1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vườn quốc gia tràm chim thực trạng quản lý và các giải pháp hợp lý nhằm phát triển bền vững

206 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vườn quốc gia Tràm Chim thực trạng quản lý và các giải pháp hợp lý nhằm phát triển bền vững
Tác giả Vũ Thị Nhung
Người hướng dẫn TS. Chế Đình Lý
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 CÁC KHÁI NIỆM (11)
    • 1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên (11)
    • 1.1.2 Phát triển bền vững (11)
    • 1.1.3 Khu bảo vệ (11)
    • 1.1.4 Khu bảo tồn (11)
    • 1.1.5 Vườn quốc gia (12)
    • 1.1.6 Đa dạng sinh học (12)
    • 1.1.7 Hệ sinh thái (12)
  • 1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC (12)
    • 1.2.1 Định nghĩa về đất ngập nước (12)
    • 1.2.2 Giá trị và chức năng của đất ngập nước (13)
    • 1.2.3 Đất ngập nước ở Việt Nam (14)
    • 1.2.4 Tổng quan các tài liệu và nghiên cứu về đất ngập nước (16)
  • 1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI (21)
  • 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (23)
  • 2.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (23)
    • 2.2.1 Muùc tieõu chung (23)
    • 2.2.2 Muùc tieõu cuù theồ (23)
  • 2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU (24)
  • 2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 2.4.1 Phương pháp luận (25)
    • 2.4.2 Phương pháp cụ thể (25)
  • 3.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CỦA VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI (0)
    • 3.1.1 Những đặc điểm đặc trưng của vùng ĐTM xưa kia (0)
    • 3.1.2 Những đặc điểm đặc trưng của vùng ĐTM hiện nay (0)
  • 3.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KT-XH VQGTC (0)
    • 3.2.1 Cơ sở pháp lý và lịch sử hình thành VQGTC (31)
    • 3.2.2 Các đặc trưng về điều kiện tự nhiên VQGTC (34)
    • 3.2.3 Đánh giá các đặc điểm dân sinh, kinh tế và xã hội (44)
  • 4.1 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ (53)
    • 4.1.1 Hiện trạng công tác quản lý sử dụng đất (53)
    • 4.1.2 Hiện trạng công tác quản lý lửa (55)
    • 4.1.3 Hiện trạng công tác quản lý nước (58)
    • 4.1.4 Hiện trạng quản lý các loài ngoại lai (0)
    • 4.1.5 Công tác tuần tra canh gác và xử lý các vi phạm (64)
    • 4.1.6 Công tác khai thác và quản lý du lịch (64)
    • 4.1.7 Công tác quan trắc, lưu giữ và xử lý số liệu (66)
    • 4.1.8 Công tác giáo dục nâng cao nhận thức (66)
    • 4.1.9 Công tác phát triển KT-XH vùng đệm (0)
  • 4.2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÃ ÁP DỤNG ĐẾN MỘT SỐ LOÀI VÀ SINH CẢNH CHÍNH CỦA VQG (0)
    • 4.2.1 Tác động đến các sinh cảnh (70)
    • 4.2.2 Tác động đến số lượng sếu và một số loài chim nước (72)
    • 4.2.3 Tác động đến sản lượng cá ở VQGTC (74)
  • 4.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HIỆN TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ (75)
  • 5.1 TỔ CHỨC BỘ MÁY HIỆN TẠI CỦA VQGTC (77)
    • 5.1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ (77)
    • 5.1.2 Đánh giá năng lực tổ chức bộ máy của VQGTC (0)
  • 5.2 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÁN BỘ VQGTC (0)
    • 5.2.1 Đánh giá kỹ năng làm việc và giao tiếp chung (82)
    • 5.2.2. Kỹ năng hoạt động thực địa (82)
    • 5.2.3 Kỹ năng đánh giá tài nguyên thiên nhiên (83)
    • 5.2.4 Kỹ năng quản lý bảo tồn HST và những nơi cư trú của các loài (0)
    • 5.2.5 Kỹ năng lập kế hoạch và chính sách khu bảo tồn (84)
    • 5.2.6 Kỹ năng làm việc với cộng đồng địa phương (85)
    • 5.2.7 Kỹ năng cưỡng chế (86)
    • 5.2.8 Kỹ năng hướng dẫn du lịch và giải trí (87)
    • 5.2.9 Kỹ năng giáo dục truyền thông và nâng cao nhận thức (88)
  • 5.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ TRÌNH ĐỘ NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ VQGTC (88)
  • 6.1 PHẠM VI RÀ SOÁT (90)
  • 6.2 CÁC NỘI DUNG RÀ SOÁT VÀ ĐÁNH GIÁ (90)
    • 6.2.1 Các văn bản QPPL về bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên có liên quan đến ĐNN (0)
    • 6.2.2 Các văn bản QPPL về bảo vệ ĐNN trong sử dụng đất nông nghiệp và laõm nghieọp (0)
    • 6.2.3 Các văn bản QPPL về bảo vệ ĐNN trong lĩnh vực bảo vệ và khai thác nguồn lợi thuỷ sản (0)
    • 6.2.4 Các văn bản QPPL về bảo vệ ĐNN trong lĩnh vực du lịch (0)
  • 6.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC VĂN BẢN QPPL CÓ LIÊN QUAN VỀ/HOẶC ĐẾN QUẢN LÝ HST VQGTC (0)
    • 6.3.1 Những mặt tích cực (101)
    • 6.3.2 Những mặt còn hạn chế (0)
  • 7.1 XÁC ĐỊNH CÁC RÀO CẢN VỀ BẢO TỒN HIỆU QUẢ ĐDSH VQGTC (104)
  • 7.2 YÊU CẦU CỦA HỆ THỐNG QUẢN LÝ ĐỐI VỚI VQGTC TRONG ẹIEÀU KIEÄN HIEÄN NAY (0)
  • 7.3 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ (107)
    • 7.3.1 Thiết lập một quá trình qui hoạch đa ngành (0)
    • 7.3.2 Củng cố khung pháp lý và tạo môi trường kinh tế phù hợp với bảo tồn và phát triển bền vững TNTN VQGTC (120)
    • 7.3.3 Cung cấp đầy đủ thông tin cho các chính sách, qui hoạch và quyết định về quản lý bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững TNTN ĐNN VQGTC (123)
    • 7.3.4 Nâng cao năng lực quản lý để bảo tồn và phát triển tốt hơn Tài nguyên thiên nhieân VQGTC (128)
    • 7.3.5 Cải thiện sự quản lý TNTN dựa trên cộng đồng (0)

Nội dung

TÓM TẮT Vườn quốc gia Tràm Chim thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp là vùng đất ngập nước tiêu biểu của Đồng Tháp Mười và vùng ĐBSCL, có tính đa dạng sinh học cao và thực sự có tầm quan

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHOA ĐỊA LÝ

VŨ THỊ NHUNG

VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM:

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ CÁC GIẢI PHÁP HỢP LÝ

NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP.HỒ CHÍ MINH – 2004

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHOA ĐỊA LÝ

VŨ THỊ NHUNG

VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM:

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ CÁC GIẢI PHÁP HỢP LÝ

NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành: Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên

Mã số: 01.07.14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS CHẾ ĐÌNH LÝ

TP HỒ CHÍ MINH - 2004

Trang 3

Lời cảm tạ

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ to lớn về tinh thần cũng như vật chất của Quý Thầy Cô trường Đại Học Khoa học Xã hội

& Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh; Lãnh đạo Sở Khoa học & Công Nghệ; lãnh đạo Sở Tài nguyên & Môi trường; Lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân viên Vườn quốc gia Tràm Chim; Tập thể và các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực và các Bạn đồng nghiệp

Qua đây, tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến:

- Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh; Lãnh đạo và các Cán bộ giảng dạy Khoa Địa lý; TSKH.Lê Huy Bá; TS.Hoàng Hưng cùng Quý Thầy Cô lớp Cao học khoá IV (2001- 2004); Phòng Sau Đại học và các Phòng, Ban của Trường đã tạo mọi điều kiện để khoá học đạt kết quả tốt nhất

- TS Chế Đình Lý – Phó Viện trưởng Viện Tài nguyên & Môi trường thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn hết sức tận tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn này

- Các Cán bộ Lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp; các Ban, Ngành, Đoàn thể và đặc biệt là Lãnh đạo và các Cán bộ Vườn quốc gia Tràm Chim đã nhiệt tình cung cấp số liệu và trao đổi các thông tin có liên quan đến đề tài

Trang 4

TÓM TẮT

Vườn quốc gia Tràm Chim thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp là vùng đất ngập nước tiêu biểu của Đồng Tháp Mười và vùng ĐBSCL, có tính đa dạng sinh học cao và thực sự có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế; bao gồm nhiều hệ sinh thái độc đáo và sự hiện diện của một số loài chim quí hiếm có nguy cơ đe dọa và tuyệt chủng trên thế giới như: Sếu đầu đỏ, ô tác, giang sen, điêng điểng Tính đa dạng này đã tạo ra nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cho người dân địa phương Từ khi thành lập đến nay, Chính Phủ Việt Nam, UBND tỉnh Đồng Tháp và VQG Tràm Chim đã triển khai các hoạt động toàn diện để quản lý bảo tồn đa dạng sinh học của vườn Tuy nhiên vẫn gặp phải các rào cản về bảo tồn hiệu qủa đa dạng sinh học, bao gồm: Qui hoạch điều phối giữa các ngành, các khung chính sách yếu kém và môi trường kinh tế không mang tính hỗ trợ, thiếu cơ sở thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định, thiếu các nguồn nhân lực và kỹ thuật, thiếu các giải pháp sử dụng bền vững

nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng Đề tài: “ Vườn quốc gia Tràm Chim: Thực trạng

quản lý và các giải pháp hợp lý nhằm phát triển bền vững” thực hiện đã nghiên cứu

các biện pháp quản lý đã áp dụng và đề xuất các giải pháp để giải quyết các rào cản trên, nhằm bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Vườn quốc gia Tràm Chim trong những năm tới

ABSTRACT

The Tram Chim National park belongs to Tam Nong district, Đong Thap province, a typical wetland of Dong Thap Muoi and Melong delta It Has a high biodiversity and real importance in National and International aspect; consists of many specific ecological system and the presence a lot of rare birds those are threatened

species of the World, for example: Grus antigone, Eupodotis bengalensis, Mycteria

leucocephala, Anhinga melanogaste This biodiversity is the protential natural

resource for the local community From the beginning till now, the Government, the local Authority and the Tram Chim National park have devoloped wide-spread activities aiming to manage, to preserve the biodiversity of the National park However, there are also many barriers in effectively reservation of biodiversity, including: The relationships between agencies in planning, managing, the weakeness

of policy and the economical environment has not supported these activities; The lacking of information data to form accurate dicisions, the lack of human resources and techniques also as solutions in effectively using of resources in a sustainable way which depends on local communities This theme:” The Tram Chim National park: site management and reasonable solutions aiming to sustainable devolopment” investigated to the current managemental performane and susgested proposals to solve problems in preservation sustainable devolopment and natural resources use of the National park in the near future

Trang 5

KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NN&PTNT: Nông nghiệp &phát triển nông thôn

GIS (Geographycal Information System): Hệ thống thông tin địa lý

IUCN(World Conversation Union): Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới UNDP (United Nations Devolopment Programe): Chương trình phát triển của Liên

Hiệp Quốc WWF (World wild Fund): Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

-Ø -

PHẦN MỞ ĐẦU

Chương một: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3

1.1 CÁC KHÁI NIỆM 3

1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên 3

1.1.2 Phát triển bền vững 3

1.1.3 Khu bảo vệ 3

1.1.4 Khu bảo tồn 3

1.1.5 Vườn quốc gia 4

1.1.6 Đa dạng sinh học 4

1.1.7 Hệ sinh thái 4

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC 4

1.2.1 Định nghĩa về đất ngập nước 4

1.2.2 Giá trị và chức năng của đất ngập nước 5

1.2.3 Đất ngập nước ở Việt Nam 6

1.2.4 Tổng quan các tài liệu và nghiên cứu về đất ngập nước 8

1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI 13

Chương hai: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15

2.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 15

2.2.1 Mục tiêu chung 15

2.2.2 Mục tiêu cụ thể 15

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.4.1 Phương pháp luận 17

2.4.2 Phương pháp cụ thể 17

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương ba: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ, XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 21

3.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CỦA VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI 21

3.1.1 Những đặc điểm đặc trưng của vùng ĐTM xưa kia 21

3.1.2 Những đặc điểm đặc trưng của vùng ĐTM hiện nay 22

3.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KT-XH VQGTC 23

3.2.1 Cơ sở pháp lý và lịch sử hình thành VQGTC 23

3.2.2 Các đặc trưng về điều kiện tự nhiên VQGTC 26

3.2.3 Đánh giá các đặc điểm dân sinh, kinh tế và xã hội 36

3 3 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÁC GIÁ TRỊ ĐẶC TRƯNG VỀ ĐDSH VQGTC 42

Trang 7

Chương bốn: HIỆN TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC

QUẢN LÝ TẠI VQGTC 45

4.1 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ 45

4.1.1 Hiện trạng công tác quản lý sử dụng đất 45

4.1.2 Hiện trạng công tác quản lý lửa 47

4.1.3 Hiện trạng công tác quản lý nước 50

4.1.4 Hiện trạng quản lý các loài ngoại lai 54

4.1.5 Công tác tuần tra canh gác và xử lý các vi phạm 56

4.1.6 Công tác khai thác và quản lý du lịch 56

4.1.7 Công tác quan trắc, lưu giữ và xử lý số liệu 58

4.1.8 Công tác giáo dục nâng cao nhận thức 58

4.1.9 Công tác phát triển KT-XH vùng đệm 60

4.2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÃ ÁP DỤNG ĐẾN MỘT SỐ LOÀI VÀ SINH CẢNH CHÍNH CỦA VQG 62

4.2.1 Tác động đến các sinh cảnh 62

4.2.2 Tác động đến số lượng sếu và một số loài chim nước 64

4.2.3 Tác động đến sản lượng cá ở VQGTC 66

4.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HIỆN TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ 67

Chương năm: ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ NĂNG LỰC CÁN BỘ QUẢN LÝ CỦA VQGTC, ĐỐI CHIẾU VỚI MỘT SỐ TIÊU CHUẨN NĂNG LỰC CÁN BỘ CÁC KHU BẢO TỒN VÙNG ĐÔNG NAM Á 69

5.1 TỔ CHỨC BỘ MÁY HIỆN TẠI CỦA VQGTC 69

5.1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ 70

5.1.2 Đánh giá năng lực tổ chức bộ máy của VQGTC 73

5.2 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÁN BỘ VQGTC 74

5.2.1 Đánh giá kỹ năng làm việc và giao tiếp chung 74

5.2.2 Kỹ năng hoạt động thực địa 74

5.2.3 Kỹ năng đánh giá tài nguyên thiên nhiên 75

5.2.4 Kỹ năng quản lý bảo tồn HST và những nơi cư trú của các loài 76

5.2.5 Kỹ năng lập kế hoạch và chính sách khu bảo tồn 76

5.2.6 Kỹ năng làm việc với cộng đồng địa phương 77

5.2.7 Kỹ năng cưỡng chế 78

5.2.8 Kỹ năng hướng dẫn du lịch và giải trí 79

5.2.9 Kỹ năng giáo dục truyền thông và nâng cao nhận thức 79

5.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ TRÌNH ĐỘ NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ VQGTC 80

Chương sáu: RÀ SOÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC VĂN BẢN QPPL CÓ LIÊN QUAN VỀ/HOẶC ĐẾN BẢO TỒN SDBV TNTN ĐNN VQGTC 82

6.1 PHẠM VI RÀ SOÁT 82

Trang 8

6.2 CÁC NỘI DUNG RÀ SOÁT VÀ ĐÁNH GIÁ 82 6.2.1 Các văn bản QPPL về bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên có liên

quan đến ĐNN 82

6.2.2 Các văn bản QPPL về bảo vệ ĐNN trong sử dụng đất nông nghiệp và

lâm nghiệp 87 6.2.3 Các văn bản QPPL về bảo vệ ĐNN trong lĩnh vực bảo vệ và khai thác

nguồn lợi thuỷ sản 90 6.2.4 Các văn bản QPPL về bảo vệ ĐNN trong lĩnh vực du lịch 92 6.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC VĂN BẢN QPPL CÓ LIÊN QUAN VỀ/HOẶC ĐẾN QUẢN LÝ HST VQGTC 93 6.3.1 Những mặt tích cực 93 6.3.2 Những mặt còn hạn chế 94

Chương bảy: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO TỒN VÀ PHÁT

phát triển bền vững TNTN VQGTC 112 7.3.3 Cung cấp đầy đủ thông tin cho các chính sách, qui hoạch và quyết định về

quản lý bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững TNTN ĐNN VQGTC 115 7.3.4 Nâng cao năng lực quản lý để bảo tồn và phát triển tốt hơn Tài nguyên thiên nhiên VQGTC 120 7.3.5 Cải thiện sự quản lý TNTN dựa trên cộng đồng 125

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 134 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Tuy nhiên, giống như các quốc gia khác ở vùng Châu Á, các vùng đất ngập nước của Việt Nam đang bị suy thoái và thu hẹp diện tích nhanh chóng do các hoạt động của con người trong bối cảnh chính sách kinh tế mở cửa Chính vì vậy, quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững đất ngập nước, nhất là những vùng đất ngập nước có giá trị đa dạng sinh học cao đã trở thành vấn đề cấp bách và là mục tiêu quan trọng trong chiến lược chung về môi trường, và là một bộ phận quan trọng của chương trình hành động bảo tồn tính đa dạng sinh học của Chính Phủ Việt Nam

Tràm Chim thuộc huyện Tam nông, tỉnh Đồng Tháp là một trong số ít những nơi trong cả nước còn lưu giữ được những mẫu cuối cùng của hệ sinh thái vùng đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười Địa danh Tràm Chim đã có từ thời xa xưa, với đặc điểm là vùng đất trũng, chua phèn, ngoài cảnh quan sinh động, với những cánh rừng tràm, nơi đây còn là nơi cư trú của rất nhiều loài động thực vật quí hiếm tiêu biểu cho vùng đất ngập nước của vùng Đồng Tháp Mười và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Năm 1998, vùng đất ngập nước Tràm Chim được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và công nhận là Vườn quốc gia Tràm Chim

Vườn quốc gia Tràm Chim rất đa dạng về các kiểu thảm thực vật, bao gồm đồng cỏ ngập nước theo mùa, rừng tràm tái sinh và các đầm nước trống Khu vực còn ghi nhận số lượng đáng kể các quần thể chim nước di cư, trú đông trong suốt mùa đông Đặc biệt là quần thể của phân loài sếu cổ trụi đặc hữu thường xuyên di trú đến kiếm ăn trong vườn trong mùa khô Cùng với sếu cổ trụi, một số loài chim đang hoặc sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu cũng được tìm thấy tại VQG Tràm Chim như Ô tác, điêng điểng, già đẫy, giang sen, rồng rộc, le khoang cổ, nhát hoa, gà lôi nước Ngoài ra, Tràm chim còn là nơi trú ngụ của các loài động vật quí hiếm khác như: rắn, rùa, ba ba và nguồn thủy sản phong phú trong mùa lũ

Tràm Chim hiện đã được công nhận là VQG, do đó được đặt trong mức bảo tồn cao nhất Tuy nhiên vẫn còn một số mối đe dọa đối với đa dạng sinh học của vườn Trong quá trình phát triển, mâu thuẫn giữa bảo tồn và khai thác, sử dụng luôn là một vấn đề đặt ra không chỉ đối với Tràm Chim mà hầu như với bất cứ khu

Trang 10

bảo tồn thiên nhiên nào Nơi đây thường xuyên có sự xâm nhập trái phép của người dân địa phương vào săn bắt, lấy củi và khai thác tài nguyên thiên nhiên Đồng thời một số hoạt động do canh tác nông nghiệp và sử dụng đất không bền vững tại các vùng xung quanh vườn cũng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái đất ngập nước như gây ô nhiễm nước và thay đổi các mực nước tự nhiên Thêm vào đó, một số hoạt động cuả công tác quản lý chưa hợp lý cũng góp phần gây nên những tổn thất đáng kể cho hệ sinh thái đất ngập nước VQG Tràm Chim

Vấn đề đặt ra hiện nay đối với VQG Tràm Chim là phải có các giải pháp quản lý hợp lý để bảo tồn và duy trì hệ sinh thái, một mẫu cảnh quan duy nhất còn sót lại của vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười

Xuất phát từ sự cấp thiết của vấn đề và để góp phần trong công tác bảo vệ,

sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên VQG Tràm Chim, đề tài: “

Vườn quốc gia Tràm Chim: Thực trạng quản lý và các giải pháp hợp lý nhằm phát triển bền vững” được chọn làm luận văn tốt nghiệp nhằm đánh giá những tác động

đến hệ sinh thái của các hoạt động quản lý đã áp dụng tại VQG Tràm Chim từ khi thành lập đến nay, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hợp lý để bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên vùng đất ngập nước Tràm Chim

Trang 11

Chương một:

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CÁC KHÁI NIỆM:

1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên ( TNTN):

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình

thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến và sử dụng- (Nguyễn Đức Qúy – Trung tâm Khoa học tự nhiên & Công nghệ Quốc gia – 2001)

1.1.2 Phát triển bền vững:

Theo định nghĩa của Hội đồng thế giới về Môi trường và phát triển (WCED) thì:

Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không

làm tổn hại khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai, trong đó trước hết phải kể đến nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên

1.1.3 Khu bảo vệ :

Năm 1992, Hội nghị Quốc tế lần thứ 4 của Hiệp hội bảo vệ Thiên nhiên thế giới (IUCN) về các Vườn Quốc gia và khu bảo vệ ở Caracas,Venezuela đã định nghĩa khu bảo vệ như sau:

Khu bảo vệ là một khu vực trên đất liền hay trên biển được sử dụng đặc biệt

để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học và các tài nguyên thiên nhiên hoặc kết hợp với nuôi trồng và được quản lý bằng các biện pháp có hiệu quả

1.1.4 Khu bảo tồn:

Khu bảo tồn là thuật ngữ được các nhà bảo tồn sử dụng để chỉ các vườn

quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên, các cảnh quan trên trái đất, các khu bảo tồn biển và những nơi khác

Theo hệ thống phận hạng bảo tồn thiên nhiên của thế giới - theo IUCN,

1993, các khu bảo tồn được phân hạng và được định nghĩa tuỳ theo mục đích khu bảo tồn

- Khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt: Là những khu đất liền hay biển có

những hệ sinh thái, những đặc điểm địa chất sinh lý và những lòai nổi bật và mang tính đại diện, chủ yếu để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và kiểm soát môi trường

Trang 12

- Khu bảo tồn động vật hoang dã: Là khu đất hoặc biển chưa hoặc rất ít có

sự can thiệp của con người, vẫn còn đang giữ được những ảnh hưởng và đặc điểm của tự nhiên, không có dân cư sinh sống, được bảo vệ và quản lý nhằm duy trì điều kiện tự nhiên

1.1.5 Vườn quốc gia:

Theo IUCN, 1993 đã đưa ra định nghĩa vườn quốc gia như sau:

Vườn quốc gia: Là khu đất hay biển tự nhiên được thiết lập để bảo vệ tính toàn vẹn của một hoặc nhiều hệ sinh thái vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai; Lọai trừ việc khai thác hoặc chiếm đóng không có lợi cho những mục tiêu mà khu bảo vệ nhằm đạt được Và tạo cơ sở cho các họat động khoa học, giáo dục, tham quan giải trí Tất cả các họat động này cần phải phù hợp về mặt môi trường cũng như văn hóa

1.1.6 Đa dạng sinh học:

Theo Công ước về đa dạng sinh học định nghĩa:

Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao

gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái khác, sự đa dạng thể hiện trong từng lòai, giữa các lòai và hệ sinh thái.”

1.1.7 Hệ sinh thái:

Theo Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam định nghĩa:

Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển

trong một môi trường nhất định, có quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC:

1.2.1 Định nghĩa về đất ngập nước:

Theo công ước RamSar,( Điều 1.1), các vùng đất ngập nước được định nghĩa như sau: “Các vùng đầm lầy, đầm lầy đất trũng, vùng đất than bùn hoặc nước, tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước đứng hay chảy, nước ngọt, lợ hay mặn, kể cả những vùng nước biển với độ sâu ở mức triều thấp, không quá 6m”

Ngoài ra, Công ước ( Điều 2.1) còn quy định các vùng đất ngập nước: “ Có thể bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nước, cũng

Trang 13

như các đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nước”

1.2.2 Giá trị và chức năng của đất ngập nước:

1.2.2.1 Các chức năng của đất ngập nước:

Các mối tương tác của các thành phần lý, sinh và hoá của một vùng đất ngập nước như đất, nước, thực vật và động vật, đã giúp vùng đất ngập nước đó thực hiện chức năng nhất định, như:

- Lưu giữ nước;

- Chống bão và giảm lụt;

- Ổn định đường bờ và chống xói mòn

• - Nạp lại nước ngầm (di chuyển nước từ vùng đất ngập nước xuống tầng ngậm nước ngầm);

- Cấp nước ngầm( di chuyển nước lên và trở thành nước nước mặt ở vùng đất ngập nước);

- Lọc nước;

- Giữ các dưỡng chất

- Giữ các cặn lắng;

- Giữ các chất ô nhiễm;

- Ổn định các điều kiện khí hậu cục bộ, nhất là lượng mưa và nhiệt độ

1.2.2.2 Các giá trị của đất ngập nước:

Các vùng đất ngập nước là những môi trường có năng suất nhất của thế giới, là những chiếc nôi của đa dạng sinh học cung cấp nước và năng suất sơ cấp để vô số các loài động và thực vật tồn tại Các giá trị cụ thể của đất ngập nước là:

- Cấp nước (cả lượng lẫn chất) Ví dụ như một vùng đất ngập nước có giá trị khoảng vài chục hectares sẽ có khả năng lọc và xử lý nước thải tương đương với một trạm xử lý nước nhiều triệu dollars

- Nguồn lợi thuỷ hải sản: Trong số 20.000 lòai cá trên thế giới, hơn 40% sống trong nước ngọt, hơn 2/3 sản lượng cá có liên quan đến sự lành mạnh của các vùng đất ngập nước);

- Nông nghiệp, thông qua việc duy trì các mức nước; Ví dụ, lúa là một thực vật phổ biến của đất ngập nước, là nguồn thực vật của hơn một nửa nhân loại Các vùng đất ngập nước còn lại là những vật liệu di truyền thực vật

Trang 14

- Sản xuất gỗ;

- Cung cấp các nguồn năng lượng, như than bùn và chất thực vật;

- Các nguồn tài nguyên động vật hoang dã: Các vùng đất ngập nước hỗ trợ cuộc sống của rất nhiều quần thể chim, động vật có vú, bò sát, lưỡng cư cá và các loài động vật không xương sống

- Các cơ hội giải trí và du lịch

Ngoài ra, các vùng đất ngập nước còn có các đặc tính đặc biệt về di sản văn hoá của loài người; các vùng đất ngập nước có liên quan đến tín ngưỡng và vũ trụ, hình thành nên nguồn khát vọng thẩm mỹ, tạo ra các vùng sinh cảnh của đời sống hoang dã, cũng như tạo cơ sở cho các truyền thống quan trọng địa phương

1.2.3 Đất ngập nước ở Việt Nam:

1.2.3.1 Hiện trạng các vùng đất ngập nước ở Việt Nam:

Việt Nam là một nước giàu các hệ sinh thái đất ngập nước, với diện tích ĐNN hơn 10 triệu ha, chiếm 1/3 diện tích đất đai cả nước, chủ yếu phân bổ ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long với các hệ sinh thái đầm phá, các bãi bùn, các vùng cửa sông, rừng ngập mặn dọc theo bờ biển từ Móng cái đến Hà Tiên

ĐNN ở Việt nam rất đa dạng về loại hình, chức năng, gắn liền với tính đa dạng điều kiện tự nhiên của Việt Nam Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học của Việt Nam (1995) đã xác định 61 khu đất ngập nước quan trọng và gần đây Cục Môi trường thuộc Bộ tài nguyên & Môi trường đã đưa ra danh sách gồm 79 khu đất ngập nước có tầm quan trọng Quốc Gia

Theo bảng phân loại ĐNN của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN – 1990), ĐNN Việt Nam có thể chia làm 3 hệ lớn đó là ĐNN ven biển, ĐNN nội địa, và ĐNN nhân tạo, bao gồm 12 phụ hệ: Biển, cửa sông, đầm phá, hồ nước mặn ven biển, sông, hồ, đầm lầy, vùng nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp, nơi khai thác muối, đất đô thị, đất công nghiệp

Các vùng ĐNN trên phân bố ở tất cả các vùng địa lý (Tây bắc, Việt Bắc, Đông Bắc, đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông nam Bộ và Tây Nam Bộ ) và ở các địa hình khác nhau (miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển) Việt Nam hiện có trên 60 vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế như: vườn quốc gia Xuân Thủy (được công nhận là khu Ramsar), khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, vườn quốc gia Tràm Chim, phá Tam Giang- Cầu Hai, Hồ Lak, hồ

Ba Bể, bãi triều tây nam Cà Mau, v.v

Riêng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có tổng diện tích phần đất liền là 4 triệu ha Nếu tính cả diện tích vùng ven biển cạn dưới 6 mét thì tổng diện tích

Trang 15

của ĐBSCL là 5.117.590 ha Gần 90% tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng được coi là đất ngập nước, trong thực tế đây là vùng đồng bằng đất ngập nước điển hình của vùng hạ lưu sông Mê-kông Hệ thống phân loại đất ngập nước cho vùng hạ lưu sông Mekong”(1993) của Uỷ hội Sông Mê Kông đã phân loại đất ngập nước cho vùng ĐBSCL với 05 loại đất ngập nước chính Trên sở 5 loại chính đã phân chia thành 40 dạng (type) đất ngập nước khác nhau Hai hệ sinh thái rừng tiêu biểu đã hình thành trên các vùng đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long là hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái rừng tràm

Đất ngập nước ở đồng bằng sông Cửu Long có nhiều giá trị và các chức năng quan trọng Sự đa dạng sinh học và các tài nguyên của đất ngập nước có ý nghĩa lớn trong quá trình phát triển của đồng bằng Hàng năm, đồng bằng sông Cửu Long cung cấp trên 40 % tổng sản lượng lương thực của cả nước và là nơi cư ngụ của trên 17 triệu người Ngày nay, sản lượng lương thực và thủy sản của toàn đồng bằng đóng góp 1/3 tổng thu nhập quốc dân của cả nước Các hệ sinh thái rừng ngập mặn và rừng tràm có nhiều giá trị trong việc cung cấp sản phẩm, duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn thiên nhiên; cung cấp nơi kiếm ăn, khu cư trú cho các loài chim qúi hiếm như : Sếu đầu đỏ, cồng cộc , ô tác , giang sen và các loài sinh vật nước như: cua, cá, tôm; cung cấp dinh dưỡng, tài nguyên thiên nhiên cho con người Hệ sinh thái rừng tràm có vai trò rất quan trọng như: hạn chế quá trình sinh phèn ở lớp đất mặt và nước mặt; lưu trữ lượng nước ngọt trong năm, duy trì độ ẩm của đất; Rừng tràm còn góp phần điều tiết khí hậu, duy trì độ ẩm không khí và hạn chế quá trình bốc hơi, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

1.2.3.2 Một số thách thức đối với công tác quản lý và phát triển bền vững đất ngập nước ở Việt Nam hiện nay:

Hệ sinh thái (HST) đất ngập nước ở nước ta rất đa dạng và phong phú và mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế và xã hội Trong những năm gần đây, vấn đề ngập nước ngày càng thu hút nhiều hơn sự quan tâm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Nhiều chức năng, giá trị của ĐNN ngày càng được làm rõ, đồng thời cũng phát hiện những thách thức to lớn đối với ĐNN Có thể kể đến một số thách thức lớn như sau:

- Nhiều HST đất ngập nước chưa được biết đến và và chưa được điều tra, đánh giá về chức năng sinh thái, tiềm năng kinh tế, giá trị bảo tồn đa dạng sinh học

- Chưa có qui hoạch tổng thể ĐNN cho mục đích bảo tồn và khai thác để phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội Các HST đất ngập nước ở nước ta đang bị khai thác bừa bãi, không phù hợp với chức năng và giá trị kinh tế, sinh thái nên hiệu qủa thấp, gây những hậu quả lâu dài khó khắc phục

Trang 16

- Môi trường sống, nơi di cư của nhiều lòai sinh vật bị phá hủy, bị ô nhiễm, đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên ĐNN bị suy giảm nghiêm trọng do các họat động kinh tế xã hội – nhân sinh như: (chiến tranh, chuyển đổi mục đích sử dụng, xây dựng cơ sở hạ tầng và đào kinh thuỷ lợi, chất thải công nghiệp, đô thị và sinh hoạt, nuôi trồng và chế biến thủy sản, đánh bắt thủy sản bằng phương pháp có tính hủy diệt, chặt phá rừng ngập mặn, phá hủy rạn san hô và cỏ biển, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón không hợp lý trong sản xuất nông nghiệp, và các họat động kinh tế khác thiếu qui họach ); và do các qúa trình tự nhiên (xói lở, bão lũ, hạn hán, cháy rừng, mặn hóa, ngọt hóa )

- Dân số gia tăng quá nhanh, phương thức và tập quán lạc hậu, sự nghèo đói tại các vùng ĐNN và vùng xung quanh đã dẫn tới việc khai thác cạn kiệt tài nguyên ĐNN, làm thu hẹp diện tích ĐNN và làm biến đổi nhiều lọai hình ĐNN theo chiều hướng bất lợi

- Hệ thống chính sách và pháp luật để quản lý ĐNN còn thiếu đồng bộ và chưa hoàn thiện, vẫn chưa có một chiến lược hay văn bản mang tính định hướng cụ thể Các điều khoản qui định pháp lý có liên quan đến ĐNN bị phân tán, chồng chéo, thiếu cụ thể trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác nhau, nên rất khó thực thi và thực thi kém hiệu quả

- Đầu tư nguồn lực cho việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN chưa tương xứng với tiềm năng và giá trị của nó Nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu khoa học, xây dựng các mô hình phát triển bền vững ĐNN, cho việc bảo tồn, bảo vệ môi trường và tài nguyên vùng ĐNN còn ở mức thấp, không hợp lý, thiếu cân đối

- Việc quản lý ĐNN chưa hợp lý, thiếu thống nhất và hiệu quả thấp vì thiếu những qui họach tổng thể và các cơ chế hợp tác còn kém hiệu quả Chính quyền và cộng đồng địa phương chưa thể hiện vai trò, trách nhiệm trong quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN

- Vai trò của cộng đồng sinh sống trên các vùng đất ngập nước và các vùng lân cận có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái ĐNN nhưng chưa được phát huy; chưa thực hiện được việc khai thác tiềm năng của ĐNN góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thậm chí ở nhiều nơi lợi ích của cộng đồng còn bị xâm hại, gây nguy cơ bất ổn định trong vùng

1.2.4 Tổng quan các tài liệu và nghiên cứu về đất ngập nước:

1.2.4.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài:

Chính vì ĐNN có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, nên bảo vệ ĐNN đã được nhiều quốc gia, tổ chức quan tâm nghiên cứu Những quốc gia đi đầu trong các nghiên cứu về đất ngập nước là Mỹ, Anh, Canađa,

Trang 17

Hà Lan và một số đã và đang phát triển ở Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippin Ngoài ra, có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình đã thực hiện như:

Š Tổng quan về đất ngập nước Châu á, Derek A Scott và Colin M.Poole, 1999;

Š Bảo tồn đất ngập nước: nhìn nhận vấn đề hiện nay và hành động ưu tiên IUCN, Patricl J Dugan, 1990;

Š Quản lý đất ngập nước và nguồn lợi của nó, biên tập bởi D.A Scott IWRB,1992;

Š Nghiên cứu của Birdlife International đánh giá và sắp xếp ưu tiên cho 29 khu đất ngập nước của ĐBSCL

Š Nghiên cứu của Viện Môi trường HOLOWAY, Đại học LONDON về đất ngập nước (Decision – hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong quản lý đất ngập nước)

Š Dự án của UNDP – IUCN – MRC đang dự kiến tiến hành tại Tràm chim và Láng Sen

1.2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Sử dụng bền vững đất ngập nước là mục tiêu quan trọng trong chiến lược chung về môi trường và là một bộ phận quan trọng của chương trình hành động bảo tồn tính đa dạng sinh học của Chính Phủ Việt nam

Từ năm 1987, Trung tâm Tài nguyên và môi trường thuộc trường ĐHTH Hà nội (nay là ĐHQG) đã phối hợp với các Tổ chức Quốc tế ( IUCN, WWF) tiến hành kiểm kê đất ngập nước Việt Nam Năm 1989 cuốn “ Kiểm kê đất ngập nước Việt Nam” của Lê Diên Dực đã được công bố, đồng thời nó cũng được công bố trong “

A Directory of Asian Wetland: 749 –793 IUCN, Gland Switzerland, and Cambridge,UK,1988” Năm 1983 tác giả lại công bố công trình: Hồi phục rừng tràm ngập nước ở Đồng bằng Sông Cửu long trong cuốn: tiến tới sử dụng khôn khéo đất ngập nước (Towards the Wise Use of Wetlands – RAMSAR Conservation Bureau)

Tháng 4/1987 Chính phủ Việt Nam đã đề ra đường lối sử dụng hợp lý đất ngập nước trong toàn quốc Việc làm đầu tiên của Chính phủ là cho phép thành lập

11 khu bảo vệ nằm trong vùng đất ngập nước quan trọng của Việt nam Đó là, ở phía bắc có: Vườn quốc gia Hồ Ba bể (450 ha), khu bảo vệ Hồ Núi Cốc (2.580 ha),Vườn quốc Gia Cát Bà(15.200 ha), và Xuân Thuỷ (2.300 ha), vườn Quốc gia Bến Én (12.000 ha); và 6 khu khác ở ĐBSCL: Khu bảo vệ Tràm chim (5.200ha), 3 sân chim lớn của Minh Hải: Sân chim bạc Liêu (40 ha), sân chim Cái Nước (20 ha), sân chim Đầm Dơi (119 ha), khu bảo vệ rừng ngập mặn Năm Căn (7.574 ha) và

Trang 18

1989

Riêng đối với các vùng đất ngập nước vùng ĐBSCL, bằng nguồn vốn trong nước, trong những năm đầu sau ngày Miền Nam được giải phóng, Chính phủ đã ưu tiên đầu tư rất lớn cho các dự án nông nghiệp và thủy lợi nhằm giải quyết nạn đói

do chiến tranh để lại Khởi đầu là các dự án vùng Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên, chẳng hạn như công trình điều tra tổng hợp ĐBSCL 60-02 Tiếp theo là chương trình ngọt hóa bán đảo Cà Mau cũng như ven biển và gần đây nhất là quy hoạch kiểm soát lũ và hệ thống đê biển

Từ năm 1990 tới nay, nhiều công trình điều tra nghiên cứu và tái tạo đất ngập nước đã được thực thi ở ĐBSCL Dưới đây chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu, các dự án quan trọng liên quan đến đất ngập đã được thực hiện:

- Dự án “ Bảo vệ và phát triển các vùng đất ngập nước ven biển phía nam vùng ĐBSCL” do ngân hàng Thế giới tài trợ, Phân viện Điều tra Qui hoạch rừng II, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II và một số cơ quan khác thực hiện năm 1996.•

- Dự án khôi phục rừng ngập mặn phía Nam vùng ĐBSCL Đây là một dự án hợp tác kỹ thuật giữa Việt Nam và Hà Lan, thực hiện từ năm 1996 và đang tiếp diễn Phân viện Điều tra Qui hoạch rừng II và các công ty cố vấn của Hà Lan hỗ trợ kỹ thuật của dự án

- Ngoài các dự án trên, các ngành giao thông, xây dựng cũng triển khai nhiều dự án trong vùng ngập lũ ĐBSCL Đó là hệ thống giao thông thuỷ bộ chằng chịt từ cấp xã tới cấp Quốc gia Các khu định cư dân vùng ngập lũ như Dự án xã Tân Công Sính, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp là một ví dụ điển hình về đô thị hoá vùng nông thôn trong vùng ngập lũ ở ĐBSCL

Các dự án liên quan trực tiếp đến các khu bảo tồn, các vườn Quốc gia đã thực hiện phải kể đến là:

- Trần Triết, nghiên cứu về hệ thực vật ở VQG U minh Thượng (năm 2000)

- Dự án Kiểm kê & phân loại đất ngập nước ở ĐBSCL của Ủy ban sông Mê kông (1990 – 2000) do Phân Viện Điều tra và Qui hoạch rừng II –TP.HCM tiến hành

- Nghiên cứu của Tổ chức CARE Việt Nam trong 5 năm qua tại U Minh Thượng:

Trang 19

+ Khảo sát khu hệ động thực vật VQG U MinhThượng

+ Quan trắc thuỷ văn VQG U Minh Thượng

+ Thiết lập chiến lược Quản lý Lửa rừng ở VQG U Minh Thượng do tổ chức CARE thực hiện năm 2003

- Nghiên cứu Đánh giá giá trị kinh tế của Đất ngập nước do Đại học Nông Lâm tiến hành năm 2003 kết hợp với ICLARM – The World Fish Center tại láng sen và Thạnh Phú

- Dự án UNDP – IUCN – MRC dự kiến tiến hành tại Tràm Chim và Láng Sen

Và nhiều nghiên cứu khác liên quan đến vùng đệm, thí dụ như:

- Nghiên cứu đánh giá đói nghèo trong vùng đệm Tràm Chim và láng sen do IUCN tiến hành năm 2003

- Khảo sát Kinh tế – Xã hội vùng đệm U Minh Thượng – 1999 của CARE Theo đánh giá của Văn phòng Ủy Ban Sông Mê Kông Việt Nam (Ths.Trịnh Hoàng Ngạn, 2001) thì đa số các dự án trên đã thu được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Trước hết là nâng cao nhận thức về vai trò của các hệ sinh thái và môi trường đối với phát triển kinh tế – xã hội Thông qua đó là ý thức bảo vệ môi trường và chuyển giao bước đầu kỹ thuật quản lý mới áp dụng vào nuôi trồng thuỷ sản vùng ngập nước và tái sinh phục hồi những khu rừng trống Những dự án đã là cầu nối mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc và trên hết là nơi đào tạo các cán bộ trong nước cũng như sự tham gia của cộng đồng vào việc thực hiên mục tiêu chung là khôi phục và phát triển hệ sinh thái vùng đất ngập nước nhằm duy trì và bảo vệ môi trường phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững

Tuy nhiên một phát hiện lý thú nhất khi tiến hành các dự án là tính biệt lập của từng dự án của từng ngành Sự phối hợp giữa các dự án gần như là không có Hậu quả là dự án nhằm khôi phục và bảo tồn hệ sinh thái của ngành lâm nghiệp lại

bị tác động sâu sắc của ngành Nông nghiệp qua thuỷ lợi, giao thông và xây dựng Cụ thể là dự án bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn do WB tài trợ đang bị đe dọa bởi dự án phát triển đê biển Dải rừng ngập mặn ven biển Kiên Giang và cà Mau ( chiều rộng khoảng 500 – 800 m) sẽ chẳng tồn tại khi tuyến đê biển ngăn mặn hình thành Dự án qui hoạch lũ để phát triển của Hàn Quốc chỉ quan tâm khai thác tối

đa tiềm năng mà qua loa sơ sài khi đánh giá tác động môi trường ngập lũ Dự án qui hoạch tổng thể phát triển vùng Đồng Tháp Mười với giải pháp đắp đê để phát triển 3 vụ lúa trong vùng phèn Đồng Tháp mười là điều tệ hại cho hệ sinh thái môi trường vùng ngập nước này Dự án đô thị hoá khu dân cư xã Tân Công Sính, huyện Tam Nông sẽ tác động thế nào cho Vườn Quốc Gia Tràm Chim vẫn chưa có đánh

Trang 20

giá Ngành giao thông luôn cho rằng văn minh của con người gắn liền với mạng lưới giao thông đường bộ, nhưng có lẽ tác động về môi trường sinh thái mạnh mẽ nhất là chiến dịch nuôi tôm vùng duyên hải Đó là chưa kể đến một số dự án do Quốc tế tài trợ còn xa rời với thực tế quản lý của Việt Nam

1.2.4.3 Một số nghiên cứu đã thực hiện tại vùng đất ngập nước Vườn Quốc Gia Tràm Chim:

Vùng đất ngập nước Tràm Chim, huyện tam Nông, tỉnh Đồng Tháp là khu vực ĐNN duy nhất còn sót lại của vùng ĐBSCL, với sự đa dạng sinh học cao Chính vì vậy, trong những năm qua đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều các Nhà khoa học trong và ngoài nước, các Viện, Trường Đại Học, các Trung Tâm nghiên cứu Cụ thể là:

- Kết quả điều tra về đa dạng sinh học và xây dựng phương án quản lý tài nguyên thực vật ở Khu Bảo Tồn Tràm Chim do Phân Viện Điều Tra Qui hoạch rừng II –TP.HCM thực hiện

- Các kết quả nghiên cứu về môi trường, hệ sinh thái đất ngập nước và những đặc điểm kinh tế – xã hội do Phân Viện Điều Tra Qui hoạch rừng II –TP.HCM phối hợp với các cơ quan chuyên môn như: Viện nghiên cứu Thuỷ sản II, Phân viện Khảo sát Qui hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ, Phân Viện Qui hoạch Nông nghiệp, Đài Khí tượng Thuỷ Văn khu vực Nam Bộ thực hiện (từ năm 1991- 1998) tại Khu vực Tràm Chim trong khuôn khổ Dự án Điều tra quản lý ĐNN ở vùng hạ lưu sông Mê Kông

- Nghiên cứu về các loài chim nước và nghiên cứu thuỷ văn tại Khu bảo tồn Tràm Chim do các chuyên gia của Tổ chức bảo vệ Sếu Quốc tế (ICF) thực hiện

- Nghiên cứu về địa mạo cảnh quan, chế độ thuỷ văn của vùng Đồng Tháp mười và khu vực Tràm Chim, phương án qui hoạch lũ, do Phân Viện Khảo sát qui hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ thực hiện

- Nghiên cứu về tài nguyên thuỷ sản và phương án quản lý tài nguyên thủy sản ở khu bảo tồn Tràm Chim do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II thực hiện

- Điều tra xã hội ở Khu vực Tràm Chim do Sở Khoa Học Công Nghệ & Môi trường Đồng Tháp thực hiện

- Các nghiên cứu Quy hoạch kiến trúc cảnh quan Khu bảo tồn thiên nhiên ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tràm Chim do Viện Qui hoạch Đô thị và nông thôn thực hiện

- Các kết quả điều tra nghiên cứu về thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Tràm Chim vùng Đồng Tháp Mười do GSTC Lê Công Kiệt thực hiện

Trang 21

Và các chuyên đề nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp của các sinh viên như:

- Công trình dự thi Giải thưởng” Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2001: “ Tiềm năng và hướng phát triển bền vững du lịch sinh thái ở VQG Tràm Chim – huyện tam Nông, tỉnh Đồng Tháp do nhóm sinh viên ngành Khoa Học Xã Hội– Trường Đại học Khoa Học Xã Hội & Nhân văn TP.HCM thực hiện năm 2001

- Luận văn tốt nghiệp chuyên đề: Một số giải pháp cho cộng đồng vùng đệm

ở VQG Tràm Chim trong điều kiện sống chung với lũ – do Sinh viên Nguyễn Đức Thiện – Trường Đại Học Kinh tế – TP.HCM thực hiện năm 2002

- Luận văn tốt nghiệp chuyên đề: Tính đa dạng của các nhóm ZOOPLANKTON ở VQG Tràm Chim –do Sinh viên Nguyễn Thị Kim Nguyên – Trường Đại Học cần Thơ thực hiện năm 2004

- Luận văn tốt nghiệp chuyên đề: Tính đa dạng ZOOBENTHOS ở VQG Tràm Chim – do Sinh viên Nguyễn Công Thuận– Trường Đại Học cần Thơ thực hiện năm 2004

Hiện nay VQG Tràm Chim là một trong những khu vực điểm của dự án có tên:” Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học vùng hạ lưu sông Mê Kông giai đọan I” Chương trình này đang được IUCN, Ủy Ban sông Mê Kông và UNDP triển khai thực hiện với sự tài trợ của UNDP/GEF và SIDA Mục đích là giúp các nước ở hạ lưu sông Mê Kông vươn tới những tiếp cận mới trong việc kết hợp bảo vệ và sử dụng bền vững đa dạng sinh học đất ngập nước với phát triển kinh tế Vườn Quốc Gia Tràm Chim là một trong các điểm trình diễn dự án này và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực du lịch sinh thái

1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI:

Đối với một địa điểm cụ thể như vùng đất ngập nước Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, mặc dù đã có rất nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước được nghiên cứu Nhìn chung các nghiên cứu này đi vào từng lĩnh vực cụ thể, tạo thông tin rất hữu ích cho công tác quản lý cho khu đất ngập nước quan trọng này của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Tuy nhiên, từ ngày thành lập đến nay, tại đây chưa có một nghiên cứu nào phân tích một cách có hệ thống những rào cản ảnh hưởng đến sự tồn tại của hệ sinh thái đất ngập nước như:

Trang 22

Vì vậy, cần phải có một nghiên cứu để xác định những bất cập và các trở ngại của các vấn đề trên, để có thể đưa ra những kiến nghị giải pháp kịp thời, hợp lý trước khi hệ sinh thái đất ngập nước Tràm Chim bị suy thoái đến mức không thể phục hồi được

Trang 23

Chương hai:

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Đối tượng nghiên cứu: Vùng nghiên cứu là Vườn Quốc Gia Tràm Chim,

huyện Tam Nông, Tỉnh Đồng Tháp

- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 lãnh vực chính sau đây:

+ Hiện trạng công tác quản lý hệ sinh thái đất ngập nước VQG Tràm Chim; + Tổ chức bộ máy quản lý và năng lực cán bộ của VQG Tràm Chim;

+ Các vấn đề về cơ chế, chính sách, các văn bản pháp luật có liên quan ảnh hưởng đến công tác quản lý để phát triển bền vững VQG Tràm chim, từ đó xác định những vấn đề bất cập và những trở ngại cần tháo gỡ

2.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

2.2.1 Mục tiêu chung:

Xác định những vấn đề bất cập trong quản lý và những hạn chế của các vấn đề về cơ chế, chính sách, các văn bản pháp luật có liên quan đến bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước Tràm chim trên cơ sở đóø đưa ra những kiến nghị giải pháp khắc phục nhằm bảo tồn và phát triển hệ sinh thái đất ngập nước VQG Tràm Chim

2.2.2 Mục tiêu cụ thể:

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài nghiên cứu này sẽ bao gồm những mục tiêu cụ thể như sau:

n Xác định những bất cập trong thực tế quản lý hệ sinh thái đất ngập nước Tràm Chim thời gian qua trong một số lĩnh vực chính

o Xác định những thiếu hụt trong năng lực cán bộ và tổ chức bộ máy quản lý VQG Tràm Chim nhằm kiến nghị chương trình đào tạo, nâng cao năng lực quản lý cho các cán bộ

p Xác định những bất cập trong các cơ chế chính sách, các văn bản pháp luật từ trung ương đến địa phương có liên quan về/hoặc đến công tác quản lý hệ sinh thái đất ngập nước VQG Tràm Chim

Trang 24

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

Để đạt được các mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

n Đánh giá hiện trạng và các giá trị về đa dạng sinh học của hệ sinh thái

vùng đất ngập nước Tràm Chim, phân tích các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học của vườn trong quá trình bảo tồn và phát triển

o Mô tả hiện trạng công tác quản lý – tức là các phương pháp họat động đã được áp dụng trong việc quản lý hệ sinh thái đất ngập nước Tràm Chim từ khi thành lập đến nay, bao gồm các lĩnh vực chính như:

- Quản lý sử dụng đất;

- Quản lý nước;

- Quản lý lửa;

- Quản lý các loài ngoại lai;

- Quản lý du lịch;

- Công tác nghiên cứu khoa học, khảo sát, quan trắc và lưu giữ số liệu;

- Công tác giáo dục ý thức bảo tồn cho cộng đồng;

- Công tác tuần tra canh gác, bảo vệ;

- Công tác phát triển kinh tế – xã hội vùng đệm và giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế xã hội và công tác bảo tồn

Song song đó, các khuynh hướng biến thiên các thành phần chính của hệ sinh thái đất ngập nước trong thời gian qua sẽ được mô tả để minh họa mối tương quan giữa phương pháp quản lý và các tác động lên hệ sinh thái

p Mô tả tổ chức bộ máy quản lý hiện tại của VQG Tràm Chim và khảo sát

năng lực, kỹ năng hiện nay của đội ngũ cán bộ VQG Các kỹ năng khảo sát, đánh giá bao gồm:

(1) Kỹ năng làm việc và giao tiếp chung;

(2) Kỹ năng hoạt động thực địa;

(3) Kỹ năng đánh giá tài nguyên thiên nhiên;

(4) Kỹ năng quản lý bảo tồn của những hệ sinh thái nơi cư trú và những loài; (5) Kỹ năng lập kế hoạch và chính sách khu bảo tồn;

(6) Kỹ năng làm việc với cộng đồng địa phương;

(7) Kỹ năng cưỡng chế;

(8) Kỹ năng hướng dẫn du lịch và giải trí;

Trang 25

(9) Kỹ năng giáo dục truyền thông và nâng cao nhận thức;

Đối chiếu tình hình hiện trạng năng lực và kỹ năng này của cán bộ VQG Tràm Chim với một số tiêu chuẩn của Bộ tiêu chuẩn năng lực cán bộ các khu bảo tồn Đông Nam Á do Trung Tâm Bảo tồn Đa dạng sinh học ASEAN soạn thảo (2003), để tìm ra những thiếu hụt về năng lực và kỹ năng của bộ máy quản lý và năng lực cán bộ của VQG Tràm Chim Từ đó, kiến nghị xây dựng tổ chức bộ máy phù hợp, một chương trình xây dựng năng lực cho các cán bộ, nhân viên nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước VQG Tràm Chim

q Thu thập, khảo sát, đánh giá những văn bản pháp lý của các cấp, ngành

các cơ quan của Trung ương cũng như của địa phương đã ban hành và áp dụng có liên quan đến công tác bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước Tràm Chim để tìm ra những trở ngại, vướng mắc và đưa ra những kiến nghị, giải pháp cho các trở ngại này

r Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp để bảo tồn và sử dụng bền vững hệ sinh thái đất ngập nước VQG Tràm Chim

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.4.1 Phương pháp luận:

Phương pháp luận phân tích hệ thống1 đã được vận dụng để phân tích cấu trúc, mối tương quan giữa các loài với các yếu tố môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế – xã hội và khuynh hướng biến thiên của một số thành phần chính của hệ sinh thái VQG Tràm Chim, nhằm mục đích cuối cùng là nhận biết các qui luật để điều khiển hệ thống phát triển ổn định, bền vững, phục vụ cho sự bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của VQG Tràm Chim

2.4.2 Phương pháp cụ thể:

Đề tài đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

1 Nội dung phân tích hệ thống bao gồm: Nhận biết cấu trúc thành phần hệ thống và môi trường, những thông tin, tín hiệu ( input, output.),chia nhỏ hệ thống ra để xét Phương hướng là phân tích hệ thống ban đầu thành những hệ thống con có mối liên hệ ràng buộc với nhau, từ đó tìm ra các quy luật vận động trong từng phân hệ để khái quát thành những quy luật chung cho cả hệ thống Khi phân tích hệ thống cần chú ý đến tính trội của hệ thống, phải nghiên cứu hệ thống trong tương quan môi trường mà nó hoạt động, với quan điểm hệ thống là hệ thống mở, phải quan sát hệ thống từ nhiều góc độ để tìm ra những khía cạnh khác nhau của cơ cấu và hành vi hệ thống, từ đó tìm ra những nét đặc thù của hệ thống đang nghiên cứu - Theo tài liệu môn sinh thái cảnh quan – TS Chế Đình Lý dịch từ Landscape Ecology, Forman, R.T.T anh Gordon,M.(1986)

Trang 26

2.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp và biên hội số liệu, tài liệu:

‰ Tổng quan tài liệu: Trước và sau khi định hướng nghiên cứu của đề tài

thông tin, tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau đã được thu thập để tham khảo:

¾ Thông tin trên mạng INTERNET: Các thông tin từ các trang WEB của các tổ chức Quốc tế như Birdlife, IUCN, WWF, của Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ, Cục Môi trường đã được sử dụng để thu thập các tài liệu, thông tin như:

- Các tài liệu nghiên cứu, các bài viết có liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học

- Các kết quả nghiên cứu của các dự án, các bài viết có liên quan về đất ngập nước, các khu bảo tồn, các Vườn Quốc Gia

- Các phương pháp nghiên cứu khoa học đã áp dụng trên thế giới (phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn….)

¾ Thu thập các thông tin có liên quan đến VQG Tràm Chim như:

- Thông tin từ báo chí: Các bài viết về VQG Tràm chim trên các tập san, Tạp chí Khoa học – Công nghệ & Môi trường, tạp chí bảo vệ môi trường

- Các nghiên cứu đã có liên quan đến VQG Tràm chim của các nhà khoa học trong và ngòai nước, các tổ chức Quốc tế, các Viện , Trường Đại học

- Các tài liệu khác như: tài liệu của các chương trình hội thảo của Ủy Ban Sông Mê Kông, của Cục Môi trường, IUCN, WWF

Và một số tài liệu và nguồn thông tin khác

‰ Sau khi thu thập các tài liệu, thông tin đã được tiến hành tổng hợp, phân tích, biên hội số liệu thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin, tài liệu, số liệu bao gồm:

- Điều kiện tự nhiên, Kinh tế - Xã hội vùng nghiên cứu Các bản đồ, các báo cáo khoa học của các công trình nghiên cứu trong vùng lõi và vùng đệm tại VQG Tràm Chim

- Các số liệu về quần thể, sinh cảnh, thủy văn, lửa rừng tại VQG Tràm chim từ khi thành lập đến nay

- Các văn bản pháp luật, các cơ chế chính sách có, liên quan về/hoặc đến VQG Tràm Chim

Các số liệu sau đây đã được thu thập cho tất cả các năm từ khi thành lập khu bảo tồn để xét khuynh hướng đang diễn biến tốt hay xấu:

Trang 27

- Số liệu về quần thể các loài chính như: Sếu, các lòai chim nước quan trọng, cá (thành phần lòai, số lượng cá thể, thời gian lưu trú tại Tràm Chim, đặc tính sinh sản)

- Chất lượng và kích thước của các sinh cảnh chính như: đồng cỏ năng, lúa

ma, rừng tràm, mặt nước (diện tích bãi năng, diện tích lúa ma, diện tích rừng tràm, mặt nước)

- Sự phát triển các lòai ngoại lai ( tên lọai, diện tích, mật độ )

- Lửa rừng (cách quản lý lửa, tần suất/năm, phạm vi cháy, vị trí cháy, thời gian cháy, mức độ thiệt hại)

- Số vụ vi phạm, xâm nhập trái phép vào VQG

2.4.2.2 Khảo sát thực địa:

Đã tiến hành khảo sát thực địa tại Vườn Quốc Gia Tràm Chim nhằm trực tiếp quan sát, tìm hiểu thực tế

Sử dụng các tài liệu và các thông tin thu thập được mô tả ở trên, phương pháp đánh giá nhanh đã được tiến hành bằng cách đi đến các địa điểm của VQG Tràm Chim bao gồm: Vùng lõi, vùng đệm, khu làm việc, các trạm, chốt bảo vệ, đài quan sát, các vùng sinh cảnh … Mục tiêu của bước đánh giá nhanh là đến được hầu hết các địa điểm này và xác định những điểm có các hệ động vật đặc biệt quan trọng có tiềm năng đối với công tác bảo tồn Việc đánh giá nhanh cũng bao gồm cả đánh giá các sinh cảnh chính, đặc biệt là những sinh cảnh đóng vai trò quan trọng đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở VQG Tràm Chim

Các dữ liệu ban đầu ghi nhận trong giai đoạn đánh giá nhanh là sự có mặt của các loài chim đang hoặc sắp bị đe dọa, số lượng và số loài chim nước hiện diện, các loài cá, lưỡng cư và bò sát

2.4.2.3 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp với thảo luận sâu 2 :

gì mới (Tổng hợp từ trang Web: http:// www.hf.faa.gov/Portal/ShowProduct.aspx)

Phương pháp thảo luận sâu ( in- depth discussion) là phương pháp nói chuyện theo kiểu đàm đạo với người được phỏng vấn xung quanh một vấn đề nào đó mà mình muốn tìm hiểu Trong quá trình nói chuyện chú ý khai thác nhiều khía cạnh của vấn đề và đào sâu khía cạnh nào quan trọng.- (Tổng hợp từ trang Web: http:// www.hf.faa.gov/Portal/ShowProduct.aspx)

Trang 28

Các đối tượng được phỏng vấn gồm:

c Phỏng vấn các cán bộ chủ chốt của các cơ quan, các tổ chức Đoàn thể Chính trị – Xã hội bao gồm:

- Đại diện các cán bộ lãnh đạo chủ chốt, và các chuyên gia thuộc các cơ quan cấp tỉnh, huyện Tam Nông và các xã, ấp vùng đệm

- Các cán bộ lãnh đạo và các chuyên gia thuộc các cơ quan như: Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Sở Khoa Học & Công Nghệ, Sở Tài nguyên & Môi trường, Sở Thương mại & Du lịch, Sở văn hoá Thông tin, Sở Lao động thương binh

& Xã hội, Bảo tàng, Công Ty du Lịch, Hạt kiểm lâm, Ban quản lý VQG Tràm Chim, Hội liên hiệp phụ nữ (tỉnh, huyện và các xã vùng đệm)

d Ban lãnh đạo VQG Tràm Chim và hầu hết cán bộ chủ chốt và nhân viên của vườn

e Một số cộng đồng địa phương

Mục đích của các cuộc phỏng vấn và thảo luận sâu nhằm:

- Đánh giá những thiếu hụt về cách quản lý đã áp dụng ở VQG Tràm Chim từ khi thành lập đến nay

- Thu thập thông tin về quan điểm, nhận thức của các nhà lập chính sách và

- Xác định các mối đe dọa và khảo sát chiều hướng phát triển kinh tế xã hội,

ý thức bảo tồn, mối quan hệ, mâu thuẫn của cộng đồng với VQG Tràm Chim

- Thu thập các văn bản pháp luật, các cơ chế chính sách liên quan đến việc quản lý hệ sinh thái đất ngập nước Tràm Chim

2.4.2.4 Phương pháp nghiên cứu tổng hợp:

Các thông tin thu thập được từ nhiều nguồn, qua các tài liệu và kết quả các cuộc phỏng vấn đã được phân tích, chọn lọc, xử lý kết hợp với nghiên cứu tổng hợp để xây dựng nên đề tài theo những vấn đề đã đưa ra

Trang 29

PHẦN THỨ HAI:

NỘI DUNG CÁC KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương ba: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ , XÃ HỘI VÙNG

Mực nước biển rút xuống dưới 100m so với hiện nay, mặt đất nhô cao và bị mưa gió bào mòn, đan xen các quá trình xâm thực và phong hóa, trở nên trơ cứng, lồi lõm, tạo thành các giồng gò cát cổ nối tiếp nhau Sau đó là giai đọan biển tiến ồ ạt trở lại, chân sóng vây quanh lấy phần lớn vùng ĐTM, cô lập các giồng, gò Biển dâng cao và đột ngột dừng lại một thời gian trước khi rút lui dần Trong thời gian này, hàng lọat giồng cát nổi và chìm được hình thành về phía biển, khép kín dần và tạo nên các vùng trũng thấp, sình lầy và rộng lớn phía sau chúng Đây chính là cái nôi bắt đầu của vùng sinh thái đất ngập nước ĐTM hiện nay

Hệ quả địa lý của qúa trình thành tạo và phát triển trong gần 10 ngàn năm qua đã để lại cho ĐTM các nhóm trầm tích Pleostocene, Holocene, với các dạng địa hình thềm biển cổ và đồng lụt kín, bưng đìa thấp và giồng gò cao, đồng bồi ven sông và đồng lầy ở giữa

Tới giai đoạn ổn định, vùng ĐTM có địa hình khá bằng phẳng, trũng thấp, với ưu thế chung nghiêng theo hai hướng chính từ Tây - Bắc xuống Đông –Nam và từ Tây – Nam sang Đông – Bắc Toàn vùng có cao trình mặt đất trung bình khỏang

1 – 1,2 m Ven biên giới Việt Nam – Cam pu Chia là vùng gò cao từ 2,5 – 3m Dọc

Trang 30

theo bờ hạ lưu Vàm cỏ Tây là vùng trũng thấp nhất với cao trình 0,6 – 0,8m Ven bờ sông Tiền là dải đất cao từ 1,5 – 2,0 m Phần trung tâm mặt đất giảm dần từ cao trình 1,2 – 1,5 m ở phía Tây – Bắc xuống còn 0,7 – 0,9 m ở phía Đông – Nam

Vùng ĐTM có các nhóm đất chính là các đất phèn ( chiếm khỏang 53% diện tích tự nhiên tòan vùng ĐTM, đất phù sa, đất xám và đất giồng cát Chính điều kiện địa hình, khí hậu và thủy văn là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên nét đặc trưng riêng cho nền thổ nhưỡng vùng ĐTM, nền thổ nhưỡng này lại quyết định hệ sinh thái đất ngập nước đa dạng ở đây Tính quy luật đó cho phép phân chia ĐTM thành 3 vùng đất tương ứng với 3 vùng địa mạo chính là (a) vùng thềm biển cổ, (b) vùng đồng lụt kín và (c) vùng đồng bồi trẻ Đặc biệt, chúng ta còn gặp ở vùng ĐTM, tuy chỉ với diện tích nhỏ, nhómđất giồng, phát sinh từ môi trường trầm tích biển gió của địa hình giồng cát

Nước bị nhiễm phèn là đặc trưng của ĐTM Hàng năm, tình trạng nhiễm chua phèn diễn ra theo qui luật khá rõ ràng, với hai thời kỳ nước chua là (a) bắt đầu từ cuối tháng IV đầu tháng V, diện chua tăng dần theo sự gia tăng của mưa và đạt mức lớn nhất vào tháng VI (cũng trong thời gian này nước sông tiền còn ở mức thấp, tốc độ dòng chảy nhỏ, lưu lượng chảy vào chưa nhiều nên khả năng pha loãng kém), từ tháng VI trở đi diện chua giảm dần theo sự gia tăng của mưa và nước sông tiền bổ sung và (b) vào đầu tháng I, kết thúc vào cuối tháng II, khối nước chua trong vùng trũng tồn đọng trong mùa lũ rút ra do tác động của thủy triều

3.1.2 Những đặc điểm đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười hiện nay :

Đồng Tháp mười ngày nay đã khác xa so với ĐTM khi xưa, bởi nó đã được chia cắt bằng hệ thống kênh rạch và những tuyến đê chằng chịt thành những ô nhỏ Bên cạnh đó, hàng lọat tuyến đường liên tỉnh, liên huyện và cấp xã cũng đã được xây dựng khắp nơi trên vùng đồng bằng, đôi khi ở cao trình vượt lũ lớn, tạo thành các tuyến cản lũ từng phần, từng khu, khiến chỗ này thì lũ lên nhanh hơn, sâu hơn, chỗ kia thì lũ về chậm hơn, nông hơn, diễn biến lũ nói chung thêm phần phức tạp

Những cảnh quan hùng vĩ xa xưa của ĐTM đã biến mất Đồng thời với quá trình đó, hệ thực vật và động vật cũng thay đổi, nhiều lòai động vật không còn xuất hiện nữa do mất đi nơi sinh sống của chúng Sự bành trướng của diện tích nông nghiệp và sự xây dựng một lọat kênh trong 40 năm qua đã làm cho hầu hết những vùng tự nhiên biến thành những vùng Nông nghiệp Gần đây do giá lúa không ổn định, nhà nước khuyến khích trồng tràm giống nhập ngoại để lấy gỗ và dầu tràm

Vùng ĐTM bị chi phối chủ yếu bởi chế độ dòng chảy từ sông Tiền Lưu lượng trên sông này dao động từ 5000 – 6000 m3/s vào khoảng tháng VI/VII lên 22.000 – 24.000 m3/s vào đỉnh lũ và giảm còn 1.800 – 2.200 m3/s vào tháng III/IV

Trang 31

Trong mùa kiệt, từ tháng XII đến tháng V, toàn bộ vùng ĐTM chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chế độ triều biển đông thông quan sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây Do có sự chênh lệch mực nước khá lớn giữa giữa hai sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, nên xu thế chung là mực nước trung bình trong nội đồng thấp hơn ngòai sông Tiền và cao hơn ngoài sông Vàm Cỏ Tây Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi hai nguồn triều nên hiện tượng giáp nước thường xảy ra dọc Vàm Cỏ Tây, cách bờ sông chừng 20 – 30 Km Biên độ mực nước cũng giảm dần từ sông vào nội đồng, từ 2,0 – 2,5 m ở ven và hạ lưu sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, giảm xuống chỉ còn 0,4 – 0,5m ở vùng trung tâm

Cuối mùa lũ và đầu mùa mưa là thời kỳ nước trong kênh rạch bị nhiễm chua phèn từ đồng lan ra Mùa lũ trên vùng ĐTM bắt đầu từ tháng VII/VIII đến tháng XI/XII Trong mùa lũ, khỏang 1/3 diện tích ĐTM bị ngập lũ sâu trên 2,0 m, 1/3 ngập sâu từ 0,5 – 2,0 m và 1/3 còn lại không ngập hoặc chỉ ngập dưới 0,5m Hầu hết vùng ngập bị chìm sâu trong nước lũ từ 2- 4 tháng Đỉnh lũ trên vùng ĐTM xuất hiện chậm hơn Tân Châu từ 1- 3 ngày ở phía bắc, 7- 10 ngày ở vùng trung tâm, và 15 - 20 ngày ở vùng hạ lưu, tức vào khỏang từ đầu đến cuối tháng X

3.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM:

3.2.1 Cơ sở pháp lý và lịch sử hình thành VQG Tràm Chim:

Vườn quốc gia Tràm Chim là một mô hình thu nhỏ của Đồng Tháp Mười, một đồng lụt kín được bao quanh bởi các giồng đất cao ven biên giới Việt Nam – Campuchia, dọc sông tiền, sông Vàm Cỏ Tây và vùng đất cao ven biển Tiền Giang, là một trong những vùng sinh thái đặc trưng của ĐBSCL mà giá trị về kinh tế, văn hóa, lịch sử, khoa học và môi trường của nó là rất lớn Quá trình tạo lập lịch sử địa hình cảnh quan của của VQG Tràm Chim gắn liền với quá trình lịch sử tạo lập của ĐTM và ĐBSCL

Tràm Chim – đây là một địa danh đã có từ lâu đời do đặc điểm vùng đất trũng của ĐTM, có nhiều rừng tràm tự nhiên, và nhiều loại cá đồng sinh sản và phát triển, là nguồn thức ăn phong phú, nên đã có rất nhiều lòai chim nước hội tụ về đây sinh sống Do đó nhân dân quanh vùng đã gọi là vùng Tràm Chim

Với những giá trị đặc trưng của nó, ngay từ thời chiến tranh Ban Lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp đã ấp ủ nguyện vọng khai thác và phát triển ĐTM thành một vùng trù phú cùng với việc tái tạo lại một mô hình ĐTM thu nhỏ Tuy nhiên, do tình hình kinh tế của tỉnh có nhiều khó khăn sau ngày giải phóng miền Nam Đến năm 1978 tỉnh mới bắt đầu chủ trương trồng tràm và cho đến năm 1990 đã có được diện tích rừng tràm là 2.300 ha Năm 1985 UBND tỉnh Đồng Tháp quyết định khoanh vùng

Trang 32

5.200 ha để thực hiện tái tạo lại một vùng ĐTM thu nhỏ về giao cho huyện Tam Nông quản lý, vùng này đã có các tổ chức tham gia bảo vệ, khai thác với nhiều tên gọi khác nhau như: Lâm ngư trường Tràm Chim, Nông trường Tràm Chim, Công ty nông trường Tràm Chim Đặc biệt từ khi phát hiện loài Sếu đầu đỏ (Hạc) quay về trú ngụ thì Tràm Chim được nhiều người biết đến, vì đây là một loài chim quý hiếm mà trước đây đã từng có mặt ở nơi này Tuy nhiên, trong thời kỳ đó không ai biết đó là lòai chim quý đang có nguy cơ bị tuyệt chủng nên đã săn bắt, đánh bẫy ăn thịt như những lòai chim khác

Năm 1986, sau khi nghe có tin Sếu đầu đỏ về trú ngụ tại Tràm Chim, tổ chức bảo vệ Sếu Quốc tế - ICF ( International Crane Fundation) và Trung tâm Tài nguyên Môi trường- thuộc trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội đã cử chuyên viên đến kiểm tra và xác nhận đây chính là một trong 15 lòai Sếu hiện còn lại trên thế giới Sau đó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp đương thời là ông Nguyễn Xuân Trường đã ra thông báo cấm săn bắt và đánh bẫy Sếu, đồng thời tuyên truyền giáo dục cho người dân trong tỉnh biết để bảo vệ Ở thời kỳ này, diện tích rừng khu bảo vệ được mở rộng một cách nhanh chóng từ 5.200 ha lên 8.000 ha

Tháng 5 năm 1987, tại hội nghị Quốc tế về Sếu tổ chức tại Hắc Long Giang, Trung Quốc sau khi nghe thông báo là có Sếu cổ trụi ( Sếu đầu đỏ) tưởng chừng không còn ở Châu Á nữa thì nay được tìm thấy ở Tràm Chim thì các đại biểu rất vui mừng và từ đó nhiều tổ chức trên thế giới đã đến nghiên cứu và tài trợ, như vào năm 1989 Quỹ bảo vệ chim của Đức (BREHM FUND) đã tài trợ cho Tràm Chim để xây dựng một ngôi nhà 2 tầng, ngôi nhà này được sử dụng cho các họat động giáo dục môi trường

Tháng 1/1990, một cuộc hội thảo quốc tế về Sếu và bảo vệ đất ngập nước đã được tổ chức tại Tràm Chim, tham dự gồm có 14 nước trên thế giới, hội nghị đã trao đổi những kinh nghiệm nhằm giúp cho việc quản lý và bảo vệ Tràm Chim được tốt hơn

Tháng 3/1991, UBND tỉnh đã ra quyết định thành lập Trung tâm bảo vệ Sếu và môi trường thiên nhiên Tràm Chim, giao cho UBND huyện Tam Nông trực tiếp quản lý

Do áp lực của sự gia tăng dân số trong vùng, vào những tháng cuối năm

1991 và đầu năm 1992, khu vực Tràm Chim bị phá hại nghiêm trọng, đất đai bị lấn chiếm làm lúa hai vụ Trong khi đó trong bờ bao thì nước rút cạn khô, người dân đã vào bắt cá và đốn tràm, vài vụ cháy đã xảy ra làm cho cả rừng tràm xanh tốt trở nên nham nhở, hậu quả là nhiều lòai động vật quí hiếm bị suy giảm như: Trăn, rắn, rùa; phèn trôi xuống những nơi trũng thấp và dưới kênh nội đồng làm cho một số lượng lớn cá bị chết Bên cạnh đó, có nhiều quan điểm cho rằng phá tràm trồng lúa

Trang 33

Ngày 2 tháng 2 năm 1994, Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định số 47/TTg qui định khu đất ngập nước Tràm Chim thuộc huyện Tam nông tỉnh Đồng Tháp là “ Khu bảo tồn thiên nhiên” của Quốc gia Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho sự tồn tại và phát triển của khu bảo tồn, từ đó hệ sinh thái tự nhiên đã ngày càng được phục hồi Diện tích của khu bảo tồn là 7.612 ha có bờ đê bao xung quanh chu

vi gần 60 km Tuy nhiên, quá trình thực thi các họat động của khu bảo tồn đã trải qua nhiều thử thách do áp lực gia tăng dân số và điều kiện sống của nhân dân trong vùng còn nhiều khó khăn

Ngày 29 tháng 12 năm 1998, theo quyết định số 253/1998/TTg của thủ tướng Chính Phủ, khu bảo tồn thiên nhiên ĐNN Tràm Chim đã được chuyển hạng thành Vườn Quốc Gia Tràm Chim điều chỉnh ranh giới và diện tích còn 7.588 ha, đồng thời phê duyệt dự án đầu tư xây dựng VQG Tràm Chim giai đọan 1999 – 2003 với tổng nguồn vốn đầu tư là 59 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách 39 tỷ đồng, vốn huy động trong nhân dân 2 tỷ đồng và các nguồn vốn khác là 18 tỷ đồng

Để cụ thể hóa quyết định của Thủ tướng Chính Phủ, ngày 3/9/1999 Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp ra quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ của VQG Tràm Chim là:

- Bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật của hệ sinh thái ĐNN trên cơ sở đảm bảo chế độ thủy văn phù hợp

- Bảo tồn, phục hồi và phát triển cảnh quan tự nhiên, hệ sinh thái chuẩn của vùng đồng lụt kín ĐTM như khi chưa được khai thác để phục vụ nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục và phục vụ tham quan du lịch

- Bố trí lại dân cư sống quanh vùng hợp lý, tạo sự ổn định về nhà ở, đất canh tác, ổn định cuộc sống, từ đó họ tự giác tham gia vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của vườn

- Phát triển cơ sở hạ tầng để làm nền tảng phát triển họat động du lịch sinh thái, mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư và xã hội với đặc trưng kiến trúc của vùng đồng bằng ngập lụt, vừa hiện đại, vừa mang bản sắc đồng bằng Nam bộ

Trang 34

Việc xây dựng, bảo vệ và phát triển VQG Tràm Chim có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với tỉnh Đồng Tháp và vùng ĐTM mà còn đối với cả vùng ĐBSCL và cả nước Ngòai ý nghĩa về kinh tế còn có ý nghĩa rất quan trọng về giá trị khoa học, văn hóa – lịch sử, tài nguyên môi trường sinh thái giáo dục Nhờ đó, nhiều tổ chức quốc tế và cá nhân ở nhiều nước trên thế giới biết đến Đồng Tháp, quan tâm và hợp tác với Việt Nam

3.2.2 Các đặc trưng về điều kiện tự nhiên VQG tràm chim:

3.2.2.1 Vị trí địa lý:

Vườn quốc gia Tràm Chim thuộc địa bàn 5 xã: Phú Thọ, Phú Thành B, Phú Hiệp, Phú Đức, Tân Công Sính và thị trấn Tràm Chim của huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp Có diện tích tự nhiên là 7.588 ha và có tọa độ địa lý vào khỏang

10o37’ đến 10o46’ vĩ độ bắc, 105o28’ đến 105o36’ kinh độ đông Cách sông Mê kông 25 km về phía tây, gần biên giới Campuchia và thuộc vùng trung tâm của Đồng Tháp Mười

3.2.2.2 Địa mạo, cảnh quan:

Tuy nằm trong vùng đồng bồi thấp nhưng do gần với sông Tiền và nằm trên lòng sông cổ nên địa hình khu Tràm Chim không thật sự bằng phẳng và đồng nhất trên vùng hình thành hệ thống kênh rạch nhỏ chằng chịt, ngắn, ngoằn ngoèo và nhiều rạch không theo một hướng nhất định nào (Bảng phân bố diện tích theo cao trình mặt đất khu Tràm Chim được trình bày trong phần phụ lục)

Các phân khu chức năng của VQG Tràm Chim hầu như được bao bọc bởi các kênh nên chế độ thuỷ văn gần như tách biệt hẳn với bên ngoài, khu Tràm Chim nằm trong vùng ngập lũ trũng thấp, có địa hình nhìn chung là khá bằng phẳng Do

ở cách bờ sông Tiền không xa (từ 15 – 20 km) trước đây, khi chưa có các bờ bao ngăn cản, phù sa sông được đưa vào sâu và lắng đọng không đều trên đồng, tạo cho nền địa hình vốn đã không bằng phẳng thành từng chỗ cao thấp khác nhau Cao độ trung bình toàn vùng vào khoảng 1,2 – 1,3 m, nằm chủ yếu ở hai phía kênh Đồng Tiến và An Bình Khu trung tâm có cao trình từ 1,4 – 1,6 m Khu vực nằm sát bờ và ở đoạn giữa kênh Phú hiệp là một gò đất với cao trình trên 2,0 m

Hiện nay, ngoài việc được bao bọc bởi hệ thống kênh và bờ bao, ngay bên trong khu Tràm Chim còn có 2 kênh nhỏ là kênh Mười Nhẹ, nối từ kênh Đồng Tiến sang kênh Phú Hiệp, và kênh Bà Hồng, chạy từ giữa kênh An Bình vào trung tâm Khu Tràm Chim Ngoài ra còn một kênh nhỏ khác nối từ kênh Đồng Tiến vào nội đồng

Các sinh cảnh chính của Vườn Quốc Gia Tràm Chim bao gồm:

Trang 35

- Đồng cỏ ngập theo mùa: Có vài loại xuất hiện Một loại là trội bởi cỏ năn

Elocharis dulcharis, loại thức ăn chủ yếu của sếu, và loại lúa ma Oryza rufipogon

với những mảng tràm Lúa ma ở đây là một trong những nguồn giống còn lại của

lòai này Lọai đồng cỏ còn lại chủ yếu là cỏ năn Elocharis ochrostachys

- Lung sen: là lọai thực vật đặc trưng của Đồng Tháp Mười, phạm vi đã bị

giảm rất nhiều Chủ yếu là lòai sen Nemlumbo nucifera, N.pubescens và

N.tetragona

- Rừng ngập: Sinh cảnh này bao gồm những mảng tràm bán tự nhiên cùng

với lòai Syzgium spp, Elaeocarpus hygropilus, ficus microcarpa và Cassia grandis

Rừng tràm trồng với độ tuổi khác nhau là phổ biến, từ tràm trẻ đến tràm trưởng

thành cao 9 mét

Về mặt ngọai mạo và cấu trúc, thảm thực vật của quần xã rừng tràm và các quần xã đồng cỏ trong khu vực Tràm Chim gần như chỉ có một tầng tán và một dạng sinh trưởng (thân gỗ hoặc thân thảo), lại phân bố trên một địa hình tương đối bằng phẳng nên cảnh quan không đa dạng Tuy nhiên, ở đây cũng có một số địa mạo cảnh quan đặc trưng như các vùng gò thấp (trên đất xám, đất phù sa cổ) với độ cao từ 2,0 – 2,2 m, là nơi định cư của các quần xã cỏ ống hoặc các lòng sông cổ là nơi định cư của các quần xã sen, súng

3.2.2.3 Điều kiện khí hậu khu vực VQG Tràm chim:

Khu vực Tràm Chim có chế độ nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt độ cao quanh năm, mưa nhiều và phân hoá mạnh mẽ theo mùa

Nhiệt độ trung bình hàng năm trên khu khoảng 270C, khá đều trong năm Nhiệt độ thấp nhất là 150C và cao nhất khoảng 37 – 38 0C Độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 – 83% Lượng bốc hơi trên mặt nước thoáng có thể đạt từ 1500 – 1600mm/năm

Hàng năm, khu Tràm Chim có khoảng 2600 giờ nắng, với trung bình 8,5 – 9,0 giờ/ngày vào các tháng khô hạn nhất và từ 5,0 – 5,5 giờ/ngày trong các tháng

mưa lớn

Trang 36

Bảng 3.1: Nhiệt độ tại các Trạm xung quanh khu Tràm Chim( 0 C)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

BQ 25 26 21 29 28 28 28 27 28 28 27 25 27 Max 33 34 36 37 36 35 34 34 33 32 32 32 37 Min 18 19 16 22 22 22 22 22 22 22 20 18 16

Trạm Mộc Hoá

BQ 26 26 27 29 28 28 27 27 28 28 27 26 27 Max 34 35 37 38 37 36 35 34 34 33 33 34 38 Min 17 19 16 23 22 22 21 22 23 23 19 18 16

Nguồn: Tổng hợp

Gió mùa Tây - Nam vào mùa mưa và Đông – Bắc vào mùa khô là 2 hướng gió mùa thịnh hành ở khu Tràm Chim Tốc độ gió trung bình 1,4m/s, có cao hơn trong các tháng đầu mùa mưa Tốc độ gió lớn nhất xấp xỉ 20m/s, thường xuất hiện trong các cơn giông đầu mùa mưa Bão hầu như không hưởng đến VQG Tràm Chim và vì thế tốc độ gió lớn trong cơn bão chưa từng xảy ra

Hàng năm trên khu vực Tràm Chim thường xuất hiện một mùa mưa kéo dài từ 6 – 7 tháng ( tháng V –XI) và mùa khô cũng không kém phần khắc nghiệt với 5 – 6 tháng trong năm ( tháng XII –IV) Tổng lượng mưa trung bình năm rơi trên Tràm Chim khỏang 1.400 mm Trong mùa mưa, lượng mưa mỗi tháng khỏang 150

mm, với đỉnh rơi vào 2 tháng IX –X, mỗi tháng trên 250mm Mùa khô rất ít mưa, với chỉ vài mmm đến vài chục mm mỗi tháng, nghĩa là thấp hơn nhiều so với lượng bốc hơi, trong đó tháng 2 hầu như không mưa

3.2.2.4 Nước và chế độ thủy văn:

Chế độ nước của VQG Tràm Chim được điều tiết chủ yếu từ hai con sông lớn của Đồng Tháp Mười là Sông Tiền và Sông Vàm Cỏ Tây Các kênh trục có nhiệm vụ tải nước từ Sông Tiền vào nội đồng khu bảo tồn đã phát huy tác dụng tốt như kênh Đồng Tiến, An Hoà, Phú hiệp, Phú Thành…Tuy nhiên, do sự chênh lệch mực nước khá lớn giữa hai con sông Tiền và Sông vàm Cỏ Tây nên xu hướng chung là mực nước trung bình trong nội đồng thấp hơn ngoài sông Tiền và cao hơn

ngoài sông vàm Cỏ Tây Các kênh xuyên qua Tràm Chim gồm: Kênh Đường Gạo,

Phú Thành, Phú Hiệp, Đồng Tiến, An Hòa, Cà Dăm chu vi gần 60 Km

Chế độ thủy văn của Tràm Chim nói riêng và huyện Tam Nông nói chung chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ thủy văn sông Tiền thông qua kênh Hồng

Trang 37

Ngự và hệ thống kênh rạch chằng chịt bên trong huyện Tràm Chim nằm hoàn toàn trong vùng ngọt của Đồng bằng Sông Cửu long, không hề bị ảnh hưởng của nước mặn, nước lợ từ biển

Ảnh hưởng của thủy triều tuy vẫn còn, nhưng ở mức độ không đáng kể, chỉ có thể quan sát thấy thay đổi mực nước kênh rạch gây ra do triều trong những thời gian triều cường trong năm ( Trần Triết, 2002) Chế độ nước phân thành hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt

Chế độ nước mùa lũ: Từ cuối tháng VI, nước sông Tiền bắt đầu lên đổ vào đồng theo các kênh trục chính Đồng Tiến, An Bình và cả kênh Hồng Ngự Mực nước tăng dần, đến cuối tháng VII nước bắt đầu tràn đồng và đạt mức cao nhất vào khỏang cuối tháng IX Sau đó nước rút dần cho đến cuối tháng XII thì chuyển sang mùa kiệt

Mực nước lũ cao nhất có thể lên đến 4m (tuy nhiên cơn lũ lịch sử năm 2000 mực nước đo được tại Tràm Chim là:4,61 m), sau đó rút dần và tới tháng 12 mực nước lũ rút xuống còn khỏang 2m Độ sâu ngập và thời gian ngập thường thay đổi từ năm này sang năm khác do có sự biến động trong tổng lượng mưa và lưu lượng mùa lũ của sông Mekong Cao trình mặt đất khu bảo tồn Tràm Chim phổ biến là +1,4 đến +1,5 m (+1,2 đến +1,8m) Vì vậy tòan bộ khu Tràm Chim bị ngập vào mùa mưa lũ

Chế độ nước mùa kiệt: Từ tháng XI, nước bắt đầu hạ, rút khô đồng, mực nước sông cũng thấp dần, đạt mức cao nhất vào cuối mùa khô( tháng III – IV) Mực nước trong kênh rạch do chế độ triều ở khu vực này tương đối nhỏ

pH của nước là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nước Tràm Chim nằm trong vùng đất phèn tiềm tàng ĐTM, đến mùa khô phèn bốc lên mặt đất và thấm vào nước kênh, nên pH nước từ 2,5 – 4 Khi bắt đầu mùa mưa, phèn bốc hơi lên mặt đất được hòa tan vào trong nước, nên thời gian đầu mùa mưa nước bị nhiễm phèn càng nghiêm trọng; cuối mùa mưa nhờ nước lũ tràn về và nước mưa tại chỗ rửa đã nước phèn do đó đã nâng pH của nước lên 6,5 – 7,5 Sự biến động này của pH nước tại khu Tràm Chim có tính chất chu kỳ hàng năm và phản ánh đặc trưng của ĐTM Tuy nhiên khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQGTC được đê bao quanh, nhưng chỉ được thông với hệ thống kênh bên ngòai có 4 cống, do đó việc khắc phục tình trạng nước phèn ở VQGTC rất chậm vào đầu mùa mưa so với các vùng mở khác của ĐTM

Số liệu thủy lý, thủy hóa mùa mưa, mùa khô năm 2000 ở một số khu vực Tràm Chim được trích dẫn trong phần phụ lục

Trang 38

3.2.2.5 Đặc điểm đất đai khu Tràm Chim:

Vườn quốc gia Tràm Chim có 2 nhóm đất chính ( Phụ lục 3.3)

- Đất xám trên phù sa cổ ( Greysoil on old alluvial)

- Đất phèn ( Acid sulphate soil) Trong đó đất phèn chiếm tỷ lệ tuyệt đối( 89,5%) ngay trên đất xám ở đây yếu tố phèn cũng rất quan trọng

Œ Nhóm đất xám trên phù sa cổ: Tập trung chủ yếu phía bắc của vùng và các khu vục có đia hình hơi cao như Giồng găng, Phú đức, giồng cà dăm Đất xám

ở đây ít chua, pH = 4,5 – 5

Œ Nhóm đất phèn: Đất phèn trong khu VQGTC có 2 loại chính:

- Đất phèn tiềm tàng;

- Đất phèn họat động: Chia làm 2 loại:

+ Đất phèn họat động nông

+ Đất phèn hoạt động sâu•

3.2.2.6 Tài nguyên thiên nhiên của Vườn Quốc Gia Tràm Chim:

› Hệ thực vật:

Thảm thực vật tự nhiên của Vườn Quốc Gia Tràm Chim gồm 3 nhóm chính:

Rừng đầm lầy chiếm ưu thế bởi Tràm (Malaleuca cajuputi), đồng cỏ ngập theo mùa

với nhiều kiểu quần xã khác nhau tùy theo điều kiện thổ nhưỡng và thủy chế, và thảm thực vật thủy sinh của các vùng lung, bào, rạch tự nhiên ngập quanh năm ( Trần Triết, 2002)

Theo Phân Viện Điều tra qui họach rừng II (1999), có 6 kiểu quần xã thực vật được tìm thấy ở VQGTC bao gồm:

- Quần xã sen: (Nelumbo nucifera) có diện tích 63,8 ha Kiểu quần xã này thường xuất hiện ở nơi có đất thấp như bưng, vùng ẩm lầy gần như ngập nước quanh năm (không khô hẳn vào mùa khô)

- Quần xã lúa ma (Oryza rufipogon) có diện tích 678,4 ha Kiểu quần xã này thường xuất hiện ở nơi có độ cao trung bình

- Quần xã cỏ ống ( Panicum repens) có diện tích 1965,9 ha Kiểu quần xã này thường xuất hiện ở những nơi có độ cao khác nhau nhưng phổ biến và chiếm ưu thế

ở những nơi đất cao

- Quần xã Năng (Eleocharis dulcis) có diện tích 898,8 ha Kiểu quần xã này thường xuất hiện ở nơi có độ cao trung bình

Trang 39

- Quần xã Mồm Mốc (Ischaemum rugosum) có diện tích 305,1 ha, kiểu quần xã này thường xuất hiện ở nơi có độ cao trung bình Ở những nơi thích hợp, mồm mốc mọc dày và các nhánh trên của nó tạo thành một trần dầy cách mặt đất khỏang 20 – 50 cm, được các thân chống chịu

- Quần xã rừng Tràm (Melaleuca leucadendron), diện tích 3018,9 ha Tòan bộ

các khu rừng Tràm trong VQGTC là các khu rừng được trồng ở độ tuổi từ 4 đến 20, mật độ biến thiên khỏang từ 5.000 – 20.000 cây/ha Độ nhiều của các loài thân thảo (năng, cỏ ống, lúa ma, cỏ mực, dệu, rau muống) giảm từ 20% xuống còn

khỏang 1 – 2% khi độ che phủ của tràm tăng từ 30% đến khỏang 80%

Kết quả các công trình điều tra trước đây cho thấy, trong VQGTC có 130 lòai thực vật bậc cao

› Các lòai chim:

Có 198 lòai chim thuộc 125 chi, 49 họ được tìm thấy ở khu bảo tồn Tràm Chim; trong đó có 88% được tìm thấy ở khu bảo tồn vào mùa khô Theo Collar và cộng sự (1994), trong số 198 lòai chim này, có 16 lòai đang bị đe dọa ở qui mô tòan cầu

Về môi trường sống, có 42% số lòai sử dụng đầm lầy nước ngọt, 10% sử dụng các đồng cỏ, 8% sử dụng rừng ngập nước, 2% sử dụng các con kênh có bụi, cây gỗ và 38% còn lại sử dụng tổng hợp các môi trường sống nói trên Các lòai tiêu

biểu gồm: Sếu Cổ Trụi (Grus antigon sharpii), già đẫy lớn ( Leptotilos dubius), Già đẫy Java ( Leptotilos javanicus), Đại bàng đen ( Aquila clanga), Te vàng ( Vanellus

cinereus), Choi choi lưng đen (Charadrius pernorii) Hiện nay, theo thống kê của

các nhà khoa học ICF số lượng các lòai chim ở khu vực Tràm Chim là trên 200 lòai

Trong nhịp sống hàng năm của nhiều lòai chim di cư, khi mùa đông đến có rất nhiều lòai phải đi đến những vùng ấm áp cư trú và kiếm ăn Nhiều lòai trong số đó đã sử dụng vùng đất ngập nước Tràm chim là khu cư trú và kiếm ăn quan trọng của chúng chẳng hạn như Sếu cổ trụi, đây là lòai chim bay có chiều cao lớn nhất và đang bị đe dọa tuyệt chủng

› Về thuỷ sinh vật:

Œ Thực vật nổi:( phytoplankton)

Thực vật nổi ở VQGTC khá phong phú không những về thành phần loài mà

còn cả về số lượng Có 174 loài thuộc 6 ngành, trong đó tảo lục (Chlorophyta):59 loài (51,15%), tảo silic (Bacillariophyta) 41 loài (23,5%), tảo mắt (Englenophyta)

23 loài (13,21%), tảo lam (Cyanophyta) 12 loài(6,9%), tảo giáp (Pyrrophyta) 5 lòai (2,87%), tảo vàng ánh (Chrysophyta) 4 loài(2,3%) Trong các ngành tảo trên thì tảo

Trang 40

lục và tảo silic là thức ăn quan trọng của động vật nổi và cá tôm So với khu hệ tảo của toàn vùng Đồng Tháp Mười có 503 loài ( Nguyễn Văn Tuyên, 1986) thì tảo ở Tràm Chim có số lượng khá cao và chiếm 34,6%

Œ Động vật nổi: ( Zooplankton)

Qua những lần khảo sát trước đây cho thấy thành phần loài và sinh vật lượng cũng tương đối phong phú Có 110 loài động vật nổi được ghi nhận thuộc 5 ngành,

trong đó ngành Arthropoda có 56 lòai (50,88%), ngành Nemathelminthes có 45 loài ( 40,9%), ngành Protozoa có 7 loài (6,36%), ngành Annelida và Mollusca (ấu trùng

– larvae) mỗi ngành có 1 loài (0,9%)

Œ Động vật đáy: (Zoobenthos)

Sinh vật đáy ở Tràm Chim được xem là khá phong phú so với các vùng nhiễm phèn khác như tứ giác Long xuyên Có 26 loài thuộc 5 lớp đã được tìm thấy,

trong đó chiếm ưu thế là Bivalcia và Insecta, mỗi lớp có 7 loài ( 26,92%), phần lớn

chúng là thức ăn cho cá

Œ Khu hệ cá:

Qua các đợt khảo sát ở VQG Tràm Chim số loài cá đã được tìm thấy là 55

loài, thuộc 15 họ Các lòai cá gồm: Họ cá chép (Cyprinidae) có 24 loài (43,6%), họ cá chốt (Bargridae) 17 loài (12,7%), họ cá rô (anabanrtidae) 5 loài (9,1%), họ cá nheo (siluridae) 4 loài (7,3) Có 18 loài cá được xem là có giá trị kinh tế cao

Theo đặc tính sinh thái có thể chia cá ở Tràm chim thành 2 nhóm chính: Nhóm cá nước tĩnh (cá đồng) có 12 loài, nhóm cá này thường có nguồn gốc tại chỗ; nhóm cá ưa nước chảy (cá sông) có trên 30 loài, gồm các loài cá từ sông di cư vào để sinh sản và kiếm mồi, nhóm cá di cư này có ý nghĩa rất lớn đối với việc làm phong phú đàn cá cũng như nâng cao sản lượng cá ở Tràm Chim

Theo đặc tính về dinh dưỡng, có thể chia thành 5 nhóm cá:

- Nhóm ăn mùn, bã hữu cơ và phiêu sinh vật

- Nhóm cá ăn tạp thiên về thực vật

- Nhóm cá ăn động vật nhỏ và ấu trùng, côn trùng

- Nhóm ăn cá con và động vật

- Nhóm ăn động vật và thối rữa

Nhìn chung, so với các vùng phèn khác thì thành phần lòai cá ở VQG Tràm Chim phong phú hơn nhiều, chúng đã phản ánh một phần hình ảnh thu nhỏ của các loài cá ở Đồng bằng Sông Cửu Long

› Hiện trạng các loài ngoại lai xâm lấn:

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w