ĐẶT VẤN ĐỀ Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống, quan hệ tình dục bình thường, không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào vào giai đoạn có thể mang thai trong chu kì kinh nguyệt mà[.]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 1: Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sàng lọc
24 nhiễm sắc thể bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS) trên một số tế bào phôi
+ Hoàn thiện quy trình Giải trình tự gen trên hệ thống NGS: 24 mẫu tế bào phôi dư sinh thiết ngày 5.
+ Đánh giá độ chính xác của kỹ thuật PGS-NGS: 72 mẫu tế bào sinh thiết phôi ngày 5.
Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 2 là quy trình hoàn thiện trong sàng lọc 24 nhiễm sắc thể phôi thụ tinh trong ống nghiệm Nghiên cứu tập trung vào các phôi nang được tạo ra bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn của các cặp vợ chồng Các phôi này được thu thập từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018 tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Miền Bắc Việt Nam, bao gồm Bệnh viện đa khoa Tâm Anh, Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội - Học viện Quân Y, và Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội Tiêu chuẩn của các phôi là toàn bộ phôi 5 ngày tuổi, được lấy lần lượt cho đến khi đủ số lượng nghiên cứu, loại trừ các trường hợp không phù hợp.
Phôi của đối tượng có số lượng phôi ngày 3 dưới 4 phôi.
Phôi của người mẹ có hai buồng trứng hoặc tử cung bất thường hoặc trường hợp không thực hiện theo chỉ dẫn của bác sĩ và nghiên cứu
Phôi của các trường hợp người thực hiện điều trị, nhận giao tử từ người khác.
Mục tiêu nghiên cứu thứ ba là đánh giá hiệu quả của việc áp dụng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS) trong việc sàng lọc 24 nhiễm sắc thể trước khi chuyển phôi.
120 cặp vợ chồng hiếm muộn gồm 2 nhóm.
+ Nhóm 1: 60 cặp vợ chồng hiếm muộn được áp dụng phương pháp sàng lọcPGS-NGS (như ở mục 2.1.2).
Nhóm 2 (đối chứng) bao gồm 60 cặp vợ chồng hiếm muộn đạt tiêu chuẩn tương tự như nhóm 1, với các tiêu chí tương đồng Nhóm này thực hiện các bước nghiên cứu giống như nhóm được sàng lọc bằng PGS, nhưng không tiến hành sàng lọc rối loạn 24 NST.
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu phục vụ sàng lọc như đối với nhóm nghiên cứu.
Bệnh viện đa khoa Tâm Anh, Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội thuộc Học viện Quân Y, cùng với Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội, và Phòng phân tích DNA của Bộ môn Giải Phẫu - Học viện Quân Y, đều là những cơ sở y tế hàng đầu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và nghiên cứu y học tại Việt Nam.
Từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 6 năm 2019
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm có đối chứng.
2.2.3.2 Kích trứng, thu noãn trên bệnh nhân làm IVF
2.2.3.3 Qui trình cho thụ tinh tinh trùng với noãn bằng kỹ thuật ICSI và đánh giá phôi ngày 5
2.2.3.4 Sinh thiết phôi bào và rửa phôi bào
Các phôi thụ tinh trong ống nghiệm sau 5 ngày tuổi, với khoảng 60 tế bào, sẽ được sinh thiết bằng tia laser để lấy ra từ 3 đến 5 tế bào Quy trình này được thực hiện bởi các chuyên viên phôi học tại phòng nuôi cấy phôi của các Trung tâm IVF.
Các tế bào sẽ được gửi đến phòng thí nghiệm DNA của Bộ môn Giải phẫu tại Học viện Quân Y để tiến hành kiểm tra các bất thường di truyền.
2.2.3.5 Khuếch đại toàn bộ hệ gen
2.2.3.7 Kiểm tra nồng độ DNA sau quá trình khuếch đại toàn bộ hệ gen bằng Qbit
2.2.3.8 Chuẩn bị thư viện cho quá trình giải trình tự trên hệ thống NGS
2.2.3.10 Phương pháp phân tích dữ liệu giải trình tự và xác định rối loạn NST
2.2.3.11 Qui trình chuẩn bị niêm mạc chuyển phôi trữ cho bệnh nhân
2.2.4 Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu
2.2.6 Phương pháp phân tích dữ liệu
2.2.7 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
2.2.9.1 Sơ đồ nghiên cứu hoàn thiện qui trình sàng lọc rối loạn nhiễm sắc thể trước chuyển phôi.
Hình 2.3 Sơ đồ nghiên cứu hoàn thiện quy trình sàng lọc rối loạn NST trước chuyển phôi
2.2.9.2 Áp dụng qui trình đánh giá kỹ thuật sàng lọc rối loạn nhiễm sắc thể trước chuyển phôi trong thụ tinh ống nghiệm
Hình 2.4 Sơ đồ áp dụng quy trình đánh giá kỹ thuật sàng lọc rối loạn NST trước chuyển phôi trong thụ tinh ống nghiệm.
2.2.9.3 Qui trình đánh giá kỹ thuật sàng lọc rối loạn nhiễm sắc thể trước chuyển phôi trong thụ tinh ống nghiệm
Nhóm 2 – Tiến hành IVF chỉ Nhóm 1 – Tiến hành làm IVF Đồng ý tham gia vào nghiên cứu Đối tượng loại trừ Đối tượng đủ tiêu chuẩn
Các cặp vợ chồng vô sinh có nguyện vọng làm IVF
Thu thập các phôi được sàng lọc rối loạn NST
Xác định tình trạng rối loạn NST Đánh giá mối liên quan của rối loạn
Hình 2.5 Sơ đồ áp dụng và đánh giá kỹ thuật sàng lọc rối loạn NST trước chuyển phôi trong thụ tinh ống nghiệm.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Hoàn thiện quy trình sàng lọc rối loạn 24 NST bằng kỹ thuật NGS trên tế bào phôi
3.1.1 Hoàn thiện qui trình sàng lọc rối loạn 24 nhiễm sắc thể bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới
3.1.1.1 Quy trình khuếch đại toàn bộ hệ gen trên 24 mẫu tế bào phôi
Kết quả khuếch đại toàn bộ hệ gen được trình bày trên Bảng 3.1:
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá tỷ lệ sinh thiết và rửa tế bào thành công bằng điện di trên gel agarose
Nội dung Xuất hiện băng sản phẩm (n,%)
Không xuất hiện băng sản phẩm (n,%)
Kết quả điện di trên gel agarose cho thấy tất cả 24 mẫu tế bào phôi đều có băng sản phẩm, trong khi mẫu dung dịch rửa không bị nhiễm, và cả 24 mẫu dung dịch đều không có băng sản phẩm.
Theo khuyến cáo của hãng, lượng DNA trong các mẫu có tế bào cần đạt trên 15 ng/ul, trong khi mẫu chứng âm phải dưới 10 ng/ul Kết quả từ Bảng 3.2 cho thấy cả 24 mẫu đều đạt yêu cầu về lượng DNA, đảm bảo cho bước giải trình tự tiếp theo Bảng 3.2 trình bày kết quả đánh giá tỷ lệ sinh thiết và rửa tế bào thành công bằng định lượng Qu-bit.
Kết quả ở Bảng 3.2 cho thấy, nồng độ DNA sau nhân toàn bộ hệ gen đều đạt
>25 ng/àL Như vậy tỷ lệ sinh thiết và rửa tế bào thành cụng 100%.
3.1.1.2 Quy trình giải trình tự gen thế hệ mới trong phân tích 24 NST trên tế bào phôi
Quy trình giải trình tự gen thế hệ mới bao gồm nhiều bước quan trọng, trong đó khuếch đại WGA đóng vai trò then chốt Nếu giai đoạn WGA thất bại, sẽ không còn mẫu để phân tích cho các giai đoạn tiếp theo Do đó, trong sàng lọc rối loạn NST trước chuyển phôi, việc khuếch đại thành công hệ gen là yếu tố quyết định cho quá trình phân tích tiếp theo.
Qui trình giải trình tự DNA bao gồm các bước: phân mảnh sợi DNA, gắn index và Adapter, khuếch đại, tinh sạch, chuẩn hóa, và pool thư viện sau chuẩn hóa Cuối cùng, tiến hành giải trình tự gen và phân tích dữ liệu để xác định tình trạng rối loạn NST Kết quả chẩn hóa quy trình cần đảm bảo các thông số dữ liệu đáp ứng yêu cầu của hãng.
Để đánh giá chất lượng phân tích mẫu, các thông số quan trọng bao gồm tổng số lần đọc đạt 1.000.000/mẫu, số lần đọc tối thiểu sau khi lọc là 250.000/mẫu, điểm chất lượng trung bình trên 30, độ nhiễu mẫu không vượt quá 0,4, và độ tin cậy của vùng khuếch đại mỗi NST phải đạt trên 0,7.
Chúng tôi đã tối ưu hóa qui trình giải trình tự nhiều lần dựa trên các thông số đã xác định, thực hiện trên các bộ chạy máy khác nhau Điều này cho phép chúng tôi chạy từ 4 đến 24 mẫu mỗi lần, đảm bảo thu được tín hiệu đạt yêu cầu của hãng cho từng mẫu và từng NST Kết quả từ các lần giải trình tự và điều chỉnh đã chứng minh tính hiệu quả của quy trình trên các bộ kit khác nhau.
Bảng 3.3 Tối ưu qui trình giải trình tự trên các bộ chạy máy khác nhau
TT Số lượng mẫu Bộ kit chạy máy sử dụng
1 4 mẫu Miseq Reagent kit v2 Nano (300 cycles)
2 8 mẫu Miseq Reagent kit v2 Micro (300 cycles)
3 16 mẫu Miseq Reagent kit v2 standard (50 cycles)
4 24 mẫu Miseq Reagent kit V3 (150 cycle)
Xây dựng quy trình chạy trên số lượng mẫu nhỏ với bộ máy có dung lượng tốt giúp tối ưu hóa chi phí và đáp ứng thời gian trả kết quả theo yêu cầu của trung tâm IVF, phù hợp với điều kiện hiện nay của Việt Nam.
Hình 3.2 minh họa biểu đồ CNV của phôi không có rối loạn NST (46,XX) Phân tích 24 NST của các phôi ngày 5 cho thấy phôi số 12 có rối loạn nhiều NST, trong khi phôi số 22 có bất thường cấu trúc ở NST số 3, còn phôi số 23 có 23 cặp NST bình thường.
Hình 3.3 Hình ảnh khảm ở nhiễm sắc thể số 19
3.1.2 Độ chính xác của kỹ thuật NGS trong sàng lọc rối loạn 24 NST
3.1.2.1 Kết quả định lượng DNA của thư viện
Bảng 3.4 Kết quả định lượng DNA của thư viện
Nồng độ DNA sau WGA
Nhận xét: Trong 72 mẫu, nồng độ DNA sau nhân toàn bộ hệ gen đều đạt >25 ng/àL Như vậy tỷ lệ sinh thiết và rửa tế bào thành cụng 100%.
Kết quả khuếch đại hệ gen cho thấy đạt được về lượng DNA phục vụ phân tích cho các bước tiếp theo.
3.1.2.2 Kết quả của NGS, và kết quả của aCGH
Hình 3.4 Kết quả tương đồng không phát hiện bất thường số lượng NST: 46, XX
(A: Kết quả phân tích bằng NGS; B: Kết quả phân tích bằng aCGH)
Hình 3.5 Kết quả tương đồng phát hiện bất thường số lượng NST 48, XX, +3, +6
(C: Kết quả phân tích bằng NGS; D: Kết quả phân tích bằng aCGH)
Hình 3.4, 3.5 và 3.6 trình bày các ví dụ về kết quả phân tích bằng hai phương pháp NGS và aCGH Để đánh giá độ tương đồng giữa hai phương pháp này, chúng tôi đã sử dụng các số liệu về độ nhạy và độ đặc hiệu nhằm đánh giá sự phù hợp của kết quả PGS.
NGS và aCGH Kết quả cho thấy, có sự tương đồng khi phân tích kết quả PGS sử dụng kỹ thuật NGS và array CGH.
3.1.2.3 Phân tích sự phù hợp của kết quả PGS-NGS và PGS-aCGH thông qua độ nhạy và độ đặc hiệu Để đánh giá độ tương đồng giữa hai phương pháp, chúng tôi sử dụng các số liệu về tỉ lệ đồng thuận âm, tỉ lệ đồng thuận dương, độ nhạy và độ đặc hiệu của NGS so với aCGH Kết quả trên cho thấy, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính và giá trị dự báo âm tính của NGS là 100%.
Kết quả cho thấy việc tối ưu hóa quy trình trên các bộ kit khác nhau đảm bảo các thông số của nhà sản xuất, đồng thời đảm bảo tính chính xác trong việc xác định rối loạn của các nhiễm sắc thể, tương đồng với kết quả của aCGH.
Kết quả này xác nhận độ chính xác của kỹ thuật sàng lọc rối loạn NST trước chuyển phôi dựa trên giải trình tự thế hệ mới, đồng thời phù hợp với các nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng của Fiorentino và cộng sự (2014) [29].
Bảng 3.5 Độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật NGS
Lệch bội 18 (46%) 18 (46%) Độ nhạy 100% Độ đặc hiệu 100%
Giá trị dự báo dương tính 100%
Giá trị dự báo âm tính 100%
3.2 Áp dụng qui trình sàng lọc rối loạn nhiễm sắc thể trước chuyển phôi
3.2.1 Đặc điểm rối loạn nhiễm sắc thể ở phôi 5 ngày tuổi
Trong tổng số 603 mẫu phôi nghiên cứu, có 578 mẫu (chiếm 95,9%) đã thành công trong việc khuếch đại hệ gen và được phân tích sự rối loạn ở cả 24 nhiễm sắc thể bằng phương pháp khuếch đại toàn bộ hệ gen 25 mẫu còn lại không được tiếp tục phân tích trong các bước tiếp theo.
WGA không thành công WGA thành công
Hình 3.7 Kết quả khuếch đại toàn bộ hệ gen của 603 mẫu nghiên cứu
Tất cả 578 sản phẩm WGA đủ điều kiện cho các bước tiếp theo, bao gồm chuẩn bị thư viện và giải trình tự Chỉ sử dụng dữ liệu giải trình tự đáng tin cậy (> Q30) cho các phân tích tiếp theo Kết quả cho thấy kỹ thuật NGS có khả năng phát hiện bất thường về số lượng của 24 NST của phôi người với độ tin cậy cao (confident > 75%) Đặc biệt, kỹ thuật này có thể phát hiện các bất thường cấu trúc NST với kích thước lớn (≥ 20 Mb).
Bảng 3.6 Tỷ lệ rối loạn NST của 578 mẫu nghiên cứu
Số phôi Tỷ lệ Sai số chuẩn
Trong nghiên cứu với 578 mẫu phôi, có 331 mẫu không phát hiện rối loạn nhiễm sắc thể (NST), chiếm 57,3%, trong khi 247 mẫu phát hiện rối loạn NST Tỷ lệ rối loạn NST trong mẫu nghiên cứu là 42,7%, và tỷ lệ này trong quần thể dao động từ 38,46% đến 46,81% với độ tin cậy 95% (Bảng 3.7).
Đánh giá kết quả áp dụng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS) trong sàng lọc 24 nhiễm sắc thể trước chuyển phôi
3.3.1 Một số đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 3.10 Một số đặc điểm về tuổi
Nhóm tuổi Nhóm PGS-NGS Nhóm chứng
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ p
Tuổi trung bình của nhóm PGS-NGS là 38,03 ± 4,38, cao hơn đáng kể so với nhóm chứng với tuổi trung bình 33,72 ± 0,49, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Đặc biệt, 85,0% phụ nữ trong nhóm PGS-NGS trên 35 tuổi, trong khi 61,7% phụ nữ trong nhóm chứng dưới 35 tuổi.
Bảng 3.11 Một số đặc điểm thể trạng của hai nhóm nghiên cứu
Nhóm tuổi Nhóm PGS-NGS Nhóm chứng p
BMI (kg/m 2 ) 21,87 ± 1,90 21,38 ± 2,32 >0,05 Huyết áp tâm thu
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về chỉ số khối cơ thể, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và tuổi hành kinh giữa hai nhóm nghiên cứu, với giá trị p > 0,05 Tuổi hành kinh trung bình của hai nhóm lần lượt là 14,63 ± 1,55 và 14,17 ± 1,24.
Bảng 3.12 Nồng độ một số hormon
Chỉ số Nhóm PGS-NGS Nhóm chứng
Nhóm nghiên cứu có độ tuổi từ 24 đến 42, dẫn đến sự biến động rõ rệt trong các xét nghiệm cận lâm sàng Giá trị trung bình của xét nghiệm FSH ở nhóm PGS-NGS là 6,72 ± 1,63, trong khi ở nhóm chứng là 6,09 ± 1,59 Xét nghiệm AMH cho thấy giá trị trung bình là 1,80 ± 0,64 ng/ml ở nhóm PGS-NGS và 2,46 ± 0,95 ng/ml ở nhóm chứng AMH có ảnh hưởng lớn đến khả năng dự trữ buồng trứng của phụ nữ, đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân trên 35 tuổi.
Chỉ số Nhóm PGS-NGS Nhóm chứng
Thể tích tinh dịch 2,46 ± 0,13 2,74 ± 0,19 >0,05 Thời gian ly giải (phút) 29,31 ± 0,57 30,21 ± 1,39 >0,05
Tỷ lệ không tiến tới 16,12 ± 1,16 12,88 ± 1,23 0,05
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về số lượng và chất lượng tinh trùng giữa hai nhóm PGS-NGS và nhóm chứng Mặc dù tỷ lệ không tiến tới của nhóm PGS-NGS cao hơn, nhưng tỷ lệ tiến tới lại tương đương giữa hai nhóm Đặc biệt, nhóm PGS-NGS áp dụng kỹ thuật IVF-ICSI, do đó tỷ lệ không tiến tới không ảnh hưởng đến quá trình thụ tinh.
Nghiên cứu hồi quy logistic cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai lâm sàng, trong đó độ dày niêm mạc tử cung là một yếu tố quan trọng.
3.3.2 Đặc điểm về các chỉ số của noãn và phôi và chuẩn bị niêm mạc tử cung
Bảng 3.14 Số lượng noãn và phôi thu được
Chỉ số Nhóm PGS-NGS Nhóm chứng
Noãn phát triển thành phôi 4,8 ± 1,56 10,32 ± 5,53 0,000
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm PGS-NGS có số noãn thu được trung bình là 7,73 ± 2,0, trong khi nhóm chứng đạt 17,62 ± 8,4, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,000) Số noãn thụ tinh trung bình trong nhóm PGS-NGS là 6,25 ± 1,95, so với 11,35 ± 5,91 ở nhóm chứng, cũng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,000) Cuối cùng, số noãn phát triển thành phôi trong nhóm PGS-NGS là 4,8 ± 1,56, trong khi nhóm chứng là 10,32 ± 5,53, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,000).
Bảng 3.20 Chất lượng phôi blastocyst của bệnh nhân nghiên cứu n= Hình thái phôi
Phôi tốt và rất tốt 1,85 ± 1,21 6,97 ± 5,41 0,000
Trong nghiên cứu này, nhóm PGS-NGS có số phôi tốt và rất tốt trung bình là 1,85 ± 1,21, trong khi nhóm chứng là 6,97 ± 5,41, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,000) Số phôi trung bình ở nhóm PGS-NGS là 1,37 ± 0,92, so với 1,35 ± 1,51 ở nhóm chứng, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,942) Đối với số phôi xấu, nhóm PGS-NGS có trung bình 1,61 ± 0,98, trong khi nhóm chứng là 2,01 ± 3,41, cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,384).
Bảng 3.16 Đặc điểm niêm mạc tử cung: độ dày Đặc điểm niêm mạc tử cung
Nhóm PGS-NGS Nhóm chứng p
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Tổng 60 100 60 100 Độ dày niêm mạc tử cung trung bình: 9,61 ± 1,28 9,67 ± 1,26 >0,05
Lớp niêm mạc này đóng vai trò quan trọng đối với khả năng thụ thai và bảo vệ cho quá trình mang thai ở người phụ nữ
Trong nghiên cứu, độ dày niêm mạc tử cung trung bình ở nhóm PGS-NGS là 9,61 ± 1,28 mm, trong khi ở nhóm chứng là 9,67 ± 1,26 mm, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Cả hai nhóm đều có độ dày niêm mạc tử cung chủ yếu nằm trong khoảng 8-10 mm, với tỷ lệ lần lượt là 50,0% và 51,7% Tỷ lệ phần trăm độ dày niêm mạc tử cung giữa hai nhóm cũng không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy sự chuẩn bị cho sự làm tổ của thai nhi là tương đồng ở cả hai nhóm.
3.3.3 Kết quả nhiễm sắc thể của phôi blastocyst thu được sau sàng lọc di truyền kĩ thuật giải trình tự gen thế hệ mới NGS
3.3.3.1 Tuổi của bệnh nhân nghiên cứu
3.3.3.2 Kết quả phân tích sự rối loạn nhiễm sắc thể ở phôi 5 ngày tuổi thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) bằng kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ thứ hai – Next generation sequencing (NGS)
Bảng 3.17 Tỷ lệ rối loạn NST của phôi blastocyst
Chỉ tiêu Số phôi Tỷ lệ
Kỹ thuật NGS đã được áp dụng trên 292 phôi, trong đó 39% phôi có rối loạn nhiễm sắc thể (NST) và 61% phôi không rối loạn Phương pháp này có khả năng tầm soát toàn bộ bất thường của 24 NST mà không xảy ra hiện tượng âm tính giả.
Bảng 3.18 Kết quả có thai của hai nhóm nghiên cứu
Kết quả IVF Nhóm PGS-NGS
Sảy thai và thai lưu 15 7 0,059
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm về tỷ lệ có thai lâm sàng, với 26/60 trường hợp ở nhóm PGS-NGS và 15/60 trường hợp ở nhóm chứng Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,034.
Tỷ lệ có thai phát triển ở nhóm PGS-NGS là 11/26, trong khi nhóm chứng là 9/15, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Tỷ lệ sinh con sống cũng tương tự, với 11/26 ở nhóm PGS-NGS và 8/15 ở nhóm chứng, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Ngoài ra, tỷ lệ sảy thai và thai lưu giữa hai nhóm cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm PGS-NGS có tuổi trung bình cao hơn nhóm chứng, nhưng tỷ lệ có thai lâm sàng ở phôi được chuyển của nhóm PGS-NGS lại cao hơn đáng kể so với nhóm chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có thai lâm sàng ở phụ nữ trên 35 tuổi khi thực hiện IVF thấp hơn rõ rệt so với nhóm dưới 35 tuổi Điều này nhấn mạnh hiệu quả của phương pháp PGS-NGS trong việc cải thiện tỷ lệ có thai lâm sàng cho phụ nữ lớn tuổi.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng ảnh hưởng tích cực của PGS lên tỷ lệ sinh là không có ý nghĩa thống kê (RR 1.35, 95% CI 0.85-2.13) [39],[40-42].
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ số thai sinh hóa, sự phát triển thai, tỷ lệ sinh con sống, thai lưu và sảy thai giữa hai nhóm, với giá trị p > 0,05 Điều này cũng tương đồng với các nghiên cứu trước đó.