Hoà Chớ Minh qua trửụứng hụùp caực quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp lμ một vấn đề có ý nghĩa khoa học, lý luận, thời sự vμ thực tiễn cấp bách, nhằm dựng lại bức tranh tổng thể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Thủy
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Từ 1975 đến 1996
(Trường hợp các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp )
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 5 O3 15
Người hướng dẫn khoa học
1 Lê Hữu Phước – TS Lịch sử
2 Hà Minh Hồng – TS Lịch sử
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình khoa học:
“ Quá trình đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến
1996
(Trường hợp các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp )”
do chính tác giả thực hiện
Tất cả các trích dẫn, các số liệu đều có chú thích nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, trung thực, đáng tin cậy
Tác giả
Trang 3XHCN Xã hội chủ nghĩa
CN-TTCN Công nghiệp –tiểu thủ công nghiệp HĐBT Hội đồng Bộ trưởng
KHKT Khoa học kỹ thuật
KHCN Khoa học công nghệ
KHXH Khoa học xã hội
NGTK Niên giám thống kê
UBND Ủy ban Nhân dân
Trang 4Dẫn luận 01
1 Lý do, mục đích chọn đề tài 01
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 03
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 08
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 10
5 Những đóng góp của luận án 11
6 Bố cục của luận án 12
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VÀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ Ở QUẬN 8, BÌNH THẠNH, TÂN BÌNH, GÒ VẤP TRƯỚC 1975 15
1.1 Khái luận về đô thị hoá 15
1.2 Quá trình đô thị hoá ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình và Gò Vấp trước 1975 31
1.2.1 Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình và Gò Vấp trong không gian thành phố Hồ Chí Minh 31
1.2.2 Quá trình đô thị hoáở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình và Gò Vấp trước 1975 35
Chương 2: CHUYỂN BIẾN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở QUẬN 8, BÌNH THẠNH, TÂN BÌNH, GÒ VẤP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA (1975 – 1996) 44
2.1 Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế 45
2.1.1 Thời kỳ 1975 -1985 45
2.1 2 Thời kỳ 1986 -1996 50
Trang 52.2.2 Thời kỳ 1986 -1996 62
2.3 Nông nghiệp giảm dần và giảm nhanh từ khi Đổi mới 67
2.3.1 Thời kỳ 1975 -1985 67
2.3.2 Thời kỳ 1986 -1996 76
2.4 Cơ sở hạ tầng phát triển khá nhanh nhưng chưa đồng bộ 82
2.4.1 Thời kỳ 1975 -1985 82
2.4.2 Thời kỳ 1986 -1996 86
Chương 3: CHUYỂN BIẾN VỀ DÂN CƯ VÀ ĐỜI SỐNG CƯ DÂN Ở QUẬN 8, BÌNH THẠNH, TÂN BÌNH, GÒ VẤP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ (1975 - 1996) 93
3.1 Sự gia tăng dân số 93
3.1.1.Thời kỳ 1975 -1985 94
3.1.2.Thời kỳ 1986 -1996 96
3.2 Sự chuyển dịch về cơ cấu dân cư 111
3.2.1 Thời kỳ 1975 -1985 112
3.2.2 Thời kỳ 1986 -1996 117
3.3 Sự chuyển biến trong đời sống dân cư 120
3.3.1 Đời sống vật chất 120
3.3.2 Nhà ở 130
3.3.3 Đời sống văn hoá tinh thần 136
3.3.4 Chất lượng giáo dục 146
3.4 Sự phân hoá giàu nghèo 153
Kết luận 167
Tài liệu tham khảo 178
Phụ lục 204
Trang 6DAÃN LUAÄN
I LYÙ DO, MUẽC ẹÍCH CHOẽN ẹEÀ TAỉI
Đô thị hoá (urbanization) lμ một hiện tượng mang tính quy luật tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của xã hội loμi người “Trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hoá vμ phương thức tổ chức cuộc sống xã hội Quá trình đô thị hoá cũng lμ quá trình phát triển về kinh tế, xã hội, văn hoá vμ không gian kiến trúc Nó gắn liền với tiến bộ của khoa học - kỹ thuật vμ sự phát triển của các ngμnh nghề mới" [19, tr.18]
Thực tiễn phát triển của đô thị Việt Nam nói chung vμ thμnh phố Hồ Chí Minh nói riêng từ sau ngμy đất nước thống nhất cho thấy hệ thống đô thị của nước ta có những biến đổi to lớn vμ nhanh chóng, đặc biệt lμ trong thời kỳ Đổi mới, từ 1986 trở đi Điều nμy được thể hiện trên hai phương diện chủ yếu:
Một lμ, diện mạo, bộ mặt của phố phường ngμy cμng sống động, sầm
uất, thμnh phố - đô thị được mở rộng, các công trình xây dựng, nhμ ở mọc lên ngμy cμng nhiều, khang trang, đẹp đẽ hơn; cơ sở hạ tầng ngμy cμng phát triển
vμ hiện đại hơn, hμng hoá ngμy cμng nhiều, đa dạng, phong phú, chất lượng, tiện nghi sinh hoạt ngμy cμng hiện đại, tiện lợi v.v
Hai lμ, những biến đổi mang tính chiều sâu trong thμnh phần xã hội dân
cư, trong lối sống, các định hướng giá trị, các mô thức ứng xử vμ văn hoá của các tầng lớp dân cư đô thị
Tuy nhiên, ngoμi những lợi thế, vai trò đã được tạo dựng, phát huy, đô thị Việt Nam nói chung, thμnh phố Hồ Chí Minh nói riêng (với tư cách lμ thμnh phố - đô thị lớn nhất nước) cũng đã vμ đang bộc lộ những nhược điểm của nó Theo đó, người ta có thể liệt kê một danh mục rất dμi các vấn đề thuộc "hội chứng đô thị" lμm đau đầu các nhμ quản lý vμ quy hoạch, mμ tựu trung lại lμ sự phát triển không bền vững, sự suy giảm môi trường sống của con người ẹieàu
Trang 7naứy cuừng boọc loọ roừ neựt trong quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự nhieàu vuứng xung quanh noọi thaứnh thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh, maứ tieõu bieồu laứ quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp
Do ủoự, việc nghiên cứu quá trình đô thị hoá ở TP Hoà Chớ Minh qua
trửụứng hụùp caực quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp lμ một vấn đề có ý
nghĩa khoa học, lý luận, thời sự vμ thực tiễn cấp bách, nhằm dựng lại bức tranh tổng thể quá trình đô thị hoá ở các quận nμy sau hơn 20 naờm giải phóng (1975-1996), vaứ ủuực keỏt những thμnh tựu, chỉ ra những tồn tại cần khắc phục, những bμi học kinh nghiệm từ góc độ của khoa học lịch sửỷ ủeồ tham khảo, ủoựng góp vμo sự phát triển laõu daứi, bền vững của các quận vμ thμnh phố Hồ Chí Minh Maởt khaực, coứn nhaốm
"khắc phục những bất hợp lý trong cấu trúc của thμnh phố do lịch sử để lại" [22,
tr 68], goựp phaàn thửùc hieọn Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (10-7-1998) về phê duyệt ủieàu chỉnh quy hoạch chung thμnh phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
ễÛ góc độ của khoa học lịch sử, lâu nay trong chuyên ngμnh lịch sử Việt Nam nếu như các vấn đề thuộc lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, lũch sửỷ chớnh trũ, lịch sử ngoại giao.v.v ủaừ được nghiên cứu nhiều vμ đạt được những thμnh tựu lớn, thì một số lĩnh vực khác - trong đó có lịch sử đô thị hoá (history
of urbanization) lại chưa được chú ý nghiên cửựu ủuựng mửực
Vụựi những lý do vμ mục đích trên đây, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tμi
“Quá trình đô thị hoá ở thμnh phố Hồ Chí Minh tửứ 1975 ủeỏn 1996 (trường hợp các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp) lμm đề tμi luận án tiến
sỹ sử học của mình
Trang 8II- LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trên thế giới, nếu như vấn đề đô thị hoá (urbanization) đã được nghiên cứu từ lâu và hiện nay vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thì ở Việt Nam vấn đề đô thị hoá chỉ mới được tập trung nghiên cứu trong những năm gần đây Theo G.S Đàm Trung Phường (nhà đô thị học lão thành của Việt
Nam) thì “cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa có ai viết sách và tiếp cận
một cách có hệ thống, toàn diện về vấn đề quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam” Trong khi đó, hơn 30 năm qua, Bộ Xây dựng đã có chỉ đạo lập
nhiều đồ án quy hoạch đô thị trình Trung ương phê duyệt, và tại ba trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Kiến trúc TP.Hồ Chí Minh, Đại học Xây dựng Hà Nội mặc dù đã đào tạo nhiều kiến trúc sư quy hoạch đô thị và đào tạo cả ở bậc sau đại học, nhưng hiện vẫn chưa có giáo trình chính thức [155, tr.4]
Năm 1995 cuốn Đô thị Việt Nam (2 tập) của GS Đàm Trung Phường
ra đời, tác giả tập trung giải quyết 2 vấn đề cơ bản là:
- Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam và nghiên cứu− định hướng phát triển trong bối cảnh đô thị hoá thế giới và bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá của thời kỳ Đổi mới
- Mở rộng những khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của khoa học thế giới, cập nhật những thông tin liên quan trong nước để tham khảo, làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên đại học và chủ yếu là sau đại học [155, tr.4]
Trang 9Chính vì vậy, chúng tôi coi cuốn sách Đô thị Việt Nam của GS.Đàm
Trung Phường là một trong những công trình quan trọng để tiếp cận các vấn đề lý luận về đô thị hoá nói chung cũng như đại cương về đô thị hoá ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, như chính tác giả của công trình đã thừa nhận,
“quyển Đô thị Việt Nam cũng chưa có điều kiện đi sâu vào từng đô thị, mà mới dừng ở những cấp vĩ mô (macro) và trung mô (mezzo)” [155, tr 5]
Năm 1997, Nxb Xây Dựng cho ra đời công trình Quy hoạch xây dựng
phát triển đô thị Đây là công trình của tập thể các nhà nghiên cứu hàng
đầu về lĩnh vực này, dưới sự chủ trì của GS Nguyễn Thế Bá (Trường Đại
học Kiến trúc Hà Nội) Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị được đánh giá
“là một tài liệu cơ bản có tính chất nguyên lý thiết kế và quy hoạch xây dựng đô thị” [19, tr.4]
Ngoài ra, còn có hàng loạt công trình viết về các lĩnh vực khác nhau
của đô thị hoá như Mấy vấn đề của một thành phố trung tâm công nghiệp của Võ Văn Kiệt ( Nxb TP Hồ Chí Minh, 1981), Đô thị cổ Việt Nam do Văn Tạo chủ biên, (Viện Sử học,1985), Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay của Lê Như Hoa (Hà Nội, 1993), Quy hoạch đô thị cổ đại và trung đại thế
giới của Đặng Thái Hoàng (Nxb Xây dựng, 1996), Đô thị hoá và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam do Trần
Ngọc Hiên, Trần Văn Chữ đồng chủ biên (Nxb ChÝnh trÞ Quèc gia, Hà Nội,
1998), Dân số và nhà ở đô thị Việt Nam của Phạm Văn Trình, (Nxb TP Hồ Chí Minh, 1996), Tổ chức và quản lý môi trường cảnh quan đô thị của Nguyễn Thị Thanh Thủy (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1997), Quy hoạch giao
thông vận tải và thiết kế đường đô thị của Nguyễn Xuân Trục, (Nxb Giáo
Trang 10Dục,1997), Môi trường nhân văn và đô thị hoá tại Việt Nam, Đông Nam Á và
Nhật Bản của Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Viện KHXH tại TP.Hồ
Chí Minh, (Nxb TP Hồ Chí Minh, 1997), Quản lý môi trường đô thị và khu
công nghiệp của Phạm Ngọc Đăng (Nxb Xây dựng, 2000), Những mặt tồn tại trong quá trình đô thị hoá ở TP.Hồ Chí Minh (Nxb TP.Hồ Chí Minh,
1995), và Di dân tự do nông thôn thành thị ở TP.Hồ Chí Minh (Nxb Nông
nghiệp, 1998) của cùng tác giả Nguyễn Văn Tài v.v Đặc biệt là từ 1990 đến nay đã diễn ra ba Hội nghị toàn quốc về đô thị (lần thứ nhất năm 1990
ở Hà Nội, lần thứ hai năm 1995 ở TP.Hồ Chí Minh, lần thứ 3 là năm 1999 ở Vũng Tàu) Năm 1996 đã diễn ra cuộc Hội thảo về đô thị hoá do Hiệp hội đô thị Việt Nam tổ chức tại Quy Nhơn Tại TP.Hồ Chí Minh từ năm 1995 đến năm 1999 cũng đã diễn ra ba cuộc hội thảo lớn về đô thị do Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Khoa học Xã hội tại TP.Hồ Chí Minh tổ
chức là Đô thị hoá tại Việt Nam và Đông Nam Á (1995), Môi trường nhân
văn và đô thị hoá tại Việt Nam, Đông Nam Á và Nhật Bản (1997) và Hội thảo quốc tế về phát triển đô thị bền vững - vai trò của nghiên cứu và giáo dục (1999) Trên các tạp chí : Kiến trúc, Lý luận, Khoa học Công nghệ và Môi trường, Nghiên cứu Lịch sử, Thời báo kinh tế Sài Gòn v.v có nhiều bài
viết đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đô thị hoá ở TP Hồ Chí Minh và ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình và Gò Vấp sau giải phóng
Một trong những công trình đầu tiên trực tiếp đề cập tới vấn đề đô thị
hoá ở các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình và Gò Vấp có lẽ là bài: Xu hướng
phát triển đô thị, xu hướng gia tăng dân số và lao động ở các quận ven TP.Hồ Chí Minh của Lê Hồng Liêm đăng trong cuốn Ngoại thành TP.Hồ
Trang 11Chí Minh những vấn đề lịch sử và truyền thống của tập thể tác giả Lê Hồng
Liêm, Lê Sơn, Trương Minh Nhựt, Quách Thu Nguyệt (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1994) Trong bài viết này, tác giả đã khái quát sơ lược quá trình đô thị hoá ở các quận ven đô, chủ yếu là quận Gò Vấp, từ sau ngày giải
phóng đến đầu thập niên 80 Công trình tiếp theo là Sự chuyển biến kinh tế
xã hội của các quận ven đô TP Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến năm 1993 (nhìn từ quận Gò Vấp) - luận án tiến sỹ sử học của Lê Hồng Liêm (bảo vệ
năm 1995 tại Trường Đại học Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh) Trong luận án này, tác giả nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của các quận 8, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, và cho rằng sự chuyển biến kinh tế - xã hội
ở các quận này cũng xảy ra song hành với quá trình đô thị hoá Sau đó, Lê
Hồng Liêm viết tiếp bài Chuyển biến kinh tế - xã hội tại các quận ven
TP.Hồ Chí Minh – một số biện pháp đăng trong cuốn Đô thị hoá tại Việt Nam và Đông Nam Á (Nxb TP Hồ Chí Minh, 1996)
Trong các công trình nghiên cứu về các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình và Gò Vấp, Lê Hồng Liêm cho rằng những xu hướng chuyển biến kinh tế- xã hội ở đây đã có “xu hướng phát triển đô thị hoá nhanh và có biểu hiện tự phát” Trong đó, tác giả xem giai đoạn 1975 –1985 là thời kỳ
“tiền đô thị hoá” và chỉ từ 1986 trở đi, các quận ven đô thành phố Hồ Chí Minh mới “bước nhanh vào thời kỳ đô thị hoá” [136, tr.135-136] Theo Lê Hồng Liêm, cho đến đầu thập niên 90, TP.Hồ Chí Minh có 3 loại hình quận, huyện là “quận nội thành là nơi đã hoàn thành quá trình đô thị hoá, đang ở thời kỳ phát triển cao; quận ven đô mang tính chất bán thôn, bán thị, và huyện ngoại thành còn mang tính chất kinh tế nông nghiệp” [136, tr 02]
Ngoài ra còn có Văn hoá làng xã trước sự thách thức của đô thị hoá tại
Trang 12thành phố Hồ Chí Minh do tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, (Nxb
Trẻ, 1999)
Một số công trình khác mặc dù không đề cập trực tiếp đến quá trình đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp nhưng cũng góp phần làm rõ những biến đổi về kinh tế – xã hội của thành phố Hồ Chí Minh cũng như các quận trên qua những thăng
trầm của lịch sử Chẳng hạn như: thành phố Hồ Chí Minh 10 năm (1975 –
1985) của Nguyễn Văn Linh (Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1986), Dân tộc học – Đô thị và vấn đề đô thị hoá của GS.TS Mạc Đường (Nxb Trẻ, 2003), Làng nghề thủ công truyền thống của TS Tôn Nữ Quỳnh Trân và tập thể tác giả
(Nxb Trẻ, 2002), Sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản trong nền kinh tế miền
Nam Việt Nam (1954 – 1975) của TS Võ Văn Sen (Tủ sách Đại học Tổng
hợp, TP Hồ Chí Minh, 1995), Phong trào chống phá bình định nông thôn ở
Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969 – 1972) của TS
Hà Minh Hồng (Nxb Quân đội Nhân dân, 2000).v.v
Tất cả các công trình nghiên cứu của những người đi trước cũng như các cuộc hội thảo khoa học đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc tiếp cận những vấn đề về lý luận, thực tiễn đô thị hoá, đô thị hoá bền vững.v.v trên thế giới và ở Việt Nam Nhưng nhìn chung, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống, toàn diện sâu sắc đến quá trình đô thị hoá ở các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp hơn 20 năm sau giải phóng (1975-1996) Chính vì vậy, luận án này có thể được xem là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách trực tiếp về những phương diện cơ bản nhất của quá trình đô thị hoá ở các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp từ 1975 đến1996 ở góc độ sử học
Trang 13Trong luaọn aựn, chuựng toõi keỏ thửứa coự choùn loùc caực coõng trỡnh cuỷa caực giaựo sử, tieỏn syừ, caực nhaứ khoa hoùc; caực baứi vieỏt, tham luaọn taùi caực hoọi nghũ, hoọi thaỷo khoa hoùc, caực yự kieỏn cuỷa caực nhaứ quaỷn lyự veà vaỏn ủeà ủoõ thũ hoaự noựi chung, ủoõ thũ hoaự ụỷ quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp vaứ ụỷ thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh noựi rieõng Nhửừng coõng trỡnh naứy ủaừ giuựp chuựng toõi phửụng phaựp tieỏp caọn, nghieõn cửựu, khaỷo saựt, ủaựnh giaự veà quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự ụỷ quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp trong moọt giai ủoaùn lũch sửỷ cuù theồ laứ tửứ 1975 ủeỏn 1996
III- ẹOÁI TệễẽNG VAỉ PHAẽM VI NGHIEÂN CệÙU
Nh− tên đề tμi đã xác định, đối t−ợng nghiên cứu của luận án lμ: Quá
trình đô thị hoá ở thμnh phố Hồ Chí Minh, qua caực trửụứng hụùp cuù theồ laứ
quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp tửứ 1975 ủeỏn 1996
Tuy nhieõn, không gian nghiên cứu không đơn thuần lμ con số cộng của các giới hạn không gian địa lý tự nhiên của 4 quận trên, mμ đ−ợc hiểu nh− một không gian chỉnh thể – một bộ phận của thμnh phố Hồ Chí Minh Cách tiếp cận nh− vậy cho phép tác giả không nhất thiết phải trình bμy lần l−ợt quá trình
đô thị hoá đã diễn ra ở từng quận (quận 8, Tân Bình, Bình Thạnh, Gò Vấp) maứ chỉ trình bμy, xem xét, lý giải những sự kiện, hiện t−ợng tiêu biểu nhất trong quá trình đô thị hoá ở đây mμ thôi
Sụỷ dú, taực giaỷ choùn ủũa baứn nghieõn cửựu laứ quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp vỡ caực quaọn naứy coự ủieàu kieọn tửụng ủoỏi gioỏng nhau vaứ ủaõy laứ khu vửùc chũu sửù taực ủoọng raỏt maùnh meừ cuỷa quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự ụỷ TP Hoà Chớ Minh Ngửụùc laùi, quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự vụựi nhửừng chuyeồn bieỏn saõu saộc ụỷ caực quaọn naứy cuừng goựp phaàn laứm cho dieọn maùo Thaứnh phoỏ thay ủoồi ủaựng keồ veà nhieàu maởt Trong quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự ụỷ thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh, ụỷ moọt
Trang 14chửứng mửùc naứo ủoự, caực huyeọn ngoaùi thaứnh cuừng chũu sửù taực ủoọng veà kinh teỏ
- xaừ hoọi, nhửng chuựng toõi xaực ủũnh roừ chửa nghieõn cửựu caực huyeọn ngoaùi thaứnh, bụỷi leừ neỏu daứn traỷi phaùm vi nghieõn cửựu treõn dieọn roọng seừ khoự coự ủieàu kieọn laứm saựng toỷ quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự vụựi nhửừng dieón bieỏn, ủaởc ủieồm, ửu ủieồm vaứ haùn cheỏ cuỷa noự ụỷ nhửừng ủũa baứn ủửụùc xaực ủũnh Chuựng toõi nghú raống, nhử vaọy cuừng laứ phuứ hụùp vụựi moọt ủeà taứi luaọn aựn tieỏn syừ
Veà thụứi gian, chuựng toõi choùn giai ủoaùn 1975 ủeỏn 1996 vỡ ủaõy laứ moọt giai ủoaùn lũch sửỷ coự nhieàu bieỏn ủoồi quan troùng vaứ saõu saộc ủoỏi vụựi thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh cuừng nhử caực quaọn laứ ủũa baứn nghieõn cửựu Naờm 1975 laứ naờm maứ thaứnh phoỏ Saứi Goứn (sau naứy laứ TP Hoà Chớ Minh) ủửụùc giaỷi phoựng vaứ baột ủaàu tieỏn haứnh xaõy dửùng chuỷ nghúa xaừ hoọi Naờm 1996 laứ thụứi ủieồm maứ Thaứnh phoỏ ủaừ traỷi qua 10 naờm ẹoồi mụựi, cuừng laứ naờm ẹaỷng boọ thaứnh phoỏ toồ chửực ẹaùi hoọi keỏt thuực nhieọm kyứ V, bửụực sang nhieọm kyứ VI, mụỷ ra moọt giai ủoaùn phaựt trieồn mụựi
ễÛ ủaõy, chuựng toõi xin minh định rằng, đề tμi luaọn aựn được nghiên cứu dưới góc độ của khoa học lịch sử, chứ không phải từ bình diện của khoa học kiến trúc, kinh tế học, xã hội học hay đô thị học Các ngμnh khoa học nμy đều
có đối tượng nghiên cứu riêng của mình coứn ụỷ góc độ của khoa học lịch sử, luận án sẽ không đi vμo giải quyết các bμi toán về kiến trúc, chỉnh trang đô thị hay xã hội học đô thị v.v mμ tập trung xem xét quá trình đô thị hoá trong tiến trình lịch sử của nó ở địa bμn cụ thể lμ quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp thμnh phố Hồ Chí Minh với thời gian được xác định lμ từ 1975 đến 1996 (sau 20 naờm giaỷi phoựng) nhằm giải quyết các vấn đề quá trình đô thị hoá ấy đã diễn ra như thế nμo, những đặc điểm, những nhân tố khách quan vμ chủ quan đã tác động, chi phối quá trình đô thị hóa, những bμi học kinh nghiệm tham khảo
Trang 15cho sửù phát triển đô thị bền vững ở thμnh phố Hồ Chí Minh nói chung vμ các quận nói riêng trong các thời kỳ tiếp theo
Tuy nhiên, vì đô thị hoá lμ một quá trình diễn ra rất phức tạp, rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau nên trong khuôn khổ của luận án nμy, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản quan trọng nhất dưới góc độ của khoa học lịch sử như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhửừng bieỏn ủoồi veà cụ sụỷ haù taàng, dân cư, vaờn hoaự lối sống, ở các quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp - thμnh phố Hồ Chí Minh
IV- PHệễNG PHAÙP NGHIEÂN CệÙU VAỉ NGUOÀN TAỉI LIEÄU
1 Phửụng phaựp nghieõn cửựu
Phương pháp luận mμ tác giả vận dụng để giải quyết các vấn đề do đề tμi luận án đặt ra lμ phương pháp luận mác-xít của chủ nghĩa Mác- Lê nin vμ tư tưởng Hồ Chí Minh Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án chủ yếu vμ trước hết sử dụng phương pháp lịch sử để tái hiện lại quá trình đô thị hoá ở quận
8, Bình Thạnh, Tân Bình vμ Gò Vấp từ 1975 đến 1996 Bên cạnh đó, tác giả kết hợp vận dụng phương pháp lô-gíc để lμm sáng tỏ quá trình đô thị hoá ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp với sự vận động vμ phát triển trong bối cảnh lịch sử cụ thể của thμnh phố Hồ Chí Minh sau hơn 20 sau giải phóng (1975-1996) vμ trong mối liên hệ với tình hình kinh tế - xã hội chung của cả nước Ngoμi ra, tác giả đã vaọn duùng phương pháp nghiên cứu liên ngμnh (kinh tế học, xã hội học, đô thị học, thoỏng keõ hoùc v.v.) nhằm so saựnh, đối chiếu vμ giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình đô thị hoá ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp nói riêng vμ của thμnh phố Hồ Chí Minh nói chung tửứ 1975 ủeỏn 1996 ụỷ góc
độ của khoa học lịch sử
2 Nguoàn taứi lieọu
Trang 16Trong luận án, tác giả sử dụng những nguồn tài liệu chủ yếu sau:1 Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, của Đảng bộ TP.Hồ Chí Minh đánh giá về quá trình phát triển của TP.Hồ Chí Minh nói chung và các quận 8, Bình
Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp nói riêng
2 Các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Xây dựng, của UBND TP.Hồ Chí Minh về định hướng quy hoạch, chỉnh trang, phát triển đô thị trong toàn quốc, cũng như đối với TP Hồ Chí Minh và các quận trên
3 Các chuyên khảo, các công trình nghiên cứu, các bài viết, các tham luận khoa học của các tác giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án
4 Các văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố và Đảng bộ quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp, các báo cáo của UBND các quận, các cơ quan chức năng liên quan đến vấn đề đô thị hoá ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình và Gò Vấp -TP.Hồ Chí Minh
5 Niên giám thống kê của Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, của phòng Thống kê các quận từ năm 1975 đến năm 2000 Trong đó, chúng tôi có phân tích, so sánh, đối chiếu các số liệu thống kê để làm rõ sự chuyển biến về các lĩnh vực kinh tế - văn hoá, cơ sở hạ tầng, dân cư của các quận trong quá trình hơn 20 năm sau giải phóng
6 Tư liệu điền dã, khảo sát thực địa của chính tác giả
V- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Trang 17Luận án mạnh dạn đi vμo hướng nghiên cứu mμ giới sử học còn chưa quan tâm chú ý nhiều, đó lμ vấn đề đô thị hoá nhìn từ góc độ lịch sử Những
đóng góp của luận án được thể hiện qua các vấn đề sau:
1 Taựi hieọn lại một cách chân thực, khách quan bức tranh tổng thể về quá trình đô thị hoá ở TP Hồ Chí Minh thông qua các quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp trong khoảng thời gian 20 năm sau giải phóng với những chuyển biến về cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, sự gia tăng dân số vμ đời sống cư dân đô thị từ góc độ của khoa học lịch sử
2 Lμm rõ những nhân tố chủ quan vμ khách quan đã tác động, chi phối diện mạo quá trình đô thị hoá ở các quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp thμnh phố Hồ Chí Minh, goựp phaàn ủaựnh giaự moọt caựch toồng quan veà quaự trỡnh
đô thị hoá của quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình vμ Gò Vấp nói riêng vμ của TP
Hồ Chí Minh nói chung giai đoạn từ 1975 đến 1996
3 Treõn cụ sụỷ nghieõn cửựu veà thửùc traùng ủoõ thũ hoaự ủaừ dieón ra ụỷ quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Goứ Vaỏp, Taõn Bỡnh (1975-1996), luaọn aựn ủaừ rút ra một số bμi học kinh nghiệm, nêu lên một số giải pháp (có tính chất ban đầu) có thể tham khảo để phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực trong quá trình đô thị hoá ở các quận trên nói riêng vμ thμnh phố Hồ Chí Minh nói chung, theo hướng phát triển đô thị bền vững trong các giai đoạn tiếp theo
4 Tập hợp, hệ thống vμ xử lý một khối lượng tμi liệu còn khá tản mát về
đô thị hoá ở các quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp cũng như thμnh phố
Hồ Chí Minh, cung caỏp nguoàn thoõng tin ủaựng tin caọy ủoỏi vụựi nhửừng ai quan taõm ủeỏn lúnh vửùc naứy
VI- BOÁ CUẽC CUÛA LUAÄN AÙN
Trang 18Ngoμi các phần Dẫn luận, Mục lục, Tμi liệu tham khảo, Chú thích vμ Phụ lục theo quy định của một luận án tiến sỹ sử học, về nội dung, luận án gồm có
3 chương vμ phần kết luận lμ:
Chửụng 1: TOÅNG QUAN VEÀ ẹOÂ THề HOAÙ VAỉ QUAÙ TRèNH ẹOÂ THề HOAÙ CUÛA QUAÄN 8, BèNH THAẽNH, TAÂN BèNH, GOỉ VAÁP TRệễÙC 1975
Đề tμi nghiên cứu về quá trình đô thị hoá, nên trước hết rất cần điểm qua
về mặt lý luận "Đô thị hoá", bởi vì đây lμ tieàn ủeà lyự luaọn ủeồ nghiên cứu quá trình đô thị hoá ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp
Nghiên cứu quá trình đô thị hoá ở các quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp trong khoaỷng thời gian cụ thể từ 1975 đến 1996, neõn về mặt lịch sửỷ raỏt caàn nghieõn cửựu toồng quan quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự giai ủoaùn trửụực 1975 để thấy rõ cơ sở kinh tế - xã hội của các quận nμy khi bước vμo đô thị hoá ở giai
Trang 19Chương 3: CHUYEÅN BIEÁN VEÀ DAÂN Cệ VAỉ ẹễỉI SOÁNG Cệ
DAÂN ễÛ QUAÄN 8, BèNH THAẽNH, TAÂN BèNH, GOỉ VAÁP TRONG QUAÙ TRèNH ẹOÂ THề HOAÙ (1975 – 1996)
Quá trình đô thị hoá không chỉ phản ánh trong sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, dân cư mμ xét đến cùng, những thay đổi trong kinh tế, dân cư ấy phải dẫn đến việc hình thμnh - định hướng một lối sống đô thị khu biệt với lối sống nông thôn Chương 3 của luận án sẽ tập trung giải quyết vấn đề nμy
Cuối cùng, trong phần Kết luận, trên cơ sở xem xét nhửừng chuyeồn bieỏn, kinh tế, xã hội, veà haù taàng dân cư vμ lối sống - nhửừng thaứnh tửùu vaứ toàn taùi trong quá trình đô thị hoá ở các quận trên từ 1975 đến 1996, luận án sẽ rút ra những đặc điểm của quá trình đô thị hoá, những nhân toỏ taực ủoọng tớch cửùc, tieõu cửùc ủeỏn quaự trỡnh naứy, những bμi học kinh nghiệm coự theồ ủeồ tham khaỷo trong
quaự trỡnh phaựt trieồn ủoõ thũ cuỷa caực quaọn noựi rieõng vaứ thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh noựi chung trong nhửừng giai ủoaùn tieỏp theo
Laứ moọt luaọn aựn sửỷ hoùc, với keỏt caỏu gồm 3 chương vμ phần kết luận như trên, luận án đã cố gắng thể hiện rõ quá trình đô thị hoá ở quận 8, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình khoaỷng hụn 20 naờm sau giaỷi phoựng (1975-1996) vụựi hai giai đoạn lịch sử lμ 10 naờm trửụực ẹoồi mụựi (1975-1985) vaứ 10 naờm thửùc hieọn ẹoồi mụựi (1986-1996)
Trang 20Chửụng 1: TOÅNG QUAN VEÀ ẹOÂ THề HOAÙ VAỉ QUAÙ TRèNH ẹOÂ THề HOAÙ ễÛ QUAÄN 8, BèNH THAẽNH, TAÂN BèNH, GOỉ VAÁP
TRệễÙC 1975 1.1 KHAÙI LUAÄN VEÀ ẹOÂ THề HOAÙ
Đô thị ra đời tửứ rất lâu trong lịch sử vμ nó luôn luôn biến động, phát triển Đô thị ngμy nay có rất nhiều điểm khác biệt so với đô thị thời phong kiến, đặc biệt lμ về trình độ phát triển vμ văn minh Bách khoa toμn thư Hoa Kỳ (The American Encyclopaedic) định nghĩa đô thị như sau: Thμnh phố (city) lμ một tập hợp dân cư có quy mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem lμ theo kiểu đô thị trái ngược với đời sống nông thôn vμ miền thôn dã
Theo GS Cao Xuân Phổ thì "trong tiếng Việt có nhiều từ để chỉ khái niệm đô thị: đô thị, thμnh phố, thị trấn, thị xã Các từ đó đều có hai thμnh tố:
đô, thμnh, trấn, xã, hμm nghĩa chức năng hμnh chính; thị, phố có nghĩa lμ chợ Thời trước, chức năng hμnh chính lấn át chức năng kinh tế; bộ phận đảm nhận cai quản đô thị lμ do Nhμ nước bổ nhiệm Đô thị Việt Nam khác đô thị phương Tây lμ ở chỗ đó ẹoõ thị phương Tây ít có tính chính trị hơn vμ thiên về chức năng kinh tế” [154, tr.103] GS.TS.Trần Ngọc Thêm cũng có quan điểm tương
tự Tuy nhiên, đây lμ cách hiểu về các đô thị Việt Nam thời phong kiến
Theo cách hiểu trên đây thì ở Việt Nam "khái niệm đô thị bắt đầu được khu biệt khá rạch ròi dưới thời Pháp thuộc", với các tên gọi đại thể như:
- Centre (ngμy trước ta thường gọi lμ "thị trấn")
- Centre urbaine (trước thường gọi lμ "thũ xaừ")
- Commune (trước thường gọi lμ "thaứnh phoỏ"), tương đương thμnh phố cấp III)
- Municipalité (cũng gọi lμ "thμnh phố", tương đương thμnh phố cấp II) [199, tr 72 - 73]
Trang 21ễÛ Việt Nam, cũng như trên thế giới có nhiều định nghĩa với những tiêu chí khác nhau về đô thị Các cơ quan quản lý đô thị cũng như các nhμ nghiên cứu, về cơ bản đều dựa trên Quyết định 132/HĐBT ngμy 5-5-1990 của Hội
đồng Bộ trưởng (nay lμ Chính phủ) để xác định thế nμo lμ một đô thị Theo
đó, “đô thị lμ nơi tập trung đông dân cư, chủ yếu lμ lao động phi nông nghiệp, với phương thức sống thμnh thị; lμ trung tâm hμnh chính của một vùng nhất định; có mạng lưới dịch vụ công cộng vμ cơ sở hạ tầng phục vụ
dân cư đô thị Các tác giả của công trình Quy hoạch xây dựng phát triển đô
thị (do GS.TS Nguyễn Thế Bá chủ biên, Trường Đại học Kiến trúc Hμ Nội,
1997) cũng xác định, “đô thị lμ điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu
lμ lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, lμ trung tâm chuyên ngμnh tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh huyện" [19, tr.5]
Nếu đô thị ngμy nay được hiểu đại thể lμ như vậy, (kể cả trên thế giới vμ Việt Nam), thì tuỳ vμo đặc điểm lịch sử vμ điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá - chính trị của mình mμ mỗi nước lại có những quy định riêng về tiêu chí của
"điểm dân cư đô thị" ễÛ nước ta, theo Quyết định số 132/HĐBT ngμy 5-5-1990 của Hội đồng Bộ trưởng thì đô thị lμ các điểm dân cư coự các yếu tố cơ bản sau:
1 Lμ trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngμnh, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định
2 Quy mô dân số nhỏ nhất lμ 4.000 người (vùng núi có thể thấp hơn)
3 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60% trong tổng số lao động, lμ nơi
có sản xuất vμ dịch vụ thương mại hμng hoá phát triển
Trang 224 Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật vμ các công trình công cộng phục vụ dân cư
đô thị Mật độ dân cư được xác định tuỳ theo từng loại đô thị phù hợp với đặc
điểm từng vùng
Theo các tiêu chí trên đây thì "thị tứ chưa phải lμ điểm dân cư đô thị, nhưng tại đây lại tập trung nhiều loại công trình phục vụ công cộng về kinh tế, văn hoá, xã hội mang tính đô thị phục vụ cho người dân nông thôn Nó lμ bộ mặt chính của lμng xã, lμ điểm dân cư có mμu sắc cả đô thị lẫn nông thôn, nhưng tính chất nông thôn vẫn lμ chính ễÛ đây có cả những dãy nhμ tập trung những người lao động phi nông nghiệp, bán nông nghiệp vμ cả nông nghiệp ở nông thôn Đây lμ một một hình thức đô thị hoá tại chỗ rất thích hợp với Việt Nam, nó sẽ lμ mầm mống của các điểm dân cư tương lai theo hướng đô thị hoá
nông thôn" [19, tr.10]
Từ 4 tiêu chí được xác định aỏy, đô thị phân loại thμnh 5 loại như sau:
Đô thị loại I: Lμ đô thị rất lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả
nước; dân số từ hơn 1 triệu người trở lên; mật độ dân cư bình quân trên 15.000 người/kmP
2
P
, vμ tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lμ ≥ 90% tổng số lao động của thμnh phố
Đô thị loại II: Lμ đô thị lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một
vùng lãnh thổ; dân số từ 350.000 đến dưới 1 triệu người, mật độ dân số bình quân trên 12.000 người/kmP
2
P, vμ tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 90% tổng số lao động của thμnh phố
Đô thị loại III: Lμ đô thị trung bình lớn, có vai trò thúc đẩy sự phát triển
của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực của vùng lãnh thổ, dân số 100.000 người đến 350.000 người; mật độ dân số bình quân trên 10.000 người/kmP
2
P(vùng núi có thể thấp hơn) vμ tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 80% tổng số lao động của đô thị
Trang 23Đô thị loại IV: Lμ đô thị trung bình nhỏ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển
của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh; dân số từ 30.000 đến 100.000 người (vùng núi có thể thấp hơn); mật độ dân cư trung bình trên 8.000 người/kmP
2
P
(vùng núi có thể thấp hơn) vμ tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 70% tổng số lao
động của đô thị
Đô thị loại V: Lμ những đô thị nhỏ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của
một huyện hoặc một vùng trong huyện; dân số từ 4.000 (mức quy định tối thiểu cho một điểm dân cư đô thị) đến 30.000 người (vùng núi có thể thấp hơn); mật
độ dân số bình quân 6.000 người/kmP
2
P, vμ tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60% trong tổng số lao động của toμn đô thị (mức quy định tối thiểu cho một điểm dân cư đô thị)
Như vậy, việc xếp loại đô thị căn cứ vμo 3 tiêu chí cơ bản lμ:
1 Vai trò, chức năng
2 Quy mô dân số
3 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị ấy, trong đó việc xác định quy mô dân số vμ tỷ lệ lao động phi nông nghiệp thường chỉ tiến hμnh trong phạm vi địa giới nội thị
Từ việc phân loại đô thị như trên, nhμ nước ta phân cấp quản lý đô thị về mặt hμnh chính như sau:
1 Thμnh phố trực thuộc trung ương tương đương cấp tỉnh phải lμ đô thị loại I hoặc loại II thuộc quyền quản lý của trung ương
2 Thμnh phố thuộc tỉnh, các thị xã tương đương với cấp huyện đa số thuộc đô thị loại III vμ loại IV (một số ít có thể thuộc loại V) do tỉnh quản lý
Trang 243 Các thị trấn tương đương cấp xã thuộc đô thị loại V chủ yếu do huyện quản lý
Về mặt tên gọi, trong phân loại vμ phân cấp quản lý của ta hiện nay vẫn còn phổ biến 03 từ khá quen thuộc lμ “thμnh phố”, “thị xã”, “thị trấn” Sau
1975, từ “thị tứ” ở miền Nam cũng dần được phổ biến trong cả nước, thậm chí
ở cả trong các văn bản chính thức của Nhμ nước Trong quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngμy 23- 01-1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch tổng thể đô thị Việt Nam đến năm 2020 ghi rõ: "các thị tứ lμm trung tâm kinh tế, văn hoá, dịch vụ cho mỗi xã hoặc cụm xã, nhằm đẩy mạnh quá trình đô thị hoá nông thôn vμ xây dựng nông thôn mới"
*
* *
Đô thị hoá được hiểu lμ quá trình tập trung dân cư ngμy cμng đông vμo các đô thị lμm nâng cao vai trò thμnh thị đối với sự phát triển của xã hội, vμ thức đẩy sự phát triển không gian đô thị
Moọt soỏ học giả Trung Quốc khi định nghĩa về đô thị hoá lại cho rằng: đô thị hoá phải chỉ ra sự tập trung nhân khẩu đến “thμnh trấn”; trong khi một số học giả khác lại xem đô thị hoá về bản chất lμ sự thu hoạch được lối sống đô thị ễÛ Việt Nam, do cách tiếp cận vấn đề khác nhau đô thị hoá cũng được hiểu theo nhieàu nghúa khaực nhau
Chaỳng haùn, Theo GS Cao Xuân Phổ thỡ "ủô thị hoá” bao hμm 3 phương sách:
1) Biến đổi một khu vực nông thôn thμnh một đô thị bằng cách xây dựng
đường sá, nhμ ở, trang thiết bị vμ tạo ra các hoạt động thương mại, công nghiệp;
Trang 252) Đưa người ở nông thôn vμo thμnh thị
3) Quá trình tập trung dân cư ngμy cμng đông vμo các đô thị vμ lμm nâng cao vai trò thμnh thị đối với sự phát triển xã hội [154, tr.103]
GS Đμm Trung Phường cho rằng: "đô thị hoá lμ một quá trình chuyển dịch lao động, từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tμi nguyên thiên nhiên sẵn
có như nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng, phân tán trên một diện tích rộng khắp hầu như toμn quốc, sang những hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất xây dựng cơ bản, vận tải, sửa chữa, dịch vụ, thương mại, tμi chính, văn hoá xã hội, khoa học - kỹ thuật v.v; cũng có thể nói lμ chuyển dịch
từ hoạt động nông nghiệp (chiều rộng) phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên moọt số địa bμn thích hợp gọi lμ đô thị Quá trình đô thị hoá diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế - xã hội (spatial socioeconomy) trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hoá vμ phương thức tổ chức lối sống xã hội Do vậy,
có thể nói đô thị hoá lμ một quá trình diễn biến về kinh tế, xã hội, văn hoá, không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hoá, sự chuyển đổi lối sống vμ sự mở rộng phát triển không gian thμnh hệ thống đô thị song song với tổ chức bộ máy hμnh chính, quân sự” [155, tr 7]
Theo quan điểm nμy thì đô thị hoá lμ một quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, sâu sắc vμ toμn diện, hầu như đụng chạm tới tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, lối sống, khoa học - kỹ thuật, không gian cư trú.v.v của con người từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp, vμ có thể chia quá trình đô thị hoá thμnh 3 thời kỳ khác nhau:
Trang 26Một lμ, thời kỳ đô thị hoá tiền công nghiệp với chiếc xe quay sợi biểu
trưng cho văn minh nông nghiệp tương ứng với cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, hay còn gọi lμ cách mạng thủ công nghiệp kéo dμi cho đến nửa đầu thế kỷ XVIII
Hai lμ, thời kỳ đô thị hoá công nghiệp với động cơ máy hơi nước biểu
trưng cho nền văn minh công nghiệp tương ứng với cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ hai; hay còn gọi lμ cách mạng công nghiệp mở đầu từ nước Anh nửa sau thế kỷ XVIII
Ba lμ, thời kỳ đô thị hoá hậu công nghiệp với máy tính điện tử biểu trưng
cho văn minh tin học hoặc văn minh trí tuệ, tương ứng với cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã vμ đang diễn ra từ thập niên 40 của thế kỷ XX đến nay
Mỗi thời kỳ như vậy, quá trình đô thị hoá đều tạo ra một phong cách lμm việc, ăn, ở vμ một hình thái phân bổ dân cư với một cấu trúc đô thị tương ửựng
“Khái niệm đô thị hoá rất đa dạng, bởi đô thị hoá chứa đựng nhiều hiện tượng vμ biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển; các nhμ khoa học xem xét vμ quan sát hiện tượng đô thị hoá từ nhiều góc độ khác nhau” [19, tr.15]P
Pnên dù không thể đi vμo tất cả các định nghĩa, quan niệm hiện có về đô thị hoá, chúng tôi vẫn thấy cần thiết nêu thêm một cách hiểu về đô thị hoá từ môi
trường hμn lâm của Trường Đại học Kiến trúc Hμ Nội Trong công trình Quy
hoạch xây dựng phát triển đô thị do GS.TS Nguyễn Thế Bá chủ biên, các tác
giả của Đại học Kiến trúc Hμ Nội quan niệm “Đô thị hoá lμ quá trình tập trung dân số vμo các đô thị, lμ sự hình thμnh nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất vμ đời sống Quá trình đô thị hoá lμ quá trình công
nghiệp hoá đất nước Vì vậy cũng có người cho rằng đô thị hoá lμ người bạn
ủoàng hμnh của công nghiệp hoá Quá trình đô thị hoá cũng lμ quá trình biến
Trang 27đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thμnh thị
Mức độ đô thị hoá được tính bằng tỷ lệ phần trăm dân số đô thị so với tổng dân số toμn quốc hay vùng Tỷ lệ dân số đô thị được coi như thước đo về
đô thị hoá để so sánh mức độ đô thị hoá giữa các nước với nhau hoặc các vùng khác nhau trong một nước” [19, tr.15]B
B
TS Leõ Hửừu AÙi cho raống: “xeựt veà maởt daõn soỏ hoùc, ủoõ thũ hoaự laứ quaự trỡnh chuyeồn cử tửứ vuứng noõng thoõn ra thaứnh phoỏ Quaự trỡnh naứy dieóõn ra dửụựi taực ủoọng cuỷa nhieàu nguyeõn nhaõn, song treõn heỏt vaón laứ do aỷnh hửụỷng cuỷa caực nhaõn toỏ kinh teỏ, nhaốm taùo dửùng moọt môi trửụứng mụựi, tỡm kieỏm vieọc laứm, thoaỷ maừn caực nhu caàu vaờn hoaự” [1, tr 01]
Tiếp cận từ phương diện của dân số học, người ta thường xem đô thị hoá
như lμ quá trình di cư nông thôn – thμnh thị; lμ sự tập hợp ngμy cμng nhiều dân cư phi nông nghiệp sống trong những không gian lãnh thổ địa lý hạn chế lμ các đô thị
Từ góc độ quản lý xã hội, người ta lại nhấn mạnh đến khía cạnh chuyển
đổi phương thức sống từ nông thôn sang lối sống thμnh thị; sự gia tăng dân cư
đô thị tạo nên nhiều sức ép về dân số, việc lμm, cơ sở hạ tầng, dịch vụ vμ những nguy cơ tiềm tμng về sự phá huỷ môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội
ễÛ góc độ của kinh tế học, người ta lại nhấn mạnh đến vai trò vμ tỷ lệ của
3 Sector sản xuất để xác định mức độ đô thị hoá, theo đó:
Trang 28- Khu vực I: Kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp sẽ ngμy cμng giảm dần theo
xu thế phát triển của các hoạt động kinh tế - xã hội đô thị
- Khu vực II: Kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sẽ ngμy cμng
đóng vai trò quyết định trong quá trình đô thị hoá
- Khu vực III: Khu vực dịch vụ (theo nghĩa hẹp) quản lý xã hội, nghiên
cứu, du lịch.v.v cũng có vai trò quan trọng ngμy cμng tăng lên trong quá trình
đô thị hoá
Từ góc độ của văn hoá, người ta lại coi bản chất của quá trình đô thị hoá
lμ khát vọng khám phá ra các hình thức sinh hoạt mới của con người Đó lμ quá trình tự phá vỡ các quan hệ của cơ cấu truyền thống đã được hình thμnh trong dân cư nông nghiệp để thiết lập các thiết chế mới, để phát huy các khả năng sáng tạo mới của cá nhân trong điều kiện môi trường xã hội mới
Các nhμ xã hội học nhấn mạnh, đô thị hoá không chỉ tạo ra sự thay đổi
trong phân bố dân cư mμ còn lμm chuyển thể những kiểu mẫu (khuôn mẫu) của
đời sống xã hội Nó tạo nên một lối sống đặc thù, bao gồm những mô hình hμnh vi ứng xử đặc trưng của người dân đô thị, vμ được gọi lμ lối sống đô thị
Dưới góc độ quy hoạch đô thị, thì ngay từ đầu thế kỷ 20, nhiều nhμ quy
hoạch đô thị phương Tây đã khẳng định: “trong sự phát triển của một đô thị thì
"trật tự vật chất" vμ "trật tự xã hội" lμ ngang nhau”, không có cái nμo quan trọng hơn cái nμo, cả hai trật tự đó phải phối hợp, gắn bó với nhau một cách hữu cơ, hμi hoμ Việc lập quy hoạch cho một đô thị thực chất lμ việc xây dựng một kế hoạch phát triển toμn diện tổ chức không gian vμ tổ chức xã hội Vμ
cuối cùng góp phần giải quyết các vấn đề đô thị Đôi khi nội dung nμy được
các nhμ quy hoạch đô thị phương Tây gọi lμ quy hoạch cộng đồng (Community
Trang 29planning) cùng với việc sử dụng một loạt các phương pháp vμ kết quả nghiên cứu của môn Xã hội học đô thị
Điều đáng nói lμ, ở nước ta cho đến gần đây, quy hoạch đô thị thường
được xem như một bộ môn khoa học có liên quan chủ yếu tới việc tổ chức không gian vật chất – hình thể của đô thị Cái gọi lμ “trật tự xã hội”, những
vấn đề xã hội (hay theo thuật ngữ tiếng Anh, Quy hoạch cộng đồng hay Lập kế hoạch phát triển cộng đồng (Community Development Planning) thường chưa
được chú ý đúng mức Cách hiểu như vậy trong tiếng Việt dường như đã thu hẹp nội dung đích thực của môn Quy hoạch đô thị, bỏ trống mảng vấn đề xã hội trong khi môn Xã hội học đô thị chưa được phát triển để hỗ trợ (cả về phương diện thuật ngữ, chúng ta đều cảm thấy có sự khác nhau nhất định giữa hai khái niệm quy hoạch đô thị vμ kế hoạch hoá đô thị, trong khi đó bằng tiếng Anh chẳng hạn, chỉ có một cụm từ urban planning Phải chăng có một “lý do từ vựng” khiến cho lĩnh vực xã hội hay lμ các vấn đề xã hội ở các đô thị nước ta còn bị xem nhẹ hơn so với lĩnh vực tổ chức không gian, bảo đảm “trật tự vật chất” trong quá trình xây dựng quy hoạch phát triển vμ quản lý các đô thị” [138, tr 2 - 3]
Theo K.Marx thì “đô thị không đơn giản lμ tập hợp những ngôi nhμ”, nó cần phải bảo đảm được sự hμi hoμ giữa “trật tự vật chất” vμ “trật tự xã hội” của chính mình
Chính vì đô thị hoá lμ cả một bức tranh phản ánh sự phát triển đa dạng của xã hội như vậy, nên nhiều nhμ nghiên cứu còn đưa ra một định nghĩa khái quát hơn, coi đó lμ một quá trình kinh tế - xã hội lịch sử mang tính quy luật, trên quy mô toμn cầu, lμ quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại Cũng từ cách hiểu nμy, quá trình đô thị hoá được xem như một cái phoõng (bối cảnh), trong ủoự dieón ra nhửừng bieỏn ủoồi to lụựn vaứ saõu saộc trong ủụứi soỏng cuỷa
Trang 30xã hội hiện đại, của các cộng đồng vμ của mỗi cá nhân Sự khác nhau trong cách hiểu về khái niệm đô thị hoá chủ yếu nằm ở góc độ vμ phương pháp tiếp cận [138, tr 1 - 2]
Moọt soỏ yự kieỏn khaực cho raống: ủoõ thũ hoaự laứ quá trình thu hoạch được lối sống đô thị; bởi trong quá trình hiện đại hoá, có sự di chuyển tập trung nhân khẩu nông nghiệp về thμnh thị, nhưng nếu lối sống của các cư dân ấy không trở thμnh lối sống đô thị thì quá trình đô thị hoá cũng có thể coi như chưa đi đến vấn đề bản chất
Khái quát lại có thể thấy, các định nghĩa, quan điểm về đô thị hoá về cơ bản lμ thống nhất với nhau ở chỗ coi đô thị hoá lμ một vấn đề mang tính quy luật tất yếu khách quan, vμ có tính toμn cầu, tiến bộ rõ rệt với sự chuyển đối mạnh mẽ, sâu sắc vμ toμn diện các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, lối sống của con người từ nông thôn sang thμnh thị; từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp, sự tập trung dân cư phi nông nghiệp trong các đô thị với tỷ
lệ ngμy cμng cao Theo chúng tôi, đây có thể lμ một trong những hướng tiếp cận lịch sử đối với vấn đề đô thị hoá nói chung, vμ quá trình đô thị hoá ở các quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp thμnh phố Hồ Chí Minh (1975-1996) nói riêng Cách tiếp cận nμy sẽ không đi vμo việc tìm lời giải cho các bμi toán về quy hoạch, quản lý đô thị, hay những vấn đề thuộc đặc thù riêng của xã hội học đô thị mμ tìm hiểu quá trình đô thị hoá ở các quận 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp từ 1975 đến 1996 đã diễn ra như thế nμo, hoμn cảnh lịch sử, những nhân tố chủ quan, khách quan đã chi phối, tác động tới quá trình đô thị hoá đó, rút ra những bμi học kinh nghiệm cho quá trình phát triển đô thị tiếp theo
Trang 31Hiểu đô thị hoá như một phạm trù kinh tế - xã hội vμ văn hoá như vậy, cũng cần lμm rõ khái niệm nμy với khái niệm công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Có lẽ hầu như không có ai phủ định mối quan hệ chặt chẽ giữa đô thị hoá với công nghiệp hoá - hiện đại hoá Một số ý kiến còn cho rằng "đô thị hoá lμ
hệ quả tất yếu của quá trình công nghiệp hoá" hoặc "những yếu tố quan trọng, kích thích đô thị hoá lμ công nghiệp hoá vμ hiện đại hoá, ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật Quá trình đô thị hoá lμ một bộ phận không tách rời của
sự hiện đại hoá" [156, tr 61] Lũch sử phát triển của thế giới cận đại vμ hiện đại cho thấy rằng, các quá trình công nghiệp hoá vμ hiện đại hoá thường đi kèm với một qúa trình khác có tên gọi lμ quá trình đô thị hoá, lμ hệ quả của hai quá trình trước, đô thị hoá đồng thời cũng có tác động qua lại, gắn quyện chặt chẽ với công nghiệp hoá vμ hiện đại hoá" [138, tr 01]
Tuy nhiên, theo chúng tôi, không thể xem đô thị hoá với công nghiệp hoá - hiện đại hoá lμ một Khác với quá trình công nghiệp hoá - hiện đaị hoá, quá trình đô thị hoá liên quan nhiều hơn vμ không thể tách rời nhiều vấn đề xã hội vμ văn hoá như sự hình thμnh không gian vμ môi trường nhân văn đô thị (human environment); sự chuyển đổi lối sống, phong cách sống cũng như các truyền thống của dân cư từ nông nghiệp sang công nghiệp với những ưu thế tiến
bộ, tích cực vμ cả hậu, hệ quả của chúng Trong khi đó, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá chú ý nhieàu hụn veà "yeỏu toỏ vật chất", trước hết lμ nâng cao năng suất lao động, chất lượng vμ hạ giá thμnh sản phẩm, hoặc sự đơn giản tiện lợi, hiệu quả trong quản lý, điều hμnh.v.v, vaứ không phải bao giờ cũng dẫn đến việc hình thμnh điểm dân cư đô thị Chẳng hạn, công nghiệp hoá, hiện đại hoá máy móc một dây chuyền sản xuất bằng công nghệ tự động hoá có thể dẫn đến việc giảm nhân công lao động Việc hiện đại hoá một nhμ máy nguyên tử, những khu công nghệ cao vμ những dây chuyên sản xuất được hiện đại hoá cao
Trang 32không nhất thiết kéo theo những “hội chứng đô thị” mμ quá trình đô thị hoá có thể diễn ra như sức ép về dân số, về cơ sở hạ tầng, về nạn kẹt xe, ô nhiễm môi trường - cả môi trường tự nhiên (natural environment) lẫn môi trường xã hội
Hơn nữa, không phải bất cứ trường hợp nμo đô thị hoá cũng lμ hệ quả của công nghiệp hoá - hiện đại hoá Quá trình phân chia các đơn vị hμnh chính của một quốc gia, việc hình thμnh các tỉnh lỵ, huyện lỵ mới có thể trực tiếp dẫn
đến quá trình đô thị hoá với việc xây dựng các thị xã, thị trấn mới như một
điểm dân cư đô thị Trong khi đó, các khu công nghiệp, hoặc nông nghiệp kỹ nghệ cao của những tỉnh, huyện ấy có thể hoμn toμn nằm ngoμi phạm vi của các thị xã, thị trấn mới hình thμnh đó
Nhìn từ bình diện đô thị hoá thì “hμnh tinh của chúng ta ngμy xưa lμ một hμnh tinh nông thôn” Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá đã bắt đầu phát sinh ngay từ trong thời kỳ văn minh nông nghiệp của loμi người Những thμnh phố
đô thị ở Ai Cập, Lưỡng Hμ, AÁn Độ, Trung Quốc, Hy lạp vμ La Mã thời cổ trung đại cho đến nay vẫn còn lμm kinh ngạc nhiều nhμ kiến trúc, quy hoạch đô thị trên thế giới
Sang thời cận đại, cuộc cách mạng công nghiệp (bắt đầu từ nước Anh) vμ
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vμ những điều kiện lịch sử khác đã kéo theo
một lμn sóng đô thị hoá mới, với nhiều thμnh phố - đô thị lớn, hiện đại ra đời
Năm 1800, chỉ có khoảng 1,7% dân số thế giới lμ sống trong các đô thị lớn, vμ một thế kỷ sau, vμo năm 1900 con số nμy lμ 5,6%
Đến thế kỷ XX, bước vμo thời hiện đại, tốc độ vμ trình độ đô thị hoá của thế giới ngμy cμng nhanh vμ cμng cao, “thμnh phố” lμ nơi con người tạo ra cho con người, nhưng con người không bao giờ có thể chế ngự được thμnh phố vì
nó vốn lμ quá trình luôn luôn tiến hoá [5, tr 6]
Trang 33Năm 1950 có 16,9% dân số thế giới sống trong các đô thị lớn, thì 1970
lμ 23,5% Trong những năm 50 của thế kỷ XX, Liên Hiệp Quốc xác định những đô thị có số lượng dân cư từ 05 đến 10 triệu người lμ đô thị lớn Khi đó, trên thế giới chỉ có duy nhất thμnh phố New York lμ có 12 triệu dân, còn lại
đông nhất cũng chỉ dưới 10 triệu người Nhưng chỉ 20 năm sau, vμo những năm
70, trên thế giới đã có 12 thμnh phố - đô thị hơn 10 triệu dân; 05 thμnh phố- đô thị 15 triệu dân (Thượng Hải, New York, Calcutta, Bom Bay, Bắc Kinh), vμ 03 thμnh phố - đô thị có tới 20 triệu dân (Mexico City, SaoPaolo, Tokyo) - đến nỗi người ta cảm thấy lúng túng trong việc xác định một khái niệm "chuẩn" cho các siêu đô thị - thμnh phố khổng lồ nμy (megacity, Metropolis, hay Megalopolis) ễÛ khu vực Đông Nam AÙ, từ thập niên 80 cũng bắt đầu xuất hiện một số thμnh phố - đô thị có quy mô 7- 8 triệu dân như Bangkok, Manila, Jakarta Thμnh phố Hồ Chí Minh của chúng ta cũng đang tiến đến ngưỡng đô thị lớn nμy của Đông Nam á [115, tr.70]
*
* *
Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau, nhưng theo quan điểm của một
số chuyeõn gia nghieõn cửựu veà ủoõ thũ hoùc ụỷ Vieọt Nam, quá trình đô thị hoá về
đại thể có thể chia thμnh 04 thời kỳ:
Một lμ, thời kỳ sơ khởi hình thμnh “đô thị” Theo các nghiên cứu khảo cổ học vμ lịch sử Việt Nam cổ đại thì kinh đô của các Vua Hùng đóng ở vùng Phong Châu - Việt Trì Quá trình “đô thị hoá” (có thể hiểu theo nghĩa “thị tứ hoá”) bắt đầu thực sự rõ rệt từ đó trở đi Dấu vết “đô thμnh - đô thị” lớn xa xưa nhất mμ chúng ta biết được qua khai quật khảo cổ đó chính lμ thμnh Cổ Loa Thời kỳ nμy kéo dμi cho đến hết thời kỳ Bắc Thuộc
Hai lμ, đô thị hoá dưới thời phong kiến độc lập tự chủ bắt đầu sau khi Ngô Quyền giμnh lại độc lập, chiến thắng quân Nam Hán (938) Trung tâm
Trang 34kinh đô chính trị được chuyển dời nhiều nơi, mμ quan trọng nhất lμ Lý Công Uẩn đã dời đô về Thăng Long (1010), quá trình đô thị hoá mang một sắc thái mới, tiếp tục phát triển cho đến khi ra đời vμ phát triển kinh thμnh Huế của nhμ Nguyễn thế kỷ XIX
Ba lμ, đô thị hoá thời Pháp thuộc Thời kỳ nμy, trình độ đô thị hoá của
nước ta còn chưa cao so với các nước phương Tây, nhưng cũng đã đạt một trình
độ phát triển khá cao ở Đông Dương vμ Đông Nam á Những công trình kiến trúc thời Pháp thuộc để lại có giá trị cao về phương diện nghệ thuật vμ kỹ thuật như các khu phố Tây của Hμ Nội, Sμi Gòn, Huế, Hải Phòng, Nam Định , các khu nghỉ dưỡng Đμ Lạt, Nha Trang, Vũng Tμu, Bạch Mã, Đồ Sơn [19, tr 86]
Bốn lμ, thời kỳ đô thị hoá từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay Thời kỳ nμy lại có thể chia ra lμm hai giai đoạn lớn:
ễÛ giai đoạn thứ nhất (từ 1945 đến 1975), lμ giai ủoaùn đô thị hoá trong
điều kiện đất nước vừa có hoμ bình, vừa có chiến tranh Do đó giai đoạn 1975) ụỷ mieàn Nam vaứ mieàn Baộc ủoõ thũ hoaự ủaừ dieón ra theo nhửừng xu hửụựng khaực nhau:
(1954-ễÛ miền Bắc, quá trình đô thị hoá diễn ra theo các nguyên lý đô thị hoá xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện các mục tiêu chủ yếu lμ: Thμnh phố - đô thị xã hội chủ nghĩa phải mang tính sản xuất trên cơ sở công nghiệp hoá tập trung,
ưu tiên phát triển khu vực A, sản xuất ra tư liệu sản xuất, nhưng vẫn giữ gìn vμ phát triển bản sắc văn hoá dân tộc Thμnh phố - đô thị xã hội chủ nghĩa phát triển trên cơ sở công hữu hoá đất đai phục vụ cho sự phát triển của kinh tế quốc doanh vμ lợi ích của đông đảo nhân dân lao động Hệ thống thμnh phố - đô thị
được xây dựng theo các tầng - bậc khác nhau rải đều trong toμn quốc để rút ngắn
sự cách biệt giữa thμnh thị với nông thôn, giữa đồng bằng vμ miền núi, vùng sâu,
Trang 35vùng xa Chiến lược đô thị hoá phải kết hợp giải quyết được các yêu cầu quốc phòng của đất nước, của vùng lãnh thổ; vμ đô thị xã hội chủ nghĩa phải thoả mãn
được những nhu cầu ngμy cμng tăng về vật chất vμ tinh thần của nhân dân, ưu tiên cho giáo dục, chăm lo phụ nữ vμ trẻ em trong môi trường đô thị, haùn cheỏ xaõy dửùng nhieàu coõng trỡnh troùng ủieồm treõn cuứng moọt ủũa baứn ủoõ thũ
Vỡ vaọy, ngoμi thủ đô Hμ Nội, chúng ta tập trung xây dựng một loạt các khu công nghiệp, thμnh phố - đô thị mới, hoặc phát triển, mở rộng các khu công nghiệp, thμnh phố - đô thị đã có từ trước, như khu gang - thép Thái Nguyên, khu công nghiệp Sông Công, Việt Trì, khu hoá chất Lâm Thao, Đức Giang, Bắc Giang, nhiệt điện Ninh Bình, Phả Lại, dệt Nam Định, thμnh phố Hải Phòng, Vinh, khu thuỷ điện Thác Bμ.v.v
ễÛ miền Nam, từ 1954 đến 1975 quá trình đô thị hoá chủ yếu gắn liền với quá trình mở rộng vμ leo thang chiến tranh của Mỹ - Nguỵ Với nguồn viện trợ (kinh tế vμ quân sự) rất lớn của Mỹ, quá trình đô thị hoá diễn ra khá nhanh, nhiều khi mang tính đột biến, nhất lμ trong thập niên 60, với việc mở rộng quy mô các thμnh phố - đô thị đã có như Sμi Gòn, Biên Hoμ, Cần Thơ, Buôn Mê Thuột, Đμ Nẵng.v.v; những đô thị mới gắn liền với các căn cứ quân sự để phục
vụ cho yêu cầu của chiến tranh như Cam Ranh, Trμ Nóc, Mộc Hoá, Đăk Tô, Xuân Lộc, Chu Lai, Phú Baứi v.v Tỷ lệ dân cư đô thị miền Nam taờng từ 10% lên 30%
Hầu hết các đô thị ở miền Nam thời kỳ 1954 - 1975 đều mang tính chất dịch vụ nhiều hơn lμ sản xuất Khu công nghiệp duy nhất được đầu tư xây dựng
lμ khu công nghiệp Biên Hoμ vμ một số cơ sở công nghiệp xung quanh Sμi Gòn (khu công nghiệp thứ 2 dự định sẽ xây dựng lμ khu công nghiệp Hoμ Khánh -
Đμ Nẵng, nhưng chưa kịp thực hiện thì ta đã giải phóng miền Nam) Haàu hết các đô thị ở miền Nam khi đó lμ ở dạng bán vĩnh cửu, hoặc tạm thời, đặc biệt lμ
Trang 36hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở vμ nhμ ở của người dân lao động Chỉ có Sμi Gòn
lμ được tập trung phát triển hoμn thiện hơn cả (so với các đô thị khác ở miền Nam khi đó)
Giai đoạn thứ hai (thời kỳ tửứ 1975 đến nay) lμ từ sau khi miền Nam được
giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.Trong giai đoạn nμy quá
trình đô thị hoá vừa kế thừa, vừa giải quyết những vấn đề tồn taùi do ủoõ thũ hoaự thụứi chieỏn tranh ủeồ laùi
Tửứ vieọc xaực ủũnh caực khaựi nieọm “ủoõ thũ” vaứ “ủoõ thũ hoaự” nhử treõn, luaọn aựn seừ trỡnh baứy toồng quan veà quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự ụỷ caực quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp trửụực 1975, trửụực khi ủi vaứo nghieõn cửựu quaự trỡnh ủoõ thũ
hoaự ụỷ caực ủũa baứn ủoự
1.2 QUAÙ TRèNH ẹOÂ THề HOAÙ ễÛ QUAÄN 8, BèNH THAẽNH, TAÂN BèNH, GOỉ VAÁP TRệễÙC 1975
1.2.1 Quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp trong khoõng gian thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh
Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp vμ chống Mỹ, hình ảnh Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khắc sâu vμo trái tim nhân dân thaứnh phố Sμi Gòn Sau khi miền Nam được giải phóng, ngμy 2-7-1976, Quốc hội nước ta đã thông qua quyết nghị chấp thuận đề nghị của chính quyền vμ nhân dân Sμi Gòn ủoồi teõn thaứnh phoỏ Saứi Goứn thaứnh thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh[ 9, tr 7]
Thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh thuoọc mieàn ẹoõng Nam Boọ, giaựp vụựi caực tổnh Bỡnh Dửụng, ẹoàng Nai, Taõy Ninh, Long An, Baứ Rũa Vuừng Taứu “Vuứng ủoõ thũ TP Hoà Chớ Minh bao goàm Saứi Goứn, Chụù Lụựn, Gia ẹũnh, sau hụn 300 naờm
Trang 37hỡnh thaứnh coự dieọn tớch khoaỷng 210.000 ha vụựi daõn soỏ hieọn nay laứ hụn 5 trieọu ngửụứi Laứ moọt trung taõm kinh teỏ, vaờn hoaự lụựn vaứ naờng ủoọng cuỷa caỷ nửụực, thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh taực ủoọng, chi phoỏi nhieàu maởt ủeỏn caực tổnh phớa Nam Vụựi vũ trớ ủaởc bieọt vaứ lụùi theỏ so saựnh, thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh giửừ vai troứ trung taõm cuỷa vuứng kinh teỏ troùng ủieồm phớa Nam (bao goàm TP Hoà Chớ Minh, ẹoàng Nai, Baứ Rũa- Vuừng Taứu vaứ Bỡnh Dửụng)” [190, tr.10] ẹaõy laứ moọt thaứnh phoỏ treỷ, ủoõng daõn nhaỏt Vieọt nam, vaứ luoõn luoõn daón ủaàu caỷ nửụực veà nhũp ủoọ taờng trửụỷng kinh teỏ
Thụứi ủieồm 1996, vuứng laừnh thoồ cuỷa TP Hoà Chớ Minh bao goàm 12 quaọn (quaọn 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Phuự Nhuaọn, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp) vaứ 6 huyeọn ngoaùi thaứnh (Cuỷ Chi, Hoực Moõn, Bỡnh Chaựnh, Thuỷ ẹửực, Nhaứ Beứ, Caàn Giụứ), vụựi dieọn tớch laứ 2056,5 kmP
Trong Quyết định số 123/1998/QĐ-TTg ngμy 10-7-1998 của Thủ tướng Chính Phủ veà phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung của thμnh phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 xác định “các dân cư bao gồm khu nội thμnh cũ (12 quận),
khu nội thμnh phát triển (5 quận mới) khống chế khoảng 6 triệu người vμ khu
Trang 38ngoại thμnh bao gồm các thị trấn, thị tứ, các đô thị mới vμ dân cư nông thôn với
dân số từ 3 đến 4 triệu người” [22, tr 69]
Theo quan ủieồm “vuứng laừnh thoồ cuỷa ủoõ thũ bao goàm noọi thaứnh hay noọi thũ (goùi chung laứ noọi thũ), caực ủụn vũ haứnh chớnh cuỷa noọi thũ bao goàm quaọn vaứ phửụứng, coứn caực ủụn vũ haứnh chớnh ngoaùi oõ bao goàm huyeọn vaứ xaừ” [19, tr 6]P Pthỡ quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp laứ caực quaọn noọi thaứnh cuỷa thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh
Tuy nhiên, những quy định naứy chuỷ yeỏu mang tớnh chaỏt quaỷn lyự haứnh chớnh cuừng nhử ủeồ ủũnh hửụựng cho sửù phaựt trieồn ủoõ thũ – TP Hoà Chớ Minh Trong thửùc teỏ, neỏu xeựt veà vũ trớ ủũa lyự vaứ trỡnh ủoọ phaựt trieồn kinh teỏ - xaừ hoọi cuỷa ủoõ thũ, thỡ quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp coự theồ ủửụùc goùi laứ caực quaọn ven noọi; bụỷi vỡ ủaõy laứ nhửừng quaọn bao quanh trung taõm thaứnh phoỏ, laứ cửỷa ngoừ cuỷa thaứnh phoỏ Trong khaựng chieỏn choỏng Myừ cửựu nửụực caực quaọn naứy cuứng vụựi caực huyeọn ngoaùi thaứnh laứ vaứnh ủai theựp bao vaõy ủũch, baỷo veọ thaứnh phoỏ Trong Hoaứ bỡnh, nhửừng quaọn treõn laứ “vaứnh ủai xanh” cuỷa thaứnh phoỏ Trong dũp kyỷ nieọm 300 naờm Saứi Goứn - thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh (1698-1998), khi caực quaọn, huyeọn tửù giụựi thieọu, UBND quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp ủeàu xaực ủũnh ủaõy laứ nhửừng quaọn ven noọi Cuù theồ nhử sau:
“Quaọn 8 laứ quaọn vuứng ven, naốm ụỷ phớa Taõy Nam thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh, phớa ẹoõng giaựp quaọn 7, phớa Baộc giaựp quaọn 4, 2, 5, 6, phớa Taõy vaứ Nam giaựp
Huyeọn Bỡnh Chaựnh Quaọn 8 laứ cửỷa ngoừ thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh, thoõng thửụng
vụựi caực tổnh mieàn Taõy Nam Boọ qua caực huyeọn Caàn Giuoọc, Caàn ẹửụực (cuỷa tổnh
Long An) vaứ huyeọn Goứ Coõng cuỷa tổnh Tieàn Giang” [190, tr 228]
Trang 39“Quaọn Bỡnh Thaùnh naốm ụỷ ẹoõng Baộc noọi thaứnh thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh, phớa Baộc giaựp huyeọn Hoực Moõn (nay laứ quaọn 12), phớa Taõy giaựp quaọn Phuự Nhuaọn vaứ quaọn Goứ Vaỏp, phớa ẹoõng giaựp huyeọn Thuỷ ẹửực (nay laứ quaọn 9) vaứ phớa Nam giaựp quaọn 1 Quaọn Bỡnh Thaùnh naốm ụỷ vũ trớ cửỷa ngoừ vaứo thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh qua quoỏc loọ 1 ụỷ phớa ẹoõng, qua caàu Saứi Goứn phớa Baộc, qua caàu Bỡnh Trieọu cuỷa quoỏc loọ 13, Bỡnh Thaùnh cuừng laứ cửỷa ngoừ phớa baộc ủoựn taứu hoaỷ Baộc Nam qua caàu Bỡnh Lụùi vaứo ga Hoaứ Hửng” [190, tr 372]
“Taõn Bỡnh laứ quaọn ven naốm veà hửụựng Taõy Baộc noọi thaứnh thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh, ẹoõng giaựp quaọn Goứ Vaỏp, quaọn Phuự Nhuaọn, quaọn 3 vaứ quaọn
10, Taõy giaựp huyeọn Bỡnh Chaựnh vaứ quaọn 12” [190, tr 486 - 488]
“Goứ Vaỏp naốm ụỷ phớa Baộc vaứ Taõy Baộc thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh, Baộc giaựp Hoực Moõn (nay laứ quaọn 12), Nam giaựp quaọn Phuự Nhuaọn, Taõy giaựp quaọn
12 vaứ quaọn Taõn Bỡnh, ẹoõng giaựp quaọn Bỡnh Thaùnh” [190, tr 397]
Khi nghieõn cửựu veà ủoõ thũ hoaự ụỷ thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh, caực taực giaỷ nhử: TS Leõ Hoàng Lieõm, TS Nguyeón Vaờn Dieọu, TS Phan An, Traàn Vaờn ẹieọu, TS Leõ Sụn v.v cuừng xaực ủũnh quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh vaứ Goứ Vaỏp laứ caực quaọn ven- noọi PGS.TS Toõn Nửừ Quyứnh Traõn cho raống ủaõy laứ nụi maứ quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ nhất vμ coi khu vực nμy lμ
đối tượng lý tưởng ủeồ nghiên cứu “quá trình giao thoa giữa văn hoá lμng xã truyền thống với nền văn minh đô thị” [203, tr.12]
Toựm laùi, veà phửụng dieọn quản lý hμnh chính thỡ, quận 8, Bình Thạnh,
Gò Vấp, Tân Bình lμ các quận nội thμnh, nội ô, nội thị nhưng xét về vị trí địa lý
vμ hiện trạng kinh tế xã hội (thụứi kyứ 1975 - 1996) thỡ boỏn quaọn naứy vaón coứn
Trang 40phaàn naứo daựng daỏp noõng thoõn vaứ laứ nụi quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự dieón ra khaự maùnh meừ laứm cho boọ maởt thay ủoồi khaự nhanh, goựp phaàn laứm cho dieọn maùo thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh bieỏn ủoồi caỷ chieàu roọng laón chieàu saõu
1.2.2 Quaự trỡnh ủoõ thũ hoaự ụỷ quaọn 8, Bỡnh Thaùnh, Taõn Bỡnh, Goứ Vaỏp trửụực 1975
Thời kỳ 1954-1975 trở về trước, các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp - một bộ phận của Sμi Gòn (ủoõ thị phát triển nhất của miền Nam), có moọt soỏ điểm đáng chú ý:
Theo các kết quả nghiên cứu lịch sử, Sμi Gòn khởi đầu được hình thμnh với việc lập 02 đồn thu thuế, đến 1679 mở đồn Dinh ở Tân Mỹ với cư dân tập trung ban đầu khoảng 10.000 người Năm 1698 khi chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vμo Nam kinh lược, “lấy đất Nông Nại đặt lμm phủ Gia Định, lập xứ
Đồng Nai lμm huyện Phước Long, dinh Trấn Biên lập xứ Sμi Gòn lμm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn”, thì đô thị Sμi Gòn mới thực sự bắt đầu được hình thμnh
Năm 1790, thμnh Gia Định được xây dựng lμ một mốc rất quan trọng trong quá trình đô thị hoá của Sμi Gòn Lúc đó, dân số Sμi Gòn khoảng 190.000 người (180.000 người Việt vμ 10.000 người Hoa) Từ 1788 Chợ Lớn cũng được xây dựng, đặt cơ sở cho điểm dân cư đô thị mới Năm 1835 Vua Minh Mạng cho phá thμnh Gia Định vμ năm 1836 cho xây lại với quy mô nhỏ hơn
Khi Pháp xâm lược Việt Nam (1858), người Pháp bắt đầu cho xây dựng Sμi Gòn theo "mô hình đô thị kiểu Pháp" Từ 1859 đến 1954 thμnh phố Sμi Gòn tiếp tục được mở rộng, nối với Chợ Lớn - vốn lμ trung tâm giao dịch mua bán với các tỉnh miền Tây vμ từ đó đã phát triển với tốc độ nhanh chóng để trở