Mảnh đất xứ Đoài xưa được biết đến với những loại hìnhnghệ thuật dân gian độc đáo; một trong số ấy, không thể không nhắc đến là nghệthuật múa rối nước, một trong những niềm tự hào của ba
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
ĐỖ KHỞI
MÃ SINH VIÊN: DTS155D140217241
NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC
Ở PHƯỜNG CHÀNG SƠN - THẠCH THẤT - HÀ NỘI (VỚI VIỆC DẠY HỌC VĂN HỌC ĐỊA PHƯƠNG)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Khoa Ngữ văn, Trường Đạihọc Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất để chúng em được rènluyện, học tập và tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp.Trong những năm học vừa qua, em đã nhận được sự chỉ dạy tận tâm, tận tình của cácthầy cô giáo Những bài học mà thầy cô đã truyền dạy đã giúp chúng em có thêmnhững kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ cho công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn của TS Dương Nguyệt Vân,người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học vàkhóa luận tốt nghiệp
Dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành nhưng khóa luận tốt nghiệp của emkhông tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được những lời nhận xét và chia sẻquý báu của thầy cô để khóa luận được hoàn chỉnh
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Đỗ Khởi
Trang 3MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục hình
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tổ chức biên chế và hưởng quyền lợi sau buổi diễn ở phường rối Chàng Sơn – Thạch Thất – Hà Nội Bảng 2: Tác phẩm Văn học dân gian được dạy trong Nhà trường phổ thông trong sách giáo khoa hiện hành Bảng 3: Nội dung giảng dạy chương trình Văn học địa phương ở trường THCS Chàng Sơn – Thạch Thất – Hà Nội năm học 2018 – 2019 Bảng 4: Nội dung giảng dạy chương trình Văn học địa phương ở trường THCS Thạch
Xá – Thạch Thất – Hà Nội năm học 2018 – 2019 Bảng 5: Nội dung phỏng vấn giáo viên phổ thông
Bảng 6: Bảng hỏi dành cho nghệ nhân Bảng 7: Bảng câu hỏi dành cho khán giả Bảng 8: Tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1- Nhà thủy đình chùa Thầy - Xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội (TK XVII)
Hình 1.2 - Các nghệ nhân đang chuẩn bị con rối ở Bắc Ninh
Hình 1.3- Biểu diễn múa rối nước ở Đông Hưng – Thái Bình
Hình 1.4 - Bản đồ huyện Thạch Thất
Hình 1.5 -Bản đồ xã Chàng Sơn
Hình 2.1 - Anh Nguyễn Văn Viên – Nghệ nhân rối nước phường Chàng Sơn đang tạo tác quân rối
Hình 2.2 - Quân rối tướng loa – tướng chùy ở phường Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học dân gian là một bộ phận quan trọng trong tổng thể nền văn hóa Việt
Nam; được hình thành trên cơ sở của đời sống nông thôn, gắn liền với tập thể, vớivăn hóa dân gian Vì vậy, Văn học dân gian mang các đặc điểm của tập thể, của nôngthôn Cũng vì lẽ đó, số lượng tác phẩm Văn học dân gian chiếm số lượng lớn Thếnhưng, do đặc tính truyền miệng nên số lượng được ghi chép và công bố còn hạn chế.Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, Văn học dân gian đang dần bị mai một, nhất làcác loại hình diễn xướng Yêu cầu bức thiết đặt ra là phải tìm hiểu, làm sáng rõ đặcđiểm của Văn học dân gian, từ đó giới thiệu với công chúng nhằm giữ gìn, phát huy
và bảo tồn những tinh hoa của văn hóa dân tộc Trong các loại hình nghệ thuật diễnxướng, múa rối nước là một bộ môn nghệ thuật dân gian đặc sắc của dân tộc ViệtNam Với sân khấu là mặt nước, diễn viên là các con rối, cùng với hiệu quả của ánhsáng và pháo hoa đã tạo ra những màn biểu diễn hấp dẫn và huyền ảo Đây là loạihình nghệ thuật độc đáo, chỉ có ở Việt Nam
1.2 Là một sinh viên khoa Ngữ văn, trường ĐHSP Thái Nguyên; đồng thời là một
người con của cái nôi nghệ thuật múa rối nước, tôi tự nhận thấy trách nhiệm của bảnthân là phải làm giàu, làm đẹp thêm nền Văn học, văn hóa dân tộc mình Như đã đềcập, một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay chính là việc bảo tồn và phát huytinh hoa văn hóa dân tộc - đặc biệt là giá trị của nền Văn học dân gian Trong chươngtrình Ngữ văn phổ thông hiện hành, phần Văn học địa phương vẫn chưa được quantâm nhiều, điều đó được thể hiện ở sự phân phối số tiết dạy và nội dung đề cập cònhạn chế Do đó, cùng với việc đổi mới chương trình Ngữ văn phổ thông hiện nay,cũng cần quan tâm đến đổi mới chương trình Văn học địa phương, đặc biệt đưa cácloại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của địa phương giới thiệu cho học sinh cũng
là cách hiệu quả để bảo tồn và phát huy những giá trị của nền Văn hóa dân gian
1.3 Tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc thành phố Hà Nội là một địa danh chứa đựng bao tinh
hoa văn hóa của dân tộc Mảnh đất xứ Đoài xưa được biết đến với những loại hìnhnghệ thuật dân gian độc đáo; một trong số ấy, không thể không nhắc đến là nghệthuật múa rối nước, một trong những niềm tự hào của bao thế hệ người dân nơi đây
Trang 7Nghiên cứu đặc trưng của múa rối nước để thấy được những nét độc đáo mà cha ông
ta đã sáng tạo nên, để làm cơ sở giới thiệu cho những thế hệ trẻ tiếp nối những giá trịtruyền thống của dân tộc càng làm chúng tôi muốn đưa những tinh hoa văn hóa vănhọc này đến gần hơn với thế hệ học sinh, những người sẽ tiếp tục truyền lửa, giữnghề, giữ nếp của quê hương
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghệ thuật múa rối nước ở
phường Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội với việc dạy học văn học địa phương”
đi sâu nghiên cứu các đặc điểm về phương diện nội dung cũng như nghệ thuật củaloại hình múa rối nước ở phường rối Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội Dựa trênnhững cơ sở lí thuyết và thực tiễn để đánh giá thêm giá trị của loại hình nghệ thuậtmúa rối nước ở địa danh này Đồng thời, bước đầu đề xuất đến vấn đề dạy học Vănhọc dân gian - nghệ thuật múa rối nước vào chương trình địa phương để góp phần lưugiữ và bảo tồn nét đẹp nghệ thuật của nền văn hóa dân tộc
Trong cuốn Nghệ thuật múa rối nước (Tô Sanh - 1976) tác giả đã khái quát
nghệ thuật rối nói chung và nghệ thuật múa rối nước trên các bình diện: nguồn gốclịch sử và quá trình vận động, phát triển; những tiết mục và kĩ thuật thể hiện rối nước
và đặc điểm quan hệ của nghệ thuật rối nước với các bộ môn nghệ thuật khác Côngtrình này của tác giả Tô Sanh đã giúp chúng tôi có được cái nhìn toàn diện về lịch sử
và quá trình vận động của nghệ thuật múa rối nước ở Việt Nam Công trình cũng đãchỉ ra những đặc trưng của nghệ thuật múa rối và nghệ thuật múa rối nước và đứng từđiểm nhìn của lịch sử
Trong cuốn Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình (Nguyễn Huy Hồng - 1987) tác
giả đã giới thiệu đôi nét về đất Thái Bình và nghệ thuật múa rối nước: sân khấu,buồng trò, quân rối, máy điều khiển, nghệ nhân, trò và tích trò, nhân vật, biểu diễn,
âm nhạc Giới thiệu một số hình ảnh múa rối nước cùng 3 phường hội tiêu biểu ởThái Bình: phường Nguyễn, Tuộc, phường rối thùng ở Đống Đây là một công trìnhsâu sắc về nghệ thuật múa rối nước tại một địa phương cụ thể và cũng là nguồn tư
Trang 8liệu quý để chúng tôi có sự đối sánh về những điểm tương đồng và dị biệt của nghệthuật múa rối nước ở hai địa phương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Trong cuốn Rối nước Việt Nam (Nguyễn Huy Hồng - 1996) tác giả đã khái quát
được nghệ thuật rối nói chung và nghệ thuật rối nước nói riêng trên bình diện nguồn gốc
và các bộ phận cấu thành nên bộ môn nghệ thuật này Công trình của tác giả NguyễnHuy Hồng đã giới thiệu chi tiết về nghệ thuật múa rối nước Việt Nam là môn nghệ thuậtsân khấu dân gian tổng hợp của các yếu tố tạo hình, văn học và cả diễn xuất
Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều bài báo khoa học nghiên cứu về nghệ thuật múarối nước ở Thạch Thất - Hà Nội và phường Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội:
Trong bài báo “Truyền nhân phường rối nước Chàng Sơn” (Thu Trang - Báo
Tin Tức Online), tác giả đã nêu những nét khái quát về đặc điểm của nghệ thuật rốinước ở phường Chàng Sơn, những băn khoăn trong việc giữ nghề, giữ lửa của chaông trong thời đại mới
Trong bài báo “Đặc sắc rối nước Chàng Sơn” (Hương Giang - Sở Văn hóa
và Thể thao Hà Nội Online), tác giả đã nêu những nét khát quát về văn hóa vùngđất Chàng Sơn và nghệ thuật múa rối nước độc đáo của vùng đất nơi đây Bài báo
đã quảng bá hình ảnh đẹp của văn hóa dân gian Hà Nội tới mọi người Tác giảcũng đưa ra những chăn trở chung về câu chuyện giữ nghề và truyền lại vốn nghềquý của cha ông
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Vănhọc dân gian Việt Nam, về chủ đề nghệ thuật múa rối từ nhiều phương diện khácnhau Nghệ thuật múa rối nước trước nay chủ yếu chỉ được quan tâm trên phươngdiện là một bộ môn nghệ thuật diễn xướng và kĩ thuật tạo hình, mà chưa thực sự quantâm đến vai trò của yếu tố văn học - thành tố quan trọng của nghệ thuật dân gian độcđáo này Hơn nữa, hiện những công trình nghiên cứu cá thể về nghệ thuật rối nướccủa một phường hội cụ thể chưa được phong phú và chi tiết Những bài báo khoa họccũng đã cung cấp những thông tin chung, khái quát nhất về đặc trưng của múa rốinước Chàng Sơn Vì thế, trong khuôn khổ tài liệu thu thập được, chúng tôi trân trọngnhững ý kiến, những công trình khoa học của những người đi trước Những tài liệuquý giá trên sẽ là những định hướng cho chúng tôi trong việc tìm hiểu nghệ thuật múarối nước ở phường Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trải nghiệm thực tế, thu thập thêm thông tin và có được kiến thức khái quát về
nghệ thuật múa rối nước, những đặc điểm riêng biệt của phường Rối Chàng Sơn
(Thạch Thất - Hà Nội), những yếu tố cơ bản của Phường rối (Tổ chức biên chế,nhiệm vụ của thành viên trong phường…)
Khắc sâu những tri thức đó và cung cấp cho bạn đọc được biết, đồng thời gópphần vào việc giữ gìn, phát huy và bảo tồn những giá trị của nghệ thuật múa rối; Làm
cơ sở để đưa múa rối nước vào chương trình Văn học địa phương và chương trình trảinghiệm thực tế ở trường phổ thông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Tìm hiểu sơ lược về múa rối nước: Khái niệm, đặc điểm, địa bàn tồn tại và phát triển
- Tìm hiểu khái quát chương trình Văn học địa phương môn Ngữ văn ở địaphương
- Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước truyền thống của người dân xã ChàngSơn, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
- Đề xuất, thiết kế chủ đề hoạt động ngoại về Múa rối nước trong phần Văn họcđịa phương môn Ngữ văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật múa rối nước, các phạm trù thuộc về phương diện nghệ thuật: Ngữvăn dân gian, Tạo hình dân gian, Diễn xướng dân gian
Việc giảng dạy Văn học địa phương ở xã Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghệ thuật dân gian ở phường Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội
Chương trình địa phương môn Ngữ văn phần Văn học dân gian trong nhàtrường phổ thông tại Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu đã đề ra, chúng tôi đã sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điền dã: phương pháp này được chúng tôi sử dụng để có cái nhìn
cụ thể và chính xác về nghệ thuật múa rối nước cũng như để tìm hiểu thực trạng
Trang 10phường rối hiện nay, từ đó chúng tôi đưa ra những kiến nghị, những đề xuất nhằmbào tồn và phát triển phường rối Khi đi điền dã, chúng tôi đã sử dụng nhiều thao tácnhư: phỏng vấn, đàm thoại, dùng bảng hỏi… để đạt được mục tiêu nghiên cứu.
- Phương pháp khảo sát, phân loại: chúng tôi tiến hành khảo sát các trò rốinước trên phạm vi tổng thể các tích trò cổ cũng như các tích trò mới, từ đó phân loạitheo từng nhóm, từng cụm trò với những đặc điểm về nội dung và ý nghĩa khác nhau.Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp này để khảo sát một số trò rối tiêu biểu và đặctrưng riêng của phường Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: thông qua việc phân tích ba thành tố lớncủa nghệ thuật múa rối nước, đồng thời phân tích các yếu tố nhỏ hơn của mỗi thành
tố lớn ấy nhằm chỉ ra những nét đặc trưng của nghệ thuật rối nước Chàng Sơn Từ kếtquả phân tích, chúng tôi sẽ tổng hợp lại tri thức đó và giới thiệu trong đề tài này
- Phương pháp liên ngành: múa rối nước là một loại hình nghệ thuật dân giantổng hợp, nên khi nghiên cứu cũng phải nhìn nhận ở các góc nhìn khác: Văn hóa, Vănhọc, Lịch sử, Nghệ thuật… Từ đó, làm nổi bật được đặc điểm, tính chất của nghệ múarối nước Đồng thời, nghiên cứu liên ngành giữa khoa học xã hội và khoa học nhânvăn để đề xuất hướng bảo tồn, phát huy những nét đẹp trong văn hóa dân tộc
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu một trong những yếu tố Văn học dân gian là nghệ thuật rối nước
cổ truyền góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu giá trị của di sản văn hóa độc đáo này
Đề tài góp một cái nhìn tổng thể về nghệ thuật múa rối nước ở phường Chàng Sơn
- Thạch Thất - Hà Nội; Góp phần vào công tác bảo tồn, phát huy nghệ thuật truyềnthống, có thể góp một phần nhỏ vào hồ sơ trình Unesco công nhận nghệ thuật múa rốinước truyền thống trở thành Di sản văn hóa phi vật thể - đại diện của nhân loại
Đề xuất, thiết kế hoạt động ngoại khóa múa rối nước trong chương trình giảng
dạy môn Ngữ văn phần Văn học địa phương cho học sinh phổ thông trên địa bàn
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
Trước khi làm rõ những đặc điểm riêng biệt của nghệ thuật múa rối nước ChàngSơn - Thạch Thất - Hà Nội và việc thiết kế hoạt động dạy học Văn học địa phương,đòi hỏi phải có một cơ sở lí luận và thực tiễn rõ ràng, cụ thể Trong chương viết này,chúng tôi tập trung khát quát những đặc điểm của loại hình múa rối nước, đặc điểmcủa địa phương Chàng Sơn và khái quát đặc điểm của chương trình địa phương mônNgữ văn ở trường phổ thông Từ đó, làm căm cứ để chúng tôi nghiên cứu và thựchiện nội dung ở các chương sau
1.1 Khái quát về múa rối nước
1.1.1 Múa rối nước
Trong cuốn Nghệ thuật múa rối Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng cũng đưa ra khái niệm về múa rối: “Một loại hình sân khấu truyền thống của hầu
khắp các dân tộc thế giới, chuyên thể hiện nhân vật bằng diễn viên mang mặt nạ, đội lốt hay điều khiển các con nộm, con giống … (quen gọi chung là con rối) làm trò, đóng kịch Con rối được sáng tạo, mô phỏng tự nhiên (động vật, thực vật) hay do tưởng tượng (như thần, tiên, ma, quỷ, rồng, phượng …) bằng mọi chất liệu (gỗ, vải,
Trang 12giấy, bông, da, chất dẻo…) thành mọi kiểu (tượng, tròn, hình bẹt, hình bông…) và cử động nhờ phương tiện: Tay (rối tay), que (rối que), dây (rối dây), máy (rối máy), gió (rối gió), hơi pháo (rối pháo), sức nước (rối nước) Nghệ sĩ rối luôn giấu kín mình, điều khiển con rối thể hiện hành động sân khấu cử động của thân hình nó và lời nói mượn người “lồng tiếng” tạo nên sự kỳ diệu của vật chết “sống dậy”, tái hiện chuyện đời thực và tưởng tượng Trong lịch sử văn hoá nhân loại, con rối được phát hiện có mặt từ trong nền văn hoá Harappa (Ấn Độ), ở Việt Nam năm 1121 bia Sùng Thiện Diên Linh đã ghi rõ rối nước, rối cạn ” [11; tr.231].
Về khái niệm múa rối nước, nhà nghiên cứu Tô Sanh cho rằng: “Múa rối nước
là một loại hình nghệ thuật sân khấu múa rối mà chỗ diễn của con rối là mặt nước
ao, hồ hay bể rộng Buồng trò của người điều khiển là một cái nhà cất giữa ao hồ hoặc sát một mé hồ Người điều khiển, ngâm mình dưới nước nấp sau bức mành điều khiển con rối, thông thường bằng gỗ hoặc bằng chất liệu không thấm nước, bằng cách giật dây hoặc khua sào có đính con rối ở dây và đầu sào Nước che kín các loại que, dây, máy điều khiển bên dưới nước Có nhiều loại rối nước, rối ao, rối bể (người đứng ngoài bể cho tay vào điều khiển rối) rối nước phối hợp với rối cạn Sân khấu hoặc nhà hát cố định của Múa rối nước là một cái nhà hai tầng tám mái xây cất bằng gạch ngói, có từ lâu đời Múa rối nước là một bộ môn nghệ thuật sân khấu nước
kỳ lạ chỉ còn thấy ở Việt Nam” [30; tr.37].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng cũng quan niệm: “Rối nước là loại nhà hát
ngoài trời, lấy ao hồ làm nơi dựng buồng trò che giấu nghệ thuật điểu khiển và mặt nước làm sàn diễn cho quân rối làm trò đóng kịch Người xem ngồi đứng trên bờ bãi phía trước và hai bên sân khấu Quân rối nước là loại rối máy điều khiển ngầm từ xa bằng hai kiểu máy dây và máy sào” [14; tr.36].
Theo tác giả Lê Thị Thu Hiền: “Múa rối nước là nghệ thuật gắn với nền văn minh
lúa nước của cư dân vùng châu thổ sông Hồng, từ trước thế kỷ X Múa rối nước có nhiều giá trị liên quan tới nhận thức, xã hội, giáo dục, giải trí nổi bật lên là giá trị thẩm mĩ Múa rối nước mang tính phổ quát, so với bất kỳ loại hình nghệ thuật (biểu diễn, tạo hình,
cổ vật ) nào, kể cả nghệ thuật truyền thống và hiện đại Múa rối nước là một dòng văn hóa riêng biệt, được cả người trong và ngoài nước vô cùng thích thú” [10; tr.15].
Trang 13Định nghĩa múa rối nước của tác giả Tô Sanh đã đề cập đến bản chất về kĩ thuật
và vai trò của múa rối nước chủ yếu là để tạo tiếng cười và phù hợp với đối tượngtiếp nhận là trẻ con Tác giả Nguyễn Huy Hồng lại định nghĩa múa rối nước chỉ theo
vị trí tương đối của các thành tố của nó mà chưa thể hiện được mục đích và ý nghĩacủa bộ môn nghệ thuật này Còn đối với định nghĩa của tác giả Lê Thị Thu Hiền thìlại nghiêng về phương diện lịch sử và các đặc điểm của múa rối nước Nhìn chung,các định nghĩa kể trên chưa đánh giá được vai trò của phần ngữ văn dân gian được sửdụng trong mỗi màn múa rối Chính vì thế, các định nghĩa đó đều chưa sát với thực tếcủa loại hình nghệ thuật độc đáo này Từ đó, chúng tôi mạnh dạn đưa ra định nghĩamúa rối nước theo cách hiểu của mình như sau:
Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật dân gian tổng hợp, sử dụng các thành tựunổi bật của nhiều bộ môn nghệ thuật dân gian như: Ngữ văn dân gian (lấy tích từ cáctruyền thuyết dân gian, lấy chất liệu từ chính lời ăn tiếng nói hằng ngày và cả các thể loạitrữ tình, ca dao, dân ca…), tạo hình dân gian và diễn xướng dân gian Các tích trò chủyếu là tái hiện lại khung cảnh đời sống của người dân nông thôn đồng bằng Bắc Bộ:Chăn trâu, bắt vịt, dệt vải hay tái hiện các nghi thức tín ngưỡng dân gian như rước kiệu,thỉnh tượng, múa rồng… Múa rối nước chủ yếu là để mua vui, tạo tiếng cười cho ngườidân lúc nông nhàn, bên cạnh đó cũng thể hiện mong muốn về một cuộc sống yên ổn,thuận lợi, mưa thuận gió hòa, thái bình thịnh trị
1.1.1.2 Đặc điểm
Về sân khấu: Dùng mặt nước làm sân khấu, có nhà rối hay còn gọi là thủy đình.
Phía sau có phông che gọi là y môn, tạo sân khấu biểu diễn múa rối nước y như bàn
thờ lớn ở đình, chùa của người Việt
Nhà thủy đình cổ nhất vẫn còn tồn tại, đó là thủy đình ở Chùa Thầy (Quốc Oai,
Hà Nội), nằm ở chính giữa hồ Long Trì, trước mặt của chùa Tương truyền, chùaThầy được xây dựng từ thời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128), còn nhà thủy đìnhđược xây dựng vào thời Hậu Lê thế kỉ XVIII Ngoài nhà thủy đình ở Chùa Thầy, ởđồng bằng châu thổ sông Hồng còn có nhà thủy đình đền Gióng, đền thờ Đức ThánhGióng (Phù Đổng Thiên Vương), ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội Hai nhàthủy đình này được coi là những nhà thủy đình cổ nhất của lịch sử rối nước dân gian
Trang 14Ngàynay, ở mỗi phường rối nước đều xây dựng cho mình một nhà thủy đình riêng, có những
nơi còn sáng kiến dựng thêm hai bên thủy đình mỗi bên một gian nữa, gọi là nhà nanh,
cũng có mái nhưng thấp và nhỏ hơn gian chính ở giữa Mục đích xây dựng thêm hai giannày nhằm tạo thêm sới diễn cho quân rối và thuận tiện cho nghệ nhân điều khiển rối
Về quân rối: Làm bằng gỗ sung, loại gỗ nhẹ nổi trên mặt nước Được đục cốt,
đẽo với những đường nét cách điệu riêng, được đánh bóng trang trí với những màusơn khác nhau
Mỗi quân rối lại được tạo tác khác nhau cho phù hợp và đều đại diện tượng trưngcho một nhân vật, đó là các nhân vật lịch sử có thật với các chiến công hiển hách, cũng
có những nhân vật tưởng tượng hư cấu như các nàng tiên, ông bụt Những nhân vật cổtích và những nhân vật là loài vật đều được tạo tác tỉ mỉ và điêu nghệ
Các phường rối khác nhau lại có những quân rối hoặc có cách tạo tác quân rối khácnhau nhưng nhìn chung chúng cũng đều bắt nguồn từ trí tưởng tượng phong phú và ước
mơ về một cuộc sống ấm no thái bình của nhân dân; truyền thống, đặc điểm xã hội lịch
sử riêng của từng vùng miền để có những quân rối và cách tạo tác độc đáo như vậy
Về nghệ nhân: Có hai nhóm nghệ nhân cùng biểu diễn, đó là nhóm nghệ nhân
điều khiển rối ở trong buồng trò và nhóm nghệ nhân diễn xướng ở trên bờ Hai nhómnghệ nhân phối hợp ăn ý với nhau sao cho cử chỉ của quân rối phải khớp với lời nóicủa chúng
Rối nước truyền thống, mà đặc biệt là vùng đất Hà Tây xưa thì nghệ nhân múa rốinước chủ yếu là người trong một làng, được giao nhiệm vụ tập rối để mua vui cho nhân
Hình 1.1- Nhà thủy đình chùa Thầy - Xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội (TK XVII)
Trang 15dân lúc nông nhàn, còn ngày thường họ được cấp ruộng mà làm ăn Nghệ nhân biểu diễnxưa thì không có phần hát xướng trên bờ mà chủ yếu những lời giáo, lời thoại đều dochính những người biểu diễn cất lên ngay trong thủy đình hoặc buồng trò Mỗi nhómnghệ nhân chỉ phụ trách một tiết mục, họ tập trò, biểu diễn hoàn toàn độc lập mà không
có sự liên kết với nhau, sau khi diễn họ lập tức tháo hết rối không cho người ngoài xemđược Đây là cách mà họ giữ nghề và chỉ truyền lại cho con cháu trong nhà
Sau đó, nghệ nhân đã được tập hợp thành các phường hội, có tổ chức và biên chế
rõ ràng nhiệm vụ của từng thành viên: Người lo phần tạo tác, người thì điều khiển, ngườilại diễn xướng… Họ cùng luyện tập chứ không còn riêng rẽ như trước
Về âm nhạc: Múa rối nước truyền thống chuyên sử dụng các loại nhạc cụ bộ gõ
dân tộc để giữ tiết tấu cho diễn xuất và khuấy động không khí khi biểu diễn Nhạc cụchính là trống, não bạt, pháo, thanh la… Gần đây, các loại nhạc cụ dân tộc được sửdụng và đem lại cho múa rối nước những bước tiến quan trọng, như: đàn tranh, đànbầu, đàn nguyệt, sáo…
Tiếng hát trong múa rối nước truyền thống hầu như không có, nhưng gần đây đểđáp ứng được thị hiếu của khán giả xem biểu diễn múa rối nước thì những lời ca, tiếnghát được sử dụng nhiều và đạt được hiệu quả ngoài sức tưởng tượng Ta phải kể đếnnhững câu dân ca, những bài quan họ, những câu hát xoan, câu hò cửa đình, ca trù và cảnhững bài ca dao đều được thể hiện ngay trên sân khấu múa rối nước Nhưng phải kể đếnnhững câu hát chèo, những làn điệu chèo được thể hiện một cách rộng rãi và hiệu quảnhất, bởi lẽ nó quá đỗi quen thuộc với người dân đồng bằng Bắc Bộ
1.1.1.3 Địa bàn tồn tại và phát triển
a Lịch sử hình thành
Múa rối nước là một sáng tạo độc đáo của cư dân vùng châu thổ sông Hồng,manh nha từ công cuộc chế ngự, cải tạo nước Họ sống ở vùng đồng bằng chiêmtrũng, thường xuyên ngập nước, phải đào đất đắp nền, làm nhà cho nên các làng xưaxung quanh toàn ao Vì vậy, văn hóa ao làng trở thành một nét sống của cư dân Bắc
Bộ Cũng chính từ ao làng ấy đã nuôi dưỡng một bộ môn nghệ thuật độc đáo, múa rốinước Trước khi chính thức trở thành nghệ thuật sân khấu, múa rối nước là hoạt độngdân gian rải rác khắp thôn xóm, được “nuôi lớn” bằng nhiệt huyết của người dân.Ngâm bùn lội nước để làm nghệ thuật không phải là một công việc bình thường thích
thú với mọi người Nếu không phải là người sống ân tình với nước tới mức “Sống
ngâm da, chết ngâm sương” như cư dân trồng lúa nước, thì khó có được sự truyền
Trang 16cảm nồng nhiệt vào rối nước Như vậy, có thể khẳng định, múa rối nước ra đời cùngvới văn hóa ao làng và gắn liền với nền văn minh lúa nước của cư dân Bắc Bộ.
Múa rối nước tồn tại ở Việt Nam cho đến nay trên dưới 1000 năm, nó phát triểnmạnh nhất vào thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XII) Hiện vẫn chưa có một tư liệu nào chứngminh được nguồn gốc xuất xứ ra đời của nghệ thuật múa rối Duy nhất hiện còn lưu trên
Bia “Sùng Thiện Diên Linh tự” có ghi "Thả rùa vàng đội ba ngọn núi, trên mặt sóng dập
dờn Phơi mai vân để lộ bốn chân, dưới dòng sông lờ lững, liếc mắt nhìn lên bờ, cúi xét bầu trời lồng lộng Trông vách dựng cheo leo, dạo nhạc thiều réo rắt Cửa động mở ra thần tiên xuất hiện Ðều là dáng điệu thiên cung, há phải phong tư trần thế Vươn tay nhỏ dâng khúc Hồi phong, nhăn mày thúy ngợi ca vận tốt Chim quý từng đàn ca múa, thú lành từng đội xênh xang" [12; tr 13,14] Điều đó chứng tỏ rằng, nghệ thuật múa rối
dân gian Việt Nam đã được hình thành từ bao đời nay, được lưu truyền tồn tại và ngàycàng phát triển Tiếp thu vốn nghệ thuật truyền thống, những người hoạt động trong lĩnhvực này đã đầu tư, dành tâm sức để phát triển hơn nhưng không mất đi cái gốc truyềnthống dân tộc
Hay như dân gian vẫn truyền miệng bài ca dao:
“Mồng năm mồng bảy tháng ba, Chùa Thầy mở hội, hai là chùa Tây.
Nhân dân đông đúc vui vầy, Dưới phô rối nước, trên bày cờ hoa.”
Như vậy, có thể khẳng định rằng, múa rối nước đã xuất hiện rất lâu và được coi
là một phần không thể thiếu trong lễ hội truyền thống ở đây Nhân dân ở đây và cảcác nơi khác đã và đang lưu truyền nghệ thuật độc đáo này
b Địa bàn tồn tại và phát triển
Ngày nay, còn khá ít các
phường rối còn hoạt động trên
phạm vi miền Bắc:
Bắc Ninh là một trong
những địa phương có truyền
thống nghệ thuật múa rối của
cả nước Xưa kia, trong tỉnh có
5 phường múa rối nước là:
Trang 17Đồng Ngư, Giáp Nhất, Bùi Xá, Thanh Long và Thịnh Lộc Song, do biến động củalịch sử, phần lớn phường rối nước dân gian đã thất truyền Đến nay, cả tỉnh còn duynhất làng Đồng Ngư, có phường múa rối nước đang hoạt động So với các phườngmúa rối nước khác ở Bắc Bộ, phường múa rối nước làng Đồng Ngư có nét riêng là sửdụng nhạc cụ như: trống, tù và nhưng ấn tượng hơn cả là biểu diễn múa rối nước cùngvới hát dân ca quan họ - di sản văn hóa đặc sắc của quê hương được đan xen giúpngười xem thấy được chiều sâu văn hóa cũng như vẻ đẹp đặc trưng độc đáo của nghệthuật múa rối nước trên đất Bắc Ninh văn hiến.
Ở Thái Bình, hiện huyện Đông Hưng trở thành một trung tâm lưu giữ nét đẹpcủa nghệ thuật múa rối nước:
Phường múa rối nước làng Đống là một trong bảy phường rối cổ truyền của ĐôngHưng, hiện nay là một trong hai phường múa rối nước của huyện hoạt động thườngxuyên Nơi đây vẫn còn lưu giữ những nét độc đáo rất riêng của vùng đồng bằng châuthổ sông Hồng Múa rối nước làng Đống thường nổi danh về quy tụ được nhiều nghệnhân giỏi ở cả các khâu Đặc biệt là sáng kiến dùng thùng nước để đi biểu diễn lưu độngthay cho hồ ao Thùng múa rối nước của làng Đống dài 3m, rộng 3m, sâu 0,4m chia làmhai nửa, ghép lại với nhau bằng đinh bu-lông có đệm cao su chống rỉ nước, khi diễn kêtrên giá gỗ cao 0,4m, có thể vận chuyển dễ dàng đến địa điểm biểu diễn Các nghệ nhânđứng trong buồng trò sát thành thùng phía sau điều khiển Buồng trò là khung gỗ, khungtre lợp vải, có mành che chờm vào thùng 0,5m Năm 1994, được sự hỗ trợ của cấp ủy,
chính quyền các cấp, đặc biệt là Cục nghệ thuật biểu diễn, quỹ phát triển văn hóa Việt
Hình 1.3- Biểu diễn múa rối nước ở Đông Hưng – Thái Bình
Trang 18Nam - Thụy Điển, quỹ Ford, phường múa rối nước làng Đống được phục hồi và đổi tên
thành "Phường múa rối nước cổ truyền xã Đông Các".
Ở Hà Nội có phường Đào Thục, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh Ở huyệnThạch Thất có các phường Chàng Sơn (tổng Nủa), phường Yên Thôn (tổng Nủa),phường Ra (Bình Phú) Huyện Mỹ Đức có phường Tế Tiêu
Hình thành từ rất sớm và được coi là nơi phát tích của nghệ thuật múa rối nước,Thăng Long xưa và nay là thủ đô Hà Nội vẫn lưu giữ được những bản sắc và những nétriêng biệt của nghệ thuật cổ truyền độc đáo này Đến cho tận bây giờ, tức là đã trải qua
11 thế kỉ nhưng nghệ thuật múa rối nước vẫn tồn tại với những vẻ nguyên bản như thưởkhai sơ Không những thế, múa rối nước ở Hà Nội vẫn không ngừng cải tiến và pháttriển Bằng chứng là nhà hát múa rối Thăng Long được mở cửa thu hút rất nhiều dukhách trong và ngoài nước đến tham quan và chiêm ngưỡng Bên cạnh đó, năm 2016, HàNội đã tổ chức thành công Liên hoan múa rối nước lần thứ I tại làng Đào Thục, xã ThụyLâm, huyện Đông Anh Và ngay trong phạm vi của đề tài này cũng đang nghiên cứu vềnghệ thuật múa rối nước của phường Chàng Sơn, huyện Thạch Thất
1.1.2 Múa rối nước ở phường Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội
Nhắc tới múa rối nước ở Chàng Sơn, các cụ cao niên trong làng đều rất tự hào
và say sưa kể về những năm tháng vàng son của nghề rối: “Nghề rối được các cụ
truyền lại tự bao đời, do vị thiền sư Từ Đạo Hạnh tu tại chùa Thầy - Quốc Oai sáng tạo và dạy lại cho nhân dân quanh vùng, đến nay bao đời vẫn cứ truyền nối nghiệp của tổ tiên và được coi như một nghề để sinh sống” - lời của một cụ cao niên trong
làng Cũng theo lời cụ, Thiền Sư còn dạy dân biết các trò chơi dân gian như đá cầu,đấu vật, dạy hát chèo… và Ngài còn để lại cho phường 3 mẫu ruộng ở xứ Đồng Vailàm vốn Như vậy, có thể thấy rằng rối nước đã ăn sâu vào trong đời sống sinh hoạtcủa người dân nơi đây Họ lớn lên cùng với những con rối, học cách chế tạo và điềukhiển chúng và tập biểu diễn chúng cho tới khi thành thạo và trở thành một ngườinghệ sĩ thực thụ
Nhân dân ở vùng cũng kể lại một giai thoại: Đức Thánh Đào Khang Tiếu, làngười ở Hưng Yên, về vùng Thạch Thất xưa để lập trại nuôi quân Ngài có tài văn võ,đến khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, Ngài cho tập hợp quân chúng theo phò tácho Hai Bà, đến khi Ngài thác đi, nhân dân suy tôn làm Thành Hoàng, đến nay có rấtnhiều làng thuộc vùng Thạch Thất mà nay thuộc về hai xã là Chàng Sơn và Thạch Xáđều thờ Đức Thánh Đào Khang Tiếu Trong một lần, thiền sư Từ Đạo Hạnh về đây vàđược người dân kể cho câu chuyện thần tích về Đức Thánh Nghe xong, thiền sư có
Trang 19nói rằng: “chữ “Tiếu” trong tên của Ngài có nghĩa là vui vẻ, là tiếng cười bao dung,
Ta sẽ dậy cho dân làng trò rối nước để thể hiện sự vui vẻ, bao dung đó của ngài”.
Hàng năm, cứ vào dịp tháng ba âm lịch, dân trong phường lại sửa sang quân rối,luyện lại tích trò và trở về biểu diễn rối nước ở lễ hội Chùa Thầy, nơi thờ vị thiền sư -ông tổ của nghề rối Sau đó đến ngày 17, 18 tháng Tám âm lịch nhân dân địa phương nônức mở hội làng, một lần nữa dân làng lại sắm sửa đồ nghề phô tài rối nước tại thủy đìnhngay trước đình làng như một lễ vật dâng lên vị Thành Hoàng làng linh thiêng
Phường rối Chàng Sơn không chỉ biểu diễn phục vụ bà con trong vùng, mà còntham gia các sự kiện lớn như: Festival Huế 2004 (đạt 4 giải trong số 9 tích trò biểu diễn)
Năm 2006, rối Chàng Sơn đạt giải B tại cuộc thi “Sáng tác tiết mục mới về đề tài đương
đại cho loại hình nghệ thuật múa rối nước” do quỹ Văn hóa Việt Nam - Thụy Điển tổ
chức… Ngày 18/03/2016, phường rối Chàng Sơn tham gia Liên hoan nghệ thuật múa rối
nước Hà Nội lần thứ nhất do Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội tổ chức tại Thủy đình Đào
Thục (Đông Anh) đạt giải nhì Tiết mục “Hai Bà Trưng dẫn quân”, “Mời trầu” đã để lại
ấn tượng sâu sắc đối với người xem
Các nghệ nhân múa rối nước tập hợp thành phường, hội Mỗi phường hội lấyxóm, làng hay xã làm phạm vi phát triển Trong các cơ sở văn hoá nghệ thuật cổtruyền phường hội rối nước là cơ sở có tư tưởng giữ bí mật nghề nghiệp rất cao.Phường hội chỉ kết nạp đàn ông, người có họ hàng thân thích trong làng xóm Nhậpphường phải qua lễ tiết nghi thức Lễ nhập phường hàng năm được tổ chức vào ngày
tế tổ Người xin vào, sau khi đã được người lãnh đạo phường nhận lời, tới ngày tế tổphải khăn áo chỉnh tề, mang cơi trầu, chai rượu, đến có lời với cuộc họp toàn phường.Nếu được mọi người đồng ý thì vào lễ tổ, cam kết những điều lệ mà phường hội đưa
ra, đóng góp quỹ phường, từ đó mới được coi là thành viên
Bảng 1: Tổ chức biên chế và hưởng quyền lợi sau buổi diễn
ở phường rối Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội.
mâm cỗ
người một mâm cỗ
Trang 20Trưởng (coi việc mộc, rèn,
Nghệ thuật múa rối nước được các nghệ nhân coi trọng như một nghề, nghề giatruyền của cha ông để lại, mang đặc tính dòng họ Bởi vậy, trong những phường rối, họphải hết sức chú ý giữ bí quyết nhà nghề, rất ít khi phổ biến kinh nghiệm rộng rãi
Như vậy, nghệ thuật rối nước đã trở thành một món ăn tinh thần vừa mang tínhchất tâm linh vừa mang tính chất giải trí của người dân Chàng Sơn - Thạch Thất
1.2 Vài nét về điều kiện tự nhiên - xã hội, văn hóa ở Chàng Sơn - Thạch Thất
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lí
Chàng Sơn - Thạch Thất là một xã thuộc tỉnh Hà Tây cũ, vùng đồng bằngsông Hồng Huyện Thạch Thất phía bắc và đông bắc giáp huyện Phúc Thọ, phíađông nam và nam giáp huyện Quốc Oai, phía tây nam và nam giáp tỉnh Hòa Bình,phía tây giáp thị xã Sơn Tây Trước đây, huyện thuộc Trấn Quốc Oai sau tách rathành huyện Thạch Thất (Thạch Thất có nghĩa là nhà đá) Xã Chàng Sơn giáp xãThạch Xá ở phía Đông và Nam, phía Tây giáp các xã Cần Kiệm, Liên Quan, phíaBắc giáp các xã Hương Ngải, Canh Nậu
Hình 1.4 - Bản đồ huyện Thạch Thất Hình 1.5 - Bản đồ xã Chàng Sơn
1.2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Xã Chàng Sơn - huyện Thạch Thất nằm trong vùng bán sơn địa, là vùng chuyểngiao ở vùng núi (Ba Vì - Sơn Tây) và vùng đồng bằng Phía Nam của tỉnh Huyện ThạchThất có nhiều ao hồ, sông ngòi, xen kẽ là các ngọn núi xót nằm trong phần đứt gãy củadãy Trường Sơn Bắc Do vậy, địa hình ở đây khá đa dạng và có sự phân hóa làm các
X Chàng Sơn
Trang 21vùng dân cư tập trung theo nhóm nhỏ Xã Chàng Sơn theo vậy có phần khó khăn hơn vềđiều kiện so với các địa phương khác trên địa bàn huyện và tỉnh Kinh tế không pháttriển được nghề nông mà phải dựa vào các nghề thủ công nghiệp và thương nghiệp.Ngày nay, các làng nghề thủ công truyền thống vẫn còn tồn tại và lưu truyền cho các thế
hệ sau trên địa bàn huyện: Nghề làm tượng, nghề làm đồ gỗ mĩ nghệ, nghề làm rối - múarối, nghề làm quạt, nghề làm chè lam, các món đặc sản… Ở Chàng Sơn, là nơi hội tụphần đa của các làng nghề truyền thống mà trong đó tiêu biểu là các nghề liên quan đến
gỗ và điêu khắc
1.2.2 Điều kiện lịch sử - xã hội
Trải qua hàng vạn năm lịch sử, Chàng Sơn - Thạch Thất nằm trong vùng đồngbằng sông Hồng với đất đai màu mỡ, địa hình khí hậu thuận lợi Dân cư phát triểndựa vào nền văn minh lúa nước, phát triển từ hơn 4000 năm về trước, thổ dân có gốcViệt - Mường sinh sống và tồn tại cho tới ngày nay Hiện nay, trên địa bàn xã vẫn còntồn tại hai dân tộc cùng sinh sống với nhau
Do cuộc sống quần cư, chung sống cùng nhau dưới lũy tre làng và đời sốngnhân dân theo mô hình làng xã cho nên đời sống văn hóa xã hội của Chàng Sơn cũngmang đậm những nét của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, từ nét ăn nét mặc, từ lốisống gần gũi hàng xóm láng giềng, cho đến việc tổ chức các nghi thức sinh hoạt tậpthể… Tuy nhiên, cũng do chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nên đời sống xã hộicủa địa phương cũng có sự khác biệt so với các địa phương khác Nếu so sánh ChàngSơn với bất kì một địa phương khác thuộc vùng đồng bằng sông Hồng với đặc trưngcủa nền văn minh lúa nước thì đều dễ dàng nhận thấy sự tương đồng và dị biệt Sựtương đồng thì chúng tôi đã nói tới ở trên, về dị biệt: Chàng Sơn không chỉ có dân tộcKinh sinh sống mà trên địa bàn xã còn có thêm một nhóm người thuộc các dân tộc ítngười mà chủ yếu là người Mường Bên cạnh đó, Chàng Sơn có diện tích đất tự nhiên
ít, dân cư lại đông nên người dân chủ yếu sống dựa vào các nghề thủ công truyềnthống như: đồ gỗ mĩ nghệ, tạc tượng, làm rối, làm nón làm quạt… Chàng Sơn từ xưađến nay đã nổi tiếng với các nghề tạc tượng và điêu khắc
1.2.3 Đời sống văn hóa
Chàng Sơn - Thạch Thất nằm trong vùng văn hóa Đông - Đoài gồm vùng SơnNam thượng, trấn Sơn Tây (tỉnh Cầu Đơ và tỉnh Đoài, xứ Đoài) Ở đây, hàm chứa sựphong phú, đa dạng, đặc sắc văn hóa người Việt cổ Trong tiến trình lịch sử hình thànhphát triển, cộng đồng người Việt đã khai phá chinh phục tự nhiên, mở rộng lãnh địa, tạo
Trang 22nguồn sinh sống từ miền rừng núi xuống trung du và đồng bằng Do đó, Chàng Sơn làmột nơi ghi lại rất nhiều dấu tích của văn hóa truyền thống của người Việt từ lâu đời.
1.2.3.1 Văn hóa vật chất
Với những điều kiện tự nhiên kém phần thuận lợi so với các địa phương kháctrên địa bàn huyện Thạch Thất, Chàng Sơn đổi lại là một xã với những ấn tượng trongnếp văn hóa sinh hoạt vật chất hằng ngày Điều này được thể hiện rất rõ trong cách ănmặc, cách ở và cách sinh hoạt hằng ngày
Trong cách ăn uống của người Thạch Thất cũng có nhiều điều đặc biệt,trong mỗi bữa ăn của người Chàng Sơn - Thạch Thất xưa cũng thật giản dị nhưngcũng đủ vị: có món canh, có món xào và luôn hiện hữu trong bữa cơm của ngườidân là các món dưa muối, tùy từng mùa, từng thức mà lại có các loại dưa muốikhác nhau Vào các ngày lễ tết, những khi có khách đến chơi nhà thì những món
ăn đặc sản mới được phô bày Nhắc đến Chàng Sơn là phải nhắc đến những món
ăn như: bánh tẻ, cơm lam, lươn đồng nấu ốc, cá rô đồng nấu canh rau sắn… rồi
cả những thức quà như: chè lam, chè kho, chè mật… đều ghi tên mình vào danhmục ẩm thực làng quê nơi đây
Cách làm ra những món ăn này mới thực là kì công và tinh tế, nếu chứng kiếnquá trình làm ra những món ăn truyền thống ở Chàng Sơn thì mới hiểu trọn được ýnghĩa và tình cảm mà họ dành cho thực khách như thế nào Đơn cử là món chè lam,nức tiếng xa gần, tất cả nguyên liệu để làm chè lam đều bắt nguồn từ những sản phẩmnông nghiệp rất giản dị như bột gạo nếp, củ gừng già, mật mía… Giống nếp cái cóhương vị thơm và dẻo đặc trưng luôn là lựa chọn của người làm chè lam Khác với đaphần các loại bánh làm từ gạo, bột bánh thường được xay trực tiếp từ gạo; chè lamChàng Sơn cầu kì hơn, được làm từ bột gạo nếp đã chín Gạo nếp rang dưới bếp lửa đỏhồng sẽ nở bung, thơm lừng Sau đó, bỏng gạo được sảy cho sạch, đem xay ra thànhthứ bột mịn nhưng vẫn giữ được vị thơm bỏng nếp mới được coi là đạt yêu cầu Đểquấy được bột ngon, người làm chè phải kiên trì, đảo đều tay cho tới khi toàn bộ bộtdẻo đều và thấm trọn các loại gia vị (đường, mạch nha, lạc, quế, gừng…) mới đem đổvào khuôn, cắt thành từng miếng nhỏ và thưởng thức Bí quyết để có bánh chè lam dẻothơm, nồng ấm vị gừng, vị quế, hương nếp cái chính là sự kết hợp của tất cả các khâu
Trang 23từ chuẩn bị đến các tỉ lệ của thành phần Vì vậy, chè lam Chàng Sơn dù có để lâu ngàyvẫn dẻo thơm, không bị chảy nước hay bị khô khi mang đi làm quà nơi xa.
Trang phục của người dân Chàng Sơn đến nay vẫn giữ được những nét truyềnthống của vùng văn hóa Đông - Đoài xưa Các bà đều có những bộ áo tứ thân mànhững dịp lễ hội đều mang ra để mặc, để hát lại những câu ca mà bao đời truyền lại.Hay đơn giản, ngày rằm mồng một các bà đều mặc những bộ quần áo ấy mà đi lễchùa Còn các mẹ thì có những bộ áo dài và những bộ áo “mớ ba mớ bảy” để trưngdiện với đầy vẻ duyên dáng Bên cạnh đó, các ông, các bác đều có những bộ trangphục truyền thống rất đẹp và tinh tế Cứ đến tuổi “ngũ tuần” các bác đều sắm chomình một bộ áo the khăn xếp để lên đình hầu Thánh Cứ như vậy, qua một tuần tuổicác cụ, các ông lại được cấp vải để may những bộ áo dài Đến tuổi 80, các cụ đượccấp một miếng vải đỏ để may áo và được gọi là cụ thượng Tuy cuộc sống ngày cànghiện đại, văn minh nhưng những giá trị mà ông cha gìn giữ không hề mất đi, ngườidân ở đây luôn ý thức về việc giữ gìn bản sắc văn hóa của quê hương mình
Trong cách ở và bài trí nhà cửa của người dân Chàng Sơn cũng có nhiều điểmđặc biệt mà ít đâu còn giữ Đó là những ngôi nhà cổ xây bằng đá ong, ấm mùa đông,mát mùa hạ, lối kiến trúc tiêu biểu của mảnh đất xứ Đoài xưa Được lợp bằng ngóimũi hài, lát bằng gạch bát tràng theo hình xương cá độc đáo đã tạo nên một quần thểkiến trúc cổ kính mà dân dã, du khách tới đây như lạc vào một thế giới khác, thoát rakhỏi cuộc sống bộn bề bên ngoài Mặt khác lại là những dòng hồi tưởng của nhữngngười con xa quê nhớ về
Như vậy, ngay trong đời sống của người dân Chàng Sơn đã thể hiện được truyềnthống lâu đời và sự trường tồn của văn hóa vật chất sâu đậm Qua cách ăn cách mặc vànơi ở của họ đã phần nào minh chứng cho sự dồi dào của nền văn hóa, bên cạnh đó làđời sống tinh thần, một nhân tố không thể không nhắc đến khi nói tới văn hóa ChàngSơn
1.2.3.2 Văn hóa tinh thần
Người Chàng Sơn có một đời sống tinh thần giàu có và phong phú, cũng bởi vậy
mà ở đây lại hội tụ những nét đẹp về cả phong tục, tính ngưỡng, Văn học nghệ thật vànhững nghề quý thể hiện tài năng và sự kết hợp khéo léo của tinh hoa văn hóa Văn học
Trang 24Phong tục, tập quán ở Chàng Sơn có những điểm đặc biệt, cùng sinh sống trongmảnh đất này là tộc người Kinh và tộc người Mường, hai tộc người luôn giao lưu văn
hóa, trao đổi kinh tế với nhau Ở Chàng Sơn có một nét phong tục độc đáo: “Mùng
bảy tết gà, mùng ba tết cá”, đây là một phong tục ăn Tết độc đáo: Mùng bảy tết gà,
mùng ba tết cá (ngày mồng ba Tết dù ít dù nhiều, nhà nào cũng phải có con cá trongmâm cơm cúng, còn sang ngày mồng bảy là đĩa thịt gà) Cũng trong dịp tết, ngườidân thường dựng cây nêu trước nhà và dựng chung một cây nêu ở đình làng, các câynêu trong làng đều phải thấp hơn cây nêu ở đình Bên cạnh đó, trong tiếp khách, cướixin, ma chay… đều thể hiện những nét phong tục, tập quán độc đáo
Tín ngưỡng ở Chàng Sơn thì lại có những điểm tương đồng với các địa phươngkhác trong khu vực, tín ngưỡng dân gian thờ Thành Hoàng Làng là Đức Tướng CôngĐào Khang Tiếu, thờ Tản Viên Sơn Thánh và Thiền sư Từ Đạo Hạnh Bên cạnh đó, làtín ngưỡng thờ Mẫu (Tứ phủ Thánh Mẫu và Cô bé Thượng Ngàn) Những tín ngưỡngdân gian này làm nên sự phong phú trong đời sống tinh thần cho người dân Chàng Sơn.Hàng năm, xã đều mở hội để ghi nhớ công ơn của các vị Thánh đã có công với đấtnước, với quê hương tạo nên một không khí làng quên muôn màu muôn vẻ
Nhắc đến văn hóa tinh thần phải kể đến nền văn học nghệ thuật độc đáo của ThạchThất Là nơi sinh ra và lớn lên của những trang văn trang thơ như: Bằng Việt, Tào Mạt,Kiều Thể… đều là những tác giả với những trang văn thơ giàu cảm xúc về quê hương.Còn, nhắc đến nghệ thuật thì phải kể đến hàng loạt những bộ môn nghệ thuật độc đáođang tồn tại trên mảnh đất Chàng Sơn: ca trù, hát trống quân, hò cửa đình, chèo… vẫnđang được nhân dân nơi đây lưu giữ Về điêu khắc phải nhắc đến nghệ thuật điêu khắc
gỗ và tạc tượng Đến nay, các làng nghề vẫn đang đóng góp những thành tựu độc đáo.Người dân vẫn tự hào về nghề làm mộc của mình là làng nghề truyền thống lâu đời, từngđược tham gia trạm trổ tại các cung điện, lăng tẩm của vua chúa triều Hậu Lê và triềuNguyễn Ngoài ra còn có làng nghề làm quạt giấy, nghề làm quạt giấy đã đạt tới đỉnh cao
về nghệ thuật khi những chiếc quạt tạo ra mang giá trị nghệ thuật to lớn Vào thời Phápthuộc, quạt giấy Chàng Sơn đã theo những chuyến tàu chở về Paris triển lãm Đặc biệt,vừa thể hiện được nghệ thuật điêu khắc vừa thể hiện được tài năng mỹ thuật lại kết hợpchặt chẽ với Văn học dân gian, đó chính là nghệ thuật múa rối nước Múa rối nướckhông những thể hiện sự kì công mà còn thể hiện bàn tay tài hoa khéo léo của nghệ nhântrong lúc chế tạo và cả khi biểu diễn
Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng, mảnh đất Chàng Sơn - Thạch Thất là mộtvùng đất đặc biệt, hội tụ đủ cả về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và cả những giá
Trang 25trị, những điều kiện về văn hóa để tạo nên một vùng đất giàu có phong tục tập quánlại đặc quánh về tâm linh Cũng bởi vậy, nơi đây là nơi thích hợp cho bộ môn nghệthuật dân gian phát triển, trong đó phải nhắc đến múa rối nước.
1.3 Môn Văn học dân gian trong nhà trường
1.3.1 Khái quát Văn học dân gian
Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng được tậpthể sáng tạo, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho những sinh hoạt khác nhau trongđời sống cộng đồng Với người Việt Nam, Văn học dân gian là nguồn sữa trong lànhnuôi dưỡng bao thế hệ trẻ lớn lên trong chiếc nôi tre Việt Nam, trong tiếng ru ầu ơdân tộc Văn học dân gian không chỉ góp phần thể hiện đời sống lao động và tâm hồnngười bình dân mà còn là mảnh đất màu mỡ chắp cánh cho vườn hoa tình yêu tỏahương khoe sắc Qua Văn học dân gian, ta cảm nhận rõ hơn sự kì diệu của ngôn ngữtình yêu, thấy thương hơn gốc lúa, vườn rau, thương hơn cuộc sống quanh ta
Về chức năng nhận thức: Văn học dân gian được xem như "bộ bách khoa toàn
thư về kiến thức, tôn giáo, triết học" của nhân dân Văn học dân gian gìn giữ và lưutruyền hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tâm linh, kinh nghiệm sống, ứng xử…Văn học dân gian là người thầy lớn đem lại cho nhân loại những bài học sinh động,gần gũi và sâu sắc về mọi phương diện của đời sống
Về chức năng giáo dục: Văn học dân gian có khả năng định hướng đạo đức, luân
lí cho con người trong đời sống xã hội Chức năng này gần gũi và có sự giao thoa vớiphương diện xã hội của chức năng nhận thức Tuy nhiên, nếu chức năng nhận thức là sựphản ánh các hiện tượng xã hội một cách khách quan thì chức năng giáo dục lại là sự tácđộng, ảnh hưởng, chi phối cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến cộng đồng Có những tác phẩm,nhiều nhất thuộc thể loại hát nói, mang ý nghĩa giáo dục trực tiếp, tức ý nghĩa giáo dụcđược thể hiện một cách tường minh Song, phần lớn các sáng tác dân gian chứa đựng ýnghĩa giáo dục hàm ẩn, tức ý nghĩa giáo dục gián tiếp
Về chức năng thẩm mĩ: Văn học dân gian là nghệ thuật, là quan niệm thẩm mĩ
của cộng đồng, nó mang vẻ đẹp hồn hậu, giản mộc của nhân dân Mang bản chấtnguyên hợp, Văn học dân gian chỉ thực sự phô diễn vẻ đẹp của mình khi sống trongmôi trường nảy sinh và tồn tại, tức thành phần nghệ thuật ngôn từ phải được kết nốivới thành phần nghệ thuật âm nhạc, vũ đạo trong môi trường diễn xướng
Trang 26Về chức năng sinh hoạt - thực hành: Khác với Văn học viết, Văn học dân gian
ra đời và trở thành một bộ phận hữu cơ trong môi trường sinh hoạt và lao động của
nhân dân Văn học dân gian gắn bó mật thiết với cuộc đời mỗi người xuyên suốt "từ
chiếc nôi ra tới nấm mồ" Môi trường và thói quen sinh hoạt của nhân dân là điều
kiện quan trọng cho Văn học dân gian hình thành và phát triển
Văn học dân gian bao gồm 4 loại chính là: Tự sự dân gian (thần thoại, sử thi,truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ); Trữ tình dân gian(ca dao, dân ca); Sân khấu dân gian (chèo, tuồng, múa rối); Câu nói dân gian (tụcngữ, câu đố, vè…)
1.3.2 Văn học dân gian trong nhà trường phổ thông
Văn học dân gian là một bộ phận quan trọng trong tổng thể nền Văn học nước
ta Trong nhà trường phổ thông, Văn học dân gian được dạy đầy đủ các thể loại trongchương trình Ngữ văn từ bậc phổ thông cơ sở đến bậc phổ thông trung học
Bảng 2: Tác phẩm Văn học dân gian được dạy trong Nhà trường phổ thông
trong sách giáo khoa hiện hành
2 Bánh chưng, bánh giầy (Tự học
có hướng dẫn)
Truyền thuyết
12 Đeo nhạc cho mèo (Tự học cóhướng đẫn)
Truyện ngụ ngôn
Trang 2713 Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng Truyện ngụ ngôn
Học kì II 5 Tục ngữ về con người và xã hội Tục ngữ
Săn - Sử thi Ê Đê)
Sử thi
Châu, Trọng Thủy
Truyền thuyết
3 Uy-lít-xơ trở về (Sử thi Ô-đi-xê) Sử thi Hy Lạp
4 Ra-ma buộc tội (Sử thiRamayana)
Sử thi Ấn Độ
8 Ca dao than thân, yêu thương tìnhnghĩa
Ca dao
10 Lời tiễn dặn (Tiễn dặn người yêu
- Truyện thơ dân tộc Thái)
Truyện thơ
Trang 28Lớp 11 Không có
Trang 291.3.3 Vấn đề dạy học Văn học dân gian trong nhà trường phổ thông
1.3.3.1 Hiện trạng dạy học Văn học dân gian trong nhà trường phổ thông
Việc dạy học Văn học dân gian trong nhà trường phổ thông hiện nay cơ bảnvẫn theo lối dạy truyền thống, thiên về việc truyền thụ kiến thức lí thuyết Dạy tácphẩm Văn học dân gian mà chưa kết hợp các hình thức mới: sinh hoạt ngoại khóa, tổchức điền dã, sưu tầm, biên soạn Đó là lối dạy thiếu sự đổi mới, sáng tạo Dạy mộtbài ca dao trữ tình, giai điệu bài thơ dân gian ngọt ngào là vậy nhưng nếu chỉ thuyếtgiảng suông về nội dung và trò cứ ghi chép một cách máy móc thì khó thấm vào nộitâm người học Dạy tác phẩm Văn học dân gian nhưng không tái hiện lại được môitrường sinh hoạt Văn nghệ dân gian; không thành lập được câu lạc bộ Văn học giáodục, không "sống lại" cuộc sống và những sinh hoạt tinh thần muôn màu, muôn vẻcủa nhân dân lao động nên hiệu quả giờ dạy không cao, tiết dạy không tạo được niềmsay mê hứng thú cho học sinh, cái đọng lại trong các em sau khi học xong chuyên đềVăn học dân gian không là gì ngoài những kiến thức lí thuyết và những văn bản khôkhan
Vấn đề đặt ra ở đây là với đặc thù bộ môn Văn học dân gian, với một thờilượng tiết học có hạn và với một kho tàng Văn học dân gian phong phú mà cha ông ta
đã để lại thì chúng ta phải có một phương pháp giảng dạy Văn học dân gian như thếnào cho phù hợp và có hiệu quả Dạy như thế nào để các em yêu hơn câu hát dân ca,hiểu hơn những lời ru của mẹ Dạy như thế nào để góp phần gìn giữ kho tàng Vănhọc dân gian, gìn giữ nền văn hóa dân tộc, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ mônVăn trong nhà trường phổ thông
Việc dạy học các tác phẩm Văn học dân gian trong nhà trường phổ thông theohình thức ngoại khóa, sinh hoạt câu lạc bộ, được trực tiếp diễn xướng những tácphẩm, những đoạn trích Văn học dân gian để đạt được những hiệu quả giáo dục caonhất Do đó, ở phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đề xuất việc xây dựng kế hoạch ngoạikhóa Văn học để dạy học các tác phẩm trong chương trình Văn học địa phương
1.3.3.2 Cách thức dạy học Văn học dân gian trong nhà trường phổ thông
Việc tổ chức dạy học tác phẩm Văn học dân gian Việt Nam kết hợp với việcminh hoạ và tổ chức sưu tầm là một trong những phương pháp giảng dạy phù hợp với
bộ môn Nếu chúng ta tổ chức tốt việc minh hoạ, những buổi ngoại khóa Văn học dângian thì các em sẽ hứng thú, say mê hơn với môn học của mình, cảm nhận sâu hơn tácphẩm Văn học dân gian
Trang 30Có thể tóm tắt các bước tiến hành tổ chức hoạt động ngoại khóa Văn học dângian như sau:
Bước 1: Dạy lí thuyết kết hợp với minh họa và tái hiện
Ở bước này, người thầy vừa tổ chức, hướng dẫn các em tìm hiểu những giá trịnội dung và nghệ thuật của tác phẩm Văn học dân gian, vừa giới thiệu, minh họa trựctiếp những hình ảnh, những tài liệu ngoài văn bản có liên quan bài học
Bước 2: Dạy tác phẩm Văn học dân gian gắn kết với sinh hoạt ngoại khóa
Đây là một hoạt động ở tầm rộng, quy mô, đòi hỏi sự chuẩn bị công phu và kĩcàng trước khi bắt đầu thực hiện, nếu không, hoạt động ngoại khóa chỉ còn là hìnhthức và không thu lại bất kì hiệu quả giáo dục nào cả
Ở bước này, giáo viên trong tổ Ngữ văn phải xây dựng được chủ đề ngoại khóa,tìm được đối tượng phù hợp để tiến hành hoạt động Học sinh tham gia phải có sự chuẩn bịtrước ở nhà, tránh tình trạng đến buổi ngoại khóa với tâm thế ép buộc, tham gia cho có
Giáo viên cũng phải tìm kiếm, bồi dưỡng những năng khiếu từ các em học sinh
có khả năng diễn xướng các thể loại Văn học dân gian như: chèo, hát dân ca… đồngthời, giáo viên cũng tự trau dồi những khả năng diễn xướng ở một vài thể loại Vănhọc dân gian nhất định
Bước 3: Tổ chức điền dã, sưu tầm
Tiếp theo, tổ chức hướng dẫn các em làm công tác sưu tầm tác phẩm Văn họcdân gian đang lưu lạc và lưu truyền trong dân gian để bổ sung vào kho tàng Văn họcdân gian, làm tư liệu phục vụ học tập và nghiên cứu
Trang 31Tiểu kết
Múa rối nước hiện lên là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, là sự kết hợp từ cácloại hình nghệ thuật sân khấu dân gian, mỹ thuật dân gian và Ngữ văn dân gian nhằmtái hiện lại khung cảnh sinh hoạt của người dân đồng bằng bắc bộ và thể hiện mongước có mộc sống ấm no, thái bình Ngày nay, múa rối nước tồn tại ở các vùng TháiBình, Bắc Ninh và đặc biệt là các huyện Đông Anh, Thạch Thất, Quốc Oai và MỹĐức của thành phố Hà Nội Múa rối nước ngày nay tuy có những biến đổi nhưng cơbản vẫn giữ nguyên những giá trị nguyên bản của cha ông xưa
Mảnh đất Chàng Sơn - Thạch Thất thuộc xứ Đoài xưa là một vùng đất giàu có,
về cả sự màu mỡ của thiên nhiên và sự đông đúc của kết tinh những tinh hoa văn hóaVăn học Ta có thể kể đến những loại hình nghệ thuật độc đáo như: Ca trù, chèo tàu,hát trống quân, hò cửa đình… và những trò diễn dân gian như đấu vật, đá cầu và rốinước Chàng Sơn - Thạch Thất được coi là cái nôi sản sinh, nuôi dưỡng và vun đúcnhững giá trị nhân văn sâu sắc Những giá trị ấy được hình thành và truyền lại nguyênvẹn cho đến ngày nay
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn giảng dạy môn Vănhọc dân gian ở nhà trường và phương pháp dạy học Văn học dân gian bằng phươngpháp tổ chức hoạt động ngoại khóa Môn Văn học dân gian ở nhà trường phổ thôngchủ yếu được dạy ở lớp 6, lớp 7 và lớp 10 Với số lượng bài học đa dạng ở các thểloại Tuy nhiên, phần Văn học dân gian địa phương lại chưa được đưa vào hoạt đôngdạy học, đây là một nội dung quan trọng mà lâu nay vẫn bị bỏ quên hoặc chưa đượcquan tâm khi khai thác
Trang 32CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC
Ở PHƯỜNG CHÀNG SƠN - THẠCH THẤT - HÀ NỘI
Ai có dịp ghé qua Chàng Sơn - Thạch Thất đều không khỏi ngỡ ngàng về mộtmiền quê nghèo, nhỏ bé sau lũy tre làng nhưng lại chứa đựng những giá trị văn hóadân gian sâu sắc Những làng nghề thủ công mĩ nghệ đạt tới đỉnh cao, những làn điệudân ca độc đáo luôn giữ chân du khách ở lại để tìm hiểu, thưởng thức những nét đẹpkhông đâu có Không thể không nhắc đến một bộ môn nghệ thuật dân gian tổng hợp -múa rối nước, bộ môn nghệ thuật truyền thống của đất Chàng Sơn Múa rối nướcđược cấu thành từ ba yếu tố: ngữ văn dân gian, tạo hình dân gian và diễn xướng dângian Đó là những nét đặc trưng, tiêu biểu của cư dân Chàng Sơn xưa nói riêng cũngnhư nhân dân đồng bằng Bắc Bộ nói chung
2.1 Ngữ văn dân gian
Múa rối nước là một bộ phận của folkore, thuộc lĩnh vực sân khấu dân gian.
Cũng có thể coi múa rối nước thuộc vào bộ phận tạo hình dân gian nếu xét trênphương diện điêu khắc và hội họa khi tạo tác các quân rối Tuy nhiên, loại hình nghệ
thuật này lại có mối quan hệ mật thiết với một bộ phận khác thuộc folklore, đó là bộ
phận ngữ văn dân gian Ngữ văn dân gian một thành tố không thể thiếu trong loạihình diễn xướng rối nước Phạm vi nghiên cứu của khóa luận này có liên quan đếnviệc nghiên cứu các đặc điểm của múa rối nước trên địa bàn phường rối Chàng Sơn,Thạch Thất, Hà Nội; cho nên, chúng tôi sẽ làm sáng rõ yếu tố ngữ văn dân gian được
sử dụng và thể hiện trong các màn múa rối
Thành tố ngữ văn dân gian được thể hiện rõ nhất trong các màn múa rối là thểhiện được cái cốt, các lõi nội dung mà mỗi trò rối mang đến cho khán giả Ta có thểkhẳng định rằng, mỗi tiết mục múa rối không thể không có kịch bản, không thể không cónhững thông điệp mà tác giả dân gian đã sáng tạo ra và truyền tải tới khán giả gián tiếp
qua những quân rối và các trò rối Chúng được thể hiện qua hai bộ phận là “tích và trò”.
2.1.1 Tích
Múa rối nước ở phường rối Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội, tích được lấy từcuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng những năm 40 Khi ấy, Hai Bà Trưng phất cờ khởinghĩa ở Mê Linh, kêu gọi binh sĩ trai tráng khắp phương cùng Hai Bà làm lên việclớn Nghe theo tiếng gọi của hồi trống Mê Linh, các tướng lĩnh khắp nơi đều sửa sang
Trang 33vũ khí, luyện binh tập trận, trai tráng khắp vùng cũng tề tựu lại các đạo quân cũng đổ
về Mê Linh tụ họp Các vị tướng như: Cao Lỗ, Lê Chân, Tam Chinh, Xuân Nương,Ông Cai … Trong số ấy, có một vị là Đào Khang Tiếu - Tiếu Thiện Đại Vương, contrai ông Đào Thịnh và bà Nguyễn Thị Phương, quê ở Nam Sách, huyện Chí Linh, tỉnhHải Hưng Ông là người văn võ song toàn, khi nghe tin Hai Bà Trưng dựng cờ khởinghĩa liền chiêu nạp quân lính ở vùng Thạch Thất cổ, lập trại ở Chàng Sơn Ông đemquân về giúp Hai Bà và được phong làm Tiền Đạo tướng quân, chỉ huy quân thuỷ và
bộ tiến đánh Tô Định ở thành Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) Giặc TôĐịnh thua chạy, Hai Bà Trưng lên ngôi vua Khi Mã Viện đem quân Hán sang xâmchiếm nước ta, Hai Bà Trưng lại triệu Đào Khang cầm quân đi đánh giặc Trong trậnđánh với quân Mã Viện, tướng quân Đào Khang đã anh dũng hi sinh Ông được nhândân Chàng Sơn xây quán thờ và tôn làm Thành Hoàng làng với sắc phong là TiếuThiện Đại Vương hàng năm tổ chức lễ hội tưởng nhớ Đức Tướng Công Đào Khanh
Tiếu Sau đó, lại được Thiền sư Từ Đạo Hạnh truyền cho nghề quý rối nước cho nên
hai nhân vật này có ảnh hưởng rất lớn trong việc sáng tạo ra các trò rối của phường
Tích lấy từ cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng và Tướng Công Đào KhangTiếu, lấy đề tài từ cuộc chiến tranh và khung cảnh luyện tập chuẩn bị quân lươngphục vụ cho cuộc chiến Những cảnh tráng sĩ mài gươm rèn kiếm, luyện tập sức khỏe,rồi cả cảnh đoàn người kéo quân ra trận, Hai Bà cưỡi voi giết giặc cũng đã được sửdụng làm nguyên liệu cho các màn rối nước
Tích lấy từ tổ nghề rối, Thiền sư Từ Đạo Hạnh: Nghi thức rước tượng, tái hiệnkhung cảnh buổi lễ để nhằm ghi nhỡ công ơn của người Thầy của khắp vùng gần xa,người thầy đã bốc thuốc chữa bệnh cứu người, thầy dạy cách trồng lúa, dệt vải, dạycách làm ăn và đặc biệt dạy cho nhân dân biết những môn nghệ thuật ca trù, chèo và
cả múa rối nước… Những cảnh vui tươi trong lễ hội như đấu vật, chơi đu, những tròchơi cũng được dùng làm chất liệu cho múa rối nước
Một tích trò cũng rất quan trọng trong nghệ thuật rối nước của phường Chàng Sơn
là từ chính cuộc sống của nhân dân, đó là ước mơ mưa thuận gió hòa, thái bình yên ổn đểlàm ăn Bên cạnh đó, là những cảnh sinh hoạt đời thường như cấy cày, trăn trâu cắt cỏ,thả nơm bắt cá hay chăn gà thả vịt… cũng được tái hiện lại trên sân khấu múa rối nước
Như vậy, với nguồn tích phong phú, dồi dào, có phần nhỉnh hơn với cácphường rối khác, các nghệ nhân sáng tạo lên các trò rối cụ thể, đặc trưng riêng củaphường rối Chàng Sơn Mỗi trò diễn lại là một câu truyện cụ thể, là những mảnh ghépnhỏ cho một bức tranh làng quê Bắc Bộ
Trang 342.1.2 Trò
Trò diễn trong múa rối nước ở Chàng Sơn - Thạch Thất được hợp lại thànhnhững cụm trò cho từng phần của một buổi biểu diễn Mỗi trò là một câu chuyện cóđầu có cuối và tái hiện được một mảnh ghép của cuộc sống của nhân dân Chàng Sơn
cổ Trò nào cũng ngắn gọn, kịch tính, hầu hết phản ánh được nguồn gốc của nghề rối
và quá trình lao động sản xuất phục vụ đời sống và phục vụ nghĩa quân Những tròrối còn tái hiện được khung cảnh đấu tranh chinh phục thiên nhiên, cải tạo chínhmình và đả kích những thói hư tật xấu Người xem sẽ nhận ra trong các tiết mục làtuổi thơ, là con người của mình, những cảnh, con vật, con người gần gũi và thân thiết
Trò rối nước không chỉ là môn tiêu khiển, mua vui mà đều ít nhiều mang chủđịnh giáo dục, động viên hoặc uốn nắn người xem một nhận thức, một tư tưởng, mộtquan niệm nhất định về đời sống cũng như về thẩm mĩ Hiện tượng này đã chứng tỏsân khấu rối nước không chỉ mang ý nghĩa về nghệ thuật mà còn mang cả tính giáodục nhất là hướng tới đối tượng trẻ nhỏ - khán giả đông đảo nhất của múa rối nước
Từ khi hình thành và phát triển cho tới ngày nay, các trò lẻ đang được gom lạithành cụm, thành nhóm Trò diễn ở phường Chàng Sơn được chia thành 3 cụm trònhỏ theo ba phần của một buổi biểu diễn rối nước Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng vìnhững lí do khách quan trong bí truyền của làng, của các nghệ nhân, cho nên chúngtôi không sưu tầm được phần lời của các trò và cụm trò Vì vậy, trong phạm vi củatiểu mục này, chúng tôi xin được giới thiệu các trò và ý nghĩa của mỗi trò, cụm trò và
mô tả ngắn gọn nội dung của một số trò đặc trưng của phường rối Chàng Sơn
2.1.2.1 Cụm trò sinh hoạt tín ngưỡng
Đây là cụm trò đầu tiên của một buổi biểu diễn múa rối nước ở Chàng Sơn,tái hiện lại tập tục thờ cúng Đức Thành Hoàng Làng và tưởng nhớ lại những công
ơn mà Thiền sư Từ Đạo Hạnh đã giúp đỡ và truyền nghề rối cho nhân dân Bêncạnh đó là những trò thể hiện ước mơ về cuộc sống thái bình, mưa thuận gió hòa,mùa màng tốt tươi
Cụm trò này bao gồm:
* Tướng loa
Đây là trò mở đầu các buổi diễn, gợi nhắc về lịch sử của múa rối nước và nhânvật tướng loa là người đi chiêu quân tụ nghĩa, thể hiện tài năng quân sự của Đức Tướng
Trang 35Công Đào Khang Tiếu Trò Tướng loa là trò đặc trưng cho múa rối nước Chàng Sơn và không ở đâu có: Nhân vật tướng loa - tướng chùy xuất hiện cùng một bài thơ cổ sau:
“Loa… loa… loa…
Có người ruổi rong,
Có người bơi lội, Leo thang rước kiệu,
Đu tiên bật cờ, Nhiều trò bất ngờ,
Kể sao cho xiết.
Trống lệnh đã dứt.
Mau kéo quân ra.
Loa…Loa…Loa…”
* Hái cau - Têm trầu - Mời trầu
Với quan niệm “miếng trầu là đầu câu chuyện”, thể hiện sự hiếu khách và tấm
thịnh tình của phường Chàng Sơn tới khán giả xem rối Trò rối thể hiện tấm thịnh tìnhcủa người dân Chàng Sơn dùng cây nhà lá vườn và bỏ công sức ra để tạo thành món
ăn dân gian để tiếp đãi khách quý Ba quân rối cầm đàn, gõ phách và bưng khau trầu
từ từ tiến về phía khán giả và mời mọi người thưởng thức
* Hai Bà Trưng ra trận
Hai Bà Trưng cưỡi voi dẫn đầu đoàn quân từ từ tiến ra từ thủy đình dẫn theo hàngquân xanh đỏ xen kẽ nhau Khi ra tới chính giữa phía trước, hai hàng tách nhau quânxanh một hướng, quân đỏ đi một hướng về hai bên của sân khấu Tiết mục thể hiện rõnét nhất về kĩ thuật điều khiển rối bằng máy dây - chỉ có ở Chàng Sơn
* Đốt pháo - Bật cờ
Đây là trò độc đáo và đem lại hiệu quả lớn của buổi biểu diễn Trò như mộtmàn ảo thuật độc đáo dưới bàn tay tài hoa của người nghệ nhân Cờ được giấu ở dướinước, theo hiệu lệnh của pháo, cờ từ dưới nước bật lên, tung bay và không bị ướt.Khán giả được thế ồ lên vì ngạc nhiên và cuốn hút vào buổi biểu diễn
* Rước kiệu - Rời tượng
Hàng người khiêng kiệu ra trước tượng Thánh, một quân rối dùng tay đỡ tượnglên ngai và bắt đầu rước kiệu Thể hiện tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng và thờ nhữngbậc có công với dân với nước Hàng người cờ, hoa, loa, trống theo sau hầu đức Thánh.Trò đã tái hiện được khung cảnh nhộn nhịp của ngày lễ, ngày hội làng
Trang 36* Múa rồng (phun lửa)
Hai quân rối rồng múa lượn trên mặt nước, phun lửa Sau khi hết lửa, rồng tiếptục lặn xuống hút nước mà phun tiếp Trò thể hiện ước mơ về sự ban phát tài lộc, ấm
no đầy đủ, mưa thuận gió hòa Đây là ước muốn của bao cư dân Chàng Sơn và cả cưdân đồng bằng Bắc Bộ
* Lân tranh cầu
Tương tự như trò múa rồng, “Lân tranh cầu” là cuộc vật lộn của hai chú lân,
một trong tứ linh của người Việt Hai con lân xoay mình, lúc nhẩy lên, khi vồ xuống
và tranh nhau chiếm giữ quả cầu ngọc ở giữa Tiết trò cũng thể hiện ước mơ no đủ vàtài lộc của cư dân
* Múa thuồng luồng
Thuồng luồng là loài động vật vừa giống rồng vừa giống rắn, biểu tượng chosức mạnh của thủy thần Tuy có sức mạnh nhưng thuồng luồng lại mang lại những
điều tốt đẹp cho nhân dân xưa Vì vậy, trò múa thuồng luồng cũng phần nào thể hiện
lòng biết ơn tới loài linh vật này
* Tô tượng - Đúc chuông
Trò tái hiện lại cảnh tô tượng, đúc chuông, thể hiện tinh thần thờ cúng Thần,Phật là truyền thống của cư dân, đời đời nối tiếp nhau điểm tô tượng Phật, đúcchuông xây chùa
* Vén quân (kết thúc)
Trò diễn ra ở cuối nhưng chúng tôi vẫn xếp vào cụm trò sinh hoạt tín ngưỡng
vì nó gợi nhắc lại lịch sử hào hùng Hai Bà Trưng dẫn quân trở về sau khi đã chiêunạp quân sĩ
2.1.2.1 Cụm trò rèn luyện sức khỏe
* Phi ngựa
Hai người cưỡi ngựa chạy thi từ hai cửa của thủy đình, chạy nhiều vòng Haingười ngồi trên lưng ngựa cầm thanh gươm thi đấu với nhau thể hiện sự chăm chỉluyện tập và đào tạo những binh sĩ tinh nhuệ để bảo vệ quê hương
Trang 37* Thi bơi
Sau thi đấu vật, các đô vật cùng nhiều trai tráng cũng thi bơi với nhau, ngườibơi ngửa, kẻ bơi ngang, tạo không khí nhộn nhịp của vùng làng quê Bắc Bộ xưa vànhững sinh hoạt đều xung quanh cái giếng và ao làng
* Leo thang
Quân rối leo lên một cái thang dựng sẵn phí trước sân khấu, trong trò này, rốihoàn toàn điều khiển bằng dây và tách ra khỏi đế của quân rối Quân rối leo lên đếnđỉnh thang rồi từ từ tụt xuống
* Nhảy qua vòng lửa
Trong tiết mục này, nhân vật biểu diễn nhảy qua vòng lửa được đặt giữa sân khấu
* Cưỡi ngựa chém chuối
Đây là tiết mục độc đáo thể hiện được đặc trưng của phường rối Chàng Sơn.Quân rối cưỡi ngựa thi cưỡi ngựa chém chuối Ngày thường cưỡi ngựa chém chuối,khi có giặc thì chém giặc Các binh sĩ luôn luôn luyện tập để chuẩn bị chiến đấu bảo
* Cày bừa, tát nước
Một người dắt trâu ra đồng, có tiếng vọng lại nhờ cày hộ ở mảnh ruộng xứĐồng Vai (nơi phường được cấp đất để cấy lúa) Người đàn ông này dắt trâu kéo lưỡicày đi Hai người kéo hai chiếc gầu giai để tát nước cấy lúa Trò đã tái hiện lại khungcảnh chăm chỉ, khẩn trương của người dân trong lao động
* Trọi trâu
Hai con trâu trọi được đem ra trình làng và cho trọi nhau, con nào thắng đem
đi thịt dâng lên Thành Hoàng, con nào thua đem đi thịt khao làng Thể hiện đời sốngcộng đồng đoàn kết của người dân Chàng Sơn xưa
Trang 38và nói lên lời cảm ơn đến với khán giả và khép lại bằng một bài thơ:
“Trời vui chi xiết là vui, Bốn bên về đông đúc vui tươi, Thật đúng cảnh quê hương mở hội.
Mời bà con đến xem múa rối, Tấm thịnh tình xem chẳng muốn về.
Múa đến đây vùng vẫy thỏa thê, Cho rối tôi tạm nghỉ là vừa.
Đến hẹn ta lại gặp nhau, Chia tay giã bạn hẹn ngày trùng lai.
Chúc nhau hạnh phúc lâu dài, Chúc nhau mạnh khỏe ngày mai huy hoàng.”
Trang 392.1.3 Nhân vật
Trong gần một nghìn năm phát triển, sân khấu múa rối nước đã để lại hàngnghìn nhân vật Nhân vật của rối nước rất phong phú, đa dạng: có nhân vật chínhdiện, phản diện; có con người mang bản chất giai cấp trong xã hội; có nhân vật thầntiên, tượng trưng, biểu tượng… cũng có những nhân vật là loài vật: chó, mèo, chuột,vịt, trâu… hay rồng, phượng, kì lân…
Mỗi nhân vật xuất hiện lại đại diện cho một tính cách, một giai cấp trong xãhội Nhân vật rồng, phượng biểu tượng cho tâm linh, cầu mong một cuộc sống thái
hòa yên ấm: “Rồng đen lấy nước thì nắng được mùa - Rồng trắng lấy nước thì vua đi
cày” … Mỗi nhân vật lại mang trong mình những nét biểu tượng khác nhau, đại diện
cho những ước mơ khác nhau của nhân dân
Thông qua sân khấu múa rối nước, thông qua những quân rối, ta không chỉ bắtgặp những người nông dân thật thà chân chất, những cô Tấm, cô Thắm, bác nôngphu, trẻ mục đồng…; mà ta còn bắt gặp những nhân vật lịch sử vừa chân thực cụ thể,vừa lí tưởng kì vĩ, đó là những người anh hùng oai phong, lẫm liệt, dũng cảm hi sinh:Hai Bà Trưng, Lê Lai - Lê Lợi, Thánh Gióng… Ngay cả Thạch Sanh cũng được táihiện sinh động trên sân khấu múa rối nước
Điểm đặc biệt của nhân vật rối nước của Chàng Sơn là nhân vật “Tướng loa
-tướng chùy” Nhân vật -tướng loa, -tướng chùy lại biểu tượng cho một truyền thuyết của
nhân dân địa phương, đó là những vị tướng dưới quyền Hai Bà Trưng đi kêu gọi trai tráng
đi đánh giặc cứu nước Theo thuyết kể lại, nhân vật tướng loa bắt nguồn từ Đào KhangTiếu - một vị tướng dưới thời Hai Bà Trưng, được nhân dân địa phương tôn làm thànhhoàng làng, đời đời hương khói Nhân vật “Tướng loa” chính là người mở đầu, diễn tiếtmục mở đầu cho mỗi màn rối nước, thay thế nhân vật “Tễu” ở các phường rối khác
2.2 Tạo hình dân gian
2.2.1 Sân khấu và thủy đình
2.2.1.1 Sân khấu
Dùng nước làm nơi quân rối diễn trò, đóng kịch là đặc điểm độc đáo của nghệthuật rối nước Nước là yếu tố vừa cản trở, vừa hỗ trợ, vừa phối hợp, vừa công minhvới quân rối Nước còn là một nhân vật, một nhân vật chính yếu nữa chứ không phảichỉ là môi trường, chỉ là khung cảnh
Trang 40Sân khấu rối nước là loại sân khấu ngoài trời, là khoảng mặt nước giữa buồngtrò và nơi xem, dài khoảng từ 10m đến 15m Sân khấu múa rối nước chỉ thật hoànchỉnh khi các hàng cờ bật lên mở đầu buổi diễn và cũng tự kết thúc khi hàng quân rốisương, rối đô (hay còn gọi là quân đóng đường, quân lung linh, quân ông ninh )được kéo về hết Sân khấu múa rối nước được đánh dấu bằng mành cửa buồng trò ởphía sau, hai hàng lan can thấp (khoảng 0,2m) ở hai bên (khi diễn có hàng cờ bật lên
và hàng quân rối sương điểm tuyết) và thường có một cổng chào (gọi là cửa sóc)
Trước mặt cổng chào cũng là nơi cho quân rối hoạt động như ở trên có các trò Rồng
hành mã, Tiên múa, Đấu ngựa, đua xe đạp hoặc Rồng từ dưới nước leo lên cột
cổng phun nước hay ngược lại Cũng có phường bố trí hai đầu lân trên cột và chophun khói (gọi là lân phun khói)
Mặt khác, sân khấu trường trống trơn khi chưa ra trò Nhưng dưới mặt nướcnày là nhiều hệ thống cọc dây của máy điều khiển các trò dây Phần lớn các hệ thốngcọc, dây này đều từ trong buồng trò chạy ngầm ra, theo yêu cầu trò diễn trong phạm
vi sân khấu đã định để gây bất ngờ Sân khấu múa rối nước cổ truyền không có phôngcảnh trang trí Nó dùng ngay tấm mành cửa buồng trò làm phông hậu Các nghệ nhâncũng có khi quét màu và vẽ rồng phượng như kiểu mành thờ Trên sân khấu nàythường có những đạo cụ đựng sẵn như cây đu cho trò đánh đu, bụi cây cho trò chănvịt, đánh cáo Các vật này đều được bố trí ở hai bên hoặc ra ngoài sân khấu để tránhvướng cho các máy sào hoạt động
Sân khấu rối nước ở Chàng Sơn nhìn chung cũng có cấu tạo và bài trí giống với
các phường rối khác trên cả nước và được bài trí như một ngày hội làng thu nhỏ Ngay
phía trước của thủy đình là một bức tượng Thánh và hai hàng người rước kiệu để tái hiện
lại khung cảnh lễ hội xưa của người dân nơi đây, trước là lễ Phật rước Thánh, sau là phôbày trò rối Ngay sát thủy đình, một bên là cột cờ, bên kia là cây cau, hai vật dụng khôngthể thiếu cho trò rối nước Hai bên của sân khấu có trang trí thêm các hàng rối điểm tôthêm cho sân khấu thêm phần sinh động: Một bên dựng cảnh chơi đu, một bên dựngcảnh lò rèn, dệt vải… xen lẫn là những nhân vật biểu trưng cho người dân đến xem hội.Các vật dụng trang trí đều được sử dụng trong các trò rối của buổi biểu diễn
Về cấu tạo của sân khấu, chiều dài là 10m, chiều rộng là 5m trong khi khu vựcbiểu diễn chính thức chỉ khoảng 3m chiều ngang và 5m chiều dài Chỉ khi diễn các trò
“Rước kiệu rời tượng”, “Mời trầu” hay “Đốt pháo bật cờ”, “Mèo bắt chuột” … thì
mới sử dụng tối đa chiều rộng và chiều dài của sân khấu rối nước Chàng Sơn