiến thắng một dân tộc lớn, một đội quân nhỏ bé có thể chống lại một đội quân mạnh có tổ chức tốt hơn”5
Lenin trong đợt tổng kết những bài học kinh nghiệm của cuộc khởi nghĩa
Matxcơva 1905, đã kết luận: “Chiến tranh du kích xuất hiện ngay trong khởi nghĩa
vũ trang Đó là “tổng hợp những hình thức đấu tranh khác nhau của các giai cấp cách mạng xuất hiện một cách tự phát trong tiến trình của phong trào và tổ chức
đã làm cho những hình thức đó có tính tự giác mà thôi”6
Còn ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn sách “Chiến thuật du
kích” Người viết “Du kích là cách đánh úp hay đánh lén lúc kẻ thù không ngờ,
không phòng Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân du kích không có khí giới tốt, chưa hình thành quân đội đàng hoàng; nhưng quân du kích được dân chúng ủng
hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo léo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc…”7
Còn theo từ điển quân sự Việt Nam định nghĩa thì “Chiến tranh du kích là
chiến tranh được tiến hành theo phương thức đánh du kích với lực lượng nhỏ lẻ, nòng cốt là lực lượng vũ trang địa phương nhằm chống lại đối phương có ưu thế hơn về sức mạnh quân sự Chiến tranh du kích thường được sử dụng ở các nước
Trang 23thuộc địa hoặc bị xâm lược khi so sánh lực lượng ở những nước đó chưa cho phép tiến hành chiến tranh chính quy Chiến tranh du kích rất phong phú và đa dạng về phương thức tiến hành chiến tranh trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, trong đó tư tưởng không ngừng tiến công địch và kiên trì trụ bám, làm chủ làng bản, xã, phố, phường kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng giành và giữ chính quyền làm chủ ở cơ sở là đặc trưng tiêu biểu của chiến tranh du kích ở Việt Nam”8
1.2.2 Chiến tranh du kích ở miền Đông Nam Bộ từ Nam Kỳ khởi nghĩa 1940 đến trước năm 1945
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam nhằm đánh đổ đế quốc Pháp giành lại nền độc lập dân tộc, với
phương pháp đấu tranh kinh tế, chính trị và “vũ trang bạo động”
Tại Đông Nam Bộ, phong trào đấu tranh vũ trang mạnh mẽ và liên tục ngay
từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất Gia Định và thôn tính ba tỉnh miền Đông với các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Trương Định, Ngô Quyền, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Phan Công Hớn, Nơ Trang Long, Nguyễn Hữu Trí… Mặc dù cuối cùng đều bị thất bại nhưng các cuộc khởi nghĩa đều để lại nhiều bài học kinh nghiệm về phát động cuộc đấu tranh toàn dân, dựa vào nhân dân và địa thế hiểm yếu để thực hành đấu tranh theo lối du kích
Sang đầu thế kỷ XX, Đông Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung có sự biến đổi hết sức sâu sắc về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội… Dưới ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười Nga cùng phong trào cách mạng vô sản đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở miền Đông Nam Bộ sản sinh ra hàng loạt tổ chức cộng sản Đó là các tổ chức cộng sản ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Tân An, Bà Riạ, Tây Ninh Từ đây Đảng Cộng sản bắt đầu nắm quyền lãnh đạo cách mạng, dẫn dắt phong trào yêu nước của nhân dân miền Đông Nam Bộ trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, với hàng loạt sự kiện sôi động diễn ra ở Ba Son, Phú Riềng, Dầu Tiếng, Bà Điểm…
8
Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.424
Trang 24Cùng với những biến đổi sâu sắc do chiến tranh thế giới đưa lại, đặt cách
mạng Việt Nam trước tình thế “sẽ tiến bước đến vấn đề giải phóng dân tộc”9 Trong bối cảnh đó, tháng 11 năm 1939, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội
nghị lần 6 quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược “dự bị điều kiện bước tới
bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc” Quán triệt nội dung nghị quyết Hội
nghị Trung ương lần thứ 6, Hội nghị Đảng toàn xứ Nam Kỳ được triệu tập vào tuần tháng 7 năm 1940 Sau khi phân tích, đánh giá tình hình mọi mặt, Hội nghị đã nhất trí chủ trương phát động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân, trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng tình hình thế giới, tình hình trong nước, chuẩn bị chu đáo mọi mặt và chờ lệnh đồng ý của Trung ương
Trong khi chờ quyết định chấp thuận của Trung ương, công tác chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang được hình thành hết sức khẩn trương Từ tháng 7 năm
1940, không khí cách mạng sôi sục khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ Trên cơ sở các tổ chức cách mạng được thành lập và củng cố, ban quân sự, ban khởi nghĩa các cấp ra đời Lực lượng vũ trang xuất hiện dưới hình thức vũ trang các đội tự vệ, đội
du kích với các trang bị thô sơ đã nỗ lực luyện tập ngày đêm Nhiều anh em binh lính của thực dân Pháp được phân công đứng ra dạy quân sự cho quân du kích Đến trước tháng 11 năm 1940, khắp các tỉnh Đông Nam Bộ đều có lực lượng dân quân du kích đã được luyện tập và sẵn sang vũ khí tiến hành khởi nghĩa
Đêm 22 rạng sáng ngày 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng
nổ Cuộc giao tranh diễn ra quyết liệt ở Gia Định, Chợ Lớn, Tân An rồi Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và nhiều địa phương khác
Tại Gia Định, đúng 0h ngày 23 tháng 11 năm 1940 quân du kích đồng loạt tiến công các đồn bót địch ở Lăng Cha Cả, Vườn Tiêu, Ngã năm Vinh Lộc và trên khắp các hướng tiến quân vào Hóc Môn Ở Lăng Cha cả, quân du kích thu được nhiều sung, ở khu vực Hóc Môn, quân du kích chặn đánh nhiều tốp lính Pháp hành quân từ Sài Gòn lên chi viện, thu 15 súng trường…
9
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo, t.1 (1920 - 1954), NXB Sự Thật, Hà Nội, 1983, tr.316
Trang 25Tại Chợ Lớn, lực lượng du kích tập trung ở Đức Hòa, Trung Quận, Cần Giuộc, Cần Đước mỗi nơi có từ 400 đến 500 người Cuộc khởi nghĩa nổ ra gần như đồng loạt và rộng khắp, đặc biệt diễn biến rât quyết liệt ở hai quận Đức Hòa, Trung Quận Ở một số xã, ngụy quyền cơ sở bị tan rã hoặc tê liệt hoàn toàn, nhân dân làm chủ xã ấp trong nhiều ngày
Tại Tân An, trong đêm 22 rạng sáng ngày 23 tháng 11, quân du kích phá cầu Bà Hom, lập chướng ngại vật chặn đường giao thông Tân An – Tầm Vu, Kỳ Sơn ở Châu Thành, tiến công đồn Kinh Tắc, chiếm các nhà việc ở Long Ngãi Thuận, Mỹ Lạc Thạnh ở Phủ Thừa
Tại Biên Hòa, lực lượng du kích đã sẵn sang ở nhiều địa phương trong tỉnh những chưa kịp khởi nghĩa thì bị quân Pháp ra tay đàn áp trước
Như vậy, do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, thực dân Pháp đã bố trí lực lượng và
kế hoạch đàn áp từ trước, nên cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị dìm trong bể máu Trước sức mạnh áp đảo và những hành động tàn bạo của kẻ thù, các đội quân du kích phải rút lui để bảo tồn lực lượng, dựa vào các căn cứ địa hoạt động du kích, chiến đấu lâu dài chống Pháp Cụ thể là10:
- Tại Gia Định: Quân du kích chia làm 2 bộ phận Một bộ phận rút xuống Đồng Tháp Mười Một bộ phận khác kéo về Tân Mỹ, Phước Vĩnh An tập hợp thành “đội nghĩa quân Hóc Môn – Gò Vấp – Đức Hòa” (150 người, 28 súng, 8 súng lửa) Sau đó rút lên Truông Mít (Tây Ninh) trụ bám hoạt động du kích tại đây
- Tại Chợ Lớn: lực lượng du kích chia làm 3 bộ phận Một bộ phận trụ lại khu Chánh Hưng (rừng Sác) Một bộ phận rút xuống Đồng Tháp Mười, nhập cùng lực lượng của tỉnh Gia Định hoạt động tại Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi Bộ phận còn lại cùng với lực lượng khác của Gia Định về Truông Mít (Tây Ninh)
- Tại Tân An: Các đơn vị du kích kéo về Đồng Tháp Mười khu vực Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi Tại đây lực lượng hợp với bộ phận của tỉnh Gia
10
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành phố Hồ Chí Minh, Nam kỳ khởi nghĩa (1940), NXB TP Hồ Chí Minh, 1990, tr.297
Trang 26Định, Chợ Lớn xây dựng lại thành một đơn vị thống nhất gồm 120 người, 30 súng các loại, sau đó rút sâu vào lập căn cứ ở khu vực Mớp Xanh, Nhơn Ninh
- Tại Biên Hòa: Bên các đơn vị du kích bị tan rã và nằm im tại chỗ, đội du kích của Tân Uyên gồm 12 người, 2 súng vào rừng Đất Cuốc, Lạc An ẩn náu và tiếp tục hoạt động
Như vậy mặc dù khởi nghĩa Nam Kỳ bị thất bại, nhiều cán bộ lãnh đạo và chiến sĩ du kích ở Đông Nam Bộ đã rút về các vùng có địa thế hiểm trở để ẩn náu, bảo toàn và củng cố lực lượng Tại đây, dựa vào nhân dân địa phương, lực lượng chiến tranh du kích duy trì các hoạt động vũ trang nhỏ lẻ, tiêu diệt, tiêu hao quân Pháp diệt tề trừ gian Nhiều đơn vị trong số đó ở Biên Hòa, Gia Định, Tân An tiếp tục tồn tại và hoạt động cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám bùng nổ
Từ cuối năm 1943 trở đi, phong trào cách mạng ở Đông Nam Bộ dần phục hồi và phát triển Xứ ủy mới được thành lập, khắp các địa phương đẩy mạnh bắt buộc nối liên lạc, khôi phục tổ chức Đảng Công tác tuyên truyền xây dựng cơ sở công vận, thanh vận, binh vận được xúc tiến mạnh mẽ Sang thời điểm cuối năm năm 1944 đầu 1945, tình hình trong và ngoài nước biến chuyển hết sức khẩn trương Nhật đảo chính Pháp, phong trào đấu tranh chống phát xít Nhật diễn ra rộng khắp Cách mạng Việt Nam bước sang thời kì tiền khởi nghĩa
Trong bối cảnh đó, lực lượng vũ trang ở Đông Nam Bộ đã nhanh chóng hình thành và ngày càng phát triển Đó là các đơn vị vũ trang xung kích, thanh niên cứu quốc, tự vệ chiến đấu… trong các đoàn thể quần chúng cách mạng Họ tự trang bị vũ khí, luyện tập quân sự, sẵn sang chờ lệnh
Lợi dụng hình thức hoạt động công khai hợp pháp, tổ chức thanh niên tiền phong do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lãnh đạo ra đời trở thành lực lượng bán vũ trang đông đảo cuốn hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia
Từ các căn cứ địa hoặc ẩn mình nằm im trong các thôn xóm, các đội viên du kích của khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 bung ra hoạt động, vũ trang tuyên truyền, tập hợp lực lượng, sắm sửa vũ khí Một bộ phận lớn trong số họ gia nhập các tổ chức
vũ trang xung kích, tự vệ chiến đấu, thanh niên cứu quốc Một bộ phận khác móc
Trang 27nối với các đơn vị cũ, phát triển lực lượng, liên hệ với các tổ chức Đảng ở địa phương, sẵn sàng tham gia tổng khởi nghĩa
Tất cả thành phần trên hợp thành lực lượng vũ trang rộng khắp Họ là những nông dân, công nhân, học sinh, viên chức được trang bị bất cứ loại vũ khí nào có trong tay từ sung trường, súng mác cho đến gậy tầm vông, giáo mác Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, chính họ là lực lượng xung kích của quần chúng cách mạng nổi dậy giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Đông Nam Bộ
Quan điểm “vũ trang bạo động”, một trong những hình thức đấu tranh giải
phóng dân tộc đề ra trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương được các tổ chức Cộng sản ở Đông Nam Bộ quán triệt ngay từ khi ra đời Từ trong phong trào công hội đỏ ở Sài Gòn, Phú Riềng đã sớm xuất hiện những đơn vị du kích Đó là những đơn vị vũ trang đầu tiên do Đảng ta lãnh đạo ở Đông Nam Bộ
Tuy nhiên phải đến Nam Kỳ khởi nghĩa các đơn vị vũ trang cách mạng mới trở thành một lực lượng đông đảo Dựa vào nhân dân và địa thế hiểm trở, các hình thức hoạt động nhỏ lẻ bí mật tập kích, phục kích tiêu hao địch là chính, các đội quân du kích đã diệt được nhiều quân Pháp và bọn Việt gian bán nước, gây cho địch mối lo sợ thường xuyên đồng thời khích lệ tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân lao động
Thành phần các lực lượng du kích và hoạt động vũ trang của Đông Nam Bộ
từ Nam Kỳ khởi nghĩa cho đến cách mạng Tháng Tám là những yếu tố có ý nghĩa mầm mống, đặt tiền đề cho quá trình xây dựng và phát triển du kích chiến tranh trong kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954
1.3 Các chủ trương của Đảng đối với chiến trường Đông Nam Bộ
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, ngay sau khi thực dân Pháp nổ súng chính thức xâm lược nước ta lần thứ hai, tại đường Cây Mai (Chợ Lớn), Xứ ủy và Ủy ban Nhân dân Nam Bộ họp hội nghị khẩn cấp: một mặt điện báo ra Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh xin chỉ thị, mặt khác phát động ngay cuộc kháng chiến và thành lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ để điều hành công cuộc kháng chiến sau khi nhận được điện xin ý kiến, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị khẩn
Trang 28cấp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất trí với quyết tâm của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ và gửi chỉ thị đến Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ ngay trong ngày 23 tháng 9 năm 1945 Ngày 24 tháng 9, Chính phủ lâm thời gửi huấn lệnh cho quân và dân Nam Bộ Tiếp đến ngày 26 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ khẳng định quyết tâm kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước
Ngày 25 tháng 10 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ mở hội nghị đại biểu các tỉnh thành tại địa điểm chợ Thiên Hộ (Hậu Mỹ, Cái Bè, Mỹ Tho) Hội nghị đã quyết
định “củng cố và xây dựng các lực lượng vũ trang, đặt nó dưới sự lãnh đạo trực
tiếp và tuyệt đối của của Đảng; phát triển chiến tranh nhân dân rộng khắp… củng
cố lực lượng, diệt ác trừ gian; xây dựng cơ sở bí mật trong các thành phố, thị xã bị địch chiếm đóng…”11
Ngày 20 tháng 2 năm 1946, Khu bộ Khu 7 họp bất thường tại Lạc An, quyết định bỏ các văn phòng và vũ phòng cũ lập ra Bộ tham mưu văn phòng khu bộ và các phòng chính trị khu đặt dưới sự chỉ huy của khu bộ trưởng và chủ nhiệm chính trị khu đặt dưới sự chỉ huy của khu bộ trưởng và chủ nhiệm chính trị bộ Hội nghị cũng đã quyết định những vấn đề quan trọng nhằm củng cố bộ đội, phát động du kích chiến tranh đặc biệt ở vùng đô thị và vùng cao su, tăng cường xây dựng căn
Phát triển miền Trung Giang (Trung Nam Bộ)
Liên lạc với It-xa-rắc (Campuchia)
11
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo tập 1 (1920-1950), NXB Sự Thật, Hà Nội, 1983, tr.117
Trang 29Thành lập các ban ám sát (hoạt động ở thành phố)”12
Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu động viên quân và dân miền Nam giữ vững và đẩy mạnh kháng chiến Người chỉ rõ, kháng chiến của ta là phải toàn diện, lâu dài, triệt để vận dụng cách đánh du kích,
đánh khắp nơi “còn một tấc đất, còn một người thì còn chiến đấu”
Đầu tháng 12 năm 1946, trong “Thư của Trung ương Đảng gửi các đồng chí
Nam Bộ” đã viết “Nam Bộ là căn cứ của Pháp thực dân để lấy nhân, vật, tài lực
để chiến tranh với cả toàn quốc của ta và Đông Dương… Tất nhiên, chúng ta phải
có chính sách không những làm cho chúng không có thể lấy lại Nam Bộ dùng đánh Trung Bắc mà lại làm cho Nam Bộ cản trở thêm khó khăn nguy hại cho chúng”13
Tháng 1 năm 1947, Tư lệnh bộ Khu 7 triệu tập Hội nghi quân sự toàn khu,
đề ra những nhiệm vụ chủ yếu sau:
“- Đẩy mạnh tiến công quân sự rộng khắp trên tất cả các mặt trận
- Tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng võ trang, chống chính sách địch lôi kéo, mua chuộc giáo phái
- Đánh mạnh các cơ sở kinh tế, hậu phương của địch, đặc biệt ở Sài Gòn và các vùng cao su” 14
Ngày 23 tháng 10 năm 1948, trong “Thư của đồng chí Thận gửi đồng chí Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ về việc củng cố phong trào cách mạng ở Nam Bộ và
chỉnh đốn công tác Đảng” đã viết: “… Cuộc kháng chiến Nam Bộ mạnh chính là ở
tự động, không ỷ lại, tự lực cánh sinh; nếu chiến tranh du kích ở Nam Bộ mạnh chính là ở chỗ lấy dân làm gốc, được bồi bổ bởi những sang kiến của dân; nếu chiến sĩ trong Nam được rèn luyện và lớn lên trong gian khổ thì ta càng phải bồi dưỡng tinh thần tự động và sáng kiến của quần chúng nhân dân, không nên bắt dân quân, du kích và quần chúng nhân dân vào khuôn khổ quá gay go, máy móc làm nhụt tinh thần và nhuệ khí của họ hoặc giảm bớt sáng kiến của họ Nhưng cố nhiên ta không quên sửa chữa những bệnh của họ… Phát triển du kích chiến
Trang 30tranh, phát triển dân quân, nhưng đồng thời làm cho du kích chiến tiến lên vận động chiến… Phát triển Đảng bộ Cao Miên, mở rộng diện tích trên đất Cao Miên
để chia lực lượng của địch tiến tới làm cho cách mạng Cao Miên thật sự là của nhân dân Cao Miên Đồng thời, giúp cho Nam Trung Bộ bằng cách tiếp tế gạo, thóc và các thứ khác cần thiết cho kháng chiến, ví dụ súng đạn nếu có thừa Nhớ rằng Nam Trung Bộ và Cao Miên mà đánh mạnh thì hai nơi đó sẽ sẻ gánh nặng cho Nam Bộ” 15
Tháng 4 năm 1950, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị, chủ trương tổ chức lại chiến trường và các lực lượng vũ trang; nâng cao chất lượng chính trị và trình độ quân sự cho cả ba thứ quân, phát triển kinh tế, văn hóa đồng đều tại mỗi vùng kháng chiến
Tiếp đó, tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ hai đề
ra nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam Đại hội vạch rõ phương châm chiến lược của
chiến tranh nhân dân là “Các mặt công tác chính trị, kinh tế, văn hóa, đều nhằm
mục đích làm cho quân sự thắng lợi, đồng thời kết hợp đấu tranh quân sự phải kết hợp với đấu tranh chính trị, kinh tế… Phối hợp việc tác chiến trước mắt địch với việc đánh du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ nhưng phải đẩy mạnh vận động chiến tiến lên”16
Đầu năm 1952, Bộ tư lệnh Nam Bộ ra chỉ thị nêu rõ: “ ở Nam Bộ, thế giằng
co của ta còn thấp kém, ta bị động nhiều vì du kích chiến tranh của ta chậm phát triển và lực lượng của ta kém hơn địch Do đó mà phương châm chiến lược của ta
ở Nam Bộ vẫn lấy du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến trong trường hợp có điều kiện thuận lợi và phải liên tục tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch”17 Nhiệm vụ quân sự có ý nhấn mạnh phải “giữ người, giữ của, xây dựng
người, xây dựng của” với các nội dung:
“- Tích cực chống kế hoạch chiếm đóng sâu vào các vùng căn cứ và kế
hoạch phá căn cứ ta của địch
Trang 31- Tích cực chống kế hoạch cướp của, cướp người của địch, đặc biệt chú trọng giành đất, giành người và của trong vùng du kích và vùng địch hậu
- Quyết tiêu diệt tiêu hao thật nhiều sinh lực địch, đồng thời ra sức xây dựng và phát triển lực lượng của ta
- Tích cực bảo vệ nền kinh tế ta và quan tâm thực hiện kế hoạch tăng gia sản xuất, tự cung, tự cấp, phá bao vây kinh tế địch, đồng thời tích cực đánh phá kinh tế địch, chú trong cướp quân nhu địch để làm quân nhu ta
- Nắm vững và tích cực thực hiện nhiệm vụ địch ngụy vận
- Chấn chỉnh quân đội, xúc tiến tổ chức các binh chủng chuyên môn, tăng cường kỹ thuật chiến đấu cho du kích, học tập thiết thực đánh vận động chiến
- Thiết thực xây dựng căn cứ địa
- Tích cực chống chính sách gián điệp của địch”18
Ngày 20 tháng 2 năm 1954, Chỉ thị của ban bí thư “Đẩy mạnh chiến tranh
du kích phối hợp với ngụy vận, gửi Trung ương Cục miền Nam”: “Trong hai tháng
vừa qua, Nam Bộ đã nhân cơ hội tốt đẩy mạnh chiến tranh du kích và ngụy vận tiêu diệt nhiều đồn bốt và tháp canh của địch Nhưng cũng mắc một số khuyết điểm:
1 Chưa sử dụng hết khả năng các tiểu đoàn tập trung, nhằm chỗ địch sơ hở tích cực đánh…
2 Chưa biết vừa tác chiến, vừa xây dựng nên các tiểu đoàn tập trung, kém
cơ động tỉnh, các bộ đội địa phương huyện và du kích xã phát triển chậm
3 Đặt nhiệm vụ trung tâm là ngụy vận phối hợp với tác chiến là không đúng, mà phải đặt ngược lại đẩy mạnh du kích chiến tranh phối hợp với ngụy vận
Vì vậy, các đồng chí cần chú ý mấy điểm:
1 Địch còn phải đối phó với hoạt động liên tục và kéo dài của ta ở các chiến trường nên càng sơ hở sau lưng địch…
2 Vừa tác chiến, vừa xây dựng các tiểu đoàn tập trung thành lực lượng cơ động mạnh mẽ, đủ sức đẩy mạnh chiến tranh du kích và ngụy vận
3 Phối hợp tác chiến với ngụy vận và tích cực chống bắt lính
18
Kháng chiến Nam Bộ (1945 – 1952) – Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường Quân khu 7, tr.47
Trang 324 Củng cố và mở rộng các căn cứ du kích và vùng du kích, quyết tâm xây dựng cho được căn cứ Đồng Nai (Miền Đông)”19
Như vậy, với những chủ trương của Đảng về chiến tranh du kích trên chiến trường miền Đông Nam Bộ trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình của từng giai đoạn khác nhau Với những chủ trương đúng đắn đó đã mang lại kết quả tác chiến cao, góp phần quan trọng quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai
19
Văn kiện Đảng toàn tập, tập14, NXB Chính trị Quốc gia, 2001, tr.367
Trang 33CHƯƠNG 2: CHIẾN TRANH DU KÍCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG
ĐÔNG NAM BỘ 1945 – 1954
2.1 Giai đoạn 1: Từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 đến ngày 19 tháng 12 năm 1946
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập trên quảng trường Ba Đình lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Cũng như cả nước, Nam Bộ cũng bắt tay vào việc xây dựng chính quyền cách mạng các cấp, ổn định đời sống nhân dân, bước đầu xây dựng xã hội mới, công tác xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng được xúc tiến khẩn trương Trên cơ sở các
tổ chức cá nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc được quân sự hóa, các đoàn thanh niên tiền phong, lực lượng tự vệ chiến đấu gấp rút ra đời ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ Đồng thời, nhiều đơn vị vũ trang tập trung do các đảng viên cộng sản hoặc cán bộ cách mạng cốt cán đứng ra thành lập (gọi là bộ đội) ra đời Bên cạnh đó, Lâm ủy hành chánh Nam Bộ tiếp nhận và xây dựng đơn vị vũ trang “cộng hòa vệ binh” (Đệ nhất sư đoàn) Cộng hòa
vệ binh cũng có lực lượng ở các tỉnh Đó chính là những đơn vị vũ trang đầu tiên (tự vệ chiến đấu và bộ đội tập trung), lực lượng nòng cốt của phong trào nhân dân
du kích, chiến tranh diễn ra ngay khi mở đầu cuộc kháng chiến Nam Bộ (ngày 23 tháng 09 năm 1945)
Được sự giúp đỡ của quân đội Anh, ngày 23 tháng 9 năm 1945, sau một loạt các hành động khiêu khích, thực dân Pháp nổ súng gây hấn tiến công Sài Gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai Hành động nổ súng xâm lược vào ngày 23 tháng 9 năm 1945 là sự kiện cuối cùng của một âm mưu chuẩn bị từ trước của giới quân phiệt Pháp nhằm tái lập chế độ thống trị thực dân ở Việt Nam và ba nước Đông Dương Xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp không chỉ thủ tiêu thành quả Cách mạng Tháng tám, ngăn chặn quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, mà còn để bòn rút sức người, sức của ở khu vực này nhằm hàn gắn nền kinh tế của nước Pháp bị cuộc Chiến tranh thế giới thứ Hai tàn phá nặng nề
Trang 34Tính đến trước ngày 23 tháng 9 năm 1945, tại Sài Gòn, ngoài một lữ đoàn thuộc sư đoàn 20 quân đội Hoàng Gia Anh (2.500 người), 7 tiểu đoàn quân Nhật (5.000 người), lực lượng quân Pháp có một tiểu đoàn biệt kích thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (600 người) tù binh Pháp tái vũ trang thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa sô 11 (1.500 người) và Pháp kiều được vũ trang (500 người) Tổng cộng khoảng 10.000 người được vũ trang đầy đủ các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ.20
Hậu thuẫn cho quân xâm lược Pháp còn có các lực lượng tay sai gồm: nhóm Phục quốc đồng minh hội, Đại Việt, Trostkyist, bọn phản động đội lốt tôn giáo Cao Đài, Hòa Hảo
Trước những hành động vô cùng ngang ngược của thực dân Pháp, sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, trong khi quân và dân Sài Gòn đang chống trả địch quyết liệt, tại đường Cây Mai (nay là số nhà 627 – 629, đường Nguyễn Trãi, quận 5), Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ họp hội nghị khẩn cấp quyết định: Một mặt điện báo ra Trung ương và chủ tịch Hồ Chí Minh xin chỉ thị, mặt khác phát động ngay cuộc kháng chiến và thành lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ để điều hành công cuộc kháng chiến Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập do Trần Văn Giàu làm chủ tịch
Ủy ban kháng chiến phát đi lời kêu gọi nhân dân thành phố Sài Gòn và các
tỉnh : “Tất cả đồng bào già, trẻ, trai, gái hãy cầm võ khí xông lên đánh đuổi quân
giặc xâm lược Ai không có phận sự do Ủy ban kháng chiến giao phó thì hãy lập tức ra khỏi thành phố Những người còn ở lại thì không làm việc, không đi lính cho Pháp, không đưa đường, không báo tin, không bán lương thực cho Pháp Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt Hãy đốt sạch, phá sạch các cơ sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng, nhà máy của Pháp Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng” 21 Còn đối với các tỉnh thì “thi hành kế hoạch phá hoại đường giao thông tiếp tế để bao vây quân địch” 22
Trang 35Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ và Tuyên cáo quốc dân của
Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã bước đầu vạch ra những nội dung cơ bản cho công cuộc kháng chiến của nhân dân Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung, đó là:
+ Toàn dân không phân biệt già trẻ, gái trai, đều cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược
+ Bất hợp tác với Pháp
+ Tiêu diệt giặc Pháp và tay sai của chúng
+ Phá hoại các cơ sở kinh tế, kho tàng của Pháp
+ Phá đường giao thông tiếp tế, bao vây địch
Sau khi nhận được điện xin ý kiến, Ban Thường vụ trung ương Đảng họp hội nghị khẩn cấp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất trí với quyết tâm kháng chiến của Nam Bộ và gửi chỉ thị đến xứ Ủy và Ủy ban nhân dân Nam
Bộ ngay trong ngày 23 tháng 9 năm 1945 Ngày 24 tháng 9 năm 1945, Chính phủ lâm thời gửi huấn lệnh cho quân và dân Nam Bộ Tiếp đến ngày 26 tháng 9 năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ khẳng định quyết tâm kháng chiến của Trung ương Đảng, chính phủ và nhân dân cả nước
Quan điểm của hội nghị Cây Mai, của Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng ngày 23 tháng 9 năm 1945 đã kịp thời hạ quyết tâm và xác định đường hướng đúng đắn cho cuộc kháng chiến ngay từ đầu Nội dung các lời kêu gọi của
Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, tuyên cáo quốc dân của ủy ban nhân dân Nam Bộ, chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, huấn lệnh của chính phủ và thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời hoạch định các nội dung căn bản của đường lối kháng chiến để quân và dân nam bộ thực hiện Đó cũng là cơ sở để phong trào chiến tranh nhân dân du kích ở miền Đông Nam Bộ dần hình thành và phát triển sau đó
2.1.1 Chiến tranh du kích trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến
Hưởng ứng lời kêu gọi của ủy ban kháng chiến Nam Bộ, trong ngày 24 tháng 09 năm 1945, nhân dân Sài Gòn sôi sục bước vào cuộc kháng chiến trong điều kiện lực lượng không cân sức
Trang 36Trước hết, Sài Gòn - Chợ Lớn khẩn trương tổ chức tản cư người già, trẻ em
ra khỏi thành phố Các cơ quan kháng chiến và đơn vị vũ trang khẩn trương di chuyển trang thiết bị văn phòng, thuốc men, dụng cụ y tế, máy móc, nguyên vật liệu ra vùng ngoại ô Khắp nơi công nhân, nông dân, học sinh sinh viên, kể cả kỹ
sư, nhân viên kỹ thuật, nhà giáo, thầy thuốc rời bỏ nhiệm sở gia nhập lực lượng kháng chiến Lực lượng tự vệ chiến đấu, các đơn vị vũ trang tập trung phát triển về
số lượng nhanh chưa từng có
Trong thành phố, các lực lượng chiến đấu bố trí thành 16 khu vực tác chiến, thực hiện đánh ngăn chặn và tiêu hao quân địch Chỉ trong tuần lễ kháng chiến đầu tiên, quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn đã diệt 30 tên Pháp, đốt phá 138 xí nghiêp,
22 kho tàng, 4 chợ lớn, 81 tàu, 200 xe hơi, 200 đầu máy xe lửa và một số cầu cống Quân Pháp bị nhốt chặt trong khu vực trung tâm thành phố không điện, không nước, không chợ búa, cửa tiệm 23
Thượng tuần tháng 10 năm 1945, có thêm viện binh (1 tiểu đoàn Âu Phi và
1 đại đội commando), quân Pháp bắt đầu đánh rộng ra các khu vực xa trung tâm thành phố Lực lượng kháng chiến lùi dần ra vùng ngoại ô hình thành bốn mặt trận bao vây xung quanh Sài Gòn – Chợ Lớn
+ Mặt trận số 1: (phía Đông) ngăn chặn quân địch trên chiến tuyến kéo dài
từ ngã ba sông Thị Nghè đến Cầu Bông
+ Mặt trận số 2: (phía Bắc) án ngữ cửa ngõ quốc lộ 1 Sài Gòn đi Tây Ninh, Campuchia, khu vực Bà Điểm Hóc Môn và trục lộ 15
+ Mặt trận số 3: (phía Tây) án ngữ lộ Đông Dương 16 và đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho – tuyến đường bộ độc đáo từ Sài Gòn về miền Tây Nam Bộ
+ Mặt trận số 4: (phía Nam) ngăn chặn quân địch trên chiến tuyến trải dài từ xóm kinh Tẻ đến đầu cầu chữ Y và cầu Bình Đăng
Nhiều đơn vị vũ trang ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và các đơn vị bộ đội Nam tiến đã cùng hội nhập với lực lượng vũ trang Sài Gòn – Gia Định chiến đấu tại 4 mặt trận này Tại các chiến tuyến, các đơn vị vũ trang xây dựng công sự, chiến đấu ngăn chặn quân địch đánh nống ra các hướng Đêm đến, tổ chức những
23
Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945 – 1975, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 1990, tr.62
Trang 37toán nhỏ lẻ bí mật luồn sâu vào nội đô đánh tập kích hay phá hoại công sở nhà máy, kho tàng của địch Trong nội đô, lực lượng tự vệ chiến đấu được nhân dân giúp đỡ hoạt động quấy rối địch, phục kích tiêu hao quân Pháp, trừng trị những tên Việt gian bán nước
Nhân dân Sài Gòn và các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tân An, Tây Ninh vận động quyên góp lương thực, thực phẩm, thuốc men chuyển đến cho
bộ đội chiến đấu tại các mặt trận Thực hiện toàn dân đánh giặc, kết hợp chiến đấu ngăn chặn với tập kích, phục kích nhỏ lẻ, quấy rối, bắn tỉa, tiêu hao, phá hoại các
cơ sở quân sự, kinh tế, chính trị của địch là những hoạt động tác chiến phổ biến trong tháng đầu chiến đấu bao vây quân địch tại thành phố Sài Gòn Hạ tuần tháng
10 năm 1945, lực lượng quân Pháp ở Sài Gòn tăng lên đến 6000 tên (thêm một binh đoàn kỵ binh thiết giáp) Chúng bắt đầu tổ chức cuộc hành quân kết hợp thủy
bộ chọc thủng vòng vây xung quanh Sài Gòn, lực lượng đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam Bộ Ngày 23 tháng 10 năm 1945 chiếm Biên Hòa, Thủ Dầu Một, ngày
25 tháng 10 năm 1945 chiếm Tân An, ngày 8 tháng 11 năm 1945 chiếm Tây Ninh
và ngày 9 tháng 2 năm 1946 chiếm Bà Rịa
Trên các đường tiến quân của quân Pháp, lực lượng vũ trang các địa phương lập các tuyến chướng ngại vật, liên tục chiến đấu ngăn chặn Các đơn vị bộ đội ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, đốn ngã cây trên các đoạn đường hiểm yếu, phục kích diệt nhiều địch Bộ đội Chợ Lớn, Tân An phục kích chặn đánh tàu địch trên rừng Sác, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Bộ đội Gia Định, Tây Ninh đào phá nhiều đoạn trên quốc lộ 1 làm chậm tốc độ hành quân của địch Công nhân cao su các đồn điền phá nhà máy chế biến, lấy mủ cao su chất hai bên đường đốt chặn quân địch
Quân Pháp thì với tàu chiến, xe thiết giáp đại bác và các loại vũ khí tối tân khác đã gặp không ít khó khăn, có nơi bị tổn thất khá nặng, trước khi đánh chiếm được các thành phố, tỉnh lỵ, huyện lỵ và đường giao thông quan trọng Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, trước sức mạnh áp đảo của địch, lực lượng kháng chiến trong đó có các đơn vị vũ trang tập trung làm nòng cốt, vừa chiến đấu vừa rút lui để bảo toàn và củng cố lực lượng
Trang 38Hoạt động chiến đấu bao vây quân địch trong thành phố Sài Gòn và ngăn chặn làm chậm quá trình mở rộng đánh chiếm ra các tỉnh miền Đông Nam Bộ của chúng là phác thảo đầu tiên của bức tranh toàn dân kháng chiến với nội dung và hình thức vô cùng sinh động, phong phú Đó cũng là nội dung, hình thức của một cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện chống xâm lược Từ trong nỗ lực hoạt động chiến đấu ngăn chặn hành động xâm lược của thực dân Pháp trong hơn một tháng đầu kháng chiến, phát triển nội dung du kích chiến tranh đã sớm hình thành trên khắp địa bàn miền Đông Nam Bộ
2.1.2 Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang và các căn cứ địa kháng chiến
Trước tình hình thực dân Pháp mở rộng chiếm đóng nhiều tỉnh ở Nam Bộ, ngày 25 tháng 10 năm 1945, Xứ Ủy Nam Bộ họp hội nghị tại Mỹ Tho đề ra nhiệm
vụ tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến và xác định một số biện pháp nhằm đẩy mạnh du kích chiến tranh, xây dựng căn cứ địa kháng chiến, chấn chỉnh xây dựng
lực lượng vũ trang Kế đó quân và dân Nam Bộ nhận được chỉ thị “kháng chiến
kiến quốc” của Trung ương Đảng “ xác định một số vấn đề cơ bản về đường lối và nhiệm vụ kháng chiến nêu rõ phương châm tác chiến lúc này là đánh du kích, các lực lượng vũ trang phải bám dân, bám đất lập các căn cứ du kích, dựa vào dân mà đánh giặc” 24 Phân tích những yếu tố khó khăn và thuận lợi của cuộc kháng chiến
ở miền Đông Nam Bộ, Trung ương Đảng khẳng định chiến tranh du kích có thể
mở rộng một cách hiệu quả: “Du kích ở nơi rừng núi thì dựa vào rừng núi mà tiến
thoái, còn ở đồng bằng tuy không có rừng núi thiên nhiên nhưng lại có nhân sơn, nhân hải, nghĩa là nếu có nhân dân muôn người đều đồng lòng thì đội du kích cũng có thể lẩn lút ở trong mà hành động Tuyệt đối bí mật xuất quỷ nhập thần như ở rừng núi vậy Không có rừng núi làm chướng ngại thì người ta có thể đắp đất, chặt cây, đặt chông gai, chặn sông ngòi làm trở ngại để đối phó cuộc tiến công của địch…” 25
Trang 39Nội dung nghị quyết của Hội nghị Xứ ủy Nam kì ngày 25 tháng 10 năm
1945 và chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” của Trung ương Đảng đã cụ thể hóa
thêm những nội dung căn bản về tiến hành chiến tranh du kích ở chiến trường Nam
Bộ nói chung và miền Đông Nam Bộ nói riêng
Từ cuối năm 1945, phong trào đấu tranh du kích Đông Nam Bộ tiếp tục phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu Trên nền tảng phát triển ấy, có hai mặt hoạt động diễn ra khẩn trương và tập trung rõ nét hơn cả Đó là hoạt động xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa kháng chiến
Phát triển các hoạt động xây dựng lực lượng vũ trang
Cùng với quá trình phát triển của cuộc chiến, các tổ chức vũ trang cơ hội phản động giả danh cách mạng như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn, HT 29… dần dần bị phân hóa và tan rã Đại bộ phận binh lính nhận ra bộ mặt thật của bọn chỉ huy, quay súng sang gia nhập lực lượng kháng chiến Một bộ phận khác hoặc bị tiêu diệt hoặc đầu hàng giặc Pháp, cam tâm làm tay sai cho chúng Trong lúc đó, lực lượng tự vệ chiến đấu, du kích ở các địa phương tiếp tục được củng cố và phát triển Từng bước, các đơn vị vũ trang tập trung được củng cố lại và xây dựng thành các chi đội Vệ quốc đoàn Quá trình đó diễn ra từ cuối năm 1945 cho đến giữa năm
1946 Trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, có 17 chi đội và tiểu đoàn Vệ quốc quân được thành lập
Tại Sài Gòn, các đơn vị vũ trang hoạt động nội thành sáp nhập lại thành 6 ban công tác Ban công tác trở thành một loại tổ chức vũ trang đặc biệt, vừa làm nhiệm vụ tác chiến đánh địch (nhất là loại trừ các tên tay sai phản động và bọn sĩ quan Pháp) phá hoại cơ sở vật chất kỹ thuật của địch, vừa tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị, phát triển lực lượng và thanh thế cách mạng
Cùng với việc xây dựng lực lượng ban công tác thành, lực lượng tự vệ cũng sắp xếp lại, tổ chức theo khu vực cư trú Toàn thành phố có 15 trung đội tự vệ thuộc 15 khu (địa bàn dân cư) và đội (đường phố, xí nghiệp)
Đến giữa năm 1946, ở ngoại vi Sài Gòn và các tỉnh Đông Nam Bộ có các chi đội Vệ quốc đoàn và lực lượng dân quân tự vệ thành Đó là những tổ chức tiền
Trang 40thân của lực lượng vũ trang ba thứ quân sau này, nòng cốt của phong trào du kích chiến tranh và toàn dân kháng chiến
Xây dựng căn cứ địa cách mạng:
Thực hiện nghị quyết của xứ ủy Nam Bộ và chỉ thị của Trung ương Đảng, các cấp Đảng ở miền Đông Nam Bộ vừa nỗ lực xây dựng lực lượng vũ trang, vừa khẩn trương xây dựng căn cứ địa kháng chiến Từ cuối năm 1945 đến hết năm
1946 đã lần lượt hình thành một hệ thống căn cứ địa kháng chiến đan xen nhau trên chiến trường Ví dụ như một số căn cứ sau:
- Căn cứ An Phú Đông: gồm vùng đất trù phú, dân cư đông đúc thuộc hai xã
An Phú Đông và Thạnh Lộc (Gia Định) Với diện tích rộng khoảng 10km2, địa hình trũng thấp gồm đồng ruộng, vườn cây ăn trái, nhiều sông rạch mương máng chảy dọc ngang chằng chịt, nước sông ra vào theo thủy triều sông Sài Gòn, có thể giao lưu thuận tiện với nội đô Sài Gòn và ra các khu vực căn cứ địa An Phú Đông giữ một vị trí đặc biệt quan trọng ngay sát nách Sài Gòn
Từ đầu tháng 10 năm 1945, đại bộ phận các cơ quan quân dân chính Đảng
và sở chỉ huy các đơn vị vũ trang tỉnh Gia Định và quận Gò Vấp rút về đứng chân
ở An Phú Đông Tiếp đó, sở chỉ huy mặt trận phía Đông, trụ sở Tổng công đoàn Nam Bộ, liên hiệp công đoàn Sài Gòn và một số tổ chức kháng chiến khác lần lượt rút về xây dựng căn cứ Chấp hành nghị quyết Hội nghị cán bộ tỉnh Gia Định về
thành lập “chiến khu An Phú Đông” (ngày 25, tháng12 năm 1945), nhân dân An
Phú Đông và Thạnh Lộc tổ chức đón tiếp và sắp xếp nơi ăn ở cho đồng bào, cán
bộ, bộ đội, xây dựng hệ thống phòng thủ trên mặt đất, đào hầm bí mật chìm dưới nước, tổ chức tuần tra, canh gác và luyện tập, sẵn sàng chiến đấu chống địch càn quét
- Căn cứ Rừng Sác: gồm vùng rừng ngập mặn rộng khoảng 600 km2 nằm ở phía Đông Nam thành phố Sài Gòn Trong vùng căn cứ, có hàng trăm sông rạch lớn nhỏ chạy ngang dọc chằng chịt, trong đó quan trọng nhất là hệ thống sông Lòng Tàu – một con đường thủy chiến lược độc đạo nối Sài Gòn với biển Đông Phủ lên rừng Sác là tầng tầng lớp lớp các loại cây ngập mặn, tạo thành những
“hang động”, những “đám lá tối trời” âm u Sông rạch, rừng cây làm cho Rừng