Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của Đề tài - Nghiên cứu được triển khai theo đơn đạt hàng của Bộ Quốc phòng, với mục tiêu là giúp ngành quân y cũng như y tế tuyến
Trang 1Biểu B1-2a-TMĐTCN
10/2014/TT-BKHCN
THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ 1
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Tên đề tài: Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến
trong chẩn đoán, dự phòng một số bệnh truyền
nhiễm ở địa bàn trọng điểm
- Kinh phí khoán: 9.121,70 triệu đồng
- Kinh phí không khoán: 3.628,30 triệu đồng
6 Thuộc Chương trình Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo
vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Mã số: Chương trình KC.10/16-20
Thuộc dự án KH&CN;
Đề tài độc lập;
7 Lĩnh vực khoa học
Tự nhiên; Nông, lâm, ngư nghiệp;
Kỹ thuật và công nghệ; Y dược
1 Bản Thuyết minh này dùng cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thuộc 4 lĩnh vực khoa học nêu tại mục 7 của Thuyết minh Thuyết minh được trình bày và in trên khổ A4
Trang 2Địa chỉ tổ chức: 160 Phùng Hưng, Hà Đông, Hà Nội
Địa chỉ nhà riêng: 60/33 Phạm Ngũ Lão, Quận Hoàn Kiếm, Hà nội
9 Thư ký đề tài
Họ và tên: Nguyễn Văn Ba
Ngày, tháng, năm sinh: 10/09/1975 Nam/ Nữ: nam
Học hàm, học vị/ Trình độ chuyên môn: Phó giáo sư, Tiến sỹ
Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên Chức vụ: Phó chủ nhiệm Bộ môn
Điện thoại:
Tổ chức: 069566346 Nhà riêng: 0438360034 Mobile: 0982401848 Fax: E-mail: bsnguyenvanba@yahoo.com
Tên tổ chức đang công tác: Học viện Quân y
Địa chỉ tổ chức: Số 104, đường Phùng hưng, Phường Phúc la, Quận Hà đông, Hà nội.Địa chỉ nhà riêng: 22 Trần Cung, Nghĩa Tân, Hà Nội
10 Tổ chức chủ trì đề tài
Tên tổ chức chủ trì đề tài: Học Viện Quâny - Bộ Quốc Phòng
Điện thoại: 069566100 Fax : 04.36884779
Website: vmmu.edu.vn
Địa chỉ: Số 160, đường Phùng hưng, Phường Phúc la, Quận Hà đông, Hà nội
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Thiếu tướng, GS.TS Đỗ Quyết
Số tài khoản: Số tài khoản: 3713.0 (3713.0.905336.00000)
Mã ĐVQHNS: 9053336
Mã Kho bạc: 0026
Tại Kho bạc Nhà nước Hà Đông, Hà Nội
Tên cơ quan chủ quản đề tài: Bộ Khoa học và Công nghệ
11 Các tổ chức phối hợp chính thực hiện đề tài
Tổ chức 1 : Viện Y học Dự phòng Quân Đội
Tên cơ quan chủ quản: Cục Quân y – Bộ Quốc Phòng
Điện thoại: : 069.587.203Fax:
Trang 3Địa chỉ: 21 Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Nguyễn Đức Mạnh
Số tài khoản: 0681100683005
Ngân hàng: Ngân hàng TNCP Quân đội, chi nhánh Thăng Long
Tổ chức 2 :
Tên cơ quan chủ quản :
Điện thoại: Fax:
(Ghi những người có đóng góp khoa học và chủ trì thực hiện những nội dung chính thuộc tổ chức
chủ trì và tổ chức phối hợp tham gia thực hiện đề tài, không quá 10 người kể cả chủ nhiệm đề tài Những thành viên tham gia khác lập danh sách theo mẫu này và gửi kèm theo hồ sơ khi đăng ký)
TT Họ và tên,
học hàm học vị
Tổ chức công tác
Nội dung, công việc chính tham gia
Thời gian làm việc cho đề tài
(Số tháng quyđổi)
Trang 4II MỤC TIÊU, NỘI DUNG KH&CN VÀ PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI
13 Mục tiêu của đề tài (Bám sát và cụ thể hoá định hướng mục tiêu theo đặt hàng)
1 Xác định đặc điểm dịch tễ học, yếu tố nguy cơ bệnh sốt mò, bệnh do liên cầu khuẩn
lợn, nhiễm khuẩn do não mô cầu, bệnh do Leptospira tại địa bàn trọng điểm.
2 Xây dựng quy trình chế tạo các bộ sinh phẩm phát hiện O Tsutsugamushi, Streptococcus suis, não mô cầu và Leptospira quy mô phòng thí nghiệm.
3 Đánh giá hiệu quả sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán các bệnh sốt mò, bệnh do liên cầu
khuẩn lợn, nhiễm khuẩn do não mô cầu, bệnh do Leptospira dựa trên các bộ phận
sinh phẩm đã được chế tạo
4 Xây dựng được bản hướng dẫn sử dụng các kỹ thuật mới tại thực địa
14 Tình trạng đề tài
Mới Kế tiếp hướng nghiên cứu của chính nhóm tác giả
Kế tiếp nghiên cứu của người khác
15 Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về mục tiêu và những nội dung nghiên cứu của đề tài
15.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của Đề tài
- Nghiên cứu được triển khai theo đơn đạt hàng của Bộ Quốc phòng, với mục tiêu
là giúp ngành quân y cũng như y tế tuyến cơ sở kiểm soát tốt dịch bệnh sốt mò, bệnh do
liên cầu khuẩn lợn, nhiễm khuẩn do não mô cầu, bệnh do Leptospira cho cộng đồng dân
cư bản địa và đặc biệt là cho lực lượng vũ trang tại các tại địa bàn trọng điểm trong cảnước
- Địa bàn trọng điểm là những vùng có tỷ lệ mắc bệnh sốt mò, bệnh do liên cầu
khuẩn lợn, nhiễm khuẩn do não mô cầu và bệnh do Leptospira cao và có vị trí chiến lược
Trang 5về kinh tế, chính trị, an ninh và quốc phòng
+ Đặc điểm dịch tễ: căn cứ vào tình hình dịch bệnh trong những năm gần đây chothấy Một số mặt bệnh mới nổi gần đây như là bệnh sốt mò, viêm màng não, sốt Lepto,viêm màng não do liên cầu khuẩn lợn đang có xu hướng gia tăng Đặc biệt với các đơn vịquân đội làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới ở các địa bàn trọng điểm, khi hành quân quahoặc đóng quân do sinh hoạt tập trung, làm việc và luyện tập tác chiến ở các khu vựchiểm trở cũng là những nơi có ổ bệnh thiên nhiên lại chưa có miễn dịch tự nhiên với cácmầm bệnh trên nên hay bị mắc làm ảnh hưởng đến sức chiến đấu
Dịch tễ học Tây Nguyên, Tây và Tây Nam bộ luôn là vấn đề thời sự được quantâm của những người làm công tác vệ sinh phòng dịch Với đặc điểm thuận lợi về mặt địa
lý, khí hậu, Tây Nguyên là nơi khá nhiều ổ dịch thiên nhiên Những khu vực có sốt rétnặng ở nước ta phần lớn tập trung ở Tây Nguyên Ngoài ra, các dịch bệnh khác như dịchhạch, sốt mò, thương hàn … luôn đe dọa phát triển thành dịch trong cộng đồng dân cưcác dân tộc Tây Nguyên Trong công tác vệ sinh phòng dịch, vấn đề phức tạp và khókhăn nhất khi triển khai hoạt động là trình độ dân trí thấp, kém với những tập tục lạc hậu
đã tồn tại từ nhiều đời nên khi tuyên truyền nếp sống vệ sinh khoa học gặp nhiều khókhăn, có những khu vực hầu như không có hệ thống y tế dân sự mà chủ yếu là bà đỡ và
hỗ trợ của đội ngũ cán bộ quân y
+ Về mặt an ninh, quốc phòng: khu vực biên giới và biển đảo được coi là nhữngvùng trọng điểm về an ninh, quốc phòng Đối với biên giới trên bộ, khu vực Tây Bắc,Tây Nguyên và Tây Nam Bộ được coi là khu vực trọng điểm về quốc phòng và an ninhcủa cả nước Đây là những khu vực tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Campuchia Khuvực Tây Bắc là vị trí đóng quân chiến lược của Quân khu 2, khu vực Tây Nguyên là doQuân đoàn 3 đảm bảo và khu vực Tây Nam Bộ là do Quân khu 9 đảm bảo phòng thủ
+ Về mặt kinh tế, chính trị, xã hội Cả nước phân ra làm 7 vùng sinh thái, kinh tế,gồm: Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ, TâyNguyên, Đông Nam bộ và Tây Nam bộ
Trong đó, khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ là những vùng có tỷ lệngười dân tộc thiểu số cao nhất cả nước và là khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn, xãhội còn chậm phát triển so với mặt bằng chung của cả nước
+ Chính sách của Đảng và Nhà nước: Đảng và Nhà nước luôn coi các khu vực Tây
Trang 6Bắc, Tõy Nguyờn và Tõy Nam bộ là những vựng trọng điểm cần quan tõm, phỏt triển.Điều này được thể hiện qua chớnh sỏch của Đảng và Nhà nước Cỏc chương trỡnh Quốcgia đó được Nhà nước phờ duyệt để giỳp thỳc đẩy phỏt triển kinh tế, an sinh, xó hội củanhững khu vực này như Chương trỡnh Tõy Nguyờn 3 và Chương trỡnh Tõy Bắc.
Do vậy, 3 khu vực Tõy Bắc, Tõy Nguyờn và Tõy Nam bộ được coi là những địabàn trọng điểm Đõy là những khu vực cú vị trớ chiến lược về kinh tế, chớnh trị, an ninh
và quốc phũng và là khu vực cú tỷ lệ lưu hành dịch bệnh sốt mũ, bệnh do liờn cầu khuẩn
lợn, nhiễm khuẩn do nóo mụ cầu, bệnh do Leptospira cao.
15.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiờn, kinh tế, xó hội ảnh hưởng tới dịch bệnh tại địa bàn trọng điểm
* Khu vực Tõy Bắc:
Vựng Tõy Bắc là khu vực gồm cỏc vựng địa lý: Đồng bằng, đồi nỳi, biờn giới, cúnhiều cửa khẩu lớn như cửa khẩu Lào Cai, Điện Biờn thụng thường với Lào, TrungQuốc Do vậy cú rất nhiều yếu tố liờn quan đến dịch tễ, cũng như làm đa dạng và phứctạp hoỏ tỡnh hỡnh cỏc bệnh dịch truyền nhiễm trờn địa bàn
Khớ hậu khu vực Tõy Bắc ớt chịu ảnh hưởng của giú mựa cực đới, cho nờn mựađụng lạnh ở đõy ngắn và ổn định hơn so với cỏc vựng phớa đụng Hoàng Liờn Sơn Điềukiện tự nhiờn ở đõy (chế độ nhiệt-ẩm, đất đai, ) thuận lợi cho việc phỏt triển cỏc loại cụntrựng gõy bệnh đặc biệt là cỏc loại muỗi là trung gian truyền bệnh như sốt rột, sốt xuấthuyết, viờm nóo Điều kiện địa hỡnh, sụng ngũi và mưa khỏ lớn ở thượng nguồn (Sỡn Hồ,Lai Chõu, ) cũng là điều kiện để phỏt triến cỏc bệnh truyền nhiễm
Trên địa bàn khu vực, các tỉnh bị ảnh hởng của các dịch bệnhtrong khu vực trên miền Bắc và cả nớc, do điều kiện giao thông thuậntiện, có cửa khẩu biên giới, giao lu kinh tế văn hóa tăng mạnh Dịchbệnh xảy ra quanh năm, nhng cao điểm của các bệnh đờng hô hấp
là vào mùa Đông - Xuân và các bệnh đờng tiêu hoá vào các tháng mùa
Hè Tuy nhiên, một số bệnh dịch đờng tiêu hóa, đờng hô hấp nh cúm,cúm A/H1N1, cúm A/H5N1, tiêu chảy cấp có nguyên nhân do phẩykhuẩn tả gần đây xuất hiện bệnh nhân và có chiều hớng gia tăng
đã làm thay đổi tình hình dịch bệnh truyền nhiễm trên địa bàn
đồng thời đã ít nhiều tác động đến đến tình hình kinh tế - xã hội
Trang 7của các tỉnh trên địa bàn Quân khu 2
Một số mặt bệnh mới nổi gần đõy như là bệnh sốt mũ, viờm màng nóo, sốt Lepto,viờm màng nóo do liờn cầu khuẩn lợn đang cú xu hướng gia tăng Đặc biệt với cỏc đơn vịquõn đội làm nhiệm vụ bảo vệ biờn giới ở cỏc địa bàn trọng điểm, khi hành quõn quahoặc đúng quõn do sinh hoạt tập trung, làm việc và luyện tập tỏc chiến ở cỏc khu vựchiểm trở cũng là những nơi cú ổ bệnh thiờn nhiờn lại chưa cú miễn dịch tự nhiờn với cỏcmầm bệnh trờn nờn hay bị mắc làm ảnh hưởng đến sức chiến đấu (Số liệu nghiờn cứu củaViện Y học dự phũng Quõn đội và Tập san Địa lý quõn y)
* Khu vực Tõy Nguyờn:
Nằm ở phớa tõy Trường Sơn, Tõy Nguyờn là một vựng lónh thổ rộng lớn của ViệtNam, với diện tớch tự nhiờn chiếm khoảng 16,8% tổng diện tớch cả nước và cú tỷ lệ baophủ rộng chiếm 63% diện tớch tự nhiờn của khu vực Sụng Ba (sụng Đà Rẵng) là ranh giớiphõn Trường Sơn thành 2 phần: phớa Bắc cao hơn, được gọi là khối nỳi Kon Tum; phầnphớa Nam thấp hơn, gọi là khối nỳi cực Nam Trung Bộ Nột nổi bật của địa hỡnh TõyNguyờn là tớnh phõn bậc rừ ràng Cỏc bậc cao nằm ở phớa Đụng, bậc thấp nhất về phớaTõy Mạng sụng, suối tương đối phỏt triển; quỏ trỡnh xõm thực diễn ra mạnh mẽ và đườngphõn thủy khỏ phức tạp Tõy Nguyờn cú vị trớ chiến lược hết sức quan trọng cả về kinh tế,quốc phũng Những điều kiện tự nhiờn của Tõy Nguyờn chứa đựng những yếu tố thuậnlợi và khụng thuận lợi ảnh hưởng tới sức khỏe và cụng tỏc tổ chức bảo đảm y tế cho đồngbào
Trong mựa khụ, cú giú mạnh nờn càng làm tăng sự bốc hơi nước, ảnh hưởng đến
cơ chế điều hũa thõn nhiệt của cơ thể người; tỏc động xấu đến sức khỏe của cộng đồng,đặc biệt là đối với cỏc đối tượng lao động nặng nhọc
Đất ở Tõy Nguyờn cú hàm lượng feralir cao; đõy là loại đất bở, tơi nờn nhiều bụiđặc biệt dọc cỏc trục đường giao thụng bộ nơi chưa được trải nhựa,bụi bỏm đỏ hai bờnđường, cú nới bụi dày tới 30-40 cm nờn ảnh hưởng rất lớn nờn ảnh hưởng rất lớn đến vệsinh mụi trường, tới sinh hoạt và sức khỏe cộng đồng
Mựa khụ, giú mang nhiều bụi đỏ cú ở khắp nới nờn dễ gõy ra cỏc bệnh về mắt,bệnh viờm đường hụ hấp …
Cụng tỏc tổ chức đảm bảo ý tế ở Tõy Nguyờn trong mựa mưa gặp rất nhiều khúkhăn Mựa mưa kộo dài trờn 6 thỏng (từ thỏng 5 đến thỏnh 11) và phõn bố khụng đều,
Trang 8tổng lượng mưa của vùng mưa nhiều gấp 3-4 lần vùng mưa ít Mưa tập trung từ tháng 5đến tháng 10, thời kỳ hình thành của gió mùa Tây Nam Tổng lượng mưa trong thời kỳnày hầu hết các vùng của Tây Nguyên đều chiếm trên 75% tổng lượng mưa cả năm Mưalớn tại tập trung vào một thời gian nhất định nên thừa nước và làm xói mòn mạnh đất đai.Hàng năm, ở Tây Nguyên mưa làm cuốn trôi từ 200-300 tấn màu/ha nên dễ làm thay đổiđịa hình và gây lũ cục bộ ở nhiều khu vực gây tai nạn thương tích và dịch bệnh sau lũcho cộng đồng Đặc biệt mưa nhiều kéo dài, lại không có thời gian nắng xen kẽ nên ảnhhưởng lớn đến hoạt động cơ sở y tế.Thuốc men dễ bị ẩm mốc; đồ vải không giặt đượcdẫn đến ẩm mốc không đảm bảo vô trùng trong phẫu thuật, hậu phẫu… Mặt khác, hệthống kho tàng trong mùa mưa nếu không chú trọng, để thấp dễ bị lũ cuốn trôi và làmmốc thuốc, hỏng các dụng cụ quang học và các trang thiết bị điện tử Mưa nhiều kéo dàicòn ảnh hưởng lớn đến việc tiếp nhận, vận chuyển người bị thương, bị bệnh cả trong điềukiện ban ngày và ban đêm.
Rừng Tây Nguyên phong phú và đa dạng, còn nhiều rừng già, rừng bụi, trảng cỏ Nhiều rừng rậm cũng là nơi phát sinh, tồn tại và lưu hành nhiều loại động vật trung giantruyền bệnh và các bệnh thiên nhiên
Dịch tễ học Tây Nguyên luôn là vấn đề thời sự được quan tâm của những ngườilàm công tác vệ sinh phòng dịch Với đặc điểm thuận lợi về mặt địa lý, khí hậu, TâyNguyên là nơi khá nhiều ổ dịch thiên nhiên Những khu vực có sốt rét nặng ở nước taphần lớn tập trung ở Tây Nguyên Ngoài ra, các dịch bệnh khác như dịch hạch, sốt mò,thương hàn … luôn đe dọa phát triển thành dịch trong cộng đồng dân cư các dân tộc TâyNguyên Trong công tác vệ sinh phòng dịch, vấn đề phức tạp và khó khăn nhất khi triểnkhai hoạt động là trình độ dân trí thấp, kém với những tập tục lạc hậu đã tồn tại từ nhiềuđời nên khi tuyên truyền nếp sống vệ sinh khoa học gặp nhiều khó khăn, có những khuvực hầu như không có hệ thống y tế dân sự mà chủ yếu là bà đỡ và hỗ trợ của đội ngũ cán
bộ quân y
Đây cũng là vùng trọng điểm cho các bệnh mới nổi đang được quan tâm lâytruyền từ dân vào lực lượng quân đội bảo vệ địa bàn như các bệnh sốt mò, viêm não, sốtLepto, viêm màng não liên cầu khuẩn lợn
* Vùng Tây Nam Bộ:
Biến đổi khí hậu và tác hại của biến đổi khí hậu đã làm mực nước biển dâng cao,
Trang 9hạn hán, xâm nhập mặn và lũ lụt xảy ra ở ĐBSCL ĐBSCL chiếm trên 4% diện tích toànlưu vực của sông Mekong, xấp xỉ 36.000 km2, chiều dài dòng sông chính ở Việt Nam là
225 km (chiếm trên 5% tổng chiều dài sông Mekong) Đồng bằng có 2 mặt giáp biển dàihơn 600 km, bao gồm 12 tỉnh (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh,Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau) và 1thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ Diện tích canh tác nông nghiệptrên dưới 2 triệu ha, với số dân gần 14,2 triệu người (1995) chiếm vào khoảng 24% tổngdân số Việt nam Khoảng 8% dân số là các ngừi dân tộc: Khmer (khoảng 850.000 người),Hoa (234.000 người), Chăm (10.000 người) và mật độ dân số trung bình khoảng 355người /km2
Đây cũng là vùng trọng điểm trong chiến lược quân sự bảo vệ đất nước, do bị ảnhhưởng nặng bởi biến đổi khí hậu nên dịch bệnh đang có xu hướng phát sinh trong dânchúng và quân đội khi đóng quân và hoạt động ở khu vực
15.1.2 Bệnh sốt mò (ICD-10 A75.3: Scrub Typhus)
Bệnh sốt mò thuộc nhóm C trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm
Đặc điểm của bệnh:
- Vị trí của bệnh: Bệnh Sốt mò là một bệnh do tác nhân Orientia tsutsugamushi,
có ổ dịch thiên nhiên, truyền ngẫu nhiên sang người khi bị ấu trùng mò đốt Bệnh lưuhành chủ yếu ở Châu Á và Tây Thái Bình Dương Ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX tớinửa đầu thế kỷ XX, bệnh chưa được chú ý; chỉ được mô tả lẻ tẻ năm 1923-1932 (P.E.Lagrange; Souchard E et al); tới tháng 6/1965 một vụ dịch Sốt mò lớn bùng phát ở Sơn
La (dân vào hang trú bom, bùng phát hàng trăm bệnh nhân); từ đó bệnh được chú ý hơn,được đăng ký chính thức trong báo cáo ngành, nhiều ổ dịch được xác định thêm, nhiềubệnh nhân được phát hiện thêm; trong bộ đội năm 1969 tại Hà Tuyên có 175 bệnh nhânvới 2 ca tử vong Gần đây, nghiên cứu đã xác định 3 điểm đáng lưu ý:
+ Sốt mò có mặt ở hầu hết 24 tỉnh phía Bắc, Tây Nguyên và Khánh Hòa (chưa kểphía Nam);
+ Chiếm 38,51% số bệnh nhân sốt nhập viện, không rõ căn nguyên;
+ Khoảng 31,8% bệnh nhân Sốt mò không rõ nốt loét đặc trưng.
Ba điểm trên gợi ý Sốt mò cần được tăng cường giám sát và phòng chống.
Theo Đoàn Trọng Tuyên và cộng sự (2008-2010) kết quả điều tra sơ bộ huyết
Trang 10thanh học và xác định một số yếu tố nguy cơ phơi nhiễm O tsutsugamushi trong cộng
đồng dân cư tại các khu vực nghiên cứu thuộc Nam Trung bộ và Tây Nguyên cho thấy:
(1) Tỷ lệ người mang kháng thể kháng O tsutsugamshi ở khu vực Khánh Hòa (21,04 ±
4,41%), cao hơn khu vực Gia Lai (10,58 ± 2,75%) và KonTum (5,21 ± 5,65%), với p <0,05- 0,001 Trong tỉnh Gia Lai, điểm huyện Chưprong có tỷ lệ người mang kháng thể13,99 ± 4,36% cao hơn điểm huyện Krongpa (7,14 ± 3,26%)
+ Ca bệnh lâm sàng: Ủ bệnh, trung bình 8-12 ngày (6 đến 21 ngày); Lúc đầu tạinơi ấu trùng mò đốt có một nốt phỏng nước bằng hạt đỗ, không đau, bệnh nhân thườngkhông chú ý; sau 1 số ngày nung bệnh, bệnh phát ra với những triệu chứng sau:
Sốt ≥ 38 - 400C, liên tục, kéo dài 15-20 ngày thậm chí tới 27 ngày nếu không điềutrị; Có khi rét run 1-2 ngày đầu kèm theo sốt thường có nhức đầu nặng, đau mỏi cơ
Nốt loét đặc trưng (điển hình của Sốt mò): thường ở vùng da mềm, ẩm, như bộphận sinh dục, vùng hạ nang, hậu môn, bẹn, nách, cổ…, đôi khi ở vị trí bất ngờ trongvành tai rốn, mi mắt (dễ nhầm với lẹo mắt); đặc điểm của nốt loét: không đau, khôngngứa; người bệnh thường chỉ có một nốt hiếm có 2-3 nốt; hình tròn/bầu dục đường kính1mm đến 2 cm; nốt phỏng ban đầu phát triển dần thành dịch đục trên một nền sẩn đỏ, sau
4 - 5 ngày vỡ ra thành một nốt có vẩy nâu nhạt hoặc sẫm tùy vào vùng da mềm hay cứng
và độ non hay già của nốt loét; sau một thời gian, vẩy bong để lộ nốt loét đáy nông, hồngnhạt, không mủ, không tiết dịch, bờ viền hồng đỏ hoặc thâm tùy theo bệnh đang pháttriển hay đã lui; từ khi hết sốt nốt loét liền dần; nốt loét gặp ở 65 - 80% các trường hợp
Hạch và ban dát sẩn: Hạch khu vực nốt loét thường hơi sưng và đau, không đỏ,vẫn di động, xuất hiện cùng với sốt hoặc sau 2 - 3 ngày, là chỉ điểm tìm nốt loét; Hạchtoàn thân sưng đau nhẹ hơn, trừ những ca nặng Ban dát sẩn mọc cuối tuần thứ nhất đầutuần thứ hai, mọc khắp người, trừ lòng bàn tay bàn chân, tồn tại vài giờ đến 1 tuần, thưahơn so với sốt Dengue cổ điển, khoảng 35 - 70% số bệnh nhân xuất hiện ban, tùy thờiđiểm bệnh nhân được khám; đôi khi có đốm xuất huyết (dưới 10%) Trong mấy ngàyđầu, da và niêm mạc xung huyết ở đa số các trường hợp (khoảng 88%); khác với sốt rét
và thương hàn
Ở bệnh nhân nặng hay gặp: tiếng tim mờ, huyết áp thấp, mạch chậm so với nhiệt
độ, chảy máu cam, viêm phế quản, viêm phổi không điển hình
Ngoài ra, Sốt mò còn có thể ẩn và thể không điển hình (không có nốt loét)
Trang 11Nếu được điều trị bằng kháng sinh thích hợp, sẽ cắt sốt nhanh Tái phát thường sau 5-14 ngày do Chlorocid vàTETRACYCLINE chỉ kìm khuẩn, mầm bệnh vẫn tồn tạitrong các hạch Nếu can thiệp muộn hoặc không hiệu quả, có thể có biến chứng như viêm
cơ tim, sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi, suy hô hấp, viêm não - màng não
Tử vong khác nhau ở từng nước, từng vùng, phụ thuộc vào chủng lưu hành ở địaphương: Việt Nam 1%, Indonesia và Đài Loan 5-20%, Malaysia 15-20%, Nhật Bản 20-60%
đã xác định trên toàn cầu; ngoài kháng nguyên đặc hiệu, R.orientalis còn có khángnguyên không đặc hiệu giống kháng nguyên OXK của Proteus mirabilis Độc lực rấtkhác nhau tùy chủng: ở Nhật Bản và Trung Quốc, thường nặng hơn Malaysia và ViệtNam
- Sức đề kháng yếu, dễ bị diệt bởi nhiệt độ cao, trong môi trường bên ngoài vàthuốc sát trùng thông thường, dung dịch 0,1% ÚP formaldehyde diệt trong vài giờ, sốnglâu ở dạng đông khô trong bảo quản lạnh -700C Nhật Bản còn thông báo một số chủngsốt mò không điển hình như Shichitonetsu, R.seunetsu gây bệnh không điển hình
Đặc điểm dịch tễ học:
Bệnh phân bố chủ yếu ở Châu Á (Trung Á, Đông Á, Đông Nam Á và Tây TháiBình Dương), từ Nhật Bản sang Pakistan, từ Triều Tiên xuống Bắc Úc, tính chất những ổdịch nhỏ rải rác (đảo Typhus) trên các trảng bìa rừng, các rừng mới phá hoặc mới trồng,vùng giáp danh, nơi nhiều cây con bụi rậm, các bãi cỏ ven sông suối, trên nương rẫy,những điểm có bóng mát dâm và đất ẩm, thậm chí vùng sa mạc mới khai khẩn và núi cao
Trang 12Hymalayia cũng có Mọi lứa tuổi đều thụ bệnh nhưng chủ yếu bệnh phân bố ở lứa tuổilao động, phân bố tính chất nghề nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp, bộ đội; bệnh gặp chủyếu ở vùng nông thôn rừng núi (80,5%), hiếm ở thành thị.ở vùng ôn đới và nhiệt đớibệnh phát triển về mùa hè và những tháng mưa có độ ẩm cao là thời gian chỉ số mò cao.Bệnh xuất hiện ở Việt Nam quanh năm nhưng chủ yếu về mùa mưa từ tháng 4-5 đếntháng 9-10, đỉnh cao vào những tháng 6-7 Bệnh thường tản phát nhưng dịch có thể bùng
ra khi có nhiều người chưa miễn dịch vào đúng giữa một ổ dịch (dân đi khai hoang, bộđội hành quân tập luyện dã ngoại)
Nguồn truyền nhiễm:
- Ổ chứa: R.orientalis có 2 ổ chứa trong thiên nhiên là mò và gặm nhấm - thú nhỏ.+ Ổ chứa nguồn truyền nhiễm chủ yếu là mò nhiễm R.orientalis: mò có khả năngtruyền mầm bệnh cho các loài gặm nhấm và thú nhỏ, truyền dọc mầm bệnh qua trứngsang đời sau; truyền ngẫu nhiên mầm bệnh sang người
+ Ổ chứa thứ yếu có vai trò nguồn truyền nhiễm không đáng kể là gặm nhấm thú nhỏ: khả năng nhiễm mầm bệnh từ gậm nhấm/thú nhỏ vào ấu trùng mò thường thấp,mầm bệnh nhiễm vào thường không nhân lên được mò và sau đó không được truyền sangngười hoặc thú nhỏ khác vì ấu trùng mò chỉ đốt hút máu 1 lần trong đời
-Những loài mò ổ chứa mầm bệnh: chủ yếu là Trombicula akamushi, Trombiculadelhiensis; thứ yếu là T.scutellaris, T.pallida T akamushi có nhiều ở Nhật Bản;T.pallidum và T.scutellaris lưu hành ở các nước khí hậu ôn hòa như Nhật, Hàn Quốc,Viễn Đông Nga; T.delhiensis phân bố rộng ở Trung Quốc, Ấn Độ, Bắc Úc và các nướcĐông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan, ; Ở Việt Nam, tại một ổ dịch T.delhiensis chiếm62% trong 19 loại mò đã phân lập được 91 mẫu R.orientalis gồm 21 mẫu từ 108 mò, 41mẫu từ 174 chuột, 3 mẫu từ 16 sóc và 26 mẫu từ 40 bệnh nhân
Những loài gặm nhấm - thú nhỏ là ổ chứa mầm bệnh thứ yếu: chuột, sóc, chồn,nhím, cầy, cáo, thỏ, chim; một số gia súc (gà, chó, lợn ) cũng có thể bị mò đốt và chứamầm bệnh từ phủ tạng 25 loài thú nhỏ ở Mộc Châu, Nghi Sơn, Đồ Sơn, Kiến An phânlập được R.orientalis trên 14 loài (9 loài chuột: chuột rừng R.koratensis, chuột bóngR.nitidus, chuột núi R.sabanus, chuột dang (puộc) R.bowersi, chuột nhà R.flavipectus; 3loài Sóc (sóc má đào, sóc chuột, sóc bụng đỏ) và 2 loài chuột (chuột chũi và chuột trù núiđuôi trắng); và phát hiện kháng thể R.orientalis ở 9 trên 15 loài thú nhỏ bắt ở Tây
Trang 13Phương thức lây truyền - Côn trùng trung gian truyền bệnh:
- Đường truyền bệnh: Sốt mò là bệnh truyền sang người qua côn trùng trung gian
ấu trùng mò; như vậy mò vừa là vật chủ vừa là vectơ truyền bệnh; người bị nhiễm bệnhkhi bị ấu trùng mò đốt Người bệnh không có khả năng truyền bệnh sang người khác
- Côn trùng trung gian truyền bệnh: Ấu trùng mò nhiễm R.orientalis là vectơtruyền bệnh; Mò Trombiculidae thuộc họ ve bét (Acariformes), lớp nhện (Arachnida),ngành chân đốt (Arthropoda); kích thước bé dưới 1 mm, mầu sắc từ vàng đến da cam,còn gọi là mò đỏ; phát triển qua 4 giai đoạn: trứng ấu trùng, nhộng và mò trưởng thành;
ấu trùng là giai đoạn phát triển duy nhất của mò ký sinh ở động vật có xương sống (chuột
và thú nhỏ); thời gian đốt kéo dài trung bình 48-72 giờ; đốt xong ấu trùng trở về mặt đất,trưởng thành,và sinh sản ra thế hệ sau; chu kỳ sinh trưởng của mò dài 2-3 tháng (vùngấm) và trên 8 tháng (vùng lạnh); mò trưởng thành sống trung bình 15 tháng; ấu trùngchưa đốt động vật có thể sống 30 ngày và có tầm di chuyển rất hạn chế cho nên ổ dịchSốt mò có tính chất nhỏ hạn chế (thú nhỏ-gặm nhấm tuy di chuyển được xa nhưng vai trò
ổ truyền bệnh thấp như đã phân tích ở trên)
- Điều kiện lây truyền sang người: Mò và ấu trùng ưa sống ở nơi đất xốp, ẩm máttrong các khe hang, ven bờ sông suối, nơi dâm mát có bụi rậm và cây thấp có quả hạt đểchờ thú nhỏ - gặm nhấm lui tới Người có thể bị đốt trong các điều kiện sau:
+ Sinh hoạt lao động trong ổ dịch
+ Phát rẫy làm nương
+ Bộ đội đi dã ngoại
+ Ngồi, nằm nghỉ, trên bãi cỏ, để mũ nón buộc võng vào gốc cây…
*Bệnh liên cầu khuẩn lợn
- Streptococcus suis, còn được gọi là liên cầu khuẩn lợn, là tác nhân gây bệnh
quan trọng ở lợn, đôi khi gây bệnh trên người
- Ổ chứa chính của vi khuẩn là lợn ốm/chết nhưng cũng có thể thấy sự có mặt của
vi khuẩn ở lợn lành và các động vật khác như dê, bò, cừu, thậm chí cả chó, mèo Vikhuẩn lây sang người do tiếp xúc trực tiếp Đường vào của vi khuẩn là các vết thương ở
da và niêm mạc Bệnh ở người hay xảy ra ở các đối tượng suy giảm miễn dịch như giàyếu, cắt lách, nghiện rượu và có sẵn bệnh mạn tính từ trước
Trang 14- Viêm màng não là một trong các thể lâm sàng chủ yếu của bệnh do S suis Bệnhcảnh điển hình là viêm màng não mủ diễn biến cấp tính, có kèm theo rối loạn ý thức, rốiloạn tiền đình và giảm thính lực Bệnh đáp ứng tốt với điều trị kháng sinh Các điều trị hỗtrợ khác là quan trọng giúp duy trì sự sống người bệnh.
- Cho đến nay, việc phòng bệnh vẫn dựa vào các biện pháp không đặc hiệu nhưtránh tiếp xúc lợn ốm/chết, không ăn thịt lợn chưa nấu chín Hiện vẫn chưa có vắc-xinphòng bệnh
- Streptococcus suis, được De Moor mô tả lần đầu như một tác nhân gây nhiễm cho lợn vào năm 1963 Bệnh do Streptococcus suis ở người với 2 trường hợp viêm màng
não và một trường hợp nhiễm trùng nặng đến mức tử vong đã được mô tả lần đầu tiên tạiĐan Mạch năm 1968 [29] Sau đó, bệnh do vi khuẩn này dần được báo cáo ở Hà Lan,Anh và nhiều nước khác Từ đó đến nay, vi khuẩn này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứucủa nhiều nhà khoa học ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có tác giả như M Gottschalk
đã có gần 100 bài báo xoay quanh các khía cạnh của vi khuẩn này
- S suis là vi khuẩn Gram dương hiếu khí tuỳ tiện Vi khuẩn hình cầu hoặc hìnhbầu dục, đứng riêng rẽ hay xếp đôi hoặc xếp thành chuỗi ngắn Dựa trên cácpolysaccharid vỏ vi khuẩn, người ta đã xác định 35 typ huyết thanh (typ 1-34 và ½),trong đó typ 2 hay gây bệnh nhất cho lợn và người
- Cư trú tự nhiên của S suis là đường hô hấp trên, nhất là ở a-mi-đan và khoangmũi cũng như ở đường sinh dục và tiêu hoá của lợn. S suis typ 2 có thể quần cư tự nhiên
ở a-mi-đan của lợn lành Những con lợn lành mang mầm bệnh là nguồn lây nhiễm quantrọng trong đàn lợn
- S suis typ 2 có sức đề kháng tương đối tốt trong điều kiện ngoại cảnh Vi khuẩn
có thể sống 10 phút ở 60oC, 2 giờ ở 50oC và 6 tuần trong xác súc vật ở 10oC Ở 0oC vikhuẩn có thể tồn tại 1 tháng trong bụi và trên 3 tháng trong phân Ở 25oC vi khuẩn có thểsống 24 giờ trong bụi và 8 ngày trong phân Tuy nhiên, vi khuẩn bị tiêu diệt dễ dàng vớithuốc tẩy 5% pha loãng 1:799
- Vi khuẩn nhạy cảm với nhiều kháng sinh, trong đó có penicillin, ceftriaxone,cephalosporin, ampicilin và amoxicillin Penicillin G hay được dùng để điều trị cũng như
dự phòng vi khuẩn này Tuy nhiên đã có báo cáo về các chủng kháng penicillin cũng nhưcác chủng kháng các kháng sinh thường dùng khác Có lẽ tình hình kháng kháng sinh của
Trang 15vi khuẩn có liên quan đến việc sử dụng rộng rãi kháng sinh cho lợn.
- Bộ gen của S suis đã được giải trình tự bao gồm 20.074.917 cặp base, trong đó41,3% là thành phần G+C Hiện có đến 20-30% các gen còn chưa được biết rõ nhưngnhiều gen có vai trò trong sinh bệnh học của S suis đã được nghiên cứu như sinhpolysaccharid, vận chuyển vỏ, các yếu tố hạn chế sắt, suilysin, các protein liên quan độclực, nhiều loại enzyme, hệ thống deiminase arginine và các protein gắn IgG
- Những nghiên cứu về các yếu tố độc lực của S suis đang bắt đầu làm sáng tỏ cơchế sinh bệnh của vi khuẩn này Độc lực của S suis khác nhau giữa các typ huyết thanh,
và cũng khác nhau ngay giữa các chủng của cùng typ huyết thanh Những yếu tố độc lực
đã được nghiên cứu và mô tả bao gồm vỏ, protein giải phóng muramidase và yếu tốprotein ngoại bào, suilysin và các chất kết dính
Dịch tễ học:
- Bệnh do S suis ở người gặp khắp nơi trên thế giới [28, 27] Những khu vực đẩymạnh chăn nuôi lợn thì có khả năng gặp các trường hợp nhiễm S suis cao hơn, nhất là ởcác nước đang phát triển
- Ở Pháp, bên cạnh các tác nhân gây bệnh kinh điển liên quan đến lợn như Listeriamonocytogenes, Pasteurella multocida vàStreptococcus zooepidemicus, viêm não màngnão do S suis đang ngày được quan tâm [14] Một báo cáo mới đây về trường hợp viêmnão màng não do S suis ở một người làm nghề mổ thịt lợn, mặc dù triệu chứng lâm sàngkhá điển hình và kết quả nuôi cấy dịch não tuỷ phân lập được S suis typ 2 nhưng khôngthể phát hiện được nguồn lây [14] Các nước Tây Âu khác cũng lẻ tẻ có những báo cáo
về các trường hợp bệnh tương tự [8, 5] Ở Tây Ban Nha đã có một báo cáo trường hợpviêm màng não do S suisvới yếu tố nguy cơ duy nhất là hít cocaine [17]
- Nhật Bản đã có báo cáo 7 trường hợp nhiễm S suis ở người trong thời gian1994-2006 [10] Cả 7 trường hợp này đều ở tuổi trung niên, đều có tiếp xúc trực tiếp vớilợn, trong đó có 5 trường hợp viêm màng não Cả 5 trường hợp này đều có di chứng điếcsau khi lành bệnh Vi khuẩn còn nhạy cảm tốt với các kháng sinh nhóm bêta-lactam
- Bên cạnh lợn nuôi, đã có những nghiên cứu phát hiện thấy sự có mặt của S.suis ở lợn lòi và có những báo cáo về viêm màng não do S suis xảy ra ở những thợ sănlàm thịt lợn lòi [4] Có lẽ có khoảng 10% lợn lòi mang S suis với mức độ độc lực có thểgây bệnh cho người
Trang 16- Ở Hồng Kông, một nghiên cứu điều tra các mẫu thịt lợn sống bán ở chợ cho thấy
có 6,1% các mẫu có S suis nhưng không phải typ 2 Từ trường hợp mắc trên người đầutiên năm 1983 đến nay Hồng Kông đã có trên 50 trường hợp mắc trên người, trong đóngoài viêm màng não chiếm ưu thế, còn có các thể bệnh lâm sàng khác như viêm khớp,viêm phế quản phổi và viêm nội tâm mạc [23]. S suis là một trong 4 căn nguyên thườnggặp nhất gây viêm màng não mủ ở Hồng Kông [21]
- Đáng quan tâm nhất là trường hợp vụ bùng phát ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốcnăm 2005 Ban đầu chỉ có một trường hợp nghi ngờ sốt xuất huyết với hội chứng thậnnhập viện địa phương huyện Tư Dương ngày 11/07/2005 Bệnh nhân này một ngày trướckhi khởi phát bệnh có làm thịt một con dê chết không rõ nguyên nhân Ngay sau đó, việctăng cường giám sát dịch tễ và phát hiện trường hợp bệnh đã được triển khai khắp tỉnh
Tứ Xuyên Cho đến khi kết thúc thời gian tăng cường giám sát ngày 18/08/2005, đã pháthiện được 215 trường hợp (66 trường hợp có xét nghiệm khẳng định, 149 trường hợpchẩn đoán lâm sàng), trong đó có 39 người tử vong (18%) Phần lớn các trường hợp lànam giới (84%) và có tiền sử phơi nhiễm với lợn ốm/chết như làm thịt lợn, pha thịt lợn
Có 102 trường hợp viêm màng não (48%), trong đó có 1 trường hợp tử vong Các trườnghợp tử vong còn lại là ở thể shock nhiễm khuẩn [36] Trước vụ bùng phát này, năm 1998
và 1999, Trung Quốc đã có các vụ bùng phát ở tỉnh Giang Tô Ngoài ra, nhiễm khuẩn S.suis chỉ gặp lẻ tẻ ở một số khu vực miền nam Trung Quốc như Quảng Châu Chỉ trongvòng 8 năm qua, riêng Trung Quốc đã có 237 người nhiễm, trong đó 53 người tử vong
- Tại Bệnh viện Đại học Chiang Mai ở miền Bắc Thái Lan từ tháng 5/2000 đếntháng 12/2002 đã có 41 trường hợp nhiễm S suisvới tỷ lệ tử vong 19,5%, trong đó có 13trường hợp viêm màng não (31,7%) Tất cả các chủng vi khuẩn đều nhạy với penicillin.Qua phân tích đơn biến, các yếu tố liên quan đến tử vong là giảm albumin, tăng bilirubintoàn phần máu, giảm tiểu cầu và khởi phát ngắn Điều đặc biệt là trong nghiên cứu này sốtrường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn lại chiếm ưu thế [34] Năm 2004 các tác giảThái Lan ở Bệnh viện Đại học Chulalongkorn, Bangkok thông báo 12 trường hợp viêmmàng não do S suis nhập viện trong vòng 6 năm 1997-2002 Những trường hợp nàyđược so sánh với các trường hợp đã báo cáo ở Hồng Kông và Hà Lan thì các trường hợp
ở Hồng Kông và Thái Lan có biểu hiện nhiễm trùng da và phần mềm nhiều hơn hẳn [30]
- Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có nghiên cứu điều tra về S suis ở người Theo
Trang 17những thông tin cung cấp từ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm
1998 trở về trước, mỗi năm Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới chỉ tiếp nhận 1-3 trường hợpnhiễm S suis nhưng từ năm 1999, số bệnh nhân tăng lên, khoảng 10-20 trường hợp mỗinăm Riêng trong hai năm 2005 và 2006 có đến 72 người nhiễm vi khuẩn trên, trong đó
69 trường hợp viêm màng não mủ, 3 trường hợp còn lại bị nhiễm trùng huyết Tại ViệnCác bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới Quốc gia, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2007, Viện đãtiếp nhận 41 trường hợp nhiễm S suis được khẳng định bằng kết quả vi sinh, trong đó cótới 33 trường hợp viêm màng não mủ Các trường hợp viêm màng não mủ đều khỏi Tửvong có 3 trường hợp đều ở những bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn nặng
- Đường vào chủ yếu là qua các vết thương ngoài da và niêm mạc Tuy nhiên, quaquan sát có những trường hợp phơi nhiễm đường tiêu hoá và tiền chứng ỉa chảy, một sốtác giả đề xuất khả năng đường vào từ đường tiêu hoá [3].
- Các cơ địa suy giảm miễn dịch như người già, nghiện rượu và cắt lách và có sẵnbệnh mạn tính từ trước dường như dễ mắc bệnh hơn và bị bệnh ở mức độ nặng hơn
Phòng bệnh:
- Nguồn bệnh chủ yếu là lợn nên biện pháp mấu chốt hàng đầu là kiểm soát bệnhtrên lợn Bên cạnh đó, việc kiểm soát chăn nuôi và giết mổ lợn cũng đóng vai trò quantrọng để bệnh không truyền sang người Cần phải tăng cường giáo dục sức khoẻ, tuyêntruyền về căn bệnh này để mọi người dân, cả những người chăn nuôi, giết mổ cũng nhưngười tiêu dùng cảnh giác phòng tránh dịch bệnh Thịt lợn luộc chín > 700C (miếng thịtkhông còn lòng đào) không còn khả năng mang mầm bệnh S suis
- Vắc-xin cho lợn đang được nghiên cứu triển khai Một trong các hướng tiếp cận
là vắc-xin vi khuẩn chết dùng đường khí dung [6] để gây miễn dịch tại chỗ và toàn thân,trong đó chú trọng gây miễn dịch niêm mạc để phòng nhiễm trùng hô hấp ở lợn Vắc-xindùng chủng vi khuẩn sống không có độc lực cũng đang được nghiên cứu triển khai [7].Kháng thể đơn dòng đối với epitope vách vi khuẩn đang được nghiên cứu nhưng chưa cóhiệu quả thực sự bảo vệ cho động vật thực nghiệm khỏi nhiễm và tử vong [11]
- Vụ bùng phát S suis vừa qua tại Trung Quốc là bài học lớn Những yếu tố thúcđẩy dịch bệnh bùng phát với quy mô lớn như vậy là:
+ Chăn nuôi lợn phi tập trung, rải rác ở hộ gia đình làm cho lợn dễ nhiễm S suis.+ Những người làm thịt lợn tiếp xúc trực tiếp với thịt lợn sống
Trang 18+ Ăn thịt lợn ốm/chết nấu chưa chín.
+ Chậm trễ trong việc chẩn đoán và điều trị
+ Độc lực vi khuẩn cao
+ Thiếu sự điều phối và hợp tác giữa các cơ quan ban ngành
- Các biện pháp chúng ta cần triển khai thực hiện ngay là:
+ Kiểm soát bệnh trên lợn: phối hợp với ngành Thú y để phòng chống dịch bệnhtrên lợn
+ Kiểm soát chăn nuôi và giết mổ lợn
+ Không tiếp xúc trực tiếp với lợn ốm/chết
Nếu phải xử lý lợn ốm/chết cần sử dụng trang bị phòng hộ: găng tay, ủng, khẩutrang
Không làm thịt và ăn thịt lợn ốm/chết và lợn không rõ nguồn gốc
+ Không ăn thịt lợn chưa nấu chín như thịt thủ luộc tái, lòng lợn và nội tạng trần,tiết canh, nem chua
* Bệnh sốt xoắn khuẩn
Leptospirosis là bệnh truyền nhiễm cấp tính, do xoắn khuẩn Leptospira gây ra.Lây truyền chủ yếu qua đờng da, niêm mạc Đặc điểm lâm sàng là hội chứng nhiễmkhuẩn nhiễm độc toàn thân và hội chứng tổn thương gan, thận Là bệnh của động vật lantruyền sang người, có ổ bệnh thiên nhiên
+ Mầm bệnh
Là xoắn khuẩn họ Leptospiraceae, soi tươi dưới kinh hiển vi nền đen thấy xoắnkhuẩn hình sợi dài, mảnh có 15-30 vòng xoắn nhỏ rất sát nhau, 2 đầu thường cong hìnhchữ C Kích thước: 4-30 mm 0,1-0,2mm di động mạnh theo kiểu xoáy và bật thẳng như
lò xo Xoắn khuẩn có khả năng xuyên qua da và niêm mạc, nhất là da bị xây xước Bắt
Trang 19mầu Gram âm, ưa khí, mọc chậm ở các môi trường nuôi cấy, pH thích hợp 7,2-7,5, nhiệt
độ 28-300C
Xoắn khuẩn có sức đề kháng yếu, bị diệt ở nhiệt độ 500C/10 phút ánh sáng và cácthuốc khử trùng thông thường dễ diệt được Leptospira Tuy vậy Leptospira chịu đượclạnh, và sống được lâu ở nước tới 3 tuần Sống dai dẳng trong bùn lầy, nước đọng với pHbazơ (pH = 7,7), tốt nhất là nước cống rãnh ruộng đồng, khe suối
Leptospira gây bệnh cho người và động vật đến nay được biết chia thành khoảng
23 nhóm, bao gồm 240 typ huyết thanh, mỗi typ huyết thanh có các kháng nguyên đặchiệu riêng Giữa các typ, có ngưng kết chéo một phần, gây khó khăn cho chẩn đoán ởViệt Nam đã phát hiện được 15 typ, trong đó 5 typ thường hay gây bệnh là:
+ Đường lây
Đường da, niêm mạc: Do tiếp xúc với nước, bùn, đất có ô nhiễm xoắn khuẩn Đây
là đường lây chủ yếu
Đường tiêu hoá: Qua thức ăn, nước uống (không đun sôi, nấu chín) bị ô nhiễm Cábiệt là đường hô hấp do hít phải các giọt nước nhiễm khuẩn ở dạng khí dung
+ Cơ thể cảm thụ và miễn dịch
Mọi lứa tuổi, mọi giới đều có thể bị mắc bệnh Tuy nhiên, bệnh mang tính chấtnghề nghiệp hay gặp ở nông dân lội ruộng, người chăn nuôi súc vật, bộ đội luyện tập nơibùn lầy nước đọng v.v Hiện nay, Leptospirosis được xếp vào nhóm bệnh nghề nghiệpđược bảo hiểm
Trang 20Miễn dịch: Sau khi bị bệnh để lại miễn dịch bền vững nhng chỉ với typ huyếtthanh mắc bệnh Do vậy vẫn có thể bị lại với typ khác.
Dịch thường tản phát ở vùng có ổ dịch lưu hành, có khi gây dịch lớn Hay xảy ravào mùa hè thu ở nước ta có nhiều ổ dịch ở Lương Sơn - Hoà Bình, Hà Bắc, Tây Bắc,Tây Nguyên v.v
* Bệnh não mô cầu do Neisseria meningitidis
Neisseria meningitidis (Nm) là vi khuẩn song cầu Gram âm và gây bệnh não mô
cầu trên người Vi khuẩn được phân vào 12 nhóm huyết thanh, trong đó có 6 nhóm huyếtthanh (A, B, C, W135, X, và Y) có thể gây thành dịch
Bệnh phân bố trên toàn thế giới, trong đó châu Phi và châu Á là vùng dịch tễ lưuhành cao của bệnh Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Kì (CDC),hàng năm có 1,2 triệu ca bệnh viêm màng não do vi khuẩn gây ra, trong đó có 500.000 ca
bệnh và khoảng 50.000 ca tử vong do nhiễm vi khuẩn Nm Trong đó tỉ lệ tử vong tại các
nước đang phát triển là từ 20-40% Bên cạnh đó, tỉ lệ người lành mang trùng từ 5-10%,nhưng đặc biệt tăng cao tới 60-80% tại những nơi có mật độ dân cư cao như trong quânđội Thời gian ủ bệnh thường từ 3-4 ngày (khoảng 1-10 ngày), và 10-20% ca bệnh cóbiểu hiện nhiễm trùng huyết
Theo điều tra sơ bộ ở khu vực phía Bắc từ năm 2008 đến tháng 06 năm 2016,Quân đội xảy ra 31 vụ dịch với 457 ca bệnh (07 ca tử vong) với triệu chứng lâm sàng phùhợp, trong đó 39 ca được xác định bằng các phương pháp xét nghiệm trong phòng thí
nghiệm Bên cạnh đó, với công tác giám sát chủ động sự lưu hành của vi khuẩn Nm trên
người lành mang trùng và đánh giá sự nhạy cảm với các loại kháng sinh thường xuyênđược tiến hành tại Viện Y học Dự phòng Quân đội Qua phân tích nhóm huyết thanh dựavào kĩ thuật sinh học phân tử, nhóm huyết thanh lưu hành chủ yếu trên ca bệnh và giámsát người lành mang trùng là nhóm B, thỉnh thoảng xuất hiện nhóm C, W135 và nhómkhông xác định Thêm vào đó, tỉ lệ người lành mang trùng trong thời điểm ca bệnh xuấthiện tại đơn vị cũng tăng cao, cá biệt lên đến trên 60%
Tác nhân gây bệnh không có vật chủ trung gian, mà chỉ được biết đến ở trênngười, và lây từ người sang người qua tiếp xúc gần và giọt bắn
Hiện nay trên Thế giới, theo khuyến cáo có thể có vắc xin phòng bệnh não mô cầuvới các nhóm A, C, X, Y, W135 (dựa trên cấu trúc kháng nguyên đặc hiệu có bản chất là
Trang 21polysaccharide) và nhóm B (dựa trên cấu trúc kháng nguyên protein màng tế bào vikhuẩn) Tuy nhiên, ở Việt Nam chương trình vắc xin phòng bệnh chưa được đánh giá vàđưa vào chương trình phòng bệnh quốc gia Bên cạnh phương pháp phòng bệnh đặc hiệubằng vắc xin, các biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu cũng có thể sử dụng như: cảithiện không gian và môi trường sống, nâng cao ý thức vệ sinh cá nhân, sử dụng khángsinh dự phòng Tuy nhiên, theo điều tra mới đây của Viện Y học Dự phòng Quân đội vềtính nhạy cảm với một số loại kháng sinh trên đối tượng người lành mang trùng có chiềuhướng suy giảm (số liệu chưa được công bố).
15.1.5 Tổng quan nghiên cứu về các kỹ thuật chẩn đoán bệnh sốt mò, bệnh do liên cầu khuẩn lợn, nhiễm khuẩn do não mô cầu, bệnh do Leptospira tại địa bàn trọng điểm
a, Các kỹ thuật chẩn đoán bệnh sốt mò
Nhiễm Rickettsia không được điều trị có tỉ lệ tử vong cao, nên việc điều trị sớmvới loại kháng sinh phù hợp là hết sức quan trọng Doxycyclin là loại thuốc được lựachọn để điều trị trừ trường hợp phụ nữ mang thai và quá mẫn với tetracyclin Trong khi
đó, các triệu chứng của rickettsia thường không đặc hiệu và có thể lẫn với nhiều loạimầm bệnh khác với các phác đồ điều trị khác nhau (ví dụ, virus dengue, sốt xoắn khuẩnvàng da) Để có thể bắt đầu phác đồ điều trị phù hợp một cách nhanh chóng, việc chẩnđoán sớm nhiễm rickettsia đóng vai trò quyết định
Hiện nay chẩn đoán bệnh do rickettsia chủ yếu dựa vào các phương pháp huyếtthanh học phát hiện kháng thể đặc hiệu Tuy nhiên, các xét nghiệm kháng thể có thểkhông phù hợp để chẩn đoán bệnh trong giai đoạn cấp vì nồng độ kháng thể có thể dướingưỡng phát hiện lúc bệnh khởi phát Do đó, việc phát hiện kháng nguyên/mầm bệnhtrước khi nồng độ kháng thể đặc hiệu tăng lên là rất quan trọng Hầu hết các xét nghiệmphát hiện kháng nguyên/ mầm bệnh hiện nay dựa vào phương pháp PCR, realtime PCRđịnh lượng hay nested PCR nhắm vào các gen đích khác nhau, bao gồm 56 kDa, 47 kDa,groEL của O.tsutsugamushi và OmpB, 17 kDa và gltA của Rickettsia Tuy nhiên, tất cảcác xét nghiệm đòi hỏi phải đào tạo người dùng để vận hành máy luân nhiệt PCR vàtrong các môi trường với nguồn lực hạn chế thì việc trang bị, bảo dưỡng, căn chỉnh máyluân nhiệt đảm bảo hoạt động ổn định là rất khó khăn.Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của
Đoàn Trọng Tuyên và cộng sự (2008-2010), việc thiết kế mồi trên đoạn gene 56 kDa và
Trang 22groEL cho các phản ứng Nested-PCR và Duplex-PCR phát hiện O tsutsugamushi cho
kết quả phát hiện chưa cao, có thể do độ nhạy và đặc hiệu của kĩ thuật Vấn đề ở đây làcác mẫu đem đi xét nghiệm bằng kĩ thuật sinh học phân tử này đã ở giai đoạn muộn do
trước đó mẫu đã được xét nghiệm dương tính với IgM và IgG kháng O tsutsugamushi.
Thêm vào đó, với các mẫu PCR dương tính, tác giả đã giải trình tự gene, phân tích tính
cây di truyền phả hệ, kết quả cho thấy các chủng O tsutsugamushi phát hiện ở điểm
nghiên cứu có tính đa dạng di truyền so với các chủng lưu hành trong khu vực
Các công nghệ mới khuếch đại acid nucleic được ứng dụng trong chẩn đoán phântử:
Xét nghiệm phân tích acid nucleic hứa hẹn mang lại công cụ chẩn đoán nhanh,nhạy và đặc hiệu đối với các ký sinh trùng Các thiết bị chẩn đoán thế hệ mới cho phépphát hiện các mầm bệnh ký sinh trùng ngay tại thực địa, cho phép các nhà lâm sàngnhanh chóng đưa ra chẩn đoán tin cậy để định hướng điều trị hiệu quả hơn Bản chất sinhhoá phức tạp của các mẫu bệnh phẩm lâm sàng, nồng độ thấp của acid nucleic trong hầuhết các mẫu bệnh phẩm và công nghệ cảm biến sinh học hiện tại đòi hỏi chúng ta phảidùng đến một số công nghệ khuếch đại acid nucleic để cải thiện độ nhạy, đáp ứng đượccác yêu cầu trong lâm sàng khi phân tích các mẫu nhỏ áp dụng trong phân tích tại thựcđịa
Xét nghiệm acid nucleic (NAT): Khám phá phát hiện ra cấu trúc của DNA[1], cơchế phân tử của hiện tượng di truyền cùng với phát minh quan trọng liên quan đếnphương pháp nhân gen PCR[2] đã mang đến những công cụ mạnh mẽ để chẩn đoán bệnh
ký sinh trùng Mặc dù với những tiến bộ này, tiêu chuẩn vàng để xác định nhiều mầmbệnh vẫn là nuôi cấy và xác định kiểu hình của các tác nhân gây bệnh Quy trình nàythông thường có thể mất nhiều ngày, bởi vậy sẽ ảnh hưởng đến việc điều trị nhanh vàhiệu quả Sự chậm trễ trong điều trị có thể ảnh hưởng rất lớn đến biến chứng và tử vongcủa các bệnh ký sinh trùng Việc xác định chính xác các mầm bệnh do vậy cần được tiếnhành nhanh chóng, để tăng hiệu quả điều trị và khả năng sống sót trong những trườnghợp nhiễm ký sinh trùng nặng Thêm vào đó như đúng tên gọi, các phương pháp nuôi cấyhiện nay chỉ xác định được các tác nhân phát triển trong môi trường nuôi cấy Đối vớicác mầm bệnh khó nuôi cấy hoặc không thể nuôi cấy trong phòng thí nghiệm thì chúng ta
Trang 23không thể áp dụng phương pháp “tiêu chuẩn vàng” hiện nay Tuy nhiên, những mầmbệnh này vẫn có thể được xác định bằng phương pháp phân tử Do đó, thực tế đòi hỏi cần
có các công nghệ chẩn đoán nhanh với độ nhạy và độ đặc hiệu cao đối với các bệnhtruyền nhiễm để thay thế các phương pháp nuôi cấy mất nhiều thời gian và có nhiều hạnchế
Các kỹ thuật xét nghiệm acid nucleic (NAT) trực tiếp phân tích các trình tự DNA,cho phép thu thập thông tin từ người bệnh và mầm bệnh Khả năng đáp ứng với thuốcđiều trị, các dấu ấn liên quan đến độc lực và phân typ có thể được xác định nhanh chóngnhờ kỹ thuật NAT để đưa ra biện pháp điều trị tối ưu không bị chậm trễ Định lượngmầm bệnh có thể có giá trị tiên lượng cao và được tiến hành bằng các phương phápkhuếch đại realtime Bên cạnh chẩn đoán phát hiện mầm bệnh, các lĩnh vực mới đượcphát triển như tiên lượng điều trị, y học cá thể và chẩn đoán phụ trợ đòi hỏi cần có côngnghệ phân tích gen nhanh chóng và có thể tiến hành ở thực địa ngay gần người bệnh
Rõ ràng là kỹ thuật phân tử cung cấp những công cụ chẩn đoán mạnh mẽ Nhậnthấy lợi ích nhiều mặt của xét nghiệm phân tích acid nucleic, ngành công nghiệp chẩnđoán bệnh đang đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu phát triển chẩn đoán phân tử Thị trườngchẩn đoán phân tử được đầu tư lên tới nhiều tỉ USD mỗi năm Như vậy, bên cạnh lợi ích
về y tế - xã hội, nghiên cứu và phát triển chẩn đoán dựa trên phân tích acid nucleic đồngthời mang lại nhiều lợi nhuận về kinh tế
Những tiến bộ gần đây chứng kiến các trang thiết bị phân tích acid nucleic đượcthu nhỏ, mở ra khả năng có thể cầm tay các thiết bị phân tích acid nucleic Các công nghệphân tích acid nucleic hiện nay với giá thành cao và cần người làm thí nghiệm được đàotạo bài bản, do vậy chỉ phù hợp với các phòng thí nghiệm ở trung tâm được đầu tư nhiềuvới nguồn lực dồi dào ở các thành phố và đô thị lớn Điều này khiến những lợi ích củaxét nghiệm phân tích acid nucleic không đến được với những cư dân sinh sống ở nhữngvùng có nguồn lực hạn chế và ở các khu vực địa lý biệt lập Bởi vậy, công nghệ chẩnđoán phân tử với giá thành hợp lý, không quá phức tạp và có khả năng cầm tay là hết sứccần thiết để bảo vệ sức khoẻ của từng cá nhân và cả cộng đồng NAT là kỹ thuật rất hiệuquả để nhanh chóng phân biệt các mầm bệnh có biểu hiện lâm sàng giống nhau, nhưng cóthể cần các chiến lược điều trị khác nhau
Xét nghiệm dựa trên phân tích acid nucleic có nhiều dạng thức khác nhau, được
Trang 24thực hiện trong phòng thí nghiệm hay xét nghiệm ở thực địa, đều nhằm mục đích xácđịnh và/hoặc định lượng các trình tự acid nucleic đặc hiệu trong các mẫu bệnh phẩm lâmsàng đặc trưng cho sự có mặt, diễn biến, tiên lượng, dự đoán đáp ứng điều trị của cácmầm bệnh Bước khuếch đại acid nucleic có thể tách biệt với bước đọc tín hiệu trongNAT Trước hết là trong bước khuếch đại, điển hình là PCR, các acid nucleic được táchchiết từ các mẫu lâm sàng, rồi tiếp theo là bước đọc tín hiệu từ các sản phẩm khuếch đại.Quy trình hai bước này cho phép độ nhạy và độ đặc hiệu tách biệt về không gian và thờigian Độ nhạy có thể đạt được nhờ khuếch đại hiệu quả mà không ảnh hưởng nhiều đến
độ đặc hiệu Độ đặc hiệu sau đó sẽ được tối ưu nhờ thiết kế bước phát hiện nhằm giảmthiểu ảnh hưởng của các tín hiệu không đặc hiệu Các phương pháp như vậy đã được mô
tả chi tiết, sử dụng nhiều và áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán nhiều loại mầm bệnh khácnhau Bởi thế, các xét nghiệm với bước khuếch đại và phát hiện tách biệt nhau có thể làm
cơ sở để phát triển các xét nghiệm acid nucleic tiếp theo Tuy nhiên, điểm hạn chế củadạng thức NAT này là do sự khuếch đại đồng thời các trình tự không đặc hiệu dẫn tớicạnh tranh các thành phần có trong phản ứng khuếch đại Để ứng dụng xét nghiệm ở thựcđịa, dạng thức xét nghiệm NAT với bước khuếch đại và phát hiện tách biệt có quy trìnhbao gồm nhiều bước, dẫn tới thao tác phức tạp và tăng thời gian cho ra kết quả Điều nàyđặt ra yêu cầu cần phải phát triển dạng thức xét nghiệm NAT tích hợp bước khuếch đạivới bước phát hiện để đơn giản hoá quy trình và rút ngắn được thời gian cho ra kết quả
Dạng thức xét nghiệm NAT tích hợp bước khuếch đại và phát hiện dựa trên cácphát minh liên quan đến probe DNA gắn huỳnh quang và các chất nhuộm phát huỳnhquanh khi gắn vào sợi kép[3], cho phép định lượng theo thời gian thực sản phẩm khuếchđại ở cả PCR và các phản ứng khuếch đại đẳng nhiệt Các phản ứng khuếch đại đẳngnhiệt với độ đặc hiệu cao (LAMP, SMAP2, HAD) cho phép tiến hành các xét nghiệmphát hiện sản phẩm khuếch đại theo cách thức không đặc hiệu là đủ để khẳng định sự cómặt của các trình tự cần quan tâm Phản ứng LAMP còn tạo ra sản phẩm phụ không hoàtan, có thể định lượng nhờ đo độ đục[4] Hạn chế của những công nghệ này là ở chỗ cầnphải duy trì độ nhạy kỹ thuật trong khi phải tối ưu điều kiện phản ứng để đạt được độ đặchiệu phù hợp tránh tạo ra các sản phẩm không đặc hiệu và dương tính giả Việc sử dụngcác probe huỳnh quang như TaqMan và molecular beacon có ưu điểm khi kết hợp khuếchđại và phát hiện đối với những phản ứng mà nếu sử dụng phương pháp phát hiện không
Trang 25đặc hiệu sẽ dẫn tới độ đặc hiệu không đảm bảo Đo tín hiệu theo thời gian thực sử dụngprobe đồng thời cho phép kết hợp các probe có màu khác nhau, mở ra khả năng multiplex
để phát hiện cùng lúc nhiều trình tự đích trong cùng một phản ứng Kết hợp khuếch đạivới phát hiện trong một ống xét nghiệm là điều được nhiều người mong đợi vì sẽ giúpđơn giản hoá quy trình thí nghiệm và rút ngắn được thời gian cho ra kết quả
Bên cạnh các công nghệ khuếch đại acid nucleic, một số công nghệ mới phát hiệntrực tiếp acid nucleic không qua khuếch đại cũng đang được phát triển Những kỹ thuậtnày áp dụng các kỹ thuật phát hiện có độ nhạy cao để xác định các trình tự đích trongmẫu bệnh phẩm mà không cần khuếch đại Điều này mở ra khả năng thực hiện các quytrình đơn giản, giảm sử dụng các hoá chất và đơn giản hoá các hệ thống thực hiện xétnghiệm Sự thành công của những hệ thống như vậy chỉ phụ thuộc vào việc phát triển các
hệ thống cảm ứng ổn định với độ nhạy cao cho phép phát hiện nồng độ rất thấp của acidnucleic trong các mẫu bệnh phẩm lâm sàng phức tạp trong khi vẫn duy trì được độ đặchiệu phù hợp với mục đích chẩn đoán Các hệ thống phát hiện trực tiếp acid nucleic đãđược thương mại hoá, như hệ thống sử dụng barcode phân tử của hãng NanoString(Seattle, USA) hoặc các hệ thống sử dụng nano silicon, nano carbon và quantum dot Tuynhiên, những hệ thống này chưa phù hợp cho mục đích xét nghiệm tại thực địa và vẫncòn cần được phát triển và đánh giá thêm để phục vụ cho mục đích chẩn đoán Mặc dù cótiềm năng thay thế nhiều phương pháp đang được sử dụng hiện nay, các công nghệ pháthiện acid nucleic trực tiếp cần có thêm thời gian nhiều năm mới có thể tham gia vào thịtrường chẩn đoán
Trong khi các cảm biến sinh học để phát hiện trực tiếp acid nucleic không quakhuếch đại đang được phát triển, hiện nay các hệ thống NAT tích hợp với khuếch đạiacid nucleic có khả năng phát hiện một cách tin cậy từ các mẫu bệnh phẩm lâm sàngphức tạp với độ nhạy và độ đặc hiệu thoả mãn các yêu cầu lâm sàng Bởi thế dường nhưhiện nay để thực hiện NAT, chúng ta cần phải tiến hành khuếch đại tín hiệu hoặc khuếchđại trình tự đích Phát minh phương pháp PCR đã cách mạng hoá lĩnh vực di truyền vàchẩn đoán phân tử bằng cách mang đến một giải pháp tuyệt vời và đơn giản để khuếchđại acid nucleic sử dụng các enzyme polymerase chịu nhiệt và chu trình luân nhiệt làmnóng-làm lạnh để tách sợi và gắn mồi Công nghệ ưu việt này đã được mô tả chi tiết vàđược ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán phân tử, trong các nghiên cứu sinh y và khoa
Trang 26học sự sống Hai thập kỷ gần đây chứng kiến sự ra đời của nhiều thiết bị PCR vi dịch thể(microfluidic) Những thiết bị này có nhiều hình thức khác nhau trong đó một số thể hiệntiềm năng tốt hơn cả các công nghệ PCR hiện tại Điều bất lợi là chu trình nhiệt trongphản ứng PCR đòi hỏi hệ thống phức tạp, cồng kềnh và tiêu tốn năng lượng, khiến choPCR không phải là giải pháp hoàn hảo cho các xét nghiệm tại thực địa Thiết kế phản ứngPCR trong hệ thống kín microfluidic đòi hỏi phải cân nhắc thêm về thiết kế về khả năngdẫn nhiệt của vật liệu được sử dụng, sự nhạy cảm với nhiệt độ của nhiều loại enzymeđược sử dụng trong chẩn đoán, sự bay hơi nước và cơ chế điều khiển nhiệt độ phức tạp
Để khắc phục những giới hạn của phương pháp PCR truyền thống trong kỷnguyên khuếch đại acid nucleic dùng trong chẩn đoán phân tử tại thực địa, các nghiêncứu gần đây có xu hướng chuyển sang các phương pháp khuếch đại acid nucleic đẳngnhiệt Các phương pháp khuếch đại đẳng nhiệt sử dụng các enzyme để thực hiện bướctách sợi, khác với phương pháp PCR truyền thống buộc phải sử dung nhiệt độ cao.Những kỹ thuật khuếch đại đẳng nhiệt này là công cụ rất mạnh mẽ để phát triển các môhình chẩn đoán tại thực địa có khả năng khuếch đại acid nucleic mà không cần các bướcluân nhiệt và các cơ chế điều khiển liên quan
Một trong những phương pháp khuếch đại đẳng nhiệt đáng chú ý dựa vào các cấutrúc DNA dạng vòng (Loop-mediated isothermal amplification – LAMP) đã được pháttriển thành một phương pháp rất triển vọng có khả năng thay thế cho PCR Ngoài genđích groEL, Hubber và cs đã mô tả việc sử dụng vùng gen bảo tồn 47 kDa làm gen đíchcủa xét nghiệm LAMP và đạt được độ nhạy tương đương với PCR realtime
Bên cạnh đó, một số công nghệ khuếch đại acid nucleic đẳng nhiệt khác cũng đãđược quan tâm phát triển với nhiều ưu điểm nổi bật Trong số đó, Recombinasepolymerase amplification (RPA) là công nghệ sử dụng hỗn hợp các recombinase của sinhvật tiền nhân để giúp các primer gắn đặc hiệu vào gen đích Enzyme DNA polymerasethay thế sợi (tiểu phần lớn của Bacillus subtilis PolI, Bsu) xúc tác phản ứng kéo dàiprimer để tổng hợp sợi DNA mới bổ sung Phương pháp có độ đặc hiệu trình tự cao tronghỗn hợp acid nucleic và trong nước tiểu mà không cần tách chiết mẫu Công nghệ nàycho phép khuếch đại gen đích bằng cách tổng hợp liên tục DNA mà không cần biến tínhsợi kép DNA ở nhiệt độ cao Xét nghiệm có thể được tiến hành trong khoảng nhiệt độ từ24°C đến 45°C với hiệu suất rất cao nhờ đó có thể phát hiện được tín hiệu từ đơn phân tử
Trang 27đích chỉ sau 20 phút Ứng dụng thành công của công nghệ RPA đã được trình bày rõ ràngtrong nhiều công bố quốc tế trong thời gian gần đây RT-RPA đã được phát triển để pháthiện HIV, Rift Valley Fever virus, virus Ebola, Sudan và Marburg, MERS-CoV, virusgây bệnh chân tay miệng và Coronavirus ở bò Bên cạnh đó, xét nghiệm này cũng đãđược phát triển để phát hiện Chlamydia trachomatis trong các mẫu nước tiểu, chẩn đoánCryptosporidiosis ở động vật và mẫu bệnh phẩm ở người và phát hiện Neisseriagonorrhoeae, Salmonella enterica, Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA),Francisella tularensis, và Streptococci nhóm B Ngoài ra, xét nghiệm này được kết hợpvới ELISA để phân tích thực phẩm Trong khi RPA tương tự với LAMP đều không cầnđến máy luân nhiệt, nhiệt độ tối ưu của RPA là 37°C trong khi của LAMP là 60°C Thêmvào đó, RPA có khả năng áp dụng multiplex dễ hơn LAMP vì RPA chỉ cần một cặp mồitrong khi LAMP cần tới ba cặp mồi Sự có mặt của quá nhiều mồi trong phản ứng có thểdẫn đến tạo thành sản phẩm không đặc hiệu Bên cạnh đó các probe trong phản ứng RPAgóp phần làm tăng tính đặc hiệu của xét nghiệm Điều này đặc biệt quan trọng vì phảnứng LAMP được biết là có thể tạo ra sản phẩm khuếch đại không đặc hiệu Những ưuđiểm này gợi ý rằng RPA có thể là lựa chọn tối ưu để phát hiện acid nucleic tại thực địa
và phù hợp với các địa bàn có khả năng có dịch và hạn chế về nguồn lực
b, Các kỹ thuật chẩn đoán bệnh do Leptospira
Vì biểu hiện lâm sàng của bệnh giống với nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhưrickettsia, dengue và các loại sốt xuất huyết do virus khác, nên trong vùng dịch tễ củanhững bệnh này nên tác động của bệnh Leptospirosis thường không được đánh giá đúngmức Do khó khăn trong chẩn đoán bệnh Leptospirosis nên việc giám sát bệnh một cáchthoả đáng hiện còn thiếu Hệ quả là, hiểu biết về cách thức lây truyền, nguy cơ và độnghọc của các vụ dịch hiện mới chỉ manh nha Các công cụ để chẩn đoán sớm góp phần đưa
ra cảnh báo dịch sớm là hết sức cấp thiết
Nuôi cấy máu thu thập được ở giai đoạn sớm của bệnh cung cấp bằng chứng về
việc bị nhiễm Leptospira Tuy nhiên loại vi khuẩn này phát triển chậm và thường mất
hàng tuần đến hàng tháng để phát hiện được nuôi cấy dương tính Vì vậy chẩn đoán bằngphương pháp nuôi cấy không có ý nghĩa đối với điều trị cho từng bệnh nhân Các phươngpháp huyết thanh học cũng không giúp ích cho chẩn đoán sớm bệnh leptospirosis vì chỉ
phát hiện được kháng thể đặc hiệu Leptospira ở giai đoạn muộn của pha cấp, khoảng 3-5
Trang 28ngày sau khi các triệu chứng khởi phát Chẩn đoán sớm bệnh leptospirosis ở phòng thínghiệm dựa vào các phương pháp phân tử, đặc biệt là các kỹ thuật khuếch đại DNA củacác mẫu máu Đến nay mới chỉ có một số ít kỹ thuật PCR realtime được kiểm định và sửdụng trong các phòng thí nghiệm Tuy nhiên, ở các quốc gia lưu hành dịch thường có thunhập thấp và trung bình thì việc áp dụng kỹ thuật này trong chẩn đoán thường quy bệnhleptospirosis gặp trở ngại về tài chính và kỹ thuật Kỹ thuật PCR realtime đòi hỏi phảitrang bị máy luân nhiệt hiện đại đắt tiền, cần được trì thường xuyên và nguồn điện ổnđịnh Vì lý do đó, các kỹ thuật khuếch đại đẳng nhiệt sẽ giúp sẽ tránh không phải dùngđến các máy luân nhiệt đắt tiền, phức tạp và cho phép đọc kết quả bằng mắt thường Tuynhiên, trong thực tế thông tin liên quan đến việc áp dụng các kỹ thuật khuếch đại đẳng
nhiệt như phản ứng LAMP để phát hiện Leptospira còn rất hạn chế Hơn nữa, độ nhạy và
độ đặc hiệu của phương pháp này trong chẩn đoán hiện còn chưa thống nhất, do đó đòihỏi phải kiểm định và tối ưu rất công phu Gần đây công nghệ Recombinase polymeraseamplification (RPA) đã được phát triển thành một kỹ thuật khuếch đại đẳng nhiệt nhanh
và đơn giản với trang thiết bị có giá cạnh tranh Bên cạnh enzyme DNA polymerase nhưthông thường, công nghệ này sử dụng enzyme recombinase, protein gắn sợi đơn DNA vàcác trình tự DNA đặc hiệu gắn được vào các sợi kép DNA Nhờ đó, gắn mồi đặc hiệudiễn ra và kéo dài mồi mà không cần biến tính sợi kép DNA ở nhiệt độ cao Nhờ sử dụngcác enzyme thông thường nên phản ứng có thể được tiến hành ở nhiệt độ trung bình 37°-39° Thêm vào đó, các hoá chất của kỹ thuật này cho phép phát hiện tín hiệu realtimehoặc sau khi kết thúc phản ứng, nhờ vậy có thể được ứng dụng phù hợp trong nhiều hoàncảnh khác nhau, ở phòng thí nghiệm chẩn đoán hiện đại hay xét nghiệm ngay tại thực địa
c, Kỹ thuật chẩn đoán bệnh do não mô cầu
Hàng năm, dịch não mô cầu xảy ra tại nhiều khu vực khác nhau trên thế giới TheoRosenstein NE, Perkins BA và cộng sự (1999) thì nhóm A và C thường gây bệnh ở Châu
Á và Châu Phi, nhóm B và C gây bệnh phần lớn tại Châu Âu và Châu Mỹ Nhóm C gâymột số vụ dịch ở Canada, Mỹ (1992-1993) và Tây Ban Nha (1995-1997) Nhóm B gầnđây gây dịch nhiều hơn ở Tân Tây Lan với 500 trường hợp hàng năm Vụ dịch lớn ởTrung Quốc năm 1979 - 1980 bắt nguồn từ phía Bắc sau đó lan đến phía Nam nước này
và lan ra toàn cầu và nguyên nhân là do não mô cầu nhóm A Trong vài năm gần đây,nhiễm khuẩn não mô cầu do nhóm Y và W135 có chiều hướng tăng lên Israel và Thụy
Trang 29điển cũng cung cấp các số liệu cho thấy sự gia tăng của nhóm Y Theo CDC, tại Mỹ, các
ca bệnh do nhóm W135 đã tăng từ 4% lên 20% trong vòng 3 năm từ 1978 đến 1980; đặcbiệt nhóm W135 gây bệnh cho vài trăm người ở Arập Saudi (2000-2001), gây dịch ởBurkina Faso (Châu Phi) làm chết hơn 1500 người Năm 1996, vụ dịch não mô cầu lớnnhất trong lịch sử 100 năm đã xảy ra tại vùng ngoại ô Saharan - Châu Phi với 152.813người mắc và 15.783 người chết
Viêm màng não là một bệnh lý nhiễm trùng nghiêm trọng để lại di chứng và có tỷ
lệ tử vong cao nếu không được nghĩ đến, không chẩn đoán và điều trị kịp thời Sự hiểubiết về các tác nhân gây bệnh thường gặp sẽ hỗ trợ cho công tác điều trị và xây dựng cácchương trình phòng chống bệnh tật tại từng quốc gia Hầu hết những dữ liệu về dịch tễcủa viêm màng não mủ ở người lớn đều xuất phát từ những quốc gia đã phát triển, trong
đó 4 tác nhân gây bệnh thường gặp nhất là: Streptococcus pneumoniae (30% -60%), Neisseria meningitidis (13 - 37%), Listeria monocytogỉens và Haemophilus influenzae [11]
Tuy nhiên, tác nhân gây bệnh có thể thay đổi tùy theo vùng địa lý và theo thờigian nên kết quả khảo sát của các quốc gia Âu Mỹ có thể sẽ không phù hợp với ViệtNam Hơn nữa, việc nuôi cấy phân lập tác nhân gây bệnh tại Việt Nam thường gặp nhiềukhó khăn liên quan đến vấn đề kỹ thuật vi sinh cũng như việc điều trị kháng sinh trướckhi lấy bệnh phẩm
Ở các nước phát triển, hầu hết sử dụng các kỹ thuật phát hiện và phân tích đặcđiểm của các tác nhân vi sinh vật gây viêm màng não bao gồm: Nuôi cấy, nhuộm gram,
và ngưng kết hạt latex Mặc dầu vậy kỹ thuật nuôi cấy vẫn là tiêu chuẩn vàng khẳng định
ca bệnh trong lâm sàng, nhưng tỷ lệ dương tính thấp là do liên quan nhiều tới điều kiệnbảo quản và vận chuyển mẫu,điều kiện thực hành kỹ thuật và tình trạng sử dụng khángsinh trước khi thu thập mẫu bệnh phẩm Đôi khi kỹ thuật nhuộm gram cũng quan trọng,giá thành rẻ và thực hiện ở bất kỳ lúc nào có thể, nhưng nó chỉ đưa ra gợi ý về giống vàloài của tác nhân gây bệnh Kỹ thuật ngưng kết hạt latex cho kết quả khách quan, nhưngrất khó nhận định đánh giá, khi nồng độ vi khuẩn trong mẫu thấp Do vậy kỹ thuật nuôicấy vẫn được duy trì như tiêu chuẩn vàng phục vụ cho cung cấp dữ liệu về tình trạngkháng kháng sinh, phụ type và biểu hiện kháng nguyên, đây là cơ sở cho sản xuất vắc xintrong tương lai và hiểu biết về bệnh lý học Những mẫu bệnh phẩm không thu được từ
Trang 30kết qủa nuôi cấy được phân tích bởi phương pháp sinh học phân tử trên cơ sở nhân gienvới số lượng lớn từ DNA khuôn mẫu được tách chiết và tinh sạch từ mẫu bệnh phẩm lâmsàng (máu, dịch não tủy).
Neisseria meningitidis, Haemophilus influenzae type b (Hib) và Streptococcus pneumoniae là loại vi khuẩn có vỏ (polysaccharide-encapsulated ) là nguyên nhân quan
trọng gây bệnh và tử vong trên thế giới (Pollard et ai, 2009): Hàng năm có từ 400.000 500.000 người chết do viêm màng não WHO, 2006) Trong thời gian cuối thế kỷ 20 vàđầu thế kỷ 21, đã có sự chuyển đổi trong việc chẩn đoán các tác nhân sinh học, kết hợpkiểu hình và huyết thanh học với việc xác định kiểu gien bằng các kỹ thuật sinh học phân
-tử (Maiden & Frosch, 2001) Phân tích tính đa dạng về tổ hợp trình tự nhiều vùng gienMLST là biểu hiện trình tự nucleotide cơ bản làm rõ hơn phương pháp MLEE, là tiêu
chuẩn vàng cho việc xác định các đặc điểm của vi khuẩn N meningitidis và s pneumoniae và giám sát dịch tễ học Sự phát triển của các kỹ thuật phân tử cho phân tích
vi khuẩn gây viêm màng não từ mẫu nuôi cấy phân lập và không phân lập, đều khẳngđịnh được ca bệnh và nó trở thành công cụ hữu ích cho nâng cao chất lượng giám sát,phát hiện và tiên lượng dịch, đây là chiến lược phòng ngừa chính ở các nước Châu âu(Selander et al., 1986)
Kỹ thuật PCR trong việc phát hiện vi khuẩn gây bệnh viêm màng não mủ
Thiết kế trên gien 16S rRNA
Năm 1994, Radstrom và các cộng sự đã đề ra phương án sử dụng cặp mồi u3 vàru8 để nhân bản vùng trình tự bảo tồn trên gien 16S rRNA trong bước đầu và sử dụngmồi ru8 với các mồi đặc hiệu cho từng loài vi khuẩn để nhân bản vùng trình tự đặc biệtcủa mỗi loài trong bước 2 Kỹ thuật tiếp tục được nhóm nghiên cứu phát triển (năm1998) để phát hiện đồng thời các chủng vi khuẩn gây bệnh viêm màng não mủ trong dịch
não tủy như :Haemophilus influenzae, Neisseria meningitidis, Streptococcus agalactiae, Streptococcus pneumoniae và Listeria monocytogiens Cũng vào năm 1994, Greisen và
các cộng sự công bố công trình nghiên cứu những mồi và mẫu dò cho gien 16S rRNAcủa hầu hết các loài vi khuẩn gây bệnh, bao gồm vi khuẩn tìm thấy trong dịch não tủy.Đầu tiên là sự nhân bản vùng trình tự bảo tồn trên gien 16S rRNA bằng phương phápPCR Sau đó sử dụng các mẫu dò đặc hiệu để phát hiện DNA các loài vi khuẩn
Tương tự các công trình nghiên cứu trước, Jang - Jih Lu [10]và các cộng sự vào
Trang 31năm 2000 cũng đã thiết lập một cặp mồi chung trên gien 16S rRNA cho các loài vi khuẩn
Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermỉdỉs, Streptococcus pyogiens, Streptococcus agaỉactiae, Streptococcus pneumoniae, Enterococcus faecium, Enterococcus faecalis, Mycobacterium tuberculosis, Legionella pneumophila, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Serratia marcescens, Enterobacter cloacae,
mirabilis,Haemophilus influenzae, Neisseria meningitidis để thiết lập phản ứng PCR
nhân bản đoạn có kích thước 996 bp
Ở bước 2 tác giả sử dụng enzyme căt giới hạn phân căt đoạn trình tự lớn 996 bp.Các sản phẩm PCR sau khi đã xử lý bằng enzyme sẽ được điện di trên gellpolyacrylamide 6% và so sánh với thang chuẩn để xác định sự hiện diện của vi khuẩntrong địch não tủy P.Chakrabarti (2007) đã thiết kế các cặp mồi trên 16S rRNA để pháthiện N meningitidis; H.influenzae; S.pneumoniae theo nguyên lý kỹ thuật multiplexPCR và semi-nested PCR cho mồi xuôi
Thiết kế phản ứng trên gien 23S rRNA
Gần đây, đã có nhiêu nghiên cứu được tiên hành trên trình tự của tiêu đơn vị lớn(23S rRNA) ở vi khuẩn Theo Rina Uzuka và cộng sự (2004), vùng 23S rRNA thể hiện
sự biến động giữa các loài hơn vùng 16S rRNA Theo đó, có thể thiết kế mồi chung(universal primer) dựa trên vùng bảo tồn và mồi chuyên biệt (specific primer) dựa trênvùng biến động của trình tự 23 S rRNA để phân biệt được các nhóm vi khuẩn gây viêmmàng não Nếu thiết kế mồi trên trình tự 16S rRNA thì không có khả năng phân biệt cácloài trong nhóm vi khuẩn này Nhóm tác giả sử đụng 10 loài vi khuẩn lấy từ dịch não tủycủa trẻ bị viêm màng não để nghiên cứu Thiết kế mồi trong vùng chung và vùng chuyênbiệt của gien 23 S rRNA Sau đó khuếch đại những vùng này bằng kỹ thuật multiplexPCR và real-time PCR Kết quả, tất cả các vi khuẩn đều cho một băng điện di của sảnphẩm PCR chỉ sử dụng mồi chung Riêng Haemophilus influenzae và Streptococcuspneumoniae cho hai băng khi sử dụng phương pháp PCR kết hợp mồi chung và mồichuyên biệt, cho thấy sự hiện diện của vi khuẩn này có trong dịch não tủy
Các phản ứng PCR được thiết kế trên gen độc lực của vi khuẩn gây viêm màng não:
+ Phát hiên Neisseria meningitidis trên gien độc lực:
Trang 32N meningitidis là vi khuẩn thường xuyên cư trú ở đường hô hấp của người chiếm
tỷ lệ 10% trong vùng không có dịch (Caugant et al., 2007) Vi khuẩn có cấu trúc vỏ làpolysaccharide gây đáp ứng miễn dịch nhóm (serogoups) Kháng nguyên này giữ vai trò
quan trọng trong yếu tố độc lực, được mã hóa bởi gien cps Dựa vào kháng nguyên polysacchride chia N.meningitidis thành 13 nhóm (A, B, C,D; 29-E, H, I, K, L, W-135,
X, Y và Z); 9 nhóm thường gặp A, B, c, D, X, Y, z, W135 và 29E; ít gặp (H, I, K, L ); 5nhóm chủ yếu gây viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết, chiếm 95% (A, B, C, Y,W135) Dịch tễ học của viêm màng não thay đổi khác nhau trên thế giới Hầu hết nguyênnhân gây dịch ở Châu Phi là do serogroup A, mặc dầu vậy serogroup C;W135 và X cũng
đã được ghi nhận (Greenwood, 2007)
Ở Châu Âu và các vùng công nghiệp, serogroup B và C là nguyên nhân chính gâybệnh viêm màng não, trong đó serogoup B thường gây bệnh ở người dưới 20 tuổi, năm2007; tỷ lệ tử vong là 1/100.000 dân, cao hơn ở Ireland và UK là 3,8/100.000 và
2,5/100.000 dân(ECDC, 2009) Serogroup của N.meningitidis được xác định bằng ngưng
kết hạt latex nhưng hiệu quả không cao từ mẫu khuẩn lạc hoặc từ mẫu dịch não tủy doviệc sử dụng kháng sinh, ngưỡng phát hiện của kỹ thuật thấp (phát hiện được từ nồng độkháng nguyên 62,5 ng/ml trong DNT) Do đó việc giám sát nhanh chủ yếu dựa vào kỹthuật PCR
Mothershed trước năm 2004 xác định chính xác tác nhân bằng PCR cơ bản (singlePCR), tiếp theo là xác định não mô cầu với các serogroup khác nhau B,C,W135, Y nhờvào axit sialic trong thành phần polysaccharide (Mothershed - 2004) Tzanakaki đã sửdụng PCR-ELISA (Tzanakaki et al„ 2003) và Borrow đã sử dụng realtime-PCR để pháthiện não mô cầu (Borrow et ai, 1997); MLST của N.meningitidis trên cơ sở giải trình tự
7 đoạn gien bảo thủ (housekeeping loci: abcZ, adk, aroE.fumC, gdh, pdhc, pgrn), và nóđược thừa nhận như tiêu chuẩn vàng cho xác định đặc điểm của chủng và giám sát dịch tễhọc của vi khuẩn não mô cầu (Brehony- 2007)
PorA: N.meningitidis lớp 1- OMP (protein màng) là kháng nguyên phân biệt
serosubtype (KN dự tuyển vắc xin) (Suker et aỉ., 1996) Sự thay đổi lớn tìm thấy trongporA dẫn đến sự khác biệt về serosubtyping không dựa vào sử dụng panel kháng thể đơndòng; tuy nhiên lại sử dụng bằng sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử Xác định trình tự
nucleotide của các phần trong gien porA có sự thay đổi vùng (VRs), VR1 và VR2 Dựa
Trang 33vào phân tích sự thay đổi trên porA gien ở Châu âu đã xây dựng qui trình Nested PCR để xác định serosubgroup N meningitidis.
FetA: là một loại protein được biết như FrpB, điều hòa sắt trên màng tế bào OMP
(protein dự tuyển trong vắc xin) Wedege et al., 1998) Sự thay đổi của protein này tương
tự như PorA
PorB: Kháng nguyên serotyping PorB là một protein màng (OMP), biểu hiện ở
hầu hết các chủng phân lập Protein PorB phân chia thành 02 lớp (não mô cầu lớp 2 vàlớp 30MPs); Giống như serosubtyping PorA một loạt các kỹ thuật miễn địch đã đượcphát triển để phát hiện subtype (Frasch et al., 1985); Tuy nhiên không giống PorA, sựthay đổi trình tự trong protein PorB, đó là kết quả của sự thay đổi kháng nguyên trênprotein bề mặt
fHbp: Yếu tố H gắn protein (fHbp) là một lipoprotein bề mặt có trong tất cả
chủng N.meningitidis (Fletcher et al., 2004) Hoạt động quan trọng của fHbp là giúp vi
khuẩn gắn vào thụ thể trên niêm mạc của người nhờ yếu tố H
MLVA: Đã được giới thiệu như là một phương pháp để xác định một số lượng lớn
tác nhân vi sinh vật, trong đó có cả N.meningitidis (Yazdankhah et al2005) Trong
MLVA sự thay đổi số lượng trình tự lặp lại của các đoạn gắn nucleotide dẫn đến sự thayđổi kích thước của sản phẩm PCR và là cơ sở cho việc nghiên cứu dịch tễ học phân tử.Trong nghiên cứu đã xác định được 8 vị trí gien có sự khác biệt trong trình tự lặp lại
(VNTR) trên 85 chủng N.meningitidis trong nghiên cứu ở Đan Mạch (Schouls etal.,
2006)
+ Phát hiện H.influenzae:
Vỏ của H influenzae được mã hóa bởi các gien sản xuất ra polysaccharid capsul
đó là vùng gien cap, vùng này có 3 chức năng đã được xác định (vùng 1 ;2;3 cho toàn bộ
serotypes (Kroll et al., 1991) Gien trong vùng 1 và 3 liên quan tới 6 dạng capsul và nó
cần thiết cho biến đổi và vận chuyển vật liệu cho capsul (bexABCD và hcsAB) (Kroll et
al., 1990; Sukupolvi-Petty et al., 2006) Vùng gien 2 liên quan tới tổng hợp capsul và chỉliên quan tới 1 trong 6 dạng capsul (Van Eldere et al., 1995) Kỹ thuật PCR sử dụng PCR
đa mồi để nhận biết trình tự trong bexA trong vùng 1 và gien đặc hiệu cho capsul ở vùng
2 (LaClaire et al., 2003; Satola et al., 2007)
+ S.pneumoniae:
Trang 34Vỏ Polysaccharide là yếu tố độc lực đầu tiên của phế cầu, trên 90 serotypes đã
được mô tả, mã hóa bởi gien CPS, gien này nằm giữa dexB và aliA (2 gien này không tổng hợp capsul) và rất gần với gien pBP2x (chiều ngược của dexB) và pbpla ( chiều xuôi của aliA) (García et al., 2000) Gien CPS bao gồm các gien đáp ứng cho tổng hợp
polysaccharide đặc hiệu serotype
Ứng dụng kỹ thuật PCR phát hiện 03 loại vi khuẩn:
N.meningitidis: Mothershed xác định 02 đoạn gien đích đặc hiệu cho N.meningitidis là ctrA và sodC; gien ctrA có tính bảo thủ cao trong các chủng gây bệnh
có biểu hiện đầy đủ triệu chứng lâm sàng thường được áp dụng trong realtime PCR và
PCR để phát hiện N.meningitidis Tuy nhiên lưu ý có đến 16% vi khuẩn mất gien ctrA, ở người mang mầm bệnh Gene sodC thiết kế phát hiện vỏ vi khuẩn não mô cầu và nó không bị ảnh hưởng của gien ctrA, do đó tốt nhất là thiết kế trên cả 2 gien ctrA và sodC
để triển khai giám sát người mang vi khuẩn [11]
H.influenzae: Gene hpd mã hóa protein D, có tính bảo thủ cao, nó có trong tất
cả chủng H.influenzae tồn tại dạng có vỏ và không có vỏ và nó có ở cả 6 serotype (a- f) Hiện nay người ta còn sử dụng gien bexA để thiết kế cho các phản ứng PCR, vì nó có mặt ở cả 6 serotype của H.influenzae, tuy nhiên phát hiện Hib ít nhậy hơn Hia, Hic và
Hid và không phát hiện được Hie; Hif
S.pneumoniae: Các phản ứng PCR dùng để phát hiện S.pneumoniae được thiết
kế trên ply, lytA vàpsaA Tuy nhiên có những kết quả dương tính giả đã được xác định trong phản ứng PCR cơ bản trên gien ply từ mẫu nhầy họng Thử nghiệm PCR phát hiện S.pneumoniae sử dụng đoạn gien đặc hiệu lytA có tính bảo thủ tốt hơn cùng với loài và phân tách được với chủng S.mitis, S.oralis, vàS.pseudopneumoniae
Ứng dung PCR đa mồi phát hiện serogroups của N.meningitidis:
Messmer và CS dựa trên thành phần hóa học và sự liên kết phân tử của
polysaccharide capsul biểu hiện trên bề mặt tế bào vi khuẩn N meningitidisđã phân thành
13 serogroup [12] Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu bao gồm serogroup: A;B;C;Y vàW135, trong đó loại trừ nhóm A sản xuất ra poly-α1-6 liên kết với N- acety-lmannosamine 6-phosphate capsul; 04 serogroups còn lại sản xuất axít sialic Dịch bùngphát do serogroup X nó biểu hiện độc lực là poly-α1-4-liên két N- acetylglucosamine 1-phosphate capsule, còn serogroup D không được còn công nhận là serogoups của
Trang 35N.meningitidis Gene biểu hiện capsul được tìm thấy ở 04 operons Vùng 01 mã hóa tổng hợp capsul (gọi là syn hoặc sia gien phụ thuộc vào danh pháp đặt tên của hệ thống sử dụng) và 03 mã hóa capsul vận chuyển đến protein bề mặt tế bào (ctrA) Gien sia được
sử dụng xác định genotyping và serogroup: B(SynD), C(SynE);Y(SynF) và W135(synG) Gien sacB là đoạn cho serogroups A và gien xcbA dường như mã hóa enzyme tổng hợp
capsul
Trong nước: (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài, đặc biệt phải nêu được được những kết quả KH&CN liên quan đến
đề tài mà các cán bộ tham gia đề tài đã thực hiện; nếu có các đề tài cùng bản chất đangthực hiện hoặc đăng ký nghiên cứu ở cấp khác, nơi khác của nhóm nghiên cửu phải giảitrình rõ các nội đung kỹ thuật liên quan đến đề tài này; nếu phát hiện có đề tài đang tiếnhành mà đề tài này có thể phối hợp nghiên cứu được thì cần ghi cụ thể tên đề tài, tên Chủnhiệm đề tài và cơ quan chủ trì đề tài đó):
Tại Việt Nam vào năm 1939-1940 ở miền Bắc, có một vụ dịch lớn nhiễm trùnghuyết và viêm màng não do não mô cầu lan từ Trung Quốc sang Sau năm 1941, miềnBắc vẫn còn thấy một số vụ dịch nhỏ Ở miền Nam địch xảy ra năm 1973 tại một trại tânbinh Năm 1977-1978 một trận dịch lớn đã xảy ra trên nhiều tỉnh thành ở phía Nam donão mô cầu nhóm C gây nên Não mô cầu có khả năng gây dịch lớn hoặc các trường hợp
lẻ tẻ Nhóm A thường gây bệnh dịch lớn, xảy ra theo chu kỳ khoảng 20 - 30 năm hoặcdịch nhỏ có chu kỳ 8 - 12 năm Nhóm B và C thường gây các trường hợp riêng lẻ giữathời gian có dịch lớn, tuy nhiên vẫn có khả năng gây thành dịch lớn Nhóm Y chỉ gâydịch riêng lẻ trên trẻ em và thanh niên Tuổi dễ mắc bệnh nhất là trẻ em từ 6 tháng đến 3tuổi hoặc thanh thiếu niên từ 14 - 20 và tỷ lệ bệnh thấp ở người trên 20 tuổi
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã đánh giá tỷ lệ trẻ khỏe mạnh mang vi khuẩn
H.influenzae nói chung và Hib nói riêng , tỷ lệ mắc viêm màng não do H influenzae
(chưa có điều kiện xác định typ huyết thanh) ở trẻ dưới 5 tuổi Cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 5
tuổi mang H.influenzae chiếm khoảng 21,4% - 35,5%, Hib chiếm khoảng 15,0% - 17,5%
và H.influenzae là căn nguyên hàng đầu gây viêm màng não (50 - 60% các trường hợp
viêm màng não xác định được vi khuẩn) ở trẻ nhỏ Từ năm 1994 đến 2004, một sốnghiên cứu của Ngô Thị Thi, Phan Lê Thanh Hương cùng cộng sự đã đưa ra tỷ lệ viêm
màng não do Hib ở trẻ dưới 5 tuổi tại Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc, cũng như tìm hiểu
Trang 36về sự phân bố theo biotype, genotype (phân loại bang PFGE) và gen mã hóa tổng hợp
enzym p-lactamase của Hib phân lập từ trẻ viêm màng não.
Theo thống kê tại viện Nhi trung ương trong 10 năm (1983-1992) có 1.958 bệnhnhân viêm màng não vào viện, đứng hàng thứ sáu trong các bệnh nhiễm trùng phải nhậpviện Trên thế giới, bệnh đang có xu hướng giảm đần ở các nước phát triển song hầunhưkhông thay đổi ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước châu Phi Tại Việt
Nam, viêm màng não do căn nguyên vi khuẩn Hib ít được quan tâm vào những năm trước 1994 Vì vậy, những nghiên cứu về viêm màng năo do Hib tại Việt Nam cho đến
nay vẫn chưa nhiều Tuy nhiên, nghiên cứu của Phạm Nhật An và cộng sự năm 2001 vớibệnh nhân từ 0 đến 15 tuổi được chẩn đoán là viêm màng não vào điều trị tại viện Nhitrung ương từ tháng 12/1998 đến 12/1999, cho thấy kết quả về căn nguyên gây viêm
màng năo được xác định ở trẻ em theo thứ tự hay gặp là: H.influenzae (50%), S.pneumoniae (22,06%), N.meningitidis (11,76%), Streptococcus (5,88%) và một số loại
vi khuẩn khác chưa có điều kiện xác định chi tiết về type huyết thanh của mỗi loại vikhuẩn Trong đó, căn nguyên gây viêm màng năo cho trẻ dưới 5 tuổi theo thứ tự hay gặp
là H.influenzae (64,7%), S.pneumoniae (28,6%), N.meningitidis (7,84%) và Staphylococci (1,96%).
Phan Lê Thanh Hương và CS tại Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương ứng dụng kỹ
thuật PCR đa mồi phát hiện các vi khuẩn H.influenzae, S.pneumoniae và N.meningitidis
trực tiếp từ dịch não tủy, tỷ lệ phát hiện được vi khuẩn bởi PCR đa mồi so nuôi cấy phân
lập cao hơn từ 1,5 (với Hib) đến 3,1 lần (với S.pneumoniae và N.meningitidis) và có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) Độ nhạy của PCR đa mồi với Hib là 90,9%; với S pneumoniae 100% và N.meningitidis là 100% [6] Độ đặc hiệu của PCR đa mồi với Hib, S.pneumoniae và N meningitidis đều đạt 100%, Giá trị dự đoán âm tính khi kết quả xét nghiệm PCR đa mồi âm tính đối với Hib là 97,1%; vói S.pneumoniae 100% và với N.meningitidis 100% Kỹ thuật PCR đa mồi nên được sử dụng trong chẩn đoán bởi kỹ
thuật này được coi là một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm phát hiện tácnhân gây bệnh, khắc phục các hạn chế của kỹ thuật kinh điển, góp phần nâng cao hiệuquả điều trị Thái Kế Quân và CS [5] phát hiện vi khuẩn gây viêm màng não mủ trongdịch não tủy bằng kỹ thuật multiplex-PCR nhân bản trên gien 16rRNA để phát hiện
N.meningitidis; H.influenzae và S.pneumoniae từ mẫu dịch não tủy; Kết quả cho thấy
Trang 37ngưỡng phát hiện 10CFU/ml, áp dụng trên 49 mẫu (phát hiện 14/15 mẫu nhiễm vi khuẩn
và 3/15 mẫu nhiễm vi khuẩn khác không trong diện nghiên cứu)
Theo số liệu thông báo của cục Quân y [6], về cơ cấu bệnh viêm màng não từ năm2007-2011 có 61 ca bệnh, tử vong 5 Bệnh xuất hiện ở cả 3 miền, nhưng chủ yếu ở khuvực Miền Bắc (49 ca chiếm tỷ lệ 80,33%)
Viện VSPDQĐ Cục Quân Y đã triển khai các kỹ thuật PCR phát hiện loài vàmultiplex-PCR xác định serogroups phát hiện não mô cầu từ năm 2008-2012 tại các đơn
vị Miền Bắc Kết quả: phát hiện 25 ca bệnh được chẩn đoán lâm sàng là viêm màng não
mủ, xác định 19/25 là do nhiễm N.meningitidis; trong đó từ năm 2008-2011 chủ yếu là
sergroupB và ít hơn là W135 (xác định ở người mang mầm bệnh), đến năm 2012 đã có
sự xuất hiện của serogroup C Tỷ lệ người mang mầm bệnh và người tiếp xúc gần vớingười bệnh là từ 13,3%-39,2% Kết quả kiểm chứng của phòng thí nghiệm của WHO đặttại Viện PHARO (Pháp) trên 02 chủng não mô cầu và mẫu nhầy họng đã được tách chiết
bằng kit của hãng Qiagen đều xác định là N.meningitidis serogroup B Kết quả ở 2 viện
cũng tương đồng ở loại mẫu là dịch não tủy Riêng với loại mẫu nhầy họng độ tươngđồng chính xác là 58/67 mẫu [1;2;3]
Trên kết quả giám sát dịch của Viện VSPDQĐ, Chúng tôi sử dụng xác định loài
bằng kỹ thuật PCR cơ bản, các cặp mồi được thiết kế trên vùng ctrA mà không thiết kế trên vùng sodC (sẽ bỏ sót một số tỷ lệ mang mầm không triệu chứng) Hơn nữa, chưa tối
ưu được qui trình vi sinh phẩm mua Mix đóng sẵn, dẫn đến kết quả điều tra giám sát cabệnh chưa phản ánh được thực trạng lưu hành mầm bệnh trong Quân đội
Trong giám sát chủ động năm 2012; triển khai giám sát trọng điếm tại f312 vàf325, thu thập mẫu nhầy họng; ứng dụng kỹ thuật PCR cơ bản xác định được34/207(16,42%); trong đó số mẫu không xác định được serogroup: 16/34 (47,0%) bằng
kỹ thuật multiplex-PCR Điều này chứng minh tính chưa ổn định của qui trình kỹ thuật
có thể do thiết kế mồi, chưa tối ưu hóa được qui trình kỹ thuật hay do kỹ năng của cán bộ
kỹ thuật, chính vì lý do này chúng tôi muốn đề xuất xây dựng qui trình kỹ thuật, tối ưu
hóa cho việc phát hiện N.meningitidis và xây dựng thêm qui trình kỹ thuật multiplex PCR
phân biệt với các tác nhân chủ yếu khác gây viêm màng não như:
H.influenzae;S.pneumoniae.
Vấn đề còn tồn tại:
Trang 38Như tổng kết nêu trên để phát hiện Neisseria meningitidis bằng phương pháp sinhhọc phân tử (PCR), các gene SodC, CtrA, 16S RNA(IS1106), PorA được dùng làm đíchcho việc thiết kế các cặp mồi đặc hiệu, kết luận này dựa trên thử nghiệm đa trung tâm dochương trình tầm soát viêm não mô cầu châu Âu (EU-MenNet program) công bố năm2005( Taha, Alonso et al 2005 ) Bản thân tài liệu hướng dẫn chẩn đoán Neisseriameningitidis do to chức Y tế thế giới ban hành năm 2011 (WHO_IVB_11.09_eng) cũng
yêu cầu sử dụng gene CtrA trong tầm soát Neisseria meningitidis.
Tuy nhiên một số đơn vị trong nước khác mặc dù sử dụng đích PCR là gene CtrA
Cũng như toàn bộ quy trình chẩn đoán và định type Neisseria meningitidis từ tài
liệu (Report on a Suspected Case of Meningococcal Meningitis) - Epidemiology Bulletin July 25,2004 do cơ quan kiểm soát bệnh Đài Loan ban hành năm 2004
(www.cdc.gov.tw/downloadfile.aspx?fid – xem Hình 1)
Trang 39Hình 1:Trình tự các mồi được Viện vệ sinh phòng dịch quân đội sử dụng trong chẩn
đoán và định type Nm (bản quyền Epidemiology Bulletin July 25,2004 - Taiwan Centre
for Disease Control - www.cdc.gov.tw/downloadfile.aspx?fid)
Khi so sánh các cặp mồi trên (blast) với trình tự chuẩn lưu trên ngân hàng geneNCBI (http://blast.ncbi.nlm.nih.gov/Blast.cgi), chúng tôi thu được kết quả như sau (hình1) và thấy rằng Mặc dù cặp mồi CtrA-VSPD-QD-F/ CtrA-VSPD-QD-R sử dụng bởi một
số đơn vị trong nước có tìm đến bộ gene Neisseria meningitidis tuy nhiên tính tương đồng rất thấp và thậm trí còn bắt chéo với nhiều loài không phải Neisseria meningitidis
Trang 40Hình 2: Kết quả tìm kiếm các đoạn gene tương dồng với cặp mồi do một số đơn vị
trong nước sử dụng