1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ca dao và vè tiền giang phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố mỹ tho và các huyện tân phước, châu thành, cái bè, cai lậy, gò công đông, gò công tây,

265 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ca dao và vè Tiền Giang phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố Mỹ Tho và các huyện Tân Phước, Châu Thành, Cái Bè, Cai Lậy, Gò Công Đông, Gò Công Tây
Tác giả Phạm Lương Kim Đơn, Đặng Thị Như Ý, Trần Thị Như Vĩ
Người hướng dẫn ThS. La Mai Thi Gia
Trường học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học và Ngôn ngữ
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2013
Thành phố Mỹ Tho
Định dạng
Số trang 265
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (15)
    • 1.2. Một số thuật ngữ có liên quan đến đề tài (16)
    • 1.3. Khái quát diện mạo ca dao ở địa bàn nghiên cứu (18)
    • 1.4. Khái quát diện mạo vè ở địa bàn nghiên cứu (22)
  • CHƯƠNG 2 (27)
    • 2.2. Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của ca dao ở địa bàn nghiên cứu (51)
    • 2.3. Tiểu kết chương 2 (62)
  • CHƯƠNG 3 (65)
    • 3.2. Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của vè ở địa bàn nghiên cứu (83)
    • 3.3. Tiểu kết chương 3 (88)
  • KẾT LUẬN (90)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (94)

Nội dung

Chương 2: Chúng tôi triển khai phân tích nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của ca dao tại địa bàn nghiên cứu và thấy được rằng, ca dao Tiền Giang cũng như ca dao của những tỉnh khác tại

Một số thuật ngữ có liên quan đến đề tài

Ca dao là một thuật ngữ có nhiều định nghĩa trong nghiên cứu văn học dân gian Theo Hà Như Chi trong cuốn "Việt Nam thi văn giảng luận" (2000), ca dao được mô tả là bài hát ngắn không có chương khúc, thường phản ánh tính cách và phong tục của người bình dân Đinh Gia Khánh trong cuốn "Văn học dân gian" cũng định nghĩa ca dao là lời của các bài hát dân ca, đã được giản lược hoặc có thể là những câu thơ.

“bẻ” thành những làn điệu dân ca 2 ” Và theo Lịch sử văn học Việt Nam của Bùi Văn

1 Hà Như Chi,Việt Nam thi văn giảng luận (Từ khởi thủy đến cuối thế kỷ 19) (2000), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr 36

2 Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, (1983), Văn học dân gian Việt Nam , Nxb Giáp Dục Hà Nội, tr.433

Ca dao là những tác phẩm văn học dân gian, có thể có hoặc không có chương khúc, thường được sáng tác bằng thể thơ lục bát Chúng được sử dụng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và thể hiện tình cảm của con người.

Dựa trên công trình nghiên cứu của học giả Đinh Gia Khánh, ca dao được định nghĩa là lời của các bài hát dân ca đã loại bỏ những âm thanh đệm và láy, hoặc là những câu thơ có thể được chuyển thể thành các làn điệu dân ca.

Ca dao là thể loại văn học dân gian có giá trị thẩm mỹ cao, phản ánh cuộc sống đa dạng của nhân dân lao động Việt Nam qua nhiều thế hệ Đây là sản phẩm của tập thể, kết tinh từ tài năng và tình yêu của những tác giả dân gian vô danh Hình ảnh trong ca dao thường gắn liền với nông thôn, nơi người nông dân sinh ra và lớn lên, tạo nên những kỷ niệm sâu sắc Họ trải nghiệm cuộc sống không chỉ bằng tư duy mà còn bằng cảm xúc chân thành, và những rung động ấy được thể hiện sinh động trong ca dao.

Vè là thể loại tự sự dân gian bằng văn vần, được coi là phát triển nhất trong thời kỳ cận đại Theo một định nghĩa khác, vè được xem như một dạng báo nói do dân gian sáng tác, truyền tụng rộng rãi để phản ánh kịp thời các sự kiện trong cuộc sống hàng ngày của cộng đồng Đồng thời, vè cũng chứa đựng tri thức dân gian về tự nhiên và địa lý, được thể hiện qua các khuôn dạng ổn định, dễ nhớ.

Vè, giống như ca dao, phản ánh sâu sắc đời sống của người dân lao động, đặc biệt là ở các vùng thôn dã Chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “địa bàn nghiên cứu” để chỉ chung thành phố Mỹ Tho và các huyện như Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Tân.

1 Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa(1922),Văn học dân gian người Việt ở Nam Bộ, NXB khoa học xã hội, tr.162

Để tránh sự lặp lại dài dòng khi đề cập đến địa bàn nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng các tên viết tắt cho các khu vực Phước, Chợ Gạo, Gò Công Đông và Gò Công Tây thuộc tỉnh Tiền Giang.

Tên đề tài nghiên cứu của chúng tôi là "Ca dao và vè ở tỉnh Tiền Giang", tập trung vào việc phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố Mỹ Tho cùng các huyện Cai Lậy và Cái Bè.

Bè, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc phân loại và chỉnh lý tư liệu thu thập từ hai chuyến thực tập điền dã của sinh viên khoa Văn học và Ngôn ngữ Qua việc chỉnh lý tư liệu, chúng tôi đã đưa ra những nhận xét ban đầu về nội dung và nghệ thuật của ca dao và vè tại tỉnh Tiền Giang.

Khái quát diện mạo ca dao ở địa bàn nghiên cứu

Ca dao Việt Nam là di sản văn hóa nghệ thuật dân gian phong phú, thể hiện trí tuệ và tình cảm của nhân dân lao động Với trữ lượng dồi dào, ca dao phát triển khắp mọi miền đất nước, mang nội dung đa dạng và hình thức ngắn gọn, có vần điệu nhịp nhàng Được truyền miệng qua nhiều thế hệ, ca dao luôn được trau chuốt, trở thành viên ngọc sáng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Tiền Giang, một tỉnh thuộc vùng Nam Bộ, đã được cư dân Đàng Ngoài khai hoang từ lâu, mang theo nền văn minh lúa nước của tổ tiên Nơi đây không chỉ ổn định đời sống mà còn phát triển tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục tập quán Văn học dân gian, đặc biệt là ca dao, đã đồng hành cùng con người và qua thời gian, ca dao Tiền Giang đã hình thành những nét độc đáo, đặc trưng của vùng sông nước.

Qua việc khám phá ca dao Tiền Giang, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây, cũng như những nhận thức của họ về thế giới xung quanh Điều này giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về vùng đất, con người và những nét văn hóa đặc trưng của Tiền Giang, đồng thời phản ánh văn hóa Nam Bộ một cách toàn diện.

Cư dân Nam Bộ sống hòa hợp với thiên nhiên, gắn bó trong tình làng nghĩa xóm và sinh hoạt văn hóa cộng đồng Họ chăm chỉ làm việc trên mảnh đất của mình, luôn hướng niềm tin vào cuộc sống Điều này được thể hiện qua ca dao dân ca phong phú, từ những bài đồng dao trẻ thơ đến những câu hát ru của bà mẹ và những câu hò giao duyên Đồng dao có đặc điểm riêng về nội dung và hình thức, trong khi hát ru và hò cần dựa vào tiếng đệm và hoàn cảnh diễn xướng để nhận diện Bài viết sẽ giới thiệu cách người dân Tiền Giang vận dụng ca dao trong đời sống hàng ngày.

Trong cuốn "Dân ca Việt Nam" của tác giả Lê Văn Chưởng, đồng dao được định nghĩa là những bài hát dân gian dành cho trẻ em, không có nhạc đệm, mang nội dung ngây ngô và được thể hiện qua nhiều hình thức, thường gắn liền với các trò chơi.

Đồng dao gợi nhớ đến một thế giới trẻ thơ trong sáng và yêu đời, nơi tràn ngập những điều kỳ thú Qua các bài đồng dao, trẻ em thể hiện niềm vui và sự hứng thú, với những câu ngắn gọn, súc tích và có vần điệu giúp dễ thuộc và nhớ lâu Hình ảnh cây cỏ, động vật trong đồng dao tạo nên sự phong phú, thể hiện sự sinh động và hấp dẫn, khác biệt với những bài học nhàm chán, giúp chúng ta cảm nhận rõ hơn về sự đáng yêu và ngộ nghĩnh trong tư duy của trẻ thơ.

Bài đồng dao không chỉ mang đến cho trẻ em những hiểu biết ban đầu về các vật dụng quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày, mà còn giúp các em nhận thức được tác dụng của chúng, từ đó cung cấp những bài học đầu đời quý giá.

Trời mưa lâm râm Cây trâm có trái Con gái có duyên Đồng tiền có lỗ Bánh tổ thì ngon Bánh hòn thì béo

Ngôn ngữ trong đồng dao rất đơn giản và dễ hiểu, gần gũi với người dân, điều này khiến nó trở nên chân thật và được trẻ em ưa chuộng trong các trò chơi Đồng dao thường sử dụng thể vãn ba, vãn bốn, vãn năm, vì vậy nó ngắn gọn, dễ thuộc và dễ nhớ.

Môi trường nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đồng dao, với những khu vườn, tán cây, bờ sông và những buổi chiều vui chơi trên cánh đồng, khơi gợi các trò chơi đặc sắc mà trẻ em thành phố khó có thể trải nghiệm Đồng dao không chỉ tạo ra một thế giới thiên nhiên rực rỡ trong tâm hồn trẻ thơ mà còn dạy cho các em những bài học quý giá về tình yêu con người và thế giới xung quanh.

Theo Vũ Ngọc Phan, trong tục ngữ và ca dao dân ca Việt Nam, hát ru là những bài ca dao có sẵn, và người hát sẽ tự thêm vào các tiếng đệm, tiếng láy cùng với hơi đưa, tùy thuộc vào từng điệu hát ru của mỗi miền.

Hát ru là những câu ca dao được thể hiện qua điệu ru của mẹ, bà, hay chị, mỗi người đều có một điệu ru riêng Dù nguồn gốc của những điệu ru này không rõ ràng, nhưng chúng đã làm tăng giá trị cho các bài ca dao, lưu giữ trong ký ức yêu thương của nhiều thế hệ người Việt Nam.

1 Vũ Ngọc Phan (1998) Tục ngữ, ca dao dân ca, NXB KHXH, (Hà Nội), 1998, tr.735

Những bài hát ru không chỉ đơn thuần là âm thanh để ru con, ru cháu hay ru em ngủ, mà còn chứa đựng tấm lòng và tình yêu thương của người ru dành cho trẻ Giai điệu của những bài hát này tràn ngập chất thơ, mang đến cho trẻ một giấc ngủ bình yên và ấm áp.

Hát ru là một thể loại âm nhạc phổ biến ở cả thành phố và nông thôn, thường bắt đầu bằng những từ như “ầu ơ” hay “ví dầu” Những lời ru vang lên trong không khí mát mẻ, thể hiện tâm trạng của người hát và giúp người nghe hiểu hơn về con người nơi đây Lời ru êm dịu không chỉ giúp trẻ nhỏ dễ dàng đi vào giấc ngủ mà còn làm cho thiên nhiên xung quanh như đang hòa quyện theo điệu hát.

Cây lành trái ngọt người mong đợi người

Khi những bài hát ru vang lên, trẻ nhỏ có thể không hiểu nội dung, nhưng âm nhạc đồng quê, tình mẫu tử và tình cảm gia đình sẽ mãi in đậm trong ký ức của chúng.

Trong cuốn Dân ca Việt Nam - Những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp, Lê

Văn Chưởng đã định nghĩa hò là việc hát lên những bài thơ dân gian với sự tham gia của nhiều người, nhằm phục vụ cho lao động và đáp ứng nhu cầu sống Hò không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một công cụ giao tiếp, thể hiện sự tự biểu hiện và mang tính văn hóa cao, như đã được nêu trong tạp chí Văn nghệ dân gian xứ Huế.

Khái quát diện mạo vè ở địa bàn nghiên cứu

Vè là một thể loại văn học dân gian độc đáo, mang tính tự sự và được viết bằng văn vần Nội dung của vè thường miêu tả và kể lại những sự kiện, sự vật có thật trong cuộc sống hàng ngày của người dân lao động.

Vè là thể loại văn học dân gian, được thể hiện qua hình thức văn vần, nhằm kể chuyện và phản ánh thực tế cuộc sống của một địa phương cụ thể Thể loại này không chỉ mang tính giải trí mà còn thể hiện thái độ khen chê của nhân dân đối với những người và sự việc trong xã hội.

Vè là một thể loại nghệ thuật dân gian phản ánh đa dạng các sự kiện trong đời sống, từ hiện tượng tự nhiên đến các vấn đề xã hội và chân dung con người trong lao động Nội dung của vè không chỉ ghi nhận mà còn mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện sự ca ngợi, tự hào hoặc lên án các sự kiện và cá nhân Ngôn ngữ địa phương trong vè tạo nên giọng điệu khẩn trương, giàu cảm xúc, chạm đến tâm lý người nghe Đây là một loại báo chí truyền miệng đặc trưng của văn hóa dân gian, mang tính địa phương rõ nét.

Theo các nhà nghiên cứu Lê Giang và Lư Nhất Vũ trong công trình Dân ca Nam Bộ, vè được coi như một hình thức báo chí truyền miệng, truyền tải những tin tức thời sự nóng hổi và các giai thoại liên quan đến những sự kiện có hại cho thuần phong mỹ tục Đồng thời, vè cũng là công cụ sắc bén để chỉ trích và phê phán bọn thực dân thống trị.

Tại tỉnh Tiền Giang, số lượng vè thu thập được sau khi chỉnh lý tuy không nhiều nhưng đã phản ánh rõ nét những đặc điểm của vè, đồng thời giúp chúng ta hình dung về cuộc sống của người dân địa phương trong quá khứ và hiện tại.

Vè dù là thể loại văn học viết bằng văn vần, phản ánh hiện thực qua nhiều hình thức phong phú, mang đến cho người đọc cảm giác thú vị Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, vè ở Tiền Giang mà chúng tôi sưu tầm có ba chủ đề chính: Vè kể vật, kể việc, Vè thế sự và Vè lịch sử.

Những sự vật và sự việc trong vè thường mang tính quen thuộc, gần gũi và giản dị, phản ánh cuộc sống hàng ngày của nhân dân lao động Điều này khiến cho các bài vè kể về vật và việc trở nên sinh động và dễ nhớ.

Nội dung phản ánh cho thấy phần lớn các bài viết về vè kể vật kể việc tập trung vào các sản vật địa phương, được thiên nhiên ban tặng hoặc do con người tạo ra, cùng với ảnh hưởng của chúng đến đời sống sinh hoạt của người dân Điều này thể hiện niềm tự hào của người dân lao động về sự giàu có của quê hương mình.

Là trái mít ướt Cái đầu xươn xướt Vốn thiệt trái thơm Cái đầu chơm bơm

(Vè trái cây 1) Các món bánh phong phú mang đậm nét đặc trưng của vùng đất Nam Bộ cũng được vè thể hiện khá sinh động:

Ai mà hảo ngọt Thì có bánh cam Những kẻ nhát gan Này là bánh tét

Vè nói ngược là một thể loại vè thú vị và được yêu thích nhờ tính dí dỏm và giải trí cao Người nghe thường cảm thấy bất ngờ và thích thú với những yếu tố nghịch lý trong vè nói ngược Ví dụ như hình ảnh "đòn sóc bửa cau", "dao bầu gánh lúa", và "may đồ bằng lúa" thể hiện sự sáng tạo và độc đáo trong thể loại này.

(Vè nói ngược 2) b Vè thế sự

Vè thế sự là thể loại nghệ thuật phản ánh chân thực các sự kiện diễn ra trong đời sống hàng ngày tại các địa phương, thể hiện rõ tính địa phương và tính thời sự.

Vè thế sự được lưu hành rộng rãi trong dân gian nhờ tính chân thực và thời sự, giống như một tờ báo địa phương phản ánh các vấn đề nóng hổi, thu hút sự chú ý của dư luận Ngoài ra, vè thế sự còn chứa đựng những bài vè về phong tục truyền thống và các nét văn hóa quen thuộc trong lao động và sinh hoạt xã hội của người dân.

Chị em ai nấy Sáng ra đi cấy Bắt lúa leo dây Cấy lúa hàng ngang (Vè đi cấy)

Nội dung của vè thế sự thể hiện sự phê phán và châm biếm những thói hư tật xấu của con người, qua đó bày tỏ thái độ khen chê của tác giả dân gian.

Cô bác xót xa Kêu cho nắm gạo

Sợ nấu mất công Chết rũ giữa đồng Rồi đời thằng nhác (Vè thằng nhác)

Tính địa phương được thể hiện rõ qua các bài vè điểm danh những địa điểm nổi bật và nghề nghiệp của người dân trong xóm hay ấp Ngoài ra, vè thế sự còn ghi chép những sự kiện trọng đại như làm đường, xây cầu, xây đình, và cung cấp nước, điện cho địa phương.

Lịch sử ra đời nhằm ghi lại các sự kiện quan trọng trong cuộc đấu tranh chống giặc cứu nước của dân tộc Những sự kiện này có thể là những mốc son lớn, ảnh hưởng đến toàn quốc, hoặc chỉ là những diễn biến liên quan đến đời sống của người dân ở một địa phương cụ thể.

Thời gian lưu truyền của các bài vè lịch sử thường kéo dài hơn so với các bài vè thế sự, vì những sự kiện lịch sử này có ảnh hưởng sâu sắc đến sự sinh tồn của toàn dân tộc Chúng được toàn dân biết đến, quan tâm theo dõi và ghi nhớ.

Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của ca dao ở địa bàn nghiên cứu

2.2.1 Ngôn ngữ, cách thức tổ chức ngôn ngữ

Ngôn ngữ trong ca dao tại địa bàn nghiên cứu là sự hòa quyện giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ hội thoại, bao gồm phương ngữ, khẩu ngữ và hô ngữ Sự kết hợp này mang lại cho ca dao vẻ gần gũi, thân thuộc như lời nói hàng ngày của người dân, từ đó ca dao trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi.

Khẩu ngữ là thứ ngôn ngữ được người dân sử dụng trong lối giao tiếp hàng ngày

Tác giả dân gian đã khéo léo đưa những khẩu ngữ đời thường vào trong cao dao, làm cho thể loại này trở nên sinh động và hấp dẫn hơn, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của ngôn ngữ.

Anh thương em thương dột thương dại Thương lột da óc thương tróc da đầu Hỏi em có thương lại chút nào hay không?

Khẩu ngữ trong cao dao được thể hiện một cách giản dị và chân thật, không làm mất đi tính nhạc và hồn cốt của ca dao, mà còn mang lại vẻ đẹp tự nhiên và thú vị Những từ ngữ mộc mạc, không cầu kỳ đã tạo nên sự độc đáo và phong cách riêng của từng vùng miền, đồng thời phản ánh tính tự do, phóng khoáng và thoải mái của con người nơi đây.

Phương ngữ là những từ ngữ đặc trưng của từng địa phương, phản ánh văn hóa và góp phần hình thành bản sắc riêng của ca dao ở mỗi vùng.

Thương, không thương hổng có cần Trầm, hương khó kiếm chớ ổi, bần thiếu chi

Sự phong phú của từ địa phương trong ca dao Tiền Giang không chỉ làm tăng tính thú vị mà còn phản ánh thái độ và cảm xúc của người dân nơi đây Mặc dù việc hiểu ý nghĩa của các từ địa phương có thể gặp khó khăn, nhưng chính sự hấp dẫn này đã thu hút nhiều người nghiên cứu Mỗi lần khám phá được một từ mới, họ lại mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ vùng miền của mình.

Anh à có ghệ 1 hay chưa

Mà sao anh nói gió đưa ngọt ngào

Hô ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong ca dao tại khu vực nghiên cứu, giúp câu ca dao vang vọng và ngân xa hơn Nó thể hiện không gian sông nước mênh mông, sâu lắng, đồng thời phản ánh tinh thần hòa mình cùng thiên nhiên của con người nơi đây.

Con cò nó mổ con lươn

Bớ chị nghe lường muốn tía tôi hông Tía tui lịch sự lịch sàng

Cái lưng mốc thích cái đầu chôm bôm

Sự xuất hiện của hô ngữ không chỉ làm tăng khả năng biểu cảm cho ca dao mà còn mang lại âm vang đặc sắc trong từng làn điệu, tạo nên tác động sâu sắc vào trí nhớ con người.

Thành ngữ góp phần quan trọng trong việc hình thành bản sắc ca dao của vùng này, giúp người dân có cái nhìn sâu sắc và hàm súc hơn về sự vật, hiện tượng xung quanh.

Em ơi chị bảo em này Trứng chọi với đá có ngày chảy tan

Ca dao vùng này thể hiện sự đa dạng ngôn ngữ thông qua các hiện tượng ngôn ngữ khác nhau, phản ánh đặc trưng của từng vùng miền.

Cao dao vùng này thường chứa nhiều từ ngữ chỉ địa danh, giúp người đọc nhận biết nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm và thể hiện sự chính xác trong từng sự vật, hiện tượng được đề cập.

Anh đi chuyến gạo Gò Công Anh về Bao Ngược bị giông đứt buồm

Đèn Châu Đốc có chiều cao đặc trưng, trong khi đất Nam Vang lại nổi bật với độ dốc riêng Một tiếng Anh vang lên, kèm theo hai hàng lệ nhỏ, khiến người ta phải suy ngẫm Con thơ như thế này, liệu sẽ được gửi gắm cho ai?

Danh từ chỉ tên người được sử dụng trong ca dao tại đây, đóng vai trò như một tên gọi thông thường, giúp phân biệt giữa các cá nhân và giới tính.

Những cái tên trông đơn giản, giản dị thể hiện sự chất phác và đặc trưng con người vùng này:

Cảm thương ông Lữ dãi dầu Cái ca, cái bát, cái bầu sau lưng

Trời mưa trời gió đùng đùng Cha con chú Sùng đi gánh phân trâu

Trong ca dao, chúng ta cũng rất thường thấy số từ xuất hiện

Một cành me, năm bảy cành me Yêu nhau thì lấy đừng nghe họ hàng

Một duyên, hai nợ, ba tình Chiêm bao lẫn lộn quanh mình năm canh

Số từ được dùng để biểu lộ cảm xúc, mang ý nghĩa tượng trưng

Trăm non tính cuộc vuông tròn Phải dò cho đủ ngọn nguồn rạch sông

Tới đây xứ xở của người Trăm bề nhẫn nhịn đừng cười quê em

Một bài ca dao hay không chỉ cần nội dung giá trị mà còn phải chú trọng đến hình thức thể hiện Tại địa bàn nghiên cứu, ca dao rất phong phú về nội dung và đa dạng trong cách biểu hiện Qua khảo sát các thể thơ ở khu vực này, chúng ta sẽ nhận thấy sự phong phú và đa dạng đó.

Thể thơ ở đây bao gồm nhiều thể loại: Thể lục bát, thể vãn, thể song thất, song thất lục bát và thể hỗn hợp a Th ể l ụ c bát

Thể thơ lục bát là một loại thơ có nhịp điệu linh hoạt và không bị gò bó về độ dài, giúp người lao động dễ dàng tiếp thu và thể hiện cảm xúc hàng ngày Nhờ vào sự tự do trong hình thức, thể lục bát đã nhanh chóng lan tỏa và trở thành một phần quan trọng trong kho tàng ca dao của Việt Nam.

Ca dao là thể thơ truyền thống đặc trưng của dân tộc, nổi bật với giá trị cao trong văn hóa Tại Tiền Giang, thể lục bát được thể hiện qua hai hình thức chính là chính thể và biến thể Trong lục bát chính thể, câu lục có sáu âm tiết và câu bát có tám âm tiết, với vần thường được gieo ở tiếng thứ sáu của cả hai câu.

Lửa nhen vừa mới bén trầm Trách lòng cha mẹ sao cầm duyên con

Cũng có hiện tượng gieo vần ở tiếng thứ tư của câu bát: Đêm nằm gối gấm không êm Gối lụa không mềm bằng gối tay anh

Tiểu kết chương 2

Ca dao tại Tiền Giang chủ yếu xoay quanh các chủ đề như tình yêu quê hương, lao động sản xuất, tình yêu nam nữ, tình cảm gia đình và các mối quan hệ xã hội Mỗi chủ đề đều có những đặc trưng riêng, góp phần làm phong phú và đa dạng cho diện mạo của ca dao trong khu vực này.

Tình yêu quê hương đất nước thể hiện qua mối liên hệ sâu sắc giữa con người và quê hương, bao gồm niềm tự hào về vẻ đẹp của đất nước và nỗi nhớ khi xa rời nơi chôn rau cắt rốn Đồng thời, tình yêu này cũng nuôi dưỡng lòng căm thù giặc khi đất nước gặp khó khăn và khát vọng xây dựng quê hương phát triển trong hòa bình Bên cạnh đó, tình yêu lao động sản xuất được thể hiện qua tinh thần làm việc hăng say, trách nhiệm và sự trân trọng thành quả đạt được, cùng với việc tích lũy kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao động.

Ca dao về tình yêu nam nữ là một phần quan trọng trong văn hóa dân gian, phản ánh những cung bậc cảm xúc đa dạng của tình yêu Nó ghi lại hành trình của các cặp đôi từ lần gặp gỡ đầu tiên đến sự gắn kết qua hôn nhân, bao gồm những khoảnh khắc hẹn ước, chia ly, và nỗi nhớ Bên cạnh đó, ca dao cũng phản ánh những khía cạnh tiêu cực như sự phản bội và tráo trở trong tình yêu Những trạng thái tình cảm này giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về đời sống tâm hồn phong phú của con người miền sông nước.

Ca dao về tình cảm gia đình phản ánh mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, vợ chồng, anh chị em, cũng như mẹ chồng và nàng dâu Những mối quan hệ này được thể hiện chân thật qua đời sống sinh hoạt hàng ngày, với tình yêu thương, trách nhiệm, cùng những mâu thuẫn và bất hòa Qua bức tranh gia đình, ta hiểu rõ hơn về quan niệm và tư tưởng của người dân lao động Tiền Giang về các giá trị truyền thống trong văn hóa gia đình.

Các chủ đề khác trong ca dao cũng rất đặc sắc, phản ánh các mối quan hệ xã hội như tình bạn và tình xóm giềng Những nội dung này không chỉ thể hiện sự gắn kết giữa con người mà còn truyền tải những bài học đạo đức và giá trị nhân văn sâu sắc trong cuộc sống.

Nghệ thuật trong ca dao tại khu vực nghiên cứu được phân tích qua các yếu tố như ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật, cùng với các thủ pháp nghệ thuật chủ yếu trong việc xây dựng hình tượng và biểu tượng trong ca dao.

Về ngôn ngữ, ca dao ở đây sử dụng khẩu ngữ, phương ngữ, hô ngữ, từ chỉ địa danh, từ chỉ người, số từ, thành ngữ

Thể thơ chủ yếu được sử dụng là lục bát, bao gồm cả lục bát chính thể và lục bát biến thể Ngoài ra, còn có thể vãn và thể hỗn hợp.

Về kết cấu có kết cấu một vế, hai vế nhằm diễn đạt được trọn vẹn tâm tư, cảm xúc của nhân vật trữ tình

Thời gian và không gian trong nghệ thuật bao gồm cả khía cạnh vật lý lẫn tâm lý Biểu tượng nghệ thuật được chia thành hai loại: biểu tượng tự nhiên và biểu tượng nhân tạo.

Các thủ pháp nghệ thuật chủ yếu trong xây dựng hình tượng ca dao bao gồm: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, ngoa dụ

Ca dao vùng đất này được nâng cao giá trị nhờ vào sự phong phú và đa dạng của các hình thức nghệ thuật, thể hiện tính hình tượng và biểu cảm mạnh mẽ.

Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của vè ở địa bàn nghiên cứu

Vè sưu tầm tại địa bàn nghiên cứu không chỉ phong phú về nội dung mà còn nổi bật với các đặc điểm nghệ thuật như thủ pháp nghệ thuật, thể thơ và ngôn ngữ Những yếu tố này làm cho các bài vè trở nên sinh động, thu hút người nghe và thể hiện trình độ của các tác giả dân gian.

3.2.1 Các phương thức nghệ thuật chủ yếu được thể hiện trong vè a Ph ươ ng th ứ c ph ả n ánh và ph ươ ng th ứ c t ự s ự

Vè là một thể loại “khẩu báo” đặc trưng, phản ánh rõ nét qua các sáng tác Những sự vật, hiện tượng được miêu tả chi tiết và ngắn gọn, giúp người nghe có cái nhìn tổng quát về câu chuyện Các câu chuyện trong vè thường rất lôi cuốn, bởi chúng xoay quanh những sự kiện nóng hổi, thu hút sự quan tâm của công chúng.

Kể từ năm Dậu, năm Tuất vừa qua, mọi thứ trong nhà đều thuận lợi nhờ vào sự chăm sóc và chuẩn bị chu đáo Dù có khó khăn, người phụ nữ vẫn không ngại vất vả, sắm sửa đầy đủ cho chồng, không thiếu điều gì.

Chồng đà sinh tật Lòng mê gái đẹp (Vè Ba Tôm)

Phương thức tự sự trong sáng tác vè thể hiện thái độ chủ quan và tâm tình của tác giả dân gian đối với các sự vật, hiện tượng được kể lại.

Anh từng xả súng vào dân Giết bao nhiêu người già trẻ nhỏ Anh cướp hết cơm hết áo

Anh giựt hết bạc hết vàng Chặt đầu ông lão bêu hàng thịt

Mổ ngực thanh niên giữa chiến bào (Vè lính Pháp viễn chinh về nước)

Những bài vè sử dụng phương thức tự sự không chỉ đơn thuần kể chuyện hay phản ánh sự kiện, mà còn thể hiện thái độ và quan điểm chủ quan của tác giả về thực tế xã hội Qua đó, tác giả có thể bày tỏ những suy nghĩ, cảm xúc và định hướng dư luận đối với các vấn đề mà họ quan tâm Tính cụ thể và xác thực trong những bài vè này cũng góp phần làm nổi bật ý nghĩa và giá trị của chúng.

Vè, với tính chất tự sự và phản ánh hiện thực xã hội, thường miêu tả những sự kiện có thật trong lịch sử và đời sống hàng ngày của người dân Những câu chuyện thực tế được kể lại trong vè thường đi kèm với mốc thời gian, địa điểm và tên người cụ thể, tạo nên tính xác thực cao Được sáng tác nhằm ngợi ca, phê phán hay tố cáo, vè thường phản ánh đúng người thật, việc thật, đặc biệt là trong các bài vè thế sự và vè lịch sử.

Bài vè tại tỉnh Tiền Giang mang đến một bức tranh sinh động nhờ vào tính chân thực và cụ thể của nó.

Bị Pháp bắt Côn Đảo đầy đi

18 năm đánh đập trong tù Nhưng người giữ vững một lòng kiên trung

(Vè Tôn Đức Thắng- người cách mạng trung kiên)

Trong các bài vè lịch sử phản ánh tinh thần yêu nước và chống lại thực dân, đế quốc, việt gian, tính cụ thể và xác thực được thể hiện rõ qua các tên gọi như Vè bán nước, Vè chạy giặc, và Vè đảo chánh 1963.

Tính xác thực của bài vè khiến người đọc luôn cảm thấy hứng thú, như thể các sự kiện vừa mới xảy ra và vẫn còn nóng hổi Điều này không chỉ thu hút người nghe mà còn thể hiện sự chính xác, rõ ràng và minh bạch của các hiện tượng, sự kiện được kể.

3.2.2 Thể thơ và ngôn ngữ

Vè là một hình thức thơ dài dùng để kể chuyện, khác với ca dao và dân ca thường tuân theo thể thơ lục bát chặt chẽ về nhịp điệu và vần Vè có sự phong phú và đa dạng trong thể thơ, cho phép sáng tác dễ dàng hơn mà không bị ràng buộc bởi các quy tắc nghiêm ngặt.

Vè thường được sáng tác bằng thể vãn, đặc biệt là vãn bốn, để kể chuyện với nhịp điệu nhanh và khẩn trương Điều này giúp nắm bắt và truyền tải nhanh chóng những sự kiện đang diễn ra, mang đến cho người đọc một bản tường thuật trực tiếp, nóng hổi và kịp thời Câu thơ "Đầu hôm lắm miệng, Tối lại ngủ quên" thể hiện rõ nét sự gấp gáp và sự chuyển biến trong cuộc sống.

Mà còn nằm ngủ (Vè làm biếng)

Có những bài vè thường bị nhầm lẫn với ca dao dân ca do hình thức thơ mượt mà, trữ tình theo thể lục bát Chúng mang tính chất trữ tình nhiều hơn là tự sự, với giọng điệu tâm tình hơn là kể chuyện.

Mẹ già hôm sớm em chăm Trưa chiều nâng đỡ, cháo cơm cho tròn Thân anh dầu có nát tan

Anh nguyền gội rửa giang san màu hồng Để anh bền chí trai ngoài biên cương (Vè tăng gia sản xuất)

Bài vè đám cưới dưới đây được sáng tác theo thể vãn bảy, phản ánh truyền thống văn hóa và phong tục tập quán của địa phương, không cần nhịp điệu khẩn trương của thể vãn bốn.

Trên bàn thờ chân đèn nhị cấp

Dĩa chân đèn phụng liễn treo lên Chiếu cổ bàn trải lót hai bên Lấy tấm ván treo lên đầu cột (Vè đám cưới)

Bài vè có thể không tuân theo một thể loại nào nhất định, với sự kết hợp của các câu dài ngắn khác nhau Trong một bài vè, có thể xuất hiện các câu vãn bốn, vãn năm, hoặc câu bảy chữ, thậm chí là dài hơn, giống như lời kể chuyện ngẫu hứng của tác giả dân gian Hình thức này cho thấy sự sáng tạo trong thể thơ tự do.

Tàu anh rời đất Việt Quê nhà vợ đợi con trông Anh về nước nhớ kể lại người quen Chúng tôi Việt Nam đã kiên cường chiến đấu

… Những con người hiền lương trên mảnh đất hòa bình

(Vè lính Pháp viễn chinh về nước)

Thể thơ trong vè rất đa dạng và linh hoạt, phản ánh khả năng sáng tạo của các tác giả dân gian, mặc dù chưa đạt đến đỉnh cao nghệ thuật như các thể loại văn học dân gian khác.

Tiểu kết chương 3

Thông qua việc sưu tầm các bài vè từ các huyện và thành phố trong tỉnh Tiền Giang, chúng tôi đã rút ra một số kết luận ban đầu quan trọng.

Vè ở Tiền Giang thể hiện sự phong phú với nhiều hình thức đa dạng, từ việc giới thiệu sản vật đến các bài vè về lao động sản xuất và thực trạng xã hội Những tác phẩm này không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn bày tỏ lòng yêu nước, tạo nên bức tranh sinh động về đất và người Tiền Giang.

Những vấn đề hiện thực trong vè thế sự không chỉ mang tính kể chuyện và thông báo, mà còn thể hiện thái độ của nhân dân đối với sự kiện được kể lại Các bài vè vạch trần và tố cáo thói hư tật xấu cùng tệ nạn xã hội là những bài học quý giá, giúp chúng ta rút ra kinh nghiệm sống từ người đi trước Điều này nhằm tránh xa những thói hư tật xấu và cải thiện thực trạng xã hội, hướng tới một cuộc sống lành mạnh và tốt đẹp hơn.

Nội dung của vè lịch sử phản ánh tình cảm và thái độ của nhân dân lao động đối với các sự kiện lịch sử trong cuộc chiến chống giặc ngoại xâm Nó không chỉ ca ngợi những chiến công vĩ đại mà còn lên án tội ác của kẻ thù và chính quyền tay sai.

Phương thức nghệ thuật tự sự trong vè Tiền Giang phản ánh tính xác thực và cụ thể, thể hiện những đặc trưng nổi bật của thể loại vè trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Ngôn ngữ giản dị, gần gũi nhưng sinh động thông qua việc sử dụng phương ngữ, khẩu ngữ của tác giả dân gian trong khi đặt vè

Thể thơ dùng để sáng tác vè bao gồm các thể vãn và cả thể lục bát nhưng phổ biến nhất là thể vãn bốn.

Ngày đăng: 02/07/2023, 07:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w