1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite

7 473 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite
Tác giả Đỗ Thành Trung
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM
Chuyên ngành Khoa Đào tạo Chất lượng cao
Thể loại Luận văn
Thành phố Tp. HCM
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 353,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

rong quá trình chếtạo tấm composite bằng phương pháp tẩm trong khuôn (Resin Transfer Molding) có thểxảy ra trường hợp cốt sợi bịgấp nếp và ảnh hưởng đến ứng suất và khảnăng chịu tải. Với phương pháp thí nghiệm uốn 3 điểm, mô đun đàn hồi, ứng suất và trạng thái phá hủy của tấm composite với cốt sợi liên tục và gấp nếp được phân tích và so sánh. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng: khi so sánh với cùng tỉlệcốt sợi thì mô đun đàn hồi của tấm composite với cốt sợi liên tục luôn lớn hơn so với cốt sợi gấp nếp. Điều này là do có sự tập trung cốt sợi tại vùng đặt lực. Ứng suất uốn lớn nhất của tấm composite với cốt sợi gấp nếp có giá trịlớn hơn so với cốt sợi liên tục chỉkhi chiều dài gấp nếp đủlớn. Ngoài ra, trạng hái phá hủy của tấm composite cũng khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc của cốt sợi.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CỐT SỢI GẤP NẾP ĐẾN

ỨNG SUẤT UỐN CỦA TẤM COMPOSITE

Đỗ Thành Trung Khoa Đào tạo Chất lượng cao - Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp HCM

TÓM TẮT: Trong quá trình chế tạo tấm composite bằng phương pháp tẩm trong khuôn

(Resin Transfer Molding) có thể xảy ra trường hợp cốt sợi bị gấp nếp và ảnh hưởng đến ứng suất và khả năng chịu tải Với phương pháp thí nghiệm uốn 3 điểm, mô đun đàn hồi, ứng suất

và trạng thái phá hủy của tấm composite với cốt sợi liên tục và gấp nếp được phân tích và so sánh Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng: khi so sánh với cùng tỉ lệ cốt sợi thì mô đun đàn hồi của tấm composite với cốt sợi liên tục luôn lớn hơn so với cốt sợi gấp nếp Điều này là do có

sự tập trung cốt sợi tại vùng đặt lực Ứng suất uốn lớn nhất của tấm composite với cốt sợi gấp nếp có giá trị lớn hơn so với cốt sợi liên tục chỉ khi chiều dài gấp nếp đủ lớn Ngoài ra, trạng thái phá hủy của tấm composite cũng khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc của cốt sợi

Từ khóa: Composite, mô đun đàn hồi, ứng suất uốn, phá hủy

ABSTRACT: The wrinkled fabric preforms can be occurred during the preform loading of

Resin Transfer Molding process and affected the stress and loading capacity of composites In this study, the modulus, stress and fracture of the composites were examined and compared under the three-point bending It was found that the bending modulus of the composite with wrinkled fabric preform was larger than that of the composite with non-wrinkled fabric preform under the same fiber volume fraction when the composite was loaded in the middle

of span This was due to the fiber concentration Also, the bending strength of the composite with wrinkled preform was larger than that of the composite with non-wrinkled fabric preform when the wrinkled length was a large enough Moreover, the fracture of composites indicated two failure mechanisms depending on the structure of fabric preforms

Keyworks: Composite, bending modulus, bending strength, fracture

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Vật liệu composite là vật liệu tổng hợp

từ hai hay nhiều vật liệu khác nhau (mỗi

thành phần có những đặc trưng cơ – lí –

hóa riêng biệt) tạo thành vật liệu mới có

tính năng hơn hẳn các vật liệu riêng rẽ ban

đầu [1-3] Đồng thời, vật liệu composite

được ứng dụng và phát triển rộng rãi vì

chúng rất bền và nhẹ và có những ưu điểm

vượt trội so với các vật liệu truyền thống

Mỗi vật liệu composite gồm một hay nhiều

pha gián đoạn được phân bố trong một pha

liên tục duy nhất Trong đó, pha là một loại

vật liệu thành phần nằm trong cấu trúc của

vật liệu composite Pha liên tục gọi là vật

liệu nền (matrix), thường làm nhiệm vụ

liên kết các pha gián đoạn lại Pha gián

đoạn được gọi là cốt (perform) hay vật liệu

tăng cường (reinforcement) được trộn vào

pha nền làm tăng cơ tính, tính kết dính, chống mòn và chống xước [4-5]

Vật liệu composite có thể được chế tạo bằng nhiều phương pháp như ép phun, tẩm trong khuôn, đúc nén, quấn sợi,…Trong đó, phương pháp tẩm trong khuôn (Resin transfer molding) là phương pháp được sử dụng nhiều vì sản phẩm sau khi tách khỏi khuôn không bị biến dạng, có bề mặt bóng láng, hoàn chỉnh và giá thành chế tạo thấp hơn so với một số phương pháp chế tạo composite khác Phương pháp tẩm trong khuôn gồm có 4 bước: Chuẩn bị; Phun; Lưu hóa; Tách khuôn [6] Bước 1: Đầu tiên cốt sợi được đặt vào trong lòng khuôn

có kích thước như sản phẩm cần tạo ra Sau đó đóng khuôn trên và kẹp chặt bằng

bu lông hai phần khuôn lại với nhau Để không khí trong khuôn được thoát ra ngoài

Trang 2

một cách dễ dàng thì các ống thông hơi

phải được tính toán và thiết kế hợp lý

Bước 2: Vật liệu nhựa dẻo pha với chất

phụ gia với tỉ lệ nhất định được phun vào

lòng khuôn có chứa sẳn cốt sợi Đồng thời,

không khí được thoát ra qua các ống hơi và

quá trình tẩm nhựa dẻo vào cốt sợi sẽ diễn

ra trong giai đoạn này Bước 3: Tại bước

này, tất cả các ống thông hơi và ống phun

nhựa dẻo đều được bịt kín Dưới tác dụng

của nhiệt độ và chất xúc tác (đã được pha

trộn với nhựa dẻo) thì phản ứng hóa học

diễn ra để liên kết cốt và nền với nhau tạo

thành một khối rắn theo hình dạng của

lòng khuôn Bước 4: Khi quá trình đông

cứng đã kết thúc thì khuôn trên được mở ra

để tách tấm composite ra ngoài

Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới rất

quan tâm đến ứng suất của chi tiết máy

được chế tạo từ vật liệu composite có cốt

sợi thủy tinh và nhựa dẻo polyester [ 1, 2,

7] K K Jadhao và D R R.S Dalu lựa

chọn các vật liệu là sợi thủy tinh gia cố

nhựa (GFRP) và nhựa polyester (NETPOL

1011) để sử dụng sẽ làm giảm tổng chi phí

chế tạo một nhíp giảm xóc bằng composite

Một nhíp giảm xóc với chiều rộng và độ

dày không thay đổi đã được chế tạo bằng

bằng tay rất đơn giản và kinh tế Các thí

nghiệm được tiến hành trên UTM và phân

tích số được thực hiện thông qua (FEA)

bằng cách sử dụng phần mềm ANSYS Kết

quả ứng suất và chuyển đã được xác nhận

kết quả phân tích thí nghiệm Kết quả cho

thấy, ứng suất của nhíp giảm xóc bằng

composite đã thấp hơn nhiều so với nhíp

giảm xóc bằng thép và trọng lượng của

nhíp giảm xóc bằng composite đã gần như

giảm lên đến 85% [2]

Trong quá trình chế tạo tấm composite

bằng phương pháp tẩm trong khuôn (Resin

Transfer Molding) có thể xảy ra trường

hợp cốt sợi bị gấp nếp và có thể ảnh hưởng

đến ứng suất và khả năng chịu tải Vì vậy,

trong nghiên cứu này với phương pháp thí

nghiệm uốn 3 điểm thì mô đun đàn hồi,

ứng suất và trạng thái phá hủy của tấm

composite với cốt sợi liên tục và gấp nếp

được phân tích, so sánh và đánh giá

2 CƠ SỞ TÍNH TOÁN VÀ PHÂN TÍCH

2.1 Tỉ lệ cốt sợi của composite

Tỉ lệ cốt của tấm composite dựa vào tỉ trọng của cốt, nền và composite, với công thức tính được xác định như sau [8,9]:

Thể tích của mẫu composite (v c) là tổng

thể tích của cốt sợi (v f ), nền (v m) và khoảng

trống (v v),

v m f

Chia công thức (1) tất cả cho v c ta được

tỉ lệ thành phần của cốt, nền và khoảng

trống lần lượt là V f , V m và V v:

1

= + + m v

Gọi m c là khối lượng của composite, m f

là khối lượng của thành phần cốt, m m là khối lượng của thành phần nền,

m f

Tỉ trọng của composite ρc được xác định như sau:

m m f f c

m m f f c

c

v

v v

v

) 1

( f v

m f f

cV +ρ −VV

v m m m f f

ρ = ( − )+ − (6) hoặc

m f

v m m c f

V V

ρ ρ

ρ ρ ρ

+

Trong đó: ρc là tỉ trọng của composite ; ρm

là tỉ trọng của thành phần nền ; ρf là tỉ trọng của thành phần cốt ; V là tỉ lệ của v

khoảng trống (V v = νv /νc )

Trong hầu hết các phương pháp chế tạo composite bao gồm cả phương pháp tẩm trong khuôn thì tỉ lệ khoảng trống (rỗ khí,

rỗ hơi,…) trong composite nhỏ hơn 1%, và

có thể bỏ qua V v trong công thức tính V f Cho nên công thức (7) được viết lại như sau:

m f

m c f

V

ρ ρ

ρ ρ

2.2 Phân tích tấm composite với cốt sợi gấp nếp

Trang 3

Khảo sát tấm composite chịu uốn theo 3

điểm với lực tác dụng là P tại điểm giữa và

hệ trục tọa độ như hình 1 Kích thước của

tấm composite gồm: chiều dài L, chiều

rộng b, và chiều dày t Đồng thời, tấm

composite có cốt sợi bị gấp nếp với chiều

dài là L GN và phân bố ở giữa như mô hình

khảo sát

Về mặt lý thuyết có thể xác định được

mô đun đàn hồi và mô đun trượt của tấm

composite theo từng vùng Cho nên, giả sử

rằng mô đun đàn hồi và mô đun trượt tại

vùng có cốt sợi liên tục là E 1 và G 1; mô

đun đàn hồi và mô đun trượt tại vùng có

cốt sợi bị gấp nếp là E 2 và G 2

Mặt cắt ngang của tấm composite có

hình dạng là chữ nhật, cho nên mô men

quán tính của tấm composite có công thức

tính như sau:

12

3

bt

Dựa vào phương pháp năng lượng [10],

+ Năng lượng theo phương x (U x):

⎟⎟

⎜⎜

+

2

2

0

2 2

2

1

2

2 2

GN

L

L

x

I E

M dx

I E

M U

⎟⎟

⎜⎜

⎛ +

2

2

0

2 2

2

1

2

2

2 2

2

2 GN

GN

L

L

I E

Px dx

I E Px

⎟⎟

⎜⎜

+

=

2

3 3

1

3 3

2

L L L E

L L

bt

+ Năng lượng trượt (U t) trong mặt phẳng

xOy:

⎟⎟

⎜⎜

+

2 2 0 2 0

2 2 2

2 0 2 2

1

2

2 2

L

L L t

G

bdydx G

⎟⎟

⎜⎜

⎟⎟

⎜⎜

− +

⎟⎟

⎜⎜

⎟⎟

⎜⎜

2 2 0 2 0

2 2 2

2 0

2

2 2 2 3 1

2 2 2 3

2 4 3 2 4 3 4

GN

GN

L

L L L

t

bdydx G

y

t bt P

bdydx G

y

t bt P

⎟⎟

⎜⎜

+

=

2 1

2 20

3

G

L G

L L bt

Theo lý thuyết [9, 10], ứng suất theo phương trục và ứng suất trượt đều tồn tại trong tấm composite dưới tác dung của lực uốn theo 3 điểm Cho nên tổng năng lượng của tấm composite được tính như sau:

t

x U U

⎟⎟

⎜⎜

+

− +

− +

=

2 1

2

2

3 3

1 3

3 2

5 6 8

G

L G

L L t

E

L L L E

L L bt

P

GN GN

GN GN

(13)

Tổng chuyển vị của tấm composite tại điểm giữa được xác định như sau:

⎟⎟

⎜⎜

⎟⎟

⎜⎜

+

− +

− +

=

=

2 1

2 2

3 3

1

3

6 4

2

G

L G

L L t E

L L L E

L L bt P P U

GN GN GN

GN

δ

(14) hoặc:

P

bt G

L G

L L t E

L L L E

L

2 1 2 2

3 3

1

3

4 5

⎟⎟

⎜⎜

+

− +

− +

(15) Trong đó,

) 1 (

2 + ν

G với ν là hệ số Poisson Công thức tính mô đun trượt này được áp dụng cho vật liệu đẳng hướng Đồng thời cũng có thể áp dụng trong nghiên cứu này vì đối tượng cốt sợi được khảo sát có sự phân bố đồng đều theo phương ngang (900) và phương dọc (00),

và chiều dày của tấm là rất mỏng so với chiều dài khảo sát

Ngoài ra, với tỉ lệ rất nhỏ giữa chiều

dày và chiều dài của tấm composite (t/L)

Hình 1 Mô hình tấm composite với cốt

sợi gấp nếp

Vùng gấp nếp

L

b P

L

O

y

x

t

Trang 4

thì các giá trị do trượt gây ra là rất nhỏ và

có thể bỏ qua Cho nên công thức (15) có

thể được viết lại như sau:

P

bt E

L L L

E

L

2

3 3

1

Công thức (16) cho thấy rằng mô đun

đàn hồi là một hàm số phụ thuộc và kích

thước của tấm composite, chuyển vị dưới

tác dụng của tải, và chiều dài gấp nếp của

cốt sợi

Giả sử cốt sợi trong tấm composite

không bị gấp nếp thì ta có: L GN = 0, nghĩa

là E 1 = E 2 = E thì công thức (16) có thể

viết lại như sau:

3

3

4Ebt

PL

=

và 33

4 bt

PL

E

δ

Căn cứ theo lý thuyết [9, 10] tính

chuyển vị và mô đun đàn hồi dưới tác dụng

của phương pháp uốn theo 3 điểm thì các

công thức được xây dựng ở trên là hoàn

toàn chính xác

3 ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM

3.1 Vật liệu

Gồm có 3 thành phần: cốt sợi thủy

tinh, nền polyester và chất phụ gia

Cốt là sợi thủy tinh (E-glass woven

K618) từ công ty Hankuk Fibers – Hàn

Quốc có thuộc tính như bảng 1

Bảng 1 Thuộc tính của sợi K618

Số sợi (Yarns/In.)

Ngang Dọc

Tỉ trọng (g/cm3)

Chiều dày (mm)

18 18 2.54 0.18

Nền là nhựa dẻo polyester R409 được

sản xuất từ công ty hóa học Sewon – Hàn

Quốc với thuộc tính như bảng 2

Bảng 2 Thuộc tính của nhựa R409

Tỉ trọng

(g/cm3)

Độ nhớt (Poise/250C)

Độ axít (mg KOH/g) 1.12 1.17 43.1

Chất phụ gia là vật liệu DDM của công

ty Seki Arkema, được pha với nhựa nền

R409 với tỉ lệ 1:120 (g) nhằm mục đích

giảm thời gian đông cứng trong quá trình chế tạo tấm composite

3.2 Cấu trúc cốt sợi

Cấu trúc của cốt sợi gồm các kiểu sau:

K1: Cốt sợi có n (n = 3, 5, 7 & 9) lớp

sợi liên tục (hình 2a)

GN1: Cốt sợi có 2 lớp sợi và bị gấp nếp

với chiều dài L GN (hình 2b)

GN2: Cốt sợi có 3 lớp sợi và bị gấp nếp

với chiều dài L GN GN3: Cốt sợi có 4 lớp sợi và bị gấp nếp

với chiều dài L GN

3.3 Uốn 3 điểm

Mẫu thử nghiệm được chuẩn bị với kích

thước như hình 3 Chiều dày của mẫu t = 2.5 mm và chiều rộng b = 33 mm Sử dụng

phương pháp thí nghiệm uốn 3 điểm [11],

chiều dài giữa hai gối đỡ là L = 100 mm,

lực tác dụng được đặt tại chính giữa tấm composite với tốc độ uốn là 5 mm/phút Tất cả thí nghiệm được thực hiện trên máy Shimazu tại nhiệt độ phòng 250C và

độ ẩm 50%, mỗi điểm trên biểu đồ thực nghiệm là kết quả trung bình của 5 thí nghiệm được thực hiện [12]

4 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM

4.1 Mô đun đàn hồi

Hình 4 so sánh mô đun đàn hồi E giữa

vật liệu composite có cốt sợi liên tục (kiểu

Hình 2 Cấu trúc cốt sợi

(a) K1

n

(b) GN1

L GN

L

Hình 3 Thí nghiệm uốn theo 3 điểm.

L GN

200 mm

33 mm

2.5 mm

L = 100 mm

Trang 5

K1) và cốt sợi gấp nếp (kiểu GN1, GN2 và

GN3) theo tỉ lệ cốt sợi V f Với vật liệu

composite có cốt sợi gấp nếp thì gồm 2

vùng: gấp nếp và không gấp nếp; tỉ lệ cốt

sợi tại vùng gấp nếp lớn hơn vùng không

gấp nếp Vì vậy, tỉ lệ cốt sợi trong trường

hợp này được tính trung bình từ 2 vùng

trên Căn cứ vào kết quả so sánh khi cùng

tỉ lệ cốt sợi V f ta nhận thấy rằng mô đun

đàn hồi của tấm composite với cốt sợi gấp

nếp có giá trị luôn lơn hơn trường hợp có

cốt sợi liên tục Giá trị này sẽ càng lớn khi

tỉ lệ cốt sợi tăng lên Nguyên nhân là do có

sự tập trung cốt sợi tại vùng chịu tác dụng

lực dưới phương pháp uốn 3 điểm Điều

này tốt trong một số trường hợp cần cải

thiện độ cứng (mô đun đàn hồi) của tấm

composite

Mô đun đàn hồi của tấm composite phụ

thuộc vào tỉ lệ cốt sợi và giá trị của nó sẽ

lớn dần khi tỉ lệ cốt sợi trong composite

tăng dần cho cả hai trường hợp cốt sợi liên

tục và gấp nếp [13, 14] Ngoài ra, với cùng

tỉ lệ cốt sợi thì mô đun đàn hồi của tấm

composite với cốt sợi gấp nếp là gần như

nhau cho tất cả các trường hợp có số lớp

sợi khác nhau Hay nói cách khác là số lớp

sợi n ảnh hưởng rất nhỏ đến mô đun đàn

hồi của tấm composite với cốt sợi gấp nếp

4.2 Độ bền uốn

Độ bền uốn (ứng suất uốn lớn nhất)

của tấm composite được khảo sát dựa vào

cả 2 công thức sau [10]:

2

max max

2

3

bt

L P

=

⎛ +

=

L L

t L

bt

L

2

2

max

Công thức (20) là đối với trường hợp

bỏ qua yếu tố trượt giữa các lớp khi tỉ lệ

giữa L và t là lớn Và công thức (21) dùng

cho trường hợp tổng quát khi xem xét cả yếu tố trượt sinh ra trong tấm composite

Độ bền uốn (ứng suất uốn lớn nhất) của vật liệu composite với cốt sợi gấp nếp (GN1, GN2 và GN3) và cốt sợi liên tục (K1) được so sánh với nhau khi cùng tỉ lệ

cốt sợi V f và được mô tả trong hình 5 (không xem xét yếu tố trượt và độ bền uốn được xác định theo công thức (20)) và hình

6 (có xem xét yếu tố trượt và độ bền uốn được xác định theo công thức (21))

Ti le cot soi, V f (%)

0

2

4

6

8

10

12

14

16

Kieu K1

Duong gan dung cua K1

Kieu GN1

Kieu GN3

Hình 4 So sánh mô đun đàn hồi giữa cốt

sợi liên tục (K1) và cốt sợi gấp nếp (GN1,

GN2 và GN3)

Ti le cot soi, V f (%)

σma

0 30 60 90 120 150 180

Hình 5 So sánh độ bền uốn giữa cốt sợi

liên tục (K1) và cốt sợi gấp nếp (GN1, GN2

và GN3) khi không xem xét yếu tố trượt

Ti le cot soi, V f (%)

σma

0 40 80 120 160 200

240 Kieu K1 Duong gan dung cua K1 Kieu GN1 Kieu GN2

Hình 5 So sánh độ bền uốn giữa cốt sợi

liên tục (K1) và cốt sợi gấp nếp (GN1, GN2

và GN3) khi có xem xét yếu tố trượt

Trang 6

Căn cứ vào kết quả so sánh, ta nhận

thấy rằng độ bền uốn của tấm composite

với cốt sợi gấp nếp có thể nhỏ hơn, bằng

hoặc lớn hơn độ bền uốn của tấm

composite với cốt sợi liên tục, tùy thuộc

vào chiều dài gấp nếp L GN và số lớp sợi n

Khi chúng có giá trị bằng nhau thì chiều

dài gấp nếp gọi là chiều dài gấp nếp tới

hạn (bảng 3)

Qua kết quả so sánh, ta dể dàng xác

định được độ bền uốn tới hạn của tấm

composite với cốt sợi gấp nếp Đồng thời

xác định được vùng an toàn chiều dài gấp

nếp (lớn hơn chiều dài gấp nếp tới hạn) nơi

có độ bền uốn lớn hơn độ bền uốn của tấm

composite có cốt sợi liên tục Điều này tốt

trong một số trường hợp cần cải thiện độ

bền uốn của tấm composite

4.3 Trạng thái phá hủy

Khi tỉ lệ L GN /L tăng thì độ bền uốn cũng

tăng và gồm 2 giai đoạn Giai đoạn I khi

L GN /L < L GH /L và giai đoạn II khi L GN /L >

L GH /L Trong đó, L GH là chiều dài gấp nếp

giới hạn và là ranh giới phân chia giai

đoạn I và II; L là chiều dài giữa hai gối đỡ (L = 100 mm) Với trường hợp có xem xét yếu tố trượt, kiểu GN1 có L GH /L = 0.42, kiểu GN2 có L GH /L = 0.49 và kiểu GN3 có

L GH /L = 0.53 Giá trị giới hạn lớn dần khi

số lớp sợi tăng lên Đồng thời, độ dốc của đường gần đúng ở giai đoạn I nhỏ hơn so với giai đoạn II Nguyên nhân có sự khác biệt này là do ảnh hưởng của chiều dài gấp

nếp Khi chiều dài gấp nếp nhỏ (L GN /L <

L GH /L) thì phá hủy là do vật liệu nền là

nhựa polyester (quá trình tách lớp) như

hình 6a Khi chiều dài gấp nếp lớn (L GN /L

> L GH /L) thì phá hủy là do vật liệu cốt sợi

thủy tinh (quá trình đứt gãy) như hình 6b

Sự phá hủy của giai đoạn I tương ứng với Mode I [15-17], bắt đầu từ sự nứt gãy của vật liệu nền tại cạnh gấp nếp sau đó liên kết giữa các lớp tại vùng gấp nếp bị tách ra (hình 7a) Đối với giai đoạn II, khi

L GN đủ lớn (L GN > L GH), sự phá hủy do vật liệu cốt sợi thủy tinh (hình 7b) tại vị trí đặt lực đạt đến giới hạn bền và bị đứt gãy [14,

16, 18] Đối với cốt sợi liên tục thì dạng phá hủy cũng tương tự như hình 7b

Bảng 3 Chiều dài gấp nếp tới hạn (độ bền

uốn của kiểu cốt sợi liên tục và gấp nếp

bằng nhau)

Theo công thức (20) 0.61 0.72 0.78

Theo công thức (21) 0.72 0.78 0.85

Hình 7 Hình chụp SEM của phá hủy.

(a) Tách lớp

(b) Đứt gãy

(a) LGN < L GH

(b) LGN > L GH

Hình 6 Phá hủy phụ thuộc vào chiều dài

gấp nếp

Trang 7

5 KẾT LUẬN

Mô đun đàn hồi và ứng suất lớn nhất

của tấm composite với cốt sợi liên tục và

gấp nếp được phân tích, đánh giá và so

sánh dựa vào thí nghiệm uốn 3 điểm Kết

quả so sánh cho thấy rằng: khi so sánh với

cùng tỉ lệ cốt sợi thì mô đun đàn hồi của

tấm composite với cốt sợi liên tục luôn lớn

hơn so với cốt sợi gấp nếp Điều này là do

có sự tập trung cốt sợi tại vùng đặt lực

Ứng suất uốn lớn nhất của tấm composite

với cốt sợi gấp nếp có giá trị lớn hơn so

với cốt sợi liên tục chỉ khi chiều dài gấp

nếp đủ lớn Qua đó, có thể xác định được

vùng an toàn của chiều dài gấp nếp, nơi có

độ bền uốn lớn hơn độ bền uốn của tấm

composite có cốt sợi liên tục Ngoài ra,

chiều dài gấp nếp cũng ảnh hưởng đến

trạng thái phá hủy, khi chiều dài gấp nếp

nhỏ (L GN /L < L GH /L) thì phá hủy là do vật

liệu nền (quá trình tách lớp – Mode I) Khi

chiều dài gấp nếp lớn (L GN /L > L GH /L) thì

phá hủy là đứt gãy do thành phần cốt sợi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] G S Shiva Shankar and S

Vijayarangan, Mono composite leaf

spring for light weight vehicle – Design,

end joint analysis and testing, Mater

Sci, Vol 12, No 3, 2006, p 220-225

[2] K K Jadhao and DR R.S Dalu,

Experimental investigation &

numerical analysis of composite leaf

Engineering Science and Technology,

Vol 3, No 6, June 2011, p 4759-4764

[3] Đào Lê Chung, Nguyễn Văn Phục, Bùi

Đức Lộc và Ninh Quang Oanh, Ứng

dụng vật liệu composite trên xe tải nhẹ

Kia-Thaco, Hội nghị KH và CN lần thứ

12, Kỹ thuật Ô tô - Động cơ Nhiệt

[4] http://baokhanhhoa.com.vn/Phongsu/

201202/Noi-ra-doi-tau-vo-composite-dau-tien-2131458

[5] Nguyễn Hoa Thịnh và Nguyễn Đình

Đức, Vật liệu composite, cơ học và

công nghệ, NXB KHKT Hà Nội, 2002

[6] Timothy G Gutowski, Advanced

composites manufacturing, NY, 1997

[7] http://meslab.org/mes/index.php/topic, 278.0.html

[8] Albert S Kobayashi, Handbook on

experimental mechanics, Second

revised edition, New York, 1993

[9] Krishan K Chawla, Composite

materials, New York, 1987

[10] P K Mallick Fiber-reinforced composites Marcel Dekker, NY, 1998 [11] Annual book of ASTM standards, America, 1995

[12] P T Curtis, M G Blade and J.E

Bailey, The stiffness and strength of

polyamide thermoplastic reinforced with glass and carbon fibers, Journal of

Mater Sci, Vol 13, 1978, p 377-390

[13] N E Dowling, Mechanical behavior of

materials, Prentice Hall, America, 1993

[14] P A Sreekumar, Kuruvilla Joseph, G

Unnikrishnan and Sabu Thomas, A

comparative study on mechanical properties of sisal-leaf fibre-reinforced polyester composites prepared by resin transfer and compression moulding techniques,

Compos Sci and Technol, Vol 67,

2007, p 453-461

[15] Robert M Jones, Mechanics of

composite materials, McGraw-Hill

Kogakusha, Japan, 1975

[16] B Yang, V Kozey, S Adanur and S

Kumar, Bending, compression, and

shear behavior of woven glass fiber– epoxy composites, Composites Part B,

Vol 31, 2000, p 715-721

[17] Thanh Trung Do and Dong Joo Lee, Analysis of tensile properties for composites with wrinkled fabric, Journal of Mechanical Sci and Technol, Vol 24, 2010, p 471-479

[18] H Lanting and J K Spelt, Shear

fracture of adhesively-bonded rigid elements, Composites Part B, Vol 28,

1997, p 319-329

Ngày đăng: 27/05/2014, 23:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mô hình tấm composite với cốt - Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite
Hình 1. Mô hình tấm composite với cốt (Trang 3)
Hình dạng là chữ nhật, cho nên mô men - Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite
Hình d ạng là chữ nhật, cho nên mô men (Trang 3)
Hình 5. So sánh độ  bền uốn giữa cốt sợi - Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite
Hình 5. So sánh độ bền uốn giữa cốt sợi (Trang 5)
Hình 5. So sánh độ  bền uốn giữa cốt sợi - Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite
Hình 5. So sánh độ bền uốn giữa cốt sợi (Trang 5)
Hình 4. So sánh mô đun đàn hồi giữa cốt - Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite
Hình 4. So sánh mô đun đàn hồi giữa cốt (Trang 5)
Bảng 3. Chiều dài gấp nếp tới hạn (độ bền - Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite
Bảng 3. Chiều dài gấp nếp tới hạn (độ bền (Trang 6)
Hình 7. Hình chụp SEM của phá hủy. - Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt sợi gấp nếp đến ứng suất uốn của tấm composite
Hình 7. Hình chụp SEM của phá hủy (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm