1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay

145 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
Tác giả Trần Hữu Tính
Người hướng dẫn TS. Vũ Ngọc Miến
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (7)
  • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài (9)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn (12)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn (0)
  • 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn (13)
  • 6. Ý nghĩa của đề tài (13)
  • 7. Kết cấu của đề tài (13)
  • Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA (47)
    • 1.1. VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI (14)
      • 1.1.1. Định nghĩa văn hóa – giá trị văn hóa (14)
      • 1.1.2. Vai trò của văn hóa (20)
      • 1.1.3. Đặc trưng của văn hóa (0)
    • 1.2. KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI - BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG CÁC LỄ HỘI (34)
      • 1.2.1. Khái quát chung về lễ hội và giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống (34)
      • 1.2.2. Khái quát về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa (39)
  • Chương 2. THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY (0)
    • 2.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG (47)
      • 2.1.1. Khái quát về giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống của đồng bào (47)
      • 2.1.2. Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng (58)
    • 2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN - PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY (64)
      • 2.2.1. Quá trình triển khai (64)
    • 2.3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY (103)
      • 2.3.1. Phương hướng nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong các lễ hội của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng hiện nay (103)
      • 2.3.2. Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong các lễ hội của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng hiện nay (111)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (122)
  • PHỤ LỤC (127)

Nội dung

Giá trị văn hóa của các dân tộc được thể hiện qua rất nhiều yếu tố, đó có thể là ngôn ngữ, trang phục, tín ngưỡng, cách tổ chức gia đình,… trong đó đáng chú ý nhất giá trị văn hóa của cá

Trang 1

-o0o -

TRẦN HỬU TÍNH

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

CỦA ĐỒNG BÀO KHMER

Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

TRẦN HỬU TÍNH

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

CỦA ĐỒNG BÀO KHMER

Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Ngọc Miến Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này

Tác giả

Trần Hửu Tính

Trang 4

& Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – nơi đã trang bị cho tôi thêm những kiến thức khoa học trong quá trình học tập nâng cao trình độ và nghiên cứu khoa học của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Vũ Ngọc Miến – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thư viện trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh; và các tác giả với những công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn tôi thực hiện Đây là nơi cung cấp cho tôi những tư liệu quan trọng trong quá trình tôi thực hiện đề tài luận văn của mình

Xin cảm ơn thư viện tỉnh Sóc Trăng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng, Sở Khoa học – Công nghệ tỉnh Sóc Trăng đã tạo điều kiện để tôi tiếp cận nguồn tài liệu hết sức phong phú và đa dạng

Xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu, nhiệt tình của các bạn học ở các khoá học trong khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, các anh chị học viên Cao học khoa Triết học trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ tác giả Đặc biệt là quan tâm động viên khuyến khích cũng như sự thông cảm sâu sắc của gia đình, thầy cô và bè bạn Nhân đây tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu đậm

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Trần Hửu Tính

Trang 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 7

6 Ý nghĩa của đề tài 7

7 Kết cấu của đề tài 7

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA 8

1.1 VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 8

1.1.1 Định nghĩa văn hóa – giá trị văn hóa 8

1.1.2 Vai trò của văn hóa 14

1.1.3 Đặc trưng của văn hóa 25

1.2 KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI - BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG CÁC LỄ HỘI 28

1.2.1 Khái quát chung về lễ hội và giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống 28

1.2.2 Khái quát về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa 33

Kết luận chương 1 38

Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY 41

2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG 41

2.1.1 Khái quát về giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng 41

2.1.2 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng 52

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN - PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY 58

2.2.1 Quá trình triển khai 58

Trang 6

2.2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế công tác bảo tồn, phát huy giá

trị văn hóa lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng 82

2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY 97

2.3.1 Phương hướng nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong các lễ hội của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng hiện nay 97

2.3.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong các lễ hội của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng hiện nay 105

Kết luận chương 2 109

PHẦN KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHỤ LỤC 121

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia có nền văn hiến lâu đời, đó là những giá trị quý báu của dân tộc ta được được hun đúc và giữ gìn qua hơn hàng nghìn năm trong lịch sử dựng nước và giữ nước Lịch sử đã chứng minh trình độ phát triển của của một quốc gia không chỉ được đo lường qua trình độ phát triển kinh tế mà còn cả bề dày giá trị nền văn hóa của quốc gia đó Thấy được vai trò của văn hóa và tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc, trong văn kiện Đảng lần thứ XII có viết “Di sản văn hóa là tài sản, của cải quý báu kết tinh sự sáng tạo lâu dài của dân tộc do lịch

sử để lại, bao gồm các di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa còn là cơ sở để liên kết cộng đồng, là nền tảng để sáng tạo các giá trị văn hóa mới, là tiền đề để mở rộng giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trên thế giới

Di sản văn hóa không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc, mà còn là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng qua hệ thống di sản văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay Vì vậy, đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ và phát huy vai trò của di sản văn hóa dân tộc là công việc vừa cơ bản, vừa cấp bách, cần phải được tiến hành nghiêm túc, kiên trì và thận trọng.”

Nhân loại đã từng chứng kiến nhiều nền văn hóa sáng bừng lên rồi sau đó tắt dần đi theo dòng chảy của lịch sử Có những nền văn hóa được nâng lên một tầm cao mới, cũng có những nền văn hóa bị xóa mòn đi bởi những giá trị bên ngoài tác động vào Ngày nay, chúng ta đang bước vào thời kỳ hội nhập, thời kỳ kinh tế thị trường, bên cạnh hội nhập kinh tế, nền văn hóa dân tộc cũng có điều kiện giao thoa với các giá trị bên ngoài Tuy nhiên trong quá trình hội nhập này, bản sắc văn hóa dân tộc không được gìn giữ và phát huy thì dễ dẫn đến sự hòa tan, mất bản sắc riêng của dân tộc Trên thực tiễn cũng đã làm rõ vấn đề này, nhiều giá trị văn hóa không được quan tâm đầu tư, không gìn giữ và bảo tồn dẫn đến mai một và dần đi vào dĩ vãng

Trang 8

Việt Nam là một quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, bên cạnh những giá trị truyền thống chung, mỗi dân tộc có những bản sắc văn hóa riêng, điều này góp phần nên sự đa dạng trong thống nhất về văn hóa ở Việt nam Giá trị văn hóa của các dân tộc được thể hiện qua rất nhiều yếu tố, đó có thể là ngôn ngữ, trang phục, tín ngưỡng, cách tổ chức gia đình,… trong đó đáng chú ý nhất giá trị văn hóa của các dân tộc thể hiện rõ nét qua các lễ hội truyền thống Qua các lễ hội, các dân tộc không chỉ thể hiện nét đặc sắc, độc đáo riêng của dân tộc mình mà qua đó còn thể hiện cả một giá trị tinh thần bền vững được giữ gìn từ thế hệ này sang thế hệ khác Cũng giống như nhiều tỉnh thành khác, Sóc Trăng không chỉ nổi danh với những ngôi chùa, mà song song với nó là những lễ hội, phong tục văn hóa đặc sắc của người Khmer Đây là những giá trị đặc sắc đã được cộng đồng người Khmer Sóc Trăng giữ gìn trong suốt quá trình hình thành và phát triển cho đến bây giờ Những lễ hội văn hóa như Chol Chnam Thmay, Lễ hội Đôn ta, Lễ hội Óc Om Bóc… không chỉ là phong tục tập quán của các thế hệ người trước để lại mà bên trong đó là cả đời sống tinh thần của cộng đồng Khmer từ trước đến nay Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thấy dân tộc Khmer là một dân tộc thiểu số, đời sống kinh tế còn rất nhiều khó khăn, phần lớn trình độ văn hóa còn thấp… Chính

vì vậy trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài, các bản sắc văn hóa của người Khmer Sóc Trăng nếu không được ý thức giữ gìn và phát huy một cách đúng đắn thì dễ bị mất bản sắc và thậm chí là mất đi sự tồn tại hiện có của nó

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay giữ vai trò hết sức quan trọng không chỉ trong công tác văn hóa mà trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Bảo tồn giá trị văn hóa đóng góp quan trọng trong việc giữ gìn vẹn nguyên những giá trị truyền thống trước sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường Đồng thời công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa giúp chúng ta nghiên cứu một cách đầy đủ về thực trạng, phát hiện kịp thời những dấu hiệu phai nhạt, những yếu tố lai căng hay những yếu tố đã lỗi thời cổ hủ không còn phù hợp để từ đó có những biện pháp xử

lý phù hợp

Trang 9

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, chính sách văn hóa đã được thực hiện rộng rãi từ trung ương đến địa phương, công tác giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị đạt được, vì một số nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, nhiều giá trị văn hóa đặc biệt là các lễ hội của người Khmer ở Sóc Trăng

có dấu hiệu phai nhạt, có nhiều lễ hội dần đi vào quên lãng trong tâm thức người dân Sẽ là một thất thoát lớn nếu như chúng ta thờ ơ, tiếp tục không quan tâm đến việc giữ gìn các giá trị văn hóa ở các dân tộc Thấy được tầm quan trọng của vấn

đề này, tác giả luận văn chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay” làm đề tài

luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới vấn đề văn hóa và giá trị văn hóa đã được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu Các tác giả đã làm sáng tỏ một số nội dung lý luận cơ bản và thực tiễn về văn hóa, giá trị văn hóa, biến đổi các giá trị văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay… Liên quan vấn đề này, ta có thể chia theo các hướng nghiên cứu như sau:

Hướng các công trình nghiên cứu về văn hóa và giá trị văn hóa, đây là một hướng tương đối rộng có thể chỉ ra một số công trình tiêu biểu sau: Grant Evans

với tác phẩm “Bức khảm văn hóa châu Á”( Nxb Văn hóa dân tộc, 2001), đây là

một công trình nghiên cứu khá phổ quát, tiếp cận văn hóa từ các góc nhìn gia đình, cộng đồng, tộc người Bằng cách khái quát nền văn hóa đặc sắc của các quốc gia đơn lẻ Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, tác giả đã góp phần làm toát lên sự đa dạng và phức tạp của các nền văn hóa Châu Á

Cùng hướng nghiên cứu về văn hóa và giá trị văn hóa trong nước chúng ta có

thể nhắc đến “Cơ sở văn hóa Việt Nam”( Nxb Giáo Dục, 1999) của tác giả Trần

Ngọc Thêm Tác giả đã trình bày hệ thống và rõ ràng về các vấn đề văn hóa học và văn hóa Việt Nam, văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống tập thể, văn hóa tổ

Trang 10

chức đời sống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử

với môi trường xã hội Bên cạnh đó, “Bàn về văn hiến Việt Nam” (Nxb KHXH ,

1996) của tác giả Vũ Khiêu đã góp phần khái quát về tiến trình phát triển của nền văn hóa Việt Nam, luôn song hành cùng sự phát triển của lịch sử dựng nước và giữ

nước của dân tộc ta Tác giả Phan Ngọc với tác phẩm “Bản sắc văn hóa Việt Nam”( Nxb Văn Học, 2004), tác giả đã trình bày một số khái niệm cơ bản về văn

hóa đồng thời chỉ ra sự đặc sắc trong giao lưu văn hóa ở Việt Nam Quan trọng nhất, tác giả đã đóng góp quan trọng trong việc đề xuất một số giải pháp để bảo vệ

văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập hiện nay

Hướng nghiên cứu về các giá trị văn hóa của người Khmer nói chung, có các

công trình đã công bố như “Ngôi chùa – trung tâm giáo dục và sinh hoạt văn hóa

ở Phum, Sorc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Cuốn “Phum Sóc Khơ

me ở đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Nguyễn Khắc Cảnh, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 1998 Tác giả đã khái quát các loại hình Phum, Sorc và vai trò của các loại

hình này đối với văn hóa người Khmer Công trình “Dân tộc Khmer Nam Bộ”(

Nxb Chính trị quốc gia, 2009) của tác giả Phan An, tác giả đã bước đầu tìm hiểu về nét văn hóa của dân tộc Khmer Nam Bộ nói chung Cũng trong hướng nghiên cứu

này, có công trình nghiên cứu do nhà nghiên cứu Võ Văn Sen chủ nhiệm “Một số vấn đề cấp bách đặt ra trong quá trình đồng bào dân tộc Khơ me ở đồng bằng sông Cửu Long đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” – đề tài nghiên cứu

khoa học trọng điểm của Đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2006 Tác giả đã tập trung nghiên cứu cơ sở kinh tế xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ

ra một số vấn đề cấp bách và đề xuất một số giải pháp để cộng đồng người Khmer

ở đồng bằng sông Cửu Long bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một hướng nghiên cứu khác là tập trung nghiên cứu về các giá trị văn hóa của dân tộc Khmer qua các lễ hội, tập tục của họ Trong hướng này có các công

trình đã công bố như: “Phong tục và lễ nghi vòng đời người Khmer Nam Bộ”( Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002) của tác giả Trần Văn Bổn, “Lễ hội Khmer Nam Bộ” (Nxb

Văn hóa Dân tộc, 1988) của tác giả Sorya… các tác giả đã trình bày một cách sinh

Trang 11

động và tương đối đầy đủ về các loại hình lễ hội, tập tục của người Khmer Nam

Bộ nói chung, giá trị của các loại hình này trong đời sống của họ

Các tác giả Sơn Phước Hoan (Chủ biên), Sơn Ngọc Sang, Danh Sên với công

trình “Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam bộ”, (Nxb Giáo dục,

1998) Công trình đã mô tả 8 lễ hội truyền thống của người Khmer Nam bộ thường xuyên diễn ra trong năm Đồng thời qua đó nhóm tác giả phản ánh nhiều khía cạnh trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng cùng với các nghi thức, cách thực hiện trong hoạt động lễ hội của người Khmer

Tác giả Sơn Hồng Vân với nghiên cứu “Lễ hội của người Khmer Sóc Trăng” (Luận văn tốt nghiệp trường Đại học mở TP Hồ Chí Minh, năm 1998) Tác giả đã

trình bày một cách hệ thống các đặc điểm, ý nghĩa, đối tượng của các lễ hội, đồng thời bước đầu tác giả phân loại lễ hội của người Khmer ở Sóc Trăng thành 3 loại hình, gồm: Các lễ hội truyền thống được tổ chức theo định kỳ; các nghi lễ theo tín ngưỡng Phật giáo và các lễ hội theo tín ngưỡng dân gian tổ chức không định kỳ thường xuyên diễn ra trong đời sống sinh hoạt tinh thần của người Khmer Tuy nhiên công trình chỉ dừng lại ở việc giới thiếu, khái quát các lễ hội của cộng đồng dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng mà chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng, tình hình biến đổi và những giải pháp cụ thể để góp phần bảo tồn và phát huy các lễ hội truyền thống

Bên cạnh đó, công trình “Tác động của phong tục tập quán đến phát triển kinh

tế - xã hội cộng đồng người Khmer ở Sóc Trăng” của tác giả Trần văn Bé chủ biên

năm 2007, đã góp phần chỉ ra vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Công trình chỉ ra mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa văn hóa với các thành tố khác Tuy nhiên công trình chưa làm rỏ những nét đặc trưng của phong tục tập quán của công đồng người Khmer Sóc Trăng với các dân tộc khác và đặc biệt là phân biệt với cộng đồng người Khmer ở các tỉnh thành, khu vực khác

Đối với các học giả là người Khmer ở Campuchia cũng có rất nhiều công trình tập trung nghiên cứu về văn hóa truyền thống, về văn minh Khmer, các nghi

lễ tôn giáo, nghi lễ truyền thống của dân tộc Khmer Campuchia Có thể chỉ ra một

số công trình nghiên cứu như sau:

Trang 12

Nhât Nu với công trình “Tum niem tum lop nưng pro pey ney Khmer” (Phong tục tập quán và truyền thống Khmer) năm 1958 Đây là cuốn sách giới thiệu khái quát về phong tục, tập quán trong sinh hoạt đời thường của người Khmer nhằm hướng đến giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống ứng xử cho con người Tác giả đã mô tả về đặc điểm trong văn hóa truyền thống với những nét đặc trưng tiêu biểu được thể hiện trong cách thức giao tiếp, ứng xử trong xã hội

Công trình nghiên cứu “Donh trây nưng chi vith Khmer” (Âm nhạc với

cuộc đời người Khmer – Music and Khmer Ways of Life), năm 1995 Cuốn sách

đã giới thiệu các loại hình âm nhạc truyền thống của người Khmer gắn với đời sống sinh hoạt của con người mọi lúc mọi nơi từ khi mới sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời, làm rõ vị trí vai trò của các loại hình âm nhạc trong không khí các phong tục – lễ hội

Nhìn chung, vấn đề văn hóa, giá trị văn hóa của các dân tộc nói chung và dân tộc Khmer nói riêng đã có rất nhiều công trình nghiêm cứu bàn đến Mỗi công trình đều bàn đến những khía cạnh khác nhau, song đây là một vấn đề hết sức rộng và có chiều sâu cần được chúng ta tập trung khai thác nhiều hơn Các công trình chỉ dừng lại ở mức độ khái quát những giá trị văn hóa của dân tộc Khmer nói chung mà chưa đi vào nghiên cứu giá trị văn hóa của dân tộc Khmer ở các khu vực địa lí khác nhau Giá trị văn hóa người Khmer nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng có rất nhiều giá trị đặc sắc và nó được thể hiện qua các lễ hội, phong tục, hoạt động hằng ngày của cộng đồng người Khmer Tiếp thu những kết quả có từ trước, tác giả luận văn tập trung nghiên cứu vào giá trị văn hóa truyền thống trong các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer ở Sóc Trăng, tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa trong các lễ hội này

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn: Đề tài được thực hiện với mục đích bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Để thực hiện được mục đích trên, đề tài

tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Thứ nhất, làm sáng tỏ các nội dung về văn hóa và giá trị văn hóa;

- Thứ hai, trình bày giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống của đồng bào

Khmer ở tỉnh Sóc Trăng;

- Thứ ba, nêu thực trạng và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn

hóa trong các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Tư tưởng Hồ Chí Minh – quan điểm của đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa

Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Lịch sử và logic, đối chiếu so sánh, thống kê, khái quát hóa, điều tra xã hội học,…

6 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa lý luận: Đề tài đã làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản như: văn hóa, giá trị văn hóa, vai trò của giá trị văn hóa trong đời sống xã hội…

Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài đã chỉ ra thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được thực hiện với 2 chương và 6 tiết

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA

1.1 VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI

1.1.1 Định nghĩa văn hóa – giá trị văn hóa

Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, cùng chung sống trên một lãnh thổ, nhưng ở các dân tộc vẫn giữ cho mình những nét văn hóa bản sắc riêng, thể hiện tính đa dạng trong sự thống nhất Những nét đặc sắc đó được gìn giữ, bảo tồn

và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác, đó có thể là ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán, … Và một trong các thành tố không thể không nhắc đến đó là các lễ hội, nét đặc sắc riêng của mỗi dân tộc

Tìm hiểu về văn hóa và giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống của cộng đồng người Khmer, trong lĩnh vực nghiên cứu này cũng như những khái niệm được sử dụng trong luận văn có nội hàm cần được thống nhất đó là “văn hóa – giá trị văn hóa” “lễ, hội, lễ hội”, …

Khái niệm văn hóa

Trong suốt quá trình tồn tại của mình, con người không chỉ lệ thuộc vào tự nhiên mà luôn biến đổi chúng theo nhu cầu sống của mình Trong suốt quá trình

đó, con người đã có những đóng góp nhất định để kiến tạo nên những diện mạo mới của thế giới Qua các thời kỳ, người ta thường gọi với các khái niệm văn hiến, văn minh, văn hóa Đặc biệt trong những thập kỷ gần đây, thuật ngữ “văn hóa” được xuất hiện khá phổ biến trên hầu hết các sách báo, diễn đàn, người ta đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn vấn đề văn hóa trên mọi mặt đời sống xã hội Vậy văn hóa

là gì? Nó có đặc điểm như thế nào? Đã có rất nhiều câu hỏi tương tự như thế được đặt ra, nhưng từ trước đến nay vẫn chưa có một nhà nghiên cứu nào đưa ra câu trả lời một cách hoàn chỉnh tuyệt đối Bởi lẽ, văn hóa bao trùm toàn bộ những lĩnh vực rộng lớn của tư duy cho đến hành động, cả thế giới quan lẫn nhân sinh quan và

Trang 15

cả khoa học, đạo đức, pháp luật, phong tục tập quán, chúng ta chỉ có thể định nghĩa văn hóa dưới góc độ khái quát nhất, trừu tượng nhất mà thôi

Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện khá sớm trong lịch sử nhân loại, nhưng trở thành một định nghĩa khoa học thì phải trải qua một thời gian khá dài trong tiến trình phát triển của mỗi dân tộc Văn hóa là một khái niệm đã xuất hiện khá sớm ở phương đông lẫn phương tây Dù có một số quan điểm khác nhau nhưng điều không ai chối cãi đó là văn hóa là những giá trị cốt lỗi do con người tạo ra

Cụ thể, theo quan điểm phương đông mà trực tiếp và gần gũi nhất là ở Trung Quốc, “văn hóa” là một từ Hán Việt được được cấu tạo từ chữ “văn” với chữ

“hóa” Có thể định nghĩa “văn” là đẹp, cái đẹp, vẻ đẹp… còn “hóa” có nghĩa là thay đổi, “văn hóa” có nghĩa là làm cho đổi mới, tốt đẹp hơn, nói một cách khác, văn hóa là cải hóa, nhân cách hóa con người trở nên tốt đẹp hơn Nhìn chung, triết

lý phương đông có cái tính ưu việt của nó là hướng con người ta đến những giá trị tốt đẹp theo những khuôn mẫu nhất định Tuy nhiên hạn chế của nó là quy định mọi hoạt động của con người theo những quy tắc chung, làm thui chột sáng tạo cá nhân, tính chất nệ cổ nặng nề… Thực ra, văn hóa không chỉ dừng lại ở “sự biến đổi, giáo hóa cho con người được tốt đẹp hơn” mà nó còn là khái niệm chỉ toàn bộ hoạt động của con người trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội… và

nó có ý nghĩa rộng hơn là bao gồm tất cả những cái không có sẵn, do con người bằng năng lực nhận thức và lao động để thích ứng, sáng tạo làm cho cuộc sống của con người ngày càng hoàn thiện hơn

Ở phương Tây, theo các nhà nghiên cứu, khái niệm văn hóa có nguồn gốc từ chữ La tinh “Culture” (có nghĩa là cày cấy, vun trồng, trồng trọt – gắn liền với hoạt động nông nghiệp) về sau được hiểu theo nghĩa rộng hơn là hoạt động vun trồng, bồi đắp, nuôi dưỡng tinh thần của con người, gắn chặt với lao động sáng tạo của con người

“Văn hóa thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội nghĩa là làm cho con người và xã hội ngày càng tiến bộ hơn, khiến cho con người và

xã hội ngày càng đổi mới, ngày một xa rời trạng thái nguyên sơ Vì vậy, văn

Trang 16

hóa là trạng thái của con người ngày càng tách khỏi giới động vật, xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con người” (Vũ Khiêu, 1996, trang 480-48)

Như vậy, về phương đông lẫn phương tây, “văn hóa” đã được quan niệm là gắn liền với các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, đào tạo con người ngày càng được hoàn thiện hơn về nhân cách Có thể nói, khái niệm văn hóa được sử dụng phổ biến và phát triển mạnh mẽ vào giữa TK XIX khi trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành như: nhân học, xã hội học, dân tộc học, triết học, … Vào cuối thế kỷ 19, Eduard Burnett Taylor, nhà xã hội học người Anh, là người đầu tiên đưa

ra định nghĩa về văn hóa trong công trình “văn hóa nguyên thủy” (Primitvie Cultute) xuất bản năm 1871 cho rằng

“Văn hóa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kỳ năng lực thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội” (Tylor, 2001, trang 234) Cho đến nay, tiến trình phát triển của xã hội trên toàn thế giới thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau trong nhiều lĩnh vực thuộc khoa học

tự nhiên và khoa học xã hội Một số tác giả định nghĩa như sau:

Trong Bách khoa toàn thư Liên Xô năm 1973 định nghĩa: “Văn hóa là trình độ phát triển của xã hội và của con người trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, được thể hiện dưới những kiểu và các hình thức tổ chức đời sống, những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người tạo ra” (Lê Đức Tiết, 2005, trang 25) Trong Bách khoa toàn thư Pháp “văn hóa là tổng thể những kiến thức được trí óc thu nhận đã góp phần làm giàu trí óc” (Đinh Văn Lâm, Nguyễn văn Hồng, 1998, trang 102)

Ngay trong Diễn văn khai mạc lễ phát động “thập niên quốc tế phát triển văn hóa” ở Pháp vào ngày 21/1/1998, Tổng thư ký UNESCO Federico Mayor đã định nghĩa “văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc Văn hóa là thuộc tính bản chất của con người mà con người vốn là quả tim đích

Trang 17

thực của văn hóa, của một nền văn hóa” (Mai Ngọc Chừ, 1998, trang 23)

Có thể nói, Unesco thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của sự phát triển

xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Văn hóa không chỉ là yếu tố nội sinh của sự phát triển mà còn là mục tiêu, động lực cho sự phát triển xã hội Bên cạnh đó, văn hóa còn giúp cho con người tự hoàn thiện quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia Định nghĩa này đã đưa cái nhìn toàn diện về văn hóa, nhìn nhận văn hóa như một tổng thể thống nhất các đặc trưng của con người và là yếu tố để phân biệt con người với các loài vật khác

Ngoài ra, ở Việt Nam cũng có nhiều nhà văn hóa định nghĩa khác nhau “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Viện sử học, trang 10) Định nghĩa này nhấn mạnh văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và tinh thần do chính con người sáng tạo ra

Khi vận dụng văn hóa vào thực tế trong cuộc sống, thuật ngữ “văn hóa” không chỉ thuộc về thượng tầng kiến trúc, Bác Hồ từng nói

“vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng, toàn bộ sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là

sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, 1995, trang 431) Định nghĩa này khẳng định hoạt động là phương thức phát triển của văn hóa Đây là định nghĩa rất có giá trị để giúp cho việc nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương V khóa 8 xác định “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện HNBCHTW 5 khóa VIII, 1998, trang 10)

Trang 18

Như vậy, văn hóa chính là cốt lõi sự sáng tạo của trí tuệ, tâm hồn của mỗi dân tộc, là tính năng động được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hóa dân tộc điều có bản sắc riêng, bản sắc văn hóa là cơ sở, căn cứ phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Từ đây, có thể phát hiện ra tính cách dân tộc, khám phá những đặc điểm về tâm lý, tình cảm, tâm thức dân tộc Bởi vì yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa

Như trên đã trình bày, khái niệm văn hóa dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, người ta cũng chia văn hóa ra nhiều loại Sau đây là một vài cách phân loại tiêu biểu đã được nhiều người thừa nhận:

Cách phân chia thứ nhất: Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (hay còn được gọi là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) văn hóa vật chất được thể hiện qua các vật thể mang dấu ấn tác động của con người trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, còn văn hóa tinh thần thể hiện trong lối ứng xử giao tiếp giữa con người với con người trong cộng đồng thông qua các phong tục tập quán, lễ nghi… Đây là cách phân chia được nhiều người tiếp nhận nhất, tuy nhiên sự phân chia này cũng mang tính chất tương đối vì suy đến cùng văn hóa vật chất là sự vật chất hóa nhu cầu tinh thần của con người, và văn hóa tinh thần là sự truyền dẫn trí tuệ, tâm hồn, tình cảm của con người vào trong nhu cầu vật chất, là một cách để con người thể hiện nhu cầu tinh thần của mình Cho nên hai hình thức này điều được hiểu là sự sáng tạo của con người

Cách phân chia thứ hai của GS.TS Trần Ngọc Thêm văn hóa bao gồm: Văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử, văn hóa tổ chức Văn hóa nhận thức bao gồm nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người Văn hóa tổ chức bao gồm văn hóa tổ chức đời sống cá nhân và tổ chức đời sống tập thể Văn hóa ứng xử bao gồm ứng

xử với môi trường tự nhiên với môi trường xã hội (Trần Ngọc Thêm, 1999) Cách phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối, vì không thể hoàn toàn tách biệt một cách rạch ròi giữa các loại văn hóa như thế, bởi nói chung mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có nhận thức, nên trong văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức đã có văn hóa nhận thức, ngược lại từ trong ứng xử và tổ chức con người lại

Trang 19

hình thành nên văn hóa nhận thức Tuy nhiên các cách phân chia như trên cũng đã

có những đóng góp nhất định, nó đã giúp người nghiên cứu dễ tiếp cận để phân tích và xác định văn hóa

Giá trị văn hóa

Trong lịch sử đã chứng minh, với những điều kiện xã hội nhất định, có những nền văn hóa được phát triển mạnh mẽ, tạo nên dấu ấn riêng của từng dân tộc, bên cạnh đó cũng có rất nhiều nền văn hóa bị phai nhạt, thậm chí là mất đi vĩnh viễn Điều đó bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu nhất đó chính là những giá trị văn hóa đó đã không còn phù hợp trong tiến trình phát triển hoặc nó kiềm hãm sự phát triển chung của tự nhiên và xã hội Để nhận thức một cách đúng đắn về vấn đề này, chúng ta cần phải hiểu được giá trị văn hóa là gì? Nó

có phải là những giá trị tinh thần thuần túy mà nhiều người vẫn thường hiểu hay không?

Thuật ngữ “giá trị” bắt nguồn từ chữ là tinh “valere” có nghĩa là khỏe mạnh, tốt, đáng giá… giá trị là khái niệm được đề cập ở nhiều bộ môn khoa học khác nhau như: toán học, xã hội học, triết học, nghệ thuật, văn hóa học… Do vậy, trong mỗi bộ môn khoa học, khái niệm này mang nội hàm khác nhau

Theo từ điển triết học (1986) Nxb Tiến bộ, thì giá trị được hiểu một cách khái quát là đặc tính của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên chúng không phải là cái vốn có

do thiên nhiên ban cho sự vật hoặc hiện tượng, không phải đơn thuần do kết cấu bên trong khách thể, mà do khách thể bị hút vào phạm vi tồn tại của con người và trở thành cái mang những quan hệ xã hội nhất định Khái niện giá trị được sử dụng nhằm nêu bật giá trị tích cực hoặc tiêu cực của khách thể ấy đối với con người và

xã hội Và bản chất của toàn bộ cấu trúc giá trị xét cho đến cùng dựa trên cái đem lại lợi ích cho con người (M.Roodentan, P.Iudin, 1955, trang 206)

Giá trị văn hóa đã từ lâu được đặt ngang hàng bên cạnh các giá trị khác Trong cuốn Bách khoa toàn thư văn hóa học thế kỷ XX của Nga xuất bản 1998 coi

“giá trị là những thành tố quan trọng nhất của văn hóa con người bên cạnh các chuẩn mực và các lý tưởng” Giá trị văn hóa cũng do chính con người sáng tạo ra

Trang 20

Giá trị văn hóa là những giá trị vật thể và phi vật thể do con người tạo ra và được thừa nhận một cách phổ biến và khá bền vững trong quá trình nhận thức, ứng

xử và tổ chức của một dân tộc hay một xã hội nhất định Vì vậy, mỗi xã hội, mỗi cộng đồng đều hình thành các chuẩn mực của con người theo những giá trị văn hóa nhất định, đồng thời các giá trị văn hóa có tính chất hướng dẫn các hành vi của con người, một khi giá trị văn hóa đã nâng thành những quy chuẩn mang tính bắt buộc, những ai suy nghĩ và hành động sai trái hay vượt ra những quy chuẩn đó thì bị dư luận xã hội lên án

Như vậy, giá trị văn hóa bao gồm cả về giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra Nhiều người đã đồng nhất giá trị văn hóa với giá trị tinh thần, đây là một quan niệm sai lầm Tuy nhiên, sự phân biệt một cách rạch rồi về vấn đề này cũng không hề đơn giản, bởi lẽ các giá trị vật thể và tinh thần luôn đan xen, thâm nhập lẫn nhau, thống nhất với nhau Các giá trị vật chất nào cũng mang theo một giá trị tinh thần, ngược lại các giá trị tinh thần đều thúc đẩy con người lao động, sáng tạo ra giá trị vật chất

1.1.2 Vai trò của văn hóa

Lịch sử đã cho thấy, trình độ phát triển của một quốc gia không chỉ đo lường qua trình độ phát triển kinh tế mà bên cạnh đó là yếu tố văn hóa Một quốc gia mà không chú trọng hoặc quan tâm chưa đúng mức về văn hóa thì tất yếu sẽ phải trả một cái giá rất đắc Thấy được tầm quan trọng của văn hóa, qua các kỳ đại hội từ Hội nghị Trung ương bốn khóa VII, Trung ương hai, Trung ương năm, Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII; Trung ương năm, Trung ương mười (khóa IX), Trung ương năm khóa X đã ra các nghị quyết quan trọng về phát triển văn hóa và giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, về tư tưởng – lý luận, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng… Các văn kiện Đảng đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước… bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”; coi phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học – công nghệ là “quốc sách hàng đầu”; “đầu tư cho văn hóa, giáo dục - đào taọ,

Trang 21

khoa học - công nghệ là đầu tư cho phát triển”; “xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Kết luận HNBCHTW 10 khóa IX, 2005)

Văn hóa là nền tảng tinh thần

Một trong những vai trò quan trọng nhất của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Xem văn hóa giữ vai trò làm nền tảng tinh thần của xã hội tức là xem

đó là yếu tố mà trên đó các yếu tố khác của đời sống xã hội được triển khai, thực hiện tạo nên sự vận động của xã hội Văn hóa là cái nền móng căn bản hình thành nên đời sống tinh thần của toàn xã hội, quy định chiều hướng vận động của toàn xã hội, quy định năng lực và phẩm chất của con người trong xã hội đó Trong văn kiện Đảng đã khẳng định “chăm lo văn hóa là chăm lo cũng cố nền tảng tinh thần của xã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có

sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện HNBCHTW 5 khóa VIII, 1998, trang 55)

Trong thực tiễn, bên cạnh những điều kiện vật chất nhất định, chính những yếu tố tinh thần là yếu tố quyết định đến sự phát triển nhanh hay chậm, thành công hay thất bại trong mọi hoạt động Các nhà sáng lập của chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng đã luôn khẳng định

“sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật… đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả chúng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế Vấn đề hoàn toàn không phải chỉ có hoàn cảnh kinh tế mới là nguyên nhân, chỉ có nó là tích cực, còn tất cả những cái còn lại đều chỉ là hậu quả thụ động Không, ở đây tác động qua lại trên cơ sở kinh tế, xét đến cùng bao giờ cũng mở đường đi cho mình” (C.Mác và Ăng ghen, Toàn tập, tập 39, 1999, trang 281)

Những tư tưởng này về sau được C.Mác và Ăng ghen khái quát trong lý luận

về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Về cơ bản có thể coi vai trò của văn hóa cũng chính là sự thể hiện của tính độc lập tương đối, tính năng động, sáng tạo

Trang 22

của ý thức xã hội Mặc khác, nói văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần nghĩa là nói đến sự tác động của văn hóa đến toàn bộ các mặt của đời sống tinh thần xã hội Khi nghiên cứu về vai trò nền tảng tinh thần của văn hóa trước hết phải hiểu được những chuẩn mực của nền tảng Khía cạnh chuẩn mực của văn hóa được biểu hiện ở rất nhiều khía cạnh, trong đó biểu hiện rõ nhất trong các phong tục, tập quán Phong tục là hệ thống các chuẩn mực có tính ổn định trong các hoạt động của con người và trở thành tập quán Phong tục được truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác Những phong tục khi đã trở thành những khuôn mẫu, phong tục sẽ định hướng hành vi của con người Ngược lại với những phong tục không phù hợp với tiến trình phát triển xã hội, nó sẽ cản trở việc xác lập chuẩn mực văn hóa

Như vậy, với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa định hướng con người hoạt động dựa trên những chuẩn mực nhất định Tuy nhiên muốn hiểu một cách sâu sắc về vai trò nền tảng tinh thần của văn hóa, chúng ta cần phải xác định rõ yếu tố, thành phần nào của văn hóa và vì sao nó đóng vai trò là nền tảng

Thứ nhất, hệ tư tưởng Hệ tư tưởng là yếu tố trung tâm chi phối các chuẩn

mực, giá trị của văn hóa Có thể khái quát, hệ tư tưởng là hệ thống quan điểm, tư tưởng của một giai cấp, phản ánh lợi ích của giai cấp ấy trong một xã hội nhất định

Hệ tư tưởng là chất kết dính các thành tố của văn hóa Trong bất cứ xã hội nào hệ tư tưởng luôn bộc lộ, thể hiện trong các đường lối chính trị, pháp luật, văn học nghệ thuật,… Trong cuốn Nguyên lý Triết học Mác-Lênin có định nghĩa như sau:

“Hệ tư tưởng là hệ thống những quan điểm, quan niệm phản ánh trực tiếp hay gián tiếp những đặc điểm kinh tế xã hội của một xã hội, thể hiện địa vị, lợi ích

và mục đích của những giai cấp xã hội nhất định và nhằm duy trì hoặc biến đổi chế độ xã hội hiện tồn” (Nguyên lý triết học Mác-Lênin, 1979, trang 329) Với tính cách là nền tảng tinh thần của xã hội, hệ tư tưởng mang một số chức năng sau: Chức năng nhận thức; chức năng đánh giá; chức năng dự báo tương lai

và chức năng điều chỉnh Hệ tư tưởng có chức năng nhận thức hiện thực Tuy nhiên, khác với khoa học, nó phản ánh hiện thực thông qua lăng kính chủ quan của một giai cấp, một bộ phận người trong xã hội, do đó hình ảnh chủ quan đó có thể

Trang 23

bị xuyên tạc, bị đảo ngược Dù có tính khoa học hay không khoa học, bất cứ hệ tư tưởng nào cũng có tác dụng ít nhiều liên kết về mặt nhận thức của một bộ phận xã hội nhất định Về chức năng đánh giá, bất kỳ hệ tư tưởng nào cũng có sự đánh giá nhất định đối với trật tự xã hội hiện tồn, phản kháng hay biện hộ cho trật tự xã hội đó; nó đưa ra những tiêu chuẩn nhất định để đánh giá hành vi con người, như thế nào là hành vi đúng, lối sống đúng Chức năng dự báo tương lai, đó có thể là tương lai của cuộc sống con người, của xã hội loài người; sự dự báo này có thể là đúng hoặc chỉ là ảo tưởng, sai lầm Chức năng điều chỉnh thể hiện ở chỗ, nó đề ra mục đích nhất định cho cuộc sống và những biện pháp nhất định để con người phấn đấu thực hiện những mục đích đó, có tác dụng điều chỉnh quan hệ giữa người với người, điều chỉnh lối sống và hành động thực tiễn của con người Tất nhiên, mục đích đó có thể là hiện thực hay ảo tưởng

Ở mỗi thời kỳ xã hội nhất định đều có một hệ tư tưởng chủ yếu, nó phản ánh một cách trực tiếp hay gián tiếp tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của thời kỳ đó

Cụ thể trong lịch sử, hệ tư tưởng phong kiến mang đậm nét đặc trưng của thời kỳ phong kiến, hệ tư tưởng tư sản đảm bảo quyền lợi của giai cấp tư sản, … Thậm chí ngay một xã hội hiện nay của chúng ta cũng còn mang nhiều hệ tư tưởng khác nhau Song vẫn thể hiện rõ một hệ tư tưởng chủ đạo đó là hệ tư tưởng vô sản Dĩ nhiên, trong tất cả những hệ tư tưởng đang tồn tại, có nhưng hệ tư tưởng sai lầm phản khoa học - đó là những khuynh hướng bạo lực, khủng bố, cuồng tín

Tuy nhiên khi nghiên cứu hệ tư tưởng với tính cách là một thành tố quan trọng của văn hóa – thành tố thể hiện rõ nét vai trò nền tảng của văn hóa trong xã hội Cần nhận thức rõ hệ tư tưởng có một vai trò rất lớn trong đời sống xã hội Trong thực tiễn, hệ tư tưởng được hình thành dựa trên cơ sở của xã hội hiện tồn và phản ánh sinh động xã hội ấy Khi đã được hình thành hệ tư tưởng tồn tại một cách lâu dài, bền bỉ trong lòng xã hội và trở thành yếu tố trung tâm chi phối các chuẩn mực, giá trị của văn hóa, chi phối mọi hoạt động của con người

Thứ hai, tính chất đa thành tố của văn hóa Văn hóa với tư cách nền tảng tinh

thần của xã hội, bởi lẽ văn hóa mang tính chất đa thành tố, chính tính chất đa thành

Trang 24

tố này làm cho văn hóa can thiệp vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó, các thành tố có thể nhắc đến như văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, vấn đề tín ngưỡng – tôn giáo, … Các thành tố này vừa độc lập tương đối vừa tác động qua lại lẫn nhau, luôn vận hành theo khuynh hướng thống nhất, tạo nên nền văn hóa vừa thống nhất vừa sự đa dạng và phong phú

Khi đề cập đến văn hóa với tính cách một lĩnh vực bao quát đời sống tinh thần

xã hội nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam tập chung vào những lĩnh vực chủ yếu:

tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục và khoa học, văn học, nghệ thuật, phong tục, tập quán, giao lưu văn hóa, các thể chế và thiết chế văn hóa,… Trong những mặt đó,

tư tưởng, đạo đức lối sống được coi là những lĩnh vực quan trọng nhất Đảng ta đã khẳng định: Tư tưởng, đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hóa,… Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương

Làm cho văn hóa trở thành yếu tố cấu thành đời sống và hoạt động xã hội, mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người – Đó là đòi hỏi, yêu cầu trong công tác văn hóa Để cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ các hoạt động đời sống và xã hội, chúng ta phải chủ động khai thác các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc

và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Với tư cách là nền tảng tinh thần, văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, xâm nhập và thẩm thấu vào đời sống hằng ngày, tạo nên sức mạnh tinh thần ở từng cá nhân, tập thể và toàn xã hội Đối với mỗi cá nhân, đó là quá trình hình thành lối sống đẹp, với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, việc hướng đến những giá trị tốt đẹp trở thành thói quen, nhu cầu trong cuộc sống thường trực hằng ngày Đối với mỗi gia đình, đó là quá trình làm gương, giáo dục, hình thành cho con cái lối sống, nếp sống tốt đẹp, lành mạnh Với xã hội, các gia trị chân, thiện, mỹ được đưa lên hàng đầu, phù hợp với chuẩn mực xã hội

và được toàn thể xã hội hưởng ứng tham gia thực hiện làm theo

Chính vì văn hóa có tính chất đa thành tố cho nên công tác văn hóa phải được xác định là một quá trình hết sức phức tạp, đòi hỏi cần có sự quan tâm, tham gia của đông đảo các tầng lớp, bộ phận, Nhà nước và cơ quản thực hiện chính sách văn

Trang 25

hóa và toàn thể xã hội phải gắn kết chặt chẽ với nhau Đồng thời chính tính chất đa thành tố này của văn hóa, văn hóa có tính lan tỏa vào đời sống mỗi cá nhân và cộng đồng, trở thành một nền tảng tinh thần vững chắc trong mọi xã hội

Thứ ba, hệ thống các giá trị tinh thần của văn hóa – yếu tố cốt lõi của bản sắc

văn hóa dân tộc Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến dân tộc Văn hóa đã bắt rễ sâu

và rộng vào trong đời sống của dân tộc, là bộ mặt tinh thần của dân tộc, bao gồm những giá trị bền vững được giữ gìn từ thế hệ này sang thế hệ khác

Bản sắc văn hóa là thiêng liêng, quý giá, nó tạo nên cái đặc thù của một dân tộc Nó được hình thành trong lịch sử lâu dài của một dân tộc, được đúc kết từ kinh nghiệm sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt với con người Nó tồn tại tự nhiên không thể ép buộc nhưng đòi hỏi phải biết giữ gìn, bảo lưu Nó có thể được biểu hiện ra bề ngoài nhưng cũng có thể ẩn sâu trong tâm hồn con người Văn hóa Việt Nam với những giá trị bền vững được vun đắp trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước Có những giá trị dân tộc đã nâng lên thành truyền thống, nó vừa thể hiện bản sắc vừa thể hiện khí phách và sức sống của dân tộc ta Trải qua xuyên suốt lịch sử dân tộc, các giá trị bền vững được chúng ta giữ gìn và phát triển như: lòng yêu nước, ý thức tự lập tự cường, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng… Chính những hệ thống giá trị này đã tạo nên bản sắc rất riêng của dân tộc Việt Nam

Như vậy, khi nghiên cứu các thành tố của văn hóa trong đó hệ tư tưởng đóng vai trò trung tâm chi phối, từ đó hình thành nên các chuẩn mực giá trị định hướng hoạt động của con người Với sự can thiệp ngày càng sâu rộng, chặt chẽ của văn hóa đến toàn bộ đời sống xã hội, văn hóa đã đóng vai trò là nền tảng tinh thần cho

sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội

Văn hóa là mục tiêu cho sự phát triển xã hội

Văn hóa, xét đến cùng bản chất của nó là những sáng tạo nhằm mục đích ngày càng hoàn thiện, toàn diện của con người về cả thể lực, trí tuệ, đạo đức, thẩm

mỹ, tinh thần…, và xã hội loài người với tất cả các mối quan hệ vốn có của nó theo thước đo tiên tiến nhất của thời đại

Trang 26

Về phương diện xã hội, mục tiêu phát triển xã hội gắn liền với sự phát triển của con người, hướng đến giải phóng con người Mục tiêu giải phóng con người,

vì hạnh phúc thật sự của con người, hướng tới một xã hội “trong đó sự phát triển tự

do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [9; tr628] với những chuẩn mực đạo đức đẹp, cao thượng, lành mạnh…; những hành

vi nhân văn; sức lao động, sáng tạo của con người đạt hiệu quả cao là lý tưởng cao cả, là mục tiêu cuối cùng của loài người tiến bộ Những đặc trưng đó chỉ có thể hiện hữu trong một xã hội mà sự phát triển hướng vào lợi ích của tất cả nhân dân lao động và họ là chủ nhân chân chính của đất nước Khi bàn về vấn đề này, Gs Vũ Khiêu đã có nhận định như sau:

“xét đến cùng, mục tiêu đó phải là nâng cao chất lượng sống của con người trong sự kết hợp hài hòa giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và cách sống đẹp, vừa an toàn vừa bền vững không chỉ cho một số ít người mà cho tất cả mọi người, không chỉ cho thế hệ hiện nay mà cho các thế hệ mai sau” (Vũ Khiêu, 1993, trang 24)

Trên thực tiễn của nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh, trình độ phát triển của một quốc gia dân tộc không chỉ đo lường qua trình độ phát triển kinh tế Trên thực tế, có nhiều quốc gia đạt trình độ phát triển kinh tế cao nhưng bên cạnh

đó, các tệ nạn xã hội nhiều hơn, bạo lực, suy thoái đạo đức tràn lan… Về thực chất

để đánh giá sự phát triển xã hội phải dựa trên cơ sở phát triển con người Đây là tiêu chuẩn khách quan để đánh giá xã hội C.Mác từng viết “Trong thời đại của chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó Chúng ta thấy rằng những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt sức lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người Những nguồn của cải mới từ xưa cho đến nay chưa ai biết, dường như có một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá là sự suy đồi về mặt tinh thần Mâu thuẫn đối kháng đó, một bên là nền công nghiệp hiện đại và khoa học với một bên là cảnh bần cùng

Trang 27

hiện nay và sự suy đồi” (C.Mác – Ăng ghen, Toàn tập, tập 12, 1993, trang 10) Như vậy, khi nghiên cứu về xã hội, C.Mác đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó con người là vị trí trung tâm Theo đó, C.Mác xem con người không chỉ là chủ thể của sản xuất mà còn giữ vai trò quyết định trong sản xuất, chủ thể của lịch sử Thông qua lao động sản xuất con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử xã hội Khẳng định sự phát triển xã hội với mục đích duy nhất và cao cả nhất là giải phóng con người thoát khỏi sự nô dịch, tha hóa, là nâng cao năng lực, phát triển toàn diện con người về tâm lực, trí lực, thể lực Trong

“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mác và Ăng ghen viết “… một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (C.Mác – Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, 1993, trang 628) Các nhà sáng lập của chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định lấy con người làm thước đo sự phát triển của xã hội Tất cả các yếu tố, dù là những mảnh ghép nhỏ nhất trong cấu trúc của xã hội đều được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở, mục tiêu hướng đến giá trị cho con người Những yếu tố từ pháp luật, chính trị, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, … Đều là sản phẩm của con người và đều hướng đến

sự phát triển ngày càng toàn diện của con người Liên quan nội dung này, Hồ Chí Minh có viết

“vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? tục ngữ có câu: Có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước Nhưng phát triển để làm gì Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, 2011, trang 59)

Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định

“Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, và đã cố gắng làm nhiều việc theo hướng đó… Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia Phải xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, nhằm phát triển con

Trang 28

người toàn diện, xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái, thiết lập quan hệ thật sự tốt đẹp và tiến bộ giữa con người với con người trong sản xuất và trong đời sống, để

từ đó làm tăng gấp bội hiệu quả kinh tế và xã hội” (Đảng cộng sản Việt nam (1993), Văn kiện hội nghị lần thứ tư BCHTW khóa VII, 1993, trang 10)

Trong đường lối đổi mới của mình vấn đề văn hóa ngày càng được Đảng ta quan tâm Nhân tố văn hóa đã từng bước tham gia vào sự phát triển kinh tế – xã hội Các Đại hội Đảng VII, VIII, IX, X, XI, XII đều đặc biệt quan tâm đến việc phát huy nguồn nội lực, coi đó là cơ sở của sự phát triển kinh tế – xã hội Nói phát huy nội lực là nói phát huy các tiềm năng của con người, của văn hóa dân tộc, coi

đó là tài sản quý giá của quốc gia

Như vậy, mục tiêu cuối cùng của một xã hội tiên tiến thống nhất với bản chất của một nền văn hóa tiến bộ, lấy việc phát triển con người là mục đích cao nhất Đây không phải là sự gặp gỡ ngẫu nhiên mà là một xu hướng tất yếu nảy sinh trong quá trình tìm kiếm con đường phát triển đúng quy luật của nhân loại

Văn hóa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Văn hóa không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực của sự phát triển kinh tế -

xã hội Trước khi xem thành tố nào của văn hóa trở thành động lực và văn hóa trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, chúng ta phải có quan điểm đúng đắn về động lực xã hội Các nhà mácxít đã đưa ra hàng loạt những động lực: mâu thuẫn khách quan của đời sống xã hội, lực lượng sản xuất, khoa học, văn hóa… Điều này cho thấy để xem yếu tố nào thật sự là động lực xã hội là rất khó khăn

Dù đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau, song chúng ta có thể thống nhất động lực xã hội là tất cả những gì có khả năng kích thích, thúc đẩy, làm tăng cường quá trình vận động của xã hội Về cơ bản có thể hiểu, tất cả những cái gì có vai trò nhất định trong sự vận động xã hội theo hướng đi lên đều được xem là động lực của sự phát triển

Là động lực phát triển, văn hóa giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mà trước hết đó là kinh tế Trong nhiều thế kỷ trước, khi lao động chủ yếu là thủ công con người thường quan

Trang 29

điểm phát triển kinh tế phụ thuộc vào lao động và đất đai Adam Smith nói “đất là

mẹ, lao động là cha” khi kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này sẽ giúp tăng trưởng kinh tế

Đến thời kỳ công nghiệp, phần lớn sản xuất dựa trên máy móc, người ta đặc biệt quan tâm đến khâu tổ chức quản lý, kỹ thuật máy móc trở thành yếu tố cơ bản thúc đẩy phát triển Trong thời kỳ này, có rất nhiều lý thuyết phát triển kinh tế - xã hội khác nhau ra đời Lý thuyết “tăng trưởng cân bằng” của Nurkse, lý thuyết “cú hích lớn” của Roseinstein – Rodan, “các giai đoạn tăng trưởng” của Rosto … Các

lý thuyết này dù có khác nhau nhưng có điểm tương đồng là chỉ nhấn mạnh vào yếu tố kinh tế kỹ thuật của sự tăng trưởng mà không chú ý đến yếu tố xã hội, nhân

tố con người

Khác với các lý thuyết trên, Runetz đưa ra học thuyết tăng trưởng kinh tế của mình cho rằng “giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế, sự không công bằng xã hội tăng lên, đến khi tăng trưởng kinh tế đạt mức cao, thì nó sẽ làm cho sự không công bằng giảm đi” (Đào Thế Tuân, 1992)

Tuy có một số yếu tố hợp lý, song các lý thuyết trên đều chưa phản ánh một cách đầy đủ đời sống hiện thực và đi đến nhiều sai lầm Thực tế cho thấy, trình độ phát triển kinh tế đạt những mốc nhất định nhưng việc suy đồi đạo đức, giá trị truyền thống, chuẩn mực xã hội bị đảo lộn, bạo lực, tội ác tràn lan… điều đó đã dẫn đến sự khủng hoảng của các lý thuyết phát triển xã hội trên

Như vậy, quan điểm cũ cho rằng kinh tế “sản sinh” văn hóa, “nuôi” văn hóa,

“bao cấp” văn hóa Quan niệm kinh tế đi trước văn hóa theo sau “giàu có sinh lễ nghĩa” trước đây là không còn phù hợp trong xã hội ngày nay Thực chất, văn hóa

và kinh tế là mối quan hệ biện chứng với nhau Văn hóa là nguồn động lực mạnh

mẽ cho tăng trưởng xã hội Điều này thể hiện qua các điểm sau đây:

Thứ nhất, bằng sự kết hợp hài hòa tri thức, kinh nghiệm, văn hóa góp phần

định hướng, lựa chọn mô hình đúng đắn cho sự phát triển kinh tế xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, văn hóa không trực tiếp làm thay đổi hiện thực, nhưng văn hóa giữ vai trò định hướng con người hoạt động, lựa chọn những

Trang 30

mô hình, giải pháp phù hợp Chính vì vậy, có thể xem tiến trình phát triển của một xã hội nhanh hay chậm, thậm chí là thành công hay thất bại có ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa

Thứ hai, với bản chất là hướng đến cái chân, thiện, mỹ văn hóa khơi dậy

tiềm năng sáng tạo phong phú của con người, từ đó con người ngày càng khai thác các giá trị trong thế giới tự nhiên một cách khoa học và cách mạng Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của xã hội gắn liền với năng lực, trình độ phát triển con người Con người với tư cách là chủ thể của tự nhiên, giữ vai trò quyết định trong mọi tiến trình phát triển của xã hội Việc đầu tư phát triển con người là đầu

tư cho sự phát triển lâu dài, bền vững Nói về vai trò này của văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định văn hóa đã trực tiếp góp phần vào việc “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, khả năng sáng tạo…” (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, 2001, trang 38)

Thứ ba, kế thừa và phát huy các yếu tố nội sinh của dân tộc, văn hóa giúp

con người có thể tiếp thu một cách có chọn lọc và phát triển các yếu tố ngoại sinh nhằm phát triển kinh tế xã hội của đất nước mình Trong xu thế toàn cầu hóa, không chỉ có cạnh tranh về kinh tế mà tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh về văn hóa, sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa giữa đông – tây, giữa nước ta với các quốc gia khác trên thế giới Trong bối cảnh đó, nền văn hóa nước nhà đứng trước những thuận lợi nhất định và thách thức to lớn Nhưng với tính chất hướng con người đến với những giá trị tốt đẹp, nền văn hóa dân tộc với những giá trị tốt đẹp cùng với những giá trị tích cực từ bên ngoài được chúng ta tiếp thu sẽ tạo thành một động lực trên con đường xây dựng và phát triển đất nước

Như vậy, với vai trò là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, ta có thể khẳng định nguồn lực thật sự cho sự phát triển không chỉ là tài nguyên, kỹ thuật, vốn, … mà trong đó quan trọng nhất và quyết định nhất là tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người

Trang 31

1.1.3 Đặc trƣng của văn hóa

Như trên đã trình bày một cách khái quát nhất về văn hóa, nhưng để nghiên cứu một cách sâu sắc vấn đề này, chúng ta cần phải xác định được các đặc trưng của văn hóa Đây là cơ sở để phân biệt với các hình tháo khác Về cơ bản, chúng ta

có thể khái quát một số đặc trưng sau:

Thứ nhất, Văn hóa có tính bền vững

Khác với các hình thái khác, văn hóa là những giá trị do con người tạo ra, có tính ổn định và bền vững trong xã hội Thực tiễn đã chứng minh, văn hóa không dễ

bị thay đổi hay mất đi do ý muốn chủ quan của một người, nhóm người nào Lịch

sử đã chứng minh, với mong muốn đồng hóa dân tộc ta trong hơn nghìn năm bắc thuộc, các triều đại phương Bắc đã sai lầm và thất bại hoàn toàn, chẳng những không đồng hóa được dân tộc ta mà còn làm tăng thêm sức sống vốn đã mãnh liệt của nền văn hiến Việt Nam, ta vẫn là ta sau nghìn năm đô hộ

Đặc biệt, với những giá trị đã nâng thành truyền thống, tính chất ổn định, bền vững của nó càng được vun đắp Liên quan nội dung này, GS Trần Văn Giàu đã từng viết

“Giá trị truyền thống là một sức mạnh không thể xem thường Huy động các giá trị để làm cách mạng và kháng chiến hiện đại là huy động sức mạnh của hàng mấy mươi thế kỷ, là mấy mươi thế kỷ ông cha cổ vũ và trợ chiến cho con cháu hoàn thành sự nghiệp dân tộc” (Trần Văn Giàu, Tuyển tập, 2000, trang 302) Với những giá trị văn hóa đã bén rễ sâu rộng trong đời sống cộng đồng thì không dễ gì có thể thay đổi Thậm chí, với những thăng trầm trong lịch sử, sự phát triển ở hiện tại đến tương lai, có những văn hóa đã lỗi thời, thậm chí là cổ hữu nhưng sẽ thật khó thay đổi chúng được Đây cũng là một ví dụ điển hình cho sự thay đổi chập chạp của ý thức xã hội so với những điều kiện của tồn tại xã hội trong quy luật xã hội cơ bản mà các nhà mácxít đã khái quát

Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống Đặc trưng này cần để phân hiệt hệ thống với tập hợp nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật

Trang 32

hình thành và phát triển của nó

Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa đã góp phần quan trọng trong việc ổn định của xã hội Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội – có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hóa (nền văn hóa)

Thứ hai, Tính giá trị

Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”, tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người

Các giá trị văn hóa, có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần), theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân hiệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có đươc cái nhìn biện chứng– và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời

Chính vì vậy cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và

“phi giá trị” của nó về mặt lịch sử cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa cùa từng giai đoạn lịch sử Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại,… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế

Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

Trang 33

Thứ ba, tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một

hiện tượng xã hội - do con người sáng tạo, nhân tạo với các giá trị tự nhiên - thiên tạo Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh thần như truyền thuyết về các cảnh quan tự nhiên

Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó

Văn hóa còn có tính lịch sử Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa có một bề dày một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…

Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định - truyền thống, mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phát sinh là đảm bảo tính

kế tục của lịch sử

Thứ tư, tính định hướng Văn hóa có vai trò định hướng con người Con

người không chỉ là chủ thể mà còn là khách thể của văn hóa Bởi vì họ được văn hóa định dạng trong toàn bộ hành trình của cuộc sống mình Mối quan hệ giữa con người không phải là mối quan hệ một chiều mà là biện chứng qua lại

Trang 34

Các giá trị văn hóa sẽ chi phối đến toàn bộ hoạt động sống của con người Điều này, chúng ta dễ thấy rõ là ở các cộng đồng người khác nhau sẽ mang những nét văn hóa khác nhau, từ đó quy định nên những bản sắc riêng của từng cộng đồng Trong xã hội, ta nhận thấy chính đời sống văn hóa khác nhau sẽ quy định nên những con người khác nhau Nó quy định rất rõ cách ăn, cách nói, mặc, thậm chí là suy nghĩa của những con người trong xã hội C.Mác đã từng khẳng định

“…chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đối, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình” (C.Mác – Ăng ghen, Toàn tập, tập 3, 1993, trang 38) Thậm chí, có những giá trị đã nâng lên thành truyền thống, các hoạt động nào của con người phải nằm trong những khuôn khổ cho phép của truyền thống đó, mọi hành vi đi trái lại sẽ bị xã hội phê phán và lên án Như vậy, giữa văn hóa và con người với tư cách là chủ thể của văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong nhận thức cũng như trong mọi hoạt động thực tiễn, mọi sự tách biệt cứng nhắc, máy móc điều dẫn đến sự thiếu xót và sai lầm nhất định

1.2 KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI - BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG CÁC LỄ HỘI

1.2.1 Khái quát chung về lễ hội và giá trị văn hóa trong các lễ hội truyền thống

“Lễ hội” là từ ghép các khái niệm đã có từ trước đó là “lễ” và “hội” “Lễ”, có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc vào thời nhà Chu (TK VII TCN), khi trong gia đình thị tộc Chu có việc cúng lễ tổ tông thì dù là người trong hay ngoài thị tộc Chu đều phải nộp vật phẩm để tế lễ Theo Đoàn Văn Chúc, người trong thị tộc Chu gọi

là nhân, người ngoài thị tộc Chu là thứ nhân và dân Từ việc qui định nộp vật phẩm để tế lễ của thị tộc Chu, “Lễ” được hiểu là “hành vi cúng tế thần tổ tông, cầu phúc” (Đoàn Văn Chúc, 1997, trang 126) Sau khi cúng lễ, vật phẩm được chia cho mọi người tùy theo thứ bậc của nhân mà vật phẩm nhiều hay ít, ngon hay kém khác nhau Với ý nghĩa phân chia như vậy, “Lễ” được mở rộng là “lề lối phân chia

Trang 35

sự đóng góp và hưởng thụ vật cúng lễ” (Đoàn Văn Chúc, 1997, trang 127) Về sau,

“lễ” được mở rộng ý nghĩa và bao quát mọi nghi thức ứng xử của xã hội

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (2005),

“ Lễ” được định nghĩa là “hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện” (Cao Đức Hải, 2010, trang 14)

Với cách định nghĩa như vậy, đã chỉ ra được lễ là các hành vi tôn kính của con người nhưng vẫn chưa khái quát được đối tượng mà chủ thể hướng đến để thực hành lễ

Tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng “lễ là hình thức biểu thị quan hệ giữa con người với môi sinh tự nhiên của nó” và “lễ là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện

xã hội hay tự nhiên, hư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hành theo nghi điển rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ” (Đoàn Văn Chúc,

1997, trang 131) Quan niệm này có phần cụ thể hơn, tác giả đã khái quát các dạng thức của lễ và ý nghĩa của lễ đối với đối tượng và người hành lễ

Tiếp theo đó, Lê Ngọc Canh đã có bổ sung về môi trường và phạm vi diễn ra

lễ hội, đó là làng hay nói một cách khác đó là một đơn vị cư trú mang tính tự quản:

“Lễ là một hệ thống nghi thức, một hệ thống hành vi, động tác, sự kiện có định ước, quy cách chặt chẽ và ổn định theo lệ làng” (Lê Ngọc Canh, 1999, trang 524) Tương tự, Thuận Hải đưa ra định nghĩa “lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện” (Thuận Hải, 2006, trang 5) Các định nghĩa trên đã chỉ ra được tính mục đích của lễ, nhưng tác giả chỉ đề cập đến đối tượng là thần linh mà bỏ qua ông bà, tổ tiên hoặc một hiện tượng xã hội mà con người tôn kính

Từ những định nghĩa trên, ta có thể khái quát lễ là một phong tục mang tính cộng đồng, là những hành vi, thái độ của con người để bày tỏ lòng tôn kính đối với

Trang 36

các hiện tượng tự nhiên hay xã hội, thông qua lễ con người bày tỏ nguyện vọng của mình đồng thời nhằm biểu dương những giá trị của đối tượng được cử lễ Cùng với lễ và sau lễ là các cuộc liên hoan, vui chơi nhộn nhịp của mọi người, chúng ta gọi đó là hội Khi nói đến hội, chúng ta rất quen thuộc với cụm từ hay dùng “vui như hội” để diễn tả sự vui tươi, nhộn nhịp của một đám đông đang

tổ chức những trò chơi tập thể Dù xuất hiện từ lâu, nhưng “hội” vẫn chưa được hiểu và sử dụng một cách nhất quán Đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến về hội, có người hiểu “hội là đám vui đông người” (Đoàn Văn Chúc, 1997, trang 129) Nghĩa

là “hội” phải là nơi tập trung đông người và mang yếu tố vui chơi giải trí Cùng quan điểm này, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng “hội bao gồm những trò chơi hết sức phong phú” (Trần Ngọc Thêm, 1996, trang 275)

Không thống nhất quan niệm hội chỉ là nơi vui chơi của số đông với các trò chơi, trò diễn, Đoàn Văn Chúc cho rằng, hội phải gồm 3 yếu tố: (1) Hội phải liên quan đến một sự kiện của cộng đồng xã hội, (2) hội phải mang tính cộng đồng, (3) hội nhất thiết phải có các trò vui Với quan điểm đó, Đoàn Văn Chúc đã đưa ra định nghĩa về hội như sau: “Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một thời điểm nhất định vào dịp lễ kỷ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm diễn đạt phấn khích, hoan hỷ của công chúng dự lễ” (Đoàn Văn Chúc, 1997, trang 132)

Trong Từ điển Bách khoa (2005) có nêu khái niệm về hội “Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay, quy tụ vào bốn chữ “nhân khang vật thịnh” (Cao Đức Hải, 2010, trang 14) Theo đó, hội không chỉ là tập hợp các trò vui chơi

mà còn là một nét sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của một cộng đồng xã hội, nhằm thỏa mãn các nhu cầu về giải trí, cầu an và mang ý nghĩa phồn thực Tóm lại, hội vừa là các hoạt động vui chơi giải trí của một cộng đồng người liên quan đến một sự kiện nào đó của xã hội và tự nhiên, để đáp ứng nhu cầu tinh

Trang 37

thần của cộng đồng, hội vừa mang đậm nét văn hóa đặc trưng cho từng cộng đồng Thông qua hội, con người thể hiện ước vọng về sự phồn thịnh trong đời sống của cộng đồng mình Với ý nghĩa mang đến sự tốt đẹp trong cuộc sống cộng đồng, hội không chỉ đơn thuần là các trò vui mà qua đó giá trị văn hóa được hình thành và lan tỏa trong cộng đồng của mình

Như trên đã trình bày, “lễ” và “hội” là hai khái niệm độc lập chỉ hai hiện tượng khác nhau nhưng có mối quan hệ nhất định với nhau Trong thực tế, dưới các hình thức tồn tại của văn hóa, lễ và hội thường được kết hợp với nhau

Lễ hội là một trong các thành tố văn hóa cấu thành nên văn hóa của mỗi cộng đồng người, tạo nên bản sắc, nét độc đáo riêng của từng dân tộc Khái niệm lễ hội cũng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu cả trong nước lẫn ngoài nước

Tác giả Alessandro Falasi cho rằng “lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị một thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành

lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống Là một hoạt động hết sức phổ biến, lễ hội có thể là sự kiện có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tồn tại lâu đời trong truyền thống” (Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan, FOLKLORE một

số thuật ngữ đương đại, 2005, trang 131) Qua định nghĩa như trên, Alessandro Falasi đã chú trọng đến sự tác động của lễ hội đến tư tưởng, thế giới quan của cộng đồng và xem đó là nền tảng tạo nên bản sắc của cộng đồng

Tương tự Alessandro Falasi, một ý kiến tương đồng cho rằng “thực chất lễ hội

là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động, chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể trở thành

lễ hội được nếu như chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng vượt lên trên thế giới của phương tiện

và điều kiện tất yếu; đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả” (Võ Văn Thanh, Lê Thi Thanh Tâm, 2012, trang 320) M Bakhtin nâng lễ hội lên một ý nghĩa khác, đó là sự lao động và chiến đấu của cộng đồng và nó trở nên thần thánh, lý tưởng thông qua sự liên kết của thế thới tâm linh

Trang 38

Ở trong nước cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu về lễ hội Theo tác giả Dương Văn Sáu

“lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân

cư trong một thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội” (Dương Văn Sáu (2004, trang 35)

Trong định nghĩa này, tác giả đã xác định không gian và thời gian của lễ hội, đồng thời nhấn mạnh lễ hội là một hoạt động cộng đồng biểu thị thái độ của con người với con người, của con người với giới tự nhiên

Cùng với quan điểm Dương Văn Sáu, tác giả Nguyễn Minh Tuệ đưa ra khái niệm cụ thể hơn

“lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng

mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được” (Nguyễn Minh Tuệ,

Trang 39

1,3 triệu người Họ cùng nhau sinh sống từ nhiều thế kỷ nay đã tạo nên cho Sóc Trăng có nhiều nét đặc thù về sinh hoạt văn hóa lễ hội truyền thống ở địa phương Những hoạt động, sinh hoạt văn hóa lễ hội diễn ra xuyên suốt gần như quanh năm trên khắp địa bàn tỉnh Sóc Trăng Mỗi dân tộc có những lễ hội độc đáo riêng, song trong quá trình cộng cư sinh sống một số lễ hội đã trở thành những lễ hội chung của cả ba dân tộc

1.2.2 Khái quát về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất (lưu giữ giá trị di sản trong ý thức cộng đồng xã hội)

Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãn hai điều kiện:

Một là, nó phải được coi là tinh hoa, là một giá trị đích thực được thừa nhận

minh bạch, không có gì phải hoài nghi hay bàn cãi

Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài với

thời gian, là cái giá trị của nhiều thời (tức là có giá trị lâu dài) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động

Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng tĩnh là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như vốn

có về kích thước, vị trí, chất liệu, đường nét, màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên, cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều, chụp ảnh, băng hình video, xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Sau khi bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết

Trang 40

để không làm biến dạng

Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng tĩnh là điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét

cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại

Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn động là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những

là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất

để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy chúng trong đời sống xã hội Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, hình thức diễn xướng, nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của những con người đặc biệt mà chúng

ta thường mệnh danh là những nghệ nhân hay là những báu vật nhân văn sống Do

đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc bảo

vệ những báu vật nhân văn sống Đó là việc xã hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để họ sống lâu, khỏe mạnh, phát huy được khả năng trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Cần phải phục hồi các giá trị một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, khoa học chứ không thể chủ quan, tùy tiện Tất cả những giá trị phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tích di sản văn hóa phi vật thể

Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng chính là phương thức lý tưởng nhất Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì có thể bảo tồn theo hiện

Ngày đăng: 02/07/2023, 07:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (2009), Dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Khmer Nam Bộ
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
2. Đào Duy Anh (2003), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2003
3. Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống văn hóa ở vùng Nam Bộ, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa ở vùng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2008
4. Trần Văn Bính (2004, chủ biên), Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Trần Văn Bổn (2002), Phong tục và lễ nghi vòng đời người Khmer Nam Bộ, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và lễ nghi vòng đời người Khmer Nam Bộ
Tác giả: Trần Văn Bổn
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
6. C.Mác – Ăng ghen (1993), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 3
Tác giả: C.Mác – Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
7. C.Mác – Ăng ghen (1993), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
Tác giả: C.Mác – Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
8. C.Mác – Ăng ghen (1993), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác – Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
9. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăng-ghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 1995
10. C.Mác – Ăng ghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác – Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
11. C.Mác và Ăng ghen (1999), Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
12. C.Mác – Ăng ghen toàn tập (2000), Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác – Ăng ghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
13. Lê Ngọc Canh (1999), Văn hóa dân gian những thành tố, NXb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian những thành tố
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: NXb VHTT
Năm: 1999
14. Nguyễn Khắc Cảnh (1996), Ngôi chùa – trung tâm giáo dục và sinh hoạt văn hóa ở Phum, Sorc ở Khmer đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôi chùa – trung tâm giáo dục và sinh hoạt văn hóa ở Phum, Sorc ở Khmer đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 1996
15. Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum - Sorc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phum - Sorc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
16. Nguyễn Mạnh Cường (2002), Vài nét về người Khmer Nam Bộ, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về người Khmer Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002
17. Ngô Quốc Chấn, Huỳnh Khải Vinh (2004), Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng
Tác giả: Ngô Quốc Chấn, Huỳnh Khải Vinh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
18. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, NXb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1996
19. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1997
20. Mai Ngọc Chừ, 1998, Văn hóa Đông Nam Á, Nxb DHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb DHQG Hà Nội
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Các nhà sư ban phước lành trong dịp năm mới - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 2 Các nhà sư ban phước lành trong dịp năm mới (Trang 139)
Hình 1. Lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng trao quà cho các vị sư nhân dịp năm mới - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 1. Lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng trao quà cho các vị sư nhân dịp năm mới (Trang 139)
Hình 3: Nghi lễ rước thần trong dịp năm mới - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 3 Nghi lễ rước thần trong dịp năm mới (Trang 140)
Hình 4: Trao nhà Đại đoàn kết nhân dịp tết Chol Chnam Thmay - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 4 Trao nhà Đại đoàn kết nhân dịp tết Chol Chnam Thmay (Trang 140)
Hình 5: Hoạt động dâng hoa trong dịp năm mới - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 5 Hoạt động dâng hoa trong dịp năm mới (Trang 141)
Hình 6: Trò chơi dân gian trong dịp tết Chol Chnam Thmay - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 6 Trò chơi dân gian trong dịp tết Chol Chnam Thmay (Trang 141)
Hình 7: Nghi lễ dâng cơm lên chùa trong lễ Sen Đôn ta - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 7 Nghi lễ dâng cơm lên chùa trong lễ Sen Đôn ta (Trang 142)
Hình 8: Trao quà cho hộ nghèo và gia đình chính sách dịp tết Chol Chnam Thmay - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 8 Trao quà cho hộ nghèo và gia đình chính sách dịp tết Chol Chnam Thmay (Trang 142)
Hình 9: Trao nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo dịp lễ Sen Đôn ta - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 9 Trao nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo dịp lễ Sen Đôn ta (Trang 143)
Hình 10:Trao quà cho những người lớn tuổi có uy tín dịp lễ Sen Đônta - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 10 Trao quà cho những người lớn tuổi có uy tín dịp lễ Sen Đônta (Trang 143)
Hình 12: Công an tỉnh Sóc Trăng và các nhà hảo tâm tặng xe đạp cho học sinh - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 12 Công an tỉnh Sóc Trăng và các nhà hảo tâm tặng xe đạp cho học sinh (Trang 144)
Hình 11: Hoạt động đua Ghe Ngo - Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các lễ hội truyền thống của đồng bào khmer ở tỉnh sóc trăng hiện nay
Hình 11 Hoạt động đua Ghe Ngo (Trang 144)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w