Radugin Vũ Đình Phong dịch, 2002, Chú giải ngắn gọn lý thuyết văn hóa A concise glossary of cultural theory, 2002 của Brooker Peterr, Từ điển các nhà lý luận văn hóa, 1999 của Cashmore E
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn hóa học, với tư cách là khoa học chuyên ngành, có lịch sử chỉ mới trên dưới nửa thế kỷ, nhưng ngày càng chứng tỏ được sự phát triển mạnh mẽ Ở Việt Nam, văn hóa học đang bước đầu được xây dựng và thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Để góp phần vào việc phát triển văn hóa học nói chung, văn hóa học Việt Nam nói riêng, xây dựng một từ điển thuật ngữ văn hóa học nhằm cung cấp một công cụ hữu ích giúp học tập, nghiên cứu văn hóa và văn hóa học là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Đối với ngành văn hóa học còn khá mới mẻ ở Việt Nam, yêu cầu này càng bức thiết
Nhằm góp phần vào yêu cầu chung đó, chúng tôi chọn đề tài "Xây dựng hệ thống thuật ngữ văn hóa học: văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành văn
hóa học của mình Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi xác định đây là công việc tập sự nghiên cứu, bồi dưỡng tri thức và kỹ năng, đồng thời mong muốn được góp phần xây dựng mảng thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn nhằm giúp bạn đọc rộng rãi người Việt Nam, kể cả người nước ngoài học tập và nghiên cứu văn hóa Việt Nam, có tài liệu tham khảo, tra cứu phục vụ cho công việc học tập, nghiên cứu của mình
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 2Đối tượng nghiên cứu của luận văn, như đã nêu trên, là thuật ngữ văn hóa học Tuy nhiên, đây là đề tài rất rộng lớn nên chúng tôi giới hạn ở mảng thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn Thực
tế, đây là hai chủ đề trong một công trình chung do tập thể tác giả biên soạn: "Xây dựng từ điển văn hóa học giải nghĩa và đối chiếu"
Trong hệ thống thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn, chúng tôi chú ý đến cả thuật ngữ văn hóa học lý luận và văn hóa học ứng dụng
Về mặt khái niệm, từ "thuật ngữ" được hiểu là các từ ngữ biểu đạt các khái niệm chuyên môn của một ngành khoa học, ở đây là văn hóa học Khái niệm "thuật ngữ văn hóa học" ở đây cũng được hiểu bao gồm không chỉ các thuật ngữ phân loại, đánh giá do các nhà khoa học tạo nên (văn hóa học theo nghĩa hẹp), mà cả những thuật ngữ chỉ các hiện thực văn hóa mang tính khái quát Về nghệ thuật ngôn từ, chúng tôi xác định nghệ thuật ngôn từ ở nghĩa rộng là ngôn từ được sử dụng có tính nghệ thuật trong giao tiếp, sáng tác văn chương Về nghệ thuật biểu diễn chúng tôi tập trung vào loại hình nghệ thuật thanh sắc như sân khấu, ca nhạc… và cả các hình thức diễn xướng dân gian
Thuật ngữ chỉ các hiện thực văn hóa vô cùng phong phú, dễ dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu trong việc chọn mục từ Nhằm khắc phục ít nhiều tình trạng trên, đối với các thuật ngữ về các hiện thực văn hóa của các nền văn hóa cụ thể, chúng tôi chỉ dừng ở mức độ những thuật ngữ có mức độ phổ biến cao, vượt ra khỏi phạm vi của nền văn hóa đó Thứ tự ưu tiên cho các thuật ngữ dạng này cũng xét theo các vùng sau: Việt Nam > Đông Nam Á (ngoài Việt Nam) và Đông Bắc Á > phương Đông (ngoài Đông Nam Á và Đông Bắc Á) > phương Tây
Trang 33 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trên thế giới đã có những công trình từ điển về văn hóa và văn hóa
học, tiêu biểu như Từ điển bách khoa văn hóa học của A.A Radugin (Vũ Đình Phong dịch, 2002), Chú giải ngắn gọn lý thuyết văn hóa (A concise glossary of cultural theory, 2002) của Brooker Peterr, Từ điển các nhà lý luận văn hóa, 1999 của Cashmore Ellis & Rojek Chris, Bách khoa toàn thư
về các nền văn minh châu Á, 1987 của Frédéric Louis… Ở Việt Nam cũng
có một số công trình như Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, 2002 do Hữu Ngọc chủ biên, :Từ điển Văn hóa Đông Nam Á phổ thông, 1999 của
Ngô Văn Doanh…
Về lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam
cũng có những công trình như :Từ điển Thuật ngữ Văn học, 1992 do Lê Bá Hán chủ biên, :Từ điển Văn học (Bộ mới), 2004 do Đỗ Đức Hiểu chủ biên, :Từ điển Văn học Việt Nam, 1995 của Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường, Từ điển Thuật ngữ Ngôn ngữ học đối chiếu Anh - Việt Việt – Anh,
2005 của Cao Xuân Hạo - Hoàng Dũng, Từ điển Nghệ thuật Hát bội Việt Nam, 1998 của Nguyễn Lộc…
Các công trình kể trên có những đóng góp lớn về phổ biến tri thức
lý luận chung và tri thức chuyên ngành, nhất là có giá trị tra cứu, dịch thuật Nhưng nhìn chung, đến nay vẫn cần có công trình nghiên cứu xác định rõ góc nhìn văn hóa học về các lĩnh vực chuyên ngành, về hệ thống thuật ngữ chuyên ngành Trên tinh thần kế thừa kết quả nghiên cứu của người đi trước, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung vào hệ thống thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn trên tinh thần đó
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
Trang 41 Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: để lựa chọn từ đưa vào bảng
thuật ngữ và để giải nghĩa thuật ngữ
- Phương pháp thống kê: để lựa chọn từ đưa vào bảng thuật ngữ
theo hướng các thuật ngữ mang tính phổ biến
- Phương pháp hệ thống: để xây dựng bảng thuật ngữ, phân loại
thuật ngữ
- Phương pháp phân tích nghĩa: để giải nghĩa thuật ngữ
- Phương pháp đối chiếu - so sánh: để xây dựng phần từ điển đối
chiếu Việt – Anh Về phần đối chiếu Việt – Anh, các thuật ngữ, chủ yếu là các thuật ngữ chỉ hiện thực văn hóa không có từ tương đương trong tiếng Anh, chúng tôi giữ nguyên tên gọi
2 Nguồn tư liệu:
Trên cơ sở nguồn tư liệu được nhóm thực hiện từ điển thuật ngữ chuyên ngành văn hóa học đề nghị khảo sát và bước đầu xử lý chọn mục
từ, gồm 70 công trình, chúng tôi tiến hành đọc và rút tỉa các thuật ngữ liên quan đến mảng văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn Ngoài
ra chúng tôi còn mở rộng thêm ở các tài liệu mang tính chuyên ngành nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật biểu diễn và các trang web liên quan (Xin xem thư mục tài liệu tham khảo)
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn góp phần vào việc xây dựng từ điển chuyên ngành văn hóa học Riêng phần thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật
Trang 5biểu diễn của luận văn sẽ góp phần cung cấp một cái nhìn tổng thể về hệ thống thuật ngữ lý luận và hiện thực văn hóa gắn với hai lĩnh vực này và góp phần giúp bạn đọc cũng như các nhà nghiên cứu có công cụ hữu ích trong nghiên cứu văn hóa và văn hóa học
6 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ
Chương 3: Thuật ngữ văn hóa nghệ thuật biểu diễn
Trang 6Trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” (Primitive Culture) xuất bản từ năm 1871, E.B Taylor, một tác giả đi tiên phong trong ngành nhân học
và được coi là người đầu tiên có định nghĩa khoa học về “văn hóa”, thì:
"Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách
là một thành viên của xã hội” [E.B Taylor, 2001, 13]
Định nghĩa của E.B Taylor tuy không phân biệt “văn hóa” với “văn minh” nhưng cũng nêu được các đặc tính cơ bản của văn hóa Theo Vũ
Minh Chi, đó là Tính đối tự nhiên (văn hóa là năng lực và tập quán do con người “thu nhận” được), Tính cá thể - tính khác biệt (văn hóa là năng
lực và tập quán mà con người thu nhận được với tư cách là “một thành
viên của xã hội”), và Tính phức tạp – tính toàn thể (văn hóa là một phức
thể gồm tri thức, tín ngưỡng…) [Vũ Minh Chi, 2004, 39-40]
Từ sau định nghĩa của E.B Taylor, theo đà phát triển của khoa học
xã hội và nhân văn cũng như tùy theo chuyên ngành nghiên cứu về văn hóa, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa nhằm làm rõ hơn
Trang 7đặc trưng của văn hóa và cách tiếp cận văn hóa phù hợp với chuyên ngành
Leslie.A.White đã định nghĩa: "Văn hóa là môi trường do con người tạo ra và nó tồn tại do năng lực tượng trưng hóa" [Leslie.A.White, Hoàng Ngọc Hiến lược dịch, Văn hóa dân gian, số 1-1995, 12] Đóng góp của L.A White trong định nghĩa này là nhấn mạnh đến năng lực biểu trưng hóa của con người, xem như một trong những tiêu chí đặc thù phân biệt giữa con người với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa với các loài động vật khác, đồng thời gợi ra hướng tiếp cận văn hóa từ góc độ xem xét tính biểu trưng của của văn hóa
Theo Federico Mayor, tổng giám đốc UNESCO thì có nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng cách hiểu: "Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu này được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise Đến năm
1982, hội nghị thứ hai gọi là “Mondiacult” đã phê chuẩn cách tiếp cận đó" [Người đưa tin UNESCO, tháng 11-1989, 7]
Định nghĩa của UNESCO đã nêu được cả về tính phổ quát của văn hóa lẫn tính đa dạng của của văn hóa Đây là một trong những đóng góp đáng ghi nhận của tổ chức UNESCO
Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng có định nghĩa về văn hóa: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc,
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
Trang 8tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn" [Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, 421]
Trong tình hình có quá nhiều định nghĩa về văn hóa, Trần Ngọc Thêm đã khảo sát nhiều định nghĩa về văn hóa và rút ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [Trần Ngọc Thêm, 1999, 10]
Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm đã vừa nhấn mạnh đến tính hệ thống của văn hóa, vừa nêu được những đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa, có ý nghĩa khoa học trong việc tiếp cận văn hóa với tư cách là hệ thống thống nhất hữu cơ với các quan hệ đa dạng của các thành tố tạo nên cấu trúc của hệ thống văn hóa
1.1.2 Tuy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng theo Trần Ngọc Thêm, suy cho cùng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng
để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong
Trang 9[Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam, 2000, 17-18]
Theo cách hiểu trên, nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần, văn hóa tinh hoa.; còn chia theo thành
tố, nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn gắn với văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, thuộc thành tố văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng [Trần Ngọc Thêm, 1997, 111]
Quả vậy, văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của một cá nhân cũng như của
cả cộng đồng, đồng thời góp phần thể hiện rõ bản sắc văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc Cách nhìn nhận về vị trí của văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn xét theo giới hạn chiều sâu và xét theo vai trò của chúng trong tổ chức đời sống cộng đồng chính là cơ sở lý luận cho chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1.2.1 Nếu như các thuật ngữ lý luận về văn hóa nghệ thuật ngôn
từ và nghệ thuật biểu diễn thường có cách hiểu khá thống nhất thì thuật ngữ về các hiện thực văn hóa thuộc hai mảng này rất phong phú, đa dạng Việc định nghĩa những thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng trong việc giới thiệu các hiện thực văn hóa trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật
Qua tổng hợp và rút ra từ vốn thuật ngữ được định hướng đọc và chọn thuật ngữ của nhóm làm từ điển thuật ngữ văn hóa học như đã nói ở mục trước, chúng tôi có được 500 thuật ngữ thuộc văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn Ngoài ra chúng tôi còn đọc thêm các tư liệu liên quan, truy cập internet và tổng hợp được số lượng trên 100 thuật ngữ
Trang 10Trong luận văn này, trên cơ sở lựa chọn thuật ngữ như tiêu chí đã
đề ra trong mục Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chọn khoảng
308 từ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi gặp những khó khăn nhất định trong việc tìm thông tin cho mỗi mục từ vì thời gian
có hạn cũng như hạn chế về tài liệu và hình ảnh, vì vậy một số từ và hình ảnh dù cần thiết cho hệ thống thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn nhưng không được đưa vào hệ thống và một số mục
từ còn thiếu hình ảnh minh họa Sau này, khi có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung những gì còn thiếu sót trong luận văn này
để xây dựng hệ thống thuật ngữ văn hóa nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn ở mức độ rộng hơn
Trang 11CHƯƠNG 2 THUẬT NGỮ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
2.1 Quy cách:
Từ khoảng 600 thuật ngữ thu thập được từ việc khảo sát và phân tích các tài liệu cơ bản và các từ điển về nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật biểu diễn, chúng tôi đã chọn lọc được 126 từ mang tính chuyên môn, phổ biến trong nghệ thuật ngôn từ Trên cơ sở đó, chúng tôi phân loại từ theo 3 lĩnh vực gồm thuật ngữ về lý luận, các thuật ngữ gắn với chủ thể và các thuật ngữ gắn với sản phẩm Việc phân loại này chỉ mang tính tương đối vì
có những trường hợp không dễ phân biệt rạch ròi, như giữa mục từ về lý luận và mục từ về chủ thể chẳng hạn
Cấu trúc mỗi mục từ gồm có:
- Thuật ngữ tiếng Việt
- Thuật ngữ tương đương nếu có (tiếng Anh)
- Hình ảnh (nếu có)
- Giải nghĩa và thông tin: gồm Quan hệ hàng trên (thuộc loại nào)
và quan hệ hàng dưới (bao gồm những loại nào) Quan hệ hàng dưới sẽ được in nghiêng để phân biệt và thể hiện sự liên hệ với
từ hàng trên (không theo trật tự abc) Ví dụ: mục từ Thơ có quan
hệ hàng dưới là Thơ trào phúng, Thơ trữ tình, Thơ tự do, Thơ văn xuôi
- Tài liệu đọc thêm (nếu cần)
Trang 122.2 Thuật ngữ:
2.2.1 Lý luận
Bố cục (disposition)
Một bộ phận của kết cấu, là bề mặt của kết cấu
Khi sáng tác, nhà văn có những chủ đích nhất định về tư tưởng và nghệ thuật Theo những chủ đích ấy, nhà văn xây dựng một kết cấu: bố trí sắp xếp các nhân vật, các sự kiện, các cảnh, các đoạn trữ tình ngoại đề… thành hệ thống trong một chỉnh thể tác phẩm
Bút pháp (penmanship)
Cách thức hành văn, dùng chữ, bố cục, cách sử dụng các phương
tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật nào đó Bút pháp cũng tức là cách viết, lời viết Người ta thường nói: bút pháp trào lộng, bút pháp trữ tình, bút pháp cổ kính…
Cảm hứng chủ đạo (main inspiration)
Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm
Cảm hứng chủ đạo còn là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ
thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 32]
Cấu trúc tác phẩm (work structure)
Tổ chức nội tại, sự quan hệ qua lại giữa các yếu tố của văn bản mà việc thay đổi một yếu tố nào đó sẽ kéo theo sự biến đổi của các yếu tố khác
Cách hiểu tác phẩm nghệ thụât như một cấu trúc đã có từ văn học
cổ đại Hy-La; mỹ học cổ đại đặc biệt chú trọng tính cân đối, cân xứng, nhịp điệu, sự tương ứng về số lượng của các thành tố Trong khoa nghiên
Trang 13cứu văn học của thế kỷ XX, cấu trúc của tác phẩm thường đựợc hiểu như
là bố cục, là cấu tạo, kết cấu, là quan hệ lẫn nhau giữa các hình tượng nhân vật và các hình tượng nghệ thụât khác, là tương quan giữa các lớp đề tài -
tư tưởng, các phương thức phát triển hành động, là việc tổ chức các khối ngôn ngữ và các yếu tố lời thơ lời văn
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 34]
Chủ nghĩa cấu trúc (structuralism)
Trường phái nghiên cứu trong văn hóa học, trong nghiên cứu văn học và các ngành khoa học xã hội coi trọng việc xác lập các mối quan hệ
nội tại giữa các yếu tố cấu thành đối tượng nghiên cứu Hình thành từ đầu thế kỷ XX ở châu Âu từ ngành ngôn ngữ học (F de Saussure) rồi lan sang
ký hiệu học, nhân học văn hóa, văn học…
Đồng nghĩa: Cấu trúc luận
Trái nghĩa: Giải kết cấu luận
Chủ nghĩa hiện đại (modernism)
Dùng để chỉ chung các trường phái nghệ thuật phương Tây hiện đại
như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa siêu thực, tiểu
thuyết mới, v.v
Đây là một trào lưu triết học - mĩ học trong văn nghệ thế kỉ XX, phản ánh sự khủng hoảng của thế giới tư bản và hệ ý thức do nó tạo ra
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 51]
Chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism)
Một tập hợp đa nghĩa các quan niệm triết học, lý luận nhận thức, lý luận khoa học và xúc cảm mỹ học, mà tính linh hoạt phụ thuộc vào văn cảnh lịch sử, xã hội và dân tộc
Chủ nghĩa hậu hiện đại hiện diện như là sự định tính một trạng thái
tinh thần nhất định, một phương thức tiếp nhận và cảm thụ thế giới và
Trang 14đánh giá cả những khả năng nhận thức của con người lẫn vị trí và vai trò của nó trong thế giới xung quanh
Chủ nghĩa hậu hiện đại trải qua một giai đoạn hình thành tiềm ẩn
lâu dài từ khoảng cuối Thế chiến thứ nhất (trên tất cả các lĩnh vực nghệ thuật: văn học, nhạc, hội họa, kiến trúc, v.v…), và mãi cho tới tận đầu những năm 80 thế kỉ XX mới được thừa nhận như một hiện tượng thẩm
mỹ chung của văn hóa phương Tây, và được nhận định về mặt lý luận như một hiên tượng đặc thù của triết học, mỹ học và phê bình văn học
[Xem thêm: Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ XX: 385]
Chủ nghĩa hiện thực (realism)
Qui định một trào lưu, khuynh hướng văn học có nội dung chặt chẽ,
mô tả cuộc sống bằng hình tượng tương ứng với bản chất những hiện tượng của chính cuộc sống và bằng điển hình hóa các sự kiện của thực tế đời sống
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 59]
Chủ nghĩa lãng mạn (romanticism)
Trào lưu văn hóa lớn nhất ở Âu - Mỹ vào cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, có ảnh hưởng và có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển văn học nghệ thuật toàn thế giới
Chủ nghĩa lãng mạn dùng để chỉ tất cả những cái gì hoang đường,
kì lạ, khác thường, thường được dùng như sự đối lập với chủ nghĩa hiện thực
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 59]
Hình tượng nghệ thuật
Cách thể hiện đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật
Trang 15Hình tượng nghệ thuật có thể là hình tượng con người, bao gồm cả
hình tượng một tập thể người (như hình tượng nhân dân hoặc hình tượng
Tổ quốc), cũng có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên thiên hay một
sự kiện xã hội được cảm nhận
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 98]
Loại hình nghệ thuật
Những hình thức tồn tại ổn định của nghệ thuật đã hình thành trong lịch sử như hội họa, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, văn học, sân khấu, xiếc, nhiếp ảnh, điện ảnh v.v…
Ví dụ: Văn học xây dựng hình tượng bằng ngôn từ, hội họa bằng đường nét, màu sắc sáng tối, âm nhạc bằng âm thanh…
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 127]
Mô típ (motif)
Chỉ những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định, bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật dân gian
Người Trung Quốc gọi là "mẫu đề" (do phiên âm chữ motif trong tiếng Pháp), có thể chuyển thành các từ "khuôn", "dạng" hoặc "kiểu" trong tiếng Việt
Ví dụ: mô típ "người đội lốt cóc", "lốt quả thị", "lốt cọp"…
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 136]
Nghệ thuật vị nghệ thuật (art for art's sake)
Một nguyên lý mỹ học duy tâm, chủ trương nghệ thuật độc lập với đời sống xã hội và chính trị, khước từ sứ mệnh của nghệ sĩ trong đấu tranh
xã hội, thường là cơ sở lý luận cho các trường phái và khuynh hướng văn học có thái độ bất hòa với hiện thực, tìm lối thoát trong hình thức chủ nghĩa
Trang 16Từ đồng nghĩa: nghệ thuật thuần túy
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 140]
Nghệ thuật vị nhân sinh (art for life's sake)
Lí thuyết khẳng định bản chất xã hội của nghệ thuật, chủ trương nghệ thuật gắn với đời sống xã hội và chính trị, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật thoát li cuộc sống, "nghệ thuật thuần tuý" vốn coi hình thức là trên hết
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 140]
Ngôn ngữ nhân vật (character‘s language)
Lời nói của nhân vật trong các tác phẩm thuộc các loại hình tự sự và kịch, được nhà văn sử dụng như một phương tiện quan trọng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật Trong tác phẩm, nhà văn có thể cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lắp lại những từ, câu mà nhân vật thích nói kể cả từ ngoại quốc và từ địa phương v.v… trong các tác phẩm tự sự, nhà văn còn thường trực tiếp miêu tả phong cách ngôn ngữ của nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật là một phạm trù lịch sử Trong văn học trung đại, do ý niệm cá nhân chưa phát triển, ngôn ngữ nhân vật chưa có được sự
cá thể hóa sâu sắc, và chưa phân biệt với ngôn ngữ tác giả Với chủ nghĩa hiện thực, ngôn ngữ nhân vật được coi là một đối tượng miêu tả, cá tính hoá trở thành một yêu cầu thẩm mỹ
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 147]
Ngôn ngữ văn học (literary language)
Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng hơn, nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ có tính nghệ thuật
Trang 17[Xem thêm :Từ điển Văn học Việt Nam: 147]
Ngôn từ nghệ thuật (artistic words)
Loại hình ngôn ngữ dùng để biểu đạt nội dung hình tượng của các
tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
Tiêu biểu cho ngôn từ nghệ thuật là sự sử dụng liên tục chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ, thể hiện ý đồ tác giả, trong khi đó ở các dạng thức khác của lời nói, chức năng này biểu lộ không thường xuyên
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 154]
Nhân vật trữ tình (lyrical character)
Hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý thức tác giả Nhân vật trữ tình là con người "đồng dạng" của tác giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình (một chùm thơ, toàn bộ trường ca hay toàn bộ sáng tác thơ) như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung (mặc dù không bao giờ đạt tới đặc điểm của một nhân vật như trong tác phẩm tự sự hay kịch)
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 162]
Phê bình văn học (literature's criticism)
Vừa là một hoạt động nghệ thuật, vừa là một bộ môn khoa học về
văn học Phê bình văn học vừa tác động tới sự phát triển của văn học, vừa
Trang 18tác động tới độc giả, góp phần hình thành thị hiếu thẩm mỹ cho quần chúng
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 168]
Phong cách ngôn ngữ (language's style)
Sự lựa chọn về phương diện ngôn ngữ học nhằm mục đích biểu đạt không chỉ phải có hiệu quả nhất, mà còn phải hay nhất, tinh tế nhất một ý tưởng, một tình cảm nào đó
Phong cách ngôn ngữ phản ánh những cách thức khác nhau được
dùng để biểu hiện cùng một nội dung
[Xem thêm Nhập môn ngôn ngữ học: 167]
Thi tứ (poetical ideas)
Cảm xúc thơ
Tìm tứ là xác định cảm xúc và hình ảnh thơ Cấu tứ là tạo được hình tượng có khả năng khêu gọi được cảm xúc thơ, tức cái cảm xúc nhân văn của tâm hồn con người
Từ đồng nghĩa: tứ thơ
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 208]
Tính biểu trưng (symbolism)
Một đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Tính biểu trưng thể
hiện ở xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa với những cấu trúc cân đối, hài hòa
Xu hướng ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích diễn đạt bằng các con
số biểu trưng: ba chìm bảy nổi, ba mặt một lời…
Xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ cũng là một biểu hiện của tính biểu trưng Các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt đều có cấu trúc
2 vế đối ứng Vd: trèo cao/ ngã đau…
Trang 19Tính khuynh hướng (orientation)
Chỉ ý định chủ quan, chiều hướng tư tưởng mà nhà văn muốn thể hiện trong tác phẩm
Trong sáng tác, nhà văn, nghệ sĩ thường đề cao nguyên tắc khách quan trong phản ánh hiện thực, có ý thức tôn trọng sự thực trong cuộc sống
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 236]
Tính minh hoạ (illustration)
Chỉ việc sử dụng các hình thức và thủ pháp nghệ thuật của văn học
để minh hoạ những tư tưởng hoặc vấn đề nào đấy vốn đã có sẵn và đã biết trước từ những hình thái ý thức xã hội khác như đạo đức, chính trị, tôn giáo… chứ không phải sáng tác từ sự thôi thúc của ý thức thẩm mỹ của mình, từ những tư tưởng và vấn đề do chính mình phát hiện và đề xuất Tính minh hoạ hạ thấp phẩm chất tư tưởng và nghệ thuật của văn học
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 237]
Tính nghệ thuật (artiness)
Thuật ngữ được sử dụng nhằm phân biệt với tính tư tưởng để đánh giá chất lượng nghệ thuật, tức phẩm chất giá trị của chính những đặc trưng hình tượng nói trên, về sự sâu sắc và sinh động, về sự truyền cảm và lay động tư tưởng
Tính nghệ thuật thể hiện ở cấu tứ độc đáo, miêu tả sinh động, kết
cấu tài tình, ngôn ngữ gợi cảm, gây ấn tượng đặc biệt, có sức thuyết phục
và lôi cuốn của tác phẩm
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 238]
Trang 20Trào lưu văn học (literary trend)
Hiện tượng lịch sử gắn liền với sự vận động mạnh mẽ của quá trình văn học nhằm khắc phục những mâu thuẫn nội tại để đưa văn học phát triển sang một giai đoạn mới hoặc theo một hướng nhất định nào đó
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 243]
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 268]
2.2.2 Chủ thể
Bút danh (pen-name)
Tên khác với tên vốn có, dùng khi viết văn
Ví dụ: Tố Hữu là bút danh của Nguyễn Kim Thành, Nam Cao là bút danh của Trần Hữu Tri,…
Sử dụng bút danh là hiện tượng phổ biến trong văn học toàn thế
giới thuộc mọi thời đại
[Xem thêm Từ điển Tiếng Việt: 92]
Trang 21Người kể chuyện (teller)
Hình tượng ước lệ trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết một câu chuyện nào đó
Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và
một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp, hay lập trường xã hội, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 153]
Người trần thuật (narrator)
Người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi
Chữ viết dùng các ký hiệu, hình ảnh để thể hiện ý nghĩ của mình
Chữ hình nêm do người Sumerian phát minh vào khoảng năm 3.300
trước công nguyên và được sử dụng khắp Trung Đông cho tới thế kỷ thứ
Trang 22nhất sau công nguyên Họ viết chữ theo hình “góc” (như đầu đinh) lên đất bằng những cây sậy đã được vót nhọn
thiêng đối với những người dân Đông Nam Á theo Phật giáo Tiểu thừa Theravada
[Xem thêm :Từ điển Văn hóa Đông Nam Á phổ thông: 318]
Chữ Sanskrit
Chữ của các tộc người từ phía bắc xâm chiếm Ấn Độ
Qua nhiều thế kỷ hoàn thiện, tiếng Sanskrit (tiếng Phạn) đã có thể
dịch những chân lý thần bí của các "Rishi" và các bộ kinh của Phật giáo,
Ấn Độ giáo… Ngày nay, Sanskrit là tử ngữ như chữ Latinh nhưng vẫn là thứ chữ thiêng của người Ấn Độ (Sanskrit có nghĩa đen là đầy đủ, hoàn
chỉnh và xác định)
[Xem thêm :Từ điển Văn hóa Đông Nam Á phổ thông: 398]
Chữ viết ghi âm (phonetic writing)
Loại chữ viết không quan tâm đến mặt nội dung, ý nghĩa của từ mà
chỉ ghi lại chuỗi âm thanh của từ đó Chữ viết ghi âm là đại diện của ngữ
âm chứ không phải của ý nghĩa Quan hệ giữa chữ và ý ở đây là một quan
hệ gián tiếp mà âm là trung gian
chữ _ âm _ ý
Trang 23Chữ viết ghi âm được chia ra làm hai loại Chữ ghi âm tiết và chữ
ghi âm vị Ở chữ viết ghi âm tiết, mỗi kí hiệu biểu thị một âm tiết Số lượng âm tiết so với số lượng từ thì ít hơn nhiều, vì vậy chữ ghi âm tiết đơn giản hơn hẳn chữ ghi ý Ưu thế đặc biệt của kiểu chữ viết này là số lượng kí hiệu ghi âm được giảm xuống nhiều, do đó con người có thể tiết kiệm được sức lực và thời gian trong việc học đọc, học viết
[Xem thêm :Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt: 119]
Chữ viết ghi ý (ideographic writing)
Loại chữ viết cổ nhất của loài người, chữ viết ghi ý không có quan
hệ với mặt âm thanh mà chỉ có quan hệ với mặt ý nghĩa của ngôn ngữ Quan hệ giữa ý và chữ ở đây là trực tiếp
chữ ý
Thông thường mỗi một chữ ghi ý đều biểu thị trực tiếp nội dung, ý nghĩa của một từ Do đó, về nguyên tắc, có bao nhiêu từ phải đặt ra bấy nhiêu kí hiệu để ghi Số lượng từ của một ngôn ngữ tuy không vô hạn nhưng rất lớn vì vậy số lượng để biểu thị ý nghĩa của nó sẽ nhiều vô kể, trong khi đó thì khả năng ghi nhớ của bộ óc con người lại có hạn Đây là
điều bất tiện cơ bản, là hạn chế chính của chữ viết ghi ý
[Xem thêm :Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt: 119]
2.2.3.2 Các phép tu từ
Ẩn dụ (metaphor)
Biện pháp tu từ chuyển đặc tính của đối tượng (sự vật, hiện tượng) này cho đối tượng khác, theo nguyên tắc có sự tương đồng hoặc tương phản với nhau
Ví dụ:
Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Trang 24[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 9]
Những bài thơ Yết hậu chỉ có một hai tiếng ở câu cuối, những bài thơ tiệt hạ đằng sau bỏ lửng chính là đã sử dụng phương thức tu từ này:
Sư: "Chơi xuân kẻo nữa già,
Lâu nay vẫn muốn mà,
Mời Vãi vào nhà hậu,
Ta…!"
Vãi: "Đã mang tiếng xuất gia,
Còn đeo thói nguyệt hoa,
Sư mô đâu có thể,
Ma!"
(Thơ Yết hậu - Khuyết danh)
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 9]
Biền ngẫu (parallel constructions)
Dạng thức câu văn tổ chức theo một số nguyên tắc tương đối chặt
chẽ về số lượng từ (chữ), về nhịp, về tính cân đối trong ngữ nghĩa (Biền: hai con ngựa chạy sóng đôi, ngẫu: từng cặp)
[Xem thêm :Từ điển Văn học Việt Nam: 30]
Trang 25Chơi chữ (amphibology)
Biện pháp tu từ tập trung khai thác những tương đồng về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn cảnh nhằm tạo ra những liên tưởng bất ngờ, thú vị
Ví dụ: Con cá đối nằm trên cối đá…
[Xem thêm Từ điển Văn hóa cổ truyền Việt Nam: 146]
Cước vận
Xem vần chân
Đảo ngữ (converse words)
Hiện tượng vi phạm có chủ định trật tự chuẩn mực của các đơn vị lời nói, nhằm mục đích tách ra một thành tố nghĩa - cảm xúc nào đó
Chức năng tu từ của đảo ngữ là làm thay đổi tiết tấu của câu, làm giàu âm hưởng, gợi màu sắc biểu cảm - cảm xúc, gây ấn tượng mạnh, tách trung tâm nghĩa của thông báo
Ví dụ:
Việt Nam đất nước ta ơi!
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che phủ Trường Sơn sớm chiều
[Xem thêm :Giáo trình tiếng Việt: 279]
Điệp ngữ (repeated words)
Lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh ý, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe
Ví dụ:
Mai sau,
Trang 26Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
[Xem thêm :Giáo trình tiếng Việt: 274]
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
[Xem thêm :Giáo trình tiếng Việt: 269]
Mỉa mai (irony)
Phương thức biểu cảm mà ý nghĩa đánh giá đích thực ngược hẳn với
ý nghĩa của phát ngôn, là sự phản đối, phủ định dưới mặt nạ tán dương, khẳng định
Chẳng hạn nói “Đẹp (mặt) nhỉ!”, nghĩa là "xấu hổ chưa!" Sự mâu
thuẫn đối lập giữa phản đối và tán dương càng lớn thì sức mạnh mỉa mai
Trang 27Nhân hóa (personify)
Phép tu từ chuyển những đặc điểm của con người, sinh thể sang những đối tượng và hiện tượng không phải người
Ví dụ:
Mặt trời say rượu tắm bên sông
Nước thẹn bâng khuâng ửng má hồng
Nhã ngữ (refined words)
Phép tu từ, trong đó những từ ngữ nhã nhặn, lịch sự được dùng để thay thế những từ thô lỗ, khó nghe, không đúng mực
Nhã ngữ thường được dùng trong khi nói về cái chết, về mặt không
tốt của con người, của thực trạng xã hội, về những hoạt động trong sinh lí để sự diễn đạt được tế nhị, thanh nhã
Bác đã lên đường theo tổ tiên
Mác – Lênin , thế giới người hiền
Trong phép đối gồm có đối ý và đối chữ
Đối ý là tìm hai ý tưởng cân xứng nhau để đặt thành hai câu gống nhau
Đối chữ là thực hiện phép đối tại các vị trí tương ứng ở hai câu đó
về thanh điệu, từ loại
[Xem thêm :Từ điển Văn học Việt Nam: 366]
Trang 28Phóng đại (magnify)
Biện pháp tu từ, cố ý cường điệu những thuộc tính (kích thước, đặc điểm, màu sắc, hình thức, số lượng) của khách thể hoặc hiện tượng nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tượng cần miêu tả, gây ấn tượng đặc biệt mạnh mẽ
Ví dụ: Trăm công nghìn việc, Không cánh mà bay, Tiếc đứt ruột, Chân cứng đá mềm
[Xem thêm :Giáo trình tiếng Việt: 265]
Phúng dụ (allegory)
Một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta dùng hình ảnh cụ thể, sinh động để biểu thị một ý niệm về triết lí nhân sinh, hay một bài học về luân lí đạo đức
Phúng dụ thường được dùng trong truyện ngụ ngôn (Trê cóc, Lục súc tranh công ), ca dao (con mèo mày trèo cây cau, con cò mà đi ăn đêm ), trong các bài ca tuyên truyền vận động (Con cáo tổ ong, Nhóm lửa )
[Xem thêm :Giáo trình tiếng Việt: 269]
Thậm xưng (exess word)
Lối dùng chữ nói quá sự thật, có khi vô lý với mục đích hài hước, châm biếm
Ví dụ:
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
Tượng trưng (symbol)
Những ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ dùng nhiều lần, dùng phổ biến, trở nên quen thuộc với mọi người, đến mức hễ nhắc đến nó ai cũng hiểu thống nhất về nội dung biểu hiện của nó
Trang 29Ví dụ: búa liềm (công nông), bồ câu (hoà bình)
[Xem thêm :Giáo trình tiếng Việt: 271]
Uyển ngữ (euphemism)
Hình ảnh tu từ trong đó người ta thay tên gọi một đối tượng bằng sự miêu tả những dấu hiệu cơ bản của nó, nhằm tăng cường tính tạo hình cho lời nói
Ví dụ: phái đẹp (phụ nữ), phái mạnh (nam giới)
[Xem thêm :Giáo trình tiếng Việt: 271]
Vần chân (terminal rhyme)
Vần được gieo vào cuối dòng thơ, có tác dụng đánh dấu sự kết thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ
Ví dụ:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)
Từ đồng nghĩa: cước vận
[Xem thêm :Từ điển Thuật ngữ Văn học: 294]
Vần lưng (medial rhyme)
Vần được gieo vào giữa dòng thơ
Ví dụ:
Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắng dài bãi cát
(Mẹ Tơm - Tố Hữu) Vần lưng là một hiện tượng đặc sắc của luật vần Việt Nam, tạo nên tính chất giàu nhạc điệu của tiếng Việt và câu thơ Việt Nam
Trang 30Đêm nay rừng hoang sương muối
Ngồi cạnh bên nhau chờ giặc tới
Ca dao (folk song)
Chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian
có hoặc không có khúc điệu (trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca)
Từ một thế kỉ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam
đã dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng láy, tiếng đệm, tiếng đưa hơi)
Ví dụ: Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Trang 31Từ đồng nghĩa: phong dao
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 22]
Cáo (proclamation)
Một thể loại văn bản hành chính thường được dùng cho vua chúa hoặc thủ lĩnh, tổng kết một công việc, trình bày một chủ trương xã hội chính trị cho dân chúng biết
Ví dụ: “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi
[Xem thêm: Từ điển Văn học Việt Nam: 47]
êm vừa ấm lại ngờ bất trung" - cái phản); có khi là một bài hát đố dài, được dùng trong lối hát đối
[Xem thêm: Từ điển Văn học Việt Nam: 47]
Châm ngôn (precept)
Lời nói để răn đời, ngăn ngừa sai trái, có tác dụng hướng dẫn về tư tưởng đạo đức, cách sống
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 37]
Dã sử (unofficial history)
Chuyện sử dân gian, do dân gian lưu truyền qua nhiều thời đại (Dã
là chốn quê mùa, chốn đồng ruộng)
Nội dung dã sử là những câu chuyện, những lời đồn đại gắn với lịch
sử, đôi khi cũng được nhìn nhận như một tài liệu lịch sử
Trang 32Ví dụ: Mai An Tiêm, Bánh chưng bánh dày…
Giai thoại (anecdote)
Một thể loại truyện kể ngắn gọn về một tình tiết có thực hoặc được thêu dệt về những nhân vật được nhiều người biết đến
Ví dụ: giai thoại Trạng Quỳnh, giai thoại Lê Quý Đôn…
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 90]
Hịch (proclamation)
Một thể văn cổ mà các tướng lĩnh, vua chúa hoặc người thủ lĩnh một tổ chức, một phong trào dùng để kêu gọi, cổ vũ mọi người hăng hái chiến đấu tiêu diệt kẻ thù
Ví dụ: Hịch tướng sĩ văn của Trần Hưng Đạo (thế kỉ XIII), Hịch đánh chuột của Nguyễn Đình Chiểu…)
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 98]
Ví dụ: Con có cha như nhà có nóc, Học thầy không tày học bạn…
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 137]
Trang 33của đời sống mà tác giả hoặc nhân vật chính là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến
Khác với hồi kí, nhật ký thường chỉ ghi lại những sự kiện, những
cảm nghĩ "vừa mới xảy ra" chưa lâu
Cũng giống như trong các loại nhật ký khác ngoài văn học (Nhật ký
riêng tư, nhật ký khoa học, nhật ký công tác…), những điều ghi chép và những cảm nghĩ trong nhật ký văn học thường có độ chân thực, cởi mở đáng tin cậy Song điểm khác nhau cơ bản là ở chỗ nhật ký văn học thường hướng về một tư tưởng, chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú ý tới nội tâm của tác giả
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 164]
về nguồn gốc của thế giới và đời sống con người
Ví dụ: Sơn Tinh Thủy Tinh, Thần trụ trời…
[Xem thêm: Từ điển Văn học: 1646]
Thành ngữ (idiom)
Đoạn câu, cụm từ có sẵn, tương đối cố định, không nhằm diễn đạt trọn ý mà nhằm thể hiện một quan niệm, một ý tứ dưới hình thức sinh động
Ví dụ: Vui như tết, vắng như chùa Bà Đanh…
Trang 34Thơ (poetry)
Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhip điệu
Thơ có nhiều thể loại khác nhau như thơ trào phúng, thơ trữ tình, thơ tự do, thơ văn xuôi…
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 210]
Thơ trào phúng (satirical poetry)
Thơ dùng tiếng cười để xây dựng tư tưởng, tình cảm, chống lại cái xấu xa, lạc hậu, thoái hoá, rởm đời, hoặc để đả kích, vạch mặt kẻ thù, đánh vào những tư tưởng, hành động mang bản chất thù địch với con người
Vạch ra mâu thuẫn của sự vật, mâu thuẫn giữa cái bên ngoài và thực chất bên trong để làm cho người đọc nhận thấy ý nghĩa mỉa mai, trào lộng
của sự vật là cách làm chủ yếu của thơ trào phúng Vì vậy, thơ trào phúng
thường sử dụng lối nói phóng đại, so sánh, chơi chữ dí dỏm hay lời nói sâu cay
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 216]
Thơ trữ tình (lyric poetry)
Thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp
Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của
của sự thể hiện tiêu biểu của thơ trữ tình là tiếng hát của tâm hồn Thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ
các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học
Trang 35Thuật ngữ thơ trữ tình được sử dụng nhằm phân biệt với thơ tự sự
thuộc loại tự sự
Tuỳ theo truyền thống văn học cụ thể, người ta có thể phân loại thơ trữ tình theo nhiều cách khác nhau Trước đây, trong văn học châu Âu,
người ta thường dựa vào cảm hứng chủ đạo mà chia thơ trữ tình thành bi
ca, tụng ca, thơ trào phúng Ngày nay, người ta dựa vào đối tượng đã tạo nên xúc cảm của nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình để phân chia thành thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 216]
Thơ tự do (free poetry)
Hình thức cơ bản của thơ, phân biệt với thơ cách luật ở chỗ không
bị ràng buộc vào các quy tắc nhất định về số câu, số chữ, niêm đối v.v…
Nhưng thơ tự do lại khác thơ văn xuôi ở chỗ văn bản có phân giòng và xếp
song song thành hàng, thành khổ như những đơn vị nhip điệu, có thể có
vần Thơ tự do là thơ phân dòng nhưng không có thể thức nhất định Nó có
thể là hợp thể, phối xen các đoạn thơ làm theo các thể khác nhau, hoặc hoàn toàn tự do
Ví dụ: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Cành phong lan bể của Chế Lan Viên
Đặc điểm đáng chú ý của thơ tự do thường là phá khổ - không theo
khổ 4 dòng, 6 dòng Đặc điểm thứ hai là có thể mở rộng câu thơ, kéo dài câu thơ thành hàng chục tiếng, gồm nhiều dòng in, có thể sắp xếp thành
"bậc thang" để tô đậm nhịp điệu ở trong câu, có thể xen kẽ câu ngắn dài thoải mái
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 217]
Thơ văn xuôi (prose poem)
Một hình thức cơ bản của thơ được viết như văn xuôi
Trang 36Thơ văn xuôi khác thơ tự do ở chỗ không phân dòng, không dùng
hình thức dòng thơ (cũng gọi là "câu thơ") làm đơn vị nhịp điệu, không có vần
Chất thơ của thơ văn xuôi được tạo nên bởi cấu tứ và suy tưởng giàu
sức khêu gợi, bất ngờ, chất triết lí thâm thuý, thơ mộng
Chẳng hạn, bài Hỏi của tác giả Giả Bình Ao (Trung Quốc): "Mẹ ơi,
mẹ bảo quả táo trên cây chín đỏ là nhờ có mặt trời Có thể củ cải đỏ lớn lên trong lòng đất vì sao mà đỏ?”
Thơ văn xuôi có thể có hình thức đối thoại như Khách qua đường
của Lỗ Tấn …
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 218]
Tiểu thuyết (novel)
Thể loại tác phẩm tự sự, trần thuật về số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển và được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật
Tiểu thuyết phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh họat giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng
Ví dụ: Sống mòn (Nam Cao), Chiến tranh và hòa bình (Lev Tolstol), v.v
[Xem thêm: Từ điển Văn học: 1716]
Trang 37[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 246]
Châm biếm
Một dạng của văn học trào phúng
Châm biếm dùng lời lẽ sắc sảo, thâm thúy để vạch trần thực chất xấu xa của những hiện tượng và đối tượng trong xã hội Châm biếm gắn
liền với tình cảm xã hội như yêu nước, tình yêu con người, yêu lẽ phải
Châm biếm khác với hài hước ở mức độ gay gắt của sự phê phán và
ý nghĩa sâu sắc của hình tượng nghệ thuật
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 37]
Trường ca
Bài thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện
Có nhiều thể loại trường ca: trường ca anh hùng, trường ca mang
tính kịch - trữ tình, trường ca có cốt truyện lãng mạn, v.v…
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 257]
Truyện cổ tích (fairy tale)
Một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người
Ví dụ: Không thầy đố mày làm nên, Con hơn cha là nhà có phúc…
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 258]
Trang 382.2.3.4 Thể loại văn học Việt Nam
Ngâm khúc
Tác phẩm thơ trữ tình hình thành ở Việt Nam vào thế kỷ XVII, diễn
tả những tình cảm có sắc thái buồn bã, trầm tư, bi lụy, bộc lộ những nỗi đau mà xã hội gây ra cho con người, đồng thời biểu hiện sự phản ứng chống lại các tình thế xã hội ấy
Ví dụ: Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm, v.v…
[Xem thêm: Từ điển Văn học Việt Nam: 231]
Nói thơ
Thể loại văn học dân gian kể chuyện bằng văn vần, được diễn xướng dưới hình thức nói hoặc kể nhằm phản ánh người thực, việc thực ở một địa phương nhất định
Nói thơ được âm điệu hóa trên cơ sở điệu thức của âm nhạc truyền thống Tùy theo tính chất cốt truyện và tính cách nhân vật mà người ta sử dụng loại điệu thức có tính chất âm nhạc phù hợp Như nói thơ Vân Tiên ở Nam Bộ lời thơ thuộc thể thơ lục bát đã được âm điệu hóa dựa vào điệu thức nam ai
Truyện Nôm Tày
Một thể loại truyện thơ của văn học tiếng dân tộc Tày, được viết bằng chữ Nôm Tày
Truyện Nôm Tày phản ánh nhiều vấn đề xã hội trong cộng đồng dân tộc, nhất là các xung đột giàu - nghèo, dân thường - quan lại; ca ngợi những người có công đánh giặc giữ nước, những tấm gương nhân nghĩa, tiết hạnh… Đề tài tình yêu lứa đôi và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ giữ vị trí chủ đạo trong hầu hết các tác phẩm truyện Nôm Tày - Nùng
Một số truyện Nôm Tày có bản dịch tiếng Việt như Nam Kim - Thị Đan, Lưu Đài - Hán Xuân, Đính Quân…
Trang 39[Xem thêm: Từ điển Văn học Việt Nam: 489]
Truyện thơ Nôm
Một thể loại sáng tác tiếng Việt (chữ Nôm) thời trung đại, phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ XVIII và suốt thế kỷ XIX
Truyện Nôm được các nhà nghiên cứu phân chia bằng một số thuật ngữ ước lệ thành "truyện Nôm khuyết danh" và "truyện Nôm hữu danh" hoặc "truyện Nôm bình dân" và "truyện Nôm bác học"
Truyện thơ Nôm phát triển trong xu hướng "diễn Nôm", chủ yếu dùng thể lục bát để diễn đạt những nội dung tự sự khác nhau Số lượng tác phẩm nay còn tìm được là trên 100 truyện
[Xem thêm: Từ điển Văn học Việt Nam: 490]
Truyện thơ Nôm bác học
Tác phẩm gần với bộ phận văn học chữ Hán, tác phẩm hướng về những chuẩn nghệ thuật tương đối cao, tác giả thường là quý tộc, quan lại, danh gia Phần lớn các tác phẩm được viết như là phóng tác những tác phẩm cổ và trung đại Trung Hoa
Đề tài phổ biến của "truyện Nôm bác học" là tình yêu của các cặp tài tử - giai nhân; loại tình yêu tự do, ít nhiều vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo thể hiện khát vọng tự do của con người Tuy vậy, hầu hết các truyện đều có xu hướng điều hòa xung đột giữa tình yêu tự do và lễ giáo
Ví dụ: Truyện Kiều, Lục Vân Tiên,v.v…
Truyện thơ Nôm bình dân
Chỉ tính đại chúng của tác phẩm cùng mức độ chất lượng ngôn ngữ nghệ thuật tương đối thấp của nó
Truyện Nôm bình dân hầu hết là khuyết danh, thường là loại diễn ca truyện cổ tích, dã sử, v.v…, lời thơ mộc mạc nôm na, gần với lời kể vè, sự tích trong truyện thường được phiếm chỉ hóa (làm mất tính xác định lịch sử
Trang 40của không gian, thời gian), nhân vật không phải là những cá tính mà là những "loại tính" (tính cách chung nhất của một hạng người) như Thạch Sanh, Tống Trân Cúc Hoa, Phương Hoa…
Các câu chuyện khuyến khích điều thiện, cảnh cáo việc ác; cốt truyện được phát triển như là để minh chứng cho quan niệm mang tính ảo tưởng của dân gian "ở hiền gặp lành", các nhân vật chính đều là người tốt,
dù gặp tai họa nhưng cuối cùng cũng vượt qua và hạnh phúc…
Văn tế
Một loại văn gắn với phong tục tang lễ chủ yếu nhằm bày tỏ sự thương tiếc của tác giả và của những người thân đối với những người đã mất
Nội dung của văn tế thường xoay quanh hai ý chính: một là kể về
cuộc đời, tính cách của người quá cố; hai là bộc lộ tình cảm, thái độ của
người sống trong giờ phút vĩnh biệt Mặc dù trong văn tế có những đoạn tự
sự, kể lại cuộc đời của người quá cố, nhưng căn bản nó thuộc loại trữ tình
Âm điệu chung của nó là bi thương
Về hình thức diễn đạt, văn tế có thể được viết theo nhiều kiểu: kiểu văn xuôi (như bài Văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh), kiểu tán (như Văn tế một công chúa của Mạc Đĩnh Chi), kiểu thơ lục bát (như Khóc những người bị hi sinh sau vụ Hà Thành đầu độc năm 1908 - tác giả khuyết danh), kiểu song thất lục bát (như Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du), kiểu phú (như bài Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu)…
[Xem thêm: Từ điển Thuật ngữ Văn học: 290]
Vè
Thể loại văn học dân gian kể chuyện bằng văn vần, được diễn xướng dưới hình thức nói hoặc kể nhằn phản ánh người thực, việc thực ở một địa phương nhất định để bộc lộ thái độ khen chê của nhân dân