Lý do chọn đề tài Trong điều kiện lý luận về từ điển song ngữ phổ thông đã ít mà lý luận về từ điển song ngữ chuyên ngành càng hiếm hơn , đặc biệt về từ điển y học ; với sự gợi ý và hướ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÃ HỘI và NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG
TỪ ĐIỂN ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ
Y HỌC ANH – VIỆT VÀ VIỆT – ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH , NĂM 2003
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÃ HỘI và NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG
TỪ ĐIỂN ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ
Y HỌC ANH – VIỆT VÀ VIỆT – ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
Mã số : 5 04 27
Người hứơng dẫn khoa học : GSTS NGUYỄN ĐỨC DÂN
TP HỒ CHÍ MINH , NĂM 2003
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO SƯ HƯỚNG DẪN
Thành phố Hồ Chí Minh , ngày tháng năm 2003
Ký tên
GSTS NGUYỄN ĐỨC DÂN
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO SƯ PHẢN BIỆN
Thành phố Hồ Chí Minh , ngày tháng năm 2003
Ký tên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU - Trang
1 Lý do chọn đề tài - 9
2 Mục đích nghiên cứu - 9
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - 10
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài - 10
5 Kết cấu luận văn - 11
6 Phương pháp nghiên cứu - 11
7 Hướng tiếp cận tư liệu để thực hiện đề tài - 11
CHƯƠNG I : ĐẠI CƯƠNG về TỪ ĐIỂN I CẤU TRÚC VĨ MÔ 1 Khái niệm : - 13
1.1 Cấu trúc vĩ mô - 14
1.2 Các kiểu quan hệ của cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô trong từ điển - 16
2 Tính chất của các đơn vị trong cấu trúc vĩ mô -
16 3 Lựa chọn mục từ : nội dung và số lượng - 17
4 Sắp xếp mục từ trong từ điển - 19
5 Hình vẽ và bảng biểu - 20
Trang 6II CẤU TRÚC VI MÔ
1 Khái niệm - 22
2 Các thông tin trong cấu trúc vi mô - 23
2 1 Các loại thông tin - 23
2 2 Các phương tiện thể hiện trong thông tin 25
3 Xử lý thông tin về ý nghĩa từ ngữ - 27
III VẤN ĐỀ CHUẨN NGÔN NGỮ - 32
IV VẤN ĐỀ THU THẬP VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ TRONG TỪ ĐIỂN - 34
1 Thu thập ngữ liệu song ngữ - 35
2 Tiêu chuẩn lựa chọn ngữ liệu đối chiếu song ngữ Anh Việt - 36
3 Vấn đề đối chiếu thuật ngữ trong từ điển - 38
CHƯƠNG II : TỪ ĐIỂN ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ Y HỌC ANH - VIỆT 1 Mục từ trong từ điển đối chiếu Anh - Việt - 43
2 Vấn đề ví dụ trong từ điển song ngữ - 49
3 Nguồn gốc của các thuật ngữ - 61
3.1 Gốc từ Latin và Hy Lạp - 63
3.1.1 Tiền tố - 64
3.1.2 Vĩ tố - 67
Trang 73.1.3 Căn tố - 69
3.2 Gốc từ Âu Mỹ - 73
4 Chuyển dịch - 75
4.1 Từ Hán Việt - 75
4.2 Việt hóa và diễn dịch - 76
4.3 Giải thích thuật ngữ đi kèm tên thuốc ………… 76
4.4 Từ ngữ dân gian - 77
5 Cách phiên âm - 78
Các cách phiên âm - 79
Cách phát âm - 79
Cách nhấn âm
83 6 Cách chú từ loại và các ký hiệu viết tắt - 87
CHƯƠNG III TỪ ĐIỂN ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ Y HỌC VIỆT - ANH
1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển tiếng việt - 89
2 Vấn đề từ vay mượn từ Âu Mỹ trong từ điển Việt Anh - 93
3 Hệ thống các kiểu chú thích - 96
3 1 Hệ thống chú về ngữ âm , chữ viết và chính tả 98
3 2 Hệ thống chú về từ pháp - 99
3 3 Hệ thống chú về từ vựng - 105
3.4 Hệ thống chú về phạm vi nghiã - 106
Trang 84 Vấn đề chú ngữ pháp cho các từ đồng âm - 107
5 Các từ hoặc tổ hợp từ có quan hệ họ hàng - 109
6 Đảo trật tự và biến âm - 109
7 Cách dùng nói tắt - 109
8 Phương pháp xác lập dãy đồng nghiã - 110
9 Sự khác biệt giữa từ điển song ngữ chuyên ngành và từ điển song ngữ phổ thông - 115
9.1 Hệ thống chú về sắc thái biểu cảm tu từ - 116
9.2 Không có hiện tượng chuyển nghiã theo phương thức ẩn dụ và hoán dụ - 119
9.3 Hiện tượng dùng định ngữ theo thủ pháp ước lệ - 120
9.4 Từ ngữ thể hiện các điển cố văn học - 121
9.5 Lớp từ xưng gọi và chỉ người , cảm từ , trợ từ , phụ từ , kết từ và đại từ - 121
KẾT LUẬN - 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 128
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện lý luận về từ điển song ngữ phổ thông đã
ít mà lý luận về từ điển song ngữ chuyên ngành càng hiếm hơn , đặc biệt về từ điển y học ; với sự gợi ý và hướng dẫn khoa học của GSTS Nguyễn Đức Dân , chúng tôi thực hiện luận văn “ Về vấn đề xây dựng từ điển đối chiếu thuật ngữ y học Anh - Việt và Việt - Anh “ như một nghiên cứu cơ bản , hy vọng sẽ phần nào bổ khuyết mảng còn thiếu sót về lý luận biên soạn từ điển chuyên ngành y khoa
2 Mục đích nghiên cứu
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật tiến bộ từng ngày , ngoài việc xem các tài liệu đã biên soạn và dịch thuật , giới chuyên môn
y khoa còn cần tham khảo nhiều tài liệu sách báo thông tin y học bằng tiếng nước ngoài Để hỗ trợ cho các thầy thuốc làm công tác nghiên cứu , giảng dạy , giao tiếp với chuyên gia nước ngoài , dịch sách và điều trị , cũng như giúp các bạn thực tập sinh , sinh viên học tập và đọc sách báo y học tiếng Anh dễ dàng hơn , chúng tôi thực hiện luận văn này nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của người tra cứu từ điển với hy vọng rằng việc biên soạn tự điển song ngữ y học Anh Việt – Việt Anh sẽ tốt hơn và khắc phục được những nhược điểm hiện nay
Trang 103 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc thực hiện luận văn sẽ mang lại những đóng góp cụ thể như sau :
_ Về phương diện khoa học : Luận văn nghiên cứu và xây dựng một phương pháp biên soạn từ điển thuật ngữ Y học Anh - Việt và Việt - Anh , góp phần đáp ứng nhu cầu tra cứu từ vựng chuyên ngành Y – Dược – Răng Hàm Mặt Những kết quả mà luận văn thu được sẽ góp phần vào việc tham khảo và sử dụng từ vựng trong dịch thuật chuyên môn
_ Về phương diện thực tiễn của đề tài : Kết quả nghiên cứu của luận văn chỉ ra những hạn chế trong cách chú thích từ vựng trong các từ điển từ trước đến nay , góp phần quan trọng trong việc biên soạn và chú thích từ ngữ trong từ điển , giúp cho người bản ngữ cũng như người nước ngoài sử dụng từ điển để dịch tài liệu Việt - Anh , Anh - Việt dễ dàng hơn
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam đã có một số từ điển thuật ngữ chuyên ngành
y khoa khác nhau Tuy nhiên , vì nhiều lý do nên những từ điển này chưa đáp ứng được nhu cầu và kỳ vọng của giới chuyên môn và đông đảo người sử dụng Thực hiện đề tài này , chúng tôi đã tiếp thu một cách có chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên cứu đã có từ trước , cố gắng trình bày một cách có hệ thống vấn đề đặt ra và góp phần xác lập một cái nhìn tương đối toàn diện đối với những vấn đề đang tồn tại về vấn đề xây dựng từ điển Y học Việt - Anh và Anh - Việt , mà tiêu biểu là nguyên tắc
Trang 11chuẩn hóa thuật ngữ của trường phái Vienne do E Wuster đề xuất trong những năm 30 của thế kỷ XX ; trong đó nguyên tắc đơn nghĩa (monosemantic) là quan trọng nhất để tránh vấn đề nghĩa
mơ hồ Vấn đề xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ khoa học _ kỹ thuật được đặc biệt quan tâm qua hội nghị về công tác xây dựng thuật ngữ khoa học nước ngoài vào năm 1964 tại Hà Nội , nhất là tính chính xác , tính hệ thống và mức độ thông dụng của các thuật ngữ
5 Kết cấu luận văn
Toàn bộ luận văn dày khoảng 130 trang Phần chính là 119 trang , bao gồm phần mở đầu , ba chương nội dung và phần kết luận
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nầy chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu phối hợp giữa phương pháp so sánh - đối chiếu với phương pháp miêu tả đồng đại
7 Hướng tiếp cận tư liệu để thực hiện đề tài
Quan niệm xây dựng khái niệm cấu trúc nghĩa ( meaning construction ) trong thuật ngữ khoa học chính là đi tìm những dữ liệu ngữ nghĩa có liên quan đến thuật ngữ đang xét trong thực hành văn bản Đặc biệt loại văn bản giao diện có nghĩa là những văn bản truyền đạt kiến thức có liên quan đến các ngành khoa học khác nhằm nâng cao giá trị sử dụng trong giao tiếp thông tin
Trang 12khoa học kỹ thuật và quan tâm đến vốn thuật ngữ được sử dụng thực sự trong giới chuyên môn , đồng thời giải quyết vấn đề đồng nghĩa (synonym ) của hệ thống thuật ngữ được sử dụng trong một ngữ cảnh nhất định trong văn bản chuyên ngành để xây dựng một khái niệm cho một thuật ngữ cụ thể trong việc biên soạn tự điển
ở Việt Nam Ngoài ra , cần phải có sự cộng tác và hiểu biết lẫn nhau giữa nhà chuyên môn về thuật ngữ y học , bảo đảm tính khoa học trong việc chọn tư liệu y văn thực sự là tài liệu cần tham chiếu trong lãnh vực y học , đồng thời phải kết hợp tính giáo khoa và độ tin cậy ở mức cao nhất
Thông thường trong các từ điển thuật ngữ , các tác giả trình bày mô hình thuật ngữ định nghĩa Trong khi đó theo quan điểm xây dựng khái niệm thì khái niệm thuật ngữ được miêu tả thông qua ngữ cảnh ( context ) của văn bản chuyên ngành Những thuật ngữ nầy có thể là từ vay mượn như : laser , nha chu , scan , MRI, hay từ thuần Việt tùy vào tần suất được sử dụng trong thực tế và được chấp nhận trong giới chuyên môn Vấn đề dịch thuật ngữ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt có thể là thuật ngữ ghép (compound term) hay là thuật ngữ diễn giải
Trang 13CHƯƠNG I : ĐẠI CƯƠNG về TỪ ĐIỂN
I CẤU TRÚC VĨ MÔ
1 Khái niệm
Cấu trúc vĩ mô ( macrostructure ) là cấu trúc bao gồm toàn thể các mục từ được sắp xếp trong từ điển theo một trật tự xác định ; còn có thể gọi là cấu trúc tổng thể hay cấu trúc bảng từ Cấu trúc vi mô ( microstructure ) là cấu trúc toàn bộ những thông tin được trình bày một cách hệ thống trong mỗi mục từ ; còn gọi là cấu trúc mục từ Cặp thuật ngữ nầy được dùng đầu tiên trong từ điển học ở công trình của Josette Rey- Debove ( 1971 , tr 360 )
Nếu cấu trúc vĩ mô không thể thiếu được trong bất kỳ quyển từ điển nào thì cấu trúc vi mô đôi khi có thể vắng mặt ở một số từ điển , đặc biệt như từ điển Việt - Anh vì thông tin của quyển từ điển hàm chứa trong cấu trúc vi mô , trong trật tự Việt – Anh của các đơn vị mục từ
Việc xác định cấu trúc vi mô và cấu trúc vĩ mô trong từ điển là cách nhìn mới , áp dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào việc nghiên cứu từ điển
Từ trước đến nay , do rất nhiều lý do mà tổ chức trong cuốn từ điển thường bị phi cấu trúc hóa
Trước hết , đó là sự cắt đoạn , biệt lập tương đối của mỗi mục từ đối với những mục từ khác Nhiều khi , những yếu tố nằm trong lời giải thích của mục từ nào đó lại không có mặt trong
Trang 14bảng từ ; tức là thành phần của cấu trúc vi mô lại không nằm trong cấu trúc vĩ mô
Thứ hai, do số lượng rất lớn của các mục từ được sắp xếp theo trật tự hình thức nào đó ( thường là theo vần a b c ) kéo dài dọc suốt quyển từ điển cho nên những mô tả về hình thức , về cấu tạo của các đơn vị , tính chất và mức độ khác nhau về phạm
vi , sắc thái của các đơn vị dễ dàng thiếu nhất quán , rời rạc và tùy tiện
Cuối cùng , từ vựng của ngôn ngữ là một tập hợp mở , nó có số lượng đơn vị rất lớn và thường xuyên biến động : những từ ngữ mới xuất hiện và những từ ngữ cũ bị thải loại Quan niệm về cấu trúc hóa bảng từ ngữ của từ điển phải xuất phát từ đặc điểm trên Không thể đòi hỏi tính cấu trúc trong bảng từ thật rõ ràng như trong một hệ thống khép kín , chẳng hạn hệ thống âm vị , chỉ cần thay đổi một yếu tố là có thể tạo nên sự biến đổi trong cả hệ thống Cấu trúc bảng từ về cơ bản phản ánh cấu trúc từ vựng của ngôn ngữ Đó là một tập hợp chứa bên trong nhiều mối quan hệ có tính quy luật trong hệ thống từ vựng thể hiện không dứt khoát rõ ràng , và đôi khi rất khó nhận ra Cấu trúc bảng từ cần phản ánh được các quan hệ có tính qui luật đó trong hệ thống từ vựng , tránh tình trạng tùy tiện , thiếu nhất quán hoặc đơn giản , sơ lược hóa
1.1 Cấu trúc vĩ mô
Mọi đơn vị từ vựng trong toàn bộ cuốn từ điển đều phải có mặt trong cấu trúc vĩ mô Về nguyên tắc , cấu trúc vĩ mô phải là một chỉnh thể , phải trả lời được mọi vấn đề xuất hiện trong cuốn
Trang 15từ điển đó Cho nên mọi từ ngữ , mọi ký hiệu xuất hiện trong lời giải thích , trong ví dụ , trong các chú thích đều phải được thu thập trong bảng từ của từ điển Đặc biệt cần lưu ý tới hệ thuật ngữ chuyên môn ngôn ngữ học , siêu ngôn ngữ mô tả từ điển
1.2 Các kiểu quan hệ của cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô trong từ điển
Các kiểu quan hệ của cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô trong từ điển có thể được phân thành bốn trường hợp sau :
_ Cấu trúc vĩ mô nhiều và cấu trúc vi mô cũng nhiều Đó là những quyển từ điển ngôn ngữ loại lớn , từ điển bách khoa loại lớn
_ Cấu trúc vĩ mô nhiều nhưng cấu trúc vi mô ít Đây là đặc trưng của những quyển từ điển bỏ túi , những từ điển phục vụ kịp thời nhu cầu xã hội
_ Cấu trúc vĩ mô ít , cấu trúc vi mô nhiều Quan hệ nầy thường gặp ở những quyển từ điển tường giải hoặc ở những quyển từ điển chuyên môn sâu , hẹp
_ Cấu trúc vĩ mô ít , cấu trúc vi mô cũng ít Từ điển học sinh tiểu học , trung học thường xây dựng theo kiểu nầy
Bốn trường hợp trên được các nhà biên soạn từ điển lựa chọn nhằm đáp ứng yêu cầu , mục đích và tính chất của từng quyển từ điển cụ thể Sự lựa chọn phù hợp sẽ góp phần tạo nên quyển từ điển tốt
Trang 162 Tính chất của các đơn vị trong cấu trúc vĩ mô
Khi nghiên cứu cấu trúc bảng từ , người ta quan tâm tới hai mặt : a) tính chất của các đơn vị trong bảng từ ; và b) số lượng các đơn vị , xét toàn bộ hay từng bộ phận cấu thành
Ngoại diên của đơn vị mục từ trong từ điển rộng hơn khái niệm ‘ từ ’ trong ngôn ngữ ngữ pháp học L Zgusta ( 1971 ) cho rằng : “ Đại đa số các mục từ trong từ điển sẽ là những đơn vị từ vựng
“ Cụ thể , ông khẳng định , cơ sở của đơn vị trong từ điển là từ và đơn vị nhiều từ , song cũng không thể bỏ qua đơn vị nhỏ hơn từ , tức là những yếu tố tạo từ có sức sản sinh cao ( Ladislav Zgusta, Manual of Lexicography , La Haye , Mouton , 1971 ,tr 360 )
Nhìn đại thể , đơn vị mục từ trong từ điển có đặc điểm sau :
a ) Đơn vị mục từ trong từ điển là ký hiệu mặt chữ chứ không phải ký hiệu âm thanh vì từ điển là sách tra cứu , sử dụng chủ yếu đơn vị của ngôn ngữ viết Ở các ngôn ngữ châu Âu , đơn
vị từ vựng có hình thái rõ ràng , đơn vị mục từ thường là ký hiệu con chữ nằm giữa hai khoảng trống / / Trong tiếng Anh , từ trong
từ điển read , reads , reading chỉ là một từ ‘ read ‘.Với ngôn ngữ
đơn lập âm tiết tính như tiếng Việt , tiếng Hán , ranh giới từ và ngữ không phải lúc nào cũng rõ ràng , việc xử lý đơn vị mục từ phức tạp hơn
b ) Đơn vị mục từ là từ được trừu tượng hóa trong ngôn ngữ , chứ không phải từ ngữ trong thực tế sử dụng Một đơn vị mục từ trong từ điển đều ít nhiều mang tính “ danh từ “ , bất luận nó vốn thuộc từ loại nào đó trong phân loại ngữ pháp Thêm vào đó , đơn vị mục từ xuất hiện dưới hình thức trừu tượng , không kèm
Trang 17theo những dấu hiệu ngữ pháp , như những biến đổi về số , giống , cách và thì ( tense ) ở các ngôn ngữ châu Âu
c ) Đơn vị từ được xác lập dựa vào thuộc tính ngữ nghiã , chứ không đơn thuần vào ngữ pháp Các từ đồng âm được xếp vào những mục từ khác nhau Trong từ điển không phải cứ một ký hiệu con chữ nào cũng trở thành một mục từ Rất nhiều trường hợp , cùng một ký hiệu con chữ xuất hiện ở trên hai mục từ Đó
là những đồng âm ngẫu nhiên ( răng lợi và ích lợi ) , đồng âm cùng gốc ( đường mật , tiểu dường , đái tháo đường , đường huyết )
3 Lựa chọn mục từ : nội dung và số lượng
Kinh nghiệm từ điển học của thế giới , cụ thể qua ý kiến J
Rey-Debove ( 1971 , tr 330 ) thì có thể dựa vào bốn nguồn tư liệu cung cấp mục từ như sau :
- tri thức và ngữ cảm của cá nhân nhà từ điển học ,
- ngữ liệu ngôn ngữ học trong hội thoại và trên sách vở
- ngữ liệu siêu ngôn ngữ học trong từ điển hiện đại và những tác phẩm khảo sát về ngôn ngữ học ,
- từ điển bách khoa và các tài liệu chuyên ngành
Mỗi nguồn tư liệu có vai trò riêng , và hỗ trợ bổ sung lẫn nhau
Xây dựng bảng từ cho từ điển là việc làm hết sức phức tạp Hơn nữa , bảng từ của mỗi quyển từ điển phụ thuộc trước hết vào loại , cỡ và yêu cầu mục đích của cuốn từ điển đó ; vì vậy, vấn đề càng đa dạng hơn
Trang 18a ) Tâm lý phổ biến của đọc giả khi mở một quyển từ điển là muốn tìm ngay được lời giải đáp Bởi vậy , cách đánh giá chung về từ điển ngôn ngữ là mục từ càng nhiều , càng dày thì càng tốt Điều nầy liên quan trước tiên tới các lớp từ khác nhau Để có bảng từ đầy đủ , người ta tiếp thu toàn bộ bảng từ của các từ điển cũ Vậy là , những từ đã “ chết “ , những từ không xác thực , những từ sai của người trước đều được lặp lại Trong lúc đó các từ ngữ mới lại xuất hiện ngày càng nhiều Nhiều soạn giả cũng tranh thủ đưa ngay vào bảng từ những từ ngữ mới khi chưa kịp chờ đợi
vị trí ổn định của chúng trong ngôn ngữ
Thực ra , chất lượng của từ điển không hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng mục từ Số lượng mục từ nhiều nhưng pha tạp , tỉ lệ từ cũ , từ cổ , từ đã bị thải loại , từ dùng lâm thời , từ thông tục không thỏa đáng chỉ gây ra tình trạng hỗn độn , làm giảm chất lượng của từ điển Chất lượng của cấu trúc vĩ mô thể hiện chủ yếu ở việc lựa chọn mục từ thích hợp , có quan hệ cân đối và bổ sung cho nhau giữa các lớp từ vựng ngôn ngữ
b ) Trước tình hình những nghiên cứu về ngữ nghiã học , nhất là về từ điển học chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội nước ta hiện nay , việc mong muốn tìm mọi giải đáp qua từ điển ngôn ngữ còn là quan niệm phổ biến Các nhà từ điển học cũng chịu ảnh hưởng nầy nên cố gắng đưa vào cấu trúc vĩ mô rất nhiều thuật ngữ chuyên môn Hiện nay , những vấn đề độc giả đặt ra phải được giải quyết trong hàng loạt từ điển Về nguyên tắc, những thuật ngữ khoa học kỹ thuật , những tên gọi sự vật , khái niệm đang gia tăng liên tục trong xã hội cần phải được thu thập và giải thích
Trang 19đầy đủ trong từ điển bách khoa , từ điển chuyên ngành Điều nầy càng khẳng định rõ đặc điểm của từ điển ngôn ngữ : cung cấp đầy đủ nhất những thông tin liên quan tới ký hiệu ngôn ngữ , và hạn chế tới mức thấp nhất những thông tin không liên quan tới ký hiệu
c ) Trong bảng từ của từ điển ngôn ngữ , đặc biệt từ điển giải thích có tính chất chuẩn , thì lớp từ thu thập chủ yếu là lớp từ của ngôn ngữ văn hóa
Tóm lại , bảng từ của từ điển ngôn ngữ tuy dựa chủ yếu vào từ ngữ văn hoá hiện đại cần có sự kết hợp thỏa đáng , hợp lý giữa các lớp từ cũ và từ mới , lớp từ khẩu ngữ và lớp từ sách vở , lớp từ toàn dân và những từ địa phương tích cực
4 Sắp xếp mục từ trong từ điển
Không giúp đôïc giả tra cứu thì không phải là từ điển Vì thế , một trong những vấn đề quan trọng của từ điển là cách sắp xếp đơn vị mục từ Do từ điển rất đa dạng , nên kiểu sắp xếp mục từ cũng rất khác nhau Về cơ bản , có ba loại sắp xếp chính : xếp theo văn tự , theo âm và theo nghiã Hoặc gộp thành hai kiểu lớn là dựa vào hình thức và dựa vào ý nghiã
Dùng tiêu chí hình thức là các cách sắp xếp :
- Theo thứ tự chữ cái : từ đầu tới cuối ( như các từ điển thường gặp hiện nay ) xếp theo chữ cái đứng đầu từ , hoặc theo chữ cái cuối từ trở ngược lên đầu từ được gọi là ‘ Từ điển ngược ‘ ( Reverse dictionary ) ; xếp theo bộ , theo nét trong từ điển tiếng Hán
Trang 20- Theo thứ tự âm thanh : từ điển xếp theo chữ cái phiên âm hoặc ký hiệu chú âm , dựa vào vần ,
- Theo thứ tự hình thức của các thành phần từ nguyên : từ điển xếp theo gốc từ ( root ) , theo nhóm ngôn ngữ ,
Dùng tiêu chí ý nghiã là các cách sắp xếp :
- Theo mối quan hệ âm – nghĩa , đồng nghiã , gần nghiã hoặc trái nghiã
- Theo sự chuyển hóa các loại nghiã , nghiã gốc và phái sinh hoặc các từ điển loại suy
- Theo hệ thống khái niệm , như từ điển bách khoa
Trong thực tế , mỗi quyển từ điển thường dùng một kiểu sắp xếp chính và những kiểu sắp xếp bổ sung
Nhìn vào lịch sử từ điển học thế giới , cách sắp xếp theo nghiã xuất hiện trước cách sắp xếp theo hình thức Từ điển đầu tiên của các nước Ai cập , Ấn Độ , Hy Lạp , Trung Quốc đều là từ điển sắp xếp theo ý nghiã Càng ngày , cùng với sự phát triển
của từ điển học , cách sắp xếp theo hình thức đã chiếm ưu thế
Đây là một sự tiến bộ , vì nhà từ điển học không phải xử lý vấn đề phức tạp là phân loại ý nghiã , còn đôïc giả tra cứu lại thấy thuận tiện , dễ dàng
5 Hình vẽ và bảng biểu
Trong các từ điển của nước ngoài , người ta còn đưa vào khá nhiều bảng biểu , hình vẽ , tranh ảnh Có thể coi đây là bộ phận đặc biệt trong cấu trúc vĩ mô của từ điển Là thành phần của cấu trúc vĩ mô vì những hình vẽ , tranh ảnh , bảng biểu cũng phải tạo
Trang 21thành một hệ thống nhỏ nhất quán và nghiêm ngặt trong bảng từ của từ điển Tính chất đặc biệt của bộ phận nầy là sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ Hình vẽ , tranh ảnh nhiều khi chỉ thuyết minh thêm cho một mục từ cụ thể , nó có quan hệ với từng cấu trúc vi mô Còn những bảng biểu phụ lục thì lại có vị trí tương đối độc lập , riêng biệt Tuy vậy , nhìn chung loại phương tiện mang tính chất “ kỹ thuật giải thích từ điển “ nầy phụ thuộc trực tiếp cấu trúc vĩ mô
Trên đại thể , có hai loại hình vẽ minh họa Loại thứ nhất cung cấp thông tin về nội dung sự vật của đơn vị mục từ bằng hình ảnh , như hình ảnh về hoa lá , cá , chim , thú vật , máy móc Loại thứ hai cung cấp thông tin về ký hiệu ngôn ngữ , như hình vẽ biểu thị các từ chỉ quan hệ thân thuộc , biểu thị vị trí giới từ trong sự so sánh với vật chuẩn
Trên thực tế , hình vẽ loại thứ nhất là phổ biến Ở từ điển bách khoa , từ điển chuyên ngành thường không thể thiếu loại hình vẽ nầy Còn ở từ điển ngôn ngữ , nhất là từ điển học sinh , một số danh từ chỉ sự vật cũng có kèm theo hình vẽ
Hình vẽ loại hai được sử dụng ít hơn , và chỉ dùng nhiều trong từ điển ngôn ngữ Chẳng hạn , từ điển ở một số nước đang vận dụng triệt để các loại bảng biểu , như bảng các phụ tố , bảng đối chiếu một số từ chỉ quan hệ ngữ pháp , quan hệ ngữ nghiã ,
Tóm lại , tuy cùng thực hiện nhiệm vụ giải thích các thuật ngữ trong từ điển , nhưng lời giải thích ý nghiã là trừu tượng , là
Trang 22mang tính phân tích ; còn hình vẽ , bảng biểu lại cụ thể và mang tính tổng hợp
II CẤU TRÚC VI MÔ
1 Khái niệm
Cấu trúc vi mô là cấu trúc toàn bộ những thông tin được trình bày một cách hệ thống trong mỗi mục từ ; còn gọi là cấu trúc mục từ Trong từ điển mỗi mục từ có cấu tạo trọn vẹn , đứng độc lập , tách rời nhau Thoạt nhìn hình như cấu tạo của mỗi mục từ theo một kiểu riêng , có cách diễn đạt và độ dài ngắn khác nhau Nhưng thực ra tính nhất quán của cấu tạo các mục từ trong tự điển là yêu cầu bắt buộc L Zgusta cho rằng : “ Mỗi mục từ phải được xử lý như một ngăn riêng , chứa tất cả những thông tin về một đơn vị từ vựng cần cho mục đích của quyển từ điển đó “ Chẳng hạn , nếu một quyển từ điển đặt mục đích cung cấp bốn thông tin là A ( phát âm ) , B ( từ loại ) , C ( ý nghiã ) , D ( ví dụ ) thì cấu tạo của mỗi mục từ đều phải bao gồm bốn thông tin đó và theo trật tự đó Tự tăng thêm hay giảm bớt thông tin , đảo lộn trật tự trình bày các thông tin đều làm cho cuốn tự điển thiếu nhất quán , cấu trúc vi mô bị phá vỡ , ảnh hưởng lớn tới chất lượng quyển từ điển
Đặc điểm của cấu trúc vĩ mô là một cấu trúc lớn bao gồm
toàn bộ các mục từ trong tự điển , có quan hệ chặt chẽ theo nhiều
tầng bậc , và có nhiều nhóm nhỏ ; trong khi cấu trúc vi mô bao
gồm hai phần rõ rệt : phần thứ nhất là đơn vị mục từ và phần thứ hai là tất cả những thông tin khác
Trang 23L Zgusta cho rằng cấu trúc mục từ gồm hai phần , phần thứ
nhất là đơn vị mục từ gọi là phần đề , phần thứ hai chứa mọi thông tin về mục từ gọi là phần thuyết
Trên cấu trúc bề mặt , phần đề trong cấu tạo mục từ chỉ gồm một đơn vị , còn phần thuyết hiếm khi chỉ có một thông tin
mà thường gồm nhiều thông tin Nhưng ở cấu trúc sâu , mỗi thông tin đều có quan hệ trực tiếp với mục từ tạo thành một cấu trúc
đề thuyết hoàn chỉnh
Nói chính xác hơn , cấu trúc vi mô là cấu trúc bao gồm nhiều cấu trúc đề thuyết bình đẳng với nhau Các cấu trúc nầy luôn được tỉnh lược phần đề và thể hiện thành một cấu trúc đề thuyết duy nhất có phần thuyết gồm nhiều thành phần
Xác định cấu trúc mục từ là cấu trúc đề thuyết , các nhà từ điển học đã coi đơn vị mục từ là thành phần của cấu trúc vi mô ( Thậm chí , L Zgusta còn coi phần đề gồm mục từ và một số chỉ dẫn về phát âm , hình thức , từ nguyên , Còn phần chính ( phần thuyết ) có mục đích cơ bản là chỉ ra ý nghiã của đơn vị từ vựng trong mọi khía cạnh của nó ) Về nội dung , phần đề là cái đã cho , cái đã biết , đối lập với phần thuyết là cái mới , cái cần biết Song, về cấu tạo thì cả hai hợp thành một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau , thiếu một trong hai bộ phận thì không thể thành cấu trúc vi mô của tự điển Thành ra , mục từ trong từ điển là đơn vị đặc biệt , đơn vị đa chức năng , đơn vị kép : mục từ vừa là một đơn vị cơ bản của cấu trúc vĩ mô , vừa là một thành phần cơ bản của cấu trúc vi mô
Trang 242 Các thông tin trong cấu trúc vi mô
2 1 Các loại thông tin
Nội dung mới cần quan tâm và xử lý trong cấu trúc mục từ là các thông tin Trên đại thể , thông tin cung cấp trong từ điển gồm các loại sau :
_ Thông tin về hình thức của từ : cách phát âm từ ngữ , ký hiệu phiên âm quốc tế
_ Thông tin về ngữ pháp : từ loại , giống , số , cách
_ Thông tin về từ nguyên : nguồn gốc từ , nghiã của từ đa nghiã
_ Thông tin về cách dùng từ trong hoàn cảnh cụ thể qua ví dụ
_ Thông tin về ý nghiã riêng biệt của từ dùng trong chuyên môn
_ Thông tin về tính bách khoa
_ Thông tin về khả năng kết hợp của từ , tổ hợp cố định , thành ngữ , ngạn ngữ , Có những từ điển không đặt chúng trong cấu trúc vi mô , mà xếp thành một đơn vị mục từ độc lập
_ Thông tin về quan hệ liên tưởng của từ với những từ khác : từ đồng nghiã , từ gần nghiã , từ trái nghiã , từ phái sinh
_ Thông tin chuyển chú , chuyển tiếp : A ( xem B ) , A còn gọi B,
A xem thêm B
Một cấu trúc vi mô được coi là toàn diện nếu thu nạp được toàn bộ những thông tin vừa nêu Nhưng nói chung các từ điển không đưa thông tin đầy đủ như vậy Có loại tự điển chỉ đưa một
hai thông tin , như từ điển ngữ âm , từ điển chính tả , từ điển từ
Trang 25nguyên , Ngay cả những từ điển phổ thông cỡ vừa , từ điển hiện
đại , cũng thường không đưa thông tin về từ nguyên , về nghiã đặc thù Về nguyên tắc , các loại thông tin được cung cấp trong từ điển phụ thuộc vào tính chất , quy mô và mục đích của quyển từ điển Và vấn đề quan trọng là cách xử lí thông tin sao cho nhất quán , đảm bảo tính ổn định và chặt chẽ của cấu trúc vi mô
2 2 Các phương tiện thể hiện trong thông tin
Trong từ điển , bản thân phần đề _ mục từ _ đã cung cấp một thông tin tối thiểu Đó là thông tin về hình thức văn tự của từ
Ở các ngôn ngữ biến hình , mục từ có thể cung cấp thêm thông tin về từ pháp , như từ loại , giống , số , cách Với văn tự ghi phiên âm , mục từ sẽ cung cấp thêm thông tin về cách phát âm
Các phương tiện biểu thị thông tin ở phần thuyết thường đa dạng , phụ thuộc vào đặc điểm ngôn ngữ và truyền thống từ điển học mỗi nước Chẳng hạn , thông tin về phát âm được cung cấp đầy đủ ở các từ điển tiếng Anh , nhưng chỉ xuất hiện trong tiếng Việt trong trường hợp đặc biệt , khi từ có cách đọc khác với cách đọc của chính tả ghi phiên âm thông thường
Các thông tin về từ loại , phong cách thường dùng ký hiệu
chữ viết tắt ; ví dụ trong Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên có các ký hiệu như sau : cd ( ca dao ) , dt ( danh từ ) , đgt
( động từ ) , đt ( đại từ ) , lt.( liên từ ) , ng ( nghĩa ) , Nh ( như ) , pht ( phụ từ ) , tht ( thán từ ) , thg ( thành ngữ , tục ngữ ) , trt ( trợ từ ) ,
tt ( tính từ ) ; trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thì có
thêm : kng ( khẩu ngữ ) , id ( ít dùng ) , Các thông tin về ý
Trang 26nghiã , cách dùng , thường được trình bày đầy đủ Sự khác biệt nầy phản ánh sự đối lập về tính trừu tượng , tính cụ thể của thông tin Với những thông tin trừu tượng , được quy lớp , quy loại thì người ta biểu thị bằng những ký hiệu tượng trưng để tiết kiệm chỗ Chỉ những thông tin cụ thể , riêng biệt mới phải trình bày đầy đủ
Một đặc điểm cơ bản của cấu trúc vi mô là tính ổn định , chặt chẽ và nhất quán Nhưng nhìn vào cuốn từ điển bất kỳ người ta sẽ dễ dàng nhận ra , hình như mỗi mục từ có một kiểu cấu trúc riêng , không giống với những mục từ khác vì thông tin trong từ điển được dồn nén hết sức cô đọng Văn bản từ điển , một mặt , phải thể hiện cấu trúc tổng quát đã được lựa chọn , và mặt khác , thích ứng trong mỗi trường hợp cụ thể Khi xây dựng mã cho từ điển , một số nhà tin học đã nhận xét : “ Từ điển mang rõ tính hai mặt giữa cấu trúc bề mặt ( văn bản ) và cấu trúc bề sâu ( nội dung thông tin ) của chúng Phần lớn các thông tin bề sâu là không tường minh như cấu trúc bề mặt , nhưng đòi hỏi
tri thức về các quy ước viết tắt và bố trí của từ điển “ ( Mã hoá
từ điển 1995 )
Về chức năng , trong từ điển có hai loại thông tin :
_ Với thông tin toàn thể , như từ loại , ý nghiã , mỗi mục từ đều phải được lắp đầy theo kiểu tuyển chọn “ hoặc X hoặc Y “
_ Với thông tin khu biệt trạng thái chuẩn hoặc phi chuẩn thì cần dựa vào đặc trưng của từ điển Một loại thư tịch được giả định là tiêu chuẩn thì cái chuẩn ở đó là tất nhiên , bình thường , không cần phải đánh dấu , và chỉ thông tin phi chuẩn mới cần hiển hiện
Trang 27Chẳng hạn như , tiếng Việt là văn tự ghi âm , từ chuẩn không cần chú âm , chỉ có từ đọc không đúng nguyên tắc ghi âm tiếng Việt mới cần chú âm ( như , SIDA , đọc “ si đa” ) Do vậy , từ điển chỉ chú những từ khẩu ngữ , thông tục hoặc văn chương mà không chú các từ có sắc thái chuẩn trung tính ; chỉ chú từ cổ , từ địa phương mà không chú từ chuẩn toàn dân đang được sử dụng trong ngôn ngữ hiện thời
3 Xử lý thông tin về ý nghĩa từ ngữ
3 1 Trong số những thông tin cung cấp trong từ điển , ý nghiã là thông tin quan trọng nhất Nó được coi là hạt nhân của cấu trúc vi mô
Khi xây dựng cấu trúc vĩ mô , người ta đã sử dụng tiêu chí
ý nghiã để chọn đơn vị và tách từ đồng âm Nhưng vấn đề đồng âm vẫn còn được đề cập tới ở cấu trúc vi mô
a Đồng âm ngẫu nhiên trong ngôn ngữ thường được nhận
diện dễ dàng Đó là những từ khác nhau nhưng có chung hình thức ngữ âm và chính tả Sự khác nhau biểu hiện ở nhiều mặt :
- Đặc điểm từ pháp ngang nhau : về từ loại ( đường huyết , tiểu đường ) , về khả năng sử dụng độc lập ( tiểu đường , đường tiết niệu )
- Đặc điểm ngữ nghĩa khác nhau , thể hiện ở nghiã biểu vật
và nghiã biểu niệm khác nhau ( ca nước , làm ca đêm , ca cấp
cứu , ca một bài vọng cổ ) , nghiã sắc thái , phong cách , phạm vi khác nhau ( bờ kinh , tắc kinh , triệu về kinh ( kết hợp hạn chế ) kinh thi , động kinh , kinh mùi xăng )
Trang 28b Đồng âm cùng gốc là những từ đồng âm vẫn còn gợi lên
ít nhiều liên hệ về ngữ nghiã Ví dụ : bệnh tim mạch , thiếu máu
cơ tim Nét nghiã mối quan hệ trực tiếp vẫn tồn tại giữa ba từ này
Xử lý chúng là từ đồng âm cùng gốc sẽ tốt hơn trong nhận thức và liên tưởng ngữ nghiã ở người đọc và học ngôn ngữ
Hầu hết các đơn vị từ vựng , nhất là những đơn vị thường dùng , đều là đa nghiã , cho nên xử lý hiện tượng đa nghiã trong từ điển là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà từ điển học
Sự sắp xếp trật tự các nghiã của từ đa nghiã là căn cứ vào quan hệ nội bộ giữa các nghiã Hơn nữa , đây còn là vấn đề kỹ thuật biên soạn từ điển Cách trình bày trật tự đa nghiã có thể dựa vào những cơ sở khác nhau như sau :
- Theo quan điểm lịch sử , nghiã xuất hiện đầu tiên là nghiã gốc , đối lập với các nghiã sau là nghiã phái sinh
- Theo sự phát triển logic , đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng , từ cái chính , cơ bản đến cái phụ
- Theo quan điểm ngữ nghiã sẽ có nghiã trội và các nghiã sau Nghiã trội là nghiã rộng , trung tính , ít phụ thuộc và ngữ cảnh , gợi lên ở người nghe sự liên tưởng đầu tiên tới tổ hợp âm thanh vừa nhắc tới
Ba cách trình bày trên dựa theo ba cách nhìn khác nhau , nhưng không mâu thuẫn nhau , thậm chí nhiều trường hợp trùng nhau giữa nghiã trội , nghiã gốc và nghiã chính Tất nhiên nhà từ điển học sẽ đứng trên quan điểm ngữ nghiã để xử lý trật tự đa nghiã
Trang 29Các nghiã của từ đa nghiã được trình bày trong các từ điển theo trật tự hình tuyến , đơn giản Điều nầy không phản ánh đầy đủ các mối quan hệ cấp bậc , tôn ti và đa dạng trong cấu trúc đa nghiã của từ Đó chính là hạn chế của từ điển Để khắc phục , đôi khi người ta phân ra các nhóm nghiã khi có nhiều nghiã trội phát triển theo những hướng khác nhau
3.2 Yêu cầu chung trong định nghiã từ điển
a Khác với định nghiã logic nhằm xác định đối tượng theo những đặc trưng cơ bản , định nghiã từ điển mô tả những nét ngữ nghiã quan trọng nhất của từ nhằm khu biệt nó với các từ khác Định nghiã lô gích đi vào bản chất đối tượng , khái niệm , định nghiã tự điển vạch ra đặc trưng khu biệt cần yếu theo nhận thức của người nói ngôn ngữ đó Bởi vì khái niệm khoa học vốn được phân định rạch ròi chính xác trong hệ thống khoa học , còn biểu vật của nghiã từ thường chồng chéo lên nhau Chẳng hạn , trong tiếng Việt , “ bệnh ” ( disease ) và “ bệnh lý “ ( pathology ) có rất nhiều nét trùng lên nhau , nếu nhấn mạnh quá nhiều sự khác nhau thì sẽ là sai lầm Cho nên , nếu trong định nghiã logic tuyệt nhiên không dùng đồng nghiã , không dùng từ bao sai , không dùng phương pháp định nghiã bằng phủ định , thì những thủ pháp nầy vẫn được sử dụng trong định nghiã từ điển
b Định nghiã từ điển phải khái quát để bao hàm được mọi khả năng , mọi trường hợp sử dụng từ Ví dụ , định nghiã ăn là ‘ tự đưa vào cơ thể thức nuôi sống ‘ dường như là chưa đủ , chưa cụ thể , bởi vì còn thiếu các nét như ‘ bằng miệng ‘ , ‘ nhai ‘ ,’ nuốt ’ ,
Trang 30Nhưng nếu đưa nhiều chi tiết thì sẽ dài dòng mà không bao được các trường hợp
c Về nguyên tắc , phải dùng từ dễ để định nghiã từ khó , và không được dùng từ đứng ở mục từ trong lời giải thích Từ trong lời giải thích phải có sắc thái trung tính , không phải là từ cổ , từ địa phương , từ thông tục , từ ít dùng Có những từ điển quy định sẵn một danh sách các từ được dùng để định nghĩa các từ khác
Ví dụ trong quyển “ An International Reader’s Dictionary “ của Michael West đã dùng 1.490 từ cơ bản để định nghĩa cho 24.000 mục từ trong từ điển đó
d Lời định nghiã phải có đặc trưng ngữ pháp phù hợp với đặc điểm ngữ pháp của mục từ Chẳng hạn , danh từ cần được định nghiã bằng cấu trúc danh ngữ
Đặc điểm cơ bản của lời giải thích trong từ điển là cách giải thích tự nhiên - kiểu giải thích thường gặp trong đời sống
Giải thích tự nhiên là diễn đạt từ ngữ A bằng từ ngữ B , trong đó A và B phải có cùng nội dung , B phải đồng nghiã với A Mọi ngôn ngữ và mọi trường hợp đều có thể diễn đạt một từ ngữ bằng cách khác , thường là nhiều từ ngữ hơn Đó là khả năng của ngôn ngữ , khả năng triển khai và mở rộng Như vậy , giải thích tự nhiên có hai đặc điểm : a ) đây là một hoạt động tự nhiên trong đời sống xã hội khi có yêu cầu làm cho người khác hiểu mình , bằng cách sử dụng năng lực mở rộng , triển khai của ngôn ngữ ; b ) dùng cái dễ để giải thích cái khó , từ biết rồi để giải thích từ chưa biết
Trang 31Nhưng áp dụng toàn bộ cách giải thích tự nhiên vào từ điển thì sẽ gặp trở ngại Trước hết , giải thích tự nhiên nảy sinh trong hoàn cảnh cụ thể , có quan hệ giữa người nói – người nghe , chỉ cần làm cho người đối thoại hiểu là đạt mục đích Còn đối tượng của từ điển là người đọc có trình độ trung bình , tư duy theo ngôn ngữ của xã hội hiện thời nên lời giải thích từ điển phải khái quát hơn và chuẩn mực hơn Ngoài ra , số lượng từ ngữ được giải thích trong từ điển rất lớn , từ khó được giải thích bằng từ dễ , còn từ dễ sẽ được giải thích như thế nào vẫn là cái “ vòng luẩn quẩn “ thừơng nảy sinh trong việc biên soạn từ điển
Giải thích nghiã từ bằng phương pháp bao là phương pháp
định nghiã của logic học thường gặp nhất Nội dung của nó là quy sự vật , hiện tượng , khái niệm vào khái niệm cùng loại rộng hơn , rồi vạch ra những đặc trưng khu biệt của của khái niệm được giải
thích Điều khó nhất trong phương pháp bao là tìm khái niệm bao
đúng , vừa phải , không quá rộng , mà cũng không quá hẹp
Giải thích bằng từ đồng nghĩa là kiểu giải thích rất phổ biến trong từ điển Trong ngôn ngữ có rất ít từ đồng nghiã hoàn toàn , nên khi giải thích bằng từ đồng nghiã cần vạch ra các sắc thái , cách dùng , phạm vi sử dụng , khác nhau Ngoài ra , để tránh cách giải thích lòng vòng , từ được dùng giải thích cần có nghiã rộng , trung tính , đã được giải thích bằng phương pháp mô tả
Trong từ điển có một lớp từ được giải thích theo kiểu sau :
“ trắng “ : có màu như màu của vôi , bông ; “ khét “ : có mùi như mùi của vải , lông , tóc cháy Đây là những từ mà nghiã của nó
Trang 32rất khó phân ra các nét nghiã một cách mạch lạc và đơn giản Người ta dùng cách định nghĩa ‘ trỏ ra ‘ ( ostensive definition ) , tức là đưa nó ra so sánh với một đối tượng của thế giới ngoài ngôn ngữ Đối tượng ngoài ngôn ngữ được chọn phải là cái điển hình nhất , phổ biến nhất , có thuộc tính dễ gợi sự liên tưởng nhất tới nghiã của từ Phương pháp giải thích “ chỉ trỏ “ được áp dụng với những từ biểu thị sự cảm nhận trực tiếp hiện thực như cảm nhận về màu sắc , mùi , vị , âm thanh
Từ hư trong ngôn ngữ là lớp từ đặc biệt Nó không biểu
thị hiện tượng sự vật cụ thể mà biểu thị quan hệ ngữ pháp trong
ngôn ngữ Như vậy , lời giải thích nghiã từ hư sử dụng siêu ngôn
ngữ ký hiệu chứ không phải siêu ngôn ngữ nội dung Siêu ngôn ngữ ký hiệu có đặc điểm là :
- Không có khả năng thay thế từ trong những ngữ cảnh sử dụng của từ đó , như ở trường hợp siêu ngôn ngữ nội dung
- Không mang đặc điểm của kiểu giải thích tự nhiên , mà thiên về tính phân tích của tư duy logic
- Tạo nên những định nghiã chính xác trong những trường hợp cần thiết
III VẤN ĐỀ CHUẨN NGÔN NGỮ
Dù ít hay nhiều , từ điển ngôn ngữ vẫn mang tính chất giáo khoa , mô phạm Tuy nhiên , điều này trái với nguyên tắc mô tả khách quan theo quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại Hạn chế này là do tính chủ quan của người biên soạn và do nhu cầu đăït
ra của rất nhiều loại từ điển giáo khoa , từ điển chuẩn
Trang 33Tiếng Việt đang ở trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ do đòi hỏi sự phát triển văn hóa , khoa học , kinh tế , xã hội của nước
ta và do kết quả của giao lưu quốc tế , của quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ các nước ngày càng mở rộng Hàng ngày có nhiều hiện tượng mới nảy sinh , do vậy có những chuẩn mới hình thành bên cạnh những chuẩn cũ đã lỗi thời nhưng vẫn còn tồn tại Trong khi đó nền văn hoá tiếng Việt cần có một hệ thống chuẩn được xác định rõ ràng và nhất quán
Từ điển là sách công cụ ngôn ngữ quan trọng nhất và có tác dụng lớn đối với việc chuẩn hóa ngôn ngữ Từ điển phải phản ánh đầy đủ , trung thực trạng thái của ngôn ngữ ở một thời điểm nhất định nhưng không chỉ phản ánh cái tỉnh mà còn phản ánh cái động , cái xu thế phát triển
Từ điển tiếng Việt đã quán triệt quan điểm nói trên Các từ ngữ trong tiếng Việt văn hóa có đủ từ ngữ tương đương cũng như được chú thích , định nghiã đơn giản bằng từ ngữ tương đương bằng tiếng Việt văn hoá , hoặc chuyển chú thích sang từ ngữ tương đương ấy
Trong tiếng Việt có một số vấn đề nổi lên từ nhiều năm nay được nhiều người quan tâm và đã từng gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi nhưng đến nay vẫn chưa được nhất trí Đó là chính tả của những tên riêng nước ngoài và của những từ ngữ có tính quốc tế ; phần lớn là thuật ngữ khoa học – kỹ thuật , gần đây chủ yếu là tiếng Anh Từ điển tiếng Việt ( Hoàng Phê chủ biên ,
1992 ) đã tán thành chủ trương “ viết nguyên dạng “ chính tả có tính quốc tế Đối với tên riêng nước ngoài thì đó là dạng chính
Trang 34tả bằng mẫu tự Latin dùng phổ biến trong các ngôn ngữ chính trên thế giới Viết nguyên dạng như vậy đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hóa với các nước đang ngày một tăng , để có chính tả thống nhất và tạo ra được sự thống nhất quốc tế Trong những vấn đề ngôn ngữ như vấn đề nầy , thực tiễn cuộc sống có tiếng nói quyết định Trên thực tế những năm gần đây , lối chính tả viết nguyên dạng có xu thế ngày càng phổ biến rõ rệt
Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đặt ra , chúng tôi áp dụng các tiêu chuẩn sau đây trong khi xem xét lựa chọn ngữ liệu song ngữ Anh – Việt :
1 Chuẩn ngôn ngữ : ngữ liệu tiếng Anh cũng như tiếng Việt đều phải là những câu được xem là chuẩn mực
2 Cách dịch 1 - 1 : các ngữ liệu song ngữ Anh Việt phải thực sự là bản dịch đơn nghĩa , không được dịch thừa ý , dịch tóm lược hay diễn giải
3 Ngữ liệu phải phù hợp với phong cách và lĩnh vực của đối tượng nghiên cứu ( ví dụ như Y khoa )
4 Nguồn ngữ liệu song ngữ Anh – Việt : Y Dược , Bách Khoa , trong mỗi từ điển , ở mỗi mục từ , thường đều chứa các ví dụ hướng dẫn sử dụng từ đó , và các ví dụ bằng tiếng Anh nầy cũng được dịch chính xác ( 1 – 1 ) sang tiếng Việt nên có thể đáp ứng yêu cầu về chuẩn ngôn ngữ
IV VẤN ĐỀ THU THẬP VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
TRONG TỪ ĐIỂN
Trang 35Thu thập và giải thích thuật ngữ trong từ điển giải thích là một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp nhất của công tác biên soạn từ điển Vấn đề nầy chỉ có thể giải quyết đúng đắn trên cơ sở nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và sự chính xác của thuật ngữ trong quá trình phát triển khoa học , phát triển kinh tế xã hội , trong giao tiếp , trong việc chuẩn hóa thuật ngữ , về nhiệm vụ và tầm quan trọng của từ điển tường giải , về sự phân biệt từ điển tường giải với từ điển bách khoa , thông tin ngôn ngữ học với thông tin bách khoa
1 Thu thập ngữ liệu song ngữ
Trước đây , để có được ngữ liệu song ngữ , các nhà ngôn ngữ học so sánh thường dùng các tác phẩm văn học nổi tiếng tiếng Việt hoặc nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt để làm cứ liệu nghiên cứu Việc thu thập nầy đều được thực hiện thủ công bằng cách ghi lại bằng tay hằng vạn cặp từ vựng và tương ứng của các tác phẩm song ngữ đã được chọn , nên đòi hỏi công sức và thời gian rất lớn
Danh mục thuật ngữ y học của từ điển được xây dựng trên
cơ sở tham khảo các phiếu trích dẫn từ các tài liệu y khoa , báo chí y học , tài liệu phổ cập khoa học và các nghiên cứu có liên quan , kể cả việc tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn
Nguyên tắc và cách thức lựa chọn thuật ngữ để đưa vào từ điển đều khác nhau do nhận thức về vai trò tính chất , chức năng của từ điển , và kích cỡ của từ điển khác nhau Ngữ liệu song ngữ chuyên ngành có thể được thu thập từ :
Trang 36- Các nguồn từ điển đơn ngữ tiếng Việt , tiếng Anh và từ điển song ngữ Việt – Anh và Anh – Việt
- Nguồn ngữ liệu SUSANNE : đây là ngữ liệu chuẩn tiếng Anh dạng điện tử , đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng , ngữ liệu nầy đã được đánh dấu sẳn các thông tin về hình thái , từ loại và cú pháp tiếng Anh , được dùng chủ yếu để xử lý tiếng Anh
- Nguồn sách khoa học – kỹ thuật tiếng Anh và tiếng Việt
- Nguồn sách chuyên ngành y khoa tiếng Anh và tiếng Việt
- Nguồn internet
Để thu thập và định nghĩa tốt thuật ngữ trong quyển từ điển tiếng Việt phổ thông , cần xuất phát từ yêu cầu chung của nước ta hiện nay , từ tính chất và đối tượng phục vụ của quyển từ điển và đặc điểm của hệ thống thuật ngữ trong nước
Hiện nay , với sự ra đời của máy tính điện tử , việc thu thập ngữ liệu song ngữ đã được tự động hóa rất nhiều Người ta chỉ việc tổ chức , sắp xếp lại theo mục đích nghiên cứu
2 Tiêu chuẩn lựa chọn ngữ liệu song ngữ Anh Việt
Hiện nay số lượng thuật ngữ đã rất lớn và ngày càng tăng , thuật ngữ riêng của từng ngành cũng còn nhiều chỗ chưa hợp lý cần được chấn chỉnh Tình hình đó đòi hỏi phải dựa vào những tiêu chuẩn nhất định để có căn cứ lựa chọn thuật ngữ giải thích trong từ điển như :
- Tính chất khoa học
- Tính quốc tế
Trang 37- Vấn đề từ vay mượn Aâu – Mỹ trong từ điển tiếng Việt
- Hệ thống chú từ về từ vựng
- Hệ thống chú từ về phạm vi nghĩa
- Hiện tượng dùng định ngữ theo thủ pháp ước lệ
- Dùng cách nói tắt
- Phương pháp biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
Từ ngữ khoa học hay thuật ngữ là lớp từ biểu thị khoa học chuyên môn kỹ thuật Thuật ngữ là một bộ phận của hệ thống từ vựng ngôn ngữ , cũng bị chi phối bởi những quy luật chung của ngôn ngữ đó Song thuật ngữ lại tạo thành một hệ thống riêng ,
mang những đặc điểm riêng
Đối tượng phục vụ chủ yếu của từ điển là người có trình độ văn hoá phổ thông Người đọc dùng từ điển để tìm hiểu nghiã từ chứ không để nghiên cứu sâu về chuyên môn Tuy nhiên với sự phát triển về kỹ thuật và văn hóa , trình độ hiểu biết phổ thông cũng đang tăng lên dần , người đọc muốn nắm khái niệm một cách rõ ràng để hiểu nghĩa của từ một cách chích xác hơn , chúng
ta cần xuất phát từ hoàn cảnh đó để chọn và giải thích thuật ngữ đúng với yêu cầu của đối tượng
Từ điển tiếng Việt phải thực hiện 3 chức năng xã hội liên quan mật thiết với nhau Đó là chức năng thông tin , chức năng phục vụ giao tiếp và chức năng chuẩn hóa ngôn ngữ
Trong việc thực hiện chức năng thông tin , từ điển thu thập các đơn vị từ vựng của tiếng Việt , cung cấp cho người đọc những kiến thức về ngữ nghiã , về từ loại và đặc điểm tu từ của từng đơn vị Người tra cứu từ điển nắm được các thông tin đó , hiểu
Trang 38được các từ ngữ , do đó mà hiểu được các văn bản và ở mức độ cao hơn là sử dụng được những từ ngữ đó trong giao tiếp
3 Vấn đề đối chiếu thuật ngữ trong từ điển
Ý thức được tầm quan trọng của thuật ngữ đối với việc
chuẩn hóa ngôn ngữ , Từ điển tiếng Việt đã thu thập và giải thích
một số lượng lớn các thuật ngữ trong các lãnh vực chánh trị kinh tế , khoa học kỹ thuật và các từ nghề nghiệp chuyên môn cũng như các nghiã thuật ngữ mới của các từ ngữ thông dụng
Nhìn chung , Từ điển tiếng Việt đã cung cấp những thông tin
đương đại chính xác về cả hai loại thông tin ngôn ngữ học và thông tin bách khoa chứa đựng trong thuật ngữ , xử lý chúng một cách có phương pháp , trên cơ sở lý luận ngôn ngữ học và những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học có liên quan
Đa số thuật ngữ trong Từ điển tiếng Việt được định nghiã
ngắn gọn chính xác và đơn giản Các định nghiã thuật ngữ đều dựa vào kiến thức khoa học về khái niệm nhưng không cung cấp đầy đủ kiến thức như trong từ điển bách khoa Thí dụ : acid được định nghiã là “ hợp chất có thể tác dụng với một base làm sinh
ra một chất muối “ , mà không nêu thuộc tính khác , thường có trong một số từ điển nước ngoài như “ chuyển rượu quỳ từ màu xanh sang màu đỏ “
Định nghiã đã cố gắng phản ánh tính hệ thống trong cấu trúc của thuật ngữ Tính hệ thống là một đặc điểm quan trọng của thuật ngữ , biểu hiện không những ở mặt hình thức cấu tạo
Trang 39mà cả ở mặt nội dung khái niệm do thuật ngữ biểu thị Từ điển tiếng Việt đã phân loại thuật ngữ thành từng nhóm có cấu trúc nghiã giống nhau , gần nhau và định nghiã chúng theo một công thức chung , do đó đảm bảo được tính nhất quán của từ điển
Đối chiếu định nghiã thuật ngữ acid đã nêu trên với thuật ngữ base ( ba zơ ) thì thấy rõ đặc điểm của hai loại hợp chất nầy ,
qua đó cũng thấy phương pháp làm việc của các tác giả : base :
“ hợp chất có thể tác dụng với một acid làm sinh ra một chất muối “ Trong định nghiã một số thuật ngữ có phản ánh kết quả
quan sát lâu đời của dân gian , đúc kết trong các thành ngữ , tục
ngữ ; như khi miêu tả con cá chày , có sử dụng chi tiết mắt đỏ
( thành ngữ : mắt đỏ như cá chày ) ; miêu tả cây bứa , có nêu chi
tiết cành ngang ( thành ngữ : ngang cành bứa )
Từ điển tiếng Việt đã giải quyết tương đối hợp lý việc tách và gộp nghiã Một trong những đặc điểm của khoa học ngày nay là sự xâm nhập lẫn nhau , sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và sự hợp nhất giữa các ngành khoa học liên quan gần gũi Điều đó dẫn đến tình hình các nhà khoa học thuộc lĩnh vực khoa học nầy sử dụng thuật ngữ của các lĩnh vực khoa học khác Xuất hiện những thuật ngữ được dùng chung giữa nhiều ngành , và ở mỗi ngành có thể có sắc thái ý nghiã khác , những thuật ngữ vừa là yếu tố của hệ thống nầy vừa là yếu tố của hệ thống kia và trong mỗi hệ thống , thuật ngữ đó có vị trí xác định , có giá trị riêng của nó
Chẳng hạn các từ cấu trúc , chức năng vừa là thuật ngữ của
ngành ngôn ngữ học , vừa là thuật ngữ của các ngành sinh lý học , hành chính , xây dựng
Trang 40Nhưng khi các sắc thái ý nghiã đã khác nhau rõ ràng như trong từ “chức năng “ thì các nghiã đã được tách riêng
Chức năng 1 Hoạt động , tác dụng bình thường hoặc đặc
trưng của một cơ quan , một hệ cơ quan nào đó trong cơ thể Chức
năng của da là bảo vệ cơ thể Chức năng sinh lý 2 Tác dụng ,
vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào , một cái gì
đó Làm đúng chức năng Chức năng giáo dục của văn nghệ
Định nghiã của từ điển tiếng Việt về các nguyên tố hóa học còn quá đơn giản , thường chỉ dừng lại ở việc mô tả một số đặc tính bên ngoài như màu sắc , mùi vị , công dụng , v v mà ít nêu lên những thuộc tính cơ bản như tính chất hoá học , khả năng và điều kiện kết hợp với các chất khác , không có chú thích về ký hiệu hóa học , nguyên tử gam , số điện tử
Lấy từ “ nước “, một từ thông thường nhưng cũng mang nội dung thuật ngữ khoa học , làm ví dụ Từ điển tiếng Việt miêu tả
một số tính chất vật lý của nước mà người đọc ở trình độ bình thường hiểu được : “ chất lỏng không màu , không mùi và trong suốt
, khi là nguyên chất tồn tại trong tự nhiên ở sông hồ , ở biển “ Từ
điển Webster giải thích nước là “ chất lỏng không màu sắc , trong
suốt , tồn tại trên mặt đất ở sông hồ , đại dương , rơi từ mây xuống khi có mưa , về mặt hóa học là hợp chất của Oxy và Hydro , trong điều kiện thí nghiệm đóng băng ở 32 độ F ( tức 0 độ C ) và sôi ở
212 độ F ( tức 100 độ C ) “ Từ điển Robert thường ( Petit Robert )
cũng có định nghiã tương tự với Từ điển Tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên ; và có chua thêm trong ngoặc đơn như sau : ( formule chimique : H20 ) [ Công thức hóa học