Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài đã góp phần làm rõ những nội dung của quá trình Trung Quốc hóa Phật giáo trong thời kỳ Tùy- Đường, đồng thời còn góp phần làm phon
NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO QUÁ TRÌNH TRUNG QUỐC HÓA PHẬT GIÁO
Tiền đề về kinh tế
Tình hình sản xuất đã được khôi phục, dẫn đến sự gia tăng dân số hàng năm và kho lẫm đầy ắp Các thành phố như Trường An, Lạc Dương, Dương Châu, và Quang Châu phát triển mạnh mẽ với hoạt động buôn bán sôi nổi cả trong và ngoài nước Ngành thủ công nghiệp cũng đã có những bước tiến đáng kể, với khả năng đóng các chiến thuyền cao 30m, có 5 tầng và chứa hàng trăm người Vũ Văn Khải đã xây dựng một hành cung có bánh xe đẩy, thể hiện sự phát triển của nền kinh tế và văn hóa thời kỳ này.
Hà Trù đã xây dựng một ngôi thành chu dài 8 dặm có thể tháo rời, nhưng vào cuối đời Tùy, thiên tai và gánh nặng thuế khóa đã khiến nông dân phải cống nạp cho địa chủ và nhà nước Ngay sau khi lên ngôi, Tùy Dưỡng Đế thực hiện chính sách thống trị tàn bạo, huy động hàng triệu dân xây dựng kinh đô Lạc Dương và vườn Tây Uyển, dẫn đến tình trạng nông dân bạo động và địa chủ trấn áp, làm suy giảm sức sản xuất.
1 Võ Mai Bạch Tuyết (1999), Lịch sử Trung Quốc, Nxb Tủ sách Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn,
Tr 103 Đến Cao Tông (Lý Trị) của nhà Đường (năm 650) cả nước chỉ còn 3.8 triệu hộ và rõ ràng hộ khẩu giảm sút
Sau khi Lý Uyên xưng đế, nhà Đường đã thực hiện các biện pháp khôi phục sản xuất và hòa giải mâu thuẫn, bao gồm việc đo đạc ruộng đất theo quy định cụ thể và thực hiện chế độ quân điền, trong đó mỗi nam từ 18 đến 60 tuổi được cấp 100 mẫu ruộng Chính phủ khuyến khích nông dân khai hoang đất đai bằng cách cấp ruộng cho những người ở thôn ít ruộng và cho phép họ chuyển nhượng ruộng vĩnh nghiệp Chế độ quân điền không xâm phạm lợi ích của giai cấp địa chủ, cho phép quý tộc và quan lại chiếm hữu nhiều ruộng đất Tuy nhiên, chế độ này đã buộc nông dân phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước, bao gồm việc nộp thuế và lao dịch Trong trường hợp mất mùa hoặc mới đến, nông dân có thể được miễn một số nghĩa vụ thuế và lao dịch trong thời gian nhất định.
2 năm trở về thì miễn lao dịch 4 năm, 3 năm trở về thì miễn lao dịch 5 năm” 2
Sản xuất phát triển và dân số tăng nhanh, điều này được Âu Dương Tu ca ngợi trong “Tân Đường Thư” Thực hóa cho biết, đầu những năm Trinh quan, số hộ chỉ khoảng 3 triệu, với tỷ lệ 1 súc lụa đổi 1 đấu gạo Đến năm thứ 4 của Trinh quan, giá trị 1 đấu gạo chỉ còn 4,5 tiền Thời kỳ này, bò ngựa đầy đồng, người dân có thể đi hàng ngàn dặm mà không cần mang theo lương thực, và Tứ di có đến 120 vạn hàng phục.
1 Đặng Đức An- Phạm HoàngViệt (1978), Lịch sử thế giới Trung Đại, Nxb Giáo dục, Tr128
2 Xem Võ Mai Bạch Tuyết (1999), Lịch sử Trung Quốc, Nxb Tủ sách trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,Tr104
Trong giai đoạn từ Hiển (684-689) đến Võ Hậu (Võ Tắc Thiên 690-705) và Trung Tông (705-709), cùng với Duệ Tông Lý Đán (710-712), mức đóng góp của dân và chi tiêu của quan phủ ngày càng gia tăng Tuy nhiên, các vị vua trong thời kỳ này vẫn chú ý hơn đến nỗi khổ của dân so với những vị vua sau này.
Sau khi Huyền Tông (Lý Long Cơ 713-755) lên ngôi, chế độ Tô-Dung-Điệu và hộ tịch trở nên lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng nhiều người trốn tránh và dấu hộ khẩu Ruộng đất bị mua bán nhiều, trong khi những người khai hoang lại không có hộ tịch, còn những người bị thôn tính đất vẫn có tên trong sổ Để khắc phục, Cao Tông đã cấm bán đất khẩu phần và Huyền Tông đã chỉnh lý hộ tịch, quy định rõ về chất lượng vật nộp thuế và cách thức nộp Ông cũng miễn lao dịch 5 năm cho hộ khẩn hoang, cấp hộ tịch cho những người không có, thu mỗi suất đinh 1.500 tiền thuế, thu thêm được hơn 80.000 hộ khách và cấp thẻ cho người được miễn lao dịch Những biện pháp này đã tăng cường hiệu lực của bộ máy thống trị nhưng cũng làm gia tăng mâu thuẫn giai cấp Từ thời Cao Tông đến Huyền Tông, kinh tế xã hội phát triển, đến năm 740 có 8.412.271 hộ với 48.143.609 người dân.
Thời Sơ Đường, nông dân được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ từ chính phủ như thu thuế hợp lý, không bắt phu trong mùa vụ, và miễn giảm tô thuế trong những năm mất mùa Nhờ đó, đời sống của nông dân trở nên dễ chịu hơn, xã hội ổn định và dân số tăng nhanh Ruộng đất được khai thác thêm, công tác thủy lợi được chú trọng, dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của sản xuất nông nghiệp.
Kinh tế công thương nghiệp thời Sơ Đường phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự phát triển của nông nghiệp Thủ công nghiệp được chia thành ba bộ phận: công xưởng thủ công của nhà nước, xưởng thủ công phường hội tại thành phố, và thủ công nghiệp gia đình ở nông thôn Nhà nước đã mở nhiều công xưởng như lò đúc sắt, đồng, xưởng đúc tiền, chế tạo vũ khí, và sản xuất trang phục cho quan chức Thợ thuyền dân gian được huy động làm việc tại các công xưởng nhà nước với mức lương hàng ngày là ba thước lụa Ngoài ra, có những thợ chuyên môn làm việc lâu dài tại công xưởng nhà nước và được đào tạo thêm về kỹ thuật.
Tiệm không chỉ là nơi sản xuất mà còn là nơi bán các sản phẩm thủ công do chính họ tạo ra Người đứng đầu xưởng được gọi là thợ cả, người này chế tạo sản phẩm với sự hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình.
Trong xã hội Trung Quốc, các xưởng thủ công lớn thường thuê người làm công và những người học nghề, tất cả đều sống chung với chủ Những xưởng này thường tập trung vào một nghề cụ thể và được tổ chức thành các "hàng hội" Mỗi "hàng hội" có một người đứng đầu để giao tiếp với chính phủ, và trong các thành phố lớn, số lượng hàng hội rất phong phú.
Thủ công nghiệp gia đình ở nông thôn đóng góp một lượng lớn sản phẩm thủ công, với nghề dệt vải lụa là phổ biến nhất Trong thời kỳ Sơ Đường, nông dân phải nộp thuế bằng vải lụa Hầu hết sản phẩm thủ công sử dụng ở nông thôn đều do nông dân tự sản xuất Những sản phẩm nổi tiếng thời Đường bao gồm gấm hoa ở Tứ Xuyên, tơ lụa ở Định Châu, gương đồng ở Dương Châu, đồ mỹ nghệ ở Thành Đô, và đồ sơn ở Tương Dương.
Thương nghiệp đời Đường chủ yếu diễn ra ở các thành phố lớn, với hoạt động buôn bán trong nước và quốc tế Nhiều hiệu buôn chuyên mua hàng từ nông dân và thợ thủ công, sau đó bán cho khách hàng ở thành phố, nông thôn và các khu vực xa Các thành phố lớn có hệ thống giao thông kết nối, với nhiều trạm ngựa và quán tiếp khách phục vụ nhu cầu đi lại Thuyền bè trên sông chở hàng hóa qua lại, trong khi thương nhân thường giao thương bằng đường biển với các nước Ả-Rập, Ba Tư và Inđônêxia Thuyền buôn Trung Quốc lớn và an toàn, trong khi thuyền buôn Ba Tư và Ả-Rập cũng hoạt động tại các cửa biển Nam Hải Các đội lái buôn từ Tây vực sử dụng lạc đà và ngựa để vận chuyển hàng hóa qua đèo và sa mạc đến các thành phố biên giới Trung Quốc Các dân tộc châu Á thường mang hàng tơ lụa, gương đồng, đồ gốm, sắt và chè về nước Những thành phố quan trọng nhất thời Đường bao gồm Trường An, Lạc Dương, Dương Châu, Thành Đô và Quảng Châu, nơi có cảng lớn nhất Sự phát triển của thương nghiệp đã làm tăng nhu cầu về tiền tệ, và đến giữa thế kỷ XVII, kinh tế công thương nghiệp thời Đường đã phát triển vượt bậc so với các thời kỳ trước.
1 Đặng Đức An- Phạm HoàngViệt, Lịch sử thế giới Trung Đại, Nxb Giáo dục, Tr129
Kinh tế thời kỳ Tùy Đường đã đạt được những thành tựu quan trọng, thể hiện sự cải tổ và phát triển của cái mới so với cái cũ, phản ánh quy luật phủ định của phủ định Thời kỳ này đã góp phần lớn vào việc Trung Quốc hóa Phật giáo.
Tiền đề về chính trị- xã hội
Chính trị thời Tùy-Đường phản ánh sự phát triển của mâu thuẫn giai cấp và tranh chấp nội bộ trong giai cấp thống trị, với cấu trúc giai cấp bao gồm địa chủ, nông dân, thợ thủ công và tiểu thương Trong giai cấp thống trị, hoàng tộc và đại địa chủ nắm quyền lực lớn, trong khi trung và tiểu địa chủ cùng các tầng lớp trung gian như trung thương nhân và thợ ban chịu thuế mà không có quyền chính trị Đấu tranh quyền lực diễn ra trong nội bộ giai cấp thống trị, trong khi nông dân khởi nghĩa chống lại áp bức Sau gần bốn trăm năm loạn lạc, Trung Quốc thống nhất dưới triều đại Tùy, đánh dấu sự phát triển của chế độ phong kiến Tùy Dưỡng Đế, người kế vị Tùy Văn Đế, nổi tiếng với lối sống phóng đãng và các công trình lớn, đã cho xây dựng thành Đông Đô ở Lạc Dương, sử dụng hàng triệu dân phu và tạo ra những công trình như cung Hiển Nhân và vườn Tây Uyển với quy mô đồ sộ.
Từ Trường An đến Giang Đô, có hơn 40 cung thất được xây dựng, với khoảng 2 triệu dân phu tham gia đào đắp Vận Hà, trong đó có cả phụ nữ Tùy Dưỡng Đế đã cho đóng hàng vạn chiếc thuyền để chuẩn bị cho cuộc du ngoạn từ Lạc Dương đến Giang Đô, kéo theo hơn 80.000 người và yêu cầu dân cư xung quanh cung cấp thực phẩm Chính sách tàn bạo của Dưỡng Đế còn thể hiện qua việc chinh phục các dân tộc biên giới, như cuộc chiến với nước Vạn Xuân và Lâm Ấp, dẫn đến nhiều sinh mạng bị mất Cuộc chiến lớn nhất là cuộc xâm lược Cao Ly vào năm 612, nhưng quân Tùy đã thất bại thảm hại trước sự kháng cự dũng cảm của người dân Cao Ly, với nhiều lính Tùy phản chiến và bỏ trốn.
Cuộc khởi nghĩa nông dân cuối đời Tùy bắt đầu vào năm 611 tại Sơn Đông và Hà Bắc, với sự lãnh đạo của Vương Bạt, nhằm chống lại chế độ quân dịch Nông dân Hương Bình, cùng với các địa chủ như Lưu Bá Đạo và Đỗ Phục Huy, cũng tham gia vào cuộc khởi nghĩa Năm 616, triều đại Tùy sụp đổ, và vào năm 618, các lực lượng quý tộc địa phương do Lý Uyên và Lý Thế Dân lãnh đạo đã thu phục các cánh quân khởi nghĩa, tiêu diệt các thế lực cát cứ, và thành lập đế quốc Đại Đường vào năm 628.
Đầu đời Đường, vị đế vương phong kiến nổi tiếng kế thừa Tần Hồng và Hán Vũ, là một nhà quân sự và chính trị xuất sắc của giai cấp địa chủ Ông chứng kiến sự sụp đổ của triều Tùy, một vương triều hùng mạnh bị quân khởi nghĩa nông dân lật đổ, điều này đã khiến ông và triều đình phải chú ý đến bài học lịch sử từ sự diệt vong của triều Tùy.
1 Doãn Chính (chủ biên, 2003) “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc” Nxb Chính trị Quốc gia” Tr 420
Thái Tông đã nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa vua và dân, so sánh nó với thuyền và nước, nhấn mạnh rằng sự áp bức quá mức sẽ dẫn đến diệt vong của triều đại Ông cảnh báo rằng, nếu thiên tử không có đạo, nhân dân sẽ vứt bỏ và không tôn trọng Qua những bài học từ triều Tùy, ông hiểu rằng sự tham lam và bóc lột sẽ dẫn đến sự suy vong của cả vua lẫn nước Đường Thái Tông khẳng định rằng, để duy trì vương triều, trước hết cần bảo tồn trăm họ, không thể để nhân dân rơi vào cảnh khốn cùng Ông nhấn mạnh rằng, nếu thuế khóa nặng nề, dân sẽ buồn khổ, và khi dân khổ, nước sẽ nguy Do đó, việc bảo vệ lợi ích của nhân dân là điều kiện tiên quyết để duy trì sự ổn định và thịnh vượng của triều đại.
Họ nhận thức rõ tầm quan trọng của việc lung lạc lòng dân Trong năm đầu tiên Đường Thái Tông lên ngôi, triều đình đã tổ chức các cuộc tranh luận về cách thức thống trị nông dân Một số đại biểu, điển hình là Phong Đức Di, cho rằng sau ba đời, lòng người trở nên bạc bẽo và gian trá, chỉ có thể sử dụng pháp luật và các biện pháp nghiêm khắc để trấn áp nông dân.
Vương kiên quyết phản đối chủ trương của Phong Đức Di, cho rằng nếu lòng người ngày càng bạc bẽo và gian trá, thì sự chất phác và nhân hậu sẽ không thể hồi phục Ông đặt ra câu hỏi về vai trò của người làm vua trong việc cai trị khi xã hội rơi vào tình trạng như vậy.
Lê Văn Quán (1997) trong tác phẩm "Đại cương lịch sử Trung Quốc" đã chỉ ra rằng những sự thật lịch sử và luận chứng sau đại loạn rất dễ tiếp cận, giống như việc cho người đói ăn cơm hay cho người khác uống nước Ông đề xuất rằng "Lấy nhà Tùy làm gương thì tồn, vong, tri, loạn, có thể biết được" và kiên quyết phản đối biện pháp "sử dụng bạo đổi bạo lực" Thay vào đó, ông khuyên Đường Thái Tông nên giảm nhẹ bóc lột nhân dân để thu phục lòng người, và Đường Thái Tông đã tiếp thu ý kiến của Ngụy Trưng, áp dụng đạo lý này trong chính sách của mình.
“Thiên hạ không thắng bằng sức” và “không thể sử dụng bạo lực ngăn loạn” nhấn mạnh rằng nguyên nhân khởi nghĩa của nông dân cuối đời Tùy là do thuế khóa và tạp dịch quá nặng, chính trị hư bại với quan lại tham lam tàn khốc, cùng với tình trạng đói rét của nhân dân Nếu nhà nước giảm bớt thu chi, nhẹ nhàng hóa thuế khóa và tạp dịch, đồng thời thanh trừng quan lại tham nhũng, thì nhân dân sẽ không nổi dậy Sự sụp đổ của giáo huấn nghiêm khắc của nhà Tùy cho thấy tầm quan trọng của “Đạo yêu dân” trong tư tưởng chính trị, thể hiện qua hai khía cạnh quan trọng.
Quy định về phương châm chính sách và các phương sách hòa hoãn mâu thuẫn đã được thiết lập, trong đó chú trọng tăng cường chức năng của nhà nước Trung ương và điều chỉnh bộ máy quan liêu để giảm gánh nặng cho nhân dân và nâng cao hiệu suất hành chính Chính sách của chính phủ đời Đường được thực hiện thuận lợi nhờ vào sự ổn định chính trị và xã hội, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất Đường Thái Tông đã thiết lập chế độ khoa cử, mở đường cho phần tử tri thức giai cấp địa chủ tham gia chính quyền, từ đó củng cố quyền lực của nhà nước phong kiến Việc tu sửa pháp luật và xóa bỏ hình phạt tàn khốc của triều Tùy thể hiện sự khoan dung, đồng thời yêu cầu các phán quyết tư pháp phải dựa trên luật pháp, tránh sự thiên lệch Về vấn đề dân tộc, chính sách nhấn mạnh ổn định biên giới và hòa hoãn mâu thuẫn giai cấp, mặc dù điều này cũng nhằm xoa dịu nhân dân để họ trở thành công cụ phục tùng giai cấp thống trị, nhưng vẫn là một bước tiến so với chính sách tàn bạo của Tùy Dưỡng Đế.
Đạo yêu dân của bọn thống trị đầu đời Đường thể hiện sự tăng cường tư tưởng thống trị đối với quần chúng Học thuyết phong kiến của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đã trở thành ba sợi dây tư tưởng quan trọng đối với nông dân Vương Thông đã đề xướng tam giáo, và bọn thống trị đầu đời Đường đã lợi dụng điều này để duy trì quyền lực Đường Thái Tông nhận thức rằng việc tiếp thu Phật giáo chưa đạt được mục đích giáo huấn, vì giáo nghĩa của nó có thể mâu thuẫn với các giá trị truyền thống và lợi ích quốc gia Ông tôn trọng và lợi dụng Phật giáo, đồng thời đề cao Đạo giáo ngang hàng với Phật giáo Đường Thái Tông cũng tích cực phát triển Nho học, truy tôn Khổng Tử và mở rộng quốc tử học, nâng cao địa vị xã hội của nhà Nho Thời kỳ của Đường Thái Tông được coi là thời kỳ phát triển rực rỡ của chế độ phong kiến Trung Quốc.
Thời kỳ Võ Tắc Thiên (690-705) chứng kiến sự xây dựng nền độc tài cá nhân nhằm duy trì quyền lực, dẫn đến cuộc sống khổ cực cho nhân dân lao động do nghĩa vụ lao dịch và thuế khóa gia tăng Đến thời Đường Huyền Tông, nhiều chính sách được thi hành để ổn định xã hội, bao gồm việc cải cách bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương Những biện pháp này đã tạo ra một thể chế xã hội trật tự và vững mạnh, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đưa Trung Quốc vào thời kỳ thịnh vượng được gọi là “nền thịnh trị thời Khai nguyên, Thiên Bảo.”
Chế độ chính trị thời kỳ Tùy-Đường rất phức tạp nhưng vẫn nhấn mạnh sự thống nhất Chính quyền nhà Đường do các đại địa chủ kiểm soát, với bộ máy hành chính phát triển hơn so với thời kỳ đầu của triều Hán Quyền lực chủ yếu tập trung vào tay vua, cho thấy sự tập trung quyền lực trong hệ thống chính trị.
“Tam sư” bao gồm Thái sư, Thái phó và Thái bảo, là những cố vấn cao cấp của vua, thực hiện quyền hành trong triều Thời Tùy, đơn vị hành chính được tổ chức thành Trung ương Châu (quận), huyện- tộc (Đảng) và Lý- bảo (5 nhà) Trong thời Đường, hệ thống hành chính bao gồm trung ương Đạo (10)- châu- huyện- hương- lý- thôn (phường ở thành thị).
Tiền đề về tư tưởng văn hóa
Thời Tùy-Đường đánh dấu sự phát triển vượt bậc của kinh tế, chính trị và xã hội phong kiến Trung Quốc, dẫn đến sự thăng hoa của khoa học và văn hóa Sự đa dạng và sôi động trong đời sống xã hội đã tạo ra những thành tựu mới trong các lĩnh vực như thiên văn, lịch pháp, y dược, địa lý và luyện đúc Phát minh về kỹ thuật in và thuốc súng là những đóng góp quan trọng của Trung Quốc cho văn minh thế giới Các nhà khoa học như Nhất Hạnh, Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích đã nâng cao nhận thức về vũ trụ, thúc đẩy tư tưởng duy vật chủ nghĩa của Trung Quốc cổ đại Lý thuyết cấu tạo vũ trụ từ Thuyết cái thiên đến Thuyết Hỗn Thể phản ánh sự tiến bộ trong nhận thức lịch sử vũ trụ của người dân Trung Quốc Trương Hành, một nhà khoa học kiệt xuất thời Hán, đã đạt được những thành tựu nổi bật trong thuyết hỗn nhiên, từ nhận thức về trái đất phẳng đến hình cầu, đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết cấu tạo vũ trụ thời bấy giờ.
Nhất Hạnh (683-727), tên thật là Trương Toại, là một nhân vật quan trọng trong việc phát triển thuyết hỗn nhiên và khoa học Ông đã chủ trì việc tu sửa lịch pháp để phù hợp với thực tế, tiến hành đo lường thiên văn và xác định độ dài của đường Tý Ngọ là 351 dặm 80 bộ Đây là một bước tiến lớn trong phương pháp đo lường, lần đầu tiên xác nhận rằng thế giới có hình cầu, đồng thời bác bỏ thuyết cái thiên với lý luận trời tròn đất vuông Năm 727, Nhất Hạnh đã chế định Lịch Đại Diễn, với nội dung hợp lý và phương pháp tính toán cải tiến, có ảnh hưởng lớn đến lịch pháp sau này.
Toán học thời kỳ này phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là số học Việc quan sát và đo lường các hiện tượng thiên văn như mặt trời, mặt trăng và ngũ tinh đòi hỏi phải xác định phương vị chính xác Do đó, các phương pháp tính toán số học và công thức phương trình bậc hai đã ra đời để phục vụ cho việc biên tập lịch pháp mới.
Trong lĩnh vực Y học, đã có nhiều loại thuốc được phát hiện và các bệnh được phân tích cùng với phương pháp chữa trị Theo Sào Nguyên Phương, "Chư bệnh nguyên hầu luận đã có Thái y thự và y khoa học liệu do Thái y thự quản lý."
Trong lĩnh vực kỹ thuật luyện đúc gang thép, các phát minh lớn của Trung Quốc thời Trung Đại bao gồm kỹ thuật làm giấy từ tre, bạch đàn và rơm rạ, đặc biệt là giấy “trúc chí” từ trúc Ngoài ra, kỹ thuật in ấn bằng bản khắc gỗ và chế tạo thuốc nổ từ hỗn hợp lưu huỳnh, diêm sinh và than, gọi là “hỏa dược”, cũng được phát triển để trị ghẻ lở, sát trùng, chống phong thấp, ôn dịch và làm thuốc súng.
Trong lĩnh vực sử học, nhiều tác phẩm đã được viết về lịch sử các nước như Lương, Trần, Bắc Tề, Bắc Chu, Tùy và Tấn Sự phong phú này còn thể hiện qua hàng loạt tác phẩm tư gia, bao gồm Nam sử và Bắc sử của Lý Diên Thọ, Sử thông của Lưu Tri Kỷ, cùng với Thông Điển của Đỗ Thự.
Thông điển là bộ sử học đầu tiên của Trung Quốc, chuyên về bình luận và trình bày chế độ điển chương Bộ sử này đã mở ra một đề tài mới trong sử học Trung Quốc cổ đại, đồng thời trở thành di sản tư tưởng quý giá cho các thế hệ sau.
Trong lĩnh vực văn học, tư tưởng văn học đời Đường đã tạo ra một thời kỳ thịnh vượng cho thơ ca và phát triển bình luận thơ ca Các nhà thơ, dựa trên tư tưởng văn học tiến bộ của các thế hệ trước, đã đấu tranh chống lại văn học hình thức chủ nghĩa từ Lục triều và xây dựng những luận điểm thơ ca tiến bộ Họ đã khôi phục và phát huy những truyền thống tốt đẹp của thơ ca cổ điển Trung Quốc, hình thành nên dòng phái chính của thơ ca tiến bộ đời Đường Nổi bật trong số đó là các nhà thơ kiệt xuất như Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.
Cư Dị đã góp phần quan trọng vào sự đổi mới thơ ca và tản văn, mượn danh nghĩa phục cổ để thúc đẩy cổ văn đổi mới Hàn Dụ và Liễu Tông Nguyên là những nhân vật có đóng góp tích cực trong phong trào này, giúp phát triển lý luận và sáng tác cổ văn, đồng thời cải thiện tình hình văn học từ thời Ngụy Tấn, nơi mà hình thức thường được ưu tiên hơn nội dung.
Trần Tử Ngang (661-702) là một nhân vật quan trọng trong lĩnh vực đổi mới thơ ca, với chủ trương yêu cầu thơ ca phải phản ánh nội dung hiện thực Văn học Kiến An thể hiện tư tưởng cảm tình sâu sắc, phản ánh nỗi khổ đau của nhân dân trong thời kỳ đó.
Về ngôn ngữ thơ ca phải phản ánh rõ nội dung hiện thực xã hội, khiến cho thơ ca thống nhất
1 Phùng Quốc Siêu (chủ biên, 2004), Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nxb Văn hóa thông tin, Tr 123
Lê Văn Quán (1997) trong tác phẩm "Đại cương lịch sử Trung Quốc" đã chỉ ra rằng, về mặt tư tưởng và nghệ thuật, ông kế thừa luận điểm thơ ca đời Hán, nhấn mạnh phong nhã tỷ hứng và truyền thống tiến bộ của Lưu Hiệp, Chung Vịnh thời Nam triều Ông rất tôn sùng phong nhã và thơ cổ thời Hán Ngụy, đồng thời chủ trương đổi mới thơ ca của mình gắn liền với thực tiễn Những bài thơ xuất sắc của ông không chỉ phản ánh cuộc sống hiện thực mà còn có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thơ ca tiến bộ trong thời Đường.
Lý Bạch (701-762) chịu ảnh hưởng đáng kể từ Trần Tử Ngang, người đã đề xướng phong cách thơ nhã nhặn và cốt cách Hán Ngụy Ông phản đối văn phong đẹp đẽ của thời Tề Lương, nhấn mạnh rằng việc "Phục cổ" và đổi mới là trách nhiệm của mình Lý Bạch ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên của thơ ca thời Kiến An và lên án sự phù phiếm trong nghệ thuật Tư tưởng đổi mới thơ ca của ông đã góp phần định hình lại nền văn học thời bấy giờ.
Lý Bạch thể hiện rõ sự phản đối đối với sự gò bó của truyền thống và kêu gọi tinh thần giải phóng, điều này được thể hiện mạnh mẽ trong thơ ca của ông, góp phần xóa bỏ văn học chủ nghĩa hình thức của cung đình quý tộc Đỗ Phủ (712-770) cũng có những đóng góp quan trọng qua tác phẩm Đỗ Công bộ tộc, trong đó tư tưởng văn học của ông chủ yếu thể hiện qua các sáng tác thơ ca Ông nhấn mạnh tính hiện thực trong nội dung tư tưởng thơ ca, coi trọng việc phát huy truyền thống tốt đẹp của Kinh Thi và Sở từ, đồng thời khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa thơ ca tiến bộ và hiện thực Trong thơ của mình, Đỗ Phủ không chỉ ca ngợi Quốc phong và Sở Tao mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của nội dung tư tưởng phản ánh thời thế và dân sinh, cho rằng tác phẩm Cảm ngộ của Trần Tử Ngang có thể đã kế thừa những giá trị này.
Sở Tao phong nhã thể hiện tư tưởng lo nước thương người của nhà thơ, đồng thời bộc lộ những tệ hại của chính trị Ông cho rằng thơ ca của Nguyên kế thừa truyền thống tốt đẹp của Kinh Thi, liên hệ mật thiết với hiện thực và quan tâm đến nỗi thống khổ của nhân dân Tư tưởng thơ ca phản ánh hiện thực là chủ đạo trong luận điểm thơ tiến bộ của Đỗ Phủ Các tác phẩm thơ xuất sắc của ông phản ánh sâu sắc diện mạo thời đại, thể hiện đầy đủ tư tưởng chủ đạo này và đưa chủ nghĩa hiện thực của thơ ca Trung Quốc đến giai đoạn chín muồi.
Bạch Cư Dị (772- 846) cũng có tư tưởng văn học tiến bộ Tác phẩm của ông có Bạch Thị
Trường Khánh Tập, tiếp nối Đỗ Phủ, là một trong những nhà thơ hiện thực chủ nghĩa vĩ đại Tư tưởng văn học tiến bộ của ông đã để lại di sản quý giá cho lý luận văn học Trung Quốc, góp phần thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực trong thơ ca Trung Quốc.