sinh lao động NVYT tại các khoa/ phòng 105 4.3 Về đề xuất giải pháp cải thiện sức khoẻ, chế độ chính sách cho NVYT làm việc tại tám bệnh viện nghiên cứu 105 các bệnh viện để cải thiện
Trang 1LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CÔNG ĐOÀN NGÀNH Y TẾ
BÁO CÁO KHOA HỌC TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
ĐỀ TÀI CẤP THÀNH PHỐ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỨC KHỎE VÀ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN Y
TẾ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN CỦA HÀ NỘI
Mã số: 01C-08/05-2015-2
Chủ nhiệm đề tài: BSCKI TRỊNH HUY TOÀN
Chủ tịch Công đoàn Ngành Y Tế Hà Nội
HÀ NỘI - 2017 LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 2CÔNG ĐOÀN NGÀNH Y TẾ
BÁO CÁO KHOA HỌC TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỨC KHỎE VÀ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN Y
TẾ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN CỦA HÀ NỘI
CÔNG ĐOÀN NGÀNH Y TẾ
Trang 3BÁO CÁO KHOA HỌC TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỨC KHỎE VÀ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN Y
TẾ TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN CỦA HÀ NỘI
Mã số: 01C-08/05-2015-2
Đơn vị chủ trì đề tài: CÔNG ĐOÀN NGÀNH Y TẾ HÀ NỘI
Chủ nhiệm đề tài: BSCKI TRỊNH HUY TOÀN
DANH SÁCH CÁC CÁ NHÂN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 BS Trịnh Huy Toàn: Công đoàn ngành y tế Hà Nội – Chủ nhiệm đề tài
2 CN Trịnh Tố Tâm : Công đoàn ngành y tế Hà Nội – Thư ký đề tài
3 Ths Trần Nhị Hà : Sở Y tế Hà Nội - Thành viên
4 BS Nguyễn Duy Thụy: Trung tâm BVSKLĐ&MT - Thành viên
5 BS Hoàng Thúy Hải: Công đoàn ngành y tế Hà Nội - Thành viên
6 BS Nguyễn Văn Thắng: Công đoàn ngành y tế Hà Nội - Thành viên
7 BS Trần Ngọc Cường: Bệnh viện ĐK Hà Đông - Thành viên
8 Ths Hoàng Minh Hiền: Sở Y tế Hà Nội - Thành viên
9 Ks Tạ Văn Dưỡng: Liên đoàn lao động TP Hà Nội - Thành viên
10 CN Nguyễn Thị Vân: Công đoàn ngành y tế Hà Nội - Thành viên ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
Trang 4gan B)
HIV/AIDS : Human Immuno-deficiency Virus/Acquired Immuno
Deficiency Syndrom (Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người/ Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
Trang 6MỤC LỤC
Trang Các chữ viết tắt
1.4 Các chế độ chính sách cho NVYT và các giải pháp bảo vệ
và nâng cao sức khoẻ cho NVYT
19
Trang 72.1.3 Thời gian điểm nghiên cứu 34
2.3 Các biện pháp khống chế sai số nghiên cứu định lượng 44
3.1 Đánh giá thực trạng sức khoẻ của nhân viên y tế tại
một số bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội, năm
2015 - 2016
47
NVYT
58
3.2 Đánh giá việc thực hiện chế độ chính sách đối với
nhân viên y tế tại tám bệnh viện nghiên cứu
Trang 83.2.3 Tình hình thực hiện các chế độ chính sách về an toàn vệ
sinh lao động
74
với NVYT tại các khoa/ phòng
77
3.3 Đề xuất giải pháp cải thiện sức khoẻ, chế độ chính
sách cho NVYT làm việc tại tám bệnh viện nghiên cứu
80
các bệnh viện để cải thiện chế độ làm việc, nghỉ ngơi bảo
đảm sức khoẻ cho NVYT
80
4.1 Về thực trạng sức khỏe, bệnh tật của NVYT tại 8 bệnh
viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội (2015-2016)
85
tế tại các bệnh viện nghiên cứu
94
4.2 Đánh giá việc thực hiện chế độ chính sách đối với nhân
viên y tế tại tám bệnh viện nghiên cứu
103
Trang 9sinh lao động
NVYT tại các khoa/ phòng
105
4.3 Về đề xuất giải pháp cải thiện sức khoẻ, chế độ chính
sách cho NVYT làm việc tại tám bệnh viện nghiên cứu
105
các bệnh viện để cải thiện chế độ làm việc, nghỉ ngơi bảo
đảm sức khoẻ cho NVYT
105
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC (BỘ CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU)
Trang 10DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
1 Nguyễn Thị Hoà, Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Huy Toàn và Trịnh Tố
Tâm (2017), “Thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của nhân viên y tế tại một số
bệnh viện thuộc Sở Y tế Hà Nội (2015 – 2016)”, Tạp chí Y học Cộng
đồng, Số 38 tháng 5+6/2017, tr 74 – 78
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhân lực y tế được coi là một thành phần rất quan trọng của hệ thống y tế,
là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế Quan điểm chỉ đạo của Đảng đã thể hiện rõ nhân lực y tế cần được quan tâm tuyển dụng, đào tạo,
sử dụng và đãi ngộ đặc biệt [1]
Nguồn nhân lực trong ngành y tế có vai trò quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tính mạng người bệnh, sức khỏe của nhân dân Môi trường và điều kiện lao động, làm việc của ngành y tế rất đa dạng, phức tạp với nhiều yếu tố nguy cơ
có thể ảnh hưởng đến sức khỏe (SK) của nhân viên y tế (NVYT), nhất là NVYT làm việc trong môi trường bệnh viện (BV) NVYT trong các BV thường phải làm việc với cường độ lớn, còn phải tham gia trực chuyên môn 24/24 giờ liên tục, thường xuyên [2] Vì vậy, nguy cơ NVYT bị lây nhiễm các bệnh liên quan đến nghề nghiệp là rất cao, ngoài ra còn gặp những rủi ro nghề nghiệp như bị bệnh nhân (BN), người nhà BN đe doạ, hành hung gây thương tích về tinh thần
thăm BN ở BV Việt Pháp, có tới 58,7% trường hợp là NVYT bị bệnh do tiếp xúc với BN, trong đó: y tá, hộ lý chiếm tỷ lệ cao nhất (62,2%), đến bác sỹ (24,3%) Có
3 bác sỹ và 2 y tá tử vong, đều là nhân viên BV Việt – Pháp [4]
Trang 12Một nghiên cứu tại 6 BV khu vực Hà Nội (2012) cho thấy: tỷ lệ NVYT bị tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn trong 12 tháng là 64,8% Vị trí bị tổn thương do vật sắc nhọn nhiều nhất là ở bàn tay và ngón tay (94,5%) Các trường hợp tổn thương do vật sắc nhọn có thể phơi nhiễm với BN HIV (3,9%), BN HBV/HCV (7,8%) Đáng lưu ý là có 52,8% NVYT ở các BV không hề có thông tin gì về BN mà họ tiếp xúc khi xảy ra tổn thương [5]
Trong thời gian qua Chính phủ, Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều chế độ, chính sách đối với NVYT như chế độ phụ cấp đặc thù nghề nghiệp, chế độ phụ cấp chống dịch, chế độ phụ cấp trực, vv Các chế độ, chính sách đã góp phần quan trọng trong công tác chăm sóc bảo vệ SK cũng như phòng chống bệnh nghề nghiệp cho NVYT Theo Thống tư số 15/2016/TT-BYT, ngày 15/5/2016 của Bộ Y tế, ngành Y tế có 7/34 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm [50]
Đã có một số nghiên cứu về điều kiện lao động và SK nghề nghiệp cho người lao động nói chung, nhưng nghiên cứu về chế độ, chính sách đối với NVYT thì rất ít đề tài đề cập đến
Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng sức khoẻ và
thực hiện chế độ chính sách đối với nhân viên y tế tại một số bệnh viện của
Hà Nội” với các mục tiêu:
1) Đánh giá thực trạng sức khoẻ của nhân viên y tế tại một số bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội, năm 2015 - 2016
2) Đánh giá việc thực hiện chế độ chính sách đối với nhân viên y tế tại một số bệnh viện nghiên cứu
3) Đề xuất giải pháp cải thiện sức khoẻ, chế độ chính sách cho nhân viên y tế làm việc tại các bệnh viện nghiên cứu
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VÀ TÍNH CHẤT ĐẶC THÙ CỦA NHÂN LỰC Y TẾ
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm về sức khỏe
Theo định nghĩa về sức khoẻ của WHO: "Sức khoẻ (Health) là một trạng thái thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật"
Đó chính là: các yếu tố về thể lực, thể chất và tâm thần của SK gắn liền với hoạt động xã hội, trong lao động sản xuất, phát triển xây dựng và sáng tạo
Xã hội phát triển, nhu cầu nghề nghiệp, tính chất cường độ lao động đòi hỏi sự phù hợp và đáp ứng của SK Khi lao động với cường độ cao, tiêu hao nhiều năng lượng thì đòi hỏi con người phải có SK và thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền ), thể chất là chức năng tim mạch, hô hấp tốt Trong lao động sáng tạo, phát minh đòi hỏi con người phải có hệ thần kinh nhanh nhạy và khả năng tư duy tốt [6]
1.1.1.2 Khái niệm nhân lực y tế
WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người
tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” Theo đó, nhân
lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý
và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế [2]
Ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, NVYT làm công tác chuyên môn y, dược, kể cả những người không có trình độ chuyên môn y dược như kế toán, lái xe, nhân viên tin học,
Trang 14KTV trang thiết bị y tế, cán bộ BHYT,…thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y) hay ngoài công lập đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân [2]
1.1.1.3 Khái niệm về bệnh viện
* Định nghĩa bệnh viện:
Năm 1957, WHO đã định nghĩa: “Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh; dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới cả gia đình và môi trường cư trú Bệnh viện (BV) còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu xã hội học” [7]
* Phân loại bệnh viện Việt Nam:
Căn cứ vào quy mô và tổ chức, Thông tư số 23/2005/TT-BYT năm 2005 của Bộ Y tế, quy định BV được phân làm 5 hạng: BV hạng đặc biệt; BV hạng I;
BV hạng II; BV hạng III; BV hạng IV [7]
Các BV huyện và một số BV Bộ, ngành có quy mô từ 30 -150 giường bệnh được tổ chức như quy định đối với BV đa khoa hạng III Các BV khu vực thuộc tỉnh/thành phố và một số BV Bộ ngành có quy mô từ 150 -400 giường được tổ chức trên cơ sở BVĐK hạng II Các BV Trung tâm tỉnh/ thành phố với 300- 700 giường có thể tổ chức khoa phòng như với BVĐK hạng II hoặc I BV Trung ương có quy mô 500 -1500 giường được tổ chức khoa phòng như BV hạng I và có thể tổ chức các khoa mang tính chuyên khoa sâu theo sự phát triển của mỗi BV BV hạng đặc biệt có quy mô từ 1.200 giường trở lên và đạt 5 tiêu chí xếp hạng BV hạng đặc biệt tại mục II [7]
1.1.1.4 Khái niệm nguy cơ và yếu tố nguy cơ
Theo Ropeik và Grey (2002): “Nguy cơ được định nghĩa là xác suất mà
việc phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ sẽ để lại một hậu quả xấu”
Yếu tố nguy cơ (Hazard) là một chất, một vi sinh vật, một yếu tố… có khả
năng gây ra tác động tiêu cực lên sức khỏe nếu có sự tiếp xúc
Trang 15Bản chất các yếu tố nguy cơ có thể là: Các yếu tố vật lý, hóa học, sinh vật; - Các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, địa lý, sinh lý Có nghĩa là nguy cơ thường phụ thuộc vào xác suất xảy ra sự kiện, hậu quả khi xảy ra sự kiện, mức độ độc hại của chất/ yếu tố phơi nhiễm và mức độ phơi nhiễm [8]
1.1.2 Tính chất đặc thù của nhân lực y tế
Nghị quyết số 46/NQ-TW, ngày 23/02/2005, của Bộ Chính trị đã nêu rõ
nguyên tắc chỉ đạo nguồn nhân lực y tế (NLYT), cụ thể là “Nghề y là một nghề
đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt…” [1] Để
đổi mới quản lý nhà nước về nguồn NLYT, cần có nhận thức đúng về tính đặc thù của nguồn NLYT Hoạt động của ngành y tế liên quan trực tiếp đếÝTK nhân dân, tính mạng người bệnh và đòi hỏi nhiều lao động
Nguồn nhân lực trong ngành y tế có vai trò quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tính mạng người bệnh, SK của nhân dân, chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Việc cung ứng các dịch vụ y tế theo từng người bệnh về bản chất đòi hỏi sử dụng nhiều lao động Trong cung ứng mỗi dịch vụ y tế, ít nhất cần có sự tiếp xúc riêng trực tiếp giữa NVYT và người bệnh Trong những ca phức tạp có thể cần tới cả một kíp (tập thể) NVYT với các thành phần khác nhau dành riêng cho việc chăm sóc cho một người bệnh Thậm chí có những ca đơn giản nhưng vẫn cần hàng loạt các dịch vụ kỹ thuật, chuyên môn khác nhau phối hợp chăm sóc cho một người bệnh Vì vậy, bản chất của việc cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi một lực lượng NLYT đủ lớn, và bất chấp nguồn chi trả, tỷ lệ tương đối lớn ngân sách CSSK cần được dành cho NLYT Việc đầu tư cho nguồn NLYT rất
có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội, và cũng như việc đầu tư vào lĩnh vực khác, khi đầu tư vào NLYT cần bảo đảm rằng nguồn lực này được sử dụng hợp lý và tránh lãng phí Nhân lực trong ngành y tế thường phải làm việc với cường độ lớn (đôi khi liên tục 24/24 giờ; nhất là ở các BV quá tải); môi trường làm việc
Trang 16độc hại (dịch bệnh, truyền nhiễm, phóng xạ,…) Chính vì thế họ cần được đãi ngộ đặc biệt [2]
1.2 THỰC TRẠNG SỨC KHỎE, BỆNH TẬT VÀ ĐẶC ĐIỂM NGHỀ NGHIỆP CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
Lao động của NVYT là lao động đặc thù, đối tượng lao động của họ là người bệnh, những người đang có vấn đềÝTK, tâm thần hoặc mắc bệnh truyền nhiễm có khả năng lây nhiễm cao, những BN tâm thần, trầm cảm, hoang tưởng
có thể làm hại NVYT bất kỳ lúc nào
Nghiên cứu của Prüss - Üstün A, Rapiti E, Hutin Y, trong năm 2000 trên toàn thế giới có 16.000 người nhiễm HCV, 66.000 người nhiễm HBV và 1.000 người nhiễm HIV, có một tỷ lệ không nhỏ NVYT cũng mắc bệnh này do tiếp xúc nghề nghiệp qua các vết thương da như 39% NVYT nhiễm HCV, 37% NVYT nhiễm HBV và 4,4% nhiễm HIV ở NVYT do nghề nghiệp Vì vậy phơi nhiễm nghề nghiệp do tổn thương qua da là nguồn đáng kể gây các lây nhiễm bệnh với các mầm bệnh đường máu ở các NVYT chăm sóc[9]
Nghiên cứu Fredrick Kateeraa, Timothy D Walkerb,c, Leon Mutesac và cộng sự [10] từ 10/2013-12/2013 thì Viêm gan B (HBV) và viêm gan C (HCV)
là những thách thức y tế công cộng toàn cầu quan trọng với NVYT nguy cơ phơi nhiễm cao, vì vậy họ đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang về tỷ lệ hiện nhiễm viêm gan B và C trong NVYT tại BV đại học ở Rwanda trên 378 NVYT, kết quả cho thấy tỷ lệ HBsAg (+) là 2,9% (11/378; 95% CI: 1,9-4,6%) và anti-HCV dương 1,3% (5/378; 95% CI: 0,7-2,7%) tiếp xúc nghề nghiệp với máu đã được báo cáo trong năm 57,1% (216/378)
Nghiên cứu của Nguyễn Quang Tập tại 3 BV của TP Hải Phòng (2012), cho thấy: tỷ lệ nhiễm HBV chung của 3 BV là 14,8%, tỷ lệ này tăng dần theo nhóm tuổi và tương đồng nhau ở hai giới nam và nữ (14,5% so với 14,9%) Tỷ
lệ nhiễm HBV cao nhất ở khoa lây (46,2%) Các khoa có tỷ lệ nhiễm tương đối cao là Hồi sức cấp cứu – mổ (27,3%), XN (24,2%), sản (18,3%) Nguy cơ nhiễm
Trang 17HBV của đối tượng tiếp xúc trực tiếp cao hơn gấp 1,67 lần so với đối tượng tiếp xúc gián tiếp [11]
Nguyễn Tùng Linh, Trương Quang Dũng và CS nghiên cứu trên 1782 nhân viên y tế công tác ở các BV trong ngành quân y cho thấy: trong khi hoạt động nghề nghiệp, có nhiều NVYT phải lao động ở tư thế bất lợi như 50,7% ở tư thế đứng > 50% thời gian lao động, chỉ có 38,2% lao động ở tư thế ngồi > 50% thời gian lao động, ngoài ra còn tư thế cúi, tư thế xoay các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến SK của NVYT [12]
Từ năm 2004 – 2006, Nguyễn Thị Bích Diệp, nghiên cứu tại 100 cở y tế thuộc hệ điều trị của tất cả các tuyến (BV tuyến Trung ương (4.840 NVYT), BV tuyến tỉnh (2.325 NVYT), BV tuyến huyện (881 NVYT) và trạm y tế xã (216 NVYT) Tổng số: 8.262 NVYT Kết quả cho thấy: [13]
+ NVYT tự đánh giá về tình trạng SK hiện tại: cảm thấy SK tốt (24%), SK trung bình (73,7%), yếu (2,3%)
+ Có 28,4% bị ốm trong 1 tháng qua tính từ trước ngày điều tra, trong đó
ho, cảm cúm chiếm tỷ lệ cao nhất (13,5%) Đáng chú ý là có 0,3% đang bị bệnh viêm gan vi rút
+ Có 28,6% cho rằng đang mắc các bệnh mạn tính, trong đó cao nhất là loét dạ dày, tá tràng (96,2%)
+ Có 17,2% cho rằng bản thân đã từng bị lây bệnh tại nơi làm việc là BV,
cơ sở điều trị, trong đó các bệnh bị lây gồm: Bệnh hô hấp: 8% (SARS 0,75%; Lao 2,2%; viêm phổi 1,9%…); Bệnh lây qua đường máu: 6,1% (Sốt rét 0,1%; Phơi nhiễm HIV 0,3%; Viêm gan B 1,2% ); Bệnh đường tiêu hoá: 2,9% (Tả 0,1%; Lỵ 0,8%; Viêm gan A 0,1% ); các bệnh lây nhiễm khác (4,4%)
+ Tỷ lệ NVYT bị lây nhiễm bệnh theo chức danh chuyên môn: Bác sĩ (20,8%), Dược sĩ (10,8%), Y tá/điều dưỡng (16,7%), Hộ lý (13,9%), Kỹ thuật viên (14,6%), khác 12,4%
Trang 18+ Tỷ lệ NVYT bị lây nhiễm bệnh theo chuyên khoa: Khoa/phòng khám bệnh (20,1%), Ngoại, GMHC (13,5%), HSCC (23,7%), Sản (10,5%), Nhi (22,5%), Ung bướu (15,7%), Tâm thần (97,7%), Truyền nhiễm (25,3%), Xét nghiệm (17,2%), Chẩn đoán chức năng (16,7%)
+ Tỷ lệ NVYT bị tổn thương do vật sắc nhọn là 57,3%
+Tình hình sức khoẻ và bệnh tật của NVYT qua khám lâm sàng:
Bảng 1.1 Phân loại sức khoẻ NVYT qua khám lâm sàng (n = 1.087)
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp, tr 82 [13])
NVYT hệ điều trị chủ yếu có sức khỏe loại I và loại II (71,3%) Tuy
nhiên, vẫn có sức khỏe loại IV và loại V (3,5%)
Trang 19Ngoài tỷ lệ các bệnh thông thường mắc cao chung như bệnh Răng hàm mặt 40,8%, Tai mũi họng 37,05, Mắt 27,7% thì NVYT cũng có một tỷ lệ đáng
kể mắc các bệnh tiêu hóa 8,4%, da 7,1%, tim mạch 5,4%, hô hấp 3,7%
Bảng 1.3 Kết quả xét nghiệm máu ở NVYT (n = 1.547)
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp, tr 85 [13])
Có nhiều loại nguồn bệnh như: BN, các dụng cụ y tế, môi trường ô nhiễm NVYT trực tiếp tiếp xúc với BN nên nguy cơ bị lây nhiễm bệnh rất cao Việc lây nhiễm các nhóm bệnh lây truyền qua đường máu, đường hô hấp, đường
da và niêm mạc có thể gặp ở bất cứ cơ sở KCB nào Tỷ lệ NVYT đã từng mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp là 15,7%, nhóm NVYT có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là khoa truyền nhiễm 24,5%; khoa giải phẫu bệnh, pháp y là 19,4%; các khoa nội, nhi, khám bệnh là 20,8% [14] Nguy cơ bị lây nhiễm bệnh thường rất cao tại các nước đang phát triển và các bệnh truyền nhiễm chiếm tỷ trọng cao Năm 2003 tại Singapore, dịch Sars đã lan rất nhanh trong phạm vi NVYT, BN, khách thăm BV và những người thân của họ với 238 người nhiễm Sars và 33 người tử vong, trong số 84 ca bệnh là NVYT (42%): 49 người là y tá, 13 là bác
Trang 20sỹ và 22 là những người làm công việc khác (người phục vụ, KTV chụp X quang, người quản lý, phu khuân vác và người giám sát công việc lau dọn) [4]
Nghiên cứu của Salih Hosoglu, Zana Ahmad, Mohammed Sami Tahseen
và cộng sự tại Iraq về tỷ lệ tiếp xúc nghề nghiệp trong NVYT năm 2010, Tổng cộng có 177 người tham gia bao gồm 57 y tá / hộ sinh (32,2%), 59 bác sĩ (33,3%), 27 nhân viên trong phòng thí nghiệm (15,3%), và 34 y công / nhân viên khác (19,2%) từ 7 BV Kết quả: 67,8% số người tham gia báo cáo ít nhất một lần đã có tiếp xúc nghề nghiệp trong năm qua [15]
Đặc biệt các nhóm bệnh lây truyền qua đường hô hấp như: Sars, lao, sởi, cúm là những bệnh có khả năng lây truyền cao, khó phòng chống vì nhiều lý
do, trong đó phải kể đến lý do quan trọng là chất lượng trang thiết bị phòng hộ đặc biệt là khẩu trang không đảm bảo tiêu chuẩn có thể ngăn cản mầm bệnh, trong đó khẩu trang vải được sử dụng phổ biến ở Hà Nội (50%) tỷ lệ sử dụng khẩu trang vải ở NVYT BV trong 8 giờ làm việc là 50% NVYT vừa đeo khẩu trang phẫu thuật và khẩu trang vải trong khi làm việc chiếm 31,6%, khẩu trang vải và khẩu trang N95 là 2,2% và kết hợp 3 loại khẩu trang (vải, phẫu thuật, N95) là 1,6% , tuy nhiên việc sử dụng khẩu trang vải thường xuyên và liên tục là 33,9% [16]
Việc tiếp xúc với các bệnh phẩm như máu, các sản phẩm của máu, phân, nước tiểu Các bệnh có khả năng lây truyền qua đường máu, qua các vết xước tổn thương da như viêm gan B, HIV cũng là tác nhân bệnh lý thường gặp ở các khoa truyền nhiễm, XN, huyết học truyền máu, các NVYT làm việc trong các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu Nghiên cứu của Phạm Công Chính, Nguyễn Quốc Anh năm 2015 tại BV đa khoa trung ương Thái Nguyên cho thấy, có 71,14% NVYT thường xuyên tiếp xúc với yếu tố nguy cơ, phơi nhiễm xảy ra nhiều nhất ở NVYT khối Ngoại – Sản (89,07%) [17]
Nghiên cứu trên nhóm NVYT làm việc tại BV giảng dạy phía bắc Thái Lan, cho thấy: khả năng lây truyền các mầm bệnh qua đường máu do tổn thương
Trang 21bởi vật sắc nhọn qua da và niêm mạc vẫn diễn ra hàng ngày, mặc dù đã phát triển và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tại các cơ sở y tế Nghiên cứu của Darouiche M.H., Chaabouni T., Hammami K.J., Akrout F.M., Abdennadher M
và CS tại BV Trainee (2005 – 2009) cho thấy, trong 593 trường hợp được thông báo có tiếp xúc với máu và dịch cơ thể của BN có 74,4% là bác sỹ, y tá, KTV y
tế, còn lại 25,6% trường hợp là NVYT khác Cơ chế tiếp xúc với máu và dịch cơ thể thường là do bị kim đâm vào bàn tay (86,8%), khuôn mặt (4,3%) và chân (1,4%) [18]
Nghiên cứu khác tại hai trường đại học ở Nigeria về các yếu tố phơi nhiễm nghề nghiệp liên quan đến tiếp xúc với máu và dịch cơ thể trong NVYT, cho thấy trong số 290 NVYT tham gia nghiên cứu, có 75,8% đã từng tiếp xúc trực tiếp da với vết thương có máu; 44,7% tiếp xúc với kim tiêm của BN, 32,9% từng bị tổn thương da do các vật sắc nhọn [19]
Tiếp xúc với môi trường ô nhiễm: Với đặc điểm về điều kiện kinh tế xã hội
ở Việt Nam hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường BV là vấn đề không tránh khỏi Đặc biệt ô nhiễm môi trường BV hay gặp ở các khoa truyền nhiễm, khoa khám bệnh, khoa xét nghiệm Vì vậy, NVYT làm việc tại đây cũng có nguy cơ cao sẽ bị lây bệnh khi phải thường xuyên tiếp xúc với BN, bệnh phẩm, môi trường ô nhiễm Trong khi điều kiện về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của các BV còn thiếu, đặc biệt là ở những BV xây dựng lâu năm, các phương tiện trang thiết
bị phòng hộ cá nhân còn chưa đầy đủ, chất lượng kém như: găng tay, khẩu trang, kính Nhiên cứu của Nguyễn Thị Thu Dung (2012), cho thấy: Ở các mẫu không khí, mẫu quệt tăm bông đều tìm thấy sự có mặt của vi khuẩn lao; khu vực X quang có tỷ lệ dương tính cao nhất 7/17 mẫu, sau đó đến khu vực XN 9/27 mẫu dương tính, thứ ba là khu vực điều trị và phòng BN với 13/56 mẫu, thứ tư là khu vực khám bệnh với 1/12 mẫu [20]
+ Tiếp xúc với bức xạ: Kỹ thuật có sử dụng bức xạ ion hóa như chiếu chụp Xquang, cắt lớp vi tính, xạ trị Đối với những người nhận liều chiếu xạ thấp
Trang 22nhưng trong thời gian dài như các NVYT làm việc trong môi trường khoa X quang, xạ trị và y học hạt nhân thì có thể bị cả những tổn thương sớm và hiệu ứng muộn gây ra bởi bức xạ ion hóa, tia X, sóng điện từ trong môi trường làm việc như: các bất thường trong công thức bạch cầu, các bất thường bệnh lý ở da Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hòa ở NVYT đang làm việc tại các khoa X quang, xạ trị ung thư và y học hạt nhân tại các cơ sở y tế tỉnh Thái Nguyên: tỷ lệ bất thường dòng bạch cầu đa nhân và mono ở mức cao tương tự nhau (71%), tiếp theo là bất thường dòng bạch cầu lympho (55,6%) và ưa acid (34,4%) NVYT bức xạ bị mắc một số chứng bệnh ở hệ thống tâm, thần kinh gặp nhiều nhất (36,9%), hệ vận động (28,6%), bệnh ở da (25,3%) [21]
+ Stress trong quá trình làm việc ở NVYT: đối tượng lao động, phục vụ của cán bộ y tế chính là con người, đặc biệt là BN, những người thường xuyên chịu đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần Trong nhiều trường hợp, NVYT phải làm việc trong trạng thái lao động khẩn trương, căng thẳng, tinh thần trách nhiệm cao Bên cạnh đó, do nhu cầu KCB của nhân dân ngày càng cao, điều này càng làm cho áp lực căng thẳng đối với NVYT
Nghiên cứu Trần Thị Phương về thực trạng stress nghề nghiệp ở nhân viên điều dưỡng tại Trường đại học Y Hà Nội (2012) cho thấy: 100% Nhân viên điều dưỡng bị stress nghề nghiệp ở các mức độ khác nhau; trong đó 18,4% số nhân viên bị stress ở mức thường xuyên, 67,7% thỉnh thoảng bị stress trong công việc; Nhân viên điều dưỡng khoa hồi sức cấp cứu có mức độ stress cao (63,8%), điều dưỡng chuyên ngành lao (62,5%); thấp nhất là chuyên ngành YHCT (15,8%) [22]
1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHỎE NHÂN VIÊN Y TẾ
+ Yếu tố sinh học: Các vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn, virus có thể gặp ở các cơ sở khám bệnh, nhất là ở khoa truyền nhiễm, khoa khám bệnh, khoa
XN Mầm bệnh lây truyền qua đường máu: phơi nhiễm và lây nhiễm các tác nhân gây bệnh qua đường máu có nguy cơ rất cao ở NVYT, cho đến nay đã có
Trang 23hơn 20 loại tác nhân gây bệnh qua đường máu Phơi nhiễm với các bệnh lây truyền qua đường máu xảy ra do kim hoặc do các vật sắc nhọn bị dính máu/ dịch tiết của người bệnh đâm phải hoặc do mắt, mũi, miệng, da không lành lặn tiếp xúc với máu/ dịch tiết của người bệnh Trong đó, chủ yếu qua tổn thương do kim, vật sắc nhọn Ngoài ra, máu, chất tiết và chất bài tiết còn có thể từ môi trường và dụng cụ bị nhiễm truyền qua niêm mạc, da không lành lặn vào người bệnh và NVYT [23]
Các rủi ro nghề nghiệp: nguy cơ này thường thấy ở các bệnh viện, NVYT
có nguy cơ lây nhiễm cao các bệnh lây truyền qua đường máu, nguyên nhân liên quan đến vết thương do dụng cụ sắc nhọn đâm, nhất là các NVYT đang làm việc tại các khoa phẫu thuật, phòng mổ, nơi chăm sóc BN HIV/AIDS Phạm Công Chính, phỏng vấn trực tiếp 537 NVYT cho thấy: khối chuyên Ngoại-Sản có số NVYT tiếp xúc với máu và dịch thể chiếm tỷ lệ cao nhất Do đó, nguy cơ phơi nhiễm hoặc bị phơi nhiễm nghề nghiệp đối với HIV của các NVYT khối Ngoại - sản chiếm tỷ lệ cao nhất (89,07%) so với các khối chuyên khoa khác (khối chuyên khoa Nội-Nhi chiếm 27,61%) [17]
Nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp đối với NVYT: tai nạn rủi ro nghề nghiệp do kim tiêm và các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn có thể xảy ra ở bất cứ bộ phận nào trên cơ thể của NVYT và làm cho NVYT đứng trước nguy cơ phơi nhiễm cao như: HBV (kim xuyên da) 22-40% , HCV (kim xuyên da) 10%, HIV (kim xuyên da) 0,3%, HIV (niêm mạc) 0,09%, HIV (da không lành lặn) < 0,01% [24]
Nguyễn Thị Thúy Linh, Nguyễn Minh Sang và CS (2011), nghiên cứu rủi
ro nghề nghiệp của các bác sỹ lâm sàng tại Hà Nội cho thấy: Tỷ lệ bác sỹ gặp rủi
ro là 69%, trong đó vật sắc nhọn đâm vào là 46,1%, stress liên quan trực tiếp đến công việc là 41,9%, mắc bệnh lây truyền đường hô hấp là 40,5%, và bị BN, người nhà BN đe dọa tấn công là 35,9% [25]
Trang 24Mashoto K.O., Mubyazi G.M., Mushi A et al năm 2012, nghiên cứu trên
401 NVYT cho thấy: 96,3% NVYT cho rằng họ có nguy cơ tiếp xúc nghề nghiệp với HIV, khả năng tiếp xúc với HIV thông qua các tổn thương, tai nạn từ những vật sắc nhọn như kim tiêm, kéo và dao hoặc tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể của bệnh nhân HIV…[26]
Julienne S.N., Jerome.A., Bonaventure.J., Dora.M et al năm 2013 tại Cameroon kết quả cho thấy: trong số 150 NVYT đã được phỏng vấn, có 36,7% cho biết đã từng tiếp xúc với máu và dịch cơ thể ít nhất một lần trong trước 3 tháng, trong đó: 43,6% không được chủng ngừa HBV, 7,3% không được đeo găng tay trong tai nạn và 41% các tổn thương xảy ra trên da bị tổn thương [27]
Kết quả điều tra tình hình nhiễm virut viêm gan B trên 694 NVYT tại một
số tỉnh miền Trung nước ta cho thấy: tỷ lệ các dấu ấn miễn dịch của HBV trong nhóm nghiên cứu rất cao, tỷ lệ nhiễm HbSAg là 17,6%, tỷ lệ có Anti – HbS là 52,9% và tỷ lệ nhiễm HBV là 70,5%, NVYT làm việc tại BV tuyến tỉnh có nguy cơ nhiễm HBV cao gấp 1,5 lần so với BV huyện [28]
Các nhóm bệnh lây truyền qua đường hô hấp là nhóm bệnh khá phổ biến
và rất dễ lây do yếu tố truyền nhiễm nằm ở trong không khí, chỉ cần tiếp xúc với người bệnh trong thời gian ngắn là có thể lây bệnh Khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc làm những thủ thuật xâm lấn vào đường thở nhằm hỗ trợ hô hấp như hút đờm, máy thở, nội soi đường thở Khi những người bệnh này ho, hắt hơi sẽ làm bắn ra những giọt bắn có chứa mầm bệnh có kích thước rất nhỏ, những hạt này bay ra môi trường xung quanh sẽ lơ lửng trong không khí, và khi khô đi chúng trở nên rất nhẹ, có thể bay đi rất xa, nếu chúng ta hít phải nó có thể đi vào trong đường thở, vào tận phổi và gây bệnh Vì vậy nhân viên y tế làm việc trong các môi trường có bệnh nhân bị bệnh lây truyền qua đường hô hấp sẽ dễ bị lây nhiễm bệnh từ bệnh nhân Những bệnh lây qua đường này bao gồm 3 nhóm bệnh chính là lao, sởi và thủy đậu [23] Nghiên cứu của Grobler L., Mehtar S., Adams K., Babatunde S và CS (2016) cho thấy: NVYT chuyên ngành lao có
Trang 25khả năng bị lây bệnh cao hơn so với cộng đồng xung quanh và dân số nói chung
do thường xuyên phải tiếp xúc trong môi trường rất nhiều vi khuẩn [29]
Nguyễn Thị Thu Dung về Thực trạng lây nhiễm lao ở Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Bình, cho thấy: kết quả phản ứng Mantoux dương tính ở nhân viên BV Lao và Bệnh Phổi là 94,1%, trong khi tại BV Tâm thần, có 50% NVYT
có kết quả dương tính với phản ứng Mantoux Đường kính trung bình của phản ứng Mantoux nhóm nhân viên Bệnh viện lao và Bệnh Phổi là 16,7±6,4, chỉ số này của nhân viên Bệnh viện Tâm thần là 10,3±3,2 [[20]
Phơi nhiễm nghề nghiệp của NVYT khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể của bệnh nhân gây nên các tổn thương ở da và niêm mạc tạo thành nguy cơ lây truyền mầm bệnh qua đường máu Nghiên cứu 305 NVYT tại một số BV ở Kenya cho thấy: 25% NVYT khai báo đã từng tiếp xúc với máu và dịch cơ thể của BN trong vòng 12 tháng trước đó [30] Trong 4 năm (2010 - 2013), N
Lakshmi Priya, K Usha Krishnan, G Jayalakshmi, S Vasanthi tại Ấn Độ tiến
hành nghiên cứu phân tích về các phương thức phơi nhiễm nghề nghiệp dẫn đến nhiễm trùng huyết ở NVYT cho thấy: Phổ biến nhất là tiếp xúc với da (85%), tiếp theo là niêm mạc (13%) và tiếp xúc trên da còn nguyên vẹn (2%) Các phân tích về thực hành lâm sàng dẫn đến sự phơi nhiễm nghề nghiệp cho thấy: 45,7% xảy ra trong quá trình tiếp xúc máu, 24,7% trong phẫu thuật, thực hành lâm sàng khác liên quan đến phơi nhiễm nghề nghiệp bao gồm kim tiêm (3,8%), sinh thiết (2,8%) [31]
Nghiên cứu của Gudeta Kaweti và Teferi Abegaz trên 526 NVYT làm việc tại hai bệnh viện ở Hawassa, Ethiopia năm 2014 cho thấy: có 46% NVYT
đã từng bị tổn thương da khi đang làm việc, 28% trong số họ bị tổn thương trong vòng 1 năm trước đó nhưng chỉ có 24% số trường hợp được dự phòng lây nhiễm HIV Nguyên nhân dẫn đến các tổn thương là do tình hình khẩn cấp (28,6%), chuyển động đột ngột của BN (23,8%) [32]
Trang 26+ Các yếu tố vật lý, hóa học: Với ngành Y tế, môi trường lao động luôn tiếp xúc với rất nhiều các chất độc hại như sóng siêu âm, tia X, các bức xạ ion hóa hay các hóa chất dùng để sát khuẩn và khử trùng như formaldehyde, cồn isopropyl, phenol… Đối với các NVYT làm việc ở những nơi như khoa X quang, Ung bướu, Y học hạt nhân, Xạ trị có thể bị ảnh hưởng đến sức khỏe do tiếp xúc với các bức xạ ion hóa Tuy nhiên, tác động có hại của bức xạ lên cơ thể người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: vị trí tác động, liều lượng tác động, trạng thái của cơ thể Điều trước tiên là phải hiểu biết một cách đầy đủ những nguyên tắc chống ảnh hưởng bức xạ và kiểm tra liều lượng nhiễm bẩn phóng xạ để sớm có biện pháp khắc phục Sức khỏe của nhân viên bức xạ (NVBX) trong các cơ sở y tế ở Thái Nguyên nhìn chung là không thật sự tốt Tỷ
lệ sức khỏe đạt loại 4 và 5 cao (6,2%) Tỷ lệ một số chứng, bệnh ngoài da của nhân viên bức xạ cao (25,3%) Các chứng bệnh ở hệ thống tâm, thần kinh gặp khá nhiều (36,9%) Tỷ lệ NVBX thiếu máu tương đối cao (số mẫu bất thường về máu ở nhân viên nam chiếm tới 66,1%) Số trường hợp bất thường về số lượng bạch cầu là 36,1% [21]
Theo nghiên cứu tỷ lệ dị ứng với kháng sinh họ Beta- lactam ở 490 công nhân dược phẩm tại Xí nghiệp dược phẩm trung ương I, II và Xí nghiệp dược phẩm Hà Nội và 589 NVYT tại 7 BV trên địa bàn Hà Nội cho thấy: tỷ lệ dị ứng trong công nhân dược phẩm là 15,71%, ở NVYT BV là 9,34%, tỷ lệ dị ứng trong công nhân dược phẩm và NVYT tăng theo độ tuổi nghề, có 45,38% trường hợp xảy ra dị ứng tại nơi làm việc khi công nhân dược phẩm và NVYT tiếp xúc với kháng sinh [33]
Hà Thế Tấn và CS (2009) cho thấy: có 61,6% NVYT được điều tra cho rằng mình có nguy cơ nhiễm bệnh, nhiễm độc, nhiễm xạ, cao nhất tại các khoa cấp cứu, gây mê hồi sức 83,4%; khoa xét nghiệm 81,9%; khoa truyền nhiễm 78,6%; giải phẫu bệnh, giải phẫu 81,8%; ngoại 62,2%; phòng khám nội, nhi 55,3%; X quang, y học hạt nhân 54,8% [14]
Trang 27Dư Hồng Đức, Nguyễn Thúy Quỳnh và CS nghiên cứu về “Mối liên quan giữa chấn thương do vật sắc nhọn và bệnh viêm gan B nghề nghiệp trong nhân viên y tế”, nghiên cứu được thực hiện trên 232 NVYT tại 13 cơ sở y tế tỉnh Nam Định và Hà Nội cho thấy: có 75,4% NVYT thường xuyên phải làm thủ thuật, phẫu thuật cho BN; NVYT đã từng bị tổn thương do vật sắc nhọn trong quá trình làm việc cao là 96,8% ở nhóm bệnh và 88,2% ở nhóm chứng; 90% các chấn thương xảy ra vào ban ngày, rách da, chảy máu chiếm 22,4% Sau chấn thương chỉ có 43,4% trả lời có tiêm phòng, có đến 55,2% không sử dụng găng tay khi thực hiện các thao tác tiêm, truyền Kết quả này cho thấy, những người
đã từng bị tổn thương do vật sắc nhọn có nguy cơ mắc viêm gan B nghề nghiệp cao gấp 4,1 lần với những người chưa từng bị tổn thương, những người bị tổn thương do vật sắc nhọn vào ban đêm có nguy cơ bị bệnh viêm gan B nghề nghiệp cao gấp 2,5 lần so với nhóm người bị tổn thương vào ban ngày [34]
Phạm Công Chính, Nguyễn Quốc Anh: Nghiên cứu thực trạng nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp HIV/AIDS ở 537 NVYT tại BV Đa khoa Trung ương Thái Nguyên (2015), cho thấy: tỷ lệ bị vật sắc nhọn gây tổn thương da là 73,07%; dịch thể bắn vào da/niêm mạc (26,93%); tổn thương do tiêm/truyền là nguyên nhân hay gặp nhất (63,13%), do kim khâu da (23,73%), dao kéo phẫu thuật (9,1%) Hầu hết vị trí bị tổn thương ở tay Đối tượng thường gặp tai nạn do vật sắc nhọn là điều dưỡng, KTV (68,70%)[17]
Hà Thế Tấn và CS năm 2005 điều tra 16859 NVYT tai 73 bệnh viện từ tuyến tỉnh trở lên cho thấy: 47,72% NVYT bị tổn thương do vật sắc nhọn, cao nhất tại khoa gây mê hồi sức 72,5%, khoa ngoại 70,8%; 12,98% NVYT thường xuyên bị stress nghề nghiệp; 20,18% NVYT bị lăng mạ hành hung, cao nhất ở khoa tâm thần 45,39%, tiếp đến khoa khám bệnh, nội, nhi là 27,06% Ngoài ra có 41,93% NVYT có gánh nặng trong công việc, trong đó nhóm nhân viên quản lý 63,24%, khoa chẩn đoán hình ảnh 50,91% [35]
Trang 28+ Yếu tố tâm lý lo lắng trong quá trình làm việc: Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà, Tạ Tuyết Bình, Trần Thanh Hà, Phạm Ngọc Quỳ năm 2006 cho thấy NVYT có mức độ căng thẳng hệ tim mạch cao Trong khi làm việc, tần số nhịp tim trung bình (tính theo từng giờ) của bác sỹ, y tá là 91± 11 nhịp/phút; trong đó 50,8% số bác sỹ, y tá có nhịp tim TB > 90 nhịp/phút trong suốt quá trình làm việc và 92% có nhịp tim tối đa > 90 nhịp/phút Bác sỹ có mức độ căng thẳng hệ tim mạch cao hơn y tá Bác sỹ, y tá khoa điều trị tích cực có mức độ căng thẳng
hệ tim mạch cao nhất (76,5%), sau đó đến khoa ngoại (57,1%), khoa khám bệnh (37,5%), các khoa khác [36]
Nguyễn Thị Thúy Linh, Nguyễn Minh Sang, Nguyễn Đức Hinh và CS, nghiên cứu trên 411 bác sĩ lâm sàng tại một số BV tuyến Trung ương, tuyến Thành phố và tuyến quận/huyện trên địa bàn Hà Nội (2011) cho thấy: 69,0% bác
sĩ gặp phải ít nhất một loại rủi ro trong một năm qua, trong đó tỷ lệ bác sĩ gặp một loại rủi ro là 35,9%, tỷ lệ gặp 2 loại rủi ro (28,2%), 3 loại rủi ro (17,6%) và
từ 4 loại rủi ro trở lên (18,3%) Tỷ lệ bác sĩ bị vật sắc nhọn đâm vào chiếm tỷ lệ cao nhất (46,1%), tỷ lệ này đồng thời cũng cao nhất ở nhóm các bác sĩ làm việc tại các cơ sở y tế tư nhân (45,9%) Đối với BV tuyến Trung ương thì bác sĩ bị stress là nhiều nhất (49,7%); ở BV tuyến Thành phố và quận/huyện, bác sĩ bị BN/người nhà BN đe dọa, xúc phạm, chửi mắng thậm chí tấn công chiếm tỷ lệ nhiều nhất (49,5%) [25]
Dương Khánh Vân, nghiên cứu tại 6 BV khu vực Hà Nội cho thấy: tỷ lệ NVYT bị tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn trong 12 tháng là 64,8%; trong đó, tỷ lệ NVYT nữ bị tổn thương do vật sắc nhọn cao hơn ở nam giới (66,3% so với 60,4%) Các y tá và điều dưỡng có tần suất bị tổn thương cao nhất, đứng thứ hai là nhóm y và bác sỹ, tiếp đến là các nhóm khác như hộ lý, y công, kỹ thuật viên Vị trí bị tổn thương do vật sắc nhọn nhiều nhất là ở bàn tay
và ngón tay (94,5%) Các trường hợp tổn thương do vật sắc nhọn có thể phơi nhiễm với bệnh nhân HIV (3,9%), BN HBV/HCV (7,8%) Một điều rất nguy
Trang 29hiểm là một bộ phận lớn NVYT (52,8%) ở các BV không hề có thông tin gì về
BN mà họ tiếp xúc khi xảy ra tổn thương[5]
Memish Z.A., Assiri A.M., Eldalatony M.M., Hathout H.M., Alzoman H., Undaya M năm 2012, nghiên cứu các nguy cơ liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn trong NVYT tại BV ở Ả-rập Xê-út cho thấy: Trong 5 năm (2007 - 2011), có 477 NVYT bị tổn thương do vật sắc nhọn được báo cáo chiếm tỷ lệ 13,84% trong năm 2009, hầu hết các tai nạn gây ra bởi ống thuốc tiêm, kim tiêm
và bàn tay là bộ phận cơ thể bị ảnh hưởng nhiều nhất [37]
Một vấn đề góp phần làm tăng thêm căng thẳng trong NVYT đó là tình trạng ngày càng nhiều những vụ BN và người nhà BN lăng mạ, hành hung NVYT, đặc biệt khi làm việc ở những khoa có độ nhạy cảm cao như khoa khám bệnh, khoa cấp cứu…Đã có rất nhiều vụ bạo lực xảy ra trong quá trình khám bệnh, điều trị, nhiều nhất là tình trạng NVYT bị lăng mạ, bên cạnh đó là tình trạng NVYT bị hành hung đánh đập, có trường hợp NVYT phải đi nằm viện điều trị để lại hậu quả không những về mặt kinh tế mà còn là về mặt tinh thần
Hà Thế Tấn (2009) cho thấy, từ 1995 – 2004, có 2.487 NVYT bị lăng mạ và 327 NVYT bị hành hung tại nơi làm việc chuyên môn (chỉ có 68,8% số vụ hành hung được thống kê), trong đó, 10 người phải nằm viện điều trị, 6 người phải giám định thương tật và có một trường hợp bị tử vong [14]
1.4 CÁC CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH CHO NVYT VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ NÂNG CAO SỨC KHOẺ CHO NVYT
1.4.1 Các chế độ chính sách cho nhân viên y tế
1.4.1.1 Các chế độ chính sách cho NVYT trên thế giới
Trên thế giới đã có rất nhiều quy định hướng dẫn về an toàn vệ sinh lao động cho người lao động Năm 1981, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có Công ước số 155, Khuỵến Nghị 164 hướng dẫn việc thực hiện các chế độ chính sách về an toàn sức khỏe nghề nghiệp và các hoạt động cần làm tại mỗi quốc gia để cải thiện điều kiện làm việc
và môi trường làm việc cho người lao động Năm 1985, ILO cũng đã ban hành Công
Trang 30ước 161 và Khuyến nghị 171 về cung cấp các dịch vụ y tế nghề dịch vụ này sẽ phối hợp để thực hiện các chính sách về an toàn sức khỏe nghề nghiệp cho người lao động nói chung trong đó có NVYT [51].
này ra đời từ năm 1970 và trong đó qui định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động và các tiêu chuẩn ATVSLĐ [204-US 1970] Các tiêu chuẩn ATVSLĐ được áp dụng cho NVYT cũng được áp dụng chung cho các ngành công nghiệp Tuy nhiên, có những tiêu chuẩn và qui định khác riêng cho NVYT, ví dụ như Tiêu chuẩn bảo vệ hô hấp 29 CFR 1910.134, Tiêu chuẩn Trang thiết bị Bảo hộ cá nhân
29 CFR 1910.132, và Tiêu chuẩn phòng ngừa lây nhiễm mầm bệnh qua đường máu -
29 CFR 1910.1030 Các tiêu chuẩn này có tầm quan trọng đặc biệt cho NVYT khi chuẩn bị và phản ứng với địch bệnh Hoa Kỳ đã ban hành “Hướng dẫn chung cho công tác ATVSLĐ cho NVYT trong BV” năm 1988 bao gồm hướng dẫn kiểm soát các bệnh lây nhiễm, kiểm soát các yếu tố nguy cơ không lây nhiễm như tiếp xúc với hóa chất độc hại, các hóa chất tiệt trùng glutaraldehye, các yếu tố vật lý, stress và các vấn đề liên quan đến rác thải y tế, vv [51] Bên cạnh hướng dẫn chung, các hướng dẫn cụ thể cho từng bệnh lây nhiễm cũng được ban hành, như “Hướng dẫn phòng chống lây nhiễm lao trong các cơ sở y tế” của CDC năm 2005 [52], [53], “Hướng dẫn dự phòng virat Tây sông Nile cho cán bộ phòng thí nghiệm và NVYT lâm sàng” [54], “Hướng dẫn phản ứng và chuẩn bị dự phòng dịch cúm cho NVYT [55] Đối với dự phòng tổn thương do các vật sắc nhọn nhữ kim tiêm, thì năm 2000 sau 10 năm ban hành Tiêu
chuẩn phòng ngừa lây nhiễm bệnh qua đường máu của Cơ quan ATVSLĐ Hoa Kỳ, Quốc hội’ Mỹ đã thông qua Điều ỉuật Tiêm an toàn và Dợ phòng- P.L 106-430 Trong Điều luật này đã quy định cụ thể NVYT phải được đào tạo một cách đầy đủ, được cung cấp các trang thiết bị phương tiện bảo vệ cá nhân, phải được tiêm phòng vaccin
và được giám sát về y tế [56].
người lao động Năm 1972, Nhật đã ban hành Luật An toàn và SK, Luật này yêu cầu tất cả các nhà quản lý phải có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ an toàn và nghề nghiệp cho ngưòi lao động, và quy định cứ >50 người lao đông phải có một bác sĩ y
Trang 31học lao động (làm việc nửa thời gian), tuy nhiên đối với những cơ sở có từ 1000 người lao động trở lên phải có 1 bác sĩ y học lao động (làm việc cả ngày) Tất cả các cơ sởđều phải thực hiện việc khám SK khi tuyển dụng, khám SK định kỳ và khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động [57] Ở Trung Quốc năm 1979, Bộ Y tế đã ban hành
50 tiêu chuẩn vệ sinh lao động về các yếu tố tác hại như hóa chất và vật lý tại nơi làm việc và 127 tiêu chuẩn vệ sinh lao động được rà soát, thêm vào đó tiêu chuẩn chẩn đoán cho 50 bệnh nghề nghiệp được đền bù cũng đã được ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động Ngoài ra, còn có các quy định khám SK tuyển dụng, khám sức khỏe định kỳ cho NVYT; hướng dẫn việc thanh tra các dịch vụ y tế; quản lý bệnh nghề nghiệp và đền bù cho người lao động [58] Tương tự như vậy, tại Ấn Độ, cũng có Điều luật về an toàn SK nghề nghiệp cho NVYT và cũng quy định rõ NVYT phải được hưởng các dịch vụ CSSK, được làm việc trong một môi trường đảm bảo an toàn, phải được trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân khi tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm độc hại trong môi trường lao động [59].
cầu về SK ngưòi lao động 2008-2017”, kêu gọi các nước thành viên xem xét lại các chính sách và kế hoạch quốc gia [60], [61] và đặc biệt nhấn manh trách nhiệm của Bộ
Y tế trong chăm sóc sức khoẻ nghề nghiệp cho NVYT là xáy đọng chương trình quốc gia về SK nghề nghiệp cho NVYT Hiện nay trên thế giới có một số nước đã xây dựng các chương trình quốc gia CSSK nghề nghiệp và phòng chống BNN cho NVYT Như
ở Tanzania, bảo vệ SK NVYT-dự phòng tổn thương vật sắc nhọn kết nối với dự án Tiêm an toàn lồng ghép các nguyên tắc và chiến lược về y học lao động vào trong
chương trình tiêm an toàn [62] Ở Venezuela, Bộ Y tế đã bắt đầu lập kế hoạch chương trình quốc gia cho NVYT phối hợp với Bộ Lao động xem xét sửa đổi lại luật về ATVSLĐ và khởi xướng một dự án bảo vệ NVYT, dự phòng tổn thương vật sắc nhọn [62]
1.4.1.2 Các chế độ chính sách cho NVYT ở Việt Nam
Trang 32Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển của ngành Y tế Nghị quyết số 46 – NQ-TW ngày 23 tháng
02 năm 2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao SK nhân dân trong tình hình mới, đã khẳng định: “Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ…” Đồng thời cũng ban hành nhiều chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án đầu tư trên các lĩnh vực có liên quan đến điều kiện làm việc của cán bộ Y tế, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ BN, nhằm giải quyết tình trạng quá tải trong các BV từ Trung ương, thành phố, tạo cơ sở cho sự phát triển của hệ thống Y tế Ngân sách nhà nước đầu tư cho lĩnh vực Y tế nói chung hằng năm khá lớn Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện còn một số tồn tại, đặc biệt là một số chính sách đối với NVYT
- Chế độ về bệnh nghề nghiệp: Thông tư liên bộ số 08- TTLB ngày
19/5/1976 của Bộ Y tế, Bộ Thương binh và Xã hội và Tổng Công đoàn Việt nam quy định một số bệnh nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ công nhân viên chức nhà nước mắc bệnh nghề nghiệp, trong đó có bệnh do quang tuyến X và các chất phóng xạ của NVYT
- Chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm: Thông tư số 23/LĐTBXH- TT ngày
7/7/1993 và Thông tư số 19/LB- TT ngày 4/6/1994 của liên bộ LĐTBXH- TC-
YT về phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với công nhân viên chức làm việc ở nơi độc hại, nguy hiểm, trong đó có NVYT làm việc ở nơi có phóng xạ, tia bức xạ hoặc điện từ trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép
- Chế độ phụ cấp lưu động cho một số người làm nghề hoặc công việc phải thường xuyên thay đổi nơi ở và nơi làm việc: Thông tư số 19/LĐTBXH-
TT ngày 2/6/1993 và Thông tư số 19/LB- TT ngày 4/6/1994 của Liên Bộ
Trang 33LĐTBXH- TC- YT về mức phụ cấp lưu động cho một số người làm nghề hoặc công việc phải thường xuyên thay đổi nơi ở và nơi làm việc, điều kiện sinh hoạt không ổn định và có nhiều khó khăn, gồm 3 mức NVYT làm công tác phòng chống dịch, tăng cường đi tuyến cơ sở
ngày 26/6/2001, Thông tư số 336/TT- LT ngày 7/8/1997, Thông tư số 80/2001/TT-LT- BTCCBCP- BTC- BYT của liên tịch ban TCCBCP- Bộ Tài chính- Bộ Y tế về chế độ ưu đãi ngành đối với NVYT Đối tượng được phụ cấp
là NVYT làm việc tại các chuyên khoa phong, lao, tâm thần, giải phẫu bệnh lý, pháp y, lao, phòng chống dịch Tuy đối tượng được hưởng phụ cấp còn hạn hẹp, mức phụ cấp chưa tương xứng nhưng cũng phần nào khuyến khích NVYT
- Chế độ phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ: Quyết định 115/2003/QĐ- TTg
ngày 30/7/2003 về phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ đối với NVYT Tuy nhiên mức phụ cấp được qui định bằng tiền tuyệt đối, giá trị thực tế của phụ cấp sẽ bị giảm khi giá cả tăng hoặc tiền lương tối thiểu tăng
- Chế độ phụ cấp phẫu thuật: Quyết định 155/2003/QĐ- TTg ngày
30/7/2003 qui định phụ cấp phẫu thuật Đây là một bước cải thiện trong chính sách đối với NVYT so với trước, tuy nhiên mức phụ cấp cũng qui định bằng tiền tuyệt đối giá trị thực của phụ cấp sẽ bị giảm khi giá cả tăng hoặc tiền lương tối thiểu tăng
- Chế độ phụ cấp đối với NVYT trong phòng chống dịch: Quyết định
155/2003/QĐ- TTg ngày 30/7/2003 quy định về chế độ phụ cấp đối với NVYT trong phòng chống dịch
- Quyết định số 256/QĐ- CP về chế độ bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp đối với những người trực tiếp chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV/AIDS
- Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân: Thông tư số
10/1998/TT-LĐTBXH, ngày 28/5/1998 hướng dẫn việc thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân; Quyết định số 955 ngày 22/9/1998 của Bộ trưởng Bộ
Trang 34LĐTBXH về việc ban hành danh mục trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho ngưòi lao động làm nghề, công việc có yếu tố độc hại nguy hiểm; Quyết định số 1320/1999/QĐ-BLĐTBXH ngày 6/10/1999; Quyết định số 722/2000/QĐ-BLĐTBXH ngày 2/8/2000; Quyết định số 205/2002/QĐ-BLĐTBXH ngày 21/2/2002 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH về việc bổ sung, sửa đổi danh mục trang
bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động làm nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại
13/BYT-TT ngày 21/10/1996 hướng dẫn thực hiện quản lý vệ sinh lao động, quản lý sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp
- Khám bệnh nghề nghiệp: Thông tư 08/1998/TTLT-BYT- BLĐTBXH ngày 20/4/1998 Liên tịch Y tế, Lao động TBXH, Thông tư số 12/2006/TT-BYT ngày 10/11/2006 hướng dẫn khám bệnh nghề nghiệp bao gồm thời gian và nội dung khám phát hiện lần đầu BNN; thời gian và nội dung khám định kỳ bệnh nghề nghiệp, các
XN cụ thể cần phải làm đối với mỗi bệnh nghề nghiệp
- Học tập về an toàn vệ sinh lao động: Thông tư số 37/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2005 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Hướng dẫn công tác huấn luyện
an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động đang làm việc, người mới tuyển dụng, người học nghề, tập nghề, thử việc tại cơ sở; người làm công tác an toàn vệ sinh lao động ở cơ sở
- Công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của ngành y tể được nêu cụ thể trong Quyết định số 915/LĐTBXH-QĐ ngày 30/7/1995 của Bộ LĐ-TB và XH.
*Những ưu điểm và tồn tại của những chế độ chính sách đối với NVYT:
- Ưu điểm:
+ Nhìn chung các văn bản pháp qui, qui định của Nhà nước về lương và các chế
độ phụ cấp đặc thù nghề nghiệp hay ưu đãi theo nghề đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến cán bộ, nhân viên y tế Các chế độ ưu đãi có quan tâm hơn trong lĩnh vực dự phòng, đặc biệt các vùng sâu, vùng xa, mở rộng cho các đối tượng khác trong
Trang 35ngành y nhưng không được đào tạo chuyên ngành y tế
+ Trong các chế độ phụ cấp đã có những văn bản đặc thù cho lĩnh vực điều trị và dự phòng như chế độ về trực 24/24, phẫu thuật thủ thuật, chế độ chống dịch và trực dịch, rủi do tại nạn nghề nghiệp, vv
+ Đối với các chế độ về an toàn vệ sinh lao động đã quy định về các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp, các trang bị bảo vệ cá nhân theo nghề, công việc của ngành y tế
+ Một số vãn bản đã được cập nhật và thay đổi phù hợp với tình hình kính
tế hiện nay
- Tồn tại:
+ Các quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề chỉ áp dụng cho một số đối tượng chuyên trách trong khi vị trí công việc có sự tham gia của các đối tượng khác hoặc một người làm đan xen nhiều công việc rất khó vân dụng Chế
độ này không áp dụng trong lực lượng vũ trang
+ Nhóm các chế độ phụ cấp theo ngành, nghề như chế độ trực áp dụng theo số lượng người ở các cơ sở y tế khác nhau cũng khó thực hiện khi yêu cầu phục vụ số lượng bệnh nhân là như nhau hoặc khi các BV quá tải Hầu hết các mức quy định còn thấp như về phẫu thuật, thủ thuật, lưu động Quy định hưởng phòng chống dịch chưa áp dụng rộng rãi trong thực tế vì chưa có các văn bản quy định cơ quan thẩm định và thông báo có dịch
+ Nhóm chế độ chính sách trong an toàn, vệ sinh lao động hâu như còn thiếu nhiều văn bản thực hiện trong ngành V tế vì đặc thù khác với trong các cơ
sở sản xuất Vì vậy tại các cơ sở y tế sẽ rất lúng túng khi triển khai áp dụng
- Nhiều chế độ chính sách cho nhiều nhóm đối tượng đan xen trong cùng một đơn vị, vì vậy nến không phổ hiến, giải thích thì NVYT cũng sẽ không biết mình được hưởng chế độ chính sách nào và được hưởng tối đa là bao nhiêu theo chế độ quy định
1.4.2 Các giải pháp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân viên y tế
Trang 361.4.2.1 Các giải pháp quản lý và giám sát các yếu tố nguy cơ, tác hại tại nơi làm việc
Quản lý các nguy cơ và tác hại nghề nghiệp là sự phát hiện và kiểm soát cậc nguy cơ tậì nơi làm việc trước khi chúng có thể gây ra các ảnh hưởng đến sức khoẻ và gây ra bệnh nghề nghiệp Trong quá trình làm việc, người lao động tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ từ điều kiện, môi trường làm việc và tác động lên sức khoẻ Sơ đồ dây chuyền về các yếu tổ độc hại trong MTLĐ lan truyền và tác động lên người lao động như sau:
Nguồn phát ra
Lan truyền
Hình 1.1 Dây chuyền tiếp xúc và vùng kiểm soát
(Nguồn: Trường Đại học Y Hà Nội (1997), Vệ sinh Môi trường, Dịch tễ,
Tập 1, Nhà Xuất bản Y học [63])
Để kiểm soát các yếu tố độc hại phát sinh tò nguồn tác động lên sức khoẻ người lao động tốt nhất là cắt dây lan truyền ngay tại nguồn (Dự phòng cấp I) Điều này có thể thực hiện được bằng việc thay thế các nguyên vật liệu độc hại bằng nguyên vật liệu không độc hoặc ít độc hại hoặc sử dụng các trang thiểt bị máy móc không gây ô nhiễm
Nếu không thể kiểm soát ngay tại nguồn, các biện pháp giảm sự lan truyền của các yếu tố độc hại vào MTLĐ (Dự phòng cấp II) sẽ được thực hiện Các biện pháp kỹ thuật vệ sinh an toàn thường được ảp dụng ở giai đoạn này như cách ly, khu trú che chắn nguồn độc hại, thông gió, hút bụi nhằm làm giảm
Trang 37nồng độ độc hại đến dưới mức tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
Trong điền kiện không áp dụng đuợc các biện pháp dự phòng ở khu vực I
và II, cần tăng cường kiểm soát người lao động ở khu vực bằng các biện pháp cách ly công nhân khỏi môi trường bị ô nhiễm, sử dụng phương tiện phòng hộ
cá nhân thích hợp Một chương trình quản lý toàn diện là lồng ghép cả ba biện pháp dự phòng trong kiểm soát các yếu tố nguy cơ, tác hại tại nơi làm việc Thông tin, giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người lao động, người sử dụng lao động và cho những đối tượng có trách nhiệm chăm sóc, bảo
vệ SK cho NVYT, đội ngũ an toàn vệ sinh viên là biện pháp hàng đầu trong công tác SK nghề nghiệp Bên cạnh đó, biện pháp giám sát y tế cũng là một biện pháp mang tính dự phòng tích cực chủ động trong phòng tránh các tác hại nghề nghiệp Khám tuyển dụng nhằm loại bỏ các yếu tổ SK không phù hợp với loại hình công việc; khám sức khoẻ định kỳ nhằm xác định tình trang SK của người lao động và cùng với khám bệnh nghề nghiệp để phát hiện các bênh nghề nghiệp
và liên quan đến nghề nghiệp do ĐKLĐ đặc tkù gây ra để từ đó xây dựng các biện pháp cải thiện làm giảm các yếu tố độc hại đó Các biện pháp y tế kết hợp với biện pháp thông tin tuyên truyền và các biện pháp kỹ thuật vệ sinh tạo ra một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh đối với người lao động
1.4.2.2 Các giải pháp cải thiện điều kiện lao động
Trên thế giới cũng như nhiều nước trong khu vực và Việt Nam đã có nhiều chương trình và kinh nghiệm về các giải pháp cải thiện điều kiện lao động để tăng năng xuất lao động và bảo vệ, nâng cao sức khoẻ cho người lao động Phần lớn các chương trình được thực hiện cỏ hiệu quả dựa vào một số nguyên tắc chung, đó là (a) một chiến lược can thiệp toàn diện, thống nhất liên quan đến tổ chức và MTLĐ; (b) tập trung vào các cải thiện có chi phí thấp, chấp nhận được; (c) khuyến khích chính người lao động tham gia để thực hiện cải thiện ĐKLĐ [62]
Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra phương pháp cải thiện điều kiện
Trang 38làm việc tại các dọanh nghiệp nhỏ và vừa (WISE) bằng cách áp dụng các nguyên tắc ecgônômi đánh giá điều kiện lao động và đề xuất và thực hiện các giải pháp rẻ tiền, dễ thực hiện và phù hơp với điều kiện của địa phương [63] Phương pháp này đã được áp dụng tại nhiều nước và nhiều ngành công nghiệp khác nhau như tại Nhật Bản trong ngành xây dựng noi có nhiều yếu tố nguy cơ cao gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp so với những ngành nghề khác
Từ năm 2002, thông qua mạng lưới công đoàn, phương pháp WISE đã được áp dụng nhằm cải thiện môi trường lao động, an toàn, sức khoẻ và năng suất lao động ở các công trường xây dựng [64] Tại Thái Lan, các lớp tập huấn sử dụng
với các doanh nghiệp vì nó có thể giúp xác định cần cải thiện và xây dựng các giải pháp dựa vào kinh nghiêm và điều kiện kinh tế của từng địa phương, đồng thời gián tiếp làm giảm các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động [65] Thử nghiệm giải pháp can thiệp cải thiện ĐKLĐ của ILO vào Việt Nam tại 76 doanh nghiệp nhỏ vừa bước đầu cho kết quả rất tốt; Sau hơn một năm, số cải thiện ĐKLĐ tăng 2,6 lần; các doanh nghiệp đầu tư kinh phi cho việc cải thiện gấp hơn 30 lần; các tác hại nghề nghiệp giảm 6%; tỉ lệ nghi ốm giảm 3 9%; thu nhập của công nhân tăng 4-8,4 lần [66]
Tổ chức Homenet tại Thái Lan chăm sóc cho nhỏm người lao động tại nhà
đã tiến hành một loạt các dự án để phát triển qui trình giáo dục và đào tạo về an toàn vệ sinh lao động cho những người lao động tại nhà của 18 nhóm sản xuất trên cơ sở lồng ghép cả 3 phương pháp WISE, WIND và JSA Lớp đào tạo xây dựng bảng kiểm rồi để kiểm định các yếu tố nguy cơ gây mất an toàn lao động
và hướng dẫn cải thiện ĐKLĐ tại gia đình.[67]
Cải thiện điều kiện làm việc có sự tham gia cùa Công đoàn (POSITIVE) và phương pháp huấn luyện ATVSLĐ dựa trên các vẩn đề thực tế cũng đã được áp dụng để cải thiện ĐKLĐ Nhu cầu huấn luyện và cung cấp kiến thức trong lĩnh vực an toàn sức khoẻ nghề nghiệp và môi trường ngày càng tăng khi cần giảm tỉ
Trang 39lệ tử vong, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Việc cung cấp kiến thức về ATVSLĐ dựa trên phương pháp huấn luyện có sự tham gia của chính người lao động đã tô ra hết sức hiệu quả trong việc tạo lập các chính sách và vẩn đề cần giải quyết tại nơi làm việc Đặc biệt đối tượng lao động nữ được huấn luyện trở thành những nguồn động lực rất tốt để tuyên truyền cho văn hoá an toàn vệ sinh [68]
Phương pháp WIND để hướng dẫn người lao động nông nghiệp cải tạo môi tnrởng nhà ở và nơi làm việc đảm bảo vệ sinh an toàn cũng được áp dụng tại một số nước châu Ả như Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam, Philipine trong những năm gần đây Arphom, C Chaikittipom (2003)
1.4.2.3 Giải pháp nâng cao sức khoẻ cho người lao động tại nơi làm việc
a/ Khái niệm nâng cao sức khỏe nơi làm việc:
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nâng cao SK là "quá trình cho phép kiểm
soát và cải thiện sức khỏe của mình" Phạm vi từ việc chăm sóc, điều trị bệnh
ngăn ngừa bệnh bao gồm việc phòng ngừa các nguy cơ đến thúc đẩy để đạt được
SK tối ưu Vì vậy công tác nâng cao sức khỏe không chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm của lĩnh vực y tế mà còn là việc trách nhiệm của liên ngành phải xây dựng lối sống lành mạnh dể có được hạnh phúc (WHO, 1998) [68]
Hiến chương Ottawa về nâng cao SK đã tuyên bố: “Nâng cao SK tạo ra điều kiện sống và làm việc an toàn, thoải mái" [69], [70]
Một nơi làm việc được nâng cao SK (nơi làm việc lành mạnh) là tạo ra một môi trường hỗ trợ, lành mạnh, duy trì và nâng cao SK cho tất cả mọi người
b) Lợi ích của chương trình nâng cao sức khỏe nơi làm việc:
- Hình thành lực lượng lao động khỏe mạnh Lực lượng này đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế và xã hội
- Mọi người nhận thức được các yếu tố ảnh hường đến SK
- Nâng cao nhân cách và đạo đức của người lao động
- Thúc đẩy các mối quan hệ trong công việc
Trang 40- Thúc đẩy thông tin tuyên truyền
- Cải thiện văn hóa nơi làm việc
- Tăng năng xuất lao động, giảm tai nạn lao động
c/ Các nguyên tắc xây dựng nơi làm việc lành mạnh:
Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra 6 nguyên tắc hướng dẫn xây dựng nơi làm việc lành mạnh [71]:
Toàn diện: Nơi làm việc lành mạnh là nơi có nhiều yếu tố đảm bảo SK cho
người lao động, thực hiện phối hợp nhiều biện pháp can thiệp khác nhau để tạo môi tnrờng làm việc an toàn, lành mạnh và hỗ trợ, thúc đẩy thay đổi tổ chức lao động, hành vi cá nhân và bảo vệ môi trường chung
Sự tham gia của người lao độrtg Người lao động phải được chủ động
tham gia xác định các nhu cầu SK cũng như phương pháp giải quyết vấn đề và cải thiện điều kiện làm việc Người lao động sẽ tự tin hơn để tạo ra các thay đổi trong lao động và cuộc sống của họ và phát triển kỹ năng nâng cao và bảo vệ SK nếu họ được tham gia các quyết định can thiệp có ảnh hưởng đến SK của họ
Phối hợp liên ngành, các tổ chức đoàn thể liên quan:Sức khoẻ tốt là kết
quả của nhiều yếu tố tương quan với nhau Bất cứ nỗ lực nào nhằm NCSK người lao động đều phải dùng phương pháp lồng ghép để đề cập tới càng nhiều yếu tố này càng tốt Do vậy xây dựng nơi làm việc lành mạnh đòi hỏi sự tham gia của các thành phần khác nhau của các ngành, chính quyền, các tổ chức, cộng đồng
và các thành phần khác
Công bằng xã hội: Chương trình bảo vệ NCSK phải tiếp cận với tất cả các
thành viên nơi làm việc không phân biệt giới tính, trình độ văn hóa, mức thu nhập, loại hình lao động
Bền vững: Nơi làm việc lành mạnh thường lồng ghép các vấn đề an toàn
và sức khoẻ vào văn hoá nơi làm việc và các hoạt động quản lý thường ngày Chương trình này phải được thực hiện liên tục nhằm mục đích lâu dài Để các hoạt động NCSK được bền vững, chương trình phải phù hợp và đáp ứng được