1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa kinh doanh của người hoa ở tp hồ chí minh

187 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa kinh doanh của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Vương Trương Hồng Vân
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan An
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thực tiễn, công trình góp phần nhận thức lại một số vấn đề: vị trí, vai trò của văn hoá kinh doanh người Hoa như là một bộ phận của văn hóa đa dân tộc của Việt Nam, góp vào sự phá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN VĂN HÓA HỌC

=== W X ===

VƯƠNG TRƯƠNG HỒNG VÂN

VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGƯỜI HOA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HĨA HỌC

Mã số : 60.31.70

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

PGS TS PHAN AN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2007

Trang 2

Xin cảm ơn Ban Lãnh Đạo Công Ty và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn của mình

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn hữu đã động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

TP.Hồ Chí Minh, tháng 10- 2007

Học viên

Vương Trương Hồng Vân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Bố cục của luận văn

CHƯƠNG 1 : VĂN HÓA KINH DOANH VÀ VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGƯỜI HOA

1.1 Một số vấn đề lý thuyết về văn hóa kinh doanh

1.1.1 Văn hóa

1.1.2 Văn hóa kinh doanh 1.1.3 Đặc trưng và chức năng của văn hóa kinh doanh 1.1.4 Cấu trúc của văn hóa kinh doanh 1.1.5 Vai trò của văn hóa trong kinh doanh 1.1.6 Các lĩnh vực tương quan với văn hóa kinh doanh 1.2 Văn hóa kinh doanh của người Hoa 1.2.1 Truyền thống thương nghiệp Trung Hoa 1.2.2 Văn hóa kinh doanh truyền thống Trung Hoa Tiểu kết CHƯƠNG 2 : NGƯỜI HOA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA HỌ 2.1 Người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh 2.1.1 Lịch sửhình thành cộng đồng

2.1.2 Môi trường cư trú

2.1.3 Tổ chức đời sống cộng đồng

2.2 Hoạt động kinh doanh 2.2.1 Vài nét về lịch sửkinh doanh của người Hoa ở thành phố 2.2.2 Loại hình kinh doanh 2.2.3 Cơ chế quản lý 2.2.4 Quan hệ xã hội 2.3 Cơ sở hình thành văn hóa kinh doanh của người Hoa 2.3.1 Lịch sử và truyền thống 2.3.2 Chính sách của chính quyền phong kiến triều Nguyễn, thực dân Pháp 2.3.3 Nho giáo

5 6 7 12 13 13 14

15

15 15 17 23 24 30 36 40 40 44

51

54

54 54 55 56 60 60 68 75 83 90 90

91 93

Trang 4

Tiểu kết

CHƯƠNG 3 : ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGƯỜI HOA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3.1 Văn hóa nhận thức trong kinh doanh 3.1.1 Sự kiên trì, nhẫn nại

3.1.2 Tín ngưỡng trong kinh doanh của người Hoa

3.2 Văn hóa tổ chức trong kinh doanh: sự gắn kết cộng đồng 3.3 Văn hóa ứng xử trong kinh doanh 3.3.1 Chữ “tín” 3.3.2 Sự trọng thị và chiều đãi khách hàng 3.4 Văn hóa kinh doanh trong nghệ thuật kinh doanh của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh

3.4.1 Những tiệm tạp hóa

3.4.2 Bán buôn bán lẻ

3.4.3 Kinh doanh mạng

3.4.4 Quan hệ với thân chủ- Khách hàng là thượng đế 3.4.5 Một số hạn chế trong văn hóa kinh doanh của người Hoa 3.4.6 Văn hóa kinh doanh của người Hoa trong mối tương quan với văn hóa kinh doanh của người Việt và người Trung Hoa Tiểu kết KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Phụ lục 1 : Danh mục bảng

Phụ lục 2 : Văn hóa doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam

Phụ lục 3 : Văn hóa quản trị Đông –Tây: mỗi nơi một vẻ

Phụ lục 4 : Những nhân vật Trung Hoa đặc sắc nhất hồi Tây mới

sang Nam Việt: Quách Đàm Phụ lục 5 : Chữ tín

Phụ lục 6 : Biết người biết ta trong kinh doanh

Phụ lục 7 : Doanh nhân cần có triết lý làm giàu

Phụ lục 8 : Thế nào là đạo đức kinh doanh?

Phụ lục 9 : Hình ảnh về một số doanh nghiệp người Hoa ở

TP.HCM Phụ lục 10 : Một số hình ảnh về hoạt động văn hóa- xã hội, hội

quán của người Hoa TP.HCM

94

96

96 96 98 102 107 107 116

118 118 120 122 125 126

127

130 133 139 145

145 146 156

162 166 168 170 175

182

185

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trên bước đường xây dựng nền kinh tế thị trường, chúng ta xác định vai trò quan trọng của thương nghiệp và thương nhân Song, do khởi điểm kinh tế của nước ta từ sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp, nên việc đào tạo

và xây dựng đội ngũ nhà kinh doanh chuyên nghiệp, có khả năng kinh doanh

và đạo đức kinh doanh chưa được quan tâm nhiều Những nhà kinh doanh của

ta có thể nói, hãy còn quá nhỏ, lẻ so với thương nhân của thế giới, nên việc thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp là tất yếu khó tránh Gia nhập WTO (World Trade Organization- Tổ chức thương mại thế giới) các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đang đối diện với thách thức lớn cho sự tồn tại của mình Chúng ta đang từng bước điều chỉnh, thay đổi cơ cấu kinh tế, xã hội cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ hội nhập, với mục tiêu "phát triển bền vững" của

tổ chức UNESCO Muốn như vậy, doanh nhân Việt Nam phải từng bước xây dựng, khẳng định nền văn hóa kinh doanh của chính mình, trên cơ sở tiếp thu, học hỏi lẫn nhau với các doanh nhân thế giới nói chung và với đối tượng tương đối gần gũi là người Hoa ở Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng

Người Hoa ở Việt Nam là một thành phần trong cộng đồng các dân tộc của Việt Nam Họ vốn có sở trường kinh doanh, sớm phát triển kinh tế hàng hóa với nét văn hóa kinh doanh độc đáo Người Hoa đã góp nhiều công sức cùng người Việt, Khmer và các dân tộc anh em trong công cuộc khai khẩn vùng đất Nam Bộ, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Người Hoa đã, đang có nhiều đóng góp tích cực cho kinh tế thành phố trong thời kỳ hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đặc biệt, từ sau chủ trương đổi mới năm 1986 đến nay, vị trí và vai trò của thương nghiệp và thương nhân đã có nhiều thay đổi, nên người Hoa càng

có có cơ hội phát huy sở trường của mình Những gì mà người Hoa sở đắc hôm nay, là kết quả của sự kế thừa tinh hoa văn hóa trong một quá trình dài

Trang 6

Hiện họ là một bộ phận cư dân có nhiều tiềm năng kinh tế- xã hội lớn, mạnh

về thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp "Phát triển bền vững" là mục tiêu lớn mà tổ chức UNESCO đang đặt ra, và kinh doanh cũng phải nằm

trong quỹ đạo ấy Cho nên, vấn đề tìm hiểu văn hóa kinh doanh của người Hoa có ý nghĩa quan trọng và mang tính thời sự nhất định, là mối quan tâm trong sự phát triển hiện nay khi Việt Nam đang tham dự toàn cầu hóa, gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trong những năm gần đây, kinh tế thế giới có sự chuyển biến rõ rệt, xuất hiện một loạt các khu vực kinh tế mới, trong đó phải kể đến khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Kinh tế khu vực này đã phát triển đến mức mà nhiều nhà nghiên cứu đã dự báo thế kỉ XXI là thế kỷ Châu Á- Thái Bình Dương hay sử dụng cụm từ "sự thần kì Châu Á" Đánh dấu cho giai đoạn này

là sự xuất hiện và lớn mạnh của các con rồng Châu Á: Singapore, Philippin, Malaysia, Brunei, Hàn Quốc… Đồng thời với việc đó là sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc đạt tỉ lệ tăng trưởng trên 10% / năm Đây là quốc gia có

số dân chiếm 1/5 của thế giới, từ lâu có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia Châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Malaysia, Singapore…

Cùng với bước chân di cư của người Trung Hoa trên khắp thế giới, nền văn hoá Trung Hoa ít nhiều phát huy tác dụng tích cực ở lĩnh vực kinh doanh thương mại Có thể nói, người Hoa hiện nắm giữ một phần kinh tế của một số quốc gia Đông Nam Á, và đã chủ động tiếp biến văn hóa với các dân tộc bản địa Quá trình tiếp biến văn hoá song phương này làm phong phú thêm cho văn hóa bản địa, đóng góp vào sự thành công của doanh nhân người Hoa trên khắp thế giới Riêng ở Việt Nam, sau năm 1975, vấn đề người Hoa đã trở thành một trong những vấn đề xã hội quan trọng

Do đó, nghiên cứu văn hoá kinh doanh của người Hoa để làm rõ một số vấn đề lý thuyết về văn hóa kinh doanh, hiểu rõ nội dung và vai trò của văn hóa kinh doanh của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

cũng như ở Việt Nam nói chung Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề xuất một số giải pháp nhằm củng cố, phát huy mặt tích cực trong văn hóa kinh doanh của người Hoa, đồng thời tạo điều kiện trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau giữa doanh nhân các dân tộc, phát huy thế mạnh vào hợp tác phát triển kinh tế đất nước, góp phần làm phong phú nền văn hóa dân tộc

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

3.1 Về lý thuyết văn hóa kinh doanh

Ở nước ngoài, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào lĩnh vực có liên quan đến văn hóa kinh doanh là nhân học kinh doanh (business anthropology) "Nhân học kinh doanh, một lĩnh vực nhân học thực hành và ứng dụng, được định nghĩa như một sự thực hành chuyên môn trong đó kiến thức thực tế, các lý thuyết và các phương pháp luận nhân học được sử dụng

để hiểu và chỉ ra những vấn đề trong kinh doanh và công nghiệp hiện đại Những nhà thực hành trong lĩnh vực này có thể áp dụng kiến thức và phương pháp từ bất kỳ một trong bốn chuyên ngành nhân học cơ bản dưới đây: nhân học khảo cổ, nhân học sinh vật, nhân học văn hóa và nhân học ngôn ngữ"1[dịch từ Baba Merietta L.1996: 158] Đây là lĩnh vực được hình thành vào đầu những năm 1930, là sự tham gia của W.Lloyd Warner, một nhà nhân học với mục tiêu ban đầu là điều tra mối quan hệ giữa năng suất công nhân và các điều kiện vật lý ở nơi làm việc ảnh hưởng đến sự mệt mỏi của công nhân, một chương trình được hướng dẫn bởi lý thuyết về quản trị khoa học

Tại Việt Nam, Phạm Xuân Nam (chủ biên) 1996, "Văn hóa và kinh

doanh", NXB Khoa Học Xã Hội luận bàn một số vấn đề chung về mối quan

hệ giữa văn hóa và kinh doanh, và việc đưa văn hóa vào kinh doanh và hợp

as a professional practice in which the substantive knowledge, theories, and methodologies of anthropology are used to understand and address problems in modern business and industry Practitioners in this field may apply knowledge and methods from any of the four core anthropological subdisciplines-archaeological, biological, cultural, and linguistic

Trang 8

tác kinh tế với nước ngoài Đỗ Minh Cương 2001 trong "Văn hóa kinh doanh

và Triết lý kinh doanh", NXB Chính Trị Quốc Gia bước đầu đề cập khái niệm, sự hình thành văn hóa kinh doanh, văn hóa kinh doanh Việt Nam Trần

Quốc Dân 2003, "Tinh thần doanh nghiệp- Giá trị định hướng của văn hóa

kinh doanh", NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội tóm tắt một số lý luận về văn hóa kinh doanh, tinh thần doanh nghiệp và một số nhận xét về quá trình khơi dậy và phát huy tinh thần doanh nghiệp ở Việt Nam

Hoàng Vinh 2004 trong "Văn hóa và phát triển ở Việt Nam- Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn" với bài viết "Bàn về văn hóa và văn hóa kinh doanh", NXB Lý Luận Chính Trị: gợi ý cách hiểu về văn hóa kinh doanh và nêu một số yếu tố của văn hóa kinh doanh Việt Nam Hoàng Hồng Hạnh

2004 "Văn hóa kinh doanh của hoạt động xuất bản trong nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ văn hóa học, đã nêu cơ sở lý luận về

văn hóa kinh doanh và văn hóa kinh doanh Việt Nam Radughin A.A 2004

(Vũ Đình Phòng dịch) "Văn hóa học- Những bài giảng" Viện Văn Hóa Thông Tin- Hà Nội, trong đó có phần đề cập đến văn hóa tổ chức hay là văn hóa

doanh nghiệp Trần Quốc Dân 2005, "Sức hấp dẫn- Một giá trị văn hóa doanh

nghiệp", NXB Chính Trị Quốc Gia đưa ra khái niệm có liên quan đến văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, gợi mở một số vấn đề về xây dựng và

nâng cao sức hấp dẫn của doanh nghiệp Việt Nam Hoàng Vinh 2006 trong

"Văn hóa doanh nhân- Một thuật ngữ khoa học", Tạp chí Văn Hóa Nghệ

Thuật số 6 Nguyễn Thanh Lân 2007, Bước đầu tìm hiểu về văn hóa doanh

nghiệp và văn hóa doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn hóa học

3.2 Về người Hoa ở Việt Nam và Đông Nam Á

Đây là những sử liệu đề cập đến người Hoa của Trịnh Hoài Đức và nhà Nguyễn, nghiên cứu bao quát vấn đề văn hóa, về sự nhập cư và quá trình chuyển dần thành cư dân bản địa của người Hoa tại Việt Nam, đã được nhiều

nhà nghiên cứu quan tâm Phan Xuân Biên, Phan An 1989 trong "Về vị trí

Trang 9

người Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam"- Tạp chí Khoa học xã hội

số 1 Mạc Đường 1990 trong "Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long", NXB Khoa Học Xã Hội Phan An (chủ biên) 1992, "Người Hoa ở Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh", UBND Quận 6 Mạc Đường 1994, "Xã hội người

Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 (tiềm năng và phát triển), NXB Khoa Học Xã Hội, tổng hợp các bài viết về tình hình dân cư- cư trú, kinh tế,

văn hóa của người Hoa tại thành phố Nghị Đoàn 1999, "Người Hoa ở Việt

Nam- Thành Phố Hồ Chí Minh", NXB TP.HCM Vương Triệu Tường- Lưu

Văn Trí 1999 (Cao Tự Thanh dịch), "Thương nhân Trung Hoa, họ là ai?" khái

quát sự phát triển, đặc điểm, các tổ chức xã hội, sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của thương nhân Trung Hoa Quận ủy-Ủy ban nhân dân Quận 5

2000, "Địa chí văn hóa Quận 5" Điền Triệu Nguyên, Điền Lượng 2001 (Cao

Tự Thanh dịch), "Lịch sử thương nhân" chủ yếu tập trung mô tả lịch sử thương nhân Trung Hoa, đạo đức, triết học và kỹ thuật kinh doanh, NXB Trẻ

Nguyễn Đệ 2004, "Tổ chức xã hội của người Hoa tại Thành phố Hồ

Chí Minh" trong "Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Những vấn đề văn hóa

xã hội", NXB Tổng Hợp TP.HCM đề cập đến tổ chức xã hội và vai trò của

các tổ chức này đối với cộng đồng người Hoa ở thành phố Phan An 2005,

"Người Hoa ở Nam Bộ", NXB Khoa Học Xã Hội, nêu tổng quan sự hình thành cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu đi sâu vào tín

ngưỡng, tôn giáo của người Hoa Trần Hồng Liên 2005 trong "Văn hóa người

Hoa ở Nam Bộ- Tín ngưỡng và tôn giáo", NXB Khoa Học Xã Hội, nêu lược

sử nghiên cứu người Hoa ở Nam Bộ sau năm 1975, một số đặc điểm, vấn đề

về phong tục tập quán, giao lưu tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hay

Trần Thị Thanh Huyền 2007 trong "Những đóng góp của đồng bào người

Hoa tại Thành Phố Hồ Chí Minh trên lĩnh vực kinh tế và văn hóa", NXB Trẻ giới thiệu khái quát về người Hoa và những đóng góp trong lĩnh vực kinh tế,

văn hóa của người Hoa ở thành phố Trần Hồng Liên (cb) 2007, "Văn hóa

người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh", NXB Khoa Học Xã Hội, khái quát về

Trang 10

cộng đồng người Hoa ở Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh trên lĩnh vực giáo dục, tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, y tế và chăm sóc sức khỏe

Tài liệu tiếng Hoa có 張俞 (Trương Du) 2002 “老挝,柬埔寨,越南華

僑華人漫記” (Ghi chép về người Hoa ở Việt Nam, Campuchia, Lào), 香港社會科學出版社有限公司(Công Ty TNHH Xuất Bản Sách Khoa Học Xã Hội Hồng Kông), tóm lược lịch sử và tình hình hiện tại của người Hoa, Hoa kiều

tại Việt Nam Một tài liệu tiếng Hoa khác là 李恩涵著 (Lý Ân Hàm) 2003

“東南亞華人史” (Lịch sử người Hoa Đông Nam Á) 五南圖書出版公司 (NXB Sách Ngũ Nam), phân tích các nhân tố, đặc điểm, bối cảnh di cư và quá trình nhập cư và phát triển của người Hoa ở Đông Nam Á

3.3 Về hoạt động kinh tế và văn hóa kinh doanh của người Hoa ở Việt Nam

Người Hoa xưa nay vốn có truyền thống kinh doanh lâu đời nên nghiên cứu người Hoa từ giác độ kinh tế sẽ cho ta cái nhìn tổng quan về mặt hạn chế

và tích cực của người Hoa, vai trò của thành phần kinh tế người Hoa trong nền kinh tế cả nước Theo xu hướng nghiên cứu này có một số nhà nghiên

cứu tiêu biểu: Huỳnh Nghị 1989, "Mối quan hệ kinh tế với nước ngoài của

người Hoa thành phố Hồ Chí Minh"-Tạp chí Khoa học số 2 Vương Phấn

Kim 1991, "Hoạt động sản xuất và kinh doanh của người Hoa trên địa bàn

Quận 6, (Tài liệu đánh máy), Ban Công tác người Hoa Thành phố Hồ Chí

Minh Võ Công Nguyện 1991, "Hoạt động sản xuất và kinh doanh của người

Hoa trên địa bàn Quận 5", (Tài liệu đánh máy), Ban Công tác người Hoa

Thành phố Hồ Chí Minh Lê Quốc Lâm 1991, "Báo cáo thực trạng kinh tế của

người Hoa ở Quận 11" (Tài liệu đánh máy), Ban Công tác người Hoa Thành phố Hồ Chí Minh

Phan An, Phan Xuân Biên 1992, "Người Hoa trong hoạt động kinh tế

của miền Nam Việt Nam từ sau năm 1975", Tạp chí Phát triển kinh tế số 14

Trang 11

Trần Khánh 1995, "The Ethnic Chinese and economic development in Viet

Nam" (Người Hoa và sự phát triển kinh tế tại Việt Nam), Institute of Southeast Asian Studies, Singapore trình bày sự phát triển và một số thành tựu kinh tế của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 1990 Trần

Hồi Sinh 1998, "Hoạt động kinh tế của người Hoa từ Sài Gòn đến Thành Phố

Hồ Chí Minh", NXB Trẻ trình bày tình hình hoạt động, đặc điểm, vai trò, vị trí cũng như tiềm năng của người Hoa trong hoạt động kinh tế của thành phố

từ sau năm 1975 đến năm 1995 Võ Công Nguyện 1998, "Về hoạt động

thương mại của người Hoa ở Sài Gòn- Chợ Lớn trước năm 1975" trong sách

"Góp phần tìm hiểu lịch sử- văn hóa 300 năm Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh", NXB Trẻ Các tài liệu này chỉ bước đầu khái quát về hoạt động kinh

tế và sự đóng góp của người Hoa thuộc các ngành nghề kinh doanh cụ thể, chưa đề cập đến văn hóa kinh doanh của người Hoa

Trần Khánh 2004, "Đặc trưng văn hóa kinh doanh của người Hoa", Tạp

chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 4(67) giới thiệu những yếu tố tạo nên tính đặc trưng trong văn hóa kinh doanh của người Hoa Ngô Văn Lệ- Nguyễn

Duy Bính 2005 với "Người Hoa ở Nam Bộ", NXB Đại Học Quốc Gia

TP.HCM, phản ánh sơ lược hoạt động kinh tế của người Hoa ở Nam Bộ

Châu Thị Hải 2006, "Văn hóa Hoa thương và những đặc trưng của nó" trong

Tạp chí Dân tộc học số 3 (141) luận bàn về một số đặc trưng trong văn hóa kinh doanh của người Hoa, sự tiếp nhận và áp dụng thành công giá trị của

Khổng Giáo vào hoạt động kinh doanh của người Hoa Phan An 2007, "Văn

hóa kinh doanh của người Hoa ở Nam Bộ" trong sách "Người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh", NXB Văn Hóa Thông Tin, nêu một số điểm cơ bản về

văn hóa kinh doanh của người Hoa Nam Bộ Lê Anh Đủ- Yến Trinh 2007 với

"Người Hoa trong kinh doanh- vốn liếng quý nhất: chữ tín", Báo Tuổi trẻ số 55/2007 ra ngày 01-03-2007 nêu những đặc trưng văn hóa kinh doanh của người Hoa và vai trò, sự đóng góp của doanh nghiệp người Hoa trong nền kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

Tài liệu tiếng Hoa có:崔生祥 编者(Thôi Sinh Tường) 2005 “诚信经商能带来甚么”(Kinh doanh thành tín có thể mang lại điều gì?) 中国长安出版社(NXB Trường An Trung Quốc) nêu những quan điểm triết học về chữ tín Tài liệu tiếng Anh: "Chinese Business Culture" trong "Doing Business in the Chinese - Speaking World" của David Boraks (download từ: www.google.com ngày 09/10/2006) nêu chi tiết những đặc điểm văn hóa kinh doanh của người Hoa: sự kiên trì, nhẫn nại, quan hệ- yếu tố quan trọng trong kinh doanh của người Hoa Ngoài ra, còn một loạt các bài viết liên quan đến

đề tài văn hóa kinh doanh đăng trên thời báo kinh tế Sài Gòn từ năm 1999 đến nay

Các tài liệu trên đã góp phần quan trọng tìm hiểu khái niệm văn hóa kinh doanh, và văn hóa kinh doanh Việt Nam, mô tả sự tham gia, đóng góp của người Hoa về mặt kinh tế, nêu một số nét đặc trưng trong văn hóa kinh doanh của người Hoa theo những góc nhìn khác nhau

Những tài liệu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cung cấp cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu nhằm thực hiện luận văn này Ngoài ra, trong quá trình làm luận văn, chúng tôi đã có dịp gặp gỡ, trao đổi với một số nhà doanh nghiệp người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Người Hoa di cư vào miền Nam Việt Nam hơn ba thế kỉ, hiện là một cộng đồng thành công trong kinh doanh buôn bán Người Hoa đặc biệt tụ cư với số lượng lớn, tập trung thành khu vực ở Thành phố Hồ Chí Minh: Quận 5, Quận 6, Quận 11 Chúng tôi chọn nghiên cứu các hoạt động thương mại của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là doanh nhân người Hoa ở khu vực Quận 5, Quận 6 (Chợ Lớn) và Quận 11 vì đây là những địa bàn tụ

cư đông đúc, là trung tâm kinh tế- văn hóa của người Hoa từ trước đến nay Đồng thời, chúng tôi cũng nghiên cứu những mối quan hệ sản xuất kinh doanh của người Hoa trong và ngoài cộng đồng ở thành phố Hồ Chí Minh;

Trang 13

hoạt động thương mại và doanh nhân người Hoa Bởi vì, tiềm năng phong phú và sự phát triển trong cộng đồng người Hoa ở Thành phố là một động lực thúc đẩy của sản xuất hàng hóa, phát triển các ngành nghề dịch vụ, thương mại, ngân hàng

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Về mặt khoa học, công trình trước hết làm rõ một số vấn đề lý thuyết

về văn hóa kinh doanh và văn hóa kinh doanh của người Hoa ở miền Nam Việt Nam, đồng thời góp cứ liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn

đề văn hóa của người Hoa Thành phố Hồ Chí Minh

Về mặt thực tiễn, công trình góp phần nhận thức lại một số vấn đề: vị trí, vai trò của văn hoá kinh doanh người Hoa như là một bộ phận của văn hóa

đa dân tộc của Việt Nam, góp vào sự phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh của người Hoa ở Việt Nam, phát huy tiềm năng kinh tế xã hội trong phát triển thành phố Hồ Chí Minh Tìm hiểu nền văn hoá kinh doanh của người Hoa, từ đó nhìn lại văn hóa kinh doanh của người Việt, góp phần vào việc trao đổi, học hỏi lẫn nhau giữa các dân tộc, định hình các chính sách kinh tế- văn hóa phù hợp, tạo sức mạnh tổng hợp phát triển kinh tế, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để tiếp cận vấn đề dưới góc độ văn hóa học, chúng tôi sẽ sử dụng chủ yếu là phương pháp liên ngành liên quan đến văn hóa học như nhân học, xã hội học… Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ sử dụng thêm phương pháp nghiên cứu khác để bổ sung:

- Phương pháp hệ thống- loại hình dùng để hệ thống hóa, phân tích các thành tố, cấu trúc, các bình diện của văn hóa kinh doanh

- Phương pháp lịch sử: cung cấp cái nhìn đồng đại, lịch đại về quá trình nhập cư của người Hoa và sự tiếp biến văn hóa của họ trên vùng đất thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, tổng hợp tư liệu để xử lý

tư liệu, kết quả nghiên cứu của các công trình khác

- Phương pháp so sánh giúp so sánh sự khác biệt cơ bản trong văn hóa kinh doanh của người Hoa so với các cộng đồng dân cư khác và bộ phận người Hoa ở Đông Nam Á

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoại trừ mở đầu và kết luận, phần nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương một: Văn hóa kinh doanh và văn hóa kinh doanh của người Hoa: phân tích khái niệm văn hóa, kinh doanh, văn hóa kinh doanh,

các đặc trưng, cấu trúc của văn hóa kinh doanh, chức năng của văn hóa kinh doanh, vai trò của văn hóa trong kinh doanh Đồng thời, chương này điểm qua một số nét về văn hóa kinh doanh truyền thống của người Trung Hoa

Chương hai: Người Hoa ở Thành Phố Hồ Chí Minh và hoạt động kinh doanh của họ: trình bày tổng quan về người Hoa ở thành phố Hồ Chí

Minh, cơ sở hình thành văn hóa kinh doanh của người Hoa: lịch sử truyền thống, cách ứng xử của chính quyền phong kiến, thực dân Pháp, Nho Giáo; hoạt động kinh doanh: loại hình kinh doanh, cơ chế quản lý, quan hệ xã hội

Chương ba: Đặc điểm văn hóa kinh doanh của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh: nêu các đặc điểm văn hóa kinh doanh của người Hoa thể

hiện qua văn hóa nhận thức: sự kiên trì, nhẫn nại, tín ngưỡng trong kinh doanh của người Hoa; văn hóa tổ chức: sự gắn kết cộng đồng và văn hóa ứng xử: chữ tín, sự trọng thị và chiều đãi khách hàng Đồng thời chúng tôi cũng đi sâu phân tích văn hóa kinh doanh trong nghệ thuật kinh doanh của người Hoa thông qua những hình thức kinh doanh tiệm tạp hóa, bán buôn bán lẻ, kinh doanh mạng, tôn chỉ "khách hàng là thượng đế" trong quan hệ với thân chủ

Trang 15

CHƯƠNG 1 VĂN HÓA KINH DOANH VÀ VĂN HÓA KINH DOANH

CỦA NGƯỜI HOA

Văn hóa là hoạt động có tính sáng tạo của con người, là thuộc tính chung khu biệt con người với con vật Văn hóa được quy về hai cách hiểu: theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực cụ thể như văn hóa ứng xử, văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh, do đó, là những giá trị văn hóa thể hiện trong hoạt động kinh doanh, hình thành và phát triển dựa trên cơ sở văn hóa cộng đồng hoặc tộc người nhất định, cụ thể là người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh là đối tượng chính mà chúng tôi muốn đề cập ở luận văn này Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề lý thuyết về văn hóa kinh doanh, các đặc trưng, cấu trúc và chức năng của văn hóa kinh doanh, vai trò của văn hóa trong kinh doanh và văn hóa kinh doanh của người Trung Hoa

1.1 Một số vấn đề lý thuyết về văn hóa kinh doanh

1.1.1 Văn hóa

Văn hóa gắn liền với hoạt động sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần đặc thù chỉ có ở con người Con người vừa là sản phẩm của văn hóa, đồng thời lại là chủ thể của văn hóa Ở phương Tây, từ văn hóa (culture) vốn dĩ có nguốn gốc từ tiếng La tinh cultura nghĩa là sự vun trồng, trồng trọt Ở phương Đông, văn hóa xuất phát từ chữ "文 化" có nghĩa là văn trị, giáo hóa Như vậy, ở cả Đông và Tây, văn hóa đều được hiểu theo nghĩa là vun trồng, giáo hóa nhân cách con người

Văn hóa là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng, tùy thuộc vào hướng tiếp cận của nhà nghiên cứu mà có sự chọn lựa thích hợp Hiện có hàng trăm định nghĩa về văn hóa, nhưng cho đến nay giới nghiên cứu khoa học chưa thể nào thống nhất được, song về cơ bản có hai cách định nghĩa về văn hóa: định nghĩa miêu tả, liệt kê hoặc định nghĩa nêu đặc trưng Mỗi dạng

Trang 16

thức đều có những mặt tích cực và hạn chế nhất định, sự khác biệt chẳng qua chỉ là nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác của khái niệm nhưng điểm nhấn chung vẫn là văn hóa gắn bó mật thiết với con người và xã hội

Trên thế giới, một trong những người đi đầu nghiên cứu về văn hóa đã được đề cập khá sớm có lẽ là E.B.Tylor Ông cho rằng: "Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội" [Tylor.E.B 2000: 13] Như vậy, Tylor đã sử dụng cách định nghĩa miêu

tả đồng nhất văn hóa với văn minh

Tổ chức UNESCO định nghĩa văn hóa như sau: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân

và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình" [dẫn theo : Phạm Đức Dương 2002: 51]

A.A Radughin trong "Văn hóa học- Những bài giảng" định nghĩa: "văn hóa - đó là phương pháp phổ quát tự thể hiện sức sáng tạo của con người, thông qua việc hình thành ý niệm, thông qua khát vọng khám phá và khẳng định ý niệm của đời sống con người trong mối tương quan giữa ý niệm ấy và

ý niệm của cái hiện hữu" [Radughin A.A 2004: 23]

Ở Việt Nam, Đào Duy Anh là một trong những người đầu tiên đưa ra ý niệm về văn hóa (trong "Việt Nam văn hóa sử cương" xuất bản năm 1938):

"Người ta thường cho rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra, không phải là như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm

vi của văn hóa, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại là không phải ở phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương

Trang 17

diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: "Văn hóa tức sinh hoạt"[dẫn theo Đoàn Văn Chúc 2004: 46]

Phan Ngọc quan niệm: "Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác" [Phan Ngọc 2004: 18]

Tuy nhiên, chúng tôi xin được sử dụng định nghĩa của GS Trần Ngọc Thêm về văn hóa để làm cơ sở cho việc triển khai khái niệm văn hóa kinh doanh trong những nội dung tiếp theo Theo GS.Trần Ngọc Thêm: "Văn hóa

là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình" [Trần Ngọc Thêm 2001: 25] Văn hóa có các đặc trưng cơ bản: tính hệ thống làm cho văn hóa thực hiện chức năng tổ chức xã hội, tính giá trị có chức năng điều chỉnh xã hội, tính nhân sinh có chức năng giao tiếp, tính lịch sử tạo nên chức năng giáo dục cho văn hóa

Văn hóa học, do đó, là một khoa học lý luận, nghiên cứu phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của văn hóa như là một đối tượng riêng biệt trên cơ sở những tư liệu được cung cấp từ các ngành có liên quan khác

1.1.2 Văn hóa kinh doanh

1.1.2.1 Kinh doanh

Kinh doanh là khái niệm rộng hơn thương nghiệp, bao gồm sản xuất, buôn bán và dịch vụ, cả ba đều có chung một mục đích là tìm kiếm lợi nhuận Trong ba hình thức kinh doanh thì thương mại xuất hiện sớm nhất, ngay từ khi con người bắt đầu có ý niệm về trao đổi hàng hóa, vật dụng để phục vụ

Trang 18

những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Kinh doanh thông qua sản xuất hàng hóa chỉ thực sự nở rộ cùng với chủ nghĩa tư bản phương Tây, cho nên kinh doanh được đồng nhất với thương mại

Kinh doanh là một loại hoạt động mang tính kinh tế của con người Kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, phát triển công nghệ, tạo sự thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong tất cả mọi lĩnh vực Kinh doanh đòi hỏi tri thức tổng hợp về tâm lý, kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội, là một trong những điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc

Kinh doanh là một thuật ngữ đa nghĩa, có thể làm động từ hoặc danh

từ Là một danh từ, kinh doanh chỉ một nghề nghiệp của cá nhân hay tổ chức tham gia vào đó Kinh doanh là một dạng thức hoạt động kinh tế với mục tiêu chính là lợi nhuận của chủ thể Hay "Kinh doanh là việc thực hiện một, một

số, hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi"[Lê Văn Hưng (cb) 2001: 7] Quan điểm này chỉ nêu được các thành tố của kinh doanh

mà chưa đề cập đến chức năng của hoạt động này

Là một động từ, khái niệm này chỉ quá trình hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi và lưu thông hàng hóa trên thị trường Xét theo quy mô, mức

độ, kinh doanh gồm hai dạng: nền sản xuất nhỏ tiểu thủ công nghiệp và nền sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, bao gồm hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ… nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường với mục đích thu lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh

Xét về mục đích, kinh doanh là một hoạt động hướng đến lợi nhuận của chủ thể kinh doanh, đây là mục tiêu chủ yếu, là động lực thúc đẩy cá nhân và

tổ chức tham gia vào sự phân công lao động xã hội Về mặt quan hệ, kinh doanh là sự ràng buộc quan hệ giữa chủ thể và khách thể kinh doanh trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa, do đó, khó tránh nảy sinh mâu thuẫn bởi vì hai bên đều hướng đến lợi ích vật chất có được từ hoạt động này "Xét

Trang 19

từ góc độ công nghệ- kỹ thuật thì kinh doanh là một quá trình gồm nhiều công đoạn khác nhau như đầu tư, sản xuất, marketing (tiếp thị) dịch vụ bảo hành; là một hệ thống hoạt động từ nhiều chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau như: quản trị kinh doanh, marketing, công nghệ và kỹ thuật sản xuất, quản lý chất lượng, mua hàng và bán hàng, kế toán và tài chính, tư vấn, bảo hành …Các dạng hoạt động trên đều có chủ thể hoạt động với nghề nghiệp chuyên môn" [Đỗ Minh Cương 2001: 66 ]

Trong tiếng Anh, trade và business là hai từ thương dùng với ý nghĩa thương mại, làm doanh nghiệp/ kinh doanh Kinh doanh (business) xuất hiện vào cuối thế kỷ 14, có gốc từ "bisignisse" với nghĩa khởi nguyên là "lo âu vì muốn công việc được hoàn thành tốt"[Nguyễn Thanh Lân 2007: 19]

Kinh doanh là: "phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hóa, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ…) trên cơ

sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất" [Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam 2002: 581]

Ở phương Đông, kinh doanh được quan niệm theo hướng tiến bộ hơn,

vì chữ "kinh" trong kinh doanh hàm chứa triết lý "kinh bang tế thế"- dựng nước và chăm lo cuộc đời của tư duy Á Đông "Kinh doanh là khái niệm rộng hơn thương nghiệp, và doanh nhân là khái niệm rộng hơn thương nhân Chữ

营ở đây có nghĩa là "quản lý"; biến thể của doanh là dinh chỉ có nghĩa là quản lý mà thôi("hành dinh") Kinh doanh 经营 nghĩa đen là "quản lý kinh tế", mà chữ kinh 经 trong "kinh tế" 经济 với nghĩa "sửa trị" (kinh tế là dạng rút gọn của "kinh bang tế thế" 经邦济世- "sửa nước cứu đời") thực chất cũng

là quản lý"[Trần Ngọc Thêm 2006] Quan điểm về kinh doanh của GS Trần Ngọc Thêm đáng chú ý hơn cả vì bao quát đầy đủ nội hàm ý nghĩa của cụm

Trang 20

từ này Chúng tôi chọn khái niệm kinh doanh của GS Trần Ngọc Thêm làm

cơ sở triển khai quan điểm "văn hóa kinh doanh" tiếp theo

Như vậy, kinh doanh có thể hiểu là quản lý quá trình sản xuất, thương mại, phân phối, trao đổi và lưu thông hàng hóa trên thị trường để đáp ứng nhu cầu của xã hội và chủ thể kinh doanh, nhằm mục đích kiếm lợi nhuận

Kinh doanh là hoạt động gắn với con người, được thực hiện bởi người kinh doanh- nhà kinh doanh, là tên gọi của các cá nhân tham gia vào quá trình kinh doanh, có vai trò quyết định trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh Nhà kinh doanh có thể hiểu là "người có chức năng khám phá và khai thác các cơ hội đang tồn tại hay sẽ xuất hiện trong thị trường bằng cách đương đầu với những rủi ro khi theo đuổi các cơ hội ấy, và cũng là người có đầu óc sáng tạo khi sáng lập doanh nghiệp mới, hoặc tung ra một sản phẩm mới, tìm ra một quy trình công nghệ mới, hay khám phá ra một cái ngách mới trong thị trường nhằm tạo ra nhiều lợi nhuận hơn"[Trần Hữu Quang 2007, Thời báo kinh tế Sài Gòn, số 866 (2007) ngày 19-07-2007] Khái niệm này thực chất đề cập một số phẩm chất cần có của một nhà kinh doanh đó là óc sáng tạo, phán đoán thị trường, dám đương đầu và khắc phục rủi ro Nhà kinh doanh có thể được hiểu ngắn gọn là "người làm kinh doanh" và họ chính là chủ thể của văn hóa kinh doanh

1.1.2.2 Văn hóa kinh doanh (VHKD- business culture)

Tại Việt Nam, thuật ngữ này chỉ mới được đề cập trong những năm trở lại đây, đồng thời chưa có một định nghĩa chuẩn nào do tính chất mới mẻ của

nó Trước khi tìm hiểu khái niệm này, chúng ta nên xác định VHKD là một

bộ phận trong các đối tượng nghiên cứu của văn hóa học ứng dụng, là sự vận dụng các giá trị tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh như: sản xuất, mua bán, lưu thông, trao đổi hàng hóa trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Theo nghĩa hẹp, VHKD được hiểu là kinh doanh có văn hóa, gần với nghệ thuật kinh doanh, đạo đức kinh doanh Theo nghĩa rộng, VHKD được hiểu là những giá trị văn hóa được hình thành trong

Trang 21

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội trong quá trình sản xuất, lưu thông và trao đổi hàng hóa trên thị trường nhằm kiếm lợi

Có thể nói, Đỗ Minh Cương là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa kinh doanh ở Việt Nam Ông cho rằng: "VHKD

là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ" [Đỗ Minh Cương 2001: 69] Định nghĩa này chưa phản ánh các thành tố của VHKD, chưa thể hiện được vai trò của VHKD

TS Huỳnh Quốc Thắng đã định nghĩa: "VHKD (business culture) hay văn hóa thương mại (commercial culture) là những giá trị văn hóa gắn liền với hoạt động kinh doanh (mua bán, khâu gạch nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng) một món hàng hóa (một thương phẩm/ một dịch vụ) cụ thể trong toàn cảnh mọi mối quan hệ văn hóa- xã hội khác nhau của nó" [Huỳnh Quốc Thắng 2004: 68-69, Tạp chí Khoa học xã hội số 3 / 2004]

Theo nghĩa rộng, "VHKD là sự thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn hóa dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị triết lý… mà các thành viên này tạo ra trong quá trình kinh doanh"[Nguyễn Hoàng Ánh 2005: 57, Tạp chí Hoạt động khoa học số 3/2005] Định nghĩa này chỉ đề cập VHKD ở phạm vi hẹp, chưa nêu vai trò của đối tượng chính được nghiên cứu ở đây

Theo dạng thức định nghĩa miêu tả, Lê Đăng Doanh quan niệm:

"VHKD bao gồm toàn bộ phương thức tiến hành kinh doanh, quản lý kinh doanh, đàm phán với các đối tác, giải quyết các nhiệm vụ xuất hiện trong quá trình kinh doanh"[Lê Đăng Doanh 2003: 2] Mỗi kiểu định nghĩa đều có hạt nhân hợp lý riêng, song những định nghĩa trên chỉ đề cập, liệt kê các thành tố, đặc trưng cơ bản của văn hóa kinh doanh ở cấp độ biểu hiện, chưa nêu sự

Trang 22

đóng góp, vai trò của văn hóa trong quá trình kinh doanh và chỉ nhìn VHKD

- VHKD mang tính lịch sử, gắn liền với quốc gia, dân tộc Mỗi một dân tộc, quốc gia sản xuất vật chất trong từng giai đoạn khác nhau sẽ áp dụng và điều chỉnh những nhân tố văn hóa vốn có theo những chuẩn mực mới hợp thời, gắn liền với văn minh Hơn nữa, kinh tế thị trường là một nền sản xuất hàng hóa ở trình độ cao, cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi doanh nghiệp phải nhạy bén, nhanh chóng thích ứng và cải tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, mang lại lợi ích cao nhất cho bản thân mình và toàn xã hội Kinh tế thị trường là đỉnh cao của kinh doanh và VHKD

- "VHKD là một bộ phận, là cái đặc thù so với cái văn hóa chung của dân tộc"[Đỗ Minh Cương 2001: 71] Bản chất của VHKD là làm cho cái lợi gắn với chân- thiện- mỹ Vì hoạt động kinh doanh mang lợi ích vật chất cụ thể, nên những giá trị văn hóa tinh thần được tích lũy và trao truyền trong quá trình kinh doanh sẽ tác động mạnh, tạo thành hiệu quả kinh tế của chủ thể kinh doanh, lợi ích của người tiêu dùng, góp phần cho sự phát triển kinh tế ổn định, bền vững

- VHKD đề cao giá trị cá nhân của các chủ thể kinh doanh "Các yếu tố này có vai trò đặc biệt quan trọng, là hạt nhân thúc đẩy doanh nghiệp kế thừa

và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, hình thành những giá trị mang tính đặc trưng cho mình" [Hoàng Hồng Hạnh 2004: 16] VHKD bao gồm các

Trang 23

nhân tố chủ quan để kinh doanh nằm trong quỹ đạo phát triển, trở thành một

bộ phận mang lại lợi ích cộng đồng

Từ các đặc trưng trên ta có thể định nghĩa văn hóa kinh doanh như sau:

VHKD là một hệ thống của các giá trị do nhà kinh doanh sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên của mình, đảm bảo lợi ích cá nhân phù hợp với lợi ích cộng đồng, nhằm đảm bảo sự phát triển của cộng đồng

1.1.3 Đặc trưng và chức năng của văn hóa kinh doanh

1.1.3.1 Đặc trưng của văn hóa kinh doanh

Là một tiểu văn hóa nên VHKD cũng có đầy đủ các đặc trưng cơ bản: tính hệ thống, tính giá trị và tính nhân sinh VHKD có tính hệ thống, cho phép chúng ta nhận diện tính tổ chức của nhà kinh doanh, phân biệt nhà kinh doanh

có văn hóa với nhà kinh doanh chỉ có tập hợp giá trị Bên cạnh tính hệ thống, VHKD còn có tính giá trị, dùng để khu biệt nhà kinh doanh có văn hóa với nhà kinh doanh phi văn hóa VHKD mang giá trị nội bộ, giá trị vùng và giá trị quốc gia, quốc tế, phụ thuộc vào sự theo đuổi và tôn trọng các giá trị văn hóa cộng đồng của nhà kinh doanh Ngoài ra, VHKD còn có tính nhân sinh, đây

là đặc trưng cơ bản phân biệt văn hóa kinh doanh với các tiểu văn hóa khác

Hơn nữa, VHKD cũng được xác lập trong một hệ tọa độ gồm chủ thể văn hóa, không gian văn hóa và thời gian văn hóa Chủ thể văn hóa ở đây là nhà kinh doanh- một loại chủ thể văn hóa đặc biệt vì nhà kinh doanh có thể là cộng đồng hoặc nhóm cộng đồng với những đặc trưng văn hóa nhất định Tính lịch sử của VHKD cũng có nghĩa là thời gian văn hóa của nó, đó là quá trình hoạt động kinh doanh Môi trường văn hóa của nó là môi trường xã hội gồm khách hàng, bạn hàng hoặc đối tác; và môi trường tự nhiên gồm nơi tồn tại và hoạt động, nơi cung cấp nguyên nhiên liệu …

1.1.3.2 Chức năng của văn hóa kinh doanh

Ba đặc trưng cơ bản nói trên tạo cho VHKD chức năng tổ chức và điều chỉnh kinh doanh, giao tiếp, giáo dục, đảm bảo tính kế tục của lịch sử

Trang 24

* Nhờ tính hệ thống và tính giá trị, VHKD thực hiện chức năng tổ chức

và điều chỉnh kinh doanh, giúp cho hoạt động kinh doanh duy trì được trạng thái cân bằng hợp lý cung-cầu, nguồn nhân lực, vật lực Điều này giúp nhà kinh doanh không ngừng tự hoàn thiện bộ máy tổ chức, sản phẩm của mình

để thích ứng với những nhu cầu luôn biến động của thị trường, đạt được mục đích tối cao của kinh doanh là lợi nhuận VHKD định hướng các chuẩn mực đạo đức kinh doanh, các chuẩn mực ứng xử, hành vi của khách thể và chủ thể kinh doanh phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa của dân tộc, hình thành nhân cách cá nhân và hành vi kinh tế phục vụ cho lợi ích cộng đồng và xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững

* Tính nhân sinh làm tiền đề cho VHKD thực hiện chức năng giao tiếp, làm cơ sở giao tiếp trong và ngoài nội bộ những nhà kinh doanh VHKD thúc đẩy giao lưu kinh tế- văn hóa giữa các cá nhân trong cùng một dân tộc, giữa các dân tộc với nhau, giữa các nền văn hóa, dựa trên cơ sở tiếp thu và bản địa hóa yếu tố ngoại lai, làm phong phú văn hóa dân tộc Đồng thời, VHKD gợi

mở cánh cửa hiểu biết đến những chân trời mới- nơi có những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, giúp cải tiến công nghệ và nâng cao trình

độ sản xuất, quản lý của nhà kinh doanh

* Chức năng giáo dục, đảm bảo tính kế tục của lịch sử: VHKD thực hiện chức năng giáo dục nhờ tính lịch sử, thông qua con đường giáo dục đào tạo, trao truyền kinh nghiệm, nghệ thuật kinh doanh, những giá trị truyền thống…từ thế hệ trước cho thế hệ sau trong những giai đoạn lịch sử cụ thể và bằng những giá trị văn hóa mới đang hình thành "Các giá trị đã ổn định và các giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới"[Trần Ngọc Thêm 2001: 24] Vì lẽ đó, VHKD là cơ sở đảm bảo cho tính kế tục của lịch sử, trao truyền và bảo lưu những nhân tố văn hóa tích cực cho thế hệ mai sau, đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội tương lai

Trang 25

1.1.4 Cấu trúc của văn hóa kinh doanh

VHKD nói trên, là một tiểu văn hóa (subculture) mà chủ thể sáng tạo là nhà kinh doanh Theo quan điểm hệ thống- loại hình của GS Trần Ngọc Thêm, về mặt cấu trúc, văn hóa có thể xét từ góc độ quá trình và hoạt động

- Giá trị của sản phẩm kinh doanh: kinh doanh nói trên có thể chia thành

ba loại: kinh doanh sản xuất tạo ra sản phẩm trực tiếp, có thể hữu hình hoặc

vô hình; kinh doanh dịch vụ đem lại cho con người tiện nghi, niềm vui, hạnh phúc, tri thức…- đó là các giá trị vô hình và kinh doanh mại, đặt hàng hóa vào những hệ toạ độ mới, làm dịch chuyển giá trị, thay đổi giá trị, do vậy, cũng tạo ra giá trị Đó là các giá trị gia tăng, nhiều khi hữu hình hóa cái vô hình

Trên cơ sở đó, nhà kinh doanh có cách thức riêng để tạo ra những giá trị đặc thù của mình, tạo nên văn hóa kinh doanh Và những hình thức kinh doanh nào càng liên quan nhiều đến con người thì cái đặc thù tạo nên văn hóa kinh doanh càng rõ nét

Từ góc độ hoạt động: có thể xem văn hóa là một hệ thống quy định bởi một loại hình văn hóa nhất định, bao gồm ba thành tố là văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử

1.1.4.1 Văn hóa nhận thức

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, nhà kinh doanh luôn có nhu cầu tìm hiểu, nên đã tích lũy một kho tàng kinh nghiệm phong phú và tri thức về vũ trụ và con người, nên nếu xét về đối tượng, văn hóa nhận thức bao gồm nhận thức về vũ trụ, môi trường kinh doanh và con người Nếu xét theo

Trang 26

mức độ, văn hóa nhận thức gồm nhận thức khái quát, nhận thức chuyên sâu

và nhận thức cảm tính

Văn hóa nhận thức thể hiện ở lớp nhận thức khái quát gồm triết lý kinh doanh, đạo đức, trách nhiệm của nhà kinh doanh Ở lớp nhận thức chuyên sâu, văn hóa nhận thức bao hàm các kinh nghiệm kinh doanh và nghề nghiệp

mà nhà kinh doanh tích lũy được Ở lớp nhận thức cảm tính, văn hóa nhận thức biểu hiện ở tín ngưỡng (tổ nghề, giỗ tổ…) và những quan niệm mang tính tín ngưỡng (huyền thoại )

a) Triết lý kinh doanh

Triết lý kinh doanh là sự vận dụng những quan niệm chung, những tư tưởng triết học của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội làm kim chỉ nam cho hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh dựa trên nền tảng văn hóa tộc người "Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm và khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh"[Đỗ Minh Cương 2001: 201] Triết lý kinh doanh là sự tổng kết kinh nghiệm hoạt động kinh doanh để đạt mục đích vì nhân sinh, đáp ứng nhu cầu lợi nhuận chính đáng của chủ thể kinh doanh

Chúng tôi thử đưa ra một ví dụ để làm rõ hơn nội dung của triết lý kinh doanh "Đối với Công ty điện khí Matsushita, nếu đẩy mạnh sản xuất mạnh

mẽ và có hiệu quả cao thì sẽ góp phần vào việc trừ bỏ chữ "nghèo" mà đi liền với nó là chữ "khổ", sẽ có thể giúp ích cho mọi người dân Nhật Bản yên tâm vui sống và làm việc Đó chính là sứ mạng của Công ty"[Đỗ Minh Cương 2001: 208] Triết lý kinh doanh này là sự tích tụ kinh nghiệm của 18 năm lãnh đạo của Matsushita, trở thành sứ mạng nghề nghiệp, được thể hiện trong bộ luật đạo lý và bài chính ca của hãng

b) Đạo đức kinh doanh

Đây là sự thể hiện các quan hệ lợi ích trong kinh doanh giữa khâu sản xuất (hoạt động sản xuất kinh doanh) và lưu thông, phân phối (mục tiêu), sự vận dụng các yếu tố văn hóa trong lĩnh vực này, nhằm tạo ra môi trường đạo

Trang 27

đức cho hoạt động kinh doanh, làm sao cho hoạt động ấy vừa diễn ra lành mạnh, vừa đạt hiệu quả kinh tế tối ưu "Đạo đức kinh doanh là một loại hình đạo đức điều chỉnh trong lĩnh vực kinh doanh, có tác động và chi phối hành vi của các chủ thể hoạt động kinh doanh"[Đỗ Minh Cương 2001: 77] Kinh doanh là một nghề phức tạp đòi hỏi chủ thể phải năng động, sáng tạo và nhạy bén trước thời cuộc, phải có đức, vì "thương trường là chiến trường" Cho nên, nền tảng đạo đức kinh doanh cũng phải phù hợp với những chuẩn mực của xã hội, kinh doanh trở thành một lĩnh vực hoạt động xã hội, làm cho kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo công bằng xã hội

Đạo đức kinh doanh còn có thể được hiểu là "sự tôn trọng luân lý nghề nghiệp và các qui tắc ứng xử (thường do các hiệp hội ngành nghề hay do chính doanh nghiệp ban hành) nhằm làm sao doanh nghiệp có thể đảm nhiệm được trách nhiệm của mình đối với các đối tác xã hội và đối tác tài chính của mình, cũng như đối với xã hội nói chung"[Trần Hữu Quang 2007, Thời báo kinh tế Sài Gòn số 866(2007) ngày 26-07-2007] Đạo đức kinh doanh gồm hai mặt: những điều cấm đoán (chẳng hạn không được lạm dụng quyền lực)

và cả những giá trị tích cực cần phát huy (như tôn trọng nhân viên, công khai thông tin…) vì doanh nghiệp là không chỉ là một đơn vị kinh tế mà còn là một tập thể, một cộng đồng gồm những người thỏa thuận gắn bó, làm việc với nhau, là một tế bào của xã hội và là một sinh thái rộng lớn hơn

Đạo đức kinh doanh là tiêu chuẩn để đánh giá phong cách của nhà kinh doanh Một nhà kinh doanh được xem là có phong cách nếu rành rẽ thị hiếu người tiêu dùng, hoạt động hiệu quả, có uy tín trong cộng đồng Đồng thời,

họ phải có hành vi, hoạt động theo tiêu chuẩn phù hợp với văn hóa, với phong tục và tập quán truyền thống, có lối ứng xử thích hợp với mọi tình huống vì hàng hóa và thị trường là những đối tượng kinh doanh, cho nên phải đảm bảo chất lượng, phù hợp nhu cầu, cân đối, điều tiết nguồn hàng Phong cách lại bao gồm tư duy, phương thức làm việc, diễn đạt, sinh hoạt, ứng xử, nên muốn

Trang 28

có phong cách tốt, nhà kinh doanh phải không ngừng học tập, rèn luyện bản thân Trên cơ sở đó, chúng ta có thể nhìn nhận một số phẩm chất đạo đức được xã hội cho là cần thiếtđối với nhà kinh doanh hiện nay gồm có: một là tính trung thực, coi trọng sự công bằng và đạo lý trong kinh doan Hai là tôn trọng khách hàng, nhân viên, coi trọng chữ tín trong giao tiếp, quan hệ và hoạt động kinh doanh Ba là vươn tới sự hoàn hảo, không ngừng vượt lên chính mình, có hoài bão, lý tưởng Bốn là dám đương đầu với thử thách, không nản chí trước mọi khó khăn gian khổ Năm là coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội

c) Nghệ thuật kinh doanh

Cũng như các dạng hoạt động mang tính xã hội khác, muốn kinh doanh

có hiệu quả, chủ thể kinh doanh phải có kinh nghiệm hay tri thức tối thiểu về lĩnh vực mà mình đang tham gia, để từ đó có hướng quản lý thích hợp, thậm chí xây dựng thành nghệ thuật (hay thủ thuật) đặc thù cho riêng mình Cho nên, nghệ thuật kinh doanh là tổ hợp từ chỉ tài năng, mưu mẹo, khôn khéo mà chủ thể vận dụng trong hoạt động kinh doanh từ sự kế thừa và sáng tạo các giá trị văn hóa Nghệ thuật kinh doanh trong một số trường hợp là sự kết hợp của kinh nghiệm (cách thức), đạo đức (chữ tín), và hiệu quả (lợi nhuận)

1.1.4.2 Văn hóa tổ chức: là văn hóa thể hiện trong mọi mặt hoạt động,

tổ chức đời sống của nhà kinh doanh gồm văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Văn hóa tổ chức đời sống tập thể lại hàm chứa văn hóa quản lý trên mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp

Văn hóa tổ chức kinh doanh là những giá trị văn hóa truyền thống được hình thành và phát triển trong những môi trường lịch sử- chính trị cụ thể trong khuôn khổ luật pháp, phù hợp với tâm thức cộng đồng và môi trường văn hóa- xã hội nhất định Bên cạnh đó, nó cũng là một kiểu lối, một phương thức hoạt động ứng xử của những thành viên cùng làm việc trong một tổ chức kinh doanh như một công ty, một doanh nghiệp hay một tập đoàn …nào đó Đây là

Trang 29

một dạng văn hóa tổ chức, được đề cập nhiều, thậm chí xây dựng thành văn bản quy định của nhà kinh doanh

1.1.4.3 Văn hóa ứng xử: là văn hóa liên quan đến cách thức xử sự của

chủ thể kinh doanh đối với hai loại môi trường tự nhiên và xã hội gồm ứng xử với các đối tượng hữu quan, với môi trường tự nhiên nơi cư trú và với nguồn nguyên nhiên liệu

* Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội trong kinh doanh gồm văn hóa tiếp thị, văn hóa ứng xử với khách hàng, với đối tác, với cộng đồng cư dân địa phương và với toàn xã hội…

Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội là thuật ngữ bao quát cả văn hóa ứng xử nguồn nhân lực trong doanh nghiệp và văn hóa ứng xử với cộng đồng

xã hội Dù là nguồn nhân lực trong doanh nghiệp hay cộng đồng, thiết nghĩ, văn hóa ứng xử này đều phải tuân theo những quy tắc nhất định đó là tôn trọng người lao động, khách hàng Đối với nhà kinh doanh, nguồn nhân lực then chốt là người lao động, do đó, việc xây dựng một môi trường nhân văn, dựa trên mối quan hệ nhân ái giữa người và người, sử dụng đúng người, đúng việc, phát huy tính tích cực sáng tạo của cá nhân, công bằng, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần tối thiểu của người lao động là việc làm cần thiết của các doanh nghiệp

Trong các thành tố của văn hóa kinh doanh thì văn hóa ứng xử với cộng đồng xã hội giữ một vị trí quan trọng nhất định, biểu hiện hành vi của nhà kinh doanh đối với cộng đồng Đối với cộng đồng xã hội, sự tồn tại của nhà kinh doanh gắn liền với "hình ảnh" của nó, đó là hoạt động kinh doanh có hướng đến lợi ích cộng đồng: làm từ thiện, gây quỹ ủng hộ vì người nghèo…, rộng hơn nữa, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững của toàn xã hội Văn hóa ứng xử này còn thể hiện ở việc tôn trọng luật pháp kinh doanh, thực hiện việc cạnh tranh lành mạnh, tạo mối quan hệ tốt với khách thể kinh doanh (qua

Trang 30

việc chú trọng nâng cao chất lượng hàng hóa, ứng xử khéo léo, trọng thị và chiều đãi khách hàng) và Nhà nước

* Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên trong kinh doanh gồm văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên nơi cư trú, với nguồn nguyên nhiên liệu

Nguyên nhiên liệu là nguồn nguyên vật liệu cung cấp trực tiếp cho hoạt động sản xuất- kinh doanh, là một trong những thế mạnh của nhiều quốc gia Cho nên, vấn đề ứng xử với nguyên nhiên liệu có liên quan đến pháp chế vì nguyên nhiên liệu thì có hạn, còn nhu cầu của con người thì vô hạn, và việc

sử dụng nó còn thể hiện bản lĩnh văn hóa của doanh nghiệp, nhà kinh doanh

Vì lẽ đó, đây là những giá trị văn hóa hình thành trong quá trình sử dụng nguồn nguyên nhiên liệu, trên cơ sở tiết kiệm, tránh lãng phí, sáng tạo và tái

sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo nguyên tắc bảo vệ môi trường và tính đến thế hệ sau, hướng đến phát triển bền vững

Cho nên, chúng ta có thể hình dung cấu trúc của văn hóa kinh doanh như sau:

Trang 31

1.1.5 Vai trò của văn hóa trong kinh doanh

Văn hóa kinh doanh trong một số trường hợp được giới hạn trong hai phạm trù: văn hóa trong kinh doanh và kinh doanh có văn hóa "Văn hóa trong kinh doanh chính là nỗ lực chủ quan của người tham gia kinh doanh, họ thực sự đã đóng góp công sức cho sự tiến bộ xã hội, song cũng chính họ, nếu không đủ sức và lực, nhân và trí sẽ có những hành vi phản văn hóa trong kinh doanh"[Phạm Xuân Nam (cb)1996:135] Cho nên, ranh giới giữa kinh doanh

có văn hóa và phi văn hóa rất gần nhau, phụ thuộc vào tính cách của nhà kinh doanh Kinh doanh có văn hóa là một yêu cầu khách quan đặt ra đối với doanh nghiệp, góp phần làm cho xã hội văn minh, lành mạnh và phát triển

1.1.5.1 Văn hóa là một động lực và cách thức phát triển kinh doanh bền vững, phát huy khả năng sáng tạo của cá nhân, đáp ứng tối đa nhu cầu vật chất và tinh thần của con người

Mục đích thứ nhất của kinh doanh mặc nhiên là lợi nhuận Hoạt động kinh doanh dù được thực hiện dưới bất kỳ phương thức nào, cũng đều phục

Nhận thức khái quát Triết lý kinh doanh, đạo đức, trách nhiệm của

nhà kinh doanh

Nhận thức chuyên sâu Các kinh nghiệm kinh doanh và nghề nghiệp mà

nhà kinh doanh tích lũy được

Văn

hóa

nhận

thức

Nhận thức cảm tính Tín ngưỡng (tổ nghề, giỗ tổ…) và những quan

niệm mang tính tín ngưỡng (huyền thoại )

Trang 32

vụ cho mục đích này Tuy nhiên, động cơ của kinh doanh không chỉ là lợi nhuận, doanh nhân không chỉ hoạt động vì sự giàu có của bản thân mình Kinh doanh ít nhất song hành hai nhiệm vụ: nhiệm vụ kinh tế và nhiệm vụ chính trị Vì kinh doanh trước hết tạo ra của cải vật chất cho xã hội, sản xuất tiêu dùng có tăng thì chất lượng cuộc sống mới được nâng cao Kinh doanh góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước vì "dân có giàu, nước mới mạnh", hướng đến xây dựng xã hội công bằng, văn minh

Trên thực tế, ngoài nhu cầu kiếm lợi thuộc về bản năng, con người còn

bị chi phối bởi những nhu cầu mang tính xã hội như: nhu cầu tự khẳng định

và được tôn trọng, được tự thể hiện và sáng tạo Một số doanh nhân khi kinh doanh có hiệu quả đã dùng tài sản của mình để làm từ thiện, lập quỹ phát triển văn hóa, giáo dục, tu sửa, tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử, xây dựng trường học, bệnh viện không chỉ nhằm mục đích quảng cáo tên tuổi, thương hiệu, tiêu biểu như doanh nghiệp thép Pomina tài trợ cho chương trình "Ngôi nhà

mơ ước" được phát sóng vào tối thứ bảy hàng tuần trên kênh truyền hình HTV 7

Kinh doanh phát triển, chất lượng cuộc sống được nâng cao, con người

có nhiều thời gian giải trí, đầu tư cho các hoạt động sáng tạo Chính sự sáng tạo này sẽ cho ra đời khoa học công nghệ mới, tiếp tục phục vụ tiện ích cho con người Chúng tôi xin viện dẫn lời của phát biểu của ông Mayor- Tổng Giám đốc UNESCO để làm sáng tỏ vấn đề trên:

"Khi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra mà tách rời môi trường văn hóa thì kết quả thu được sẽ rất khập khiễng, mất cân đối cả về kinh tế lẫn văn hóa, đồng thời tiềm năng sáng tạo của một dân tộc sẽ suy yếu

đi rất nhiều"[dẫn theo: Hoàng Hồng Hạnh 2004: 20]

Lợi nhuận dù rất quan trọng song kinh doanh còn bị chi phối bởi hệ thống pháp luật và văn hóa Chính sự tồn tại, kiểm soát đa phương này mà bộ máy xã hội phát huy được chức năng điều tiết đa phương diện của mình Kinh

Trang 33

doanh phát triển thể hiện ở chỉ số tăng trưởng, mức độ mở rộng phạm vi kinh doanh, nguồn vốn và lợi nhuận cùng những đóng góp của nhà kinh doanh cho

xã hội Tăng trưởng nhưng phải đảm bảo tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạnh phúc con người bởi vì mỗi một hành động của thế hệ hôm nay sẽ là hệ quả tất yếu của thế hệ mai sau Văn hóa kinh doanh đem lại sự tăng trưởng mang tính nhân văn, hài hòa, bền vững cho từng cá nhân, toàn xã hội và cộng đồng dân tộc, quốc gia

Kinh doanh và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau Kinh doanh có văn hóa thể hiện trong mối quan hệ giữa những người làm kinh doanh, ở cách chọn sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường Ngược lại, kinh doanh vô văn hóa bất chấp thủ đoạn để kiếm lợi Những nhà kinh doanh nếu đặt mục đích kiếm tiền lên trên hết thì có thể dễ dàng thành đạt về kinh

tế, nhưng bản thân họ phải gánh chịu một nỗi bất hạnh nhất định, là hệ quả tất yếu của việc áp dụng quá nhiều thủ đoạn phản văn hóa để đạt mục đích của mình Nhân tố văn hóa càng nhiều làm cho kinh doanh đạt hiệu quả cao và tạo sự phát triển bền vững "Kinh doanh có văn hóa tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa nhà sản xuất, nhà kinh doanh và người tiêu dùng theo nguyên tắc các bên đều có lợi Nét đẹp trong hoạt động kinh doanh có văn hóa còn khuyến khích cạnh tranh lành mạnh để cùng tồn tại và phát triển chứ không loại trừ nhau"[Vũ Quang Trọng 2005: 20]

Tương tự như các tiểu văn hóa khác, VHKD cũng tuân theo quy luật lượng- chất Theo quy luật này, sự vật ở trạng thái vận động không ngừng, đến đỉnh điểm sẽ từ sự thay đổi về lượng, dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại Qua những lần phủ định như thế, sự vật sau ra đời, kế thừa những mặt tích cực của sự vật trước và lại tiếp tục quy trình thay đổi lượng- chất làm cho sự vật phát triển không ngừng Do đó, VHKD chỉ phát huy được tác dụng khi nó được vận hành trong một kiểu quản trị dựa trên sự coi trọng vai trò của nguồn nhân lực, phát huy tính tự giác, sáng tạo của đội ngũ viên chức, lãnh đạo VHKD không thể thay thế cho các nguồn lực khác của doanh nghiệp như

Trang 34

vốn, tài sản… cũng như tài chính, kỹ thuật, nhưng có tác dụng tạo ra môi trường và cách thức sử dụng có hiệu quả, lâu dài các nguồn lực của doanh nghiệp, tạo phương thức phát triển bền vững

1.1.5.2 Văn hóa kinh doanh góp phần bảo tồn và phát triển những giá trị thuộc về bản sắc văn hóa dân tộc

VHKD hình thành gắn với điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, cho nên vừa mang tính kế thừa những tinh hoa văn hóa dân tộc, vừa mang tính sáng tạo Chủ thể kinh doanh cho dù là cá nhân hay tổ chức cũng xuất phát từ một nhóm cộng đồng nên về cơ bản mang theo những phong tục tập quán, hành vi, thói quen ứng xử nhất định Những yếu tố này thể hiện rõ nét trong cách thức điều hành quản lý kinh doanh và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế

Hoạt động kinh doanh trong nền sản xuất hàng hóa, phát sinh đầu tiên

từ nhu cầu của bản thân, sau đó, nhằm đáp ứng kênh cung- cầu của xã hội Kinh doanh do vậy, là hoạt động mang tính xã hội hóa cao, mỗi doanh nghiệp

có thể nói là một sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội Cho nên, kinh doanh tự thân đã hàm chứa những nhân tố văn hóa tinh thần được biểu hiện qua VHKD của mỗi chủ thể, tộc người ở những giai đoạn lịch sử cụ thể

VHKD tuân theo quy luật kế thừa và phát triển Những giá trị VHKD

sẽ tiếp tục được điều chỉnh, tăng cường và củng cố trong giai đoạn mới, trong ngôi nhà lớn- văn hóa dân tôc Cho nên, việc gìn giữ và phát huy VHKD là trách nhiệm không chỉ của bản thân doanh nhân, doanh nghiệp mà là toàn xã hội bởi vì có cung- cầu mới cần đến kinh doanh Thị hiếu của người tiêu dùng- khách thể của hoạt động kinh doanh đóng vai trò quan trọng quyết định chiến lược sản xuất kinh doanh, phương án kinh doanh của nhà kinh doanh nói riêng "Kinh doanh có văn hóa chính là phần thể hiện cái tâm và là bản chất văn hóa của người tham gia kinh doanh Nó chính là thước đo trình độ văn hóa, giáo dục, tình cảm và trách nhiệm của người kinh doanh trước vận mệnh của khách hàng"[Phạm Xuân Nam (cb)1996: 137]

Trang 35

1.1.5.3 Văn hóa kinh doanh góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa- kinh tế giữa các quốc gia, tăng cường mức độ gắn kết cộng đồng

Hoạt động kinh doanh diễn ra dưới sự tương tác qua lại giữa khách thể

và chủ thể kinh doanh, người mua, người bán và các yếu tố trung gian khác Kinh doanh tất yếu phải có cạnh tranh, nhờ tính cạnh tranh này mà chất lượng, bao bì, mẫu mã sản phẩm được nâng cao, giá thành hạ, người tiêu dùng được hưởng lợi Nhà kinh doanh bắt buộc phải tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu mới, công nghệ mới, giá thành rẻ, đủ để đáp ứng cho nguồn cung ấy Vấn đề đặt ra là nhà kinh doanh sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào? Nếu doanh nghiệp chỉ vì lợi nhuận, đi ngược lại các giá trị văn hóa kinh doanh, phá hoại môi trường, buôn gian bán lận, dùng đồng tiền để cân đo mọi mối quan hệ xã hội thì sớm muộn sẽ tự động bị người tiêu dùng đào thải, mất hết chỗ đứng trên thị trường, đi đến phá sản…

Trên thực tế, sự thành công của doanh nghiệp được đánh giá trên lợi nhuận kinh doanh và mức độ đón nhận sản phẩm của người tiêu dùng Một sản phẩm sẽ được người tiêu dùng chấp nhận ngoài tiêu chí chất lượng, bao

bì, thương hiệu…, còn phải mang thông điệp văn hóa Điều này đồng nghĩa với việc văn hóa đã thấm sâu vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp và phát huy vai trò tích cực của nó Cho nên, xây dựng và phát triển VHKD sẽ phát huy được sức mạnh kinh tế của cả cộng đồng

Kinh doanh là một hoạt động manh tính năng động, nhạy bén, luôn cần

sự hỗ trợ của khoa học- công nghệ, kỹ thuật hiện đại, do đó, không thể chỉ đóng khung trong phạm vi một quốc gia Mỗi một đất nước do những điều kiện nhân lực, vật lực, tài lực nhất định sẽ cho ra đời những sản phẩm đặc thù Nói như vậy, không có nghĩa là những quốc gia nghèo tài nguyên, diện tích nhỏ sẽ không thể phát minh ra công nghệ mới, đạt được thành tựu lớn mà Nhật Bản là một điển hình Điều này liên quan đến nhiều vấn đề khác như chính sách đãi ngộ nhân tài …mà chúng tôi không luận bàn ở đây

Trang 36

Trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hiện nay, việc mở cửa, giao lưu kinh

tế, chuyển giao công nghệ diễn ra thường xuyên, nên các mối quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được triển khai và tăng cường Hệ quả của trào lưu hội nhập và toàn cầu hóa với tốc độ chóng mặt là sự giao lưu tiếp biến văn hóa, là

sự nhất thể hóa về mọi mặt, đe dọa sự sinh tồn của các nền văn hóa cùng những bản sắc riêng của mỗi dân tộc Phạm vi hợp tác quốc tế càng được mở rộng, quá trình tiếp biến văn hóa càng diễn ra mạnh mẽ, các dân tộc có điều kiện tiếp thu yếu tố văn hóa từ bên ngoài một cách phù hợp Cho nên, bản thân nền văn hóa bản địa phải đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng mất bản sắc

1.1.6 Các lĩnh vực tương quan với văn hóa kinh doanh

1.1.6.1 Văn hóa doanh nghiệp (VHDN)

Văn hóa doanh nghiệp là một bộ phận có nhiều tương quan với VHKD Trong nhiều trường hợp, văn hóa doanh nghiệp cũng được xem là VHKD của doanh nghiệp đó VHDN là sự tổng hòa hệ thống các giá trị, các nhân tố trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Hiện có nhiều định nghĩa

về VHDN

Trang 37

TS Huỳnh Quốc Thắng đã định nghĩa VHDN như: "VHDN là văn hóa tập trung và tỏa sáng trong các thiết chế, các đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh thể hiện qua những biểu trưng (symbol) chung thuộc về hình thức tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp (logo, đồng phục), qua năng lực, phẩm chất, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, tạo ra chất lượng sản phẩm và những thành tích, truyền thống tốt đẹp, qua phong cách giao tiếp, ứng xử thống nhất của toàn đơn vị (đối với nội bộ, đối với khách hàng) trong mọi quá trình kinh doanh"[Huỳnh Quốc Thắng 2005]

Định nghĩa VHDN theo cách nêu đặc trưng có: "VHDN được hiểu là một hệ thống bao gồm những giá trị, tập quán, lối ứng xử, nghi lễ, biểu tượng, chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển của doanh nghiệp, có khả năng lưu truyền, tạo nên bản sắc riêng và có tác động sâu sắc tới tâm lý và hành vi của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp"[Trần Quốc Dân 2005: 37- 38]

Ngoài hai cách định nghĩa miêu tả và nêu đặc trưng như trên, một số tác giả còn xem VHDN là một dạng của văn hóa tổ chức, chẳng hạn A.A.Radughin: "Văn hóa doanh nghiệp là mặt giá trị của văn hóa tổ chức" [Radughin A.A 2004: 150] Hay tác giả Đỗ Minh Cương đồng nhất VHDN với văn hóa công ty, cho rằng : " VHDN (văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp làm ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó"[Đỗ Minh Cương 2001: 85] Quan điểm này giới hạn VHDN ở phạm vi hạn hẹp, chưa đặt VHDN trong mối quan hệ với văn hóa nói chung

GS Trần Ngọc Thêm trong bài giảng về “Văn hóa quản trị kinh doanh”

đã nêu quan điểm sau: "Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống của các giá trị

do doanh nghiệp sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên của mình"[Trần Ngọc Thêm 2007: 7] Định nghĩa này mang tính khái quát cao vềVHDN

Trang 38

Vai trò của VHDN: "Văn hóa doanh nghiệp tạo ra sự thống nhất, đồng tâm của mọi thành viên trong doanh nghiệp bằng một hệ thống các giá trị, chuẩn mực chung, từ đó tạo nên một nguồn lực nội sinh chung của doanh nghiệp"[Đỗ Minh Cương 2001: 88] Doanh nghiệp là sự tập hợp của các cá nhân với những nhân cách khác nhau nên tính đồng nhất, thống nhất chỉ thực hiện được khi doanh nghiệp có những quy tắc, chuẩn mực, bảng giá trị chung Nhờ vậy, VHDN có thể tạo ra một động lực rộng khắp, cộng hưởng tất cả các thành viên với những nhân cách khác nhau, bộ phận khác nhau thông qua chức năng định hướng hoạt động một cách tự giác và rộng khắp, phấn đấu cho mục đích chung của doanh nghiệp

VHDN tạo nên bản sắc của doanh nghiệp, là đặc điểm để khu biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác VHDN có tính kế thừa, bảo tồn bản sắc của doanh nghiệp qua nhiều thế hệ, tạo khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp "Văn hóa doanh nghiệp là tài sản tinh thần doanh nghiệp, là một nguồn lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững"[Trần Quốc Dân 2005: 39]

VHDN có vai trò quan trọng trong việc sáng tạo cái mới, vì bản thân văn hóa đã mang tính sáng tạo, là một trong những phương thức hiệu quả nhằm thu hút, lôi cuốn sự chú ý của khách thể kinh doanh, đồng thời là yêu cầu bức thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp VHDN là một bộ phận tương quan mật thiết với văn hóa kinh doanh, ngoài ra, còn có văn hóa trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ, văn hóa với mục đích và mục tiêu của các loại hình kinh doanh, văn hóa trong giao tiếp và hợp tác kinh doanh với nước ngoài VHDN có chức năng tổ chức, điều chỉnh doanh nghiệp, làm cơ sở giao tiếp trong và ngoài doanh nghiệp, giáo dục, đào tạo trong doanh nghiệp, tạo sự thành công, bền vững cho doanh nghiệp

1.1.6.2 Văn hóa doanh nhân

Theo GS.Trần Ngọc Thêm, doanh nhân là một khái niệm tập hợp, chỉ một lớp người, một mẫu người, nên văn hóa doanh nhân là văn hóa của mẫu

Trang 39

người kinh doanh, chứ không phải của cá nhân doanh nhân Văn hóa doanh nhân là yếu tố thứ năm trong cơ cấu văn hóa doanh nghiệp, sau bốn yếu tố: đạo lý, định hướng giá trị, hệ thống biểu hiện và hệ thống công nghệ trong hoạt động kinh doanh Cho nên, "văn hóa doanh nhân là hệ thống giá trị mà mẫu người kinh doanh đã được tích lũy trong thời gian (có tính lịch sử) [Trần Ngọc Thêm 2006]

Văn hóa doanh nhân là văn hóa của chủ thể kinh doanh, thể hiện ở cách thức tổ chức, quản lý điều hành doanh nghiệp Theo khuynh hướng định nghĩa miêu tả, Huỳnh Quốc Thắng đã có ý kiến: "Văn hóa doanh nhân là văn hóa thể hiện trước hết ở đội ngũ những con người (gồm cả các cá nhân và các tập thể) tham gia sản xuất kinh doanh, chủ yếu thể hiện ở trình độ khoa học

kỹ thuật, công nghệ và vốn tri thức tổng hợp, ở kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng, phương pháp tác nghiệp, ở năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, và sự nhạy bén với thị trường, ở đạo đức nghề nghiệp và phẩm hạnh làm người, ở ý thức công dân và sự giác ngộ về chính trị, xã hội"[Huỳnh Quốc Thắng 2005]

Văn hóa doanh nhân mang tính cá thể hóa sâu sắc, bao hàm yếu tố xu hướng nghề nghiệp, văn hóa đạo đức, tài năng và phong cách của doanh nhân Văn hóa doanh nhân gắn bó mật thiết với chủ thể kinh doanh, biểu hiện cụ thể qua nghệ thuật kinh doanh, triết lý kinh doanh và đạo đức kinh doanh Văn hóa doanh nhân đôi khi được hiểu là sự kết hợp của văn hóa nghề nghiệp và nhân cách của doanh nhân Hoàng Vinh trong bài viết "Văn hóa doanh nhân-một thuật ngữ khoa học" đã nêu ý kiến: "có thể hình dung văn hóa doanh nhân là sự kết hợp giữa văn hóa kinh doanh với đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp- tức là kết hợp giữa văn hóa nghề nghiệp với văn hóa nhân cách của doanh nhân"[Hoàng Vinh, T/c Văn hóa nghệ thuật tháng 6- 2006: 20]

Văn hóa doanh nhân có vai trò hình thành nên những giá trị đặc trưng của VHKD VHKD gắn bó mật thiết với chủ thể kinh doanh, có tác dụng xây dựng, định hướng chiến lược phát triển của doanh nghiệp dựa trên sự lựa chọn, kế thừa những giá trị đạo đức văn hóa của dân tộc Văn hóa doanh nhân

Trang 40

phát huy vai trò tích cực trong việc gắn kết các thành viên của doanh nghiệp, xây dựng và phát triển triết lý kinh doanh, nghệ thuật kinh doanh

1.1.6.3 Văn hóa thương trường

Văn hóa thương trường là "văn hóa thể hiện trong cơ chế tổ chức, hệ thống pháp chế, các chính sách, chế độ, trong mọi hình thức hoạt động liên quan quá trình sản xuất kinh doanh, gồm cả sự cạnh tranh,… tất cả nhằm tạo

ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, tốt đẹp…"[Huỳnh Quốc Thắng 2005]

Văn hóa thương trường mang lại "những lợi ích thực tế cho cả hai bên mua và bán trên tinh thần thỏa thuận, dựa trên đạo đức (lương thiện, thật thà, giữ được lòng tin), trên sự lịch thiệp, sự hấp dẫn nhau trên tinh thần tôn trọng chất lượng và định lượng của hàng hóa"[Phạm Xuân Nam 1996: 105] Văn hóa thương trường cùng với văn hóa doanh nghiệp tạo nên thế mạnh cạnh tranh cho doanh nhân trên thị trường, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Vì vậy, văn hóa thương trường là động lực của sự phát triển, giải phóng các tiềm năng sáng tạo, sản xuất, giải phóng cung- cầu, giải phóng những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người

1.2 Văn hóa kinh doanh của người Hoa

VHKD của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến cội nguồn văn hóa Trung Hoa của họ, vì người Hoa và đất nước Trung Hoa có mối quan hệ lịch sử, văn hóa mật thiết, tìm hiểu vấn đề này góp phần hiểu thêm văn hóa kinh doanh của người Hoa ở miền Nam Việt Nam Hơn thế nữa, người Hoa ở Việt Nam đa phần là người gốc Quảng Đông, ít nhiều có mối tương quan đến người Hoa ở tỉnh Quảng Đông- một trong những trung tâm kinh tế- thương mại của Trung Hoa

Theo GS.Trần Ngọc Thêm, Trung Hoa là đất nước thuộc về loại hình văn hóa trung gian chuyển tiếp Đặc trưng của khu vực này là trọng thế tục trọng động, hình thành nên tính cách văn hóa Trung Hoa gồm: chủ nghĩa tông tộc trong quan hệ xã hội, hướng về thế tục; hợp nhất quyền uy chính trị và

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2 : PHÂN LOẠI KỸ NGHỆ CHẾ BIẾN CỦA NGƯỜI HOA TẠI  TP.HCM VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC THÁNG 04 / 1975 - Văn hóa kinh doanh của người hoa ở tp  hồ chí minh
Bảng 2.2 PHÂN LOẠI KỸ NGHỆ CHẾ BIẾN CỦA NGƯỜI HOA TẠI TP.HCM VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC THÁNG 04 / 1975 (Trang 62)
Bảng 2.3 : Hộ người Hoa kinh doanh cá thể, tư nhân ở Quận 5, Quận 6 và - Văn hóa kinh doanh của người hoa ở tp  hồ chí minh
Bảng 2.3 Hộ người Hoa kinh doanh cá thể, tư nhân ở Quận 5, Quận 6 và (Trang 64)
Bảng 2.4 : Tình hình cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp của người Hoa ở - Văn hóa kinh doanh của người hoa ở tp  hồ chí minh
Bảng 2.4 Tình hình cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp của người Hoa ở (Trang 65)
Bảng 2.5: Số liệu giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp của ba quận đông - Văn hóa kinh doanh của người hoa ở tp  hồ chí minh
Bảng 2.5 Số liệu giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp của ba quận đông (Trang 67)
Bảng 2.6: Lao động người Hoa từ 13- 60 tuổi có việc làm tạo ra thu nhập trong - Văn hóa kinh doanh của người hoa ở tp  hồ chí minh
Bảng 2.6 Lao động người Hoa từ 13- 60 tuổi có việc làm tạo ra thu nhập trong (Trang 69)
Bảng 2.7: Số lượng lao động người Hoa phân bố trong các loại hình cơ sở - Văn hóa kinh doanh của người hoa ở tp  hồ chí minh
Bảng 2.7 Số lượng lao động người Hoa phân bố trong các loại hình cơ sở (Trang 75)
Sơ đồ 2.1: Hệ thống thu mua lúa gạo của người Hoa trước năm 1975 - Văn hóa kinh doanh của người hoa ở tp  hồ chí minh
Sơ đồ 2.1 Hệ thống thu mua lúa gạo của người Hoa trước năm 1975 (Trang 87)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm