ĐẶT VẤN ĐỀ MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ ĐĂṬ VẤN ĐỀ 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 1 1 Khái niệm v[.]
Trang 1Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm về thừa cân - béo phì 3
1.2 Tình hình thừa cân - béo phì trên thế giới và trong nước 3
1.3 Yếu tố liên quan gây tình trạng thừa cân - béo phì và hậu quả của nó 11
1.4 Phương pháp đánh giá tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ dưới 9 tuổi 16
1.5 Chiến lược dự phòng và xử trí thừa cân - béo phì 17
1.6 Các nghiên cứu can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe 19
1.7 Biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng ngừa thừa cân - béo phì 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đặc điểm chung 37
3.2 Tình trạng thừa cân - béo phì của trẻ 4-6 tuổi 40
Trang 24.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 61
4.2 Tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 4-6 tuổi, tỉnh Cà Mau năm 2017 61
4.3 Yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân - béo phì của trẻ 3-5 tuổi 64
4.4 Hiệu quả của biện pháp can thiệp 77
KẾT LUẬN: 84
1 Tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ từ 4-6 tuổi tại thành phố Cà Mau 84
2 Mô ̣t số yếu tố liên quan đến thừa cân - béo phì ở trẻ 4-6 tuổi 84
3 Hiệu quả của biện pháp can thiệp 85
KIẾN NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3CB-CNV Cán bộ - công nhân viên
CN/CC Cân nă ̣ng/chiều cao
CSHQCT Chỉ số hiệu quả can thiệp
HDL High Density Lipoprotein
HQCT Hiệu quả can thiệp
LDL Low Density Lipoprotein
NCHS National Center for Health Statistics: Trung tâm thống kê
sức khỏe quốc gia (Hoa Kỳ)NTTND Người trực tiếp nuôi dưỡng
OR Odd Ratio: Tỉ suất chênh
RR Relative risk: Chỉ số phản ảnh độ tương quan
SD Standard Deviation: Đô ̣ lê ̣ch chuẩn
TC-BP Thừa cân - béo phì
TCYTTG Tổ chức y tế thế giới
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
UNICEF United Nations Children's Education Fund: Quỹ nhi đồng
liên hiệp quốc VB/VM Vòng bụng/vòng mông
WHO World Health Oganization: Tổ chức y tế thế giới
Trang 4Bảng 3.2 Học vấn của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 39
Bảng 3.3 Nghề nghiệp của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 40
Bảng 3.4 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo chỉ tiêu cân nặng/chiều cao 40
Bảng 3.5 Tỉ lệ thừa cân chung theo phân bố tuổi và giới tính 42
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của cha với TC-BP 43
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ với TC-BP 43
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của cha với thừa cân - béo phì 44
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với thừa cân - béo phì 44
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa yếu tố di truyền với thừa cân - béo phì 45
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa yếu tố kinh tế với thừa cân - béo phì 46
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa cân nặng lúc sinh với thừa cân - béo phì 48
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tình trạng bú sửa của trẻ với TC-BP 48
Bảng 3.14 Mối liên quan về thói quen ăn, uống với thừa cân - béo phì 49
Bảng 3.15 Mối liên quan về sở thích ăn, uống với thừa cân - béo phì 50
Bảng 3.16 Mối liên quan hoạt đô ̣ng thể lực với thừa cân - béo phì 51
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa hoạt động tĩnh tại với thừa cân - béo phì 52
Bảng 3.18 Mối liên quan thời gian ngủ với thừa cân - béo phì 52
Bảng 3.19 Mối liên quan nhâ ̣n thức và quan niê ̣m của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ 53
Bảng 3.20 Mối liên quan kiến thức, thực hành của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ với thừa cân - béo phì 54
Bảng 3.21 Tỉ lệ khỏi thừa cân - béo phì sau can thiệp ở nhóm can thiệp và nhóm chứng 55
Trang 5thức đúng trước và sau can thiệp 56Bảng 3.24 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thực hành đúng chung trước và sau can thiệp 57Bảng 3.25 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thực hành đúng
về sở thích ăn uống trước và sau can thiệp 59Bảng 3.26 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thực hành đúng
về vận động của trẻ trước và sau can thiệp 60
Trang 6Biểu đồ 3.2 Đă ̣c điểm đối tượng nghiên cứu phân bố theo dân tộc 38
Biểu đồ 3.3 Đă ̣c điểm đối tượng nghiên cứu đi học và không đi học 39
Biểu đồ 3.4 Tỉ lê ̣ thừa cân - béo phì trẻ 4 – 6 tuổi theo giới tính 41
Biểu đồ 3.5 Mối liên quan giửa yếu tố gia đình với thừa cân- béo phì 41
Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thực hành đúng về thói quen ăn uống trước và sau can thiệp 58
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng là nền tảng của sức khỏe, sức khỏe tốt là điều kiện tiên quyết để phát triển xã hội Đối với trẻ em, dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, phát triển thể lực và trí tuệ cũng như ảnh hưởng đến tình hình bệnh tật, khả năng học tập của trẻ [49]
Vai trò của dinh dưỡng hợp lý để duy trì sức khỏe tốt đang ngày càng được hiểu rõ hơn Hiện nay, ở cộng đồng cùng tồn tại cả vấn đề thiếu dinh dưỡng và thừa dinh dưỡng Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đang phải đối mặt với tình trạng này, đó là gánh nặng kép của dinh dưỡng
Dinh dưỡng chiếm vai trò tối quan trọng để tạo nên bảo vệ và nâng cao sức khỏe, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, phát triển, tình hình bệnh tật và tử vong của trẻ Ăn uống là nhu cầu của mọi sinh vật nói chung và của con người nói riêng Ăn uống là để cung cấp năng lượng cho bộ máy cơ thể hoạt động Đặc biệt là cung cấp những dưỡng chất cần thiết cho
cơ thể phát triển, chống lại bệnh tật và giữ gìn sức khỏe lâu dài Tuy nhiên, nếu thiếu ăn hoặc ăn quá nhiều cũng ảnh hưởng đến sức khỏe [23]
Tình trạng dinh dưỡng gồm thừa cân - béo phì và suy dinh dưỡng Trước đây khi nền kinh tế Việt Nam còn nhiều khó khăn, suy dinh dưỡng là vấn đề nghiêm trọng Ngày nay, cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống người dân ngày càng được cải thiện, trẻ em ngày càng được các bậc cha mẹ quan tâm chăm sóc nhiều hơn, tỉ lệ suy dinh dưỡng đã giảm, lại phát sinh vấn đề mới là trẻ em thừa cân - béo phì, nó tạo nên một gánh nặng kép về dinh dưỡng, các nhà y - xã hội học phải đồng thời giải quyết Người ta nhận thấy
cả thừa cân - béo phì và suy dinh dưỡng đều liên quan đến sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh và tử vong [23]
Từ năm 1995 đến nay, tỉ lệ thừa cân tăng nhanh theo thời gian, vấn đề
Trang 8này đã trở nên có ý nghĩa đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt tại các đô thị lớn, trên thế giới và Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em Tuy nhiên, ở Việt Nam các nghiên cứu phần lớn tập trung vào các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh [35]
Truyền thông giáo dục để nâng cao kiến thức và thực hành đúng về chế độ ăn uống và sinh hoạt là biện pháp tốt nhất để phòng ngừa thừa cân - béo phì cho trẻ em Phương pháp can thiệp truyền thông thông qua cộng tác viên y
tế tác động đến phụ huynh, học sinh cùng với sự hỗ trợ của giáo viên [33]
Cà Mau tuy đã có vài nghiên cứu về xác định tỉ lệ thừa cân - béo phì ở nhiều nhóm tuổi khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu đánh giá tỉ lệ thừa cân béo phì trên qui mô toàn tỉnh và hoạt động can thiệp nhằm làm giảm thừa cân
- béo phì Khi thừa cân - béo phì ở trẻ em
Với mong muốn góp phần đánh giá tình hình thừa cân - béo phì ở trẻ
4-6 tuổi trên địa bàn tỉnh Cà Mau nhằm xây dựng kế hoạch phòng ngừa thừa cân - béo phì và nâng cao sức khỏe cho trẻ trong giai đoạn tới, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình và hiệu quả can thiệp thừa cân - béo phì ở trẻ từ 4 đến 6 tuổi tại tỉnh Cà Mau Với 3 mục tiêu:
1 Xác định tỉ lệ thừa cân - béo phì ở trẻ 4-6 tuổi trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 2015-2016
2 Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực trạng thừa cân - béo phì ở trẻ 4-6 tuổi trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 2015-2016
3 Đánh giá hiệu quả truyền thông giáo dục dinh dưỡng nhằm kiểm soát thừa cân-béo phì trước và sau can thiệp trẻ từ 4-6 tuổi
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm về thừa cân - béo phì
Thừa cân - Béo phì là sự tích tụ mỡ bất thường và quá mức tại mô mỡ và các tổ chức khác gây hậu quả xấu cho sức khỏe
Một quần thể tham khảo đã được TCYTTG khuyến nghị sử dụng trên toàn thế giới từ những năm 1970 là NCHS Trong các điều tra sàng lọc giới hạn ngưỡng để đánh giá một đứa trẻ là TC-BP khi chỉ số cân nặng theo chiều cao > +2SD so với quần thể tham chiếu NCHS/WHO Một Ủy ban các chuyên gia của TCYTTG cũng đã đưa ra khuyến nghị rằng mối liên quan này thay đổi nhiều theo tuổi, có lẽ là cùng với thời kỳ dậy thì và trưởng thành Vì vậy chỉ số cân nặng theo chiều cao chỉ nên được sử dụng trong một khoảng tuổi nhất định (< 9 tuổi) Người ta cũng lưu ý rằng trong điều tra cộng đồng chỉ số cân nặng theo chiều cao là đủ đánh giá TC-BP vì đa số cá thể có cân nặng theo chiều cao đều béo
Chỉ số BMI ở người trưởng thành gia tăng chậm theo tuổi, vì vậy ngưỡng này không phụ thuộc vào độ tuổi khi đánh giá độ béo gầy Trái lại ở trẻ em, BMI thực tế thay đổi cùng với tuổi: Gia tăng nhanh chóng ở tuổi sơ sinh, giảm xuống ở tuổi tiền học đường và rồi tăng trở lại suốt thời kỳ thiếu niên và giai đoạn sớm ở người trưởng thành Vì vậy, BMI chỉ nên được sử
dụng ở trẻ lớn (> 9 tuổi) và người trưởng thành
1.2 Tình hình thừa cân - béo phì trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tỉ lệ và xu hướng thừa cân - béo phì hiện nay trên thế giới
Ở Mỹ, từ năm 1988 đến 1991, tỉ lệ TC ở trẻ em và trẻ vị thành niên là 22% và BP là 10,9% Tăng khá nhanh từ 1976 đến 1980, tương tự như những báo cáo trước đây ở người trưởng thành [75]
Trang 10Theo ước tính của tác giả có 17,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TC trên toàn thế giới Theo Hội Ngoại khoa Mỹ cho biết, tỉ lệ TC trẻ em dưới 5 tuổi ở Mỹ tăng gấp 2 lần, vị thành niên tăng 3 lần so với năm 1980, tỉ lệ TC trẻ 6-11 tuổi tăng hơn 2 lần so với năm 1960, tỉ lệ TC 12-17 tuổi ở nam tăng từ 5% đến 13%, ở nữ 5% đến 9% (1966-1970 và 1988-1991) Vấn đề này là toàn cầu và lan nhanh sang những nước đang phát triển [75]
Nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy tỉ lệ BP tăng gần gấp đôi trong 20 năm, tăng từ 13% ở nam giới và 23,2% ở nữ trong năm 1991 lên 18,6% và 29,5% trong năm 1997 và 22,4% và 34,3% trong năm 2004 BP phổ biến ở trẻ em tăng từ 5,8% trong năm 1997 lên 7,9% trong năm 2001 ở trẻ 2-5 tuổi và từ 5,8% lên 6,7% ở trẻ 6-12 tuổi [63]
Nghiên cứu ở Anh (2004), tần suất hội chứng chuyển hóa tăng khoảng 50% ở trẻ BP nặng, mỗi mức tăng BMI 0,5 đơn vị tăng một mức nguy cơ của hội chứng chuyển hóa OR=1,55 cũng như tăng một mức đề kháng insulin Tần suất của hội chứng chuyển hóa tăng có ý nghĩa bởi mức đề kháng insulin sau khi hiệu chỉnh về tôn giáo, chủng tộc và mức độ BP [74]
Nghiên cứu của Oulamara cho thấy tình hình đang xấu đi với một sự gia tăng tương đối TC là 34% ở nữ và 42% ở nam trong suốt 5 năm qua [71] Trong năm 2008, hơn 1,4 tỉ người trên 20 tuổi bị TC Trong số này hơn
200 triệu người là nam giới và gần 300 triệu người là nữ giới bị BP; 35% người trưởng thành trên tuổi 20 bị TC trong năm 2008 và 11% bị BP; 65% dân số thế giới sống ở các nước TC và BP giết chết nhiều người hơn những người nhẹ cân; hơn 40 triệu trẻ em dưới 20 tuổi bị TC vào năm 2011 [79] Nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng ở Northerlands (2008), trẻ từ 6-12 tuổi chia 2 nhóm, nhóm được huấn luyện hoạt động thể lực, giáo dục lối sống
có lợi cho sức khỏe cùng với sự hỗ trợ của cha, mẹ: Nhóm có kiểm soát có tỉ
lệ giảm cân nhiều hơn so với nhóm chứng [80]
Trang 11Nghiên cứu ở thành phố Merida (Venezuela 2009), tỉ lệ trẻ BP là 9,7%
và TC là 13,8%, tỉ lệ béo bụng là 69,4%, huyết áp cao là 27,1%, rối loạn lipid
là 66,7%, rối loạn chuyển hóa là 38,9% [72]
Một phân tích năm 2009, với gần một triệu người khắp nơi trên thế giới đã chỉ ra rằng nếu có chỉ số BMI từ 30-35 kg/m2, bạn có khả năng chết sớm hơn 2-4 năm, nếu chỉ số BMI từ 40-45 kg/m2, bạn có khả năng chết sớm hơn 8-10 năm so với mức trung bình Phân tích khác cho thấy rằng nếu một người phụ nữ BP ở tuổi 40, có khả năng chết sớm hơn 7,1 năm so với trung bình Nếu là một người đàn ông BP ở tuổi 40, có khả năng chết sớm hơn 5,8 năm so với trung bình; nếu bạn hút thuốc lá tuổi thọ của bạn sẽ giảm hơn nữa [65] Nghiên cứu ở Norway (2010), tỉ lệ TC-BP ở trẻ em là 13,8%, không có
sự khác biệt giữa nam và nữ; trẻ lứa tuổi tiểu học (6-11 tuổi) chiếm tỉ lệ cao (17%), (p<0,001) Điều trị BP bao gồm tâm lý, thay đổi lối sống, thói quen, giáo dục dinh dưỡng, thể dục Sử dụng thuốc, phẫu thuật không được khuyến cáo ở trẻ em [68]
Nghiên cứu của Georgia S Papoutsi (2010), tỉ lệ BP ở trẻ em đang tăng nhanh ở nhiều quốc gia, bởi vì sự BP ở trẻ em cao sẽ kéo dài sang giai đoạn thiếu niên, điều này được xác định sự lành mạnh sức khỏe và tương lai dân
số, yếu tố kinh tế chính là nguyên nhân gây BP chúng ta cần phải lập chính sách hiệu quả nhằm hạ thấp khuynh hướng BP trẻ em ở toàn cầu [67]
Nghiên cứu của trường Đại học Thessaloniki (2010), trẻ bú mẹ trên 3 tháng và luyện tập thể dục lúc nhàn rỗi là yếu tố bảo vệ chống lại BP với OR=0,21 Những yếu tố tăng nguy cơ BP là tiền sử gia đình bị BP, ăn nhiều thức ăn ngọt, xem tivi nhiều [73]
Bằng chứng mạnh mẽ để hỗ trợ phòng chống bệnh BP trẻ từ 6-12 tuổi trên chỉ số BMI Chính sách và chiến lược đầy hứa hẹn: Chương trình học bao gồm ăn uống lành mạnh, hoạt động thể chất, sự phát triển của kỹ năng vận
Trang 12động cơ bản trong suốt tuần học, cải thiện chất lượng dinh dưỡng, nguồn cung cấp thực phẩm, môi trường và tập quán văn hóa hỗ trợ cho trẻ em ăn thức ăn lành mạnh và sự năng động trong suốt mỗi ngày [78]
Nghiên cứu của Varaprasad (2013), vào ngày BP thế giới (26 tháng 10), các chuyên gia y tế nhấn mạnh về sự cần thiết một chương trình chống BP và những tiến bộ trong điều trị kéo dài Có khoảng 30-40% học sinh TC-BP do thiếu các hoạt động thể dục thể thao và tiêu thụ nhiều thực phẩm [66]
Theo Shelley A Wilkinson (2012), báo cáo 28,5% nhân viên: TC là 19%,
BP là 9,5% [77] Nghiên cứu phân tích ở Anh (2013), hiệu quả can thiệp dựa vào trường học để ngăn ngừa trẻ BP là hiệu quả, can thiệp hoạt động thể chất hoặc chế độ ăn tại trường học, gia đình và cộng đồng có bằng chứng cho là hiệu quả nhất [81] Một nghiên cứu phân tích chỉ ra rằng giáo dục lối sống lành mạnh trong trường học kết hợp với biện pháp can thiệp dinh dưỡng có thể cải tiến nhỏ trong thành tích học tổng thể ở trẻ TC-BP [70]
1.2.2 Tình hình thừa cân - béo phì ở Việt Nam
1.2.2.1 Thừa cân - béo phì ở trẻ em
Thành phố Hồ Chí Minh qua các đợt điều tra thì tỉ lệ TC-BP tăng dần qua các năm, nghiên cứu của Trần Thị Hồng Loan từ năm 1996-2002, tỉ lệ TC trẻ em dưới 5 tuổi năm 1996 là 2%, năm 2001 là 3,3% [25], nghiên cứu của Đoàn Thị Kim Ngân, năm 2002 trẻ TC-BP là 5,8%; năm 2003 trẻ TC-BP quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là 8,5% [30]
Nghiên cứu của Phạm Văn Dũng (2002), tại 2 trường tiểu học nội thành của thành phố Huế, tỉ lệ BP ở trẻ 6-10 tuổi là 7,6%, trẻ nam (11,2%) cao hơn
nữ (3,4%); trẻ có thói quen ăn béo, ăn vặt, ăn ngọt, bữa ăn phụ trước khi ngủ đêm, uống nước ngọt có gas đều cao hơn nhóm chứng, tương ứng có nguy cơ
BP cao gấp 2 đến 9 lần; trẻ BP ngủ ít, phụ huynh cho rằng trẻ BP là đẹp và không nhận biết đúng tình trạng dinh dưỡng của trẻ [12]
Trang 13Điều tra của một số tác giả tại Thành phố Hà Nội tỉ lệ TC-BP tăng dần qua các năm: Năm 2002 trẻ 4-6 tuổi TC ở nội thành Thành phố Hà Nội là 4,9%, BP là 3,1% [35]
Nghiên cứu của Phùng Đức Nhật (2006), cho thấy thói quen ăn uống nhanh
và thời gian hoạt động tĩnh tại cao là các yếu tố nguy cơ với tình trạng TC-BP ở trẻ 4-6 tuổi trong các trường mẫu giáo, mầm non Tại trường học trẻ TC có thói quen ăn nhanh hơn nhóm chứng là 2,7 lần và tại nhà trẻ TC háu ăn hơn nhóm chứng 5,3 lần Trẻ TC thích ăn chất béo gấp 2,3 lần so với trẻ bình thường Trẻ
TC có thời gian hoạt động tĩnh tại trung bình (xem tivi, chơi vi tính, học tập) là
178 phút/ngày cao hơn so với trẻ nhóm chứng (156 phút/ngày) [38]
Nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc, Phạm Văn Lình, Đinh Thanh Huề (2007), tỉ lệ TC ở học sinh tiểu học tại thành phố Huế là 7,07%, độ I là 79,7%, độ II là 20,3% [31]
Nghiên cứu của Võ Thị Diệu Hiền (2008), tỉ lệ TC-BP ở trẻ từ 11-15 tuổi là 8,3% trong đó có 0,38% là BP, tỉ lệ nam TC-BP là (10,6%) cao hơn nữ (5,8%), tỉ lệ TC-BP cao nhất là 11 tuổi, thấp nhất là 15 tuổi; các yếu tố liên quan: Trẻ TC-BP có thói quen ăn ngọt chiếm 70,5% so với nhóm chứng 49,1%; ăn vặt lúc xem tivi, ăn chất béo, ăn bữa phụ trước khi đi ngủ đêm hay uống nước ngọt có gas đều cao hơn nhóm chứng; trẻ sử dụng thức ăn chiên, xào hàng ngày có nguy cơ TC-BP cao gấp 3 lần so với trẻ ít sử dụng thức ăn chiên, xào; trẻ TC-BP ít hoạt động thể lực hơn nhóm chứng; xem tivi, chơi game nhiều hơn nhóm chứng; thời gian ngủ: Trẻ TC-BP ngủ ít hơn (7,5 ± 0,8 giờ/đêm) so với nhóm chứng là (8,9 ± 0,7 giờ/đêm); vẫn còn nhiều phụ huynh
ở nhóm trẻ BP cho rằng BP là đẹp và phú quý (12,1%); phụ huynh chưa nhận biết đúng tình trạng dinh dưỡng của con mình (50,7%) [16]
Nghiên cứu của Trương Thanh (2009), trên học sinh tiểu học ở thành phố Vũng Tàu, tỉ lệ TC-BP ở trẻ 6-11 tuổi là 9,9% [49] Nghiên cứu của
Trang 14Huỳnh Văn Nên (2009), trẻ nam TC nhiều hơn trẻ nữ (69,3%), TC xuất hiện nhiều ở trẻ 4-5 tuổi (78%), TC tập trung cao ở nội ô (96,1%) [29]
Nghiên cứu của Mai Văn Mãi (2009), tỉ lệ TC-BP của học sinh THCS huyện Cây Lậy, Tiền Giang ở nam: 6,12%, ở nữ: 4,34% chủ yếu là TC; những trẻ có cha mẹ TC, cha mẹ làm công việc buôn bán, kinh tế khá giả, thích ăn ngọt,
ăn béo, ăn vặt có nguy cơ TC gấp 1,5 đến 4 lần trẻ không có các yếu tố này [28] Nghiên cứu của Bùi Đức Văn (2009), tỉ lệ TC-BP ở trẻ 6-10 tuổi là 7,26%, trong đó BP là 1,76%, TC là 5,5%, BP mức độ nhẹ chiếm 60%, mức độ trung bình và nặng chiếm 40%, tỉ lệ trẻ nam bị TC-BP (9,20%) cao hơn trẻ
nữ (5,13%), tỉ lệ TC-BP cao nhất ở nhóm 6 tuổi, thấp nhất ở nhóm 9 tuổi Trẻ TC-BP có liên quan với thói quen ăn thức nhiều chất béo (OR=2,77, p<0,001), thói quen ăn thêm bữa phụ trước khi đi ngủ (0R=4,4, p<0,001), thói quen thích ăn ngọt (OR=2,81, p<0,001), thói quen hay uống nước ngọt có gas (OR=4,87, p<0,001), trẻ TC-BP có thời gian vận động ít hơn nhóm chứng (p<0,001); thời gian xem tivi, chơi game nhiều hơn nhóm chứng (p<0,001); trẻ TC-BP có số giờ ngủ (7,09 ± 0,65) ít hơn trẻ ở nhóm chứng (8,05 ± 1,27), (p<0,001); cha mẹ ở nhóm trẻ TC-BP cho rằng trẻ BP là đẹp và phú quý (8,70%) và không nhận thức đúng về tình trạng dinh dưỡng của con mình (46,7%) cao hơn nhóm chứng (19,20%), (p<0,001); không biết về hậu quả của BP ở nhóm BP là 18,7% và ở nhóm chứng 13,76% [57]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa (2010), ở trẻ em từ 2-5 tuổi tại một số trường mầm non thành phố Huế, tỉ lệ TC-BP là 7,8% (trong đó mức độ I: 69,8%, độ II: 21,6%, độ III: 8,6% ), trẻ nam (9,6%) cao hơn nữ (6,1%),
tỉ lệ TC-BP tăng theo tuổi; tỉ lệ TC-BP cao ở trẻ có anh, chị, em ruột bị TC-BP; trẻ có mẹ lao động trí óc, trẻ có cha mẹ có trình độ học vấn từ cấp III trở lên, trẻ được ăn uống với chi phí cao, trẻ thường xuyên ăn thức ăn mỡ, béo, chiên, xào có nguy cơ TC-BP cao hơn trẻ khác [18]
Trang 15Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Huyền (2010), tại các trường mầm non thành phố Rạch Giá, Kiên Giang, tỉ lệ trẻ TC-BP là 6,1% [20], nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc (2010), tỉ lệ TC-BP ở học sinh tiểu học tại thành phố Huế là 7,98%, trong đó BP là 1,51% [33]
Nghiên cứu của Trịnh Tiến Khoa (2010), ở học sinh tiểu học tại xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, tỉ lệ TC-BP là 7,3% (có 3,74% là BP), tỉ lệ TC-BP ở học sinh nam cao hơn nữ, TC-BP cao nhất ở nhóm 9 tuổi (9,61%), thấp nhất
là nhóm 7 tuổi (5,37%), mức độ TC đa số là mức độ nhẹ (76,25%) Các yếu
tố nguy cơ có liên quan đến TC-BP: Trẻ có cha và/hoặc mẹ TC; cha, mẹ làm nghề buôn bán; cha, mẹ không nhận biết tình trạng dinh dưỡng của trẻ; trẻ có thói quen ăn nhiều, ăn nhanh hay ăn vặt, ăn bữa phụ trước khi đi ngủ đêm; chế độ ăn giàu năng lượng; ít hoạt động thể lực (10 giờ/tuần) [22]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Mai (2010), ở trẻ 3-5 tuổi tại các trường mầm non TP Nha Trang, tỉ lệ TC-BP chung là 8,4%, đa số ở mức độ I (59%) không có sự khác biệt giữa nam và nữ, tỉ lệ TC-BP tăng theo tuổi (2,0; 8,6 và 11,5% tương ứng với lứa tuổi 3, 4, 5 tuổi), trẻ ở nội thành cao hơn ngoại thành (10,2% so với 6,2%) [27]
Nghiên cứu của Bảo Phi (2011), tại các trường mẫu giáo thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, tỉ lệ TC-BP ở trẻ 3-5 tuổi là 11,4% [44]
Nghiên cứu của Phạm Duy Tường (2012), TC-BP ở trẻ 6-14 tuổi của Thành phố Hà Nội là 10,7% Tỉ lệ TC-BP cao nhất ở trẻ 10 tuổi (18,2%), thấp nhất trẻ 14 tuổi (6,4%) Trẻ nam TC-BP cao hơn nữ (16,1% và 5,7%) Tỉ lệ TC-BP ở nội thành (13,1%) cao gấp 2 lần so với ngoại thành (6,2%) [56] Nghiên cứu của Lê Bá Tường (2016), sinh viên khóa 40 của Trường Đại học Cần Thơ, có tỉ lệ TC-BP chiếm 4, 51%, đây là vấn đề rất đáng quan tâm
vì đây là lực lượng lao động trí óc trong tương lai, mọi vấn đề về thể chất đều
có thể dẫn tới những ảnh hưởng không nhỏ và có thể để lại hậu quả lâu dài
Trang 16cho sức khỏe, thể lực và làm giảm sút khả năng học tập của sinh viên, từ đó dẫn tới giảm sút khả năng làm việc, lao động sau này [55]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Bình (2015), trên 240 học sinh trung học của hai trường tại Quận Ngô Quyền của TP Hải Phòng tỉ lệ TC-BP là 9,6% (nam 11,2%, nữ 7,8%) [2]
Nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Nhanh (2016), tỉ lệ TC-BP của trẻ 5-6 tuổi là 17,4%, trẻ ăn nhanh, ăn tối sau 20 giờ có nguy cơ TC-BP hơn những trẻ khác; những trẻ ngủ trong phòng có sử dụng máy điều hòa không khí có nguy cơ TC-BP cao hơn [37]
Theo Cục Y tế Dự phòng: Ước tính năm 2014, toàn thế giới có khoảng 1,9 tỉ người trưởng thành bị thừa cân (tương được với 39% dân số), trong đó
có 600 triệu người bị béo phì Như vậy số người TC-BP hiện nay đã tăng gấp hơn hai lần so với năm 1980 Ở Việt Nam tỉ lệ người trưởng thành bị TC-BP chiếm khoảng 25% dân số [6]
1.2.2.2 Thừa cân - béo phì ở người trưởng thành Việt Nam
Tổng điều tra TC-BP năm 2005 do Viện Dinh dưỡng, nếu lấy ngưỡng BMI ≥ 23 kg/m2 thì tính chung toàn quốc TC-BP ở người trưởng thành là 16,3%, tỉ lệ TC-BP có xu hướng tăng theo tuổi từ 11,3% ở nhóm tuổi 25-34, tăng lên 17,1% ở nhóm tuổi 35-44 và đạt tới 20,2% ở nhóm tuổi 45-54; phụ
nữ bị TC-BP cao hơn nam giới, thành thị cao hơn nông thôn; chế độ ăn nhiều thức ăn động vật tăng nguy cơ TC-BP là 2,6 lần; thói quen ăn uống ngoài gia đình, ăn thức ăn nhanh, lạm dụng rượu bia, ít hoạt động thể lực, mức chi tiêu cho ăn uống càng cao thì dễ bị TC-BP Nếu lấy ngưỡng BMI ≥ 25 kg/m2 thì tỉ
lệ khoảng 7%, trong đó nhóm tuổi 45-54 là 9% [60]
Nghiên cứu của Lê Đức Thuận (2010), tỉ lệ TC-BP ở người từ 30-59 tuổi tại Hải Dương là 27,9%, tỉ lệ BP ở nam 31,2% nữ là 26,5%; tỉ lệ rối loạn lipid máu ở người TC là 86,4%; tỉ lệ rối loạn cholesterol toàn phần là 71% [53]
Trang 17Như vậy, TC-BP đang có xu hướng tăng nhanh và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam Đây là dấu hiệu cảnh báo quan trọng đối với một số bệnh mạn tính không lây nhiễm trong cộng đồng
1.3 Yếu tố liên quan gây tình trạng thừa cân - béo phì và hậu quả của nó 1.3.1 Các yếu tố liên quan gây tình trạng thừa cân - béo phì
1.3.1.1 Yếu tố di truyền
Nếu cả cha lẫn mẹ đều BP thì có 80% con họ sẽ BP, nếu một trong hai người có BP thì 40% con của họ sẽ có BP Ngược lại, nếu cả cha và mẹ bình thường thì khả năng các con bị BP chỉ chiếm 7% [23]
Cân nặng lúc sinh lớn có liên quan đến sự xuất hiện BP sau đó, đặc biệt
là BP xuất hiện sớm, loại BP này thường khó điều trị và nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao [26]
1.3.1.2 Lối sống, sinh hoạt
Lối sống tĩnh tại làm giảm hoạt động thể lực
Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỉ lệ TC-BP đi song song với giảm hoạt động thể lực trong lối sống tĩnh tại (thời gian dành cho xem tivi, đọc báo, làm việc bằng máy tính, nói chuyện qua điện thoại, lái xe, ăn uống nhiều hơn) Lối sống tĩnh tại có vai trò quan trọng trong TC-BP Những người hoạt động thể lực nhiều thường ăn thức ăn giàu năng lượng, khi họ thay đổi lối
sống, hoạt động nhưng vẫn giữ thói quen ăn nhiều cho nên dễ bị béo phì [23] Khẩu phần ăn và tập quán dinh dưỡng
Năng lượng dự trữ trong cơ thể là hiệu số của năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao Cân bằng năng lượng dương tính xảy ra khi năng lượng ăn vào nhiều hơn năng lượng tiêu hao gây tăng dự trữ năng lượng và tăng cân Cân bằng năng lượng âm tính xảy ra khi năng lượng ăn vào ít hơn năng lượng tiêu hao, nó làm giảm dự trữ năng lượng và giảm cân Như vậy chỉ khi có cân bằng năng lượng dương tính xảy ra thì mới có khả năng phát triển thành
Trang 18TC-BP, tức là năng lượng đưa vào cơ thể qua thức ăn, thức uống được hấp thu và dự trữ dưới dạng mỡ nhiều hơn là được oxy hóa để tạo thành nhiệt lượng Do đó người TC-BP cần hạn chế bớt thức ăn giàu năng lượng như chất béo, chất ngọt và cần tăng hoạt động thể lực để tăng cường sử dụng năng lượng và không ăn quá mức cần thiết
Chế độ ăn giàu lipid hoặc chất có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng của
tỉ lệ BP Thức ăn giàu chất béo thường ngon miệng nên người ta ăn quá nhiều
mà không biết Khi vào cơ thể, các chất lipid, protid, glucid đều có thể chuyển thành chất béo dự trữ Vì vậy, không thể coi việc ăn nhiều thịt, mỡ mới gây
béo mà ăn quá nhiều chất bột, đường và đồ ngọt đều có thể gây BP [23]
Yếu tố xem truyền hình
Việc tiếp thị quá nhiều thức ăn chế biến sẵn, thực phẩm, đồ uống giàu năng lượng nhưng nghèo vi chất dinh dưỡng, quảng cáo mạnh mẽ các loại thực phẩm, đồ uống, đặc biệt là trên truyền hình có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự ưa thích và chọn lựa thức ăn của trẻ Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy tỉ lệ trẻ từ 2-15 tuổi BP tham gia vào xem tivi, sử dụng máy tính và thời gian xem trên màn hình ≥ 2 giờ mỗi ngày lần lượt là 33%, 6,7% và 47,3% [76]
Các yếu tố kinh tế, văn hóa và xã hội
Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ BP ở tầng lớp nghèo thường thấp (thiếu
ăn, lao động nặng, phương tiện đi lại khó khăn) và BP như là một đặc điểm của sự giàu có Ở các nước phát triển, khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì
tỉ lệ BP lại thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với các tầng lớp khác [23] Nghiên cứu của Lê Thị Thúy Loan (2002-2003), tại thành phố Cần Thơ cho thấy trẻ cân nặng lúc sinh > 4.000 gram có nguy cơ mắc BP gấp 3 lần so với trẻ có cân nặng lúc sinh ≤ 3.500gram [26] và nghiên cứu của Trần Thị Hồng Loan (2005), ở Thành phố Hồ Chí Minh, trẻ có cân nặng lúc sinh ≥
4.000 gram là yếu tố nguy cơ có liên quan đến tình trạng TC [25]
Trang 191.3.1.3 Yếu tố hành vi
Ngủ ít cũng được xem như là nguy cơ cao ở trẻ TC dưới 5 tuổi Nguyên nhân chưa rõ, nhưng một số tác giả cho rằng lối sống gia đình thiếu đều độ từ ngủ tới ăn hoặc do thiếu hoạt động thể lực tạo ra những sóng thấp trên điện não đồ khi ngủ cũng có thể do hoạt động tiêu mỡ của cơ thể là tối đa về ban đêm và ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nói chung [23]
Một nghiên cứu có quy mô lớn ở Mỹ gần đây cho thấy những người ngủ ít hơn 6 giờ hay nhiều hơn 9 giờ trong một đêm dễ bị BP Theo Viện Hàn lâm Hoa Kỳ về Y học của giấc ngủ, cho biết “Những người ngủ quá ít hay
ngủ quá nhiều đều không tốt.” [23]
1.3.2 Hậu quả của thừa cân - béo phì
Nguy cơ đầu tiên của TC-BP trẻ em là kéo dài đến tuổi trưởng thành
với các hậu quả của nó, TC-BP cũng dễ xảy ra lúc nhỏ và tuổi thiếu niên hoặc
BP mức độ nặng, mặt khác TC-BP còn làm giảm vẻ đẹp
Tỉ lệ mắc bệnh tăng
Hội chứng BP ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm các vấn đề tâm lý, tăng yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chuyển hóa bất thường glucose, rối loạn gan mật - đường ruột, khó thở khi ngủ và biến chứng giải phẫu Hầu hết các hậu quả lâu dài của trẻ em BP là dai dẳng cho đến thanh niên và liên quan tới tất cả các yếu tố nguy cơ cho sức khỏe BP hầu như kéo dài khi nó xuất hiện muộn ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên và khi đó BP đã là một bệnh nặng
TC ở thanh thiếu niên cũng được chỉ rõ liên quan có ý nghĩa với tỉ lệ mắc bệnh và tử vong [9], [23]
Ảnh hưởng tâm lý xã hội
Hậu quả chung của BP ở trẻ em tại các nước công nghiệp phát triển là chức năng tâm lý xã hội kém Trẻ trước thời thanh thiếu niên liên quan đến hình dáng của một cơ thể TC, chức năng tâm lý xã hội kém, giảm thành công
Trang 20trong học tập và không có một cơ thể khỏe mạnh, giảm vẻ đẹp, cũng như là các nhược điểm TC ở thanh thiếu niên cũng có thể liên quan đến vấn đề kinh
tế và xã hội sau này Một nghiên cứu tiến hành ở Mỹ đã chỉ ra rằng phụ nữ
TC trong thời thanh thiếu niên và trong thời trẻ hầu hết thu nhập gia đình thấp hơn, tỉ lệ nghèo cao hơn và tỉ lệ lập gia đình thấp hơn so với phụ nữ mắc các bệnh mạn tính khác hoặc giảm thể lực trong thời thanh thiếu niên [9], [23]
Bệnh đái tháo đường
Có mối liên quan chặt chẽ giữa ĐTĐ không phụ thuộc insulin và BP Nguy cơ ĐTĐ không phụ thuộc insulin tăng liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm, những người béo có tỉ lệ ĐTĐ tăng gấp 3,5 lần tỉ lệ chung, tích lũy mỡ trong ổ bụng cũng như BP liên quan tới tăng yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ như tăng glucose máu và kháng insulin [9], [23]
Bệnh tim mạch
Huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng khi chỉ số BMI tăng, người béo
có nguy cơ tăng huyết áp cao hơn người bình thường, nguy cơ này càng cao khi tuổi càng trẻ, thời gian kéo dài Tăng cân nhanh là một yếu tố liên quan đến tăng huyết áp và giảm trọng lượng sẽ có hiệu quả giảm huyết áp Người
BP có nguy cơ bị tăng huyết áp gấp 2,9 lần so với người không BP [9], [23] Rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và kháng insulin thường thấy ở trẻ em
BP và rối loạn lipid máu xuất hiện liên quan tới tăng tích lũy mỡ trong ổ bụng [9]
Một nghiên cứu của Đặng Thị Diệu Hiền tại xã Hương Long, thành phố Huế cho thấy chỉ số huyết áp có liên quan với BP dạng nam [15]
Tại Mỹ, người ta đã thấy trong một vài nghiên cứu của các Viện cho thấy mặc dù bệnh ĐTĐ không phụ thuộc insulin là rất hiếm, ước tính 1/3 trong tất cả các trường hợp mới ĐTĐ, nồng độ lipoprotein và lipid huyết thanh, insulin huyết tương và huyết áp ở trẻ em sẽ tăng kéo dài đến thời
Trang 21kỳ thanh thiếu niên Tình trạng BP ở trẻ tại thời điểm ban đầu đã được đoán trước có ý nghĩa sức khỏe khi trưởng thành, huyết áp tương quan với
BP dạng nam và tuổi [15]
Rối loạn hô hấp và hen phế quản
Người ta cũng đã thấy một loạt các biến chứng khác ở trẻ BP bao gồm nghẽn thở khi ngủ và bệnh não Nghẽn thở khi ngủ có thể gây ra chứng thở quá chậm và thậm chí ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong [9], [15]
Bệnh túi mật
Bệnh túi mật tăng với BP và tuổi có thể tăng tiết cholesterol mật Cholesterol được tổng hợp mỗi ngày tăng khoảng 20mg/kg mô mỡ, do đó nếu tăng thêm 10 kg mô mỡ, mỗi ngày sản xuất một lượng cholesterol tương đương có trong một quả trứng, BP làm tăng nguy cơ bị sỏi mật ở mọi lứa tuổi gấp 3-4 lần, nguy cơ này càng cao khi mỡ tập trung xung quanh bụng [9]
Ung thư
Tỉ lệ mắc của ung thư nội mạc tử cung và ung thư vú sau mãn kinh ở nữ, ung thư tiền liệt tuyến ở nam, ung thư đại trực tràng ở cả hai giới có tương quan với mức độ BP BP phủ tạng (VB/VM tăng) làm tăng tỉ lệ ung thư vú sau mãn kinh độc lập mức độ BP theo BMI [9]
Hậu quả khác
Biến chứng da: Nấm da và ngâm các nếp nhăn, da dễ bị chứng gai đen biểu hiện bằng xạm da ở nếp gấp da cổ, khuỷu tay, phía lưng các kẽ ngón tay, ở người BP còn có tình trạng ứ trệ tĩnh mạch [9]
Rối loạn nội tiết: Các nghiên cứu cho thấy ở người BP tế bào mỡ nhiều hơn túi mỡ Chúng cũng có chức năng như những tế bào nội tiết, sản xuất ra rất nhiều hormon bộ phận và tế bào đích đối với nhiều hormon [9], [23] Rối loạn lipid máu: Tăng cholesterol máu, giảm HDL, tăng tỉ lệ LDL, tăng tỉ lệ LDL/HDL gây tăng tỉ lệ bệnh tim mạch Thường thấy rối loạn
Trang 22chuyển hóa ở hầu hết các bệnh nhân BP với tích lũy mỡ trong ổ bụng và thường có mối liên quan với tăng nguy cơ bệnh tim mạch [9], [23], [49]
1.4 Phương pháp đánh giá tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ dưới 9 tuổi
Đánh giá TC bằng phương pháp nhân trắc: Theo TCYTTG, chỉ tiêu đánh giá TC ở trẻ dưới 5 tuổi là cân nặng/chiều cao Đối với trẻ em 5-9 tuổi chưa
có thang phân loại riêng để đánh giá tình trạng TC-BP Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thường lấy ngưỡng cân nặng/chiều cao: > +2Z-score (CN/CC > +2Z-score) so với quần thể tham khảo NCHS để phân loại TC và
BP của trẻ, tương tự như trẻ dưới 5 tuổi [58]
Muốn nhận định các kết quả về nhân trắc, cần chọn một quần thể tham khảo để so sánh Theo WHO 1995, không nên coi quần thể tham khảo là chuẩn, nghĩa là mục tiêu mong muốn, mà chỉ là cơ sở để đưa ra các nhận định cho các so sánh trong nước và quốc tế Do trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng lớn không khác nhau theo chủng tộc, TCYTTG đề nghị lấy số liệu của NCHS làm quần thể tham khảo và đề nghị này hiện nay đã được ứng dụng rộng rãi [58]
Ở Việt Nam hiện nay, trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi, các tác giả sử dụng quần thể tham khảo NCHS [58]
Việc sử dụng Z-score được khuyến cáo bởi Waterlow và cộng sự từ năm
2007 Đây là phương pháp tính điểm đo độ lệch của các kích thuớc nhân trắc
đo được so với trung vị của quần thể tham khảo [58]
Cách tính Z-score theo công thức sau:
Trang 23M = Số trung bình của quần thể tham khảo
SD = Độ lệch chuẩn của quần thể tham khảo
Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng nên có so với chiều cao (CN/CC > +2SD), giá trị ngưỡng khuyến cáo cho cân nặng/chiều cao là
> +2SD và được so sánh với quần thể tham khảo NCHS [58]
Cách phân loại mức độ như sau:
* Từ - 2SD → ≤ + 2SD: Bình thường
* Từ > +2SD → ≤ 3SD: Thừa cân
* Từ > +3SD: Béo phì
1.5 Chiến lược dự phòng và xử trí thừa cân - béo phì
1.5.1 Chiến lược dự phòng thừa cân - béo phì trong cộng đồng
Hai giải pháp then chốt trong cộng đồng với mục tiêu ngăn ngừa TC-BP bao gồm: Nâng cao hoạt động thể lực và cải thiện chất lượng khẩu phần ăn dựa trên các thực phẩm sẵn có ở địa phương
Chương trình can thiệp cộng đồng để kiểm soát TC-BP thường dựa vào các hình thức tiếp cận: Phương tiện thông tin đại chúng, nơi làm việc, trường học, tài liệu giảng dạy, tập huấn qua mạng lưới của các câu lạc bộ Các chương trình cộng đồng thường đạt tới đông đảo các đối tượng đích, do đó cung cấp được các thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi [4], [5], [7]
* Thứ nhất: Tập trung các lứa tuổi có nhiều nguy cơ phát triển BP như sau: Trẻ có cha, mẹ BP; trẻ em có vóc người bè ngang; độ tuổi bắt đầu tăng cân: Khi mới sinh, BP chiếm tỉ lệ 12%, rồi tăng dần khi đạt đỉnh cao là 25% khi trẻ đạt 6 tuổi, rồi giảm dần 15-18% trước tuổi dậy thì Khối mỡ tăng lên sau tuổi dậy thì ở cả nam và nữ Ở các nước phát triển, đàn ông thường tăng cân ngoài tuổi 20, phụ nữ thường tăng cân giữa 30-40 tuổi [4], [5], [7]
* Thứ hai: Đổi mới quan niệm cho rằng trẻ em béo là khỏe, là đẹp Ngược lại BP kéo theo hàng loạt nguy cơ về bệnh lý và tử vong [4], [5], [7]
Trang 24* Thứ ba: Có một chế độ ăn khoa học: Không ăn quá nhiều chất béo, cải thiện chất lượng chất béo, đủ lượng protein, tăng tỉ lệ thức ăn sinh nhiệt dạng glucid, ăn nhiều rau quả, đủ vitamin và các chất khoáng Không uống rượu, không uống quá nhiều bia [4], [5], [7]
* Thứ tư: Thường xuyên luyện tập thể dục, hoạt động thể lực [5], [7]
* Thứ năm: Cần thay đổi món ăn trong tuần, đa dạng hóa thức ăn hàng ngày [4], [5], [7]
* Thứ sáu: Duy trì cân nặng nên có BMI từ 18,5-23 kg/m2 [4], [5], [7]
1.5.2 Các biện pháp xử trí thừa cân - béo phì
Trước đây, dự phòng và xử trí BP vẫn đi theo hai hướng: Dự phòng nhằm mục đích không tăng cân và xử trí nhằm mục đích giảm cân Xử trí thuộc phạm vi các nhà lâm sàng, còn dự phòng thuộc về y tế công cộng Hiện nay, người ta xem quá trình xử trí đối với BP bao gồm một chuỗi giải pháp đi
từ phòng ngừa thông qua duy trì cân nặng và xử trí các bệnh kèm theo cho đến giảm cân [23]
Chế độ ăn rất thấp năng lượng
Khi một khẩu phần có sự thiếu hụt năng lượng giữa tiêu hao và ăn vào trên 1.000 kcalo được gọi là chế độ ăn rất thấp năng lượng Chế độ ăn rất thấp năng lượng có hiệu quả giảm cân rất nhanh, tốc độ giảm trung bình khoảng 20
kg trong 12 đến 16 tuần, nam giới giảm nhiều hơn nữ giới, người càng béo thì giảm cân nhiều hơn [19]
Thay thế bữa ăn
Bữa ăn được thay thế bằng uống đôi khi được dùng trong các chương trình kiểm soát cân nặng Việc thay thế bữa ăn khác với chế độ ăn rất thấp năng lượng là trong mô hình này chỉ có một hoặc hai bữa ăn được thay thế bằng dạng uống chứ không phải là toàn bộ khẩu phần ăn Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc thay thế bữa ăn bằng uống có hiệu quả lớn trong giảm
Trang 25cân và có hiệu quả duy trì lâu dài cân nặng sau khi giảm cân hoặc ngăn ngừa tăng cân trở lại [19]
Tăng cường hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực bao gồm những hoạt động hàng ngày, các công việc liên quan với hoạt động thể lực và luyện tập thể lực, thể thao Tùy theo từng người mà có thể lựa chọn hình thức luyện tập thích hợp: Duy trì chế độ luyện tập thể thao ít nhất 30 phút/ngày với các loại hình như: Đi bộ, bơi, thể dục nhịp điệu, đạp xe đạp Người ta ước tính 1 kg chất béo của cơ thể cung cấp
đủ năng lượng cho đi bộ hoặc đi bộ nhanh 100 km Điều này tương ứng với đi bộ 2,5 km (20-30 phút/ngày x 5 lần/tuần) sẽ giảm khoảng 6,5 kg chất béo
trong một năm với điều kiện không ăn thừa năng lượng [19]
Phương pháp phẫu thuật
Thắt dạ dày có tác dụng trên thiếu niên bị BP nặng nhưng lại xuất hiện những nguy cơ đáng kể về biến chứng Lựa chọn đầu tiên để chữa BP phải là những phương pháp không phẫu thuật; thắt dạ dày qua nội soi ổ bụng có thể cải thiện cuộc sống và sức khỏe của quần thể có nguy cơ cao này [74]
1.5.3 Xử trí béo phì đối với trẻ em
Theo nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc (2007), mục tiêu điều trị BP trẻ em khác với người trưởng thành, bởi vì trẻ em vẫn còn đang phát triển với
sự phát triển khối nạc của cơ thể, việc điều trị tập trung vào ngăn ngừa tăng cân hơn là tập trung vào giảm cân như người trưởng thành Bất cứ mục tiêu điều trị nào liên quan đến điều hòa cân nặng cơ thể phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho sự lớn lên và phát triển của đứa trẻ, đủ năng lượng và đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng: Calci, sắt [32]
1.6 Các nghiên cứu can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe
Nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc (2010), ở học sinh tiểu học, thành phố Huế, can thiệp bằng truyền thông giáo dục, kết hợp gia đình và trường
Trang 26học, trong thời gian 9 tháng, nhằm thay đổi hành vi ăn uống và sinh hoạt của trẻ Sau can thiệp, tỉ lệ TC-BP của học sinh ở 3 trường can thiệp giảm từ 8% xuống còn 6,4% (p<0,05), trong khi tỉ lệ này ở 3 trường chứng là 7,95%- 8,97% (p>0,05) Hiệu quả can thiệp là 28,65% Chỉ số khối cơ thể BMI trung bình của nhóm can thiệp sau khi can thiệp là 19,69 ± 3,48 kg/m2, thấp hơn trước khi can thiệp 20,59 ± 2,04 kg/m2 và thấp hơn nhóm chứng (p<0,05) Hiệu quả của truyền thông giáo dục đối với kiến thức, thái độ và thực hành đúng của phụ huynh học sinh lần lượt là 71,25%; 58,82% và 81,46% [33]
Có sự cải thiện về TC-BP sau can thiệp ở cả học sinh tiểu học và trung học cơ sở, với p>0,05: Sau khi can thiệp, tỉ lệ TC-BP của học sinh tại trường tiểu học là 13,7%, thấp hơn so với trước can thiệp (19%) và cũng thấp hơn so với trường đối chứng (14,8%) (p>0,05) Tỉ lệ TC-BP của học sinh tại trường trung học cơ sở sau khi can thiệp là 25,9%, thấp hơn so với trước can thiệp (26,9%) và cũng thấp hơn trường đối chứng là 28,2% (p>0,05) Có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê kiến thức của học sinh về khái niệm, nguyên nhân, hậu quả của BP, hạn chế nước ngọt có gas, hạn chế chơi game ≤ 2 giờ/tuần ở các trường can thiệp [34]
Nghiên cứu của Trương Sơn (2012), tại thành phố Sóc Trăng, can thiệp trẻ TC-BP gồm: Hướng dẫn cha mẹ cách thực hành dinh dưỡng và hoạt động thể lực hợp lý nhằm giảm BP trẻ <5 tuổi Điều tra ban đầu đo chỉ số cân đối cơ thể BAZscores và đo lại vào tháng thứ 6, 12 và 24 để theo dõi Kết quả: Chỉ số BAZscores giảm có ý nghĩa thống kê từ 4,76 ± 0,314 xuống mức 4,66 ± 0,342 sau 12 tháng can thiệp, xuống 3,65 ± 0,387 sau 24 tháng can thiệp, p<0,05 [47]
Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng (2004), ở Hà Nội, trẻ TC-BP là những trẻ có thói quen ăn nhiều chất ngọt, nhiều tinh bột, ăn nhiều thức ăn chiên, xào, thức ăn chế biến sẵn; có thói quen ăn nhanh, không nhai kỹ thức ăn, ăn nhiều hay ăn vặt, ăn vào buổi tối, không chịu ăn rau xanh; không chịu vận động, ít tập
Trang 27thể dục thể thao, thường xuyên xem tivi, đọc truyện, chơi điện tử; ngủ đêm ít, ngủ ngày nhiều; gia đình có cha, mẹ, anh, chị bị TC-BP [59]
Nghiên cứu của Phùng Đức Nhật (2010), ở Thành phố Hồ Chí Minh, tỉ
lệ TC-BP ghi nhận sau can thiệp (38,6%) cao hơn ban đầu (33,8%) Các yếu tố như giới tính, khối lớp, tốc độ ăn và ăn thức ăn chiên xào có liên quan đến tỉ lệ TC-BP (p<0,05) Tỉ lệ kiến thức đúng của phụ huynh về dinh dưỡng và TC-BP
ở trẻ thu được sau can thiệp cao hơn ban đầu [40]
Nghiên cứu của Khadidiatou Ndiaye (2013), kết quả xác định tài chính
và thực phẩm là một chìa khóa cản trở sự lựa chọn dinh dưỡng Chiến lược thiết kế can thiệp cho rằng khuyến khích ban đầu thảo luận gia đình về thực phẩm xúc tiến tích cực mô hình vai trò dinh dưỡng là cực kỳ quan trọng [69]
1.7 Biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng ngừa thừa cân - béo phì
Hướng dẫn cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ từ 4-6 tuổi ở nhóm can thiệp điều chỉnh chế độ ăn uống kết hợp với hoạt động thể lực bằng việc thực hiện các nội dung sau đây:
Ăn theo thực đơn của chuyên khoa dinh dưỡng (sử dụng tờ rơi đã in sẵn
để hướng dẫn, cấp phát tờ rơi này cho từng hộ gia đình có trẻ TC-BP trong hoạt động truyền thông tích cực); ăn thịt nạc, cá, tôm, thịt gia cầm bỏ da, đậu phụ; nếu uống sữa không nên uống đường, trẻ lớn nên uống sữa gầy (sữa tách bơ) Không nên uống sữa đặc có đường; chế biến thức ăn: Hạn chế thức ăn quay, chiên, xào, nên ăn các món luộc, hấp; nên ăn đều đặn, không bỏ bữa, không để trẻ quá đói, vì nếu quá đói làm cho trẻ ăn nhiều trong các bữa ăn sau nhằm làm mỡ tích lũy nhanh hơn; nên ăn nhiều vào bữa sáng để tránh ăn vặt ở trường, làm giảm ăn chiều và tối; nên ăn nhiều rau xanh, quả chín ít ngọt; giảm bớt gạo thay bằng khoai, bắp là những thức ăn cơ bản giàu chất xơ; nhai
kỹ và chậm khi ăn [5], [7]
Trang 28Những điều cần tránh
Không nên uống các loại nước ngọt có gas; hạn chế bánh, kẹo, đường, mật, kem, sữa đặc có đường; tránh cho trẻ nhai kẹo cao su làm cho trẻ lúc nào cũng muốn nhai; không nên dự trữ sẵn thức ăn giàu năng lượng: Bơ, pho mát, bánh, kẹo, nước ngọt ở trong nhà; hạn chế ăn thức ăn đã chế biến sẵn; trẻ dưới
12 tuổi không được dùng thuốc giảm béo
Các biện pháp giúp trẻ tăng cường vận động
Tạo niềm thích thú của trẻ với các hoạt động thể thao Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ cần quan tâm ủng hộ và tạo mọi điều kiện giúp trẻ năng động; chú trọng những sở thích của trẻ tham gia các môn thể thao dễ dàng gần gũi với cuộc sống như: Khuyến khích trẻ đi bộ đến trường (nếu gần), chơi các môn thể thao: Đi bộ, chạy, nhảy dây, đá bóng, đánh cầu lông,
đá cầu, leo thang…, hướng dẫn trẻ làm các công việc nhà: Lau dọn nhà, làm việc nhà…, hạn chế ngồi xem tivi, trò chơi điện tử…, không nên bắt trẻ học quá nhiều, nên tạo điều kiện để trẻ vui đùa, chạy nhảy sau những giờ học Phòng ngừa béo phì ở trẻ em
Đối với trẻ nhỏ: Chủ yếu là nuôi dưỡng, nuôi con bằng sữa mẹ ít có nguy cơ béo phì hơn nuôi bằng sữa bò Cho trẻ ăn bổ sung hợp lý, nên tạo thói quen ăn nhiều rau từ nhỏ, không cho trẻ ăn, uống nước quá ngọt thường xuyên
Đối với trẻ lớn: Chủ yếu giáo dục nếp sống lành mạnh, ăn uống hợp lý, tăng cường vận động và luyện tập thể dục thể thao; thường xuyên theo dõi cân nặng và chiều cao của trẻ để phát hiện sớm, có thể can thiệp kịp thời, tránh để trẻ thừa cân - béo phì [3], [5], [61]
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Các đối tượng nghiên cứu
- Trẻ em 4-6 tuổi đang sinh sống tại các huyện và thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
- Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ (NTTND)
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Trẻ sinh từ ngày 01/10/2010 đến ngày 01/10/2012
- Hộ khẩu tại các huyện và thành phố Cà Mau hoặc thời gian sinh sống tại các huyện và thành phố Cà Mau ≥ 6 tháng
- Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ đồng ý tham gia phỏng vấn, chấp nhận cho cân, đo trẻ và tham gia nghe hướng dẫn các hoạt động về truyền thông giáo dục dinh dưỡng trong phòng ngừa TC-BP cho trẻ
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ vắng mặt trong quá trình điều tra lần thứ 1 và hẹn lại lần thứ 2 được thực hiện tại các điểm trường và trong cộng đồng
- Trẻ không thu thập được các chỉ số nhân trắc (gù, vẹo cột sống, )
- Những trẻ mắc các bệnh như bệnh thận, hội chứng Cushing hoặc các bệnh mạn tính khác được chẩn đoán của Bệnh viện
- Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ không thể giao tiếp được (câm, điếc, tâm thần )
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- 30 cụm được chọn ngẫu nhiên thuộc tất cả các huyện và thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 12/2015 đến tháng 12/2017 (thời gian cân, đo lần thứ nhất từ ngày 01/02/2016 đến 30/04/2016; thời gian thực hiện
Trang 30hoạt động can thiệp bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng ngừa
TC-BP trong 12 tháng từ ngày 01/10/2016 đến ngày 30/9/2017; thời gian cân, đo
lại lần thứ hai từ ngày 01/11/2017 đến ngày 30/11/2017)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp có đối chứng
d
p p Z
−
Trong đó: - n: Cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý
- Z: Là trị số tùy thuộc vào mức tin cậy mong muốn của ước lượng, với mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z tương ứng là 1,96
- p: Tỉ lệ thừa cân - béo phì, p = 0,117 theo “Nghiên cứu tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ 3-5 tuổi tại thành phố Cà Mau” [59]
- d: Khoảng sai lệch cho phép giữa tỉ lệ thu được từ mẫu và tỉ
lệ của quần thể, ở đây chúng tôi chọn d = 0,012
Vậy: n = 1,96
2 x 0,117 x (1- 0,117)
= 2.646 0,0122
Cỡ mẫu tối thiểu phải chọn 2.646 trẻ
Dự trù mất mẫu 10%, hệ số thiết kế là 1,5
Vậy n = (2.646 x 1,5) + (2.646 x 1,5) x 10% = 4.366 trẻ
Tổng số trẻ cần điều tra là: 4.366 trẻ
Tổng số trẻ cần điều tra là: 4.366 trẻ Thực tế điều tra 4.331 trẻ (35 trẻ vắng nhà, không tìm được trong quá trình điều tra
Trang 31* Cỡ mẫu cho mục tiêu 3:
- Cỡ mẫu xác định sự khác biệt tỉ lệ thừa cân – béo phì giữa nhóm có can thiệp và nhóm không can thiệp
- Áp dụng công thức ước lượng 2 tỉ lệ:
n =
Trong đó:
n: Cỡ mẫu trong nghiên cứu
α: Xác suất sai lầm loại I
β: Xác suất sai lầm loại II
1-β: Sức mạnh của phép kiểm (lực mẫu)
, là tỉ lệ thừa cân - béo phì sau can thiệp tương ứng ở nhóm can thiệp và nhóm không can thiệp, do đó chọn p1, p2 tương ứng là 90% và 100% Theo “Truyền thông giáo dục kết hợp với trường học và gia đình trong
dự phòng thừa cân - béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Huế” là 10% [33]
Tính cỡ mẫu: Lực mẫu = 90%, ứng với Z1-β = 1,28; =0,01, ứng với
Z1-α/2 = 2,57
Thay vào công thức: Tính được cỡ mẫu cho mỗi nhóm là 195 trẻ
- Ước lượng tỉ lệ thừa cân béo phì trong cộng đồng là: 11,7% [45], như vậy số trẻ TC-BP khoảng 506 trẻ Thực tế xác định được 514 trẻ TC-BP + Đối tượng cho mục tiêu 3: Gồm:
- Tất cả trẻ TC-BP được xác định ở mục tiêu 1 là 514
- Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ được xác định TC-BP
Trang 322.2.3 Phương pháp chọn mẫu
* Chọn mẫu cho nghiên cứu cắt ngang
Chọn mẫu ngẫu nhiên
Cách chọn cụm
- Áp dụng phương pháp chọn mẫu cụm phân tầng với đơn vị cụm là xã, phường, thị trấn (chọn 30 cụm) Lập danh sách theo trình tự từng huyện và theo phường, thị trấn, xã (101 xã, phường, thị trấn), chúng tôi chọn hệ số k bằng cách: 101/30= 3,36 (chọn hệ số k = 4), sau đó chúng tôi bốc thăm ngẫu nhiên 4 số ( 1; 2; 3; 4) và chọn được số 3
- Những phường, thị trấn, xã được chọn vào mẫu nghiên cứu có số thứ tự
là 3, [3+4], [3+2x4], [53+3x4], [3+ 29x4]: Chúng tôi sẽ chọn được 30 cụm
Cách chọn tầng
- Mỗi cụm chọn 3 tầng (tầng là nhóm tuổi của trẻ 4, 5, 6 tuổi)
- Mỗi cụm trung bình là 144 trẻ và mỗi tầng trung bình là 48 trẻ
* Chọn mẫu cho mục tiêu can thiệp:
- Chia số trẻ thành 2 nhóm (nhóm can thiệp tương đương với nhóm không can thiệp mỗi nhóm 15 cụm)
- Chọn 2 nhóm này tương đồng về tình trạng TC-BP và các điều kiện về kinh tế, địa lý…
Trang 332.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
* Đặc điểm của trẻ
+ Tuổi của trẻ: Gồm 3 giá trị, 4, 5, 6 tuổi gồm trẻ không đi học và đi học Trẻ đi học: Tương đương với trẻ học ở 3 khối lớp: Mầm, Chồi, Lá của các trường mẫu giáo
Trẻ không đi học: Tương đương với trẻ ở các nhóm tuổi: 4 tuổi (đủ 36- dưới 48 tháng); 5 tuổi (đủ 48- dưới 60 tháng) (60- dưới 72 tháng)
+ Giới tính trẻ: Gồm 2 giá trị: Nam và nữ
+ Dân tộc: Gồm 3 giá trị: Kinh, Hoa, khác
+ Cân nặng lúc sinh (là trọng lượng của trẻ khi sinh ra): Có 2 giá trị:
< 4.000g và ≥ 4000g
+ Trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (trẻ chỉ bú sữa mẹ), trẻ không bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (trẻ bú sữa mẹ có sử dụng thêm sữa khác ngoài sữa mẹ ): Có 2 giá trị: Có, không
+ Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 4-6 tuổi :
Tiêu chuẩn đánh giá TC-BP
Trên thực tế có thể có một số trẻ thừa cân nhưng không béo phì do sự phát triển quá mức của khối nạc và xương
Theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới 1985, với trẻ dưới 9 tuổi tình trạng TC-BP: Được xác định dựa theo chỉ số cân nặng theo chiều cao (CN/CC) và độ lệch chuẩn (SD) so sánh với quần thể tham khảo NCHS ở ngưỡng 2SD [58]
Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn chỉ tiêu đánh giá theo CN/CC như sau:
- Không TC-BP: Khi chỉ số CN/CC ≤ +2SD
- Có TC-BP: Khi chỉ số CN/CC > +2SD
Trang 34* Đặc điểm của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ
+ Trình độ học vấn của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ: Gồm 4 giá trị: Tiểu học; trung học cơ sở; trung học phổ thông; cao đẳng, đại học, sau đại học
+ Nghề nghiệp của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng: Gồm 5 giá trị: Cán bộ công chức; buôn bán; công nhân; nông dân; nội trợ, lao động khác
CB-CNV và buôn bán: Làm việc bên ngoài theo giờ hành chính: Thời gian làm việc chủ yếu từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều
Công nhân: Là những người làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp Nông dân: Là những người làm nghề trồng trọt, chăn nuôi
Nội trợ, lao động khác: Thời gian làm việc không ổn định bao gồm các công việc tại nhà hoặc các việc làm theo ca, theo mùa vụ
+ Dân tộc: Gồm 3 giá trị: Kinh, Hoa, khác
+ Tình trạng dinh dưỡng của mẹ hoặc cha: BMI = CN/CC2 (kg/m2): Có hoặc không
Có TC-BP: Khi BMI ≥ 23 kg/m2
Không TC-BP: Khi BMI < 23 kg/m2
2.2.4.2 Các đặc điểm về yếu tố gia đình liên quan đến thừa cân - béo phì:
* Kinh tế hộ gia đình:
+ Hộ nghèo, cận nghèo: Có sổ hộ nghèo và cận nghèo do chính quyền địa phương cấp
+ Hộ không nghèo
* Tình trạng TC-BP của anh, chị, em ruột: (Hỏi cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ): Có hoặc không
* Số con trong gia đình (là con của cha, mẹ đẻ của gia đình): Có 2 giá trị: ≤ 2 con, > 2 con
Trang 35* Chi phí cho ăn uống: Có 2 giá trị: Cao (> 1.500.000đ/người/tháng)
và thấp ( ≤ 1.5000.000/người/tháng)
* Dụng cụ sinh họat trong gia đình: Có 2 giá trị:
Nhiều tiện nghi (có từ 3 dụng cụ giải trí trở lên: Tivi, máy vi tính, máy chơi game)
Ít tiện nghi (có dưới 3 dụng cụ giải trí: Tivi, máy vi tính, máy chơi game)
* Nhà ở: Nhà mái bằng là nhà lầu, có 2 giá trị: Có, không
* Nuôi dưỡng: Cha, mẹ cùng nuôi dưỡng trẻ là cha, mẹ cùng ở chung một nhà để nuôi dưỡng trẻ, có 2 giá trị: Có, không
* Sống chung với ông, bà: Trẻ cùng ở nhà với ông, bà có 2 giá trị: Có, không
* Thói quen, sở thích ăn uống của trẻ:
- Ăn quà khi ở nhà và đến trường: Trẻ thường kêu cha hoặc mẹ hoặc
người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ mua bánh hoặc kẹo cho trẻ: Có hoặc không
- Ăn bữa phụ trước khi ngủ (ăn sau 19 giờ hàng ngày): Có hoặc không
- Đói bụng thường xuyên (trẻ kêu đói bụng sau khi ăn khoảng 30 phút)
có 2 giá trị: Có hoặc không
- Ăn nhanh: Ăn không cần cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng ép
trẻ, trẻ tự ăn liên tục
- Ăn nhiều: Số lượng thức ăn trẻ ăn trong một bữa tương đương như
người lớn
- Ăn ít: Ăn chậm, chán ăn, ăn dưới 1 chén mỗi bữa; cha, mẹ hoặc người
trực tiếp nuôi dưỡng trẻ phải dỗ dành hoặc ép trẻ ăn
- Ăn bình thường: Ăn vừa phải, ăn hết suất định mức
- Ăn quà vặt khi tĩnh tại (ăn khi xem tivi, chơi vi tính, chơi game): Có
hoặc không
Trang 36- Ăn thức ăn ngọt: Bánh, kẹo, các loại đồ ăn ngọt khác (chocolat,
snack, chè, kem ): Có hoặc không
- Số bữa cơm trẻ ăn mỗi ngày có 2 giá trị: Ăn bình thường, ăn nhiều
Bình thường là số lần ăn ≤ 3 lần/ngày
Ăn nhiều/háu ăn là số lần ăn ≥ 4 lần /ngày
* Hoạt động thể lực:
- Nhà có sân chơi cho trẻ: Có, không
- Phương tiện đi học của trẻ: Chở bằng xe hoặc dắt trẻ đi bộ
- Tính hiếu động của trẻ:
Ít hiếu động: Trẻ lười hoạt động, cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thường khuyến khích, nhắc nhở trẻ tăng cường vận động
Bình thường: Trẻ hoạt động vừa phải, cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ không cần phải nhắc nhở gì khi trẻ vận động
Hiếu động: Trẻ hoạt động quá nhiều, cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ thường xuyên nhắc nhở trẻ nên giảm vận động
- Thời gian hoạt động vận động của trẻ: Là tổng thời gian chạy nhảy và
đi bộ
Ít: ≤ trung bình cộng (60 phút/ngày)
Nhiều: > trung bình cộng (60 phút/ngày)
* Hoạt động tĩnh tại
- Thời gian hoạt động tĩnh tại của trẻ: Là tổng thời gian ngồi học ở nhà, xem sách, xem tivi, chơi xếp hình…
Ít: ≤ trung bình cộng (120 phút/ngày)
Nhiều: > trung bình cộng (120 phút/ngày)
- Thời gian xem tivi của trẻ:
Ít: ≤ trung bình cộng (45 phút/ngày)
Nhiều: > trung bình cộng (45 phút/ngày)
Trang 37* Thời gian ngủ của trẻ là tổng số thời gian ngủ của trẻ mỗi ngày, có 2 giá trị: ≤ 9 giờ/ngày, > 9 giờ/ngày
2.2.4.3 Kiến thức về TC-BP của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ
- Biết tình trạng dinh dưỡng của con mình: Thiếu cân; bình thường, thừa cân; béo phì
- Trẻ TC-BP là không khỏe
- Trẻ TC-BP là không đẹp
- Trẻ TC-BP có hậu quả xấu đối với sức khỏe
Đúng: Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ nếu trả lời đúng ≥ 3/4 câu
Sai: là trả lời đúng dưới ≤ 2/4 câu hỏi
2.2.4.4 Đánh giá thực hành nuôi dưỡng trẻ:
- Cho trẻ ăn quà vặt khi đến trường
- Cho trẻ ăn bữa phụ ban đêm
- Cho trẻ ăn khi trẻ kêu đói
- Cho trẻ ăn nhiều, ăn nhanh
- Cho trẻ ăn quà vặt khi hoạt động tĩnh tại
- Thường cho trẻ ăn thức ăn ngọt
- Thường cho tre ăn thức ăn chiên, xào
- Số bữa cơm trẻ ăn mỗi ngày: ≥ 4
Đúng: là trả lời đúng ≥ 5/8 câu
Sai: là trả lời đúng ≤ 4/8 câu
2.2.4.5 Nội dung nghiên cứu cho hoạt động can thiệp
Hàng tháng cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng được phân công phụ trách địa bàn can thiệp tham dự họp báo tại trạm Y tế hướng dẫn cho cộng tác viên dinh dưỡng kỹ năng truyền thông và cấp tờ rơi “Phòng và kiểm soát thừa cân
- béo phì” do Cục Y tế dự phòng xuất bản năm 2012, sau đó cộng tác viên khi
Trang 38vãng gia cấp cho cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ, đồng thời cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng đi thực địa kiểm tra đánh giá hoạt động can thiệp của cộng tác viên (20% hộ gia đình/tháng) với nội dung sau:
- Thừa cân - béo phì là gì
- Nguyên nhân của thừa cân - béo phì
- Tác hại của thừa cân - béo phì
- Biện pháp dự phòng và kiểm soát [5]
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
- Cân trọng lượng và đo chiều cao của trẻ được chọn vào mẫu nghiên cứu lần thứ nhất
- Phỏng vấn cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ lần thứ nhất (của nhóm trẻ được chọn vào mẫu nghiên cứu) bằng bộ câu hỏi đã soạn sẵn (phụ lục 1)
- Cân trọng lượng và đo chiều cao lần 2 của trẻ được chọn vào nhóm can thiệp sau thời gian can thiệp 12 tháng; đồng thời cân trọng lượng và đo chiều cao lần 2 của trẻ được chọn vào nhóm không can thiệp sau thời gian 12 tháng
- Phỏng vấn lần 2 đối với cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ được chọn vào nhóm can thiệp sau thời gian can thiệp 12 tháng; đồng thời phỏng vấn lần 2 đối với cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ ở nhóm không can thiệp sau 12 tháng bằng bộ câu hỏi (phụ lục 2)
2.2.5.1 Các nội dung thông tin cần thu thập
- Đặc điểm cá nhân (tuổi, giới, cân nặng và chiều cao của trẻ, )
- Đặc điểm gia đình (học vấn, nghề nghiệp, thu nhập của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ)
- Hoạt động của trẻ (ăn, ngủ, chơi đùa, xem tivi, phương tiện đưa trẻ đi học: Dắt trẻ đi bộ, chở bằng xe )
- Những yếu tố liên quan đến thừa cân - béo phì
Trang 39- Kiến thức về TC-BP của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ
- Thực hành của cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ
2.2.5.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Trước khi cân, đo trẻ chúng tôi tiến hành tập huấn cho 4 nhóm (mỗi nhóm 3 người) về cách cân nặng và đo chiều cao cho trẻ, 4 nhóm này thực hiện điều tra trước và sau can thiệp cho tất cả các trẻ tham gia nghiên cứu và phỏng vấn tại hộ gia đình đối với cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ
- Thông báo cho phụ huynh (nếu trẻ đi học) ngày phỏng vấn và cân trẻ nên mặc quần áo mỏng và gọn ở 2 lần cân trẻ
- Cân nặng và đo chiều cao cho trẻ thực hiện cân ở giờ nhất định (từ 8 đến 11 giờ, trước giờ ăn trưa )
- Cân nặng: Dùng cân điện tử để cân trẻ, ghi kết quả bằng kilogram (kg) với một số lẻ Trẻ em bỏ giày, dép, mặc áo quần mỏng Đặt cân trên nền phẳng, trẻ đứng 2 chân giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, để trọng lượng phân bố đều trên hai chân
- Đo chiều cao đứng: Trẻ được bỏ giày, dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo, mắt nhìn thẳng Để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt phẳng nằm ngang Gót chân, mông, vai và đầu của trẻ phải nằm trên một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng Dùng thước vuông hoặc mảnh gỗ áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo Mắt của người đọc kết quả phải ngang tầm đầu của trẻ, đọc kết quả và ghi bằng đơn vị centimet (cm) với một số lẻ
- Thu thập thông tin: Gặp cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ, giải thích ý nghĩa, mục tiêu và tầm quan trọng của nghiên cứu, để có sự hợp tác tốt trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Nội dung phỏng vấn được thể hiện qua bộ câu hỏi điều tra đã chuẩn bị sẵn nhằm thu thập các thông tin liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Trang 402.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số
* Các số liệu nhân trắc: Được cùng một điều tra viên cân, đo với việc sử dụng cùng loại cân, cùng loại thước và trẻ được cân, đo trong cùng một thời gian (từ 8 đến 11 giờ) Sử dụng các loại cân, thước đo với kỹ thuật chuẩn tuân theo phương thức thường quy và thống nhất phương pháp điều tra đã được tập huấn cho điều tra viên nhằm loại trừ khả năng sai số do điều tra viên hoặc do dụng cụ cân, đo
Nhằm đảm bảo chất lượng số liệu điều tra, giám sát viên có trách nhiệm phải kiểm tra tất cả các số liệu của các mẫu phiếu điều tra trong ngày, nếu phát hiện các số liệu bất thường, phiếu sẽ được gửi trả lại điều tra viên để điều tra viên kiểm tra lại tính chính xác của số liệu
- Thống nhất dụng cụ cân đo và kiểm tra bằng vật chuẩn hàng ngày
- Nhóm giám sát kiểm tra ngẫu nhiên đối với nhóm cân đo, cứ 10 trẻ cân đo lại 2 trẻ (20%)
* Sai lệch thông tin do sai lệch từ 2 nguồn: Từ người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn
Khắc phục sai lệch bằng cách:
- Cán bộ thực hiện điều tra được tập huấn về kỹ năng giao tiếp và cách khai thác nội dung trong bộ câu hỏi và thực hiện điều tra thử trong quá trình tập huấn
- Khi điều tra, nơi phỏng vấn phải: Đảm bảo tính riêng tư, không bị