1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết học quy luật lượng chất và vận dụng quy luật lượng chất đối với vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục mầm non ở nước ta

52 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy luật lượng chất và vận dụng quy luật lượng chất đối với vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục mầm non ở nước ta
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học, Giáo dục Mầm Non
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 81,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn lực cơ bản, to lớn, quyết định nàyphải có hàm lượng trí tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có thể đáp ứngđược nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”Đại hội VII

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lời mở đầu 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục đích nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa của đề tài 3

6 Kết cấu tiểu luận 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT CỦA PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG 4

1.1 Những vấn đề cơ bản về phép biện chứng duy vật 4

1.1.1 Khái niệm phép biện chứng duy vật 4

1.1.2 Đặc điểm của phép biện chứng duy vật 4

1.1.3 Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật 4

1.2 Quan niệm biện chứng duy vật về chất và lượng 5

1.2.1 Quan niệm về lượng chất của các nhà triết học cổ 5

Trang 3

1.2.2 Quan niệm biện chứng duy vật về chất 61.2.3 Quan niệm biện chứng duy vật về lượng 91.3 Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi vềchất 101.3.1 Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại: 101.4 Sự tác động trở lại của chất đối với lượng 161.5 Ý nghĩa phương pháp luận: 17CHƯƠNG 2: QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐỔIMỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG GIÁO DỤC MẦM NON.212.1 Yêu cầu, thực trạng và nguyên nhân của vấn đề đổi mới phươngpháp dạy học trong giáo dục mầm non 212.1.1 Yêu cầu 212.1.2 Thực trạng vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dụcmầm non 272.1.3 Nguyên nhân 282.2 Đề xuất định hướng giải quyết vấn đề đổi mới phương pháp dạy họctrong giáo dục mầm non 302.2.1 Đổi mới phương pháp dạy học phải đảm bảo tính khách quan 312.2.3 Tổ chức triển khai tốt đổi mới phương pháp dạy học ở trườngmầm non 34PHẦN KẾT LUẬN 35TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lời mở đầu

Nước ta đang thực hiện công cuộc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,không kinh qua hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, tiến lên hìnhthái kinh tế xã hội xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, nước ta vẫn kế thừanhững tinh hoa của nhân loại đạt được dưới hình thái kinh tế xã hội tưbản chủ nghĩa, đặc biệt là những thành tựu về khoa học và công nghệ đểđẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất Trong đó, trước hết và quantrọng nhất là phải đầu tư vào sự phát triển của người lao động, vì ngườilao động là yếu tố giữ vai trò quyết định, là chủ thể của các yếu tố cònlại cấu thành nên lực lượng sản xuất Hiểu rõ tầm quan trọng của điềunày, tại Đại hội VIII, Đảng ta đã đặc biệt chú trọng vấn đề phát triểnnguồn nhân lực Đảng ta xác định: “Con người vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của sự phát triển này Nguồn lực cơ bản, to lớn, quyết định nàyphải có hàm lượng trí tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có thể đáp ứngđược nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”Đại hội VIII cũng đã nêu rõ: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huynguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợicủa công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.” Để thực hiện được mụctiêu này, một trong những biện pháp cơ bản và quan trọng nhất đó là đầu

tư đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo Trong đó, trước hết và quantrọng nhất là đổi mới phương pháp dạy học nói chung và giáo dục mầmnon nói riêng Mặt khác, giáo dục mầm non là bộ phận trong hệ thốnggiáo dục quốc dân Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu đặt nền móngcho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, thời kỳ mầm non còn

Trang 6

được gọi là thời kỳ vàng của cuộc đời để đem đến cho trẻ khởi đầu tốtnhất có thể

Để đổi mới phương pháp giáo dục một cách tốt nhất chúng ta cầnnhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của các hiệntượng, từ đó hình thành nên khái niệm “quy luật” Với tư cách là phạmtrù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tư duykhoa học, phản ánh sự liên hệ của các sự vật và tính chỉnh thể củachúng Các quy luật của tự nhiên, của xã hội đều mang tính khách quan.Con người không thể tạo ra hoặc tự ý xóa bỏ được quy luật mà chỉ nhậnthức và vận dụng nó vào trong thực tiễn

Một trong ba quy luật cơ bản của phép duy vật biện chứng đó là quyluật “từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngượclại” Quy luật chuyển đổi giữa lượng và chất là quy luật cơ bản, phổ biếncủa phương thức chung trong quá trình vận động, phát triển trong tựnhiên, xã hội và tư duy Khi lượng thay đổi tất yếu sẽ làm thay đổi chấtcủa sự vật hiện tượng và ngược lại Nhận thức được quy luật này có ýnghĩa rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn khi chúng ta xem xét các

sự vật, hiện tượng Đặc biệt là yêu cầu cấp thiết vận dụng quy luật lượngchất vào phương pháp đổi mới trong giáo dục mầm non hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là:

“Quy luật lượng chất và vận dụng quy luật lượng chất đối với vấn đề đổimới phương pháp dạy học trong giáo dục mầm non ở nước ta”

Trang 7

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

2.1 Mục đích nghiên cứu.

Tiểu luận thực hiện nhằm tìm hiểu vai trò phương pháp luận củaquy luật lượng chất trong vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tronggiáo dục mầm non ở nước ta hiện nay Từ đó, đưa ra một số giải phápnhằm góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp dạy học tronggiáo dục mầm non

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Nghiên cứu những vấn đề chung của quy luật lượng chất trong phépbiện chứng duy vật

Tìm hiểu thực trạng sự vận dụng quy luật này trong đổi mới phươngpháp dạy học ở bậc học mầm non Từ đó đề xuất một số biện pháp

3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành tiểu luận này, tôi sử dụng phương pháp biện chứngduy vật là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như:

Trang 8

5 Ý nghĩa của đề tài.

Ý nghĩa lý luận: Khi tiểu luận được hoàn thành, tôi mong tiểu luận

sẽ góp thêm một phần vào kho tang mối quan hệ biện chứng của quy luậtlượng chất

Ý nghĩa thực tiễn: Nhằm vận dụng quy luật lượng chất vào trongcông tác giáo dục mầm non của bản thân nói riêng và trong công tác củađồng nghiệp nói chung Từ đó, bản thân làm việc tuân theo quy luật vốn

có của sự vật hiện tượng Khi tích lũy lượng cần thiết đến lúc thực hiệnbước nhảy nhằm đột phá trong công tác, cuộc sống của bản thân

6 Kết cấu tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung tiểu luận gồm có 2chương

Chương 1: Những vấn đề chung về quy luật lượng chất

Chương 2: Quy luật lượng chất đối với vấn đề đổi mới phương phápdạy học trong giáo dục mầm non

Trang 9

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT

CỦA PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG

1.1 Những vấn đề cơ bản về phép biện chứng duy vật

1.1.1 Khái niệm phép biện chứng duy vật

“Biện chứng” là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ, sự vận động

và phát triển của các sự vật, hiện tượng.

Phép biện chứng là học thuyết về các mối liên hệ, về sự vận động

và phát triển Với tư cách là học thuyết, phép biện chứng thể hiện trithức của con người về các mối liên hệ, về sự vận động và phát triển.Phép biện chứng duy vật vừa là lý luận, vừa là phương pháp Phépbiện chứng duy vật là lý luận vì phép biện chứng duy vật là học thuyết

về các mối liên hệ, học thuyết về sự vận động và phát triển, còn phépbiện chứng duy vật là phương pháp vì phép biện chứng duy vật là hệthống những nguyên tắc, những yêu cầu đòi hỏi con người phải nhậnthức đối tượng trong các mối liên hệ, trong sự vận động của quá trìnhphát sinh, phát triển và diệt vong của nó

Phép biện chứng phát triển qua ba hình thức cơ bản: Phép biệnchứng chất phác, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật

1.1.2 Đặc điểm của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật do C.Mác & Ph.Ăngghen xây dựng trên

Trang 10

cơ sở kế thừa trực tiếp những nội dung hợp lý trong phép biện chứng củaHêghen.

Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật là phép biện chứngduy vật được xây dựng trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học.Hơn nữa, phép biện chứng duy vật không chỉ giải thích các mối liên hệ,trạng thái vận động và phát triển của thế giới mà nó còn là công cụ đểnhận thức và cải tạo thế giới

1.1.3 Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật

Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật được khái quát thànhhai nguyên lý Hai nguyên lý được cụ thể hoá qua các quy luật Các quyluật được chia thành hai loại: Các quy luật cơ bản và các quy luật không

cơ bản – các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

1.2 Quan niệm biện chứng duy vật về chất và lượng

Quy luật lượng chất là một trong ba quy luật cơ bản của phép duyvật biện chứng, qua quy luật lượng chất chúng ta nhận thấy rằng: Bất cứ

sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng Hai mặt đóthống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng Trong lịch sử triếthọc đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm lượng chấtcũng như quan hệ giữa chúng Những quan điểm đó phụ thuộc vào thếgiới quan và phương pháp luận của các nhà triết học hay của các trườngphái triết học Phép biện chứng duy vật đem lại quan điểm đúng đắn vềkhái niệm chất, lượng và quan hệ qua lại giữa chúng, từ đó khái quátthành quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những

sự thay đổi về chất và ngược lại

Trang 11

1.2.1 Quan niệm về lượng chất của các nhà triết học cổ

Từ xa xưa cũng đã có những quan niệm khác nhau về lượng và chất.Đối với nhiều nhà triết học tại Hy Lạp, vật chất thường đồng nhất với sựvật Từ đó họ cố gắng hiểu vật chất và các hình thức biểu hiện của nó từphương diện chất Trái lại những người thuộc trường phái Pitago lại xemđặc trưng về lượng của thế giới vật chất là nền tảng của mọi cái đang tồntại Họ xem những mối quan hệ số lượng là quy luật cấu thành mọi sựvật của thế giới

Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, chất và lượng có được ý nghĩavới tư cách là những phạm trù trong triết học của Aixtốt Ông xem chất

là tất cả những cái gì làm cho sự vật là nó Còn lượng là tất cả những cái

gì có thể phân ra thành những bộ phận cấu thành Ông phân lượng thànhhai loại: Số lượng và đại lượng Ông cũng là người đầu tiên tiến tới giảiquyết một vấn đề quan trọng của quy luật: Vấn đề tính nhiều chất của sựvật Từ đó, ông phân biệt sự khác nhau về hình thức với chất căn bản của

sự vật – cái sẽ xuất hiện hay mất đi cùng với sự xuất hiện hay mất đi củabản thân sự vật; Ông cũng đạt được bước tiến đáng kể trong việc nghiêncứu phạm trù độ, xem độ là cái thống nhất, cái không thể phân chia giữachất và lượng

Sau này, quan điểm phiến diện tuyệt đối hoá đặc trưng về lượng đãđược khắc phục trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt trong triết họcHegel Hegel đã phân tích một cách tỉ mỉ sự thống nhất biện chứng, mốiquan hệ qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa lượng và chất, xem xétchất và lượng nằm trong quá trình vận động và phát triển không ngừng

Trang 12

Với quan điểm biện chứng, Hegel đã xem xét từ “chất thuần tuý” đến

“chất được xác định”; chất phát triển đến tột độ thì ra đời lượng; lượngcũng không ngừng tiến hoá, “số lượng” là đỉnh cao nhất trong sự tiếnhoá Trong việc xem xét mối quan hệ giữa thay đổi về lượng và thay đổi

về chất, Hegel đặc biệt chú ý tới phạm trù bước nhảy Chính dựa trên tưtưởng của Hegel, Lênin đã ra một kết luận quan trọng là: Việc thừa nhậnbước nhảy hay không là tiêu chí cơ bản để xem đó là người theo quanđiểm biện chứng hay siêu hình về sự phát triển Tất nhiên, với tư cách lànhà triết học duy tâm, Hegel đã xem các phạm trù chất, lượng, độ chỉnhư những nấc thang tự phát triển của tinh thần, của “ý niệm tuyệt đối”chứ không phải là những nấc thang nhận thức của con người đối với thếgiới bên ngoài

Về sau sự ra đời của phép biện chứng duy vật đánh dấu một giaiđoạn phát triển căn bản trong quan niệm về chất và lượng Mối quan hệqua lại giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất nói chung.Chúng ta cùng tìm hiểu rõ, sâu sắc hơn về quan niệm lượng và chất

1.2.2 Quan niệm biện chứng duy vật về chất

Trong thế giới quanh ta tồn tại vô vàn sự vật, hiện tượng Vì saochúng ta biết phân biệt đây là sự việc này và sự việc kia? Điều đó là đơngiản vì các sự vật khác nhau, có những đặc trưng, thuộc tính, những quyđịnh khác nhau Mọi động vật và thực vật đều được đặc trưng bởi đồnghóa, dị hóa nhưng chúng lại khác nhau Sở dĩ ta phân biệt được những

sự vật hiện tượng khách quan đó là vì chúng có sự khác nhau về chất

Trang 13

Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nênchính chúng Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác.

Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho

sự vật là nó chứ không phải là cái khác Như vậy để xác định chất của

sự vật thì cần phải xác định các thuộc tính của nó Muốn xác định thuộctính của sự vật cần phải đặt sự vật ấy trong mối liên hệ với sự vật khác

*Phân biệt chất và thuộc tính

Thuộc tính là biểu hiện một khía cạnh nào đó về chất của một sự vậttrong mối quan hệ qua lại với sự vật khác, là những tính chất, nhữngtrạng thái, những yếu tố cấu thành nên sự vật Đó là những cái vốn cócủa sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vậnđộng và phát triển của nó Tuy nhiên những thuộc tính vốn có của sự vật,hiện tượng chỉ được bộc lộ ra qua sự tác động qua lại với các sự vật,hiện tượng khác Chẳng hạn như, khi cho đường vào nước ta thấy đường

có tính tan, khi nếm biết đường có vị ngọt Vậy tính tan, vị ngọt làthuộc tính của đường, chúng ta chỉ nhận biết được điều đó nếu chúng tanếm hay khi vị giác của chúng ta tiếp xúc, tác động qua lại với chúng.Tất cả những thuộc tính của đường là những cái vốn có của đường,nhưng chúng chỉ bộc lộ ra trong quan hệ của đường với nước hay trongquan hệ của đường với vị giác của con người

Đặc trưng khách quan nói trên quy định phương thức nhận thức củacon người đối với vật chất của sự vật Để nhận thức được những thuộctính, cần nhận thức nó trong mối quan hệ giữa các sự vật Trong mối

Trang 14

quan hệ cụ thể thường bộc lộ ra một thuộc tính (một khía cạnh về chất)của sự vật Do vậy, để nhận thức được chất với tư cách là sự tổng hợpcủa tất cả các thuộc tính vốn có của sự vật đó, chúng ta phải nhận thức

sự vật trong tổng hoà các mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vậtkhác Mỗi sự vật có vô vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính của sự vật lại cómột tổng hợp những đặc trưng về chất của mình, nên khiến cho mỗithuộc tính lại trở thành một chất Điều đó cũng có nghĩa, mỗi sự vật có

vô vàn chất

Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơ bản của sựvật Ở mỗi sự vật chỉ có một chất cơ bản, đó là tổng hợp những thuộctính đặc trưng cho sự vật trong toàn bộ quá trình tồn tại của sự vật; đó làloại chất mà sự tồn tại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đicủa bản thân sự vật Mỗi sự vật hiện tượng đều có những thuộc tính cơbản và những thuộc tính không cơ bản Chỉ có những thuộc tính cơ bảnmới hợp thành chất của sự vật hiện tượng Khi những thuộc tính cơ bảnthay đổi thì chất của nó mới thay đổi, còn thuộc tính không cơ bản khithay đổi thì chất của sự vật hiện tượng vẫn chưa thay đổi Nhưng việcphân biệt giữa những thuộc tính cơ bản và không cơ bản cũng chỉ mangtính tương đối Vì trong mối liên hệ này nó là thuộc tính cơ bản còntrong mối liên hệ khác nó là không cơ bản

Mặt khác, mỗi thuộc tính lại được hình thành từ các đặc trưng vềchất của nó Vì vậy, mỗi thuộc tính lại đóng vai trò là một chất của sựvật Do đó sự phân biệt giữa chất và thuộc tính cũng chỉ mang tính tươngđối, trong mối quan hệ này nó là chất nhưng trong mối quan hệ khác nó

Trang 15

lại là thuộc tính của sự vật Sự vật có vô vàn thuộc tính nên sự vật khôngchỉ có một chất mà còn có vô vàn chất Có thể thấy chất của đường là sựtổng hợp của vô vàn các thuộc tính: Hòa tan, nóng chảy, ngọt, mỗi thuộctính lại có các đặc trưng về chất: Thuộc tính hòa tan (nhiệt độ, mức độ,

…)

Chất của sự vật không những được xác định bởi chất của các yếu tốcấu thành, mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sựvật đó Nghĩa là bởi kết cấu của sự vật Trong tự nhiên và cả trong xãhội, chúng ta thấy không ít sự vật, mà xét riêng về các yếu tố cấu thành.Chẳng hạn, kim cương và than chì là những sự vật đều do cacbon(carbon) tạo thành Nhưng kim cương là vật cứng nhất trong tất cả cácvật, có thể cắt được hầu hết mọi kim loại, có giá trị kinh tế cao, còn thanthì không có được những đặc trưng tương tự Sự khác nhau đó đượcquyết định bởi phương thức liên kết khác nhau của các nguyên tửcacbon Chất của sự vật không chỉ thay đổi khi có sự thay đổi những yếu

tố cấu thành mà nó còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kếtgiữa các yếu tố đó Do vậy, để làm biến đổi chất của sự vật, có thể cảitạo các yếu tố cấu thành, hoặc biến đổi phương thức liên kết giữa cácyếu tố đó

Chung quy lại, chất mang tính khách quan vì bất kì một sự vật nàocũng được cấu thành từ các yếu tố cấu thành nên các bộ phận tạo nêntính quy định về chất; chất gắn liền với sự vật, chất là chất của sự vật;không thể có sự vật không có chất, cũng như không thể có chất ở bênngoài sự vật Theo Ăng-ghen: Chất lượng không tồn tại, chỉ có sự vật có

Trang 16

chất lượng mới tồn tại, hơn nữa sự vật có vô vàn chất lượng mới tồn tại;mỗi sự vật không chỉ có một chất mà còn có vô vàn chất; chất biểu hiệntính toàn vẹn, tính chỉnh thể thống nhất của sự vật; dùng chất để phânbiệt các sự vật hiện tượng với nhau bác bỏ quan điểm triết học cổ đại củaAristote cho rằng phân biệt các chất với nhau bằng hình dạng bên ngoài;chất quan trọng, nhưng không thể đồng nhất chất với sự vật, vì còn vai

trò của lượng, nếu đồng nhất chất với sự vật thì lượng bằng không.

1.2.3 Quan niệm biện chứng duy vật về lượng

Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật

về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật Lượng của sự vật biểu thị kích

thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độcao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm, Trong thực tế lượng của sựvật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể như vận tốccủa ánh sáng là 300.000 km trong một giây, một phân tử nước gồm hainguyên tử hidro (hydro) liên kết với một nguyên tử oxy, Bên cạnh đó

có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quátnhư trình độ tri thức khoa học của một người, ý thức cao hay thấp củamột học sinh, Trong những trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhậnthức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hóa

Có những lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của sự vật (sốlượng nguyên tử hợp thành nguyên tố hóa học, số lượng lĩnh vực cơ bảncủa đời sống xã hội), có những lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoàicủa sự vật (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của sự vật)

Trang 17

Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối Cónhững tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, songtrong mối quan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại Chẳnghạn số lượng trẻ đạt chuẩn trong năm của một lớp sẽ nói lên chất lượngchăm sóc và giáo dục của lớp đó Điều này cũng có nghĩa là dù số lượng

cụ thể quy định thuần túy về lượng; song, số lượng ấy cũng có tính quyđịnh về chất của sự vật Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời nhautrong sự vật Trong quá trình vận động và phát triển, chất và lượng của

sự vật không đứng im mà chúng luôn vận động không phải biệt lập vớinhau mà luôn luôn có quan hệ qua lại theo một quy luật nhất định

Lượng cũng như chất, mang tính khách quan (vì bất kì một sự vậtnào cũng chiếm một vị trí nhất định trong không gian - quy mô tồn tại,

và được diễn ra trong một khoảng thời gian nào đó - tốc độ, nhịp độ củanó); Sự vật không chỉ có một lượng mà còn có vô vàn lượng; Sự phânbiệt giữa chất và lượng cũng chỉ mang tính tương đối Vì còn tùy vàonhững mối quan hệ nhất định Chẳng hạn như thống kê số lượng trẻ đạtchuẩn trong một lớp học: Tốt, khá, trung bình rồi đến lượng Nhưngtrong mối qua hệ khác, thông qua sự thống kê ấy có thể đánh giá chấtlượng trẻ của lớp đó là như thế nào Bất kì sự vật nào bao giờ cũng baogồm 2 mặt lượng và chất, lượng và chất tác động qua lại lẫn nhau tạonên mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất

1.3.1 Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại:

Trang 18

 Khái niệm độ, bước nhảy, điểm nút:

Bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa chất vàlượng Chúng tác động qua lại lẫn nhau Trong sự vật, quy định về lượngkhông bao giờ tồn tại nếu không có tính quy định về chất và ngược lại

Sự thay đổi về lượng và về chất của sự vật diễn ra cùng với sự vận động

và phát triển của sự vật Nhưng sự thay đổi đó có quan hệ chặt chẽ vớinhau chứ không tách rời nhau Sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnhhưởng tới sự thay đổi về chất của nó và ngược lại, sự thay đổi về chấtcủa sự vật tương ứng với sự thay đổi về lượng của nó Sự thay đổi vềlượng có thể chưa làm thay đổi ngay lập tức sự thay đổi về chất của sựvật Ở một giới hạn nhất định khi lượng của sự vật thay đổi, nhưng chấtcủa sự vật chưa thay đổi cơ bản Khuôn khổ, mà trong đó sự thay đổi về

lượng chưa làm thay đổi về chất của sự vật, được gọi là độ Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy Những giới

hạn mà khi lượng đạt tới đó sẽ làm thay đổi về chất của sự vật được gọi

là điểm nút Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn

mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi chất chất của sự vật.

Chẳng hạn như sự phát triển của một đứa trẻ đều tuân theo quy luật

và phát triển theo từng giai đoạn nhất định Trong dân gian thường nói

“ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi” Nghĩa là

sự phát triển của trẻ từ khi mới sinh ra đến khi biết lẫy là cả một giaiđoạn để phát triển, chủ yếu về mặt thể chất Từ sơ sinh đến biết lẫy cần

ba tháng là một quá trình tích lũy thể chất một cách toàn diện được gọi là

Trang 19

độ và đến đúng ba tháng một đứa trẻ bình thường sẽ biết lẫy vì trẻ đãtích lũy đủ lượng cho sự phát triển ấy thì đến điển nút nhất định lượng

đủ, thì chất sẽ thay đổi và trẻ biết lẫy một cách an toàn và cứng cáp.Cũng tương tự như biết bò, để trải qua quá trình bò đến lúc này trẻkhông chỉ cần sự phát triển thể chất mà cần cả đến sự phát triển trí tuệ.Khi một đứa trẻ sơ sinh từ chưa dần nhận thức thế giới xung quanh, đếnkhi trẻ biết lẫy, cũng thông qua khi lẫy bộ phận đầu của trẻ được nângcao, trẻ dần nhận thấy thế giới xung quanh lúc này đây sự khích thích trí

tò mò ham hiểu biết của trẻ được khơi dậy, trẻ mong muốn được đến vớithế giới xung quanh, tìm hiểu và khám phá chúng Nhưng với thể chấthiện tại của trẻ chưa thể thực hiện được, phải trải qua một quá trình chođến bảy tháng đủ cho sự tích lũy thể chất chân tay đủ cứng cáp, và sựmong muốn ham học hòi, tìm tòi khám phá thế giới xung quanh đủlượng sẽ tạo động lực cho điểm nút đến nhanh và đến một thời điểm nhấtđịnh trẻ sẽ bò được và bò một cách cứng cáp hơn Đến bảy tháng sự pháttriển trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ cũng phát triển hơn và khi biết bòtrẻ được đến với thế giới xung quanh một cách gần gũi hơn, trẻ đượctrực tiếp tiếp xúc với sự vật hiện tượng Nhưng đồ dùng, đồ chơi ở trêncao trẻ vẫn phải nhờ đến người chăm sóc trẻ chứ trẻ vẫn chưa tự lấyđược, chính vì phải nhờ đến người chăm sóc lấy đồ chơi cho trẻ đôi lúctrẻ phải đợi chờ nếu người chăm sóc phải bận làm việc khác nên trẻ vẫnmong muốn mình có thể tự lấy khi trẻ cần, chính sự thôi thúc ấy trẻ khátkhao được đi, được trực tiếp lấy những đồ dùng trẻ thích, được trực tiếpchạm gần hơn và gần hơn nữa đến xung quanh mà gần như xa lạ với trẻtrước đó Sự khát khao ấy vẫn không được đáp ứng vì thể chất, sự phát

Trang 20

triển của trẻ chưa đạt đến một lượng nhất định, trẻ cần phải tích lũy thêmđến một mức độ nào ấy cần bước nhảy đột phá trẻ sẽ đi một cách vữngvàn hơn, khi lượng đạt đến mức độ chín muồi, cứ tiếp tục như vậy,lượng càng ngày càng tích lũy thì chất luôn luôn thay đổi một cách tíchcực Sự thay đổi về lượng đạt tới điểm nút sẽ ra đời chất mới với lượngmới tương ứng của nó Sự thống nhất giữa lượng và chất mới tạo thànhmột độ mới với những điểm nút mới Sự vận động và phát triển là khôncùng Do đó, sự vận động, biến đổi của sự vật sẽ hình thành một đườngnút của những quan hệ về độ.

Sự thay đổi về chất do những sự thay đổi về lượng trước đó gây ra

được gọi là bước nhảy Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước

đó gây nên Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật

và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới Nó là sự gián đoạntrong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật Có thể nói,trong quá trình phát triển của sự vật sự gián đoạn là tiền đề cho sự liêntục và sự liên tục là kế tiếp của hàng loạt sự gián đoạn

+ Bước nhảy đánh dấu sự kết thúc một chu kì vận động của sự vật,nhưng đồng thời là điểm xuất phát của một chu kì vận động, phát triểnmới tiếp theo (vai trò của bước nhảy)

Trang 21

Hoạt động giao lưu cảm xúc Hoạt động với đồ vật Hoạt độngvui chơi

(Lứa tuổi: Hài nhi) (Lứa tuổi: Ấu nhi) (Lứa tuổi:Mẫu giáo)

Ở lứa tuổi nhà trẻ có ít nhất là 3 bước nhảy mà trẻ phải vượt qua Đó

là ở lứa tuổi Hài nhi hoạt động chủ đạo là hoạt động giao lưu cảm xúc,đến lứa tuổi Ấu nhi hoạt động chủ đạo lại là hoạt động cảm xúc, cuốicùng hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ lứa tuổi Mẫu giáo.Mỗi khi chuyển qua một hoạt động chủ đạo khác nhau đó là một bướcnhảy mà mỗi đứa trẻ đều phải trải qua

Có nhiều hình thức bước nhảy khác như: Bước nhảy nhanh vàchậm, bộ phận và toàn bộ,… Chẳng hạn như sự chuyển hóa từ vượnthành người; thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa Làbước nhảy nhanh, trường kì kháng chiến, đáng chắc thắng chắc là bướcnhảy chậm, chỉ cải cách kinh tế mà không cải cách các ngành khác làbước nhảy cục bộ, còn đổi mới năm 1986 là bước nhảy toàn bộ (Theo

Võ Nguyên Giáp)

Thế giới là muôn hình muôn vẻ, nên sự thay đổi về chất cũng hếtsức đa dạng với nhiều hình thức khác nhau Tính chất của các bước nhảyđược quyết định trước hết bởi tính chất của bản thân sự vật, bởi nhữngmâu thuẫn vốn có Với những sự vật có tính chất khác nhau và vớinhững mâu thuẫn khác nhau sẽ có những bước nhảy khác nhau Chẳnghạn, bước nhảy trong tự nhiên dẫn tới sự ra đời của những loài động vật,thực vật mới phải trải qua hàng ngàn năm hoặc nhiều hơn Nhưng cũng

Trang 22

trong tự nhiên, con người vẫn quan sát thấy cả những quá trình thay đổi

về chất diễn ra một cách nhanh chóng

Như một nghiên cứu Ăng-ghen (Engels) để làm rõ hơn về kháiniệm: Độ, điểm nút, bước nhảy Nước tồn tại ở 3 trạng thái: Rắn, lỏng,hơi Từ -2730C00C: Nước tồn tại ở thể rắn, từ 00C1000C: Nước ở thểlỏng, từ 1000C5500C: Nước ở thể hơi, lớn hơn 5500C: Nước ở trạngthái Plasma Xét khoảng giới hạn từ 00C1000C: Nếu như chất củanước là chất lỏng, thì lượng tương ứng để quy định chất này là nhiệt độcủa nước Nhiệt độ tăng trong khoảng 0100oC, chất của nước là thểlỏng thì ta thấy lượng đổi nhưng chất chưa đổi, khoảng giới hạn0100oC triết học gọi là độ Như vậy, trong giới hạn độ, lượng đổi, chấtchưa đổi nhưng trạng thái tồn tại của sự vật đã thay đổi (Nhiệt độ củanước khi tăng lên  lượng đổi, nhưng chất vẫn là chất lỏng  chất chưađổi, nhưng trạng thái tồn tại của chất đã thay đổi: Vận tốc chuyển độngcủa các phân tử nước nhanh hơn, áp suất của nước lên thành bình lớnhơn)

Bước nhảy Độ

Độ Độ

Nước ở thể plasma Nước ở thể khí

Nước ở thể lỏng

Nước ở thể

rắn

Trang 23

Tính đa dạng trong hình thức thay đổi về chất còn được quy địnhbởi điều kiện trong đó diễn ra sự thay đổi về chất Trong thực tế, sự thayđổi về chất thông qua các bước nhảy hết sức đa dạng và phong phú.Nhìn chung, các bước nhảy thể hiện qua một số cách cơ bản sau:

Bước nhảy đột biến và bước nhảy diễn ra một cách dần dần

Bước nhảy đột biến là bước nhảy được thực hiện trong một thờigian rất ngắn làm thay đổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật

Sự phân chia như vậy được dựa trên không chỉ thời gian của sự thayđổi về chất, mà còn dựa trên cả tính chất của bản thân sự thay đổi đó.Những bước nhảy đột biến, khi chất của sự vật được biến đổi một cácnhanh chóng Chẳng hạn, sự chuyển hoá của các hạt cơ bản… Nhữngbước nhảy được thực hiện một cách dần dần là quá trình thay đổi về chấtdiễn ra bằng con đường tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và

Trang 24

mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ Chẳng hạn, quá trình chuyển

hoá từ vượn người thành người… Như vậy, sự khác nhau giữa hai loại

bước nhảy vừa nêu không chỉ ở thời gian diễn ra sự thay đổi về chất, và

cả ở cơ chế của sự thay đổi đó Khi nói về bước nhảy dần dần, ngoàinhân tố tốc độ, chúng ta còn nói đến cơ chế của việc tạo ra chất mới Ởđây, chất mới được tạo thành không phải ngay lập tức, mà được tạothành từng phần

Mặt khác, cũng cần phân biệt bước nhảy dần dần với sự thay đổidần dần về lượng Nhưng sự thay đổi dần dần về lượng diễn ra một cáchliên tục trong khuôn khổ của chất đang có; còn bước nhảy dần dần là sựchuyển hóa chất này sang chất khác, là sự đứt đoạn của tính liên tục, làbước ngoặt quyết định trong sự phát triển

Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ

Bước nhảy toàn bộ là loại bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả cácmặt, các bộ phận, các nhân tố cấu thành sự vật Bước nhảy cục bộ là loạibước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số nhân tố, một số bộ phận của

sự vật đó Đối với các sự vật phức tạp về tính chất, về những nhân tố cấutrúc, về những bộ phận cấu thành Bước nhảy thường diễn ra bằng conđường từ những thay đổi về chất cục bộ đến thay đổi về chất toàn bộ.Quá trình cách mạng giải phóng dân tộc thủ tiêu chế độ thực dân (kiểucũ) trên thế giới cũng như quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa đã diễn

ra theo con đường như vậy

Khi xem xét sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất trong xã hội,điều quan trọng là phải chú ý tới độ sâu sắc và ý nghĩa của chúng Xuất

Trang 25

phát từ cách tiếp cận đó, cả sự thay đổi về lượng lẫn sự thay đổi về chất

có thể phân ra thành những thay đổi mang tính cách mạng hay tính tiếnhoá

1.4 Sự tác động trở lại của chất đối với lượng

Chất không tồn tại một cách thụ động mà có sự tác động trở lại đốivới lượng; chất mới tác động đối với lượng của sự vật trên nhiều phươngdiện như kết cấu, qui mô, nhịp điệu vận động và phát triển của sự vật

Có thể hiểu như: Khi chất của trẻ lứa tuổi mẫu giáo ra đời, nó tác độnglại đến lượng của trẻ lứa tuổi mẫu giáo ở chỗ: Quy mô lượng tri thức củatrẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn hơn so với quy mô lượng tri thức của trẻ lứatuổi nhà trẻ; tốc độ, quy mô, nhịp điệu vận động phát triển lượng tri thứccủa trẻ lứa tuổi mẫu giáo nhanh hơn so với trẻ lứa tuổi nhà trẻ  chấtcủa trẻ lứa tuổi mẫu giáo khác chất của trẻ lứa tuổi nhà trẻ; trẻ lứa tuổimẫu giáo tích luỹ kiến thức nhanh hơn, kiến thức nhiều hơn trẻ lứa tuổinhà trẻ vì trẻ lứa tuổi mẫu giáo đã phát triển tốt hầu hết các loại tư duy,thể chất cũng năm mặt phát triển của trẻ vượt trội hơn nhiều so với trẻlứa tuổi nhà trẻ và trẻ lứa tuổi mẫu giáo cũng có thể học tập tự giác, sángtạo hơn

Bất kì sự vật nào cũng đều bao gồm hai mặt lượng và chất Chất làmặt tương đối ổn định, còn lượng có khuynh hướng biến đổi Sự vậnđộng, phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng,lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định vượt quá độ, sự vật sẽ thựchiện bước nhảy, chất mới được ra đời thay thế cho chất cũ, sự vật mớiđược ra đời thay thế cho sự vật cũ, nhưng đồng thời chất mới ra đời cũng

Trang 26

có sự tác động trở lại đối với lượng Ở sự vật mới, lượng lại tiếp tục biến

đổi đến một điểm nút mới, lại thực hiện bước nhảy để dẫn đến sự ra đờicủa chất mới và sự vật mới Cứ như vậy, sự vận động phát triển của sựvật được diễn ra theo cách thức lúc thì thay đổi dần dần về lượng, lúc thìthay đổi nhảy vọt về chất một cách vô tận

1.5 Ý nghĩa phương pháp luận:

Cần coi trọng cả hai mặt chất và lượng

Trong giáo dục mầm non chúng ta có thể hiểu: Lượng là các yếu tốnhư cở sở vật chất, đồ dùng dạy học, đội ngũ giáo viên, trẻ, nhà quản

lí… Chất là sự phát triển của trẻ một cách toàn diện nhất Nhà giáo dục,

nhà quản lý cần coi trọng cả hai mặt lượng và chất Trong quá trình dạyhọc muốn một đứa trẻ phát triển toàn diện nhất cần phải có đầy đủ cácyếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi trong dạy họcphải đẩy đủ để khích thích sự ham muốn hiểu biết, tìm tòi khám phá thếgiới xung quanh của trẻ Không chỉ có vài đồ dùng cũ trẻ chán ngánhoặc không có đồ dùng đồ chơi mà bắt trẻ phải phát triển một cách toàndiện 5 lĩnh vực phát triển: Nhận thức, thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, ngônngữ Vì vậy, muốn trẻ phát triển tốt nhất thì cần phải có môi trường giáodục tốt nhất cho trẻ Bên cạnh đó yếu tố đội ngũ giáo viên, số lượng trẻ

và nhà quản lý hết sức quan trọng Cần phải có đội ngũ giáo viên đạtchuẩn, có đầy đủ phẩm chất nghề và số lượng trẻ trong một lớp hết sứcquan trong, không thể để số lượng trẻ vượt quá mức cho phép trong mộtkhông gian chật hẹp được Một nhà quản lý giỏi là người phải có “tráitim nóng và cái đầu lạnh” Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng trực tiếp

Ngày đăng: 02/07/2023, 00:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tư tưởng văn hóa trung ương 2001, Tài liệu hỏi đáp các văn kiện Đại hội IX của Đảng, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hỏi đáp các văn kiệnĐại hội IX của Đảng
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
2. Bùi Văn Ga, Bùi Anh Tuấn, Vũ Thanh Bình (2015), Giáo trình triết học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học
Tác giả: Bùi Văn Ga, Bùi Anh Tuấn, Vũ Thanh Bình
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2015
3. Cẩm nang nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả và những giải pháp ứng xử trong ngành giáo dục hiện nay, NXB tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp dạy học hiệu quảvà những giải pháp ứng xử trong ngành giáo dục hiện nay
Nhà XB: NXB tàichính
4. Đặng Thành Hưng, 2001 Khái niệm về phương pháp dạy học trong điều kiện đổi mới giáo dục – Viện khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm về phương pháp dạy học trong điều kiện đổi mới giáo dục
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: Viện khoa học giáo dục
Năm: 2001
5. Giáo trình Triết học Mác – Lê Nin (Dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học), Bộ giáo dục vào đào tạo – NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục vàođào tạo
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
6. Giáo trình triết học Mác – Lê Nin (đề cương bài giảng dùng trong các trường Đại học và Cao đẳng từ 1991-1992), Bộ giáo dục và đào tạo, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Nguyễn Hà Thanh tuyển soạn, chấn hưng giáo dục, NXB lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: chấn hưng giáo dục
Tác giả: Nguyễn Hà Thanh
Nhà XB: NXB lao động

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w