Kết cấu của đề tài Phần mở đầu Chương 1: Khái quát về văn học đương đại Trung Quốc và giới thiệu sơ lược về tác giả _ tác phẩm Chương 2: Trích dịch một số chương tiêu biểu của quyển hồi
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
o0o
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA LẦN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _ 2008
Trang 5MỤC LỤC
-oOo -
Phần mở đầu 1
Tóm tắt công trình: 4
Chương1: Khái quát về văn học đương đại Trung Quốc và giới thiệu sơ lược về tác giả _ tác phẩm 8
1.1 Khái quát về văn học đương đại Trung Quốc (1949 đến nay) 9
1.1.1 Bối cảnh lịch sử 9
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn học đương đại Trung Quốc 12
1.2 Tác giả Phổ Nghi và gia phả 13
1.2.1 Tác giả Phổ Nghi 13
1.2 2 Gia phả 16
1.2.2.1 Bên nội 16
1.2.2.2 Bên ngoại 17
1.3 Vị trí của tác phẩm “Nửa đời đã qua” 17
Chương 2: Trích dịch một số chương tiêu biểu của quyển hồi ký 29
2.1 Vài nét về lý thuyết phiên dịch 30
2.1.1 Định nghĩa phiên dịch 30
2.1.2 Các hình thức phiên dịch 30
2.1.3 Các bước tiến hành phiên dịch 31
2.2 Vài nét về dịch văn học 32
2.3 Trích dịch một số chương tiêu biểu của quyển hồi ký 33
Chương 3: Phân tích hình ảnh nhân vật Phổ Nghi trong tập hồi ký 136
3.1 Phân tích nhân vật Phổ Nghi 137
3.2 Giá trị của tác phẩm 149
Kết luận .151
1 Công tác dịch văn học 151
2 Văn học Trung Quốc 152
3 Giá trị và sức ảnh hưởng của tác phẩm “Nửa đời đã qua” 152 Thư mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU -OoO -
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước Trung Hoa trù phú, xinh đẹp…vốn là nguồn cảm hứng vô tận cho những nhà nghiên cứu Trung Quốc lôi cuốn mọi người bởi vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu sa nhưng không kém phần cổ kính Từ xưa đến nay, đã có không ít những công trình nghiên cứu đất nước xinh đẹp này Sức hấp dẫn của đất nước Trung Quốc không chỉ dừng lại ở những món ăn ngon hay phong cảnh hữu tình mà còn khơi gợi sự tò mò trong tâm lý con người Quả thật, một đất nước với nền văn hóa đồ sộ, một bề dày lịch sử đáng nể như thế thật đáng để ta nghiêng mình chiêm ngưỡng
Có thể nói, trong thời phong kiến của Trung Quốc, mỗi vương triều đều để lại trong lịch sử một dấu ấn khó phai, kèm theo đó là tên tuổi của các vị vua trị vì vương triều
đó Từ đời vua Khang Hy đến vua Càn Long, Quang Tự, Phổ Nghi… đều có những điều thú vị đáng để ta nghiên cứu, tìm hiểu…
Thế nên, là sinh viên chuyên ngành Trung Quốc học, chúng tôi muốn thử sức mình với đề tài “Chân dung vị hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc qua tập hồi ký của Phổ Nghi” để giới thiệu với bạn đọc đôi nét về con người, tính cách, quan niệm sống… của vị hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc - hoàng đế Phổ Nghi
Quả thật, đây là một đề tài nghiên cứu khó và rộng, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức Mặc dù như thế, chúng tôi vẫn cảm thấy bị quyển hồi ký này thu hút mãnh liệt Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về thời gian và điều kiện khách quan cũng như chủ quan chúng tôi chỉ trích dẫn và phân tích một số chương mà chúng tôi tâm đắc nhất
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
Cho đến nay, có thể nói độc giả Việt Nam có cái nhìn rất sơ sài về “vị hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc - Phổ Nghi” Do đó, chúng tôi đã chọn đề tài này với mục đích muốn giới thiệu trước hết là cho sinh viên chuyên ngành Trung Quốc học, và sau đó, nếu
có thể, là cho những ai quan tâm đến văn học Trung Quốc Thêm vào đó, qua việc dịch và bình luận, chúng tôi cũng mong muốn chuyển tải được ít nhiều tính cách, con người, nhân sinh quan, sự thay đổi về tư tưởng… của hoàng đế Phổ Nghi theo sự thay đổi của thời đại
và chế độ xã hội
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi ở đề tài này chính là nguyên tác tiếng Hoa của quyển hồi ký này Ngoài ra, thông qua quyển hồi ký chúng tôi cũng tìm hiểu thêm về xã hội Trung Quốc nhằm bổ sung kiến thức về đất nước Trung Quốc xinh đẹp
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này được giới hạn trong ba vấn đề chính sau đây:
- Thứ nhất, tiếp cận nguyên tác tiếng Hoa của quyển hồi ký để hiểu rõ được nội dung mà tác phẩm muốn chuyển tải
- Thứ hai, sau khi đã nắm vững tinh thần của nguyên tác, áp dụng những lý thuyết phiên dịch đã được học, thực hành bài tập dịch tác phẩm này sang tiếng Việt
- Thứ ba, bên cạnh công tác phiên dịch, áp dụng những kỹ năng phân tích và kiến thức về lý luận văn học, tiến hành phân tích và bình luận tác phẩm dựa trên cảm nhận của chính người dịch
đế Phổ Nghi
5 Phương pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài tổng hợp, do đó, người thực hiện cũng phải kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Ngoài những phương pháp nghiên cứu chung như phương pháp tổng hợp, phân tích, đề tài này còn đòi hỏi những phương pháp riêng của ngành phiên dịch và ngành văn học
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Thông qua việc dịch quyển hồi ký này, trình độ tiếng Hoa của chúng tôi đã có những bước tiến nhất định
- Đề tài này đã tạo cho chúng tôi cơ hội quý báu để áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, đồng thời chúng tôi bắt đầu tập tễnh những bước đi đầu tiên trên con đường tìm hiểu về dịch thuật và tham gia nghiên cứu khoa học
Trang 8- Nếu thực hiện thành công thì đây là một tài liệu có ích không chỉ cho sinh viên
mà cho cả các nhà nghiên cứu văn học, lịch sử… chưa có dịp đọc trực tiếp tiếng Hán
7 Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu
Chương 1: Khái quát về văn học đương đại Trung Quốc và giới thiệu sơ lược về tác giả _ tác phẩm
Chương 2: Trích dịch một số chương tiêu biểu của quyển hồi ký
Chương 3: Phân tích hình ảnh nhân vật Phổ Nghi trong tập hồi ký “我的前半生”(Nửa đời trước của tôi)
Kết luận
Thư mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 9TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Chương 1: Khái quát về văn học đương đại Trung Quốc (1949-nay)
1.1.1 Bối cảnh lịch sử
Chia thành ba giai đoạn cơ bản:
Từ 1949-1959: giai đoạn phát triển tương đối ổn định
Từ 1956-1976: giai đoạn bão táp mà tâm điểm là cách mạng văn hóa
Từ 1976 trở đi: giai đoạn hồi phục
- Giai đoạn 1:
Lý luận văn nghệ chủ đạo giai đoạn này là bài nói chuyện của Mao Trạch Đông ở Diên An Các văn nghê sĩ đã tìm tòi một con đường sáng tạo phù hợp với đường lối và phong cách của họ
- Giai đoạn 2:
Về văn hoá văn nghệ: cuộc vây diệt tàn bạo chưa từng có trong lịch sử, bao gồm tất cả các ngành nghệ thuật: hí kịch, âm nhạc, vũ đạo, văn học…
- Giai đoạn 3: giai đoạn Trung Quốc sau Mao
Giai đoạn hiện nay, văn học Trung Quốc ảnh hưởng bởi nền kinh tế thị trường, chính sách mở cửa…nên cũng có những mặt tốt và xấu cùng song hành tồn tại
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn học đương đại
- Khôi phục và phát triển truyền thống chủ nghĩa hiện thực cách mạng
- Là một tấm gương phản ánh những ưu điểm và nhược điểm của cuộc sống thời đại, tính chân thật và giá trị nhận thức của nó được tăng cường rất nhiều
- Ý thức hiện đại hóa và tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa được đề cao và tỏa sáng mãnh liệt
- Sự bức xúc thực hiện hiện đại hóa xã hội chjủ nghĩa và khát vọng xây dựng mối quan hệ giữa người với người phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa
- Lấy chủ nghĩa nhân đạo là chuẩn mực của đạo đức luân lý xã hội hiện thực
- Phương pháp sáng tác đa dạng hóa, đề tài, chủ đề, nhân vật, hình thức và phong cách sáng tác đa dạng hóa, tiến thêm làm cho quan niệm văn học cũng biến hóa đa dạng 1.2 Tác giả và gia phả:
1.2.1 Tác giả Phổ Nghi:
Trang 10- Phổ Nghi, hiệu: Tuyên Thống (1906 - 1967)
- Ông lên ngôi lúc mới hai tuổi mười tháng vào tháng 12 năm 1908 sau khi người bác của mình là Quang Tự băng hà ngày 14 tháng 11
- Ông được đưa vào Tử Cấm Thành, Phổ Nghi sau đó không được gặp mẹ mình trong sáu năm
- Cậu bé Phổ Nghi được cung phụng như ông trời vì thế việc nuôi dưỡng rất khó khăn vì cậu bé không cư xử như một đứa trẻ bình thường
- Đi đến đâu mọi người đều phải quỳ xuống và khấu đầu, do đó cậu bé Phổ Nghi đã phát hiện ra quyền lực tuyệt đối của mình
- 1912, Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, ông bị buộc phải thoái vị Phổ Nghi trong trang phục Thanh triều
- Năm 1917, quân phiệt Trương Huân đã phục hồi đế vị cho Phổ Nghi trong 12 ngày từ ngày 1/7 đến 12/7
- Sự phục hồi đế vị này đã thất bại do làn sóng phản đối khắp Trung Hoa và một sự can thiệp đúng lúc của một quân phiệt khác là Đoàn Kì Thụy
- 1924, Phổ Nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành bởi quân phiệt Phùng Ngọc Tường
- 1/3/1932, được Phát xít Nhật đưa lên làm vua bù nhìn của “Mãn Châu quốc” ở Đông Bắc Trung Quốc, dưới niên hiệu Đại Đồng
- 1934,ông đã chính thức đăng quang hoàng đế Mãn Châu Quốc với niên hiệu Khang Đức
- Phổ Nghi bên ngoài tuy vẫn tỏ ra phục tùng, nhưng bên trong luôn bí mật ở thế xung đột với Nhật Bản
- Năm 1945, thế chiến thứ hai kết thúc, Phổ Nghi bị Hồng Quân Liên Xô bắt
- 1946, ông làm chứng tại một phiên tòa tội ác chiến tranh tại Tokyo
- 1949, Phổ Nghi bị chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quản thúc, giam giữ Ông
đã trải qua 10 năm trong trại cải tạo Phủ Thuận, tỉnh Liêu Ninh
- Tháng 12 năm 1959, ông được tha và sống ở Bắc Kinh như một thường dân
- Phổ Nghi đã kết hôn với một y tá tên là Lý Thục Hiền ngày 30/4/1962 bằng một lễ kết hôn tổ chức tại phòng khánh tiết của Đại lễ đường
- Ông làm biên tập cho Vụ văn học của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Hoa, sau đó ông trở thành một thành viên của tổ chức này từ năm 1964 cho đến khi mất
Trang 11- Ông đã qua đời ở Bắc Kinh do biến chứng của ung thư thận và bệnh tim năm 1967 trong thời kỳ cách mạng văn hóa
1.3 Vị trí của tác phẩm “Nửa đời đã qua”
Sau khi quyển hồi ký 《我的前半生》ra đời năm 1964, nó mệnh danh là “kỳ thư”, tập hồi kí ra đời là nhờ vào sự hợp tác của Phổ Nghi và nhà văn Lý Văn Đạt
Tác phẩm này được độc giả khắp nơi trên thế giới đón nhận và yêu thích, và nó cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, đã qua hơn 30 năm nhưng vẫn được mọi người ưa chuộng
Chương 2: Trích dịch một số chương tiêu biểu của quyển hồi ký
2.1 Vài nét về lý thuyết phiên dịch
2.1.1 Vài nét về lý thuyết phiên dịch
2.1.2 Các hình thức phiên dịch
2.1.3 Các bước tiến hành phiên dịch
2.2 Vài nét về dịch văn học
2.3 Trích dịch một số chương tiêu biểu
Chương 3 PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NHÂN VẬT PHỔ NGHI TRONG QUYỂN HỒI KÝ “NỬA ĐỜI ĐÃ QUA” ( 我的前半生 )
3.1 Phân tích nhân vật Phổ Nghi
Thời thơ ấu của Phổ Nghi
Những thay đổi khi Phổ Nghi nhận thức được vai trò của vị quân vương
Những thay đổi về tư tưởng trong quá trình cải tạo
3.2 Giá trị của tác phẩm
- Có thể nói, không phải ngẫu nhiên mà quyển hồi ký “我的前半生” (Nửa đời trước của tôi) khi ra đời đã được mệnh danh là “kỳ thư” và gây tiếng vang lớn trong nền văn học Trung Quốc và thế giới Tác phẩm là một bức tranh sinh động về cuộc đời của vị hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc, đồng thời đề cao tính nhân văn cao đẹp
- Bên cạnh đó, tác phẩm ra đời trong thời kỳ của văn học đương đại Trung Quốc nên ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi phong cách sáng tác chung của thời đại: ca ngợi chế
độ cộng sản, ca ngợi xã hội
KẾT LUẬN
Trang 121 Công tác dịch văn học
- Có thể nói, điều quan trọng nhất trong công tác dịch thuật văn học là làm cho mọi người đều biết Thông qua dịch thuật, chúng ta có thể thừa hưởng di sản văn học toàn thế giới
- Văn học là sự phản ánh hiện thực cuộc sống
- Công tác dịch thuật là một công việc khó khăn
- Việc dịch tác phẩm văn học cần chú trọng ba yếu tố “Tín, Đạt, Nhã”
- Đối với những người làm công tác dịch thuật văn học, điều quan trọng là cần phải bồi dưỡng về mặt văn học và ngôn ngữ
2 Văn học Trung Quốc
- Có thể nói, nền văn học Trung Quốc là cả một kho báu đồ sộ và quý giá
- Bên cạnh những nội dung cần chính, thấp thoáng trong các tác phẩm văn học Trung Quốc đều ẩn chứa giá trị nhân văn sâu sắc
3 Giá trị và sức ảnh hưởng của tác phẩm “Nửa đời đã qua”
- Tác phẩm là bức tranh sống động về cuộc đời của vị hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc Do được viết theo thể loại hồi ký nên tạo cho người đọc cảm giác được cùng tác giả quay về với những ký ức đã qua
- Tái hiện bước chuyển mình của nước Trung Quốc: đi từ chế độ phong kiến tập quyền sang chế độ Xã hội chủ nghĩa với điểm mốc là sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
- Tác phẩm là công cụ phục vụ đắc lực cho công tác tuyên truyền của chế độ mới
Trang 141.1 Khái quát về văn học đương đại Trung Quốc (1949_nay)
• 1.1.1 Bối cảnh lịch sử
• - Ngày 1.10.1949, nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập Từ đó đến nay, lịch sử Trung Quốc trải qua nhiều biến động Có thể chia thành ba giai đoạn cơ bản:
• 1.Từ 1949-1959: giai đoạn phát triển tương đối ổn định
• 2.Từ 1956-1976: giai đoạn bão táp mà tâm điểm là cách mạng văn hóa
• 3.Từ 1976 trở đi: giai đoạn hồi phục
+ Cuộc toạ đàm văn nghệ Diên An
- Từ 2.5.1942 đến 23.5.1942, Mao Trạch Đông triệu tập đông đảo văn nghệ sĩ khu
giải phóng về Diên An để “chỉnh phong”, vạch rõ đường lối mới cho họ trong bài Bài nói
chuyện tại cuộc toạ đàm văn nghệ Diên An => được coi là nội dung cơ bản của tư tưởng
văn nghệ Mao Trạch Đông
- Bài nói chuyện đặt vấn đề quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, giữa văn nghệ và hiện thực, vấn đề đấu tranh văn học
- Nhấn mạnh việc phải đại chúng hoá văn nghệ song song với công tác nâng cao trình độ quần chúng
- Lời Lenine: “ Lẽ nào trong lúc quảng đại quần chúng còn thiếu bánh mì đen,
chúng ta lại cho bánh bích quy được tinh chế ngọt ngào dùng cho một số ít người hay sao?”, “Đối với công nông binh, yêu cầu đầu tiên chưa phải là thêu hoa trên gấm mà là cho than trong giá rét.”
- Nhà văn phải tự cải tạo mình, đứng trên quan điểm của Đảng, thâm nhập thực tế…
- Đường lối văn nghệ trong giai đoạn này là:
Trang 151 Văn nghệ phục tùng chính trị, phục vụ đại chúng đồng thời dần dần nâng cao trình
- Từ năm 1960-1963 Thiệu Thuyền Lân (Bí thư Đảng Hội nhà văn) chủ trương viết
về “con người trung gian”, ông lên tiếng chất vấn: “Làm sao văn học chúng ta sặc mùi
thuốc súng, toàn những nhân vật bê tông cốt thép?” Ông đề ra chủ trương viết về “số
đông” khoảng giữa “tiên tiến và lạc hậu, anh hùng và tầm thường”
Được nhiều nhà văn hưởng ứng: Hạ Diễn, Đặng Thác, Ngô Hàm, Điền Hán, Mạch Siêu… Những tác phẩm “ngược dòng” này bày tỏ khéo léo sự phản ứng của văn nghệ sĩ trước thời cuộc
Một chiến dịch phê phán những tác phẩm này lập tức được phát động Sự phê phán này không nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển của văn học mà gây dư luận để chuẩn bị cho một sự thay đổi về chính trị
- Đêm 30 rạng sáng ngày 1.7.1966, kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản
Trung Quốc, cuộc “đại cách mạng văn hoá vô sản vĩ đại” với mục tiêu “đánh đổ phái
cầm quyền đi vào con đường xét lại” đã được phát động Nước Trung Hoa chao đảo trong
một cơn giông, văn nghệ Trung Hoa bước vào một thời kỳ thảm họa
- Về chính trị: cuộc đảo chính giành giật quyền bính 50 triệu hồng vệ binh và thanh niên tạo phản tiến hành một cuộc “đấu, phê, cải” để thanh trừng Lưu Thiếu Kỳ và 4/5 tổng số uỷ viên Trung ương Đại hội 8
- Về văn hoá văn nghệ: cuộc vây diệt tàn bạo chưa từng có trong lịch sử, bao gồm tất cả các ngành nghệ thuật: hí kịch, âm nhạc, vũ đạo, văn học…
- Hội liên hiệp căn học nghệ thuật trung ương và 23 phân hội địa phương bị giải tán, 86 tạp chí văn nghệ bị đóng cửa Từ con số 2600 tác phẩm văn nghệ, Giang Thanh chỉ cho phép lưu hành 8 vở kinh kịch và ba lê, một vài bài tạp văn của Lỗ Tấn, mấy bài viết của Mao Trạch Đông…
Trang 16- Các chiến dịch văn học được phát động liên tiếp Có thể chia các tác phẩm thành
ba nhóm:
o Những tác phẩm chỉ bị thu hồi, không bị phê phán
o Những tác phẩm bị phê phán nhưng có giới hạn, có mức độ
o Những tác phẩm bị phê phán kịch liệt, bị “đấu tố” trên qui mô cả nước, loại này được gọi là “đường lối đen”, và liên quan đến “bốn tên côn đồ” (chữ dùng của Giang Thanh) là Chu Dương, Hạ Diễn, Điền Hán, Dương Hàn Sanh Ngoài ra có cả Triệu Thụ Lý, Đỗ Bằng Trình…
Việc phê phán các tác phẩm văn nghệ song song với việc tôn sùng các tác phẩm của Mao Trạch Đông và một số ít tác phẩm được Giang Thanh lựa chọn, xuất phát từ ý đồ tạo dựng một nền văn học dựa trên đường lối chính trị “phát xít kiểu phong kiến” => bôi nhọ cả một nền văn hoá có truyền thống văn học Các nhà phê phán chỉ dùng một chuẩn mực duy nhất là sự trung thành với Mao Trạch Đông để kiểm tra tác phẩm bất chấp sự thật lịch sử cũng như thiên hướng sáng tạo cá nhân
Chiến dịch bài ngoại mà chủ yếu là bài Xô Các nhà văn Liên Xô bị bài là Solokhov, Eptusenko, Ximonov, Gorky…
Cách mạng văn hoá là một vết nhơ trong lịch sử của dân tộc Trung Hoa vốn trọng văn hoá và giàu có về văn hoá Nó bắt nguồn từ một quan niệm thực dụng và quân phiệt
về văn học nghệ thuật và đã gây tác hại ghê gớm trong một thời gian dài
c Giai đoạn 3: giai đoạn Trung Quốc sau Mao
- Sau 17 năm động loạn, đặc biệt là 10 năm cách mạng văn hoá, nhân tâm ly tán, lòng tin sụp đổ Năm 1976, Mao Trạch Đông qua đời Hoa Quốc Phong lên kế vị Đại hội 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc được triệu tập năm 1977 đề ra khẩu hiệu “đoàn kết,
ổn định, giải phóng tư tưởng” Tháng 10.1978, Hội nghị trung ương lần thứ 3 khoá 11 của Đảng xác lập quyền lực của đường lối Đặng Tiểu Bình
- Về văn nghệ, song song với việc phê phán “lũ bốn tên” là việc minh oan, khôi phục tên tuổi những người trước đây bị cho là “phản động”, “hắc bang”, “xét lại”…
- Tổ chức truy điệu Triệu Thụ Lý, Lão Xá, Ngô Hàm…
Trang 17- Tổ chức quốc tang cho Quách Mạt Nhược (chết năm 1979) và Mao Thuẫn (chết năm 1981), rồi đúc tượng Quách làm giải thưởng khoa học và tượng Mao Thuẫn làm giải thưởng văn chương…
- Văn học thời kỳ đầu sau cách mạng văn hoá là văn học bộc lộ, văn học chấn thương Những vết thương, nỗi đau trong tâm hồn và thể xác người trí thức được miêu tả chân thực như những chứng cứ xác thực nhất cho một giai đoạn lịch sử đen tối
- Giai đoạn hiện nay, văn học Trung Quốc ảnh hưởng bởi nền kinh tế thị trường, chính sách mở cửa…nên cũng có những mặt tốt và xấu cùng song hành tồn tại
- Trung Quốc có khoảng 563 nhà xuất bản, 8135 tạp chí, trong đó ngoài Bắc Kinh
và Thượng Hải thì Quảng Đông (với hai trung tâm lớn là Quảng Châu và Thâm Quyến) cũng đã đạt đến con số đáng kể Tạp chí Văn nghệ Phật Sơn của tỉnh Quảng Đông phát hành mỗi kỳ hơn 50 vạn bản, đứng đầu cả nước
- 10 năm gần đây Trung Quốc cho in lại nhiều tuyển tập của các tác gia lớn như:
Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Quách Mạt Nhược, Ba Kim…nhiều tự điển văn học được xuất bản Trung Quốc cho in lại toàn bộ những tác phẩm văn học nước ngoài ưu tú của các nước 50 tác phẩm của nữ sĩ Quỳnh Dao được tái bản trọn bộ, Tam Mao (một nhà văn trước ở Đại lục, sau định cư ở Đài Loan) cũng được nhiều người đọc và tạo thành “hiện tượng Tam Mao”, Kim Dung được in với số lượng lớn
- Ít nước nào trên thế giới có đông đảo các thế hệ nhà văn như Trung Quốc Hiện nay Trung Quốc có hơn 5000 hội viên Hội nhà văn trung ương và hơn 6000 hội viên Hội nhà văn địa phương Sáu thế hệ nhà văn cùng sống và tác nghiệp
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn học đương đại
Tuy văn học thời kỳ mới còn đang tiếp tục phát triển, nhưng đã dần dần thể hiện những đặc điểm thời đại mới khác với văn học Trung Quốc mới trước đây:
- Đã khôi phục và phát triển truyền thống chủ nghĩa hiện thực cách mạng (chủ nghĩa hiện thực cách mạng lấy thế giới quan chủ nghĩa Mac làm chỉ đạo) Chính do đi sâu vào chủ nghĩa hiện thực cách mạng, văn học thời kỳ này là một tấm gương phản ánh những ưu điểm và nhược điểm của cuộc sống thời đại, tính chân thật và giá trị nhận thức của nó được tăng cường rất nhiều
Trang 18- Ý thức hiện đại hóa và tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa được đề cao và tỏa sáng mãnh liệt
- Sự bức xúc thực hiện hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa và khát vọng xây dựng mối quan hệ giữa người với người phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng trở thành tinh thần thời đại
- Các tác gia lấy chủ nghĩa nhân đạo là chuẩn mực của đạo đức luân lý xã hội hiện thực, là thái độ nhân đạo xã hội chủ nghĩa mà văn học miêu tả con người cần phải sử dụng
- Phương pháp sáng tác đa dạng hóa, đề tài, chủ đề, nhân vật, hình thức và phong cách sáng tác đa dạng hóa, tiến thêm làm cho quan niệm văn học cũng biến hóa đa dạng, trở thành hiện thực nổi bật của thời kỳ này
1.2.Tác giả và gia phả:
1.2.1 Tác giả Phổ Nghi:
Phổ Nghi ( 溥 儀 ; Pu Yi; hiệu: Tuyên
Thống; 1906 - 1967) là vị vua cuối cùng của
triều đại Mãn Thanh Ông lên ngôi lúc hai tuổi,
bị buộc phải thoái vị năm 1912 khi Cách mạng
Tân Hợi bùng nổ và được Phát xít Nhật đưa lên
làm vua bù nhìn của “Mãn Châu quốc” ở Đông
Bắc Trung Quốc năm 1934 Năm 1945, ông bị
quân đội Xô Viết bắt Từ 1949 đến 1959, ông bị
chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quản
thúc, giam giữ Tháng 12 năm 1959, ông được
tha và sống ở Bắc Kinh như một thường dân cho đến khi chết
Phổ Nghi được thái hậu Từ Hi chọn lên ngôi khi bà đang hấp hối Phổ Nghi đã lên ngôi lúc mới hai tuổi mười tháng vào tháng 12 năm 1908 sau khi người bác của mình là Quang Tự băng hà ngày 14 tháng 11
Cha cậu, Thuần thân vương, đã làm Nhiếp Chính Vương cho đến ngày 6 tháng 12 năm 1911 khi Hiếu Định Cảnh Diệp Hách La Na Thị kế tục vị trí này để chống lại cách mạng Tân Hợi Hiếu Định Cảnh Diệp Hách La Na Thị đã ký “Thanh đế thoái vị chiếu
Hoàng đế Phổ Nghi
Trang 19thư” (《清 帝 退位 詔 書》) ngày 12 tháng 2 năm
1912, sau cuộc cách mạng Tân Hợi theo một thỏa
thuận do Viên Thế Khải làm môi giới trung gian với
triều đình ở Bắc Kinh và những người cộng hòa ở
phía nam Trung Hoa: Theo các “điều kiện ưu đãi của
hoàng đế nhà Thanh” (《清帝退位優待條件》) ký
với Trung Hoa Dân Quốc mới, Phổ Nghi được giữ
lại tước vị và được chính quyền cộng hòa đối xử
bằng nghị định thư được gán cho một ông vua ngoại
quốc Năm 1917, quân phiệt Trương Huân (張勛) đã
phục hồi đế vị cho Phổ Nghi trong 12 ngày từ ngày 1
tháng 7 đến 12 tháng 7 Những công dân nam của Bắc Kinh đã phải nhanh chóng đội tóc đuôi sam giả để tránh bị phạt do đã cắt chúng năm 1912 Trong 12 ngày này, một quả bom nhỏ đã được một máy bay của cộng hòa thả xuống Tử Cấm Thành và gây ra hư hại nhỏ Sự kiện này được xem như cuộc không kích đầu tiên ở Đông Á Sự phục hồi đế vị này đã thất bại do làn sóng phản đối khắp Trung Hoa và một sự can thiệp đúng lúc của một quân phiệt khác là Đoàn Kì Thụy (段祺瑞) Giữa tháng 7, các đường phố Bắc Kinh
đã tràn ngập các đuôi sam giả đã bị các chủ nhân của nó nhanh chóng vứt đi cũng như chúng được vội vã mua để đội lên đầu vậy Phổ Nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành năm 1924 bởi quân phiệt Phùng Ngọc Tường Ngày 1 tháng 3 năm 1932, Phổ Nghi đã được Nhật Bản dựng lên ngôi hoàng đế “Mãn Châu Quốc”, một ngôi vị bị nhiều nhà sử học coi là nhà nước bù nhìn của đế quốc Nhật Bản, dưới niên hiệu Đại Đồng (大 同) Năm 1934, ông đã chính thức đăng quang hoàng đế Mãn Châu Quốc với niên hiệu Khang Đức (康 德) Ông vẫn bí mật luôn ở thế xung đột với Nhật Bản nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra phục tùng Ông không hài lòng vì chỉ là “Quốc trưởng” Mãn Châu Quốc và sau đó là
“hoàng đế Mãn Châu Quốc” thay vì được phục hồi hoàn toàn thành hoàng đế triều Thanh
Là một phần của chính sách thuộc địa Nhật Bản ở Mãn Châu Quốc, Phổ Nghi phải ở Ngụy hoàng cung trong thời gian này Trong thời gian trị vì này, ông xung đột với Nhật Bản về y phục; người Nhật muốn ông mặc y phục Mãn Châu Quốc còn ông xem đó là
Trang 20một sự sỉ nhục nếu mặc các y phục khác thay vì mặc y phục truyền thống của triều Thanh
Khi kết thúc thế chiến thứ hai, Phổ Nghi bị Hồng Quân Liên Xô bắt năm 1945 Ông đã làm chứng tại một phiên tòa tội ác chiến tranh tại Tokyo năm 1946 Tại phiên tòa này, ông đã kể lể những ngược đãi của Nhật Bản đối với mình Khi quân cộng sản Trung Quốc dưới
sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông lên nắm quyền năm
1949, Phổ Nghi đã viết thư cho Stalin đề nghị không đưa ông trở lại Trung Quốc Ông cũng viết ra quan điểm sống của mình đã thay đổi do ảnh hưởng của các tác phẩm của Marx và Lenin mà ông đã đọc trong tù Tuy nhiên, do Stalin mong muốn làm ấm lại quan hệ với Mao Trạch Đông nên ông đã cho Phổ Nghi hồi hương vào năm 1950 Phổ Nghi trải qua 10 năm trong trại cải tạo Phủ Thuận, tỉnh Liêu Ninh cho đến khi ông được tuyên bố là đã được cải tạo xong Phổ Nghi đến Bắc Kinh năm 1959, với sự cho phép đặc biệt của chủ tịch Mao Trạch Đông và đã sống sáu tháng tiếp theo trong một căn hộ bình thường ở Bắc Kinh với em gái của mình trước khi bị chuyển đến một khách sạn do chính phủ tài trợ Ông lên tiếng ủng hộ những người cộng sản và làm việc tại vườn thực vật Bắc Kinh Ông đã kết hôn với một y tá tên là Lý
Thục Hiền ngày 30 tháng 4 năm 1962 bằng một lễ kết hôn
tổ chức tại phòng khánh tiết của Đại lễ đường Sau đó ông
làm biên tập cho Vụ văn học của Hội nghị Hiệp thương
Chính trị Nhân dân Trung Hoa, nơi ông được trả lương
khoảng 100 tệ trước khi trở thành một thành viên của tổ
chức này từ năm 1964 đến khi mất
Với sự cổ vũ của Mao Trạch Đông và sau đó là thủ
tướng Chu Ân Lai và được chính phủ công khai tán thành,
Phổ Nghi đã viết tự truyện “Nửa cuộc đời trước đây của
tôi” ( 我 的 前 半 生 ; bản dịch tiếng Anh có tên From
Emperor to Citizen - Từ Hoàng đế đến Thường dân) vào
Phổ Nghi và vợ là
Lý Thục Hiền
Phổ Nghi – sau giải phóng, làm việc cho Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Hoa
Trang 21thập niên 1960 cùng với Lý Văn Đạt, một biên tập viên của Cục xuất bản nhân dân Bắc Kinh Mao Trạch Đông bắt đầu tiến hành cách mạng văn hóa năm 1966, và các Hồng vệ binh xem Phổ Nghi, một biểu tượng của chế độ phong kiến Trung Hoa là một mục tiêu để tấn công Ông đã qua đời ở Bắc Kinh do biến chứng của ung thư thận và bệnh tim năm
1967 trong thời kỳ cách mạng văn hóa Theo luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, xác ông được hỏa táng thay vì mai táng như tổ tiên của ông Tro của ông được chôn tại nghĩa địa cách mạng Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất các quan chức của Đảng và nhà nước Trung Quốc Trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, đây là nơi chôn cất các nàng hầu trong các cung phủ và các thái giám Năm 1995, bà quả phụ Lý Thục Hiền
đã di chuyển tro của ông đến một nghĩa địa cách Bắc Kinh 120 km về phía tây nam
1.2.2 Gia phả:
1.2.2.1 Bên nội:
Ông cố của Phổ Nghi là Đạo Quang hoàng đế (trị vì: 1820–1850), người được kế vị bởi con trai thứ
tư lên ngôi Hàm Phong hoàng đế (trị vì: 1850–1861)
Ông nội của Phổ Nghi là Thuần Hiền thân vương ( 醇 贤 亲 王 ; 1840–1891), con trai của Đạo Quang hoàng đế và là anh em cùng cha khác mẹ với Hàm Phong hoàng đế nhưng không phải là người kế vị cùng hàng sau Hàm Phong (Thuần Hiền Thân Vương
có những người anh em cùng cha khác mẹ khác có tuổi gần với Hàm Phong hơn) Hàm Phong được kế vị bởi con trai duy nhất của ông, người đã trở thành Đồng Trị hoàng đế (trị vì: 1861-1875)
Đồng Trị băng hà mà không có con trai và được kế vị bởi Quang Tự hoàng đế (trị vì: 1875–1908), con trai của Hàm Phong hoàng đế và vợ của ông là em gái của thái hậu
Từ Hi Quang Tự băng hà mà không có người kế vị Phổ Nghi đã kế vị Quang Tự
Thuần Hiền Thân Vương
Trang 221.2.2.2 Bên ngoại:
Mẹ của Phổ Nghi, Ấu Lan (幼蘭; 1884-1921), là vợ lẽ của Hàm thân vương Bà là con gái của tướng Mãn Châu Vinh Lộc (榮祿; 1836–1903) từ thị tộc Guwalgiya Vinh Lộc là một trong những lãnh đạo của phe bảo thủ trong triều đình và là một người ủng hộ trung thành của Từ Hi; Từ Hi ban thưởng cho sự trung thành của Vinh Lộc bằng cách gả con gái của Vinh Lộc, người là mẹ của Phổ Nghi, cho gia đình hoàng tộc
1.3 Vị trí của tác phẩm “Nửa đời đã qua”
Sau khi quyển hồi ký của Phổ Nghi ra đời năm 1964, nó mệnh danh là “kỳ thư”, tác phẩm này được độc giả khắp nơi trên thế giới nhận được sự quan tâm và yêu thích, và
nó cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, đã qua hơn 30 năm nhưng vẫn được mọi người ưa chuộng
Tái bản lần này, có vài điều cần phải giải thích rõ:
1 Lần tái bản này có phần không giống với bảng tóm tắt lần trước, đặc biệt là được bổ sung thêm phần mở đầu do chính Phổ Kiệt đã viết vào năm 1987, và phần thay lời mở đầu của Lăng Vân viết gần đây, cộng thêm phần chú thích của Lý Văn Đạt
2 Tác giả chính của tác phẩm, người nổi tiếng từ xưa đến nay Ái Tân Giác La - Phổ Nghi Thực ra, ngoài Phổ Nghi còn một tác giả vô danh khác, chính là nhà văn Lý Văn Đạt Lý Văn Đạt cộng tác cùng Phổ Nghi, ông không chỉ tiến hành sắp xếp cụ thể kết cấu ý tứ của từng chương từng tiết, thiết kế chỉnh sửa toàn bộ tác phẩm, mà ông đã tiến hành ba lần tái bản và nhiều lần chỉnh sửa Vào thời điểm này, Lý Văn Đạt chỉ là một nhà văn vô danh, tất cả những suy nghĩ đều xuất phát từ phương diện chính trị
3 Trong quá trình sáng tác, còn có sự đóng góp to lớn của hai tác giả Dương Quốc Đỉnh, Vương Lan Thăng trong nhiều lĩnh vực như: điều tra phỏng vấn, xem xét hồ
sơ, sưu tập tài liệu, chụp hình, chú thích, hướng dẫn tra cứu, hiệu đính và biên tập Ngoài
ra, còn có sự đóng góp của nhóm tác giả Đàm Lộ Phu, Chung Mẫn, Lý Lai Tuyền
4 Quá trình sáng tác và xuất bản tác phẩm này nhận được sự quan tâm và chú ý rất nhiều của các nhà lãnh đạo đảng và nhà nước lúc bấy giờ như chủ tịch nước Mao Trạch Đông, đặc biệt là thủ tướng Chu Ân Lai Còn có các đơn vị như Bộ truyền thông Đảng Cộng Sản trung ương Trung Quốc, Ủy Ban Mặt Trận Thống Nhất, Bộ công an nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc, Phòng lưu trữ
Trang 23hồ sơ trung ương, viện bảo tàng Cố Cung, phòng lưu trữ hồ sơ hai triều Minh, Thanh, sở quản lí tội phạm chiến tranh Phủ Thuận, Tân Hoa Xã v.v Cùng với các nhóm trí thức nổi tiếng trong các giới sử học, giới luật học như: Thân Bá Thuần, Lưu Đại Niên, Lê Sách, Hầu Ngoại Lô, Lý Khản, Ông Độc Kiện, Hà Can Chi, Thiệu Tuần Chính, Dương Đông Thuần, Ngô Hàm, Liêu Muội Sa, Trương Trị Trung, Bác Tác Nghĩa, Mai Nhữ Ngao đã đóng góp những ý kiến quý báu cho bản thảo Tác phẩm chưa được thẩm định này còn nhận được nhiều lời phê bình, nhận xét của nhà văn nổi tiếng Lão Xá về các phương diện như độ dài tác phẩm và văn tự
Tác phẩm “Nửa đời đã qua” tính đến năm 1987 đã xuất bản được hơn một triệu sáu trăm ngàn bản trong vòng hai mươi ba năm Những độc giả ngày nay cách thời gian sáng tác ngày càng xa Còn phần lớn những độc giả trung niên trở xuống đều không am hiểu về thời kì này Nhà xuất bản mong muốn độc giả có thể hiểu rõ hơn nội dung của tác phẩm nên đã mời đồng chí Lý Văn Đạt một lần nữa giải thích những điều thiết yếu, rồi đem tái bản lại Phổ Kiệt cho rằng cách làm này rất hay, nên cũng nhấc bút viết nên phần mở đầu này
Gần đây, có một số người bàn tán về tác phẩm này Tôi cho rằng chỉ cần kết hợp quá trình sáng tác của tác phẩm với quá trình hợp tác tích cực của đồng chí Lý Văn Đạt và Phổ Nghi thêm vào phần giải thích thì những lời bàn tán đó sẽ không còn nữa
Trước đây Phổ Kiệt cũng từng viết lời mở đầu cho tác phẩm “Nửa cuộc đời trước”, giải thích phần này là dùng cung cấp cho sở quản lí tội phạm chiến tranh Phủ Thuận làm tài liệu nghiên cứu tham khảo Tác phẩm “Nửa cuộc đời trước” đó không phải là tác phẩm
“Nửa đời đã qua” như các độc giả ngày nay từng thấy Mà nó là tác phẩm của Phổ Kiệt và Phổ Nghi cùng viết vào giai đoạn đang nhận tội trong sở quản lí tội phạm chiến tranh Phủ Thuận, cố gắng tổng kết nửa đời trước của chính mình, sau đó viết ra, nhất là những điều đặc sắc mà Phổ Nghi từng trải qua và những biến đổi về tư tưởng những năm trước đến nay của Phổ Nghi khiến Phổ Kiệt giúp ông ta ghi ra Trong đó, nội dung quan trọng là do Phổ Nghi tường thuật lại, Phổ Kiệt thì tranh thủ những lúc rãnh rỗi hàng ngày mà chấp bút viết lại Đại khái là kể về gia thế, xuất thân của Phổ Nghi cho đến khi ông trở thành vị hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc và quá trình thay đổi tư tưởng cho đến năm 1957 thì kết thúc Số lượng từ trong bài viết đó lên đến con số hơn 40 vạn từ Vì bài viết đó được
Trang 24viết dựa những tư liệu tích lũy của những người có liên quan, của bản thân những người
đã trải qua qua, cùng lắm cũng chỉ là những trang ghi chép kiểm tra bản thân trước đây
mà thôi, vốn không thể trở thành sách được
Trong xã hội ngày nay, quyển hồi kí “Nửa đời đã qua” đã được phát hành rộng rãi Thực ra tác phẩm này không phải do sự hợp tác của nhiều người cùng làm nên và được đồng chí Lý Văn Đạt dùng nó làm bản gốc, sau khi chọn lọc những phần tinh túy, trưng cầu và quảng bá rộng rãi, đến tháng 3 năm 1964 mới chính thức in thành sách
Phổ Nghi rất cảm kích sự nổ lực hết mình của đồng chí Lý Văn Đạt nên đã viết thành một bài thơ:
Vì Đảng vì dân mà ra sức Nhận tội, lập công để đổi đời
Ngoài ra, để làm rõ thêm về tác phẩm “Nửa đời đã qua”, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành trích dịch phần giải thích do Lăng Vân viết trong quyển hồi kí 《我的前半生》của Phổ Nghi
Trang 25Nội dung đoạn trích dịch:
Tựa đề: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
Lăng Vân 1
Tác phẩm “Nửa đời trước của tôi” của vị hoàng đế cuối cùng Phổ Nghi, tác giả chính thức là ai? Lần đầu xuất bản tác phẩm này, đã làm chấn động trong và ngoài nước,
có người đưa ra ý kiến: tác phẩm này tuyệt đối không phải do một mình Phổ Nghi viết,
nhất định còn có một “người viết hộ” Ví như: năm 1965, nhà Hán học Canada Jerome
chen và nhà Hán học Anh Quốc Micheal Levy, trong những lời bình luận sách mà họ viết,
sau khi khẳng định giá trị tác phẩm này, đều có nhắc đến vấn đề “người trợ giúp” Giáo
sư Jerome chen còn suy đoán “người trợ giúp” này là người của Đảng Cộng Sản, nhà chủ
họ đều bị giam trong sở quản lí tội phạm chiến tranh Phủ Thuận
Đảng cộng sản trung ương Trung Quốc rất xem trọng công tác quản lí tội phạm chiến tranh, vừa tiếp nhận tội phạm đã lập ra phương châm cải tạo, và trên thực tế dần dần
đã hình thành nên những chính sách và biện pháp hoàn chỉnh Công việc này từ lúc bắt đầu đến kết thúc do bộ công an tổ chức và thực thi Tôi được tổ chức đảng bộ chỉ định
1
Lăng Vân, tác giả của chương này, từng là đảng viên, cục trưởng, phó Bộ trưởng Bộ công an, Bộ trưởng
Bộ an toàn quốc gia
Trang 26phụ trách và liên hệ với tất cả mọi người trong sở quản lí tội phạm chiến tranh, và sử lí những công việc thường ngày có liên quan
Trải qua quá trình cải tạo, tội phạm chiến tranh có nhiều thay đổi, chính sách cải tạo tội phạm chiến tranh đã đạt những thành quả to lớn, xuất hiện kì tích, ngay cả dư luận quốc tế cũng phải thừa nhận Trong những tội phạm chiến tranh của Nhật, có một vài kẻ ngông cuồng gây chiến tranh cũng trở thành những chiến sĩ yêu hòa bình; hàng loạt những tướng lĩnh quốc dân đảng bị bắt, nhận ra được vận mệnh của Trung Quốc, đã trở thành những nhân sĩ yêu nước yêu dân chủ của nước Trung Quốc mới;
Những vương công đại thần của triều đình Mãn Thanh, triều đình Mông Cổ, đã có những nhận thức đúng đắn về tội ác bán nước cầu vinh, bắt đầu hiểu được thế nào là tôn nghiêm của con người Phổ Nghi - vị hoàng đế cuối cùng - chính là một trong những nhân vật được chú ý hơn bao giờ hết, ông thường nói với những người đến thăm hỏi sở quản lí tội phạm chiến tranh về những điều cảm nhận được trong quá trình cải tạo, ông cảm thấy rất vinh dự khi trở thành một công dân bình thường của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa
Vào những năm cuối tại sở quản lý tội phạm chiến tranh, họ ào ạt cầm bút tổng kết lại những gì bản thân họ đã trải qua và viết ra không ít tài liệu nhận tội làm động lòng người, hầu hết các đề mục đều đặt tên là “Nửa đời đã qua” Phổ Nghi không thể tự cầm bút sáng tác, mà do Phổ Kiệt viết thay sách nhận tội hơn 40 vạn chữ dưới dạng hồi kí, tên của quyển sách này cũng là “nửa đời trước của tôi” Nội dung chính của tác phẩm là được viết bắt đầu từ gia thế của Phổ Nghi, mãi cho đến chuyến tham gia vào công việc đi thăm
xã hội do sở quản lý tội phạm chiến tranh tổ chức năm 1957 Quyển sách này đã từng được sở quản lí tội phạm chiến tranh Phủ Thuận in dầu, sau khi mang tặng cho bộ công an
và các tổ chức có liên quan, thì quyển sách này rất được mọi người yêu thích Những người phụ trách văn phòng ở bộ công an lúc bấy giờ là các đồng chí Lưu Phục Chi, Tịch Quốc Quang, Vương Trọng Phương đã từng cùng tôi bàn luận về cuốn hồi kí này Chúng tôi đều cho rằng, Phổ Nghi viết ra quyển hồi kí này trong tâm trạng rất hối hận về những lỗi lầm do bản thân, việc làm này là có ý tốt và cũng không hề đơn giản Nhưng có rất nhiều đoạn trong tác phẩm ông tự chế giểu tự chửi mắng bản thân mình, dường như sau mỗi đoạn thuật lại sự thật là tự quở trách bản thân Cách nhận tội này cũng không phải là
Trang 27quá mức so với sự thật lịch sử Phổ Nghi từ một vị vua cuối cùng của triều đại nhà Thanh, trở thành tội phạm chiến tranh, rồi tự giác nhận tội trở thành một con người mới, quá trình chuyển biến tư tưởng này rất phức tạp, vì thế, không thể rút ra được những bài học hữu ích từ quá trình trên Còn về phương diện lịch sử, có nhiều phần kể lại không được chính xác lắm Nhưng, từ trong tác phẩm vẫn có thể cảm nhận được những thay đổi xảy ra xung quanh vị hoàng đế này, và qua những cuộc biến động đầy rối ren, thay đổi liên tục từ cuối những năm 80 trở đi trong lịch sử, chúng ta cũng có thể có một cách nhìn khái quát về quỹ đạo tiến triển của xã hội Có không ít đồng chí thời bấy giờ cho rằng: quyển hồi kí này nếu được chỉnh sửa thỏa đáng, đem tư tưởng của Phổ Nghi chuyển thành những lí luận mạch lạc rõ ràng, thì quyển sách này sẽ có thể đem đi xuất bản rộng rãi Thế là, để muốn biết ý kiến của quần chúng, đã đưa bản tài liệu gốc cho Nhà xuất bản Quần Chúng
in thành sách rồi lưu hành trong nội bộ, hạn chế trong hệ thống chính trị, pháp luật và trong giới sử học phải mua đọc trong phạm vi nội bộ Vào tháng 1 năm 1960, tin Phổ Nghi vừa được đặc xá trở về Bắc Kinh không lâu Sau đó, bộ quyết định do chủ nhiệm bộ biên tập Lý Văn Đạt của nhà xuất bản Quần Chúng cùng với Phổ Nghi chỉnh lí lại bản thảo Lúc bấy giờ, do không tính toán kĩ lưỡng, nghĩ rằng có thể chỉnh sửa hoàn chỉnh bản thảo trong thời gian là một tháng, nhưng sau đó không thể đạt được yêu cầu đưa ra
Để sắp xếp việc chỉnh sửa bản thảo lần này, tôi phải đích thân mời cả hai anh em Phổ Nghi và Phổ Kiệt đến nhà hàng Toàn Tụ Đức dùng vịt quay, ngoài ra còn có sự góp mặt của tổng biên tập nhà xuất bản quần chúng Diêu Cấn và đồng chí Lý Văn Đạt, cuộc gặp gỡ lần này chủ yếu bàn về việc hợp tác làm sách Tháng 4 năm 1960 Phổ Nghi được
bố trí làm việc tại vườn thực vật Hương Sơn, còn đồng chí Lý Văn Đạt cũng cư ngụ ở nhà hàng Cựu Hương Sơn gần đấy Chiều nào Phổ Nghi cũng đến quán cơm này để cùng Lý Văn Đạt bàn chuyện chỉnh sửa bản thảo Sau khi hai người họ cùng dùng xong cơm chiều, Phổ Nghi lại trở về vườn thực vật, đồng chí Lý Văn Đạt còn đem những lời tường thuật của Phổ Nghi bổ sung vào bản thảo chỉnh lí
Sau một tháng làm việc như thế, toàn bộ tác phẩm chỉ mới chỉnh sửa được một nửa Hai tháng sau, số lượng từ được chỉnh sửa lên đến con số 240 ngàn, nhưng bản thảo chỉnh sửa này đã thất bại Trong một cuộc họp báo, đồng chí Lý Văn Đạt đã phát biểu, còn nhiều sự việc Phổ Nghi nhớ không rõ ràng, kể không mạch lạc, ông chỉ có thể thuật lại
Trang 28cảm giác của bản thân về những việc làm của mình khi ở sở quản lý tội phạm chiến tranh, ông còn nói bản thân ông không hề để ý đến, do đó việc cải tạo diễn ra như thế nào, tư tuởng chuyển biến ra sao, ông đều kể không tường tận Về bối cảnh của những sự kiện lịch sử lúc đó, do ngài ở trong cấm cung, những chuyện ông biết không nhiều Hơn nữa, những nhân vật xung quanh mà ông giới thiệu đều là cường điệu hóa Những nội dung của những tài liệu thiết yếu được ghi lại dưới dạng tác phẩm văn chương cực kì thiếu sót Nếu bảo Phổ Nghi đem những sự kiện phức tạp ông đã trải qua, những biến đổi trong nhiều môi trường ông đã từng sống kể lại mạch lạc thì không tài nào làm được, nghĩa là một người bình thường thì không thể nào nhớ hết và kể hết, huống hồ Phổ Nghi không có thói quen tích lũy tài liệu, viết nhật kí Xem ra, để giải quyết được những vấn đề này, thì không thể chỉ dựa vào những lời tường thuật của riêng Phổ Nghi được, mà cần phải thu thập thông tin từ những người thân cận của ông, tra cứu tất cả các hồ sơ lịch sử có liên quan, thậm chí còn phải đến tận những hiện trường quan trọng để quan sát thực địa Đồng chí Lý Văn Đạt kiến nghị cần phải thu thập lại tài liệu, cấu tứ lại nội dung, trên cơ sở tài liệu thô chiếm một số lượng lớn cần phải được chọn lọc kĩ lưỡng và tinh luyện thành văn Những đồng chí lãnh đạo của bộ công an có liên quan đều đồng ý với kiến nghị của Lý Văn Đạt Đầu tiên, Lý Văn Đạt đến vùng Đông Bắc để điều tra, phần lớn thời gian là ở sở quản lí tội phạm chiến tranh Phủ Thuận, ngoài ra còn đến các nơi phổ Nghi đã từng cư ngụ khác như: Trường Xuân, Cáp Nhĩ Tân Giữa tháng 8 năm ấy, Đảng cộng sản đã tổ chức chỉ định tôi cùng với các đồng chí Hạ Ấn, đồng chí Vu Tang, những đồng chí phụ trách phòng ban, cục trưởng lao động và cải tạo có liên quan, nhận nhiệm vụ nghe và lấy thông tin từ bài báo cáo của đồng chí Lý Văn Đạt Trong buổi họp, đồng chí Lý đã kể rất nhiều câu chuyện thật sinh động xoay quanh quá trình cải tạo của Phổ Nghi, đó là những chuyện Phổ Nghi chưa từng kể hay kể không rõ ràng
Điều quan trọng nhất là, đồng chí Lý hiểu mạch lạc quá trình biến đổi tư tưởng của Phổ Nghi từ sợ chết không dám nhận tội rồi đến hối hận những lỗi lầm trong quá khứ và cuối cùng là làm lại cuộc đời Sau đó, khi Phổ Nghi kể quá trình chuyển biến về tư tưởng cho Lý Văn Đạt nghe, Lý Văn Đạt đã phân tích kĩ lưỡng và vô cùng kính phục Phổ Nghi, cho rằng đây chính là những điều Phổ Nghi muốn kể nhưng kể không thành lời Trong cuộc họp báo cáo, Lý Văn Đạt đã đưa ra phương án là bỏ đi nguyên tác và làm lại bản
Trang 29thảo mới Tất cả các đồng chí trong cuộc họp đều đồng tình với phương án này và còn tích cực đưa ra những kiến nghị hữu ích, tất cả đều muốn Lý chuyên tâm hoàn thành tốt tác phẩm này Những điều được ghi chép và phương án mà Lý Văn Đạt đã đề ra trong cuộc họp lần này cùng với bản thảo làm lại sau này, hiện nay được lưu trữ trong hồ sơ của cục xuất bản quần chúng Bắc Kinh
Căn cứ vào những phương án đã đề ra trong cuộc họp, Lý Văn Đạt tiến hành sưu tầm, điều tra hồ sơ, dịch tài liệu, và bắt đầu viết bản thảo mới Tháng 6 năm 1962, bản thảo được cho cho in thành sách chữ lớn lần đầu tiên, phân thành ba tập, rồi gửi đến các
bộ phận có liên quan để trưng cầu ý kiến Tháng 10 năm 1962, cho chỉnh sửa lại, in thành
2 tập và cũng gửi đến những bộ phận có liên quan Cuối thu năm 1963, đó là lần chỉnh sửa bản thảo lần thứ ba và đã hoàn tất Thời gian đưa bản thảo đến xưởng in hiệu đính, có
9 lần cho chỉnh sửa in thử Vì Nhà Xuất Bản Ngoại Văn phải tuân theo chỉ thị của phó thủ tướng Trần Nghị, phải nhanh chóng dịch tác phẩm này sang tiếng nước ngoài, rồi chuyền sang xưởng in Tân Hoa nhanh chóng đem đi in, tác phẩm này chính thức được xuất bản vào tháng 3 năm 1964
Tác phẩm này được hoàn thành phải kể đến sự hậu thuẫn về tư liệu của Nhà Xuất Bản Nhân Dân, sự ủng hộ của các thư viện lớn, phòng lưu trữ hồ sơ quốc gia, đặc biệt là
sự lao động vất vả của những đồng chí đã giúp Lý Văn Đạt Nhưng chủ yếu vẫn là sự nổ lực gian khổ của Lý Văn Đạt Lúc bấy giờ là thời kì gian khổ nhất, ông phải làm việc suốt đêm Ông cũng đã từng làm việc trong cục do tôi làm chủ quản được 5 năm, lúc này, ấn tượng ông ta đã để lại trong lòng tôi là một người làm công tác nghiên cứu điều tra rất chăm chỉ, cẩn thận, không sót một mải lông, tác phong này còn thể hiện rõ hơn khi ông tận tình viết quyển hồi kí “Nửa đời đã qua” Theo những điều tôi được biết, để nghiên cứu tính cách, tư tưởng của Phổ Nghi và bối cảnh lịch sử của những năm 80, LýVăn Đạt
đã làm một chuyên đề nghiên cứu về tất cả những nhân vật quan trọng có liên quan đến Phổ Nghi, ông viết ra những câu chuyện sơ lược về mỗi nhân vật, còn đối với những sự kiện quan trọng xoay quanh Phổ Nghi, ông cũng tiến hành nghiên cứu chuyên môn và viết thành các bài chuyên đề Dù chỉ biên sọan đại kí sự, bảng niên đại của các sự kiện có liên quan thì đã có hơn 20 loại, với hơn một triệu chữ Có người nói, tư liệu mà Lý dùng viết sách vượt quá một tấn Con số chính xác là bao nhiêu thì ngay cả tôi cũng không
Trang 30được rõ, nhưng tôi nghĩ những điều này không phải là khoa trương vô căn cứ Năm 1984, Cục Bản Quyền Quốc Gia, trong văn kiện số 7 điều 84 xác nhận quyển hồi kí này là tác phẩm của sự hợp tác giữa Phổ Nghi và đồng chí Lý Văn Đạt, điều này hoàn toàn phù hợp với sự thật
Trong quá trình sáng tác, Lý Văn Đạt và Phổ Nghi, một người là hoàng đế, một người là tác giả của thể loại văn học truyền kí, cả hai đã kết giao thành đôi bạn thân Đối với Lý Văn Đạt Phổ Nghi không hề giấu diếm chuyện gì, tất cả mọi chuyện lớn nhỏ Phổ Nghi đều bàn bạc với ông Phổ Nghi từng bày tỏ, nhờ có sự giúp đỡ của Lý Văn Đạt, mới
có thể nghiên cứu khá hệ thống cả mảng lịch sử cận đại được, giúp Phổ Nghi thêm mở mang tầm mắt, tư tưởng được thăng hoa, đổi mới Mà Lý Văn Đạt cũng phải thừa nhận là nhận thức của mình được nâng lên tầm cao mới, đặc biệt là lĩnh hội sâu sắc hơn về chính sách cải tạo của đảng, Lý Văn Đạt cùng với những đồng chí trong sở quản lí tội phạm chiến tranh Phủ Thuận cũng trở thành bạn tốt của nhau Sau khi nghe được những điều này, lúc đó tôi có cảm tưởng: trại giam và đội ngũ lao động cải tạo của cơ quan chính phủ đối với việc giáo dục phạm nhân, đặc biệt là giáo dục những phạm nhân quan trọng, tuyệt đối không thể chỉ hạn chế bên trong cánh cửa sắt Đơn vị lao động cải tạo của chúng tôi vẫn phải có trách nhiệm đối với những người sau khi được phóng thích và gia nhập vào cuộc sống xã hội Đặc biệt là đối với những nhân vật quan trọng được phóng thích cần phải tiếp tục làm tốt công việc của mình, luôn giúp đỡ họ trong mọi phương diện phù hợp với khả năng của mình Đối với Phổ Nghi mà nói, quá trình ông và Lý Văn Đạt hợp tác biên soạn tác phẩm “Nửa đời đã qua”, luôn có ý nghĩa trong mọi mặt, thực ra đó cũng là quá trình tiếp tục tiếp nhận sự giáo dục Thông qua cách làm này, có thể thấy được sự quan tâm củ Đảng đối với Phổ Nghi
Qua quá trình biên soạn sách, Lý Văn Đạt đã tạo được mối quan hệ mật thiết với gia tộc của Phổ Nghi, ông duy trì những cuộc viếng thăm thường xuyên và thân mật với
tư cách là một người bạn chân chính Con cháu đời sau của dòng họ Ái Tân Giác La có người từng nói với Lý Văn Đạt rằng: cả nhà chúng tôi đều cảm kích ngài Nào ngờ, trong
“Cuộc cách mạng đại văn hóa”, chính mối quan hệ giữa quyển sách này với Lý Văn Đạt
và gia tộc Ái Tân Giác La mà trở thành tội trạng của ông và cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến ông bị giam trong trại giam Tần Thành Dù có người biết tác
Trang 31phẩm này đã từng được chủ tịch Mao (Mao Trạch Đông) và thủ tướng Chu (Chu Ân Lai) thưởng thức, nhưng những người có thể nói giúp ông lại không nói ra, những người muốn nói giúp mà không thể nói Chính vì thế, Lý Văn Đạt bị giam ở trại giam Tần Thành trong hoàn cảnh gọi trời không thấu kêu đất không nghe suốt 6 năm 9 tháng Tôi thầm nghĩ, bây giờ mang quá trình soạn thành sách của tác phẩm “Nửa đời trước của tôi” công khai ra là đúng thời điểm rồi
Tác phẩm “我的前半生” tạm dịch là “Nửa đời đã qua” đến nay đã được phát hành tổng cộng khoảng 1 triệu 87 vạn bản sau 22 lần in bằng tiếng Hoa riêng ở Trung Quốc, chưa kể nó được in ở Đài Loan, Hồng Kông và dịch ra một số thứ tiếng khác
Số phận của tác phẩm này cũng long đong không kém chủ nó, sau hơn 40 năm
ra đời, nó luôn bị cắt xén nội dung và tới lần in mới nhất này thì người đọc mới có cơ hội được đọc nguyên bản với mọi tình tiết mà Phổ Nghi đã kể lại để biết được chính xác
những gì đã xảy ra trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Trung Quốc
Nhà xuất bản Quần Chúng của Trung Quốc đã tái bản và phát hành từ cuối tháng 12/2006 cuốn
“Nửa đời trước của tôi” của Ái-tân-giác-la Phổ Nghi
có bổ sung 16 vạn chữ đã bị lược bỏ trong những lần xuất bản trước đây, nhiều bí mật lịch sử sẽ được làm sáng tỏ, trong đó có chuyện hoàng hậu Uyển Dung thông dâm với người khác và Phổ Nghi vì ghen tức
đã quẳng đứa trẻ được sinh ra bởi cuộc tình ngang trái đó vào lò lửa thiêu chết
Ông Mạnh Hướng Vinh, người chịu trách nhiệm biên tập cuốn sách này kể với phóng viên: Hồi tháng 3/2004, NXB Quần Chúng trong khi chỉnh lý lại những hồ sơ tài liệu về cuốn hồi ký này đã bất ngờ tìm thấy bản thảo viết lần thứ nhất và lần thứ hai của Phổ Nghi, trong đó có khá nhiều đoạn không được công bố trong lần xuất bản đầu tiên năm 1964 Lần tái bản này, NXB công bố toàn bộ những nội dung bị lược bỏ đó để bạn đọc được biết những gì Phổ Nghi đã kể lại
Phổ Nghi và Uyển Dung
Trang 32Để đến được với bạn đọc với bản thảo nguyên vẹn lần này “Nửa đời đã qua” đã phải trải qua số phận khá long đong Bắt đầu được Phổ Nghi viết từ năm 1951, bản thảo cuốn sách được coi như là bản khai báo với chính quyền trên giấy mực Đến năm 1964 khi được xuất bản chính thức, khi đến được tay người đọc, “Nửa đời đã qua” đã có ba dị bản và chín lần sửa chữa
“Bản in roneo”: Vào nửa cuối năm 1957, tại trại giam tù binh Phủ Thuận của quân khu Thẩm Dương, cuốn sách “Nửa đời trước của tôi” được in roneo và lưu hành trong trại với tính chất “Bản hối tội” của tù binh Phổ Nghi được hoàn thành sau một năm rưỡi vùi đầu viết ra giấy, dài 20 vạn chữ
“Bản bìa xám”: Tháng giêng năm 1960, NXB Quần Chúng đem bản roneo nói trên sắp chữ chì rồi in, đóng bìa màu xám nên còn có tên “Bản bìa xám” Cuốn sách được
in và bán hạn chế trong các cơ quan thuộc hệ thống chính pháp và giới sử học
“Bản thảo lần thứ nhất”: Tháng 5 năm 1961, sau khi thỏa thuận với NXB Quần Chúng, Phổ Nghi đã bắt tay viết lại cuốn sách Đến tháng 6/1962, thì bản thảo lần đầu hoàn thành, được giao cho các chuyên gia và cơ quan chức năng thẩm định
“Bản thảo lần thứ hai”: Theo ý kiến tu sửa của các chuyên gia, Phổ Nghi và biên tập viên Lý Văn Đạt đã tiến hành tu chỉnh lại bản thảo lần đầu, đến tháng 10/1962 thì in thành bản chữ to
Chính thức xuất bản lần đầu: Năm 1963, sau khi tổng hợp ý kiến các phía liên quan,
Lý Văn Đạt tiến hành tu chỉnh, sửa chữa lại bản thảo lần hai, đến tháng 11/1963, sau thêm nhiều lần góp ý sửa chữa, bản thảo được thông qua và đến tháng 3/1964 thì “Nửa đời trước của tôi” được chính thức xuất bản
Trang 33Quyển hồi ký “Nửa đời đã qua”- Ái Tân Giác La Phổ Nghi
Trang 352.1 Vài nét về lý thuyết phiên dịch
2.1.2 Các hình thức phiên dịch
Có thể chia phiên dịch ra thành nhiều loại chính sau đây:
a.Dịch nói và dịch viết (được phân loại dựa vào phương thức tiến hành)
- Dịch nói: Cả nguyên văn lẫn lời dịch đều được thể hiện ở hình thức khẩu ngữ -Dịch viết: Cả nguyên văn và bản dịch đều được thể hiện dưới hình thức bút ngữ, viết
b Dịch đồng đại và dịch lịch đại (phân loại dựa theo tình trạng tiếp xúc của
ngôn ngữ)
- Dịch đồng đại: Dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác
- Dịch lịch đại: Phiên dịch từ ngôn ngữ cổ ra ngôn ngữ hiện đại
c Phân loại dịch thuật theo phong cách của văn bản dịch
Người ta dựa vào góc độ tu từ học xem xét các văn bản theo đặc điểm phong cách của chúng rồi gọi tên cho các tiểu loại phiên dịch các văn bản ấy ví dụ như: Dịch tác phẩm văn học; Dịch văn bản chính luận v.v…
Trang 36d Dịch toàn văn và trích dịch
2.1.3 Các bước tiến hành phiên dịch
Phiên dịch là một hoạt động ngôn ngữ đầy sáng tạo, nó phải trải qua ít nhất hai bước chính: bước tìm hiểu và bước diễn đạt Có thể nói, hai bước này không thể tách rời nhau trong quá trình phiên dịch
a Tìm hiểu nguyên văn
Tìm hiểu kỹ nguyên văn có thể xem là tiền đề của công việc phiên dịch
Tìm hiểu về mặt ngôn ngữ: Muốn tìm hiểu nội dung văn bản, cần làm thao tác ngược, phân tích các đơn vị ngôn ngữ đã tạo nên nó Dù là ở đơn vị nào thì chúng cũng được xem xét từ những góc độ khác nhau để tìm ra bản chất thực sự của chúng
Tìm hiểu những yếu tố ngoài ngôn ngữ: Những yếu tố ngoài ngôn ngữ như lịch sử, văn hóa, xã hội, v.v… thường xuất hiện trong các tác phẩm văn học Do đó, để biểu đạt được trọn vẹn nội dung của ngôn ngữ nguồn, người phiên dịch không chỉ rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ mà còn cần tích lũy tri thức về đất nước học
Tìm hiểu những hiện tượng mơ hồ về ngôn ngữ trong nguyên văn: Trong nguyên văn cũng có thể có những hiện tượng mơ hồ Đó là những trường hợp mà một từ, một ngữ, một câu nào đó có khả năng tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau Người phiên dịch cần xác định rõ nghĩa nào là nghĩa mà nguyên văn thực sự muốn diễn đạt
Có thể nói, ba phương diện vừa nêu trên có quan hệ móc xích, liên quan mật thiết với nhau trong quá trình phiên dịch Tìm hiểu nội dung nguyên văn là bước khởi đầu quan trọng quyết định chất lượng của bản dịch Để hiểu chính xác nội dung của nguyên văn, người phiên dịch không thể không xem xét kỹ càng ba phương diện này
b Diễn đạt
Diễn đạt là tìm kiếm những hình thức phù hợp và chuẩn mực nhất trong ngôn ngữ đích để thể hiện một cách chính xác những nội dung mà ngôn ngữ nguồn cần chuyển tải
Có hai cách diễn đạt: Đối dịch và dịch ý
Đối dịch: Khi điều kiện của ngôn ngữ đích cho phép, bản dịch giữ nguyên
cả nội dung lẫn hình thức của nguyên văn
Dịch ý: Khi tư tưởng của nguyên văn không phù hợp với hình thức diễn đạt của bản dịch, không dùng lối đối dịch thì người ta dùng cách dịch ý
Trang 372.2 Vài nét về dịch văn học
Theo Mao Thuẫn chức năng của văn học là đánh vào trái tim của con người, mà khả năng làm rung động lòng người lại nằm ở cái “hồn” (nội dung) của tác phẩm là chủ yếu chứ ít nằm trong “hình” (hình thức); bản dịch nếu không thể giữ được “hồn” của nguyên bản thì khó tránh khỏimất đi nhiều khả năng làm rung động lòng người Khi dịch nếu rất chú ý không đánh mất “hồn”, thì không phải chỗ nào cũng có thể làm được như ý Nhưng chú ý nhiều đến hình thức thì không tránh khỏi việc đánh mất nội dung Người dịch nếu muốn giữ được phần “hồn” của nguyên tác thì có thể dựa trên cơ sở “từ đơn” và
“ngữ điệu” mà nghĩ cách Vì vậy, khi dịch thể loại văn học trước tiên phải chú ý đến hai điều kiện quan trọng sau:
Sự chính xác trong việc dịch từ đơn
Sự gần giống nhau về mặt tinh thần của ngữ điệu
Hai điều kiện này là kĩ năng cơ bản đầu tiên khi dịch sách văn học, không thể bỏ qua được
Theo Vương Tá Lương, trong công tác dịch thuật cần chú ý mối quan hệ giữa ngôn ngữ và hoàn cảnh xã hội Bài dịch trung thành với nguyên tác cần phải phù hợp với hoàn cảnh xã hội, trung thành với nguyên tác nhất thiết phải căn cứ vào những yêu cầu của nguyên tác, phải vận dụng được các ngữ loại và thể loại văn khác nhau Còn về tác phẩm văn học, vì thể loại này vốn rất phức tạp nên chúng ta cũng cần dùng ngiều thủ pháp đa dạng để dịch nó Trong tác phẩm văn học, phân hệ chung đã được vận dụng đến độ tuyệt hảo nhất, tinh tế nhất, thì cái mà người dịch cần nắm vững đầu tiên là những cái phổ biến nhất, cơ bản nhất đã được sử dụng trong ngôn ngữ nói một cách đơn giản, người dịch cần phải căn cứ vào những tình huống khác nhau của ngôn ngữ trong nguyên tác để quyết định xem trong trường hợp nào cần dịch trực tiếp theo câu chữ, trường hợp nào cần dịch ý thì dịch ý Một dịch giả xuất sắc là người luôn biết cách từ trong tổng thể có thể tháo gỡ, thắt mở từng phần; vừa trung thực với linh hồn của nguyên tác, lại vừa có lợi cho việc hiểu và tiếp thu tác phẩm của người đọc Một tác phẩm dịch hay luôn vừa có dịch trực tiếp theo câu chữ vừa có dịch ý: Hễ chỗ nào có thể dịch trực tiếp thì kiên quyết dịch trực tiếp, chỗ nào cần dịch ý thì không ngần ngại hạ bút dịch ý
Trang 382.3 Trích dịch một số chương tiêu biểu của quyển hồi ký “Nửa đời đã qua”
( 我的前半生 )
CUỘC SỐNG XA HOA TRONG HOÀNG CUNG 2
Những món ăn làm từ thịt cá sau khi qua nhiều khâu chế biến thì được bày lên bàn ăn; Ngoài việc thể hiện sự phô trương lãng phí những món ăn này không có một tác dụng nào khác Khi có lệnh truyền, những món ăn này nhanh chóng được dọn lên bàn, vì Ngự thiện phòng đã sớm chuẩn bị xong từ nửa ngày hoặc một ngày trước đó, thức ăn vẫn đang được hầm trên bếp Họ cũng biết rằng dù thế nào đi nữa từ đời vua Quang Tự trở đi, nhà vua không thích những món ăn nhẹ được chế biến quá lâu trên lửa Thực đơn mỗi bữa ăn của tôi đều là do thái hậu chọn Sau khi thái hậu qua đời, bốn vị thái phi thay nhau tiếp quản Vì thái hậu hoặc các vị thái phi đều có nhà bếp và những đầu bếp giỏi riêng, nên khẩu vị các món ăn rất vừa miệng, mỗi bữa ăn có tổng cộng 20 món ăn Những món ăn này được dọn ra trước mặt tôi Còn những món do Ngự thiện phòng nấu thì được bài trí
xa hơn một chút, chẳng qua chỉ là hình thức mà thôi
Nhằm thể hiện sự quan tâm và tình yêu thương của họ dành cho tôi, ngoài việc dâng tặng những món ăn, các vị thái phi còn qui định mỗi bữa ăn cần có một tổng quản thái giám báo cáo việc ăn uống của tôi cho họ, những việc này chỉ mang tính hình thức
“Không cần biết tôi đã ăn những món gì, tổng quản thái giám đến cung của các thái phi, quỳ gối xuống và nói một cách rập khuôn: “Nô tài bẩm báo chủ nhân, vạn tuế gia ăn một bát cơm trắng, một cái màn thầu (hoặc một chiếc bánh nướng) và một bát cháo Ăn rất ngon miệng!”
Mỗi lần tết đến hoặc đến sinh nhật thái phi (gọi là “Thiên Thu”) để thể hiện lòng hiếu thảo cần có của một người con, tôi lệnh cho nhà bếp chọn hàng loạt món ăn dâng lên thái phi Những món ăn này có thể dùng bốn câu sau để nhận xét: Hoa nhi bất thực (tốt
mã rẻ cùi), Phí nhị bất huệ (phung phí mà không có lợi); Dinh nhi bất dưỡng (không có dưỡng chất), Đạm nhi vô vị (mùi vị nhạt nhẽo)
2
Trang 39Với cách ăn như thế này, mỗi tháng đã tiêu tốn hết bao nhiêu tiền? Tôi tìm thấy cuốn sách thống kê số lượng gà vịt dùng hàng ngày của mỗi giai cấp trong ngoài Ngự thiện phòng từ mùng một đến ngày 30 tháng 9 Tuyên Thống năm thứ hai Trên đó có ghi:
Thịt để làm thức ăn cho nhà vua thông thường là:
11kg/1 ngày x 30 ngày = 330kg Trong đó
Thịt dùng để nấu canh : 2,5kg x 30 = 75kg
Mỡ lợn : 0.5kg x 30 = 15kg
Gà mái dầu : 2con x 30 = 60 con
Vịt béo : 3con x 30 = 90 con
Gà dùng làm thức ăn : 3 con x 30 = 90 con Dưới đây còn có cách phân chia thực đơn cho thái hậu và thứ phi, được viết dưới dạng bảng thống kê theo tháng để tiện cho việc theo dõi:
Tên của thái hậu hoặc thứ phi Thịt
(kg)
Gà (con)
Vịt (con)
Tổng Cộng 1575 74 74
Trong cung của tôi có sáu người, mỗi tháng tổng cộng phải dùng 1980kg thịt, 388 con gà vịt, trong đó có 405kg thịt và 240 con gà vịt được dùng để làm món ăn cho một đứa trẻ năm tuổi như tôi Ngoài ra, trong cung còn có quân cơ đại thần, Ngự Tiền thị vệ, thầy giáo, hàn lâm, họa sĩ, thợ khắc chữ, thái giám có địa vị, những thầy cúng đến cúng tế thần mỗi ngày… họ cũng được phân chia thực đơn Cả sáu người trong cung của tôi ăn tổng cộng 7321 kg thịt heo, tổng chi 2342 lượng 7 tiền 2 phân Ngoài ra, mỗi ngày còn có thêm những bữa ăn nhẹ, thực đơn của các bữa ăn này cũng rất nhiều Mỗi tháng số lượng thịt dùng trong các bữa ăn phụ là 15992 kg, 407 kg mỡ heo, 4786 con gà, vịt và những
Trang 40thực phẩm như cá, trứng, tôm, tổng chi 116414 lượng 7 phân, bên cạnh đó tôi phải chi thêm 348 lượng cho tiền ăn vặt Tổng cộng là 14794 lượng 1 tiền 9 xu
Có thể thấy rõ rằng số tiền này ngoài việc tham ô lừa đảo mà có được thì gần như toàn bộ đều thể hiện sự lãng phí của đế vương Đó là chưa tính đến số tiền tiêu pha lãng phí để mua thức uống, bánh kẹo, trái cây từ đầu năm đến giờ
Phần lớn thức ăn được nấu lên nhưng không ăn Quần áo may để đấy mà không mặc Về mặt này tôi không nhớ lắm, chỉ biết rằng trong hậu cung có sự phân chia nhưng lại không hạn chế đối với vua, và đến đầu năm lại may y phục, may cái gì tôi cũng không cần biết, dù thế nào cũng mặc quần áo mới Tôi đang giữ bảng báo cáo thu chi sau khi đã qui ra tiền trên đó không ghi rõ năm, chỉ ghi là: “Bảng giá vật liệu đã dùng để may trang phục được đặt làm từ 6/10 đến 5/1” Căn cứ vào những gì ghi trong bảng báo cáo thu chi, thì tháng này họ đã may cho tôi mười một cái áo khoác da, sáu cái áo choàng bằng da, hai cái áo chẽn (áo ôm sát người) bằng da, mười ba bộ quần áo vải và áo chẽn Không tính tiền công và những nguyên liệu chính, chỉ mới tính những phần nhỏ như đường viền, túi, vải, khuy bấm cũng đã tốn hết 3137 đồng 6 hào 56 xu
Còn về việc phân chia trong hậu cung cũng đáng lưu ý Trong sổ ghi chép, sau khi tôi thành hôn, qui định thông thường về số vải vóc hàng năm dùng để may trang phục cho hậu cung được thống kê như sau: