1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh hiện nay công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2007

94 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh hiện nay công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2007
Tác giả Nguyễn Đinh Thái, Lê Huy Hiền, Phan Hồng Nhung, Nguyễn Văn Dũng, Phạm Thúy Loan, Hồ Thị Thủy, Đỗ Thị Sen
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Anh Thường
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG (9)
    • 1.1 Giải thích thuật ngữ, khái niệm (9)
    • 1.2. Tiền đề hình thành Chủ nghĩa thực dụng (15)
    • 1.3. Quá trình phát triển của Chủ nghĩa thực dụng (24)
  • Chương 2. ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ (31)
    • 2.1. Ảnh hưởng đến giá trị đạo đức của sinh viên (31)
    • 2.2. Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến quan niệm sống của sinh viên (37)
    • 2.3. Ảnh hưởng của Chủ nghĩa thực dụng đến việc học tập, rèn luyện của sinh viên Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (42)
  • Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM XÂY DỰNG LỐI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ (48)
    • 3.1. Những giải pháp định hướng giá trị đạo đức sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (48)
    • 3.2. Giải pháp và kiến nghị trong việc định hướng quan niệm sống của (51)
    • 3.3. Giải pháp và kiến nghị trong học tập và rèn luyện của (54)
  • KẾT LUẬN (57)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Nhưng trong xu thế hiện nay trước những mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế thị trường đang diễn ra thì sự tác động của Chủ nghĩa thực dụng đến lối sống si

Trang 2

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

Hồ Thị Thủy tham gia

Đỗ Thị Sen tham gia

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU 2

Chương 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG 6

1.1 Giải thích thuật ngữ, khái niệm 6

1.2 Tiền đề hình thành Chủ nghĩa thực dụng 12

1.3 Quá trình phát triển của Chủ nghĩa thực dụng 21

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 28

2.1 Ảnh hưởng đến giá trị đạo đức của sinh viên 28

2.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến quan niệm sống của sinh viên 34

2.3 Ảnh hưởng của Chủ nghĩa thực dụng đến việc học tập, rèn luyện của sinh viên Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 39

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM XÂY DỰNG LỐI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 45

3.1 Những giải pháp định hướng giá trị đạo đức sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 45

3.2 Giải pháp và kiến nghị trong việc định hướng quan niệm sống của sinh viên 48

3.3 Giải pháp và kiến nghị trong học tập và rèn luyện của sinh viên 51

KẾT LUẬN 54

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 58

Trang 4

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Chủ nghĩa thực dụng ra đời trên tiền đề, hoàn cảnh đặc thù của xã hội Mỹ

Nó nhanh chóng trở thành một hệ tư tưởng nổi bật ảnh hưởng đến cách tư duy và phương thức hành động của cộng đồng cư dân nơi đây Chủ nghĩa thực dụng không chỉ thịnh hành ở Mỹ mà còn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên nhiều thế giới, trong đó có Việt Nam

Với cách tư duy và phương thức hành động của mình, Chủ nghĩa thực dụng

đã có sự tác động đa chiều đến hầu hết tất cả các giai tầng trong xã hội, đặc biệt là thanh niên, sinh viên Nhưng trong xu thế hiện nay trước những mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế thị trường đang diễn ra thì sự tác động của Chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên nói chung và sinh viên Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng theo hướng “thực dụng hóa”

Vì vậy, đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay Từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị, có giá trị định hướng nhằm xây dựng lối sống cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay

Đề tài, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục bao gồm: 3 chương, 9 mục Trong đó:

Chương 1, đề cập đến “khái luận chung về Chủ nghĩa thực dụng”

Chương 2, đề cập đến “ảnh hưởng của Chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay”

Chương 3, đề cập đến “Một số giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng lối sống sinh viên Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay”

Qua kết quả nghiên cứu, đề tài hy vọng sẽ đem lại những giá trị thiết thực, góp phần xây dựng chuẩn giá trị về đạo đức, lối sống, hành động cho thanh niên, sinh viên

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Chủ nghĩa thực dụng – một sản phẩm tinh thần đặc biệt của nhân dân Mỹ đề cao kinh nghiệm và hiệu quả, coi tri thức là công cụ để thích ứng với mọi hoàn cảnh, coi chân lý là cái “có ích” Chủ nghĩa thực dụng thể hiện một cách nổi bật phương thức tư duy và phương thức hành động và mục đích tìm kiếm lợi nhuận vật chất của xã hội Mỹ Ra đời vào cuối thế kỷ XIX nó nhanh chóng trở thành một trong những trường phái triết học có ảnh hưởng lớn nhất ở nước Mỹ từ đầu thế kỷ

XX đến những thập niên gần đây và đang có sức lan tỏa sang nhiều quốc gia trên thế giới

Nắm bắt được xu thế khách quan của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh

tế quốc tế trên thế giới Việt Nam đã tiến hành đổi mới hội nhập toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế – xã hội Trong quá trình giao lưu hội nhập, nhiều lối sống phương Tây đã du nhập vào nước ta, trong đó có Chủ nghĩa thực dụng

Lối sống thực dụng tồn tại và ảnh hưởng tiêu cực đến cách nghĩ, cách sống

và hành động của nhiều cá nhân trong xã hội, đặc biệt là sinh viên Sinh viên là lực lượng trí thức trẻ, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật nhanh nhạy, không bằng lòng với cái cũ, tiếp thu cái mới một cách năng động, sáng tạo Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những hạn chế của tuổi trẻ như tính bồng bột, chưa đủ bản lĩnh trong cuộc sống Dẫn đến việc nhiều người trong số họ có quan điểm lệch lạc, chạy theo tiền tài danh vọng, lấy đồng tiền làm thước đo giá trị, coi trọng giá trị vật chất hơn giá trị tinh thần Đúng như hội nghị lần thứ X ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa IX đã nhận định: “Việc giáo dục tư tưởng, lẽ sống cho thanh niên chưa thường xuyên, hiệu quả còn hạn chế, xu hướng thực dụng, chạy theo lối sống hưởng thụ có chiều hướng gia tăng”.1

Ngày nay, chính các nước phát triển cũng lên án lối sống thực dụng Thật vậy, tiến sĩ David C Korten – giảng viên trường đại học Harvard và là thành viên

1

Ban Tư tưởng – văn hóa Trung Ương: Tài liệu nghiên cứu Kết luận Hội nghị lần thứ X, Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.14

Trang 6

của qũy Ford Trong công trình “Bước vào thế kỷ XXI, hành động tự nguyện và chương trình nghị sự toàn cầu”, trong phần Lối sống và công nghệ, tác giả cho rằng:

“Cần phải thay đổi lối sống, thay đổi quan niệm về cuộc sống tốt đẹp, bớt nhấn mạnh về vật chất và chú trọng nhiều hơn đến mức sống trí tuệ, tinh thần xã hội.”

Trước tình hình ấy, việc giáo dục, định hướng lối sống cho sinh viên hiện nay nhằm đào tạo nên những người trí thức có đầy đủ cả “tài” lẫn “đức”, vừa

“hồng” vừa “chuyên” như Bác Hồ của chúng ta hằng mong muốn là vấn đề hết sức cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài “Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” là một vấn đề mới Tuy nhiên đã có các công trình tương tự được công bố bởi nhiều tác giả và nhóm tác giả như:

Bùi Đăng Duy – Nguyễn Tiến Dũng: Triết học Mỹ, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005

Võ Văn Thắng: Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hóa thông tin và viện văn hóa Hà Nội, 2006

Nguyễn Ánh Hồng: Những khía cạnh tâm lý xã hội trong nghiên cứu lối sống của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, mã số 1397-18b-02TĐ

Nội dung các công trình trên đã luận giải sâu sắc về chủ nghĩa thực dụng, lối sống nói chung Đó thực sự là những đóng góp to lớn cho lý luận cũng như cho giá trị thực tiễn Tuy nhiên nó còn ở tầm vĩ mô Nhóm nghiên cứu chúng tôi chỉ tập trung làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và tìm giải pháp cho vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài là tìm hiểu Chủ nghĩa thực dụng và ảnh hưởng của nó đến lối sống sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, đưa ra những giải pháp và kiến nghị thiết thực, có giá trị định hướng nhằm xây dựng lối sống sinh viên tốt đẹp hơn trong giai đoạn hiện nay

Để đạt được mục đích trên đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

Trang 7

Một là, làm rõ các khái niệm thực dụng, chủ nghĩa thực dụng, lối sống thực

dụng

Hai là, trình bày và phân tích quá trình hình thành và phát triển của chủ

nghĩa thực dụng

Ba là, đánh giá và phân tích thực trạng ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng

đối với lối sống sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay thông qua kết quả điều tra xã hội học

Bốn là, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị.

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu đứng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử Phương pháp được sử dụng trong đề tài là phương pháp biện chứng duy vật và các phương pháp như: lịch sử – logic, quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và phương pháp SWOT

5 Giới hạn của đề tài

Chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên hệ chính quy trong các trường thuộc khối Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

6 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài đưa ra cách phân tích, đánh giá mới về lối sống của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trước tác động của chủ nghĩa thực dụng

Đề tài đóng góp một số giải pháp mới, cụ thể, phù hợp nhằm góp phần xây dựng lối sống cho sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần giáo dục, xây dựng nhân cách người sinh viên có lý tưởng, có lối sống lành mạnh, biết sống cho bản thân và cho toàn xã hội

Ngoài ra đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, quan tâm đến vấn đề này

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương, 9 mục

Trang 9

Chương 1

KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG

1.1 Giải thích thuật ngữ, khái niệm

Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân thì “thực dụng” nghĩa là

“thực: đúng đắn; dụng: dùng” tức chỉ dùng vào mục đích rất cụ thể, tức thì, óc thực dụng coi thường lý luận2

Như vậy, có thể hiểu cụm từ “thực dụng” theo đặc trưng mang ý nghĩa là những gì có kết quả thực tế và mang lại lợi ích vật chất trước mắt, không quan tâm đến hiệu quả và lợi ích lâu dài Con người thực dụng để đạt được lợi ích vật chất trước mắt thì họ sẽ không quan tâm đến những mặt khác miễn là cái gì có lợi cho mình, từ đó dẫn đến con người có đầu óc thực dụng, con người thực dung

- Chủ nghĩa thực dụng:

“Chủ nghĩa thực dụng” là thuật ngữ xuất phát từ người khởi xướng chủ nghĩa thực dụng Mỹ là Chales Peirce (1939 – 1914), với tác phẩm “Lý thuyết về ý nghĩa”, ông đặt tên lý thuyết của mình là “Chủ nghĩa thực dụng” (Pragmaticism) lấy

từ chữ Pagrama của tiếng Hy Lạp, có nghĩa là hành vi, hành động Ông cho rằng chỉ khái niệm này mới làm rõ được bản sắc lý thuyết của mình và tránh được sự vay mượn không cần thiết

Năm 1898, William James (1842 – 1910) với tác phẩm Chủ nghĩa thực dụng, bàn về tâm lý học, kết thừa Peirce và là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Chủ nghĩa

Trang 10

thực dụng” (Pragmatism) Ông phát triển những nguyên tắc, phương pháp học của Peirce thành một hệ thống lý luận song song với việc phân tích nhiều vấn đề cụ thể

Đến J Dewey (1859 – 1952), với tác phẩm “Dân chủ và giáo dục”, kế thừa hai người đi trước làm cho Chủ nghĩa thực dụng thâm nhập sâu rộng vào đời sống văn hóa thông qua những thành tựu về Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục học và Chính trị học

Ở Việt Nam “Chủ nghĩa thực dụng” tồn tại với tư cách không phải là một chủ nghĩa, một học thuyết mà chỉ là một lối sống “thực dụng”, một “mốt” thực dụng Trong từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học chỉ giới thiệu Chủ nghĩa thực dụng là: “1 Học thuyết triết học cho rằng chân lý không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, mà cái hiện hữu thực tế, đáp ứng những lợi ích chủ quan của con người” và “2 Tư tưởng chỉ nhằm vào những gì có thể mang lại lợi ích trước mắt cho mình, không quan tâm đến những mặt khác”1

Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ăngghen viết “ không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ”1

Như vậy, Mác đã khẳng định, sản xuất là yếu tố quyết định sự tồn tại của cá nhân và phương thức sản xuất là hình thức hoạt động cơ bản của con người, là phương thức sinh sống của con người, là mặt cơ bản của lối sống Theo Mác, lối sống chính là phương thức, là dạng hoạt động của con người, nó chịu sự quyết định

Trang 11

của phương thức sản xuất Tuy chịu sự quyết định của phương thức sản xuất, nhưng lối sống không phải là sản phẩm thụ động của lực lương sản xuất, quan hệ sản xuất

và những điều kiện sống khác Bởi lẽ, phạm vi của lối sống rộng hơn phương thức sản xuất Ngoài những hoạt động vất chất, con người còn có các hoạt động chính trị,

xã hội, nghệ thuật… Phạm vi của lối sống tương ứng với hình thái kinh - xã hội Lối sống phản ánh hoạt động chủ thể, bao gồm: nhận thức, tình cảm, động cơ, hành vi, ứng xử, thể chế xã hội… và cả những mối liên hệ giữa chúng Có thể nói, “lối sống

là sự khúc xạ hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức, tình cảm, thái độ và hoạt động xã hội, tổ chức đời sống và sinh hoạt cá nhân của con người”2 Các – Mác cho rằng, những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, sẽ có lối sống khác nhau Đặc biệt, trong những hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp, lối sống mang tính giai cấp

Tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của những cá nhân trong một hình thái kinh tế - xã hội, Rút – kê – vích cho rằng, “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”1 Định nghĩa lối sống qua khái niệm hoạt động như Rút – kê – vích, G Glezerman cho rằng, “Lối sống là tổng hòa những nét cơ bản, nói lên những đặc điểm của các hoạt động sống của xã hội, các cá nhân trong một hình thái kinh tế -

xã hội nhất định”2 Xem xét lối sống gắn hoạt động sống của con người với hình thái kinh tế - xã hội, V I Tônxtưkhơ cho rằng, “Lối sống là những hình thức cố định, điển hình của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người; những hình thức ấy nói lên các đặc điểm về sự giao tế, hành vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội – chính trị, sinh hoạt và giải trí”3

Trang 12

Cùng với quan điểm xem lối sống là một phương thức hoạt động, I gi- ep cho rằng: “lối sống được kiến giải như là một phương thức hoạt động sống của con người, thì điều hợp lý là lấy các lĩnh vực hoạt động sống quan trọng nhất làm nền tảng cho cơ cấu của lối sống, các lĩnh vực đó ta đều biết là: Lao động, sinh hoạt, hoạt động chính trị – xã hội và văn – xã hội”4

Be-xtu-Ở góc độ khác, M N Rút- kê- vích còn khẳng định, lối sống chịu sự quyết định của phương thức sản xuất; khái niệm “lối sống” và khái niệm “Phương thức sản xuất” liên hệ chăt chẽ với nhau Ông viết: “Lối sống là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó liên quan chặt chẽ với một khái niệm

có ý nghĩa mấu chốt với nó là phương thức sản xuất của cải vật chất”1 Theo hướng này, Z Dunốp khẳng định “Lối sống trước hết là những điều kiện trong đó con người tự tái sản xuất về mặt sinh học cũng như về mặt xã hội Đó là toàn bộ những hình thức hành vi hằng ngày, ổn định và điển hình của con người”2 Định nghĩa này cho thấy lối sống chịu sự quy định của điều kiện vất chất, nó chính là nền tảng thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người và xã hội

Ở Việt Nam, “lối sống” là một danh từ ghép Lối sống là lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức Sống là sinh hoạt, là quá trình hoạt động sinh vật của con người

và xã hội Hiện nay, nhiều từ điển tiếng Việt và Hán - Việt đã và đang lưu hành chỉ

đề cập khái niệm “lối sống giản dị” làm ví dụ, minh họa cho từ “lối” và dẫn “nếp sống” khi đề cập đến khái niệm “sống” Có tác giả cho rằng từ lối sống và nếp sống

là kết quả của việc tạo từ trong ngôn ngữ tiếng việt và cách dùng thuật ngữ khác nhau để dịch một thuật ngữ nước ngoài; và “sách cổ, sách chữ Hán, sách chữ Nôm không có hai thuật ngữ này Trong thời kỳ cận đại và hiện đại (sau Cách mạng Tháng Tám) đã bắt đầu hình thành khái niệm về cách thức, lề lối, nền nếp của con người trong sự sống Các khái niệm trên có thể mượn dịch hoặc phỏng theo từ nước

Trang 13

ngoài”3 Hiện nay khái niệm lối sống được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: Triết học, Xã hội học, Tâm lý học…

Trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm “lối sống” được đề cập lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội Toàn quốc lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng Quan tâm đến vấn đề lối sống Nghị quyết Hội nghị lần thứ

V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhận định “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng Nghiêm trọng hơn là suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên trong đó có cả cán bộ có chức có quyền”1 Có thể nói, chưa bao vấn đề lối sống được Đảng ta quan tâm sâu sắc như hiện nay Do đó vấn đề lối sống được nhiều nhà nghiên cứu ở nước ta quan tâm nhiều hơn và nghiên cứu sâu hơn

Trên cơ sở tiếp nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về lối sống, Vũ Khiêu trong tác phẩm “ Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người” đã quan niệm lối sống theo nghĩa rất rộng:

“Lối sống là phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” 2

Xét lối sống gắn liền với hoạt động của con người và một hình thái kinh tế -

xã hội, Thanh Lê quan niệm: “Lối sống là một hệ thống những nét căn bản nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”3

Ở góc độ xem xét tổng hòa các mặt cơ bản, khắc họa những đặc điểm cá nhân, tập thể, giai cấp và cộng đồng, Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “Lối sống là tổ

Trang 14

hợp toàn bộ các mô hình, cách thức và phong thái sống của con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ hành vi, các tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương diện và mục đích sống”1

Đỗ Huy khẳng định: “Lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống điển hình của con người trong điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định”2 Cùng với quan điểm này, Nguyễn Viết Chức trong cuốn “Xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã định nghĩa: “Lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống điển hình và tương đối ổn định của con người được vận hành theo một bảng giá trị

xã hội nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định”3 Huỳnh Khái Vinh trong bài “ Kế thừa và phát triển nếp sống thanh lịch của người Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” cũng cho rằng: “Lối sống là một khái niệm có tính đồng bộ và tổng hợp Nó bao gồm các mối quan hệ khác nhau của con người, kể cả đặc trưng sinh hoạt của họ trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”4

Như vậy, điểm giống nhau cơ bản của các tác giả khi định nghĩa về lối sống

là ở chỗ, các tác giả cho rằng, lối sống bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động sống

cơ bản của con người, từ lao động, sinh hoạt, hoạt động xã hội – chính trị và giải trí

Theo nhóm nghiên cứu chúng tôi, có thể nêu khái quát một số đặc điểm cơ bản của lối sống sau đây:

Một là, nói đến lối sống là nói đến tổng hòa các hoạt động sống ổn định của

con người gắn liền với dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội và các cá nhân trong cộng

Đỗ Huy: Xây đựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học, Viện văn hóa và Nxb

Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2001, tr 353

Trang 15

đồng Vì vậy, có thể phân loại lối sống theo ba cấp độ: lối sống của dân tộc (quốc gia), lối sống của giai cấp (nhóm xã hội), lối sống của cá nhân

Hai là, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và các điều kiện

sống của con người

Ba là, đặc trưng bản chất của lối sống trong toàn bộ hoạt động sống là hoạt

động lao động sản xuất, bởi nó là hoạt động có tính chất nền tảng, có tính người trong việc sáng tạo các giá trị vật chất cũng như giá trị tinh thần

Bốn là, nội dung và phạm vi của lối sống là tổng hòa các khuôn mẫu ứng xử,

các thể chế xã hội được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định

Năm là, lối sống nói chung mang tính văn hóa, bởi vì trong các hành động xã

hội, các quan hệ xã hội, thể chế xã hội, các khuôn mẫu ứng xử… trong lối sống đều mang ý nghĩa văn hóa, hướng tới cái đúng, cái tốt đẹp

- Lối sống thực dụng:

Theo nhóm nghiên cứu chúng tôi: Lối sống thực dụng là một phạm trù của lối sống phản ánh hành vi con người trong lao động cũng như trong quan hệ xã hội Trong đó, con người luôn đề cao lợi ích vật chất, lợi ích nhất thời; không quan tâm đến lợi ích tập thểxem nhẹ giá trị tinh thần, lý tưởng, lợi ích lâu dài

1.2 Tiền đề hình thành Chủ nghĩa thực dụng

1.2.1 Tiền đề kinh tế – xã hội

Về thành phần dân cư: nước Mỹ là một xã hội có thành phần dân cư đa dạng

Đây là nơi hội tụ của những người dân có sắc tộc, quốc tịch và tôn giáo hoàn toàn khác nhau Mỹ là một đất nước được thành lập, xây dựng và phát triển bởi nhiều thế

hệ người nhập cư Vùng đất Bắc Mỹ của châu lục, trong đó có Liên bang Mỹ, là quê hương của người da đỏ bản địa, của người Anh di cư, của những người nô lệ da đen

và cả những nhóm người châu Âu không phải gốc Anh Đây cũng là nguồn gốc, cơ

sở tạo nên nét khác biệt về xã hội – văn hóa Mỹ so với các nước khác trên thế giới

Có thể nói lịch sử nước Mỹ là tiếp tục của lịch sử Châu Âu ở một lục địa khác Kể từ khi những thổ dân Indien có mặt ở vùng đất này cho đến nay, lịch sử đó

đã kéo dài hơn bốn thế kỷ Trong hai thế kỷ đầu, về cơ bản, lịch sử đó được quy

Trang 16

định bởi quá khứ và hiện tại của thế giới cũ Nhưng trong hai thế kỷ sau, nó có vai trò to lớn trong sự biến đổi của phương Tây Những thổ dân Indien là những người

Mỹ đầu tiên, cho đến những năm 1970 – 1980, những người từng bị gọi là “những con cái của Babel, bọn Satan hung ác, con cháu của Israel .” đã được thừa nhận là những người bản địa Sự khẳng định tính cổ xưa tuyệt đối của những cư dân sống ở thế giới mới này đã củng cố thêm quyền của những thổ dân đối với quê cha đất tổ của họ

Từ thế kỷ XVII, tiếp theo những người Tây Ban Nha là những người Pháp, người Anh, tạo nên những làn sóng di dân ồ ạt kéo đến nước Mỹ Việc di dân đến Bắc Mỹ và Nam Mỹ được thúc đẩy bởi những mơ ước gồm hai mặt: cuộc săn đuổi

đi tìm vàng và ý muốn truyền đạo cho những “kẻ man rợ” và tìm nơi ẩn náu cho tự

do tôn giáo Từ năm 1700 có 12 trong 13 vùng di dân sau này trở thành liên bang

Mỹ Đáng chú ý là vùng di dân ở Plymouth (New England) Những người sáng lập

là những người bất đồng với giáo lý của Thanh giáo do đó họ đã cắt đứt quan hệ với Giáo hội Anh Họ có tham vọng xây dựng miền đất mới này trở thành một lâu đài

Cơ Đốc giáo tuyệt đối trung thành với Phúc âm

Trong những vùng di dân, người ta thấy xuất hiện những lối sống được tổ chức theo những nguyên tắc chưa hề có ở Châu Âu Những cộng đồng này đương nhiên chưa được coi là “dân chủ” vì ở đây đã có những tầng lớp trên như nhà buôn, chủ giáo sĩ, địa chủ nhưng những quan hệ đó không quá gay gắt như ở quê cũ Châu

Âu Người ta thấy ở đó tính năng động xã hội khá rõ với việc thừa nhận giá trị cá nhân Ở những vùng biên giới, do những điều kiện sinh hoạt khá khắc khổ, ý thức sâu sắc về bình đẳng, kể cả bình đẳng của phụ nữ cũng đã được thừa nhận

Một sự phồn vinh tương đối cũng xuất hiện ở những vùng di dân Ở đó ít thấy cảnh thất nghiệp của người nghèo mà cũng không thấy những thói ăn không ngồi rồi của kẻ giàu sang Những vùng di dân đó được xem là của người Anh nhưng không còn là của nước Anh Trong “Những bức thư của những người nông trại Mỹ”, J Hector St John de Crevecoeur, một người lập nghiệp ở tỉnh New York từ năm 1759 đã viết rằng “sau khi đã trải qua nhanh chóng số phận của người Indien

và người da đen, người Mỹ đã là một con người mới”

Trang 17

Từ tình hình đó, một thể chế dân chủ, tự do, bình đẳng về quyền con người trong đó nổi bật sự tôn trọng cá tính cũng được phát triển thuận lợi đẩy đà cho phát triển kinh tế Mảnh đất màu mỡ chưa khai phá này cho phép người ta không phải khốc liệt “đấu tranh sinh tồn” như ở nhiều nơi khác mà ganh đua để đạt, để có đời sống vật chất thoải mái Muốn đạt được mục tiêu đó con người chỉ cần tích cực lao động là được, tính hay lam hay làm đó trở thành lối sống hàng ngày Một ý thức hệ của một cộng đồng mới đã hình thành Họ không thể lấy món ăn tinh thần xa lạ cũ

kỹ của Châu Âu (như chủ nghĩa Duy Linh, chủ nghĩa Thực Chứng) Trước sức hút

về niềm tin đó, các ý thức hệ cũ của nhóm di dân mau chóng bị phai mờ, để tất cả hợp lưu lại trong một dòng chảy mới là chủ nghĩa Thực Dụng, mang cả một bề dày của những đặc điểm tâm lý làm thành bản sắc văn hóa của dân tộc Mỹ Chủ nghĩa Thực Dụng trở thành một phong cách sống, một triết học nảy nở “ở ngoài trời” 1

Như vậy, khởi đầu bằng sự xuất hiện của người châu Âu và qua từng đợt, lượng người nhập cư ngày càng lớn, xã hội Mỹ dần dần thay đổi và ngày càng trở thành đa sắc tộc Mặc dù hình thức nhập cư khác nhau và mục đích di cứ khác nhau, quá trình hòa nhập vào văn hóa Anh – Mỹ cũng khác nhau, nhưng những người nhập cư từ Châu Âu đã dần dần có sự gắn kết trong một môi trường chung do hoàn cảnh tạo nên Khi những người nhập cư từ các nước khác nhau cùng chung sống trên cùng một vùng đất, sự khác biệt lớn về sắc tộc cũng mất đi tính xung đột và đối kháng theo thời gian, và khi cách mạng Mỹ nổ ra thì chính họ đã liên kết vớu nhau đấu tranh vì “quyền con người” nói chung chứ không vì một mục đích cụ thể của một sắc tộc riêng lẻ nào Và khi Liên bang Mỹ đi vào giai đoạn phát triển kinh tế thì người Mỹ chuyển dần từ những người nông dân thành cư dân thành phố và đô thị công nghiệp hóa Tầng lớp lao động mới xuất hiện, đó chính là giai cấp công nhân, góp phần tăng thêm sự đa dạng vốn có của Liên bang Mỹ

1

Bùi Đăng Duy - Nguyễn Tiến Dũng: Lịch sử Triết học phương Tây hiện đại, Nxb Tổng hợp, Tp Hồ Chí

Minh, 2005,tr.38

Trang 18

Về kinh tế: Kể từ khi người châu Âu đầu tiên đặt chân đến vùng đất mới này,

đến khi cuộc nội chiến Bắc – Nam kết thúc, từ Thế chiến lần I đến Thế chiến lần II,

và cho đến sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, nền kinh tế của Liên bang Mỹ có những bước tiến rất lớn nếu không muốn nói là ngoạn mục, trở thành nền kinh tế tư bản điển hình, nền kinh tế đứng đầu thế giới Nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ XVII và XVIII, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhưng sang đến thế kỷ XIX bắt đầu trở thành một nước đi dần sang hướng công nghiệp hóa và phát triển quan hệ thương mại Trong hơn một thế kỷ, kể từ khi người Anh đầu tiên đặt chân đến Jamestown đến khi nội chiến Bắc – Nam kết thúc, Liên bang Mỹ đã xây dựng được một nền kinh tế tư bản vững chắc có thị trường thống nhất Đây là cơ sở quan trọng cho sự hình thành những đặc điểm xã hội – văn hóa Mỹ

Mặc dù công nghiệp của các thuộc địa Mỹ không phát triển vào buổi đầu do chính sách kìm kẹp của chính quốc, nhưng quá trình tích lũy tư bản tại thuộc địa Mỹ dần dần được hình thành, tạo tiền đề cho sự ra đời của nền kinh tế công nghiệp và thương mại Mỹ sau này Nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, ngay sau khi hoàn thiện

bộ máy nhà nước, chính phủ Mỹ tiến hành nhiều bước khuyến khích các nhà phát minh, các viện nghiên cứu đưa ra các sáng kiến trong sản xuất Chính phủ Liên bang đặt nhiệm vụ phát triển kinh tế của đất nước lên hàng quan trọng, đặc biệt là trong thời kỳ khi tinh thần độc lập dân tộc của người Mỹ ở đỉnh cao sau chiến tranh với chính quốc 1812 Chính phủ đã cố gắng tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân để sản xuất nông nghiệp và công nghiệp có thể phát triển mạnh mẽ Nhờ sự hỗ trợ của khoa học và kỹ thuật cùng với hệ thống giao thông rộng lớn, đến giữa thế kỷ XIX, các vùng kinh tế lớn đã hình thành trên đất Liên bang Mỹ Các bang ở New England và Trung Đại Tây Dương là trung tâm chính về thương mại, tài chính và ngành chế tạo Khu vực miền Nam, từ Đại Tây Dương tới sông Mississipi và xa hơn nữa, có những tổ chức chính trị chặt chẽ, nổi bật với nền kinh

tế tập trung vào nông nghiệp và khai thác dầu mỏ; khu vực “vành đai mặt trời” từ bang Washington đến California phía tây là trung tâm khoa học kỹ thuật cao

Trang 19

Cùng với sự phát triển của kinh tế và giao thông là sự ra đời của hàng loạt các thành phố công nghiệp, các thị trấn lớn Chỉ trong một thời gian ngắn sau nội chiến, nước Mỹ đã chuyển biến từ một nước cộng hòa nông thôn sang một nước công nghiệp với những đô thị lớn và kéo theo là những biến động lớn về thành phần dân

cư, tác động đến xã hội và con người Mỹ

Về văn hóa, tín ngường, tôn giáo: Trong quá trình nhập cư từ châu Âu sang đất

Mỹ, một quá trình đồng hóa giữa người nhập cư và người Mỹ bản địa đã xảy ra, với

ưu thế nghiêng về văn hóa của người nhập cư châu Âu Do người Anh chiếm đa số trong cộng đồng dân nhập cư, nên quá trình đồng hóa đó diễn ra trước hết là giữa người Anh và những người châu Âu khác và thứ đến là giữa họ với người Mỹ bản địa Tuy nhiên, điều kiện địa lý và môi trường sống, nền sản xuất trên vùng đất mới hoàn toàn khác so với Cực lục địa đã làm nảy sinh những yếu tố mới tác động đến

xã hội và con người Mỹ Quá trình này diễn ra xuyên suốt trong cả quá trình hình thành Liên bang Mỹ và tạo nên nền tảng cho đặc điểm xã hội – văn hóa Mỹ sau này Nhìn chung, những dân di cư đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất mới đều muốn xây dựng nhà thờ hoặc nơi tiến hành các nghi lễ tôn giáo theo mô hình cũ của

họ, bất chấp những bất đồng và khác biệt tôn giáo vốn tồn tại ở châu Âu Một điểm chung giữa các nhóm định cư là họ đều muốn tìm được cơ hội tự do hơn cho việc tiến hành tín ngưỡng của họ tại vùng đất mới nhưng chỉ cho tôn giáo riêng của họ Tuy vậy, đã ra đời thuộc địa Rhode Island, một vùng đất tự do tôn giáo do Roger Williams khởi xướng hình thành Tại đây, không có một nhà thờ chính thức nào được xây dựng và không một ai phải theo một tôn giáo chính thức nào, mọi người đều có quyền tự do phát biểu suy nghĩ của mình Dần dần, tại một số thuộc địa như Maryland và Pennsylvania, việc dung hòa các tôn giáo đã được đưa vào luật

Người Mỹ, từ buổi đầu, đã tìm cách phân tách một cách thận trọng giữa nhà thờ và nhà nước, giữa tôn giáo và chính phủ Hiến pháp Mỹ nêu rõ, không cho phép nhà nước có bất kỳ sự thiên vị nào đối với bất kỳ một tôn giáo nào cũng như không được có bất kỳ ngăn cản nào đối với hoạt động của một loại hình tôn giáo cụ thể Chính vì vậy, cho đến nay trên đất Liên bang Mỹ không hề tồn tại một loại thuế nhà

Trang 20

thờ nào, và không có nhà thờ nào do nhà nước quản lý hay một loại hình tôn giáo nào được nhà nước bảo trợ

Có thể nhận định rằng: so với các nước châu Âu, chủ nghĩa tư bản Mỹ không gặp sự cản trở của thế lực phong kiến hùng mạnh, nên phát triển khá thuận lợi Giai cấp tư sản Mỹ tựa hồ có thể tha hồ cạnh tranh sản xuất và đầu cơ thương nghiệp,

mở rộng địa bàn hoạt động Ở Mỹ, thể chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa được xây dựng một cách thuần nhất, triệt để nhất, chế độ dân chủ tư sản cũng được xây dựng hoàn chỉnh nhất, cho nên quan niệm giá trị của chủ nghĩa các nhân ở đây được lưu hành sâu rộng nhất Người ta không phải suy nghĩ đến quân chủ, giáo hoàng và

sự trói buộc của các lực lượng siêu nhiên khác, tự do theo đuổi thành công, lợi ích, hiệu quả cho cá nhân Quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội, thậm chí giữa con người với Thượng đế ở mức độ nhất định đều bị coi là quan hệ hợp đồng mua bán

Mỹ là nước do dân từ các nước trên thế giới chủ yếu từ châu Âu di cư sang Số dân di cư này mang theo truyền thống văn hóa các nơi trên thế giới Các nền văn hóa truyền thống ấy hòa thành một nền văn hóa mới, phủ định các nền văn hóa truyền thống Bất cứ truyền thống nào cũng mất đi ý nghĩa khi nó không phù hợp với điều kiện mới Chỉ nền văn hóa nào hữu dụng, thu được thành công trên lục địa mới này, mới được khẳng định Hiệu quả hay vô hiệu quả, thành công hay thất bại,

sẽ được lấy làm tiêu chuẩn của tư tưởng và hành động của mọi người, bất kể họ thuộc nền văn hóa truyền thống nào

Tình hình nói trên khiến cho nhiệm vụ chủ yếu của triết học Mỹ tất nhiên là trực tiếp luận chứng lợi ích cá nhân (hiệu quả, công dụng) mà các tầng lớp dân di cư theo đuổi, thậm chí có thể lấy câu nói thường dùng trên thương trường tư bản làm phạm trù triết học, chứ không giống như một số trường phái triết học duy tâm (nhất

là duy tâm khách quan) bị trói buộc bởi các hệ thống tư tưởng, nguyên tắc truyền thống Chủ nghĩa thực dụng phù hợp với yêu cầu đó Đa số người Mỹ dĩ nhiên đều

có tín ngưỡng tôn giáo, nhưng họ muốn làm cho tôn giáo phù hợp với yêu cầu thu được lợi ích, thành công Thế nên tôn giáo cũng nhất trí với Chủ nghĩa thực dụng

Trang 21

Đó là nguyên nhân sâu xa chủ yếu khiến Chủ nghĩa thực dụng ra đời và chiếm địa

vị thống trị lâu dài ở Mỹ

1.2.2 Tiền đề lý luận

Những tiền đề lý luận hình thành Chủ nghĩa thực dụng có thề đề cập đến như: Thuyết nền dân chủ (Democracy) của Alexis de Tocqueville, nghiên cứu các thể chế của Mỹ một cách sâu sắc để sau đó rút ra những nguyên tắc chính chỉ đạo sự phát triển theo hướng đi lên của xã hội Mỹ mà tới tận bây giờ vẫn còn giá trị Những nguyên tắc đó đề cao Chủ nghĩa tự do (Libertarianism), Chủ nghĩa cá nhân (Individualism) và tinh thần độc lập trong khi đề xướng một nền dân chủ theo đa số Quan tòa độc lập với quyền lực chính trị, nhà báo hay cá nhân đều có quyền tự do ngôn luận, chính quyền địa phương có quyền tự trị dưới sự kiểm soát chặt chẽ của

cử tri tương đối độc lập với chính quyền trung ương Như vậy, mọi quyền lực đều thuộc về số đông

Thuyết nồi hầm nhừ (Melting – pot) của Zangwill được nhiều người chấp nhận, nói theo vì nó coi hiện tượng di dân hàng loạt, đáng lẽ dẫn đến một mớ hổ lốn những nhóm dân tộc khác nhau, trở nên có ý nghĩa trong đời sống Mỹ Hệ quả của

nó đưa lại là sự muôn hình muôn vẻ của các cội nguồn sinh học và văn hóa Mỹ Các cuộc hôn nhân giữa những tộc người khác nhau đã góp phần rất lớn vào việc tạo nên dấu ấn văn hóa của môi trường xã hội Và tiếng Anh nhanh chóng trở thành sợi dây liên kết bền vững Chính sự pha trộn đó đã tạo nên tinh thần khoan dung, trí tuệ cởi mở, yêu thích những tình thế mới, …

Bên cạnh các chủ thuyết trên, một số thuyết khác cũng được đề cập tuy không phổ biến: Thuyết phồn thịnh (Abundance) của David Potter, Thuyết đa dạng bất định (Pluralism instable) của Michael Kammen

Mặt khác, có thể khẳng định học thuyết khoa học trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành Chủ nghĩa thực dụng chính là Thuyết tiến hóa (Theory of evolution) của Charles Darwin Học thuyết khá phổ biến không chỉ trong khoa học tự nhiên mà còn ảnh hưởng đến hầu như tất cả lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nửa sau thế

kỷ XIX

Trang 22

Các nhà thực dụng cổ điển kế thừa những quan điểm chính từ thuyết tiến hóa ở hai điểm chính:

- Mọi sự vật, hiện tượng, quá trình hay nói rộng ra là tất cả sự tồn tại hiện hữu trong hiện thực không bao giờ (hay chính xác là chưa bao giờ) bất động, vĩnh viễn chết đứng; không cá thể hay cộng đồng nào dù là thực vật, động vật được sáng tạo một cách nguyên vẹn, hoàn chỉnh Tất cả đều nằm trong dòng chảy vận động, phát triển liên tục Ở đó, tất cả mọi sự hiện hữu đều phải tự thích nghi và tự hoàn thiện dần chính bản thân mình để có thể tồn tại và phát triển

- Trong quá trình đó, sự chọn lọc luôn là nhân tố tác động lớn Bất cứ sự hiện hữu nào đều phải được chọn lọc qua lăng kính của tính hiệu quả, sự hữu dụng, và thích ứng tốt; chính vì vậy, vấn đề không phải là cách thức tiến hành mà quan trong nhất vẫn là hiệu quả tiến hành

Ngoài ra, học thuyết du nhập vào Mỹ tuy hơi muộn nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những tư tưởng cơ bản của Chủ nghĩa thực dụng chính

là Thuyết Darwin xã hội – một biến thể của học thuyết sang lĩnh vực xã hội Học thuyết cho rằng chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn vẫn tiếp tục tác động trong

xã hội loài người cho tới cả ngày nay; một số khác lại cho rằng ngay từ 100 năm trước đây, sự chọn lọc tự nhiên đã tác động trong xã hội dưới hình thức đơn thuần, nhưng sau đó, do những thành tựu của sự phát triển khoa học kỹ thuật, nên cuộc đấu tranh sinh tồn trở nên yếu đi và xuất hiện tình hình là không chỉ những kẻ thích nghi nhất, mà ngay những kẻ lẽ ra phải chết trong hoàn cảnh trước đây thì lại được sống sót Học thuyết coi nguồn gốc của hầu hết mọi tai họa xã hội là do tình trạng sinh sôi nảy nở ngày càng nhiều “những kẻ kém giá trị” đó Ở đây, phái Darwin xã hội

đã xích gần với trường phái chủng tộc – nhân loại học trong Xã hội học

Chủ nghĩa thực dụng là một học thuyết bắt nguồn sâu xa từ các triết gia theo thuyết hoài nghi Hy Lạp cổ đại Bác bỏ khả năng đạt được tri thức chân thực về chân lý thực tại, họ giảng dạy rằng ta phải thực hiện bằng thông tin được viện dẫn (to pithanon) phù hợp với các nhu cầu của thực tế

Trang 23

Mặc dù các nhà thực dụng tuyên bố rằng chủ nghĩa thực dụng là a new name for old ways of thinking (một tên gọi mới cho một vài tư duy cũ), và xem đó như nguồn gốc trực tiếp của sự hình thành, vận động của Chủ nghĩa thực dụng Tuy thế, một điều chắc chắn là Immanuel Kant, người đặt nền móng vững chắc cho rất nhiều

sự phát triển các học thuyết triết học sau này, đã có tác động quyết định ảnh hưởng đến nguồn gốc lý luận của Chủ nghĩa thực dụng Ta đã biết rằng chính Descartes, người nhấn mạnh tính xác thực và tính đúng đắn của lý tính và đặt nền tảng cho quan điểm duy lý phương Tây cận đại, qua định đề "I think, therefore I exist" (Tôi

tư duy, vì thế tôi tồn tại), có lẽ được xem là cha đẻ của Chủ nghĩa duy trí (Intellectualism) Nhưng từ sự điều chỉnh của Kant về quan điểm tính xác thực của

lý tính chính xác, ông khẳng định mệnh đề “I ought" (tôi phải) thay vì "I think" (tôi nghĩ), đã là nguồn gốc sâu xa cho sự ra đời ý chí luận (Voluntaristic) hoặc những triết gia phi lý tính, đặc biệt là quan điểm triết học của Lotze cho rằng "value instead of validity" (giá trị đạt được thay vì tính hợp lý), cũng trở thành một trong những tiền đề lý luận cho sự hình thành Chủ nghĩa thực dụng

Sự quy định của Kant là “niềm tin ngẫu nhiên”, tuy rằng đã tạo nên các nền tảng để sử dụng hiệu quả các phương tiện của một số hành vi, được gọi là niềm tin thực dụng cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của học thuyết Chủ nghĩa thực dụng Một bước hình thành khác là sự khẳng định của Schopenhauer cho rằng trí tuệ phổ biến là phụ thuộc ý chí, một dòng tư tưởng được một số nhà tư tưởng thuộc trường phái tân – Kant lập ra, gồm có Hans Vaihinger và Georg Simmel, đã chú trọng vào việc kiểm tra sự áp đảo của lý trí thực tiễn đối với lý trí lý thuyết Thuyết

vị lợi (utilitarianism) luân lý, với các trắc nghiệm của nó về sự đúng đắn của các hành động theo khả năng của chúng để đem lại cái tốt đẹp nhất cho nhiều người nhất nhưng lại là một bước phát triển của tư tưởng thực dụng Vì nó cũng gây ra mô hình rất giống với sự tối đa hóa công dụng, và có một sự tương đồng về cấu trúc giữa luận điểm (của thuyết vị lợi thực tế) cho rằng một hành vi sẽ đúng nếu các hậu quả của nó là đáng kính trọng đối với “cái tốt đẹp nhất cho số lượng nhiều nhất”, và phiên bản mang tính luận đề của một lý thuyết thực dụng chủ trương về chân lý cho

Trang 24

rằng một viện dẫn thực nghiệm là đúng nếu việc chấp nhận nó làm phát sinh lợi nhuận tối đa.1

1.3 Quá trình phát triển của Chủ nghĩa thực dụng

Chủ nghĩa thực dụng hình thành chính thức vào khoảng thời gian 1871 – 1874 tại Câu lạc bộ Siêu hình học (The Metaphysical club) thuộc trường Đại học Harvard, do Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) đứng đầu Tham gia câu lạc bộ

và sau trở thành đại biểu chủ yếu của Chủ nghĩa thực dụng có nhà triết học William James, nhà tâm lý học C.Wright, luật sư O.W.Holmes, nhà sử học J.Fiske, thẩm phán J.Warner, nhà luật học N.J.Green Tại lĩnh vực của mình, họ trình bày một số

tư tưởng về sau trở thành Chủ nghĩa thực dụng Người có tác động quyết định đến việc hình thành Chủ nghĩa thực dụng là Charles Peirce Đối với ông, Chủ nghĩa thực dụng chủ yếu là một lý thuyết về ý nghĩa, với ý nghĩa về bất kỳ khái niệm nào

có ứng dụng trong thế giới thực vốn có trong các mối quan hệ liên kết các điều kiện ứng dụng thực nghiệm với các kết quả có thể quan sát được Tuy nhiên, bằng “các kết quả thực tế” của việc chấp nhận một ý kiến hay một luận điểm, Peirce muốn nói rằng các hậu quả dành cho thực tế “mang tính thực nghiệm” – các kết quả thực nghiệm hay các kết quả quan sát được – đối với ông, ý nghĩa của một mệnh đề đã được xác định chủ yếu bằng tiêu chí duy thực nghiệm về các hậu quả thực nghiệm của nó trong các điều kiện quan sát (to observe) thật khắt khe Và còn hơn cả điều này, Peirce cũng cho rằng hiệu quả thực nghiệm sẽ tạo ra một sự kiểm soát có kiểm tra về chất lượng cho nhận thức của con người – mặc dù một lần nữa vấn đề thực tế

là tập quán khoa học và tiêu chí hiệu quả phụ thuộc vào vấn đề thành công có thể tiên đoán được (predictable) một cách cụ thể Ông đã phát triển Chủ nghĩa thực dụng của mình đối kháng lại chủ nghĩa duy tâm, cho rằng việc kiểm nghiệm sự thành công có thể ứng dụng được có thể đưa đến việc lý thuyết hóa đơn thuần sẽ

1

Xem: Đỗ Kiên Trung: Nhận thức luận trong Chủ nghĩa thực dụng, Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học,

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, 2006

Trang 25

vấp phải thực tại gay go Tuy nhiên, những người theo học thuyết của ông sau này

đã làm dịu đi nhiều quan điểm của ông, cho đến các triết gia thực dụng ngày nay thì hiệu quả của các ý tưởng gồm chứa trong sự thích nghi đơn thuần của họ, của cộng đồng chứ không phải trong thành công mà cộng đồng có thể (hay không thể) đạt được khi áp dụng các ý tưởng này vào thực tiễn

Mặc dù Peirce đã phát triển Chủ nghĩa thực dụng thành một lý thuyết triết học quan trọng, nhưng chính William James (1842 – 1910) đã đưa nó vào biểu đồ tri thức bằng Chủ nghĩa thực dụng có tầm ảnh hưởng rộng lớn của ông: “A new name for some old ways thinking” (một tên mới cho một số cách tư duy cũ) (New York, 1907) Tuy nhiên, James đã thay đổi (và – như chính Peirce đã nhận thấy là nó – đã hủy hoại) Chủ nghĩa thực dụng Trong Chủ nghĩa thực dụng, ở những chỗ mà Peirce nhận thấy là có con đường dành cho các tiêu chí không mang tính chất cá nhân và khách quan, thì James lại chuyển nó thành cá nhân và chủ quan Với James, chính ý tưởng cá nhân (có đặc trưng tiềm tàng) về sự hiệu quả và thành công do một con người cụ thể nắm giữ mới đem lại được cốt lõi thực dụng chứ không phải một nhóm trừu tượng với các đại diện về lý trí lý tưởng Đối với ông, hiệu quả thực dụng và thành công có thể ứng dụng được không liên quan gì đến một sự đa dạng phong phú gồm các cá nhân bằng xương bằng thịt Theo đó, chân lý của James là loại thực tại nào thúc ép và bắt buộc các cá nhân con người phải tin tưởng; đó là một vấn đề về

“những gì phải trả giá bằng niềm tin” trong diễn tiến hoạt động của con người thuộc phạm vi của môi trường xung quanh và sự thủ đắc của nó là một sự phát minh hơn

là một thiên khải Với James thì sự vững vàng của một luận đề được xác định bằng các hậu quả thực nghiệm của nó theo một chiều hướng bao quát hơn chiều hướng có thể quan sát đơn thuần – một chiều hướng bao gồm luôn cả lĩnh vực dễ gây xúc động nữa

Nhưng cũng như Peirce, John Dewey (1859 – 1952) đã xem việc thẩm tra như tiến trình tự chỉnh sửa mà các phương pháp và các quy phạm của nó được đánh giá

và xét duyệt dưới ánh sáng của kinh nghiệm xảy ra sau Nhưng Dewey lại xem việc tái thẩm tra này như một tiến trình chung diễn ra dưới ánh sáng của các giá trị nào

Trang 26

không (như với Peirce) có liên quan cụ thể gì đến khoa học (gọi là sự tiên đoán và kiểm soát thực nghiệm), chứ không phải là các giá trị có gốc rễ sâu rộng trong sự an bài về tâm linh của quảng đại quần chúng – chiều kích luân lý và thẫm mỹ hiện đang gồm chứa một cách cụ thể Chủ nghĩa thực dụng của Pierce mang tính chất phát triển của tầng lớp ưu tú của xã hội về mặt khoa học, Chủ nghĩa thực dụng của James lại mang tính cách cá nhân về mặt tâm lý, còn Chủ nghĩa thực dụng của Dewey mang tính bình dân về mặt dân chủ

Trong triết học thực dụng cổ điển, đáng chú ý còn có Josiah Royce (1855 – 1916), triết gia duy tâm tuyệt đối của Mỹ, giáo sư Đại học Harvard Tác phẩm đầu tiên The religious aspect of Philosophy (Khía cạnh tôn giáo của triết học) (1885) là tác phẩm gây ấn tượng nhất của ông Royce đã biện luận về sự hiện hữu của một tinh thần tuyệt đối (absolute mind) bao gồm tất cả các tinh thần hữu hạn như là sự lý giải duy nhất về làm thế nào mà tư duy lại nhắm vào các đối tượng chứ không phải theo mô tả như nó phải nhắm vào các đối tượng nếu có một điều như một sai lầm (như bắt buộc phải có, về nỗi đau của sự mâu thuẫn thực dụng) Thuyết thực dụng của Royce một phần là nỗ lực để giải đáp bằng cách chứng tỏ rằng làm thế nào mà

tư tưởng có thể chọn ra được các đối tượng của mình chỉ bằng cách ứng xử Chính tác phẩm này cũng chứa đựng một trong những câu nói hay nhất về vấn đề đạo đức học cơ bản, là làm thế nào tư duy luân lý lại có thể có được mãnh lực thúc đẩy của ý chí mà vẫn còn thực tế, giải quyết nó bằng cách xem các thực tế về chính ý chí như

sự thúc đẩy kỳ quặc Ông đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của luận lý học hình thức ở Mỹ.1

Một trong những đại biểu ưu tú khác là George Santayana (1963 – 1952), là học trò nhưng đầy mâu thuẫn với người thầy là William James nhưng Santayana được đứng ngang hàng với James giữa những gương mặt lớn trong “thời đại vàng của triết học Mỹ” Ông nổi tiếng không chỉ như một triết gia mà còn nổi tiếng như

1

Xem: Đỗ Kiên Trung: Nhận thức luận trong Chủ nghĩa thực dụng, Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học,

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, 2006

Trang 27

một thi sĩ, tiểu thuyết gia, và nhà phê bình văn học, ông nổi tiếng nhờ tính cách đặc trưng mà ông gọi là “truyền thống phong lưu” của văn hóa Mỹ Các tác phẩm chủ yếu có The sense of beauty (1896), The life of reason or The Phases of human progress (1905 – 1906), Essays in critical realism (1920), Scepticism and Animal faith (1923), Realms of being (1927 – 1940), The Idea of Christ in the Gospels (1946) Ông triển khai “đời sống tinh thần” theo chiều hướng phần nào của Plato;

đó là sự chuyên tâm vào một loại trực giác thần bí các bản thể tự thân hơn là để nhắm tới hành động thực tiễn; cách riêng những bản thể có thể chiêm ngắm dưới dạng của điều thiện Tuy nhiên, đây chỉ là một chọn lựa có thể của con người, và Santayana vẫn tuyên bố dành sự quí chuộng cho đời sống lý trí, trong đó có đời sống tinh thần chỉ là một thành phần của sự hòa hợp nhân loại rộng lớn hơn Điều làm cho ông đặc biệt thù ghét là bất kỳ tư tưởng nào cho rằng thế giới và chân lý về thế giới là một sản phẩm do con người dựng lên Ông phàn nàn về thái độ duy ngã

tự tôn của con người và gọi nó là một trọng tội của chủ nghĩa dyt tâm, vì nó diễn tả một sự căm thù nguy hiểm đối với sự lệ thuộc của chúng ta vào một vũ trụ lớn hơn con người Đối lập với thái độ “vô đạo hoàn vũ” này, ông nhìn nhận mình theo chủ nghĩa tự nhiên, và coi Spinoza là một trong những bậc thầy chủ yếu của quan điểm này

Đến những năm đầu thập niên 1950, Chủ nghĩa thực dụng được bổ sung thêm một số tư tưởng mới, đáng chú ý là các phương pháp phân tích của chủ nghĩa thực chứng logic Tuy thế, những tư tưởng chủ đạo của các nhà khai phá thực dụng cổ điển vẫn được duy trì Có thể xem như đây là một bước chuyển giao, bước quá độ, đây là giai đoạn triết học thực dụng tân cổ điển

Trong giai đoạn này đáng chú ý có Hilary Putnam (1926 – ), triết gia Harvard, lúc đầu được đào tạo theo truyền thống thực chứng logic, đặc biệt là của Rudolf Carnap Sau đó, Putnam đã chịu ảnh hưởng của các triết gia như Ludwig Wittgensteinvà Nelson Goodman, Theo tiến trình, ông đã tách khỏi nhóm và cuối cùng đã trở thành một người phê phán gay gắt phong trào này Để chống lại thuyết thực chứng, ông đã biện luận rằng không có một nền tảng đặc quyền nào (ví dụ như

Trang 28

các dữ liệu cảm giác {sense data}) cho tri thức của ta, không có một nguyên lý cố định nào về khả năng kiểm chứng, không có sự phân biệt giá trị – sự kiện (fact – value) như các triết gia thực chứng đã định ra đặc trưng cho nó, và các câu (các niềm tin của ta) không thể được đánh giá là đúng hay sai một cách riêng lẻ (nghĩa là chính thể luận {heloism} chứ không phải thuyết nguyên tử là đúng)

Putnam cũng là một nhà phê bình ở cương vị người theo thuyết nền tảng, mà ông gọi là thuyết duy thực siêu hình Toàn bộ quan điểm về con mắt – Thượng đế đòi hỏi phải đem lại cho ta sự diễn giải về các bộ phận của thế giới (furniture of the world) đều là ương ngạnh cho dù chúng có xuất phát từ một viễn cảnh thực chứng – tương đối hay duy vật – duy thực Vị trí “trung dung” của ông mang đặc trưng “duy thực – nội tại” Đó là một loại chủ nghĩa Kant sau này bàn về thế giới (hiện thực), nhưng vẫn luôn nằm trong khuôn khổ tinh thần của ta (các khái niệm, các tập hợp niềm tin, các ràng buộc) Vị trí của ông, ông cho rằng mang đặc tính khách quan cả

về khoa học lẫn đạo đức còn tốt hơn là các vị trí cực đoan mà ông chống đối Các quan điểm này, nếu có, sẽ hủy hoại chứ không phải củng cố cho khách quan tính

Về sau, Putnam vẫn bác bỏ Thuyết chức năng (Functionalism), lý thuyết cho rằng các trạng thái tinh thần là các trạng thái có thể tính toán được – một lý thuyết mà chính ông đã sáng lập ngay từ đầu trong sự nghiệp của ông

Trong những năm 1970 trở lại đây, cùng với việc trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm logic ngày càng bộc lộ mâu muẫn về lý luận, trong triết học Mỹ, nhất là triết học phân tích, lại nổi lên phong trào phục hồi Chủ nghĩa thực dụng Triết học tân thực dụng với Willard van Orman Quine (1908 – 2000), Richard Rorty (1931 – ) và Cornel West (1953 – ) là đại biểu chủ chốt, đã trở thành hình thái chính của trào lưu Chủ nghĩa hậu hiện đại tại phương Tây hiện nay

Ngoài những dòng chảy chính trên, việc áp dụng Chủ nghĩa thực dụng như một học thuyết công cụ trong việc đánh giá, phân tích bản chất đối tượng cũng được một số đại biểu triết học của những trường phái khác ứng dụng Việc đa dạng hóa học thuyết đó làm Chủ nghĩa thực dụng càng được phổ cập trong đời sống lý luận

và thực tiễn tại Mỹ cũng như trên thế giới Có thể gọi đây là triết học thực dụng mở

Trang 29

rộng Đáng chú ý có Clarence Irving Lewis (1883 – 1964), triết gia Mỹ, công trình ban đầu của ông tập trung vào logic ký hiệu và mô thức Sau đó ông sang lĩnh vực nhận thức luận, lý thuyết về giá trị cách chung và đạo đức học Ông lập luận rằng kiến thức kinh nghiệm tùy thuộc vào những bộ nguyên tắc và phạm trù vừa cảm nhận vừa chủ quan tiên nghiệm (a priori) và có sẵn (given), thông qua đó chúng ta

lý giải những cái có sẵn Theo Thuyết “thực dụng nhận thức” của ông, tiên nghiệm

“có những thay thế”; nó không phải là một bộ chân lý trường cửu hay tự minh bạch hoặc cần thiết cho trí năng, nhưng một bộ những chương trình nhận thức mà tổ chức của chúng về kinh nghiệm của chúng ta là chủ thể để thay đổi dựa trên các nền tảng, chủ thể thay đổi, có nghĩa là, khi nó không đưa tới “sự thỏa mãn lâu dài” cho các nhu cầu con người của chúng ta

Ngoài ra, còn phải kể đến Wilfrid Sellars (1912 – 1989), triết gia Mỹ nổi tiếng

về những nghiên cứu bao quát của ông về siêu hình học và triết học tinh thần Là con trai nhà triết học duy thực phê bình Roy Wood Sellars (1880 – 1973), Wilfrid Sellars phân biệt giữa hình ảnh hiển nhiên của con người về các niềm tin, ước muốn, và ý hướng; và hình ảnh khoa học của con người như một hữu thể có thân xác và là đối tượng nghiên cứu của các nhà vật lý học, sinh vật học và sinh lý học Nhiệm vụ hòa giải hai hình ảnh này là một vấn đề trọng yếu của triết học tinh thần Phương pháp đặc trưng của Sellars trong việc khảo cứu vấn đề này là lối cắt nghĩa theo chủ nghĩa hành vi ngôn ngữ về tư tưởng và ý nghĩa theo vai trò chức năng của các bộ phận ngôn ngữ Tư tưởng là tiếng nói nội tâm được rập khuôn theo tiếng nói bên ngoài, và tiếng nói bên ngoài là sự thi hành khả năng sử dụng từ ngữ và câu một cách thích hợp trong tương quan với thế giới và giữa con người với nhau Như thế, hình ảnh khoa học của con người không gợi ra một điều gì mâu thuẫn

Bên cạnh giai đoạn phát triển cường thịnh với các triết gia Mỹ, Chủ nghĩa thực dụng cũng được lưu hành rộng rãi ở các nước phương Tây cựu lục địa như tại Anh, đầu thế kỷ XX xuất hiện trào lưu Chủ nghĩa thực dụng với C.Schiller (1864 – 1937) làm đại biểu Tại Italy, đầu thế kỷ XX cũng xuất hiện trào lưu Chủ nghĩa thực dụng một thời gian, chia thành hai phái, một do Giovanni Vailati (1863 – 1909), Mario

Trang 30

Calderoni (1879 – 1914) làm đại biểu, một do Giovanni Papini (1886 – 1956) làm đại biểu Ở Đức, Áo, tuy không xuất hiện triết học thực dụng song một vài trường phái triết học như chủ nghĩa Kant mới, chủ nghĩa Mach lưu hành ở các nước đó về mặt lý luận cũng kế thừa Chủ nghĩa thực dụng Tại một số nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh chịu ảnh hưởng của Mỹ, Chủ nghĩa thực dụng cũng lưu hành Ví

dụ, ở Trung Quốc, có trào lưu Chủ nghĩa thực dụng do Hồ Thích làm đại biểu, có ảnh hưởng rất mạnh đặc điểm tư tưởng văn hóa đương thời.1

1

Bùi Đăng Duy - Nguyễn Tiến Dũng: Lịch sử Triết học phương Tây hiện đại, Nxb Tổng hợp, Tp Hồ Chí

Minh, 2005, tr.29

Trang 31

Chương 2

ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

2.1 Ảnh hưởng đến giá trị đạo đức của sinh viên

Giá trị là cái gì làm cho một vật trở nên có ích lợi, có ý nghĩa, là cái đáng quý

về mặt nào đó; có giá trị vật chất, giá trị xã hội, chính trị, giá trị tinh thần

Có người khi dùng giá trị truyền thống chỉ các giá trị tốt đẹp để phân biệt với các phong tục tập quán xấu Khi nói tới giá trị đạo đứa tốt, tiếng Việt gọi là phẩm chất, phẩm giá Như vậy, từ quan niệm trên có thể hiểu giá trị đạo đức là những cái được con người lựa chọn và đánh giá như việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương.1

Ở đây giá trị đạo đức của sinh viên được hiểu là những suy nghĩ, hành động, việc làm của sinh viên có ý nghĩa tích cực cho bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội

và phù hợp với truyền thống của dân tộc

Hiện nay, sự phát triển của khoa học công nghệ, nền kinh tế thị trường tại Việt Nam trên đà hội nhập với nền kinh tế thế giới, môi trường giáo dục đại học thay đổi hướng đến sự tự chủ và đổi mới toàn diện nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo một thế hệ người lao động mới có trình độ chuyên môn vững vàng và phẩm chất đạo đức tốt, là nhân tố tác động đa chiều đến giá trị đạo đức của sinh viên

Để phân tích đánh giá đúng thực trạng giá trị đạo đức của sinh viên Việt Nam nói chung, sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng dưới tác động mạnh mẽ của Chủ nghĩa thực dụng, lối sống thực dụng như hiện nay, chúng ta cần phân tích, đánh giá đúng đắn, khoa học và khách quan những mặt mạnh, mặt yếu của sinh viên

Về mặt mạnh, ưu điểm, sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đoàn viên, thanh niên, sinh viên đa phần là tốt” Thật vậy, bước vào thời kỳ đổi mới, một tầng

1

Xem: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2000, tr 9

Trang 32

lớp thanh niên, sinh viên với những phẩm chất và năng lực đang hình thành và phát triển Thời cơ và vận hội đang tạo điều kiện hình thành và thúc đẩy những giá trị, quan niệm đạo đức phù hợp với tinh thần mới như tự ý thức cá nhân, năng động sáng tạo, ý chí phấn đấu học tập, lập thân lập nghiệp ở sinh viên Khi được hỏi

“mục đích trong tương lai của bạn là gì?”, trong tổng số 500 sinh viên được hỏi thì

có 227 sinh viên định hướng và quan tâm đến công việc, chiếm 43,0% Điều này chứng tỏ rằng sinh viên quan tâm khá nhiều đến sự nghiệp, hoài bảo tương lai của mình Đây là những nhân tố góp phần định hướng giá trị sống cho sinh viên ngày nay

Trong điều kiện lịch sử những năm đầu thế kỷ XXI, sinh viên đã có nhiều thuận lợi để vươn lên khẳng định và phát huy thế mạnh của tuổi trẻ Kế thừa và phát huy truyền thống của cha anh, được Đảng, Nhà nước, nhà trường, xã hội và gia đình quan tâm, tạo mọi điều kiện; sinh viên đang thực sự là lực lượng xung kích trong sự nghiệp đổi mới Đại bộ phận sinh viên hiện nay sống có hoài bão, lý tưởng cao đẹp,

có ý thức, trách nhiệm công dân, có sức khoẻ và là lực lượng có tri thức khoa học, muốn vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức Trong câu hỏi: “Trong học tập, bạn

đề cao vấn đề gì?” thì có 400 trên tổng số 500 sinh viên trả lời là “tri thức”, chiếm 75,8%; 144 sinh viên trả lời là “điểm”, chiếm 27,3%; 20 sinh viên trả lời là “đối phó”, chiếm 3,8% Vượt qua những khó khăn của cuộc sống sinh viên, nhiều sinh viên đã vươn lên lập thân, lập nghiệp, tham gia phong trào Đoàn, Hội, tham gia chiến dịch tình nguyện “Mùa hè xanh”… trong đó nhiều phẩm chất và tài năng đã

nở rộ trong các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, giành nhiều giải thưởng lớn như: Ơrêca, cuộc thi Olympic Toán quốc tế, giải thưởng Rôbôcom của sinh viên Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, phần thưởng “Trái tim hồng”…

Sinh viên hiện nay là thế hệ đi sau, được thừa hưởng một gia sản thành quả cách mạng to lớn, vô giá do ông cha để lại Họ sinh ra và lớn lên khi đất nước đã hoà bình, được sự quan tâm giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội Sinh viên được đào tạo, giáo dục cơ bản, có hệ thống, trở thành một tầng lớp trí thức cao của

xã hội Ngày nay có điều kiện thuận lợi để phát huy mọi khả năng sáng tạo để phục

Trang 33

vụ sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, đồng thời không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hay các điều kiện chính trị, xã hội, giai cấp như thế hệ đi trước Đó là những thuận lợi cơ bản và là dấu hiệu đáng mừng, đáng trân trọng, tự hào để chúng ta tin cậy vào lớp trẻ, thanh niên, sinh viên nói chung và thanh niên, sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Tuy nhiên, sinh viên là chủ thể đang phát triển, đang hoàn thiện Điều đó nói lên rằng sinh viên Việt Nam nói chung và mỗi người sinh viên nói riêng đều có mặt mạnh, mặt yếu của họ Những năm gần đây, bên cạnh những mặt mạnh như trên, trong sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng còn những điểm yếu đáng lo ngại, đặc biệt là về giá trị đạo đức, thang giá trị chưa được xác định Hiện nay, thời buổi kinh tế thị trường đang gây ra những hiện tượng tiêu cực, lệch lạc về hành vi và quan niệm đạo đức ở đại bộ phận sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh như cá nhân thực dụng, chạy theo lối sống thực dụng, chạy theo giá trị vật chất, lợi ích trước mắt hơn giá trị tinh thần, lý tưởng, lợi ích lâu dài Trong câu hỏi: “Trong cuộc sống hiện tại, với bạn quan trọng nhất là gì?” thì có 149/500 sinh viên được hỏi chọn “Tiền” là quan trọng, chiếm 28,2% và sinh viên chọn “Lý tưởng” là 82/500, chiếm 15,5%; “Địa vị” là 81/500 chiếm 15,3% Mặc dù

số sinh viên lựa chọn “Tình cảm” là 172/500, chiếm 32,6% nhưng lựa chọn “Tiền”

là quan trọng cũng khá cao trong khi đó lựa chọn “Lý tưởng” thì rất ít Đây là con

số cho thấy xu hướng trong cuộc sống hiện nay, sinh viên coi trọng giá trị vật chất,

ít coi trọng giá trị tinh thần, lý tưởng, ít nghĩ đến lợi ích chung, sống vì tiền ngày càng tăng Khi trong cuộc sống, nếu ta coi trọng đồng tiền quá sẽ dẫn đến sự chi phối của đồng tiền ngày càng mạnh mẽ và dẫn đến lối sống lạnh lùng kiểu “tiền trao, cháo múc” Như vậy, sẽ đánh mất đi những lý tưởng cao đẹp, những hoài bão, ước mơ cống hiến cho cộng đồng Đây là điều đáng báo động mà sinh viên chúng ta phải xác định lại khung giá trị sống cho mình

Về giá trị lòng nhân ái, khoan dung, tinh thần vì nghĩa, quan tâm đến các di tích văn hoá, di tích lịch sử, truyền thống dân tộc, những sinh viên trong cuộc sống hiện tại họ quan trọng nhất là “Tiền” thì việc tham gia các di tích lịch sử văn hoá có

Trang 34

24 người “không quan tâm”, 77 người “tham gia rất ít”, 20 người “tham gia vì phong trào” và có 28 người “thường xuyên tham gia” Các số liệu này cho thấy các sinh viên lựa chọn “Tiền” là quan trọng thì họ tham giá rất ít các hoạt động phong trào liên quan đến giá trị văn hoá truyền thống, đồng thời làm cho tính tích cực, năng động, sáng tạo của sinh viên chưa được phát huy, lòng yêu nước, ý thức tự hào dân tộc, tự tôn dân tộc, truyền thống cách mạng và lịch sử, bản sắc dân tộc chưa được hun đúc, gìn giữ ở đại bộ phận sinh viên chúng ta Lòng nhân đạo, tinh thần tương thân, tương ái, vì cộng đồng còn hạn chế trong nhiều sinh viên Khi được hỏi:

“Bạn tham gia hoạt động xã hội, nhân đạo như thế nào?” thì có 116/500 sinh viên trả lời là “thường xuyên”, chiếm 20%; “tham gia rất ít” là 332/500 sinh viên, chiếm 62,9% và “không tham gia” là 52/500 sinh viên, chiếm 9,8% Từ đó có thể rút ra rằng hiện nay nhiều sinh viên sống thiếu giá trị nhân văn, nhân bản cao cả, tinh thần nhân đạo vì con người đang ngày càng giảm sút, sống vị kỷ, sợ thiệt thòi bản thân, không vì cộng đồng

Hiện nay, điều đáng quan tâm đặc biệt là lý tưởng đạo đức cho sinh viên, sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng như sinh viên Việt Nam có những phẩm chất quý báu như trẻ, khỏe, ham học, năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm theo cái mới… Tuy nhiên, trong giai đoạn quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội

ở nước ta, nhiều vấn đề lý luận chưa được bổ sung kịp thời, trong khi đó một bộ phận sinh viên đang dao động, lập trường không vững vàng, hoài nghi về Chủ nghĩa

xã hội, xa rời quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, xem việc học các môn chính trị-tư tưởng như các môn Triết học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng… chỉ để cho qua chuyện, để đủ điểm ra trường nhưng ít sinh viên nhận thức được rằng đó là những môn học nền tảng, trang bị cho bản thân sinh viên thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cũng như xây dựng nhân sinh quan cộng sản Trong nghiên cứu với tổng số điều tra 500 sinh viên các trường Đại học thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về “Bạn có thích các môn học lịch sử, tư tưởng, văn hoá không?” thì thu được con số “Rất thích” là 28 sinh viên, chiếm 5,3%; “bình thường” là 294 sinh viên, chiếm 55,7%; “thích” là 84 sinh viên, chiếm 15,9% và

Trang 35

“không thích” là 45 sinh viên, chiếm 17,8% Qua số liệu, ta thấy số sinh viên xem các môn học trên là “bình thường” và “không thích” rất lớn, ngược lại sinh viên “rất thích” và “thích” thì lại rất ít Quả thực đây là một thực trạng đáng báo động, cần phải quan tâm đến công tác giáo dục các môn học này là hết sức cần thiết và cấp bách Trong cuộc sống hiện nay, đặc biệt đáng lo ngại là việc sinh viên coi “lý tưởng” chỉ là thứ yếu, chiếm 15,5% và mục đích tương lai mà họ hướng đến lý tưởng là rất ít, chỉ chiếm khoảng 11,9% Lý tưởng là những khát khao, nguyện vọng, tư tưởng về một tương lai tốt đẹp mà con người hằng mong ước vươn tới Lý tưởng có vai trò to lớn đối với hoạt động của con người Người có lý tưởng cao đẹp thì không những có yêu cầu cao đối với chính bản thân mình mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với những công việc của người khác Qúa trình hiện thực hóa

lý tưởng được bắt đầu từ việc xác định, củng cố niềm tin rồi sau đó niềm tin sẽ trở thành một động lực quan trọng đối với hoạt động của con người Do vậy, thanh niên, sinh viên rất cần phải có niềm tin, tin vào lý tưởng, tin vào những giá trị định hướng ở nội dung các môn học lý luận; xây dựng niềm tin để đi đến xây dựng lý tưởng đạo đức cho bản thân

Lý tưởng đạo đức của sinh viên chẳng phải là cái gì quá cao xa, trừu tượng, hư

vô mà xuất phát từ đời sống kinh tế-xã hội, bởi cách nghĩ, cách làm hiện tại và tương lai của chính bản thân sinh viên Nó cũng là một bộ phận của lý tưởng xã hội, thống nhất với lý tưởng xã hội Lý tưởng xã hội của chúng ta hiện nay chính là

“Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Vì vậy,

lý tưỏng đạo đức mà nhân dân ta lựa chọn cũng phản ánh nội dung lý tưởng “Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” Lý tưởng đó luôn hướng tới mục tiêu cao cả “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Với vai trò tiên phong trong công cuộc Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước, thanh niên mà đặc biệt là thanh niên trí thức mà hôm nay họ còn là sinh viên-

là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp đó Do đó trước thực trạng như hiện nay, giáo dục nhân cách nói chung và giáo dục lý tưởng đạo đức cho sinh viên nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, làm sao để sinh viên có lý tưởng

Trang 36

sống cao đẹp, đạo đức trong sáng, phấn đấu hiện thực hóa vì mục tiêu lý tưởng của mình

Cũng như thanh niên, sinh viên cả nước, vấn đề quan tâm, và bức xúc là vấn

đề việc làm sau khi ra trường Khi ra trường họ sẽ làm gì? Ở đâu? Làm công việc như thế nào? Việc định hướng nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên là hết sức quan trọng trong thời buổi hiện đại ngày nay Với câu hỏi:

“Mục đích trong tương lai của bạn là gì?” thì có 227 sinh viên quan tâm, lựa chọn

“công việc”, chiếm 43,0% và “địa vị” là 105 sinh viên, chiếm 19,9% Như vậy vấn

đề quan tâm nhất của sinh viên là công việc sau đó, là địa vị xã hội, bởi vì việc làm

sẽ quyết định chính tương lai của họ, nhưng vấn đề là giải pháp nào để hướng sinh viên đến công việc phù hợp năng lực bản thân, phù hợp với chuyên môn, có thu nhập ổn định và hướng đến cống hiến cho xã hội Qua câu hỏi: “Việc làm khi ra trường mà bạn muốn?”, chúng tôi nhận được kết quả là 227/500 sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được hỏi trả lời “công việc có nhiều tiền”, chiếm 52,5%; 327/500 sinh viên trả lời “công việc phù hợp với chuyên môn”, chiếm 61,9%; 128 sinh viên trả lời “công việc có thể cống hiến và phục vụ xã hội”, chiếm 24,2% Điều đó cho thấy mặc dù sinh viên lựa chọn “phù hợp với chuyên môn” cao nhưng số sinh viên lựa chọn “công việc nhiều tiền” cũng khá cao, ngược lại số sinh viên lựa chọn “công việc có thể cống hiến và phục vụ xã hội” thì rất thấp Sinh viên chúng ta ai cũng muốn kiếm được việc làm có thu nhập cao và phù hợp với chuyên môn của mình nhưng vậy thì ai sẽ là người chịu hy sinh chấp nhận công việc thu nhập thấp và cống hiến cho xã hội nhiều hơn? Một vấn đề được đặt ra hiện nay là đạo đức, lương tâm nghề nghiệp của sinh viên chúng ta ở đâu? Sinh viên phải biết rằng giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng phải biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng lúc cần thiết Một thực trạng đáng lên án hiện nay là nhiều sinh viên lựa chọn mục đích tương lai là công việc và địa vị, công việc thì lựa chọn có nhiều tiền trong khi đó ít hướng đến cống hiến và phục vụ cho xã hội, một khi con người ta có quyền, có tiền, có địa vị mà không vì xã hội, vì cộng đồng, không có lý tưởng, coi trọng giá trị vật chất thì không biết điều gì sẽ xảy đến với

Trang 37

nhân dân, với tiền đồ sự nghiệp mà cha ông gây dựng Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân của mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho

họ Họ muốn địa vị cao nhưng lại sợ trách nhiệm nặng… Dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí cách mạng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút”1

2.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến quan niệm sống của sinh viên

Trong xu thế phát triển của đất nước ngày nay, từ “thực dụng” dường như đã

vô tình gắn chặt vào thế hệ 8x, mà đại diện cho thế hệ này không ai khác chính là sinh viên Chúng ta chưa bàn đến “thực dụng” ở đây là tốt hay xấu và vấn đề là tại sao ngày nay đa phần sinh viên lại chạy theo lối sống thực dụng? Phải chăng trong

xu thế hội nhập của đất nước thì việc tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây

đã làm cho thế hệ trẻ trở nên như thế? Theo khảo sát của chúng tôi thì có lẽ không hẳn là vì như vậy, có đến 93.6% sinh viên vẫn ý thức việc tiếp thu văn hóa phương Tây một cách chọn lọc, họ không tiếp nhận ồ ạt nhưng vấn đề là xã hội đã định hướng cho họ chọn lọc như thế nào Họ đang là “nạn nhân” hay là khách thể chủ quan của lối sống thực dụng?

“Thực dụng” trong lối sống của sinh viên biểu hiện ở việc yêu thực dụng, kết bạn cũng thực dụng và học tập cũng thực dụng Nhưng “thực dụng” ở đây cũng bao hàm cả mặt xấu và mặt tốt của nó

Chẳng hạn trong tình yêu, nếu như một anh chàng lỡ yêu phải cô nàng giàu

có thì sẽ bị kết ngay vào tội “lợi dụng”, liệu kết tội như vậy có vội vã quá không? Hay trong trường hợp người yêu mượn bạn một số tiền lớn trong khi hai người chỉ mới quen nhau ba tháng, bạn có cho mượn không? Nếu bạn cho mượn thì chắc chắn được cho là người tốt bụng và tình cảm nhưng nếu bạn buông câu: “Không, ai biết yêu đương đến đâu mà cho vay, lỡ ôm tiền chạy mất thì sao?” hoặc có thể đưa lí do:

1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2002, tập 6, tr.120

Trang 38

Không

Rất ít Thường xuyên

Bạn tham gia hoạt động xã hội như thế nào?

400 300 200 100 0

Frequency

“Cho vay chứ, tháng trước ảnh cũng cho tui vay, tui chưa trả hết, giờ đưa cho mượn lại, nếu có bỏ đi thì cũng không sợ lỗ!” thì ngay lập tức người ta sẽ gán ngay cho cô nàng là “đồ thực dụng, yêu mà chỉ giỏi lợi dụng!” Đó chỉ là một vài ví dụ cho vấn

đề sinh viên yêu có “thực dụng” hay không? Theo tôi, trong ít nhiều trường hợp, bản thân thực dụng hay không thực dụng phụ thuộc vào ánh nhìn, cách xét đoán của người ngoài

Nhưng bên cạnh đó không phải không có những suy nghĩ thực dụng đến mức người vô cảm mấy cũng thấy xót xa, cũng có lẽ vì họ nghĩ rằng không cần quan tâm đến suy nghĩ của những người xung quanh khi có sinh viên phát biểu rằng:

“Chương trình đi tham quan bảo tàng chỉ cho có 2 điểm cộng thôi á? Đóng quách

3000 đồng cho phong trào kia, không phải đi mà được tận 3 điểm cộng phải hơn không?” Dưới đây là biểu đồ khảo sát việc tham gia hoạt động xã hội của sinh viên:

Biểu đồ 1(xem phần phụ lục, câu 3)

Qua đó chúng ta có thể thấy rằng sinh viên ngày nay có vẻ rất thờ ơ với việc tham gia hoạt động xã hội Theo số liệu khảo sát của chúng tôi thì chỉ có 23,2% sinh viên thường xuyên tham gia, 66.4% tham gia rất ít và 10,4% là hoàn toàn không tham gia Theo nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng1 đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay:

1

Giảng viên khoa Giáo dục học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học

Quốc gia TP Hồ Chí Minh, vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống sinh viên hiện

nay Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường Đại học Bách Khoa, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Đại học Khoa học Tự Nhiên

Trang 39

60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội, đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội Họ luôn tỏ thái độ bàng quan trước những sự kiện xảy ra xung quanh mình Đa phần đây là những sinh viên sống cùng gia đình, họ thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên sống cùng gia đình Đặc biệt môi trường sống ở kí túc

xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành lối sống này

10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ Những điều quan tâm của nhóm sinh viên này thường chỉ là: điện thoại nào đời mới, phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập …, hàng hiệu ở chỗ … Tuy vậy họ cũng là những người rất năng động với những hoạt động vui chơi, giải trí, những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện lối sống tiêu dùng “sành điệu”, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách

30% sinh viên say mê học tập Ai cũng biết rằng trách nhiệm của sinh viên đến giảng đường là học hỏi, nâng cao kiến thức, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho tương lai Nhưng điều đáng tiếc là chỉ có 30% sinh viên thực hiện được công việc này Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng

và say mê học tập Họ vừa học vừa làm thêm, đi thư viện, tham gia các hoạt động câu lạc bộ nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân

Bên cạnh đó, ngay cả trong việc chọn việc làm cũng có hai khuynh hướng, một bên là những người quan niệm nơi nào “đất lành chim đậu”, coi việc trung thành với một công ty là một thứ xa xỉ, lạc hậu, chỉ cần nơi nào trả lương cao hơn là

họ sẵn sàng chuyển chỗ Còn một bên là những người sống vì lý tưởng, khi ra trường họ chấp nhận sống chết cùng những dự án, đề tài nghiên cứu khoa học của một cơ quan nhà nước với mức lương lẫn trợ cấp chỉ đủ đổ xăng mỗi ngày + tiền cà phê Thực ra những người chấp nhận trung thành như vậy cũng không hẳn là họ sống vì lý tưởng khi còn phải đối diện với những lo toan cơm áo, gạo tiền, nhưng cứ

Trang 40

nghĩ đến việc chạy theo lời mời của công ty nước ngoài với mức lương tính bằng

“ngàn đô” thì đa phần họ lại ngần ngại sợ bị gán vào tính từ “thực dụng”

Trong cuộc sống của sinh viên ngày nay có một vài tuyên ngôn chẳng hạn như “không có kẻ thù vĩnh viễn, cũng không có bạn bè vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn” hay “bất cứ cái gì có lợi là chân lý”, chúng ta hãy đừng phản đối vội, lợi ích thực sự là vĩnh viễn Chúng ta cứ nghĩ mà xem, không nói tới những cái thuộc phạm trù vật chất, trước hết hãy nói đến những cái về tinh thần đã, chúng ta giúp đỡ mọi người và cho rằng mình là người tốt, giúp đỡ không cần đền đáp, nhưng thực ra thì: chúng ta giúp đỡ người khác trước hết là để giúp đỡ bản thân mình đấy, để đáp ứng cái ham muốn tự thoã mãn với lương tâm mình rằng “mình là người tốt, người

có ích” Chính sức ép từ đạo đức xã hội khiến chúng ta muốn làm những việc tốt bởi vì những người tốt được tuyên dương, được coi trọng, được nổi tiếng

Thế hệ sinh viên chúng ta hình như đang chơi trò làm xiếc trên dây vì khoảng cách giữa sống “thực dụng” và “thực tế” là quá mong manh Cũng đơn giản như khi bạn nói không tin vào chuyện cổ tích, bạn là người thực tế, nhưng nếu bạn nói “đừng kể cho tôi chuyện hão huyền ấy, làm ơn kể cho tôi cách nào kiếm được nhiều tiền ấy!”, bạn sẽ biến thành “con ma” thực dụng ngay Dù rằng hơn phân nữa sinh viên nói riêng và thế hệ 8x nói chung thích câu trả lời thứ hai nhưng ít ai can đảm nói ra

Trong quan niệm sống của sinh viên ngày nay, cũng có quan niệm cho rằng

“ngày nay ra đường, giá trị của một người thể hiện qua những nơi người ta đến, qua những người mà người ta giao tiếp, và nhất là qua những gì mà người ta đang khoác lên người.” Sau đây là thống kê khảo sát của chúng tôi về việc quan niệm về thời trang có mối quan hệ như thế nào với văn hoá phương Tây:

Ngày đăng: 02/07/2023, 07:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 (xem phần phụ lục, câu 4 và 5) - Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh hiện nay công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2007
Bảng 2 (xem phần phụ lục, câu 4 và 5) (Trang 41)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w