1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf

132 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn
Tác giả Nguyễn Xuân Hùng
Người hướng dẫn PGS. TS. Vũ Thị Phượng
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Lưu trữ học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 7,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học để bảo quản tài liệu mộc bản” do Thạc sĩ Nguyễn Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo hiểm TLLT thực hiện năm 2009 Qua khảo sát thực trạng công tác bảo q

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LƯU TRỮ HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Thi ̣ Phu ̣ng

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: “Bảo quản và phát huy giá trị tài liệu Mộc bản Triều

Nguyễn” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các trích dẫn, số liệu nêu

trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, đáng tin cậy, không sao chép nguyên văn bất kì công trình nào của những người đi trước./

Lâm Đồng, ngày 15 tháng 5 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC - I BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN - VI

MỞ ĐẦU - 1

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu - 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề - 2

2.1 Về vấn đề bảo quản tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn - 2

2.2 Về vấn đề phát huy giá trị tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn - 5

2.3 Một số nhận xét - 6

3 Mục tiêu của đề tài - 7

3.1 Mục tiêu chung - 7

3.2 Mục tiêu cụ thể - 7

4 Nguồn ta ̀i liê ̣u - 8

5 Phương pháp nghiên cứu - 8

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 9

7 Những đóng góp của luận văn - 10

8 Bố cục luận văn - 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHÁP LÝ TRONG BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN - 11

1.1 Khái niệm về bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ - 11

1.1.1 Khái niệm bảo quản tài liệu lưu trữ - 11

1.1.2 Khái niệm phát huy giá trị tài liệu lưu trữ - 11

1.2 Quá trình hình thành tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn - 12

1.2.1 Cơ sở hình thành Mộc bản Triều Nguyễn - 12

1.2.1.1 Quốc Sử Quán - Cơ quan chuyên trách biên soạn chính sử -14

1.2.1.2 Nội các Triều Nguyễn - Nơi biên soạn nhiều tác phẩm chính sử -17

1.2.2 Quy trình biên soạn sách và khắc in Mộc bản Triều Nguyễn - 18

1.2.2.1 Biên soạn và lựa chọn sách để khắc in -18

1.2.2.2 Tuyển chọn thợ khắc in mộc bản -19

1.2.2.3 Chuẩn bị vật liệu -20

1.2.2.4 Khắc ván -20

1.2.2.5 In sách và đóng quyển -21

Trang 5

1.3 Gia ́ tri ̣ của Mộc bản Triều Nguyễn - 22

1.3.1 Mang tính biểu trưng của vương triều - 22

1.3.2 Nghệ thuật khắc in điêu luyện - 23

1.3.3 Nguồn sử liệu vô giá - 23

1.3.3.1 Đại Việt sử ký toàn thư -24

1.3.3.2 Đại Nam thực lục -25

1.3.3.3 Minh Mệnh chính yếu -26

1.3.3.4 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ -26

1.3.3.5 Đại Nam nhất thống chí -27

1.3.3.6 Một số bộ sách tiêu biểu khác -28

1.4 Cơ sơ ̉ pháp lý đối với công tác bảo quản và phát huy giá trị tài liệu mộc bản - 28

1.4.1 Như ̃ng quy đi ̣nh trước năm 1975 - 28

1.4.1.1 Những quy định dưới Triều Nguyễn -28

1.4.1.2 Như ̃ng quy đi ̣nh trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa -28

1.4.2 Như ̃ng quy đi ̣nh hiê ̣n hành của Nhà nước - 29

1.4.2.1 Như ̃ng quy đi ̣nh chung đối với tài liê ̣u lưu trữ và di sản -29

1.4.2.2 Như ̃ng quy đi ̣nh, yêu cầu về bảo quản và phát huy giá tri ̣ tài liê ̣u Mô ̣c bản Triều Nguyễn -30

1.4.3 Quy định và yêu cầu từ Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO - 31

1.4.3.1 Khái quát về Chương trình ký ức thế giới -31

1.4.3.2 Những yêu cầu của UNESCO đối với di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới -32

1.5 Thực tiễn bảo quản và phát huy giá trị các loại tài liệu mộc bản khác tại Việt Nam và trên thế giới - 33

1.5.1 Thực tiễn bảo quản và phát huy giá trị các loại tài liệu mộc bản khác tại Việt Nam - 33

1.5.1.1 Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm -33

1.5.1.2 Mộc bản Trường học Phúc Giang -34

1.5.1.3 Mộc bản chùa Bổ Đà -34

1.5.2 Kinh nghiệm bảo quản và phát huy giá trị tài liệu mộc bản của một số nước - 35

1.5.2.1 Mộc bản tại Hàn Quốc -35

1.5.2.2 Mộc bản tại Trung Quốc -38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 - 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRI ̣ MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN - 41

2.1 Công tác bảo quản mộc bản qua ca ́ c thời kỳ li ̣ch sử - 41

Trang 6

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1960 trở về trước - 41

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975 - 41

2.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay - 43

2.1.4 Những bất cập hiện nay - 45

2.1.4.1 Về kho tàng -45

2.1.4.2 Về xử lý kỹ thuật nghiệp vụ -45

2.2 Công tác phát huy giá trị tài liệu - 46

2.2.1 Trước khi được công nhận là Di sản Tư liệu thế giới - 46

2.2.2 Sau khi được công nhận là Di sản Tư liệu thế giới - 48

2.2.2.1 Công tác trưng bày triển lãm -48

2.2.2.2 Biên soạn và xuất bản ấn phẩm -49

2.2.2.3 Viết bài công bố, giới thiệu Mộc bản Triều Nguyễn -50

2.2.2.4 Làm phim, video clip -50

2.2.2.5 Các hoạt động khác -51

2.2.3 Những bất cập hiện nay - 51

2.3 Nguồn lực thực hiện công tác bảo quản và phát huy giá trị tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn hiện nay - 53

2.3.1 Nhân lực - 53

2.3.1.1 Nhân lực làm công tác bảo quản -53

2.3.1.2 Nhân lực làm công tác phát huy giá trị -54

2.3.2 Cơ sở vật chất, tài chính - 54

2.3.2.1.Tình hình cơ sở vật chất -54

2.3.2.2 Tình hình kinh phí thực hiện phát huy giá trị tài liệu mộc bản -55

2.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác tài liệu - 56

2.4 Những vấn đề cấp thiết đă ̣t ra - 56

2.4.1 Đối với công tác bảo quản - 56

2.4.2 Đối với công tác phát huy giá trị - 57

2.4.3 Đối với nguồn lực thực hiện - 58

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 - 59

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐI ̣NH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRI ̣ MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN - 61

3.1 Một số định hướng - 61

3.1.1 Về công tác bảo quản - 61

3.1.1.1 Nghiên cứu, ban hành chế độ bảo quản tối ưu cho mộc bản -61

3.1.1.2 Nghiên cứu các biện pháp bảo quản, tu bổ, phục chế tài liệu -62

3.1.1.3 Hoàn thiện việc chỉnh lý, sắp xếp mộc bản, bản in dập; nâng cấp cơ sở dữ liệu -62

Trang 7

3.1.1.4 Tiến hành sưu tầm Mộc bản bị thiếu -62

3.1.1.5 Nghiên cứu các hình thức bảo hiểm tài liệu mộc bản -62

3.1.2 Về công tác phát huy giá trị - 63

3.1.2.1 Mở rộng hình thức phục vụ độc giả nghiên cứu tài liệu -63

3.1.2.2 Tiếp cận và phục vụ nhu cầu thông tin của xã hội thông qua việc xuất bản ấn phẩm và viết bài công bố, giới thiệu tài liệu -63

3.1.2.3 Đổi mới, nâng cấp các hình thức, cơ sở vật chất trưng bày,triển lãm và giới thiệu tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn -64

3.1.2.4 Tăng cường hợp tác với các cơ quan thông tin, truyền thông trong việc giới thiệu tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn -64

3.1.3 Tăng cường nguồn lực thực hiện - 64

3.1.3.1 Nâng cao năng lực cán bộ -64

3.1.3.2 Bổ sung, nâng cấp cơ sở vật chất -64

3.2 Giải pháp tăng cường bảo quản và phát huy giá trị Mộc bản Triều Nguyễn - 65

3.2.1 Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước - 65

3.2.1.1 Cho phép áp dụng một số cơ chế đặc thù khi thực hiện Đề án -65

3.2.1.2 Xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ -66

3.2.1.3 Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng các nghiệp vụ chuyên môn -67

3.2.2 Nhóm giải pháp về tăng cường công tác bảo quản mộc bản - 67

3.2.2.1 Tìm kiếm, phối hợp với các tổ chức, cá nhân có năng lực -67

3.2.2.2 Khảo sát, thống kê và đánh giá các dạng khuyết tật của Mộc bản Triều Nguyễn -68

3.2.2.3 Xác định nguyên nhân hư hỏng tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn -68

3.2.2.4 Nghiên cứu, xây dựng các giải pháp để hạn chế mức độ hư hỏng tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn -69

3.2.2.5 Nghiên cứu, thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro -69

3.2.2.6 Sưu tầm, phục chế Mộc bản Triều Nguyễn -70

3.2.2.7 Hoàn thiện việc chỉnh lý, nâng câp cơ sở dữ liệu lưu trữ Mộc bản Triều Nguyễn -70

3.2.2.8 Chia sẻ, học tập kinh nghiệm bảo quản tài liệu từ các nước bạn -71

3.2.3 Nhóm giải pháp về tăng cường công tác phát huy giá trị mộc bản - 71

3.2.3.1 Lập quy hoạch tổng thể và thiết kế mỹ thuật khu trưng bày mộc bản trong nhà và ngoài trời tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV -71

3.2.3.2 Mở rộng các hình thức công bố, giới thiệu tài liệu -72

3.2.3.3 Tổ chức tour du lịch di sản -73

3.2.3.4 Xã hội hóa một phần các hoạt động khai thác, quảng bá giá trị tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn -73

3.2.3.5 Sản xuất các sản phẩm lưu niệm, quà tặng từ Mộc bản Triều Nguyễn -74

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 - 75

Trang 8

KẾT LUẬN - 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO - 80 PHỤ LỤC - 85

Phụ lục 1: BẢNG KÊ CÁC BỘ SÁCH TRONG MỘC BẢN TRIỀU

NGUYỄN - 85 Phụ lục 2: MỘT VÀI SỐ LIỆU VỀ THỰC TRẠNG TÀI LIỆU MỘC BẢN TẠI VIỆT NAM - 93 Phụ lục 3: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU VỀ MỘC BẢN TRIỀU

NGUYỄN - 95 Phụ lục 4: MỘT SỐ HÌNH ẢNH MỘC BẢN TẠI CÁC NƯỚC - 103

Trang 9

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

HÓA CỦA LIÊN HỢP QUỐC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Mộc bản Triều Nguyễn (viết tắt là MBTN) là những tài liệu đặc biệt, viết bằng chữ Hán Nôm khắc ngược trên gỗ để in ra thành sách, được dùng phổ biến

ở thời kỳ phong kiến Việt Nam và còn lưu giữ được đến ngày nay Khối tài liệu này đã được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới vào ngày 31 tháng 7 năm 2009 và trở thành Di sản Tư liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam

Toàn bộ khối MBTN hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia

IV gồm 34.619 tấm, được tạm chia thành 152 đầu sách với nhiều chủ đề như: lịch sử, địa lý, chính trị - xã hội, quân sự, pháp chế, giáo dục, văn thơ, Đây là nguồn sử liệu tin cậy để khảo cứu, đối chiếu, phục vụ tốt cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam trên nhiều lĩnh vực

Hiện nay, trên thế giới rất hiếm có những tài liệu mộc bản (viết tắt là TLMB) khắc in các tác phẩm chính văn, chính sử, có xuất xứ từ triều đình phong kiến như khối tài liệu này Ngoài giá trị về mặt sử liệu, TLMB còn có giá trị về kỹ thuật chế tác, đánh dấu sự phát triển của nghề khắc in ở Việt Nam

Theo định hướng của UNESCO đố i với Chương trình Ký ức thế giới, các

Di sản tư liệu Thế giới cần phải được áp dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiệp

vụ cần thiết nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận lâu dài, vĩnh viễn của Di sản tư liệu Nếu không, Di sản tư liệu có thể bị tước danh hiệu nếu như bị giảm giá trị hoặc mức độ toàn vẹn không còn đáp ứng được các tiêu chí đề ra

Tuy nhiên, hiê ̣n nay, công tác bảo quản và phát huy giá trị TLMB chưa được thực hiện một cách bài bản, đồng bộ và toàn diện dưới góc độ là một Di sản Tư liệu thế giới đã được UNESCO công nhận từ năm 2009

Vì vậy, có thể khẳng định việc tăng cường “Bảo quản và phát huy giá

trị tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn” là thực sự cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa

không chỉ đối với Việt Nam mà cả thế giới Đề tài sẽ đưa ra những giải pháp

Trang 11

mang tính định hướng nhằm tăng cường các nguồn lực, đẩy mạnh công tác bảo quản và phát huy giá trị TLMB trong thời gian tới, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho công chúng trong và ngoài nước được thụ hưởng những giá trị của TLMB – Di sản tư liệu quý giá của Việt Nam và của nhân loại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề nghiên cứu về công tác bảo quản và phát huy giá trị tài liệu MBTN là một vấn đề mới Về vấn đề này, từ trước đến nay, mới chỉ được các nhà nghiên cứu, các cán bộ lưu trữ đề cập đến trong các bài viết, báo cáo mà chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện

2.1 Về vấn đề bảo quản tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn

Trong những năm gần đây, Nhà nước đã giành sự quan tâm đến việc bảo tồn khối di sản mộc bản, đặc biệt là khối MBTN Vì vậy, một số đề tài nghiên cứu khoa học đã được đặt ra và giao cho Cục Văn thư và Lưu trữ thực hiện Cụ thể như sau:

2.1.1 Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học để bảo quản tài liệu mộc bản”

do Thạc sĩ Nguyễn Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo hiểm TLLT thực hiện năm 2009

Qua khảo sát thực trạng công tác bảo quản tại nhiều địa điểm, nhóm nghiên cứu nhận thấy mộc bản bảo quản trong điều kiện tự nhiên như trong chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, chùa Dâu thì không có hiện tượng cong, nứt, vênh, nhưng TLMB được bảo quản trong điều kiện có chạy máy điều hòa và máy hút ẩm như Bảo tàng Lịch sử thì hơn 80% là cong, nứt, vênh Đây cũng là mục tiêu nghiên cứu của đề tài để lý giải tại sao mộc bản bảo quản trong điều kiện chạy máy điều hòa và máy hút ẩm lại bị cong, vênh, nứt nhiều như vậy

Nhóm đề tài cùng với các chuyên gia ngành lâm nghiệp khảo sát trực tiếp tại kho bảo quản Mộc bản của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV Việc khảo sát được tiến hành ở cả 4 phòng kho để nắm được số lượng TLMB bị hư hỏng, phân loại và xác định loại gỗ sử dụng làm Mộc bản Qua khảo sát, nhóm nghiên cứu đưa ra một số nhận xét như sau:

Trang 12

- TLMB bị cong, vênh, nứt chiếm một tỉ lệ khá cao, gần 70%, ngoài ra

số tài liệu bị mục, mọt, mối xông chiếm khoảng 10%, còn lại là mộc bản bị ố bẩn, dính tạp chất

- Qua khảo sát bằng kính hiển vi và các dụng cụ trực quan, các chuyên gia gỗ của trường Lâm nghiệp kết luận, khối TLMB là gỗ thị

- Qua nghiên cứu, nhóm đề tài cũng đã đưa ra được bảng quan hệ nhiệt

độ, độ ẩm môi trường và độ ẩm gỗ được áp dụng cho tất cả các loại gỗ Người làm công tác bảo quản vật liệu gỗ có thể căn cứ vào bảng này để duy trì nhiệt

độ, độ ẩm môi trường thì các hiện tượng cong, nứt, vênh, nấm mốc sẽ không xảy ra trong quá trình bảo quản loại hình gỗ nói chung và bảo quản Mộc bản nói riêng nếu độ ẩm của gỗ nhỏ hơn 20%

Trên cơ sở khoa học đã được nghiên cứu về Mộc bản, nhóm đề tài đề xuất giải pháp bảo quản trước mắt là bảo quản Mộc bản trong điều kiện tự nhiên (không dùng máy điều hòa và máy hút ẩm); cần phải nghiên cứu phương pháp thông thoáng hợp lý theo các mùa, cách sắp xếp mộc bản trên giá để đảm bảo

sự tiếp xúc đồng đều với môi trường đối với tất cả các bề mặt Mộc bản; theo dõi nhiệt độ, độ ẩm thường xuyên để có giải pháp bảo quản thích hợp, tránh những dao động đột ngột về độ ẩm và nhiệt độ; tiếp tục nâng cao nghiệp vụ bảo quản cho cán bộ lưu trữ Về lâu dài, tiếp tục nghiên cứu để chuyển bảo quản mộc bản đang từ điều kiện tự nhiên sang môi trường cưỡng bức (có sử dụng điều hòa và máy hút ẩm)

2.1.2 Đề tài “Nghiên cứu phương pháp vệ sinh tài liệu Mộc bản bị rêu mốc, cặn mực bám dày bằng kỹ thuật hiện đại” do Tiến sĩ Nguyễn Trọng Kiên

và các cộng sự thuộc Viện Công nghiệp Gỗ - Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV thực hiện năm 2016

Năm 2016, Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng quy trình vệ sinh TLMB bị rêu mốc, cặn mực bám dày bằng kỹ thuật hiện đại gồm các bước chính như sau: (a) Xác định tình trạng vật lý của Mộc bản; (b) Phun

chất bẩn bám trên bề mặt mộc bản để trong thời gian 2-5 phút; (c) Sau đó làm

Trang 13

sạch bằng máy chải quay khoảng 40-120 vòng/phút lên bề mặt đã hóa mềm để loại bỏ chất bẩn ra khỏi khe chữ; (d) Dùng súng phun khí khoảng 0,3-0,8 MPa kết hợp với chổi cước vệ sinh sạch toàn bộ; (e) Đưa mộc bản đã vệ sinh xong

thuộc vào độ ẩm của tài liệu Sau đó đưa tài liệu vào kho bảo quản

Kết quả nghiên cứu: Định mức vệ sinh tài liệu đạt 6-7 tấm/ngày; Năm

2017, đã áp dụng kết quả nghiên cứu để vệ sinh xong 29.683 tấm Mộc bản bị rêu mốc, cặn mực bám dày, tài liệu sau vệ sinh đạt chất lượng cao, không gây ảnh hưởng đến tình trạng vật lý phục vụ tốt cho công tác bảo quản và phát huy giá trị tài liệu MBTN; Giúp giảm thiểu công sức, mức độ độc hại cho viên chức thực hiện

a) Báo cáo tham luận “Chính quyền Việt Nam cộng hòa với việc bảo quản khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn” tại hội thảo khoa học “Lưu trữ Việt Nam cộng hòa (1955 -1975) - Từ góc nhìn lịch sử và lưu trữ học”, tác giả Nguyễn Xuân Hùng - Nguyễn Ngọc Châu, năm 2014

b) Báo cáo tham luận “Quá trình di chuyển TLLT từ Huế lên Đà Lạt năm 1960-1961” tại hội thảo khoa học “ Lưu trữ Việt Nam cộng hòa (1955 -1975) -

Từ góc nhìn lịch sử và lưu trữ học”, tác giả Nguyễn Xuân Hùng - Phạm Thị Yến, năm 2014

c) Báo cáo tham luận “Gìn giữ Mộc bản cho muôn đời sau” tại hội thảo quốc tế chuyên đề “Bảo tồn và Phát huy Di sản cung đình Huế” tại thành phố Huế, tác giả Nguyễn Xuân Hùng, năm 2015

d) Báo cáo tham luận “Preservation of the Woodblocks of the Nguyen Dynasty” tại hội thảo quốc tế chuyên đề “Mộc bản và In dập Mộc bản Á Đông cổ” tại Dương Châu, Trung Quốc, tác giả Nguyễn Xuân Hùng, năm 2016

e) Báo cáo tham luận “Nghiên cứu giải pháp ghép vỡ và nứt của Mộc bản triều Nguyễn (1802-1945)” tại hội thảo quốc tế về văn hóa gỗ, tổ chức tại Campuchia, tác giả Nguyễn Trọng Kiên, năm 2018

Trang 14

2.2 Về vấn đề phát huy giá trị tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn

Theo thống kê của tác giả, đến nay chưa có một số công trình nghiên cứu chuyên biệt về công tác phát huy giá trị MBTN Hiện mới chỉ có các công trình nghiên cứu về khối MBTN để giới thiệu chung về khối tài liệu này hoặc nghiên cứu sâu về từng phần hoặc một nội dung cụ thể của khối tài liệu

Có thể kể đến, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia II và IV đã tổ chức biên soạn và xuất bản các bộ sách giới thiệu về khối MBTN và các nội dung đặc sắc; cung cấp tài liệu cho các nhà nghiên cứu hoàn thành luận án tiến sĩ Cụ thể như sau:

2.2.1 Sách nghiên cứu do các Trung tâm Lưu trữ quốc gia II và IV biên soạn và xuất bản

a) Mộc bản Triều Nguyễn – Đề mục tổng quan, Nxb Chính trị Quốc gia, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II xuất bản năm 2004, Trung tâm Lưu trữ quốc gia

IV tái bản có sửa chữa và bổ sung năm 2009

b) Mộc bản Triều Nguyễn – Chiếu dời đô và một số kiệt tác, Nxb Chính trị Quốc gia, 2010

c) Khoa bảng Thăng Long – Hà Nội qua tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2010

d) Khoa bảng Bắc Bộ và Thanh Hóa qua tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011

e) Khoa bảng Nghệ An – Hà Tĩnh – Quảng Bình qua tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2012

f) Khoa bảng Trung Bộ và Nam Bộ qua tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2012

g) Tổng tập công thần triều Nguyễn qua tài liệu Mộc bản – Di sản Tư liệu thế giới, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, 2015

h) Tổng tập công thần triều Nguyễn qua tài liệu Mộc bản – Di sản Tư liệu thế giới, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, 2016

Trang 15

2.2.2 Các công trình học thuật

a) Luận án tiến sĩ “Mộc bản triều Nguyễn thơ Ngự chế của vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức; Nguyễn Huy Khuyến - Khoa Đông Phương học, Trường Đại học Đà Lạt, năm 2013

b) Luận án tiến sĩ “Từ giáo dục Phật Luận về giáo dục Mộc bản triều Nguyễn Việt Nam; Nguyễn Thị Thu Hà - Đại học Quốc lập Đài Loan, năm

2017

c) Luận án tiến sĩ “Tài liệu Mộc bản triều Nguyễn liên quan đến Côn Đảo”, Đặng Thị Thanh Tâm – Trường Đại học Sư phạm Huế, năm 2017

a) Báo cáo tham luận “Bảo quản và phát huy giá trị tài liệu Mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thế giới” tại Đại hội Lưu trữ quốc tế tổ chức tại Úc, Thái Lan, tác giả Phạm Thị Huệ, năm 2012

b) Báo cáo tham luận “Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV với hoạt động quảng bá, giới thiệu di sản tư liệu thế giới - Mộc bản triều Nguyễn” tại hội thảo quốc tế chuyên đề “Nâng cao hình ảnh quốc gia qua Di sản tư liệu được UNESCO” tổ chức tại Việt Nam, tác giả Phạm Thị Yến, năm 2013

2.3 Một số nhận xét

Có thể nói, nghiên cứu về tài liệu mộc bản, về các hoạt động bảo quản, phát huy giá trị di sản quý giá này dưới góc độ khoa học là một đề tài mới và khá là khó nhưng các tác giả trên đã cố gắng thực hiện và đạt được những kết quả đáng khích lệ Đặc biệt, những nghiên cứu gần đây của Viện Công nghiệp

gỗ thuộc Đại học Lâm nghiệp đã đưa ra được những luận cứ khoa học khá vững chắc phục vụ tốt cho công tác bảo quản MBTN trong tương lai Bên cạnh đó, những nghiên cứu được đề cập trong các báo cáo tham luận, dù chủ yếu chỉ được đề cập ở mức độ tổng quan nhưng đã giúp nhìn ra được toàn cảnh công tác bảo quản và phát huy giá trị MBTN

Bên cạnh đó, cũng còn một số tồn tại như kết quả nghiên cứu của thạc sĩ Nguyễn Thị Hà và các cộng sự còn thiếu chính xác Cụ thể là, nhóm khảo sát

Trang 16

và thông tin là mộc bản tại chùa Vĩnh Nghiêm, Bổ Đà và chùa Dâu được bảo quản trong điều kiện tự nhiên và không bị cong vênh, nứt, … Tuy nhiên, một kết quả nghiên cứu rất đáng tin cậy, có số liệu đo đạc chi tiết do PGS TS Nguyễn Thị Bích Ngọc thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Bắc Giang thực hiện cho thấy, có tới 97% mộc bản tại 2 chùa này bị cong vênh; xấp xỉ 80% mộc bản bị nứt Cùng với đó, tác giả khẳng định toàn bộ MBTN được khắc bằng gỗ thị là không có cơ sở

Dù vậy, những kết quả nghiên cứu này đều rất quý giá Tác giả đã cố gắng nghiên cứu, lựa chọn, tham khảo và kế thừa những thành quả khoa học của những người đi trước và tổng hợp vào luận văn

3 Mục tiêu của đề tài

- Ứng dụng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ mới, công nghệ thông tin trong công tác bảo quản và phát huy giá trị tài liệu MBTN - Di sản

Tư liệu thế giới

3.2 Mục tiêu cụ thể

3.2.1 Đối với công tác bảo quản tài liệu

- Đưa ra những định hướng nghiên cứu các phương pháp bảo quản, vệ sinh tài liệu

- Đề xuất các hình thức mới về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản

lý và khai thác TLMB

- Đề xuất các giải pháp tu bổ, phục chế TLMB

Trang 17

- Đề xuất phương hướng cải tạo nhà kho bảo quản phù hợp với TLMB; trang bị các thiết bị bảo quản cần thiết

3.2.2 Đối với công tác phát huy giá trị tài liệu

- Đánh giá mức độ thành công của công tác phát huy giá trị tài liệu

- Nghiên cứu, đề xuất mở rộng các hình thức phát huy giá trị TLMB

4 Nguồn ta ̀i liê ̣u

Đề án “Bảo quản và Phát huy giá tri ̣ tài liê ̣u Mô ̣c bản Triều Nguyễn – Di

nước này

IV

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả tiếp cận vấn đề theo hướng liên ngành, kết hợp lưu trữ học với sử học, sử liệu học, khoa học quản lý, khoa học thông tin, khoa học lâm nghiệp

Bên cạnh phương pháp luận là lịch sử kết hợp với logic, tác giả còn sử dụng các phương pháp cụ thể: Tiến hành khảo sát thực tiễn, sưu tầm, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu…; chú trọng khai thác, sử dụng các nguồn TLLT

Trang 18

Trong Chương 1, tác giả xem xét các khía cạnh của mộc bản trước hết với vai trò là một loại hình tài liệu lưu trữ, dùng phương pháp luận lưu trữ học

để tìm hiểu về công tác bảo quản và tổ chức sử dụng TLMB Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp luận sử học để tập trung nghiên cứu về lịch sử hình thành của mộc bản một cách cụ thể, theo tiến trình lịch sử từ đó làm rõ những giá trị, đặc trưng của mộc bản nói chung và Mộc bản Triều Nguyễn nói riêng Qua đó, làm nổi bật lên quá trình hình thành và giá trị đặc biệt của khối MBTN

Trong Chương 2, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu theo hướng liên ngành Cụ thể là, sử dụng phương pháp luận lưu trữ học để tiếp cận khối di sản mộc bản dưới góc nhìn tài liệu lưu trữ và thực hiện các nghiệp vụ chuyên ngành lưu trữ cần thiết Bên cạnh đó, tác giả cũng tiếp tục vận dụng phương pháp sử học kết hợp với logic thông qua việc tìm hiểu, xem xét, đánh giá quá trình bảo quản, phát huy giá trị MBTN qua các thời kỳ đồng thời làm

rõ bản chất của nội dung các công tác đó và ảnh hưởng của chúng đến thực trạng tài liệu hiện nay Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống

kê và khảo sát thực tiễn để làm rõ thực trạng bảo quản và phát huy giá trị, kết hợp với việc tổng hợp, phân tích các số liệu từ các nguồn tài liệu tham khảo để

từ đó nêu lên những vần đề cấp thiết đặt ra đối với công tác bảo quản và phát huy khối tài liệu quý giá này

Trong chương 3, tác giả chú yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và phương pháp logic để đánh giá toàn diện về lý luận và thực tiễn, từ đó

đề xuất một số định hướng và giải pháp bảo quản và phát huy MBTN trong thời gian tới

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là công tác bảo quản và phát huy

giá trị khối tài liệu MBTN, đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Bộ Nội vụ

Phạm vi không gian của đề tài là khối tài liệu MBTN Đồng thời, luận

văn cũng sẽ đề cập đến các loại TLMB khác (bao gồm cả TLMB của Việt Nam

và nước ngoài) để so sánh và đề xuất những định hướng tổng thể và một số giải pháp trong việc bảo tồn và phát huy giá trị khối tài liệu quý giá này

Trang 19

Phạm vi thời gian của đề tài là từ đầu thế kỷ XIX (từ lúc Triều Nguyễn

bắt đầu cho san khắc TLMB) cho đến nay

7 Những đóng góp của luận văn

7.1 Luận văn có thể được xem là một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về công tác bảo quản và phát huy giá trị khối tài liệu MBTN - Di sản

Tư liệu thế giới

7.2 Luận văn cung cấp một số tư liệu mới về công tác bảo quản và phát huy giá trị khối TLMB tại một số nước đang có TLMB như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,

7.3 Luận văn góp thêm một số đề xuất giải pháp đồng bộ về công tác bảo quản và phát huy giá trị khối tài liệu MBTN, sao cho xứng đáng với vị trí

là Di sản Tư liệu thế giới

7.4 Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về công tác lưu trữ và TLLT

8 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của Luận văn gồm ba chương

Chương một: Cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý trong bảo quản và phát

huy giá trị Mộc bản Triều Nguyễn

Chương hai: Thực tra ̣ng bảo quản và phát huy giá trị Mộc bản Triều

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHÁP LÝ TRONG BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN

1.1 Khái niệm về bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ

1.1.1 Khái niệm bảo quản tài liệu lưu trữ

Bảo quản tài liệu lưu trữ thực chất là công tác tổ chức và thực hiện các biện pháp, trong đó chủ yếu là các biện pháp khoa học kỹ thuật để bảo vệ an toàn và kéo dài tuổi thọ cho tài liệu, nhằm phục vụ nhất việc sử dụng chúng chó hiện tại và tương lai [10, Tr.213]

Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng, bảo quản tài liệu MBTN là một chuỗi các hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền qua các thời

kỳ lịch sử nhằm bảo vệ, bảo quản an toàn cho mộc bản đồng thời tổ chức các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ để ké dài tuổi thọ tài liệu, đáp ứng các yêu cầu khai thác, sử dụng của toàn xã hội

1.1.2 Khái niệm phát huy giá trị tài liệu lưu trữ

Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ là hoạt động của của các cơ quan, tổ chức,

cá nhân, … đang quản lý, sở hữu tài liệu lưu trữ thông qua các hình thức tổ chức sử dụng tài liệu nhằm công bố, giới thiệu về giá trị tài liệu cho công chúng

Điều 32, Luật Lưu trữ năm 2011 quy định các hình thức sử dụng tài liệu lưu trữ gồm: (1) Sử dụng tài liệu tại phòng đọc của Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử; (2) Xuất bản ấn phẩm lưu trữ; (3) Giới thiệu tài liệu lưu trữ trên phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử; (4) Triển lãm, trưng bày tài liệu lưu trữ; (5) Trích dẫn tài liệu lưu trữ trong công trình nghiên cứu; (6) Cấp bản sao tài liệu lưu trữ, bản chứng thực lưu trữ

Như vậy, việc phát huy giá trị MBTN là các hoạt động nghiệp vụ để giới thiệu các giá trị về mọi mặt của di sản này đến với toàn xã hội, góp phần xây dựng, bảo vệ tổ quốc đồng thời giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử thông

Trang 21

qua các hình thức như: Phục vụ độc giả tại phòng Đọc; trưng bày, triển lãm tài liệu; làm phim, xuất bản các ấn phẩm, viết bài công bố, giới thiệu,… về MBTN với công chúng

1.2 Quá trình hình thành tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn

1.2.1 Cơ sở hình thành Mộc bản Triều Nguyễn

Trong lịch sử nước ta, cơ quan chuyên trách về viết sử được ghi nhận lại đầu tiên là Quốc Sử Viện gắn liền với bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam - Đại Việt sử ký, do Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc Sử Viện Giám tu Lê Văn Hưu biên soạn dưới thời vua Trần Thánh Tông Trải qua các triều đại sau đó, Quốc

Sử Viện vẫn luôn được coi trọng và để lại cho hậu thế tác phẩm bất hủ - Đại Việt sử ký toàn thư

Sau khi chính thức thành lập vương triều vào năm 1802, mặc dù còn ngổn ngang với nhiều công việc nhằm chỉnh đốn và kiện toàn đất nước trên tất cả các lĩnh vực nhưng các vua nhà Nguyễn đã đặc biệt quan tâm đến văn hóa, đặc biệt

là lịch sử Vì thông qua sử học, có thể ổn định xã hội, cố kết nhân tâm, từ đó có thể củng cố, nâng cao vai trò của dòng họ cũng như của vương triều Năm Gia Long thứ 10 (1811), nhà vua xuống chiếu “Nay soạn Quốc triều thực lục, phàm

sự tích cũ cần phải tìm xét rộng rãi để sẵn mà tham khảo.” Sau đó, Vua Gia

Long cũng cho biên soạn cả sử về nhà Lê “Chiếu có các trấn ở Bắc Thành có

ai thu chép được sự tích nhà Lê cũ và sự tích giặc Tây Sơn thì đem sách dâng

Từ đấy những sách cất ở nhà dân dần dần đem ra” [16, tr.817]

Năm 1820, ngay sau khi lên ngôi, Vua Minh Mệnh đã xuống chiếu cho tìm sách vở còn sót, cho lập Sử Quán và sai quan soạn Thực lục Đến năm 1833, vua lại sai biên soạn bộ Khâm định thực lục các kỷ, từ đời chúa Nguyễn Hoàng đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần gọi là Tiền biên; từ đời Vua Gia Long trở về sau gọi là Chính biên

Ngày mùng 6 tháng 3 năm Thiệu trị thứ 4 (1844), trong tờ biểu dâng lên Vua Thiệu Trị về việc hoàn thành biên soạn bộ Đại Nam thực lục tiền biên và xin được khắc in, các đại thần đã đề nghị: “Xin cho khắc gỗ lê gỗ táo, in dâng

Trang 22

vào kho sách, để nêu tiếng thơm về sau Nay xin làm thành lập dâng tâu Trước hết xin đem sách Liệt thánh thực lục tiền biên, chọn ngày lành khởi công khắc

in Sau đến Thực lục chính biên về các đời Thế tổ Cao hoàng đế và Thánh tổ Nhân hoàng đế, soạn xong cũng xin tiếp tục cho khắc in, đóng thành pho sách quý, để nêu rõ những sự nghiệp thịnh lớn thần truyền thánh nối, văn trị võ công của nước Đại Nam ta, mà càng tỏ rõ lòng hiếu vô cùng của hoàng thượng ta đã nối được chí, theo được việc.” [16 Tr.10]

Ngày mùng 7 tháng 8 năm đó, các đại thần dâng biểu “Vâng soạn bộ Liệt thánh thực lục tiền biên, san khắc đã xong, chữ nghĩa rõ ràng, giấy tờ đẹp tốt Bọn thần rất vui mừng kính cẩn dâng biểu tiến sách lên… Mười hai quyển sách báu chép thành, khắc bản gỗ lê gỗ táo; nghìn muôn đời lời quý nêu yết, sáng như mặt trời mặt trăng.” [16 Tr.10-12]

Tuy nhiên, bộ sách chính thức đầu tiên của Triều Nguyễn được biên soạn

và khắc in là bộ Hoàng Việt Luật Lệ (Luật Gia Long) Tháng 7 năm 1812, Vua Gia Long giao cho Nguyễn Văn Thành và Võ Trinh cùng các đình “chuẩn theo điển lệnh của các triều, tham chước điều luật của đời Hồng Đức và của nhà Thanh, lấy bỏ cân nhắc, cốt sao cho đúng, mà vựng tập thành biên Trẫm thân

tự sửa chữa, ban hành cho thiên hạ khiến người ta biết được phép lớn cấm ngừa,

rõ như mặt trời mặt trăng không thể ẩn giấu” [16 Tr.843] Nhưng phải đến tháng 7 năm Gia Long thứ 14 (1815), việc khắc in bộ sách này mới được hoàn tất và cho ban hành Vua xuống chiếu: “…Vậy nên đặc biệt sai đình thần tham khảo điển cũ của bản triều, luật lệ đời Hồng Đức, điều luật nước Đại Thanh, cùng những điều mới định gần đây, châm chước những điều thích hợp mà biên tập thành sách, trẫm thân hành xét định, phàm 22 quyển Lại sai các đại thần tổng tài và khảo hiệu để khắc in, ban hành cho thiên hạ để làm lệnh điển đời đời.” [16 Tr.905]

Như vậy, việc khắc in mộc bản được Vương triều Nguyễn cực kỳ coi trọng, sử dụng để lưu truyền chính sử và phổ biến các chính sách, pháp luật của triều đình đến với nhân dân

Trang 23

1.2.1.1 Quốc Sử Quán - Cơ quan chuyên trách biên soạn chính sử

Năm Tân Mùi (1811), vua Gia Long đã cho thành lập Sử Cục, cơ quan tiền thân của Quốc Sử Quán sau này Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất

kỷ chép“Triệu thị trung học sĩ là Phạm Thích, Đốc học Sơn Nam thượng là

Nguyễn Đường, đốc học Hoài Đức là Trần Toản về kinh, sung chức Biên tu ở

Sử Cục”[16 Tr.816] Trong quá trình hoạt động, Sử Cục đã biên soạn được bộ

“Hoàng Việt luật lệ” hay còn gọi là bộ “Luật Gia Long”

Sau khi lên ngôi vào năm 1820, vua Minh Mệnh dụ bầy tôi rằng: “Nhà

nước ta từ khi mở mang đến nay, các thánh nối nhau hàng 200 năm Kịp đến thế tổ các hoàng đế ta trung hưng thống nhất đất nước, trong khoảng ấy sự tích công nghiệp nếu không có sử sách thì lấy gì để dạy bảo lâu dài về sau Trẫm muốn lập Sử Quán, sai các nho thần biên soạn quốc sử thực lục, để nêu công đức về kiền, đốc, cơ, cần, làm phép cho đời sau, ”[17 Tr.66] Sau đó, vua

lệnh cho chọn đất ở bên tả trong Kinh thành, họp thợ xây đắp, hơn một tháng thì xong [17 Tr.67] Như vậy, Quốc Sử Quán được lập ra và khởi công xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 1 (1820)

Về địa điểm tọa lạc, “Quốc Sử Quán ở địa phận phường Phú Văn trong kinh thành” [15 Tr.65] Khi vua Minh Mệnh tới thăm đã cho đặt “ngự tọa” ở chính giữa và cho dựng hai tấm bia “khuynh cái hạ mã” (nghiêng lọng, xuống ngựa) ở trước cửa [17 Tr.125] Quốc Sử Quán được khai trương chính thức vào ngày 6 tháng 5 Âm lịch năm Tân Tỵ (tức ngày 5-6-1821) Tại điện Cần Chánh, Triều đình đã tổ chức ban yến cho các quan văn, võ đại thần vì đây “là điển lệ to lớn của đất nước” [22 Tr.44]

Trong quá trình hoạt động, đến đời vua Thiệu Trị đã cho mở rộng Quốc

Sử Quán, dựng thêm hai tòa nhà phụ, tòa nhà bên trái dành cho Toản tu có tên

là Công thự, tòa nhà bên phải dành cho Biên tu có tên là Giải Vũ đài Năm Tự Đức thứ 2 (1849), vì số lượng công trình được biên soạn và khắc in xong khá nhiều, nên Triều Nguyễn đã cho dựng thêm Tàng bản đường ở phía sau Sử Quán để chứa ván in sách Sau đó, vào năm 1857, vua Tự Đức tiếp tục cho

dựng thêm nhà chứa ván in ở cục in sách tại Sử Quán “Tầng trên lát ván, đem

Trang 24

ván in bộ thực lục để ở gian chính giữa, các ván in các tập thơ văn vua làm ra

và bộ Khâm định tiễu bình Nam Bắc kỳ phương lược để ở hai bên tả hữu, lại đem ván in 2 pho Thông Giám, Uyên Giám mới (do Hải Dương, Sơn Tây đệ nộp) để ở tầng dưới, để tiện in ra” [20 Tr.24] Vào đời vua Kiến Phúc (1884),

để tu sửa bộ “Dực tông Anh hoàng đế thực lục chính biên làm đệ tứ kỷ”, Triều Nguyễn cho dựng thêm một dãy nhà ngói làm Sở khâm tu (về phía đông ở trước nhà Sử Quán, gồm 7 gian, 2 chái) Trải qua thời gian, với quy mô ngày càng

mở rộng dưới các đời vua, Quốc Sử Quán đã chứng tỏ vai trò to lớn của mình trong việc biên soạn chính sử, thực lục của Triều Nguyễn

Việc thiết đặt các chức quan trong Quốc Sử Quán cũng được Triều Nguyễn chú trọng Dưới triều Gia Long, các chức Biên tu, Tổng tài, phó Tổng tài đã được đặt ra Vị Tổng tài đầu tiên của Sử Cục Triều Nguyễn là Nguyễn Văn Thành Sau này, khi Quốc Sử Quán đi vào hoạt động, để kiện toàn tổ chức

bộ máy, vua Minh Mệnh đã xuống dụ “Nay mở đặt ra Sử Quán, biên chép

những thực lục, quốc sử các triều đại, chuyên ủy cho các đại thần kỳ cựu có công và bọn văn thần sung vào các chức quan sử là Tổng tài, Toản tu Việc này

là điển là điện lệ to lớn của nước nhà, chuẩn cho đến ngày mồng 6 tháng 5 sẽ

mở Sử Quán, ban tiệc yến một lần” [8 Tr 304]

Đến năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), việc phân cấp tuyển chọn nhân sự

vào làm việc trong Quốc Sử Quán cũng được quy định như sau: “Chức Tổng

tài và Phó tổng tài thì do đích thân nhà vua đặc biệt kén chọn; chức Toản tu trở xuống thì xin lấy quan viên trong ngoài ai làm được việc thì sung bổ (Toản

tu 6 người dùng quan tam phẩm, biên tu 11 người, dùng quan tứ ngũ lục phẩm, khảo hiệu, hiệu san 10 người dùng quan thất bát cửu phẩm, đằng lục 24 người dùng vị nhập lưu thư lại ở lục bộ cùng những thư thủ ở Kinh và các hạt Thu chưởng thì dùng bọn thu chưởng ở Sử quán)”[18 Tr.34] Công tác kiện toàn

về cơ cấu tổ chức của Quốc Sử Quán phục vụ biên soạn và khắc in các bộ chính

sử, chính văn còn được tiếp tục bởi các vị vua như Thiệu Trị, Tự Đức cho đến các vua sau cùng của Triều Nguyễn

Trang 25

Theo sử sách chép lại, tổ chức của Quốc Sử Quán gồm có Chánh, Phó Tổng Tài; giúp việc có các Toản tu, Biên tu, Khảo hiệu, Đằng lục và Thu chưởng

Trong quan chế của Bộ Lại, người ta không thấy ghi quan chế của Quốc

Sử Quán Điều đó chứng tỏ, cơ quan này không có cấp số nhân viên nhất định

mà do vua bổ dụng theo nhu cầu công việc mỗi lúc Ví dụ, theo Dụ của vua Minh Mệnh khi cho biên soạn sách Liệt thánh thực lục, ông đã cử 1 Tổng tài,

2 Phó tổng tài, 10 Toản tu, 27 Biên tu, 5 Khảo hiệu, 12 Thu chưởng và 8 Đằng lục Tuy nhiên, vào thời vua Tự Đức, ngoài Tổng tài và Phó Tổng tài, bộ phận giúp việc chỉ có 4 Toản tu, 8 Biên tu, 4 Khảo hiệu, 6 Đằng lục, 6 Thu chưởng [8 Tr.56]

Về chức năng, nhiệm vụ của những người làm việc trong Quốc Sử Quán,

có thể thấy Tổng tài và Phó Tổng tài là người chịu trách nhiệm tổng quát, nặng

về tổ chức, quản lý, điều hành và đôn đốc Họ thường là quan nhất, nhị phẩm triều đình, hàm Thượng thư trở lên, xuất thân khoa bảng Đây là một chức vụ kiêm nhiệm chứ không phải chuyên biệt, và không thường xuyên

Ví dụ: Tổng tài biên chép Đại Nam thực lục tiền biên là Trương Đăng Quế và Phó Tổng tài là Hà Duy Phiên Ông Trương Đăng Quế lúc bấy giờ là Văn minh điện Đại học sĩ, đang giữ chức Binh bộ Thượng thư, sung Cơ Mật Viện đại thần, Quản lý Khâm Thiên Giám, kiêm lãnh Quốc Tử Giám, kiêm quản Tài chính ấn triện Ông Hà Duy Phiên bấy giờ là Lại bộ Thượng thư, kiêm quản Hình bộ ấn triện, kiêm lãnh Quốc Tử Giám sự vụ

Toản tu và Biên tu mới thực là người chấp bút viết nên Thực lục Để được vua chọn làm Toản tu hay Biên tu phải là người có trình độ văn học cao, khoa bảng xuất thân, có hàm Hàn Lâm Viện, có thừa khả năng viết lách Điều khác biệt là người được cử làm Toản tu có phẩm trật cao hơn hoặc thâm niên hơn Khi Quốc Sử Quán tấu trình bộ Đại Nam Thực Lục Tiền biên đã soạn xong, xin phép khắc in, vua Thiệu Trị đã ra lệnh “…giao các viên Toản tu kiểm điểm khoản thức chữ viết, mọi việc cho chu đáo ổn thỏa…” [16 Tr 8] Như

Trang 26

vậy, trong việc biên tập, trách nhiệm của các Toản tu cao hơn, trong đó có việc hoạch định đường lối công việc và kiểm soát cả nội dung lẫn hình thức

Khảo hiệu là viên quan chịu trách nhiệm tham khảo các sách, hiệu đính lại những chỗ sai lầm

Đằng lục là những người giữ việc sao chép lại các bản thảo theo đúng qui cách để trở thành bản văn chính thức trình duyệt cấp trên và sau khi được chấp thuận sẽ đưa đi khắc in Các Đằng lục thường là người viết chữ đẹp, họ là những Bát, Cửu phẩm Bút thiếp thức

Thu chưởng là những người giữ việc thu gom, sắp xếp và gìn giữ các bản thảo, các bản biên tập Đó là các Bút thiếp thức hoặc các Bát, Cửu phẩm Thư lại Nhân viên Quốc Sử Quán còn có một số thợ khắc bản gỗ và thợ in [47]

1.2.1.2 Nội các Triều Nguyễn - Nơi biên soạn nhiều tác phẩm chính sử

Nội các Triều Nguyễn được thành lập vào năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) tiền thân của Nội các là Thị thư viện, Thị hàn viện, Nội hàn viện và Thượng bảo ty Năm Minh Mệnh thứ 1 (1820), vua đã cho gộp 4 cơ quan này lại đặt thành Văn thư phòng nhằm quản lý thống nhất văn phòng giúp việc vua

về công văn giấy tờ Năm 1829, vua Minh Mệnh đã cải tổ Văn thư phòng và thành lập Nội các Chức năng chính của Nội các là chuyên trách công việc ấn chương, giấy tờ, sổ sách của các cơ quan trong triều đình Nhưng Nội các còn được giao một số nhiệm vụ mang tính chất sử học như ghi lại lời nói và việc

làm của vua (được gọi là Khởi cư chú), chép việc làm của các bộ, viện, và

điển chế của nhà nước đã đem thi hành Trong số những bộ sách do Nội các

Triều Nguyễn biên soạn và san khắc thì bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ

là công trình quy mô và có giá trị nhất [47 Tr.17]

Việc Quốc Sử Quán và Nội các Triều Nguyễn chính thức được thành lập

và đi vào hoạt động trong hơn 100 năm với nhiệm vụ biên soạn chính sử, thực lục đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử, góp phần khẳng định cơ sở pháp lý mang tính chính thống của vương Triều

Trang 27

Nguyễn Như vậy, có thể khẳng định rằng, chính hoạt động biên soạn và in ấn

sử sách của hai cơ quan này là cơ sở hình thành nên tài liệu MBTN

1.2.2 Quy trình biên soạn sách và khắc in Mộc bản Triều Nguyễn

1.2.2.1 Biên soạn và lựa chọn sách để khắc in

Để tiến hành biên soạn các bộ quốc sử, thực lục các triều vua, các sách chuyên khảo về địa chí, văn hóa, giáo dục, … triều đình nhà Nguyễn đã thiết lập ra một bộ máy biên tập Đứng đầu và chịu trách nhiệm thi hành là những văn, võ đại thần đầu triều, bên cạnh đó còn có hàng loạt những quy chế nghiêm ngặt trong việc soạn thảo, san khắc và in ấn Trong quá trình biên soạn, để hoàn thành bản thảo, các sử quan phải khảo cứu thực hiện trong một thời gian dài, tốn nhiều công sức Mỗi bộ sách sau khi biên soạn xong đều được các vị chuyên trách, đứng đầu là Tổng tài, kiểm duyệt kỹ càng, trải qua nhiều khâu, cuối cùng được chép “tinh tả” rõ ràng theo nguyên bản, kèm theo biểu dâng sách tiến trình hoàng đế “ngự lãm”

Sau khi thấy việc biên soạn sách Liệt thánh thực lục bị chậm trễ, vua

Minh Mệnh đã ban dụ: “Chuẩn cho mỗi ngày 1 viên luân phiên nhau họp làm

lần này sai làm là lần thứ hai, các ngươi nên gia công khảo đính, sửa chữa, cốt cho đúng phương pháp trong cách chép hoặc tước bỏ, không thiếu sót trong việc sưu tầm lặt lượm Mỗi khi làm xong một kỷ thì lại chuẩn cho viết rõ lại ngay, dâng lên Sớm hôm ta thực nóng lòng mong đợi” [18 Tr.542]

Bộ Liệt thánh thực lục tiền biên, bắt đầu được khởi soạn từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) cho đến năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) thì việc biên soạn mới xong Như vậy riêng phần tiền biên của bộ chính sử lớn nhất của Triều Nguyễn

đã phải thực hiện trong vòng 23 năm mới hoàn thành, qua đó chúng ta có thể thấy được bề dày về thời gian, công sức, trí tuệ của các sử thần đã đóng góp

Mỗi bản thảo sau khi hoàn thành, đều được kính cẩn dâng lên vua ngự lãm, sau khi vua xem và phê duyệt sẽ ban dụ cho đi khắc in Việc khắc ván in cũng rất công phu và phức tạp, tốn nhiều thời gian, các công đoạn được tiến hành rất cẩn trọng Trong lời dụ của vua Thiệu Trị về việc khắc in bộ sách Liệt

Trang 28

thánh thực lục tiền biên đã ghi “Sai ngay Thái sử chọn ngày khởi công ở quán,

lại giao cho các viên Toản tu kiểm điểm khoản thức chữ viết, mọi việc cho chu đáo ổn thỏa; các đại thần Tổng tài cũng cần xem xét luôn cho sớm xong việc lớn, để truyền bá về sau Có cần dùng vật liệu nhân công thì sai Hữu ty kính cẩn ứng biện”[16 Tr 8]

1.2.2.2 Tuyển chọn thợ khắc in mộc bản

Việc tuyển chọn thợ san khắc được thực hiện hết sức tỉ mỉ và thận trọng,

họ là những người thợ giỏi được tuyển chọn trong cả nước sung vào làm việc tại Quốc Sử Quán Bản thân những người thợ này ngoài việc giỏi nghề, cẩn

trọng còn phải biết chữ để tránh sai sót Dưới thời Tự Đức, khi khắc in bộ Ngự

chế thi sơ tập, Quốc Sử Quán đã dâng sớ lên cho vua rằng “Ngày tháng 6 lại được tỉnh Hải Dương phái 30 thợ khắc người Bắc, đã bỏ trốn 4 tên, hiện còn

26 người làm việc Nay kiểm thấy bản mẫu cuốn Thực lục gồm 1900 trang, cần dùng 995 tấm gỗ thị, lần lượt đưa nộp hiện được 540 tấm, thợ khắc in độ hạ tuần tháng tới là hết, số còn thiếu hiện thời thiết đến mùa bão lụt, vận chuyển thật khó, nghĩ rằng chưa thể đúng hạn nộp đủ Nếu để lại chờ thì số thợ nhiều, không khỏi tốn lương hưởng không đâu Về 10 thợ người Nam khắc cuốn Thực lục và 14 thợ người Nam in cuốn Ngự chế thi tập, xin giao về sở đốc công của

Vũ khố để sai phái hay cho về theo lệ giải quyết ổn thỏa Còn 26 thợ người Bắc xin để lại 6 người để khắc in, còn 10 người xin theo ấn thư cục để in ấn, bắt đầu từ mồng 1 tháng tới Đợi ngày nào đưa nộp đủ số ván thì lại đến làm việc

Như vậy, những người thợ khắc cũng chính là những người thợ in, tùy thời điểm được giao nhiệm vụ khác nhau Họ được tuyển cả từ ngoài Bắc và trong Nam

Trong quá trình san khắc, các viên quan có chức trách cao ở Quốc Sử Quán được điều phái đến trông coi, kiểm duyệt

1 Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Triều Nguyễn, Tự Đức tập 310, tờ 30

Trang 29

1.2.2.3 Chuẩn bị vật liệu

Để khắc ván, người ta cần chuẩn bị ván khắc (gỗ), giấy và mực in, sau

đó tiến hành các bước để thực hiện

Về lựa chọn gỗ, tại Việt Nam, gỗ dùng để khắc mộc bản thường là gỗ Thị, gỗ Mít Tuy nhiên, trong những năm đầu của Triều Nguyễn, mộc bản thường được khắc bằng gỗ lê, gỗ táo Trong Đại Nam thực lục chép, sau khi

soạn xong Liệt Thánh thực lục tiền biên, Vua Thiệu Trị đã ban Dụ “Vậy nên

cho khắc vào gỗ lê, gỗ táo, in để dài lâu.” [16 Tr.8]

Sau khi đã lựa chọn được gỗ để khắc mộc bản thì Triều đình sắc cho các địa phương phải nộp đủ số gỗ về để khắc mộc bản Bản tấu của Quốc Sử Quán

vào năm Tự Đức 31 (1878) về việc kiểm tra bản mẫu sách Thực lục chính biên

đệ tam kỉ “gồm 1.900 trang, cần dùng 995 tấm gỗ thị, hiện nộp được 540 tấm,

thợ khắc in độ hạ tuần tháng tới là hết, số còn thiếu hiện thời tiết đến mùa bão lụt, việc vận chuyển khó, chưa thể đúng hạn nộp, nên cho thợ khắc in tạm nghỉ,

Sau đó, người ta bắt đầu thực hiện các bước xử lý gỗ như ngâm gỗ cho hết nhựa, hong khô Tiếp theo, các tấm gỗ sẽ được bào phẳng hai mặt, cắt thành hình gần nhất với việc khắc in, sau đó dùng dầu thực vật bôi lên trên bề mặt

Ngoài ra, người ta cần chuẩn bị giấy dó, mực để chép “tinh tả” những nội dung được yêu cầu khắc in cùng 1 nguyên liệu nữa là hồ dán [21]

1.2.2.4 Khắc ván

Khắc ván là công đoạn quan trọng và phức tạp nhất trong việc tạo ra mộc

bản Sau khi sách được biên soạn xong, được vua phê chuẩn, sẽ giao cho đằng

lục chép lại Đằng lục là những viên quan có hàm cấp nhỏ nhưng chữ rất đẹp

được triệu tới Quốc Sử Quán hoặc Nội các làm việc Sau đó, người ta phải tiến hành kiểm tra, đối chiếu lại bản gốc, nếu sai phải chép lại, cho đến khi đúng mới thôi Tiếp theo, thợ khắc sẽ dùng hồ phết lên bề mặt ván khắc, sau đó dán

2 Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Triều Nguyễn, Tự Đức tập 310, tờ 30-32

Trang 30

những tờ giấy do đằng lục biên chép nội dung lên Khi dán, bề mặt được viết chữ sẽ dán vào trong để tạo thành chữ ngược Khi bề mặt ván khắc khô đi, thợ khắc sẽ dùng bàn chà để lấy bớt lớp giấy đi, để cho phần chữ hiện lên rõ hơn Ngoài ra, thợ khắc còn có thể dùng dầu thực vật bôi lên bề mặt, làm cho giấy trở lên trong và nét chữ hiện lên rõ hơn [21]

Dụng cụ khắc ván gồm có nhiều loại khác nhau như dùi, đục, chàng, nạc với nhiều kích thước Tùy từng loại chữ, nét chữ hoặc vị trí mà thợ khắc sử dụng các dụng cụ khác nhau Khi khắc, thợ sẽ đục bỏ những phần không có nét chữ, khuôn sách và vạch phân cách dòng Khắc từng hàng chữ, hết hàng này khắc tiếp hàng sau cho đến khi xong hết mặt khắc Sau khi khắc xong, sẽ phải

in lần đầu để kiểm tra xem khắc đã đúng chưa Nếu khắc thiếu nét, sẽ khắc tiếp, nếu khắc sai một vài chữ thì đục bỏ chữ đó đi, khắc chữ khác gắn vào vị trí đó Đây được gọi là hình thức điền bản [21]

1.2.2.5 In sách và đóng quyển

Theo các kết quả nghiên cứu, để in ván, trước hết phải ngâm ván vào nước cho nước ngấm vào gỗ để ván ngấm nước và ăn mực ít hơn Sau đó, người

ta bôi mực lên bề mặt ván khắc bằng chổi hoặc con lăn Khi mực phủ đều lên

bề mặt ván khắc, người thợ in sẽ úp tờ giấy lên, dùng bàn xoa chà nhẹ lên bề mặt giấy, sau đó, dùng ngón tay miết từng hàng chữ cho giấy bám vào mực Sau cùng, thợ in lấy giấy ra khỏi bề mặt và đặt giấy in lên bàn hoặc giá để phơi khô mực in

Trong quá trình in, những tờ in hỏng sẽ được tận dụng làm bìa sách sau khi dán chồng nhiều tờ lên nhau bằng nhựa Cậy [21 Tr 36]

Khi đóng quyển, thợ in sẽ đem toàn bộ những tờ đã in ra gấp trang đôi, xếp theo thứ tự trang, vỗ cho đều và để cùng cữ còn gọi là Toát chỉ, ép bìa đã phết cậy rồi nẹp lại Xén chuẩn theo cữ sách, lấy những dải giấy xén thừa xoắn lại thành chỉ, đóng sách Tháo nẹp, ép sách và gắn sơn ta vào gáy sách cùng phần chỉ cho chết dây Phết son lên 3 biên sách còn lại, để sống trang sách không rách mỗi khi lật, bấu Viết tên sách, thứ tự số quyển để hoàn thiện sách [21 Tr 36]

Trang 31

1.3 Gia ́ tri ̣ của Mộc bản Triều Nguyễn

1.3.1 Mang tính biểu trưng của vương triều

MBTN gồm nhiều pho sách quý của vương triều Mỗi tác phẩm từ khi biên soạn cho đến khi đem đi khắc in đều theo mệnh lệnh của nhà vua

Năm Thiệu Trị thứ tư (1844), sau khi tiếp nhận biểu tâu trình của các đại

thần “Vâng lệnh soạn bộ Liệt thánh thực lục tiền biên nay đã xong, xin đem

khắc in”, Vua Thiệu Trị đã ban dụ về việc cho khắc in bộ sách Liệt Thánh thực

lục tiền biên (Đại Nam thực lục tiền biên), với những lỡi lẽ hết sức kính cẩn,

trân trọng: “Xem qua tờ tâu, trẫm rất vui lòng, vì tín sử của đời thanh bình là

để lại chỉ bảo cho đời sau, sự thể rất là quan trọng… Vậy nên cho khắc vào gỗ

lê gỗ táo, in để dài lâu Rồi đến các bộ Thực lục chính biên về đời Thế tổ Cao hoàng đế và thánh tổ Nhân hoàng đế, soạn xong cũng lần lượt kính cẩn cho khắc in nộp vào kho sách, càng thêm vẻ vang cho các đời của nước Đại Nam

ta, đời nào cũng thịnh, và để truyền bảo phép tắc lớn mãi mãi đến ức muôn năm sau.” [16 Tr.7-8]

Ngay cả vua cũng phải dùng từ “kính cẩn cho khắc in” thì chỉ cần nhắc tới mộc bản hay ván khắc tại Nội Các và Quốc Sử Quán, tất thảy mọi người đều phải tỏ lòng kính ngưỡng, vì đó là sách của Vua, của triều đình Cho nên, khác với những khối mộc bản khác tồn tại trong cùng thời kỳ, mộc bản luôn được bảo quản nghiêm ngặt, trong điều kiện tốt nhất có thể của triều đình

Việc biên soạn, biên tập sách là việc mang tính chất cao quý Các quan khi được giao làm việc này cũng phải thực hiện một cách cung kính hết mức, thâm chí không được phép mang về nhà để sửa, duyệt nội dung sách Có lần,

làm Tổng tài và Toản tu soạn bộ Thực lục đem bản thảo về dinh thự của mình duyệt lại Vua cho rằng làm thế là có vẻ coi thường, bèn phạt mỗi người 3 tháng lương và sắc sai từ nay trở đi, phải luân phiên đến viện mà duyệt; nếu công việc ở bộ có bận rộn quá thì cho phép tạm nghỉ [việc duyệt], khi nào rỗi sẽ lại đến họp làm.” [19 Tr.467]

Trang 32

Những mộc bản này được xem là những bản gốc duy nhất, đáng tin cậy dùng in ấn thành sách ban cấp cho các nơi, tránh được những rủi ro dẫn đến một hay nhiều dị bản không đáng tin cậy được lưu hành trong cùng một thời điểm Chính vì những tính chất quan trọng đó mà trong thời kỳ phong kiến, những tài liệu này được xem như là “quốc bảo”, chỉ có những người có thẩm quyền, trách nhiệm làm việc tại Quốc Sử Quán mới được tiếp xúc

1.3.2 Nghệ thuật khắc in điêu luyện

Theo các kết quả khảo cứu, nghề khắc in mộc bản tại Việt Nam được du nhập từ Trung Quốc vào nửa sau thế kỷ XIV Khi đó, Thám hoa Lương Như Hộc (1420-1501), sau hai lần đi sứ Trung Quốc vào các năm 1443 và 1459, đã học được nghề khắc in mộc bản Sau đó, ông về dạy cho dân làng Hồng Lục, Liễu Chàng ở Hải Dương là quê của ông Về sau, ông được suy tôn trở thành

tổ nghề in ở nước ta

Về nghệ thuật khắc in MBTN, nhiều nhà nghiên cứu và khách tham quan

đã phải thốt lên rằng, mỗi bản khắc in là một tác phẩm nghệ thuật Thực tế, với những nét chữ sắc sảo, đậm nhạt; khuôn chữ đều đặn trên mỗi tấm MBTN, nhiều nhà nghiên cứu Hán Nôm đã coi đó là nét chữ của những danh gia thư pháp thời phong kiến

Bên cạnh đó, không thể không kể đến nghệ thuật chế tác từng ván khắc với những nét khắc hoa văn, họa tiết chỉ có trên MBTN như: Hình vẽ rồng, mây, loan phượng; hình vẽ những cổ vật trứ danh; bản đồ thế giới và các tỉnh Việt Nam Cùng với đó, trên một số bìa sách còn có hình ấn triện của các vua Triều Nguyễn

Như vậy, có thể thấy rằng, MBTN có giá trị rất cao về mỹ thuật, là một đối tượng nghiên cứu không thể bỏ qua của nghệ thuật thư pháp, hội họa và đặc biệt là điêu khắc

1.3.3 Nguồn sử liệu vô giá

Trong kho tàng sách mộc bản mà Vương triều Nguyễn để lại cho hậu thế,

có rất nhiều pho sách quý, đặc biệt là những bộ quốc sử Những bộ quốc sử

Trang 33

được Triều Nguyễn biên soạn hết sức công phu, có giá trị lớn, chứa đựng nhiều thông tin chân xác của thời cuộc

Bên cạnh đó, Triều Nguyễn rất coi trọng những bộ sách được biên soạn

và khắc in từ thời Lê Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), Vua sai quan Bắc Thành kiểm xét những bản in nguyên trữ ở Văn Miếu về các sách Ngũ kinh, Tứ thư đại toàn, Vũ kinh trực giải (bản in của Quốc Tử Giám nhà Lê) cùng Tiền Hậu chính sử (bản in riêng của Hậu quân tham mưu Nguyễn Bá Khoa) và Tứ trường văn thể (bản in riêng của Trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến), gửi về Kinh

để ở Quốc Tử Giám [17 Tr.581] Do vậy, kho sách mộc bản của Triều Nguyễn vừa phong phú, chuẩn xác về nội dung vừa đa dạng về nguồn gốc xuất xứ

Ngày nay, khi nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội thời cổ đại, trung đại và cận đại của Việt Nam, các nhà nghiên cứu đều chủ yếu dựa trên những

cứ liệu là các tác phẩm còn lưu giữ lạ được như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam nhất thống chí,… Các bộ sách này đều được in ra từ mộc bản thuộc khối

di sản MBTN hiện còn được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Có thể kể đến một số bộ sách kinh điển, được các nhà nghiên cứu khoa học, văn hóa, lịch sử đánh giá rất cao

1.3.3.1 Đại Việt sử ký toàn thư

Đại Việt sử ký toàn thư, đôi khi gọi tắt là Toàn thư, là bộ quốc sử viết

bằng văn ngôn của Việt Nam, viết theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam

từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê Bộ sử này được khắc in toàn bộ và phát hành lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hoà năm thứ 18, triều vua Lê

Hy Tông, tức là năm 1697 Đây là công trình đại thành do nhiều đời sử quan trong Sử Quán triều Hậu Lê biên soạn

Đại Việt sử ký toàn thư là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại

nguyên vẹn đến ngày nay, là di sản vô giá của văn hóa dân tộc Việt Nam, là kho tư liệu phong phú không những cần thiết cho ngành sử học mà còn giúp

Trang 34

ích cho nhiều ngành khoa học xã hội khác nữa và cũng là một bộ sử có giá trị văn học Các bộ quốc sử sau này của Việt Nam như Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục đều được biên soạn dựa trên cơ sở của Đại Việt sử ký toàn thư [11]

Theo GS Phan Huy Lê, “Đại Việt sử ký toàn thư là một công trình tập

đại thành nhiều bộ sử do nhiều nhà sử học của các đời biên soạn, từ Lê Văn Hưu đời Trần, qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê sơ, đến Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê Trung Hưng, cùng những người cộng sự với họ.” [11

Tr.11]

Theo kết quả thống kê năm 2016, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV còn lưu trữ được 623 tấm mộc bản thuộc bộ sách này

1.3.3.2 Đại Nam thực lục

Bộ Đại Nam thực lục là bộ quốc sử lớn nhất, quan trọng nhất của Triều

Nguyễn do Quốc Sử Quán biên soạn Bộ sử này đã được các sử thần nối tiếp nhau biên soạn và khắc in trong vòng 88 năm, từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đến năm Duy Tân thứ 3 (1909) Tuy nhiên, bộ sách vẫn được coi là chưa hoàn thành theo đúng tôn chỉ ban đầu là: Ghi chép lại hoạt động từ thời chúa Nguyễn cho đến hết các vua triều Nguyễn

Đại Nam thực lục được viết theo thể biên niên, gồm hai phần Tiền biên

và Chính biên Đại Nam thực lục tiền biên (còn gọi là Liệt thánh thực lục tiền

biên), ghi chép về các mặt hoạt động của 9 đời chúa Nguyễn, bắt đầu từ Thái

tổ Gia Dụ hoàng đế - Nguyễn Hoàng (còn gọi là chúa Tiên) vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 đến hết đời Duệ tông Hiếu Định hoàng đế (chúa Sãi) – Nguyễn

Phúc Thuần năm 1777 Đại Nam thực lục tiền biên được khởi soạn năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), khắc xong vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) Đại Nam thực

lục chính biên tiếp tục ghi chép về lịch sử vương Triều Nguyễn, từ năm Mậu

Tuất (1778) đến đời vua Đồng Khánh (1888), bộ sách được chia làm nhiều kỷ, mỗi kỷ là một đời vua: đệ nhất kỷ (ghi chép các sự kiện lịch sử dưới thời vua Gia Long); đệ nhị kỷ (về vua Minh Mệnh); đệ tam kỷ (về vua Thiệu Trị); đệ tứ

kỷ (về vua Tự Đức); đệ ngũ kỷ (cuối đời vua Tự Đức đến đời vua Kiến Phúc);

Trang 35

đệ lục kỷ (từ đời vua Hàm Nghi đến đời vua Đồng Khánh); đệ thất kỷ (đời vua Khải Định)

Để có thể biên soạn một cách tỉ mỉ, cụ thể với các thông tin ghi chép đạt

độ xác thực cao, thì các sử thần làm việc tại Quốc Sử Quán đã phải nghiên cứu, thực hiện một khối lượng công việc đồ sộ, do vậy, đây thực sự là bộ quốc sử quy mô nhất, giá trị nhất của Triều Nguyễn [16 Tr.5]

Theo kết quả thống kê năm 2016, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV còn lưu trữ được 7.139 tấm mộc bản thuộc bộ sách này

1.3.3.3 Minh Mệnh chính yếu

Minh Mệnh chính yếu do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn biên soạn vào

năm Minh Mệnh thứ 18 (1837); “Chính yếu” được hiểu là những “đại yếu của chính thể” Đó là những chính sách lớn, cốt yếu được đưa ra thi hành Theo quy định, những việc lớn thì được chép rõ ràng, đầy đủ, còn việc nhỏ thì chép sơ lược… Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), sách biên soạn xong, sau đó tiến hành khảo duyệt

Về thể thức, sách được kết cấu theo trình tự từng mặt hoạt động, trong từng quyển có các thiên (chương) Trong mỗi thiên, các sự kiện, các việc được ghi chép theo trình tự thời gian từ trước về sau, khởi chép từ năm Minh Mệnh thứ nhất (1820)

Về nội dung, sách ghi chép về các chính sách, những việc thiết yếu đã được đưa ra thi hành dưới triều vua Minh Mệnh trên nhiều lĩnh vực như: sinh hoạt cung đình, hình luật, lễ nhạc, ngoại giao, trị an, khai hoang khẩn hóa… Sách được khắc in vào năm Thành Thái thứ 9 (1897) [31 Tr 752]

Theo kết quả thống kê năm 2016, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV còn lưu trữ được 403 tấm mộc bản thuộc bộ sách này

1.3.3.4 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là bộ sách do Nội các Triều Nguyễn

biên soạn rất công phu, kéo dài 12 năm, bộ sách chứa đựng một khối lượng đồ

Trang 36

sộ những kiến thức, sử liệu chân xác, đặc biệt là về thiết chế và hoạt động của

bộ máy nhà nước Triều Nguyễn

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ được biên soạn theo Chỉ dụ của nhà

vua vào các năm Thiệu Trị thứ 3 (1843); Thiệu Trị thứ 6 (1846); Tự Đức thứ 3 (1850) và Tự Đức thứ 4 (1851) Số lượng quan chức tham gia biên soạn sách khá lớn Ngoài các Đại thần, các bậc danh tài như Miên Định, Miên Nghi, Vũ Xuân Cẩn, Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, ngoài ra, còn có quan lại của

6 Bộ, của các Ty, Viện…lên tới khoảng 160 người

Sách ghi chép khá đầy đủ các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong bộ máy nhà nước Triều Nguyễn Đây là tài liệu quý chứa đựng khối lượng thông tin phong phú và đa dạng, các chiếu chỉ, sớ tấu của triều đình về các việc liên quan đã đưa ra thi hành được đưa vào sách khá đầy đủ, điều này đảm bảo tính chân xác của tài liệu Tóm lại “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” sẽ đưa đến cho độc giả hình ảnh khá toàn diện và đầy đủ về tổ chức bộ máy hành chánh nhà nước phong kiến Việt Nam dưới các vương triều Nguyễn [31 Tr 548]

Theo kết quả thống kê năm 2016, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV còn lưu trữ được 403 tấm mộc bản thuộc bộ sách này

Trang 37

Theo kết quả thống kê năm 2016, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV còn lưu trữ được 412 tấm mộc bản thuộc bộ sách này

1.3.3.6 Một số bộ sách tiêu biểu khác

Bên cạnh nhưng bộ sách kể trên, trong khối MBTN còn những bộ sách nổi tiếng khác đó là Hoàng Việt luật lệ, Ngự chế Việt sử tổng vịnh tập, Đại Nam liệt truyện, …

Đây chính là nguồn tài liệu gốc cực kỳ quý giá phục vụ cho các mục đích nghiên cứu cùng với rất nhiều giá trị khác đang chờ được đánh thức

1.4 Cơ sơ ̉ pháp lý đối với công tác bảo quản và phát huy giá trị tài liệu mộc bản

1.4.1 Như ̃ng quy đi ̣nh trước năm 1975

1.4.1.1 Những quy định dưới Triều Nguyễn

Với đặc trưng là tài liệu do Triều đình sản sinh ra và lưu giữ nên MBTN

có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng Để biên soạn, khắc in và bảo quản các

bộ sách chính sử, triều Nguyễn đã cho lập ra 2 cơ quan chuyên trách là Quốc

Sử Quán và Nội Các Bên cạnh đó, triều đình còn lập ra Tàng Thư Lâu để lưu trữ Mộc bản và sách, sau đó lập thêm Tàng Bản Đường chỉ để lưu trữ MBTN

Tất cả những cơ quan, công sở trên là của triều đình nên đều chịu sự quản

lý cực kỳ nghiêm ngặt Chỉ những người có trách nhiệm mới được ra vào và phải chịu tội trước Vua nếu để xảy ra sự cố hoặc chỉ là chậm trễ

Ngành Lưu trữ của Việt Nam Cộng hòa được thành lập vào năm 1959 theo Sắc lệnh số 86-GD ngày 13-4-1959 của Tổng thống VNCH Ngay sau đó, MBTN đã được khảo sát, lập kế hoạch và tiến hành vận chuyển từ Huế lên Đạt bảo quản tại Chi nhánh Văn khố Đà Lạt vào năm 1960

Cho dù sau đó ít được quan tâm nhưng MBTN vẫn được bảo quản trong các công sở và chịu sự chế tài của Luật số 020/73 về Văn khố tại Việt Nam ngày 26-12-1973 Theo đó, những hành vi hủy hoại hay chiếm đoạt các tài liệu

Trang 38

Văn khố Quốc gia sẽ bị trừng phạt theo luật lệ hiện hành” (Điều 8); Phạt giam

từ 1 tháng đến 2 năm và phạt tiền từ năm mươi ngàn đồng (50.000$) đến năm trăm ngàn đồng (500.000$) hoặc một trong hai hình phạt đối với những người mua, bán, trao đổi, di nhượng các tài liệu thuộc thành phần tài liệu lưu trữ quốc gia (Điều 9); Phạt giam từ 1 tháng đến 5 năm và phạt tiền từ 50.000$ đến 1.000.000$ đối với những người vi phạm hay có dự định vi phạm (toan phạm) việc xuất cảng khỏi Việt Nam các tài liệu lưu trữ quốc gia (Điều 10); Ngoài hình phạt trên, Tòa án còn truyền lệnh quy hoàn các tài liệu, đối tượng các vụ

1.4.2 Như ̃ng quy đi ̣nh hiê ̣n hành của Nhà nước

Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật

có giá trị pháp lý để tăng cường bảo quản và phát huy giá trị TLLT và các di sản khác do tiền nhân để lại

Luật Lưu trữ được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2011 Đây là văn bản có giá trị pháp

lý cao nhất trong hệ thống pháp luật về lưu trữ từ trước đến nay Khoản 3, Điều

26 Luật Lưu trữ quy định “TLLT quý, hiếm phải được kiểm kê, bảo quản, lập

bản sao bảo hiểm và sử dụng theo chế độ đặc biệt” Ngoài ra, khoản 3, Điều 29 Luật này cũng quy định: “Cơ quan, tổ chức có TLLT có trách nhiệm chủ động giới thiệu TLLT và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng TLLT đang trực tiếp quản lý” [14]

Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001 Điều 9 Luật Di sản văn hóa quy định:

“1 Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế -

3 Luật số 020/73 về Văn khố tại Việt Nam ngày 26-12-1973 do Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ký ban hành

Trang 39

xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

2 Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa Chủ sở hữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

3 Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa” [44]

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 05/2007/CT-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2007 về việc tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị TLLT Chỉ thị nêu rõ, các bộ ngành, địa phương cần thực hiện nghiêm túc việc thu thập, bổ sung TLLT có ý nghĩa quốc gia, nhất là TLLT quý, hiếm; Nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào việc bảo vệ, bảo quản an toàn, bảo hiểm và quản lý, khai thác TLLT; Bố trí diện tích thích đáng để thường xuyên tổ chức triển lãm, trưng bày TLLT [24]

Theo quy hoạch ngành Văn thư Lưu trữ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 được Bộ Nội vụ phê duyệt tại Quyết định số 579/QĐ-BNV ngày 27 tháng

6 năm 2012, ngành Lưu trữ phải xây dựng Đề án Bảo quản và phát huy giá trị tài liệu MBTN - Di sản Tư liệu thế giới

Thực hiện nội dung trên, năm 2014, Bộ Nội vụ đã chỉ đạo Cục Văn thư

và Lưu trữ nhà nước xây dựng và trình Đề án Bảo quản và phát huy giá trị tài liệu MBTN - Di sản Tư liệu thế giới để Bộ Nội vụ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Và ngày 3 tháng 2 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

Đề án trên tại Quyết dịnh số 209/QĐ-TTg

Đề án được chia thành 2 giai đoạn, với những nội dung hết sức thiết thực tăng cường các biện pháp bảo quản nhằm bảo tồn và kéo dài tuổi thọ tài liệu Bên cạnh đó, Đề án cũng chú trọng đến việc đổi mới, đa dạng hóa các hình thức

Trang 40

phát huy giá trị tài liệu; Xây dựng, nâng cấp cơ sở dữ liệu thông tin cấp 1 và phần mềm quản lý, khai thác TLMB đồng thời chủ động tăng cường năng lực cán bộ nhằm thực hiện tốt các mục tiêu trên [25]

1.4.3 Quy định và yêu cầu từ Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO

1.4.3.1 Khái quát về Chương trình ký ức thế giới

Chương trình Ký ức thế giới (Memory of the world – viết tắt là MOW)

là một chương trình tiên phong của UNESCO, được UNESCO khởi xướng vào năm 1992, xuất phát từ nhu cầu ngày càng tăng về việc bảo tồn và tiếp cận những di sản tài liệu quý hiếm có nguy cơ bị xâm hại và mai một ở nhiều nước

và các khu vực khác nhau trên thế giới Vì nhiều lý do khác nhau như cướp bóc, lãng phí, buôn lậu, hủy diệt, thiếu kho bảo quản hay thiên tai, di sản tài liệu của nhiều dân tộc đã và đang phải chịu nhiều số phận khác nhau Chương trình MOW ra đời nhằm ghi nhận những di sản tài liệu có giá trị, mang tầm quan trọng cấp quốc tế, khu vực và quốc gia, đồng thời hướng sự chú ý của thế giới tới việc gìn giữ các sưu tập tài liệu quý, hiếm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và tiếp cận chúng

Đối tượng mà chương trình MOW hướng tới là toàn bộ di sản tài liệu ở các thể loại vật mang tin khác nhau thuộc sở hữu của cá nhân hay tập thể, cơ quan, tổ chức có giá trị và mang ý nghĩa lịch sử, có tác động ảnh hưởng ở trong nước, khu vực và trên toàn thế giới

Chương trình Ký ức thế giới được quản lý bởi các ủy ban ở 03 cấp: Quốc

tế, khu vực và quốc gia Ở cấp quốc gia, Ủy ban tư vấn quốc tế (IAC) do Tổng Giám đốc UNESCO chỉ định, có nhiệm vụ lập kế hoạch các chương trình hoạt động của MOW ở phạm vi thế giới, tìm các nguồn kinh phí tài trợ cho hoạt động, xem xét và công nhận “Ký ức thế giới” cho các dự án được chọn, quản

lý Danh mục MOW của thế giới Ở cấp khu vực có các Ủy ban khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Ủy ban khu vực châu Mỹ La-tinh và Caribê và Mạng lưới

Ký ức thế giới khu vực Trung Á Ở cấp quốc gia có các Ủy ban Quốc gia Hiện

Ngày đăng: 02/07/2023, 00:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Chương (2017), “Các tác nhân dẫn đến tình trạng cong, vênh của Mộc bản - Những giải pháp hạn chế và xử lý, Kỷ yếu Tọa đàm khoa học quốc tế “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”, (83-86) Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tác nhân dẫn đến tình trạng cong, vênh của Mộc bản - Những giải pháp hạn chế và xử lý
Tác giả: Phạm Văn Chương
Nhà XB: Kỷ yếu Tọa đàm khoa học quốc tế “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”
Năm: 2017
2. Phạm Thị Huệ (2012), “Bảo quản và phát huy giá trị tài liệu Mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thế giới” Báo cáo tham luận tại Đại hội Lưu trữ quốc tế, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo quản và phát huy giá trị tài liệu Mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thế giới
Tác giả: Phạm Thị Huệ
Nhà XB: Báo cáo tham luận tại Đại hội Lưu trữ quốc tế
Năm: 2012
3. Phạm Thị Huệ (2017), “Công tác bảo quản Mộc bản tại Việt Nam - Những vấn đề đặt ra đối với việc bảo tồn Mộc bản triều Nguyễn”, Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học quốc tế: “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”, (100-105) Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác bảo quản Mộc bản tại Việt Nam - Những vấn đề đặt ra đối với việc bảo tồn Mộc bản triều Nguyễn
Tác giả: Phạm Thị Huệ
Nhà XB: Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học quốc tế
Năm: 2017
4. Nguyễn Xuân Hùng (2015), “Gìn giữ Mộc bản cho muôn đời sau”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế chuyên đề “Di sản văn hóa Cung đình Huế - Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy giá trị” (404-413), Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gìn giữ Mộc bản cho muôn đời sau
Tác giả: Nguyễn Xuân Hùng
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế chuyên đề “Di sản văn hóa Cung đình Huế - Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy giá trị”
Năm: 2015
5. Nguyễn Xuân Hùng, Nguyễn Ngọc Châu (2014), “Chính quyền Việt Nam cộng hòa với việc bảo quản khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Lưu trữ Việt Nam cộng hòa (1955 -1975) - Từ góc nhìn lịch sử và lưu trữ học”, (311-324) TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính quyền Việt Nam cộng hòa với việc bảo quản khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Xuân Hùng, Nguyễn Ngọc Châu
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Lưu trữ Việt Nam cộng hòa (1955 -1975) - Từ góc nhìn lịch sử và lưu trữ học”
Năm: 2014
6. Nguyễn Xuân Hùng, Phạm Thị Yến (2014), “Quá trình di chuyển TLLT từ Huế lên Đà Lạt năm 1960-1961”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Lưu trữ Việt Nam cộng hòa (1955 -1975) - Từ góc nhìn lịch sử và lưu trữ học”, (174-183) TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình di chuyển TLLT từ Huế lên Đà Lạt năm 1960-1961
Tác giả: Nguyễn Xuân Hùng, Phạm Thị Yến
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Lưu trữ Việt Nam cộng hòa (1955 -1975) - Từ góc nhìn lịch sử và lưu trữ học”
Năm: 2014
7. Nguyễn Trọng Kiên (2017), “Những giải pháp khắc phục tình trạng nứt vỡ của Mộc bản Triều Nguyễn”, Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học quốc tế: “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”, (87-95) Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp khắc phục tình trạng nứt vỡ của Mộc bản Triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Trọng Kiên
Nhà XB: Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học quốc tế
Năm: 2017
8. Nội Các Triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ
Tác giả: Nội Các Triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2005
9. Nguyễn Thị Bích Ngọc (2017), “Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà – Khuyết tật trên Mộc bản và giải pháp khắc phục”, Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà – Khuyết tật trên Mộc bản và giải pháp khắc phục
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Ngọc
Nhà XB: Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học
Năm: 2017
10. Phan Đình Nham, Bùi Loan Thùy (2015), Lưu trữ học đại cương, Nxb Đại học quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu trữ học đại cương
Tác giả: Phan Đình Nham, Bùi Loan Thùy
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TPHCM
Năm: 2015
11. Nhiều tác giả (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
12. Vũ Thị Phụng, Trần Thanh Tùng (2017), “Bảo quản các di sản tư liệu mộc bản ở Việt Nam - nhìn từ góc độ quản trị rủi ro”, Kỷ yếu Tọa đàm khoa học quốc tế “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”, (7-14) Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo quản các di sản tư liệu mộc bản ở Việt Nam - nhìn từ góc độ quản trị rủi ro
Tác giả: Vũ Thị Phụng, Trần Thanh Tùng
Nhà XB: Kỷ yếu Tọa đàm khoa học quốc tế “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”
Năm: 2017
13. Lương Hồng Quang (2017), “Xây dựng hệ thống Bảo quản Mộc bản dựa vào cộng đồng”, Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học quốc tế: “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”, (15-28) Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học quốc tế: “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”
Tác giả: Lương Hồng Quang
Nhà XB: Đà Lạt
Năm: 2017
15. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2006
16. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2001), Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục, tập 1
Tác giả: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
17. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2001), Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2001), Đại Nam thực lục, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục, tập 3
Tác giả: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
19. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2001), Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục
Tác giả: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
20. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2001), Đại Nam thực lục, tập 7, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục, tập 7
Tác giả: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
21. Nguyễn Sử (2017), “Nghiên cứu về quy trình chế tác mộc bản truyền thống Việt Nam”, Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học quốc tế: “Chia sẻ kinh nghiệm về công tác bảo quản tài liệu Mộc bản tại các nước Châu Á”, (29-38) Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về quy trình chế tác mộc bản truyền thống Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Sử
Nhà XB: Kỷ yếu Tọa đàm Khoa học quốc tế
Năm: 2017

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3-2: Mộc bản được xếp trên giá bảo quản - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 2: Mộc bản được xếp trên giá bảo quản (Trang 104)
Hình 3-3: Bìa sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 3: Bìa sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ (Trang 105)
Hình 3-4: Bìa sách Hoàng Việt luật lệ - Bộ sách lớn đầu tiên do Triều Nguyễn biên soạn - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 4: Bìa sách Hoàng Việt luật lệ - Bộ sách lớn đầu tiên do Triều Nguyễn biên soạn (Trang 106)
Hình 3-5: Bìa sách Đại Việt Sử ký toàn thư - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 5: Bìa sách Đại Việt Sử ký toàn thư (Trang 106)
Hình 3-6: Vệ sinh mộc bản bị rêu mốc bằng kỹ thuật thủ công - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 6: Vệ sinh mộc bản bị rêu mốc bằng kỹ thuật thủ công (Trang 107)
Hình 3-8 và 3-9: In dập TLMB tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 8 và 3-9: In dập TLMB tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Trang 108)
Hình 3-10 và 3-11: Kiểm tra, thống kê tình trạng vật lý TLMB - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 10 và 3-11: Kiểm tra, thống kê tình trạng vật lý TLMB (Trang 109)
Hình 3-12: Khu trưng bày TLMB ngoài trời tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 12: Khu trưng bày TLMB ngoài trời tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Trang 110)
Hình 3-13: Giới thiệu TLMB tại Huế - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 13: Giới thiệu TLMB tại Huế (Trang 110)
Hình 3-14 và 3-15: Khách tham quan trưng bày mộc bản tại Văn Miếu Quốc Tử Giám - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 3 14 và 3-15: Khách tham quan trưng bày mộc bản tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Trang 111)
Hình 4-2: Khắc in mộc bản vẫn tiếp tục được lưu truyền tại Trung Quốc và Hàn Quốc - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 4 2: Khắc in mộc bản vẫn tiếp tục được lưu truyền tại Trung Quốc và Hàn Quốc (Trang 112)
Hình 4-3: Bảo tàng Khắc in Trung Quốc tại  Dương Châu - nơi bảo quản hơn 100.000 mộc - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 4 3: Bảo tàng Khắc in Trung Quốc tại Dương Châu - nơi bảo quản hơn 100.000 mộc (Trang 113)
Hình 4-4: Nhà kho bảo quản mộc bản tại Bảo tàng Dương Châu - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 4 4: Nhà kho bảo quản mộc bản tại Bảo tàng Dương Châu (Trang 113)
Hình 4-5: Nhà kho bảo quản mộc bản Jangpangak của Viện Chấn hưng Quốc học Hàn - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 4 5: Nhà kho bảo quản mộc bản Jangpangak của Viện Chấn hưng Quốc học Hàn (Trang 114)
Hình 4-6: Mộc bản trong kho nhà kho Jangpangak  của Viện Chấn hưng Quốc học Hàn Quốc (Ảnh: tác giả) - Bảo Quản Và Phát Huy Giá Trị Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn .Pdf
Hình 4 6: Mộc bản trong kho nhà kho Jangpangak của Viện Chấn hưng Quốc học Hàn Quốc (Ảnh: tác giả) (Trang 114)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w