Gần đây, trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX – 07 “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội”, có một số đề tài nghiên cứu các vấn đề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
H ÏÏÏ H
TRỊNH THỊ BẠCH TUYẾT
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI TP HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học Mã số: 60.22.80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ TÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2006
Trang 3Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
PHỔ THÔNG .7
1.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức 7
1.1.1 Bản chất và chức năng của đạo đức 7
1.1.2 Giáo dục đạo đức 13
1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh phổ thông ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức 17
1.2.1 Tâm lý và thái độ tuổi thơ 17
1.2.2 Tâm lý và thái độ tuổi trẻ 18
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông 22
Chương 2 : NHỮNG HẠN CHẾ TRONG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI TP HỒ CHÍ MINH, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP 31
2.1 Đặc điểm của học sinh phổ thông tại tp Hồ Chí Minh 31
2.1.1 Đặc điểm về môi trường kinh tế 31
2.1.2 Đặc điểm về môi trường văn hóa – xã hội .38
2.2 Những hạn chế trong vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tại tp Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay và hệ quả của nó 43
2.2.1 Những hạn chế trong vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tại tp Hồ Chí Minh 43
2.2.2 Hệ quả của vấn đề giáo dục đạo đức cho
học sinh phổ thông tại tp Hồ Chí Minh 49
2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong giáo dục đạo đức cho học sinh và một số giải pháp có tính định hướng đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tại tp Hồ Chí Minh 51
2.3.1 Nguyên nhân của những hạn chế trong giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông .51
2.3.2 Một số giải pháp có tính định hướng đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tại tp HCM 56
KẾT LUẬN 69
Danh mục tài liệu tham khảo 72
Trang 4PHAĂN MÔÛ ÑAĂU
1 Tính caâp thieât cụa ñeă taøi
Vieôt Nam quaù ñoô leđn chụ nghóa xaõ hoôi khođng qua tö bạn chụ nghóa neđn thieâu nhöõng tieăn ñeă kinh teâ cho chụ nghóa xaõ hoôi Cođng nghieôp hoùa, hieôn ñái hoùa laø quaù trình coù tính quy luaôt ñoâi vôùi taât cạ caùc nöôùc muoân phaùt trieơn kinh teâ ñeơ thoaùt khoûi ngheøo naøn lác haôu, traùnh tút haôu xa so vôùi caùc nöôùc phaùt trieơn Cođng nghieôp hoùa, hieôn ñái hoùa ñeơ xađy döïng thaønh cođng chụ nghóa xaõ hoôi ôû Vieôt Nam khođng chư ñoøi hoûi ngöôøi lao ñoông phại coù trình ñoô hóc vaân, coù kieân thöùc chuyeđn mođn, tay ngheă maø ñaịc bieôt laø phại coù phaơm chaât ñáo ñöùc vaø bạn lónh chính trò Xuaât phaùt töø thöïc tieên xađy döïng ñaât nöôùc, Nghò quyeât Hoôi nghò laăn thöù hai Ban Chaâp haønh Trung öông Ñạng khoùa VIII nhaân mánh múc tieđu giaùo dúc toaøn dieôn, coi tróng chaât löôïng giaùo dúc chính trò ñáo ñöùc
Lòch söû ñaõ chöùng minh ñáo ñöùc coù vai troø tích cöïc trong ñôøi soâng, noù nhö laø moôt ñoông cô coù söùc mánh thođi thuùc con ngöôøi ñaâu tranh choẫng lái nhöõng caùi aùc, caùi xaâu, nhöõng caùi ñi ngöôïc lôïi ích cụa xaõ hoôi; noù giöõ gìn vaø phaùt trieơn nhöõng caùi toât, caùi thieôn, laøm cho xaõ hoôi ngaøy caøng phaùt trieơn Trong thôøi ñái ngaøy nay, ñáo ñöùc caøng ñoùng vai troø quan tróng trong cuoôc ñaâu tranh vì hoøa bình, dađn chụ, ñoôc laôp dađn toôc vaø tieân boô xaõ hoôi Baùc Hoă ñaõ dáy: “Coù taøi maø khođng coù ñöùc, ví nhö moôt anh laøm kinh teâ taøi chính raât gioûi, nhöng lái ñi ñeân thút keùt, thì chaúng nhöõng khođng laøm ñöôïc gì ích lôïi cho xaõ hoôi, maø coøn coù hái cho xaõ hoôi nöõa” [44,172] Nhaôn thöùc roõ ñieău naøy, Luaôt Giaùo dúc cụa Vieôt Nam ñaõ ñaịt vaân ñeă ñáo ñöùc leđn haøng ñaău trong múc tieđu giaùo dúc phoơ thođng nhaỉm giuùp hóc sinh phaùt trieơn toaøn dieôn
Trang 5Thế nhưng, trong thực tế đã có “một bộ phận học sinh suy thoái đạo đức; mờ nhạt lý tưởng, thực dụng; thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai bản thân và tiền đồ đất nước” [18,20 - 21]
Tình trạng trên không chỉ khiến những người công tác trong ngành giáo dục, những bậc phụ huynh học sinh băn khoăn trăn trở, mà nó đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm đã đặt thành vấn đề và Bộ Công an đã ký nhiều nghị quyết liên tịch với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh để giáo dục, ngăn ngừa tội phạm thanh thiếu niên
Tại sao lại có sự sa sút về mặt phẩm chất đạo đức trong một bộ phận học sinh? Làm thế nào để khắc phục tình trạng trên? Làm thế nào để có những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức làm động lực cho sự phát triển xã hội Việt Nam? Giải đáp những câu hỏi trên đã trở thành vấn đề cấp bách đối với cả lý luận và thực tiễn
ở nước ta hiện nay
Là giáo viên đang phụ trách môn Giáo dục công dân ở Trường trung học phổ thông Gò Vấp, với mong muốn góp một phần nhỏ công sức của mình vào giải quyết phần nào vấn đề này, tôi chọn đề tài “Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đạo đức được Chủ tịch Hồ Chí Minh rất xem trọng Người thường nói: “Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức” [46,329] Tư tưởng của Người về vấn đề này rất phong phú qua các giai đoạn phát triển của cách mạng, nhưng do việc triển khai các loại hình hoạt động của các trường còn mang tính hình thức, nội dung chưa gắn với thực tiễn kinh tế – xã hội, nên chưa đem lại những hiệu quả toàn diện mà xã hội mong đợi
Trang 6Về lý luận, các nhà khoa học có công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
“Đạo đức học” của G Bandzeladze (Nxb Giáo dục, 1985), “Chủ nghĩa xã hội và nhân cách” của M Áckhanghenxky (Nxb Sách giáo khoa Mác – Lênin, 1984)
Những công trình trên tuy được trình bày dưới những hình thức khác nhau như giáo trình, chuyên khảo hay tập hợp các bài viết, nhưng nhìn chung đều đề cập đến những nội dung cốt lõi nhất về đạo đưc như: nguồn gốc, bản chất của đạo đức và quan niệm của các thời đại khác nhau về giá trị của đạo đức
Ở trong nước, có các công trình như: “Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới” của Tương lai (Nxb Sự thật, 1983), “Đạo đức mới” của Vũ Khiêu (Nxb Khoa học xã hội, 1974), “Bàn về đạo đức” của Viện Triết học (1972) Từ năm 1991 – 1997, Nxb Chính trị quốc gia có cho ấn hành một số tài liệu dưới dạng giáo trình và tài liệu tham khảo do Trần Hậu Kiêm chủ biên như: “Giáo trình đạo đức học” (1997), “Các dạng đạo đức xã hội” (1993) v.v
Những công trình trên không khai thác nhiều những vấn đề lý luận chung về đạo đức mà đi sâu vào những yêu cầu đạo đức của những người xây dựng chủ nghĩa xã hội
Gần đây, trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX – 07
“Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội”, có một số đề tài nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đạo đức và nhân cách con người Việt Nam nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng Ban chủ nhiệm chương trình, cùng với chủ nhiệm các đề tài đã cho ra mắt bạn đọc một số kết quả nghiên cứu như: “Gia đình, nhà trường và xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài”, đề tài KX – 07 –
18, do Nguyễn Trọng Bảo chủ biên, (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996), “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình”, đề tài KX – 07 – 09, do Trung tâm nghiên cứu
Trang 7khoa học về gia đình và phụ nữ biên soạn, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994) Năm 1998 Trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ đã cho xuất bản cuốn “Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” của G.S Lê Thi
Dưới một góc độ khác, các tác giả như: Lương Quỳnh Khuê có bàn về
“Văn hóa thẩm mỹ và nhân cách” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995), Nguyễn Văn Phúc với “Quan hệ giữa cái thẩm mỹ và cái đạo đức trong cuộc sống và trong nghệ thuật” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996)
Trong một số tạp chí, có một số bài viết xung quanh vấn đề đạo đức và nhân cách như: “Về vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường” của Nguyễn Văn Phúc (Tạp chí Triết học, số 5 – 1996),
“Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay” của Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Triết học, số 6 – 1996), “Tạo dựng môi trường văn hóa - lành mạnh để giáo dục thanh niên” của Thanh Bình (Tạp chí Thanh niên, số 3 – 2005)
Ngày 22 – 24 tháng 11 năm 1984, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị “Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau“
Vào cuối tháng 12/1999, Ban Tư tưởng - Văn hóa Thành ủy đã tổ chức một cuộc tọa đàm giữa các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà giáo và phụ huynh với chủ đề: “Giáo dục vì sự nghiệp trăm năm”
Những công trình nghiên cứu trên dựa trên yêu cầu đạo đức của cách mạng xã hội chủ nghĩa đã đi sâu vào những vấn đề đạo đức của người Việt Nam truyền thống, đạo đức trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa giá trị đạo đức và các giá trị khác trong xã hội và ít nhiều cũng đã đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội; song chưa có công trình
Trang 8nào trực tiếp làm rõ vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh phổ thông
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức, luận văn tìm hiểu thực trạng đạo đức của học sinh phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, qua đó, tìm ra một số biện pháp có tính định hướng để giáo dục đạo đức cho các đối tượng này, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho các em
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức; những đặc điểm tâm lý ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức đối với học sinh phổ thông
- Lược khảo những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đạo đức đối với học sinh phổ thông
- Tìm hiểu thực trạng tình hình đạo đức của học sinh phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, trong đó chủ yếu tìm ra những hạn chế trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trong thời gian vừa qua và hệ quả của nó
- Đề xuất những giải pháp có tính định hướng giúp cho việc giáo dục đạo đức công dân cho học sinh phổ thông đạtù hiệu quả hơn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức công dân cho học sinh phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng 5 năm trở lại đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học
Trang 106 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 2 chương, 6 tiết Trong đó:
Chương 1 đề cập đến một số vấn đề lý luận chung về giáo dục đạo đức cho
học sinh phổ thông
Chương 2 đề cập đến thực trạng vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ
thông tại thành phố Hồ Chí Minh, qua đó tác giả tìm ra những nguyên nhân và giải pháp định hướng cho việc giáo dục đạo đức đối với học sinh phổ thông ở thành phố này
Trang 11Chưong 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG
1.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.1.1 Bản chất và chức năng của đạo đức
- Bản chất của đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức – xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình để đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng và với toàn xã hội
Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của cơ sở kinh tế xã hội, của những điều kiện sinh hoạt vật chất
Sự phát triển từ đạo đức của người nguyên thủy đến đạo đức của xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy hoạt động thực tiễn của xã hội hết sức thấp kém, ý thức đạo đức của người nguyên thủy chưa tách ra thành hình thái độc lập
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, đạo đức đã tự khẳng định mình là một hình thái ý thức xã hội, là lĩnh vực tinh thần của xã hội Về mặt hình thức, đạo đức sau xã hội công xã nguyên thủy đã phát triển vượt bậc do nhận thức của loài người vượt khỏi tư duy cụ thể, đạt đến trình độ tư duy lý luận Những yêu cầu đạo đức được thể hiện dưới hình thức các khái niệm, lý tưởng, chuẩn mực và đánh giá đạo đức Đời sống đạo đức càng ngày càng phát triển sâu sắc hơn về
Trang 12cấu trúc Đến lượt mình, sự hoàn thiện cấu trúc của đời sống đạo đức làm cho sự phản ánh và điều chỉnh đạo đức ngày càng trở nên sâu sắc, tự giác
Với tính cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức mang bản chất xã hội Ăngghen đã luận chứng cho bản chất xã hội của đạo đức bằng cách chỉ ra tính thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp của đạo đức
Về tính thời đại của đạo đức, trong tác phẩm “Chống Duyrinh”, Ăngghen
chỉ ra mối quan hệ của các thời đại đối với các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo
đức với tính cách là biểu hiện về mặt đạo đức của các thời đại kinh tế Trong tác
phẩm này, khi phê phán quan niệm của Duyrinh về những chân lý đạo đức vĩnh cửu, Ăngghen đã khẳng định rằng, thực chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các quan điểm đạo đức chẳng qua chỉ là sản phẩm của các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế mà thôi Lấy ví dụ về nguyên tắc “không được ăn cắp”, Ăngghen chỉ rõ, đó không phải là một nguyên tắc, một chân lý vĩnh cửu, mà nguyên tắc này có cơ sở kinh tế của nó và nó sẽ mất ý nghĩa khi cơ sở kinh tế của nó không còn nữa Ông viết: “Từ khi quyền tư hữu về động sản phát triển thì tất cả các xã hội mà quyền tư hữu ấy chiếm ưu thế, tất nhiên đều phải theo chung một lời răn về đạo đức: không được trộm cắp” [38,136] Như vậy, theo Ăngghen, chỉ từ khi có sở hữu tư nhân, người ta mới có yêu cầu “không được ăn cắp” – yêu cầu mà trước đó chưa có cơ sở sản sinh ra nó Cũng như vậy, “trong một xã hội mà mọi lý do sinh ra trộm cắp đều không còn nữa”, thì lời răn đạo đức đó cũng sẽ không còn ý nghĩa
Tính quy định của thời đại đối với đạo đức cho ta quan niệm khoa học về các hình thái đạo đức Mặc dù đạo đức có quy luật vận động nội tại, có sự kế thừa, nhưng về căn bản, tương ứng với mỗi thời đại là một hình thái đạo đức nhất định Đạo đức nguyên thủy, đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và đạo đức cộng sản chủ nghĩa
Trang 13Cùng với tính thời đại, tính dân tộc là một trong những biểu hiện bản chất xã hội của đạo đức Có thể nhìn nhận tính dân tộc như là sự biểu hiện đặc thù
tính thời đại của đạo đức trong các dân tộc khác nhau Ở đây, tính đa dạng của các quan niệm, các chuẩn mực, cách ứng xử đạo đức của mỗi dân tộc tạo nên tính độc đáo trong đời sống đạo đức của dân tộc đó Ăngghen viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi rất nhiều đến nỗi nhiều khi trái ngược hẳn lại nhau” [38,137)
Đề cập đến bản chất xã hội của đạo đức, Mác và Ăngghen đặc biệt chú ý
đến tính giai cấp của đạo đức Trong “Chống Duyrinh”, Ăngghen nhận xét rằng:
“ cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp” [38,35]
Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp có vai trò, địa
vị khác nhau trong hệ thống kinh tế - xã hội, do đó họ có các lợi ích khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau Đạo đức với tư cách là hình thái ý thức xã hội đã phản ánh và khẳng định lợi ích của mỗi giai cấp
Mỗi giai cấp có những lợi ích riêng, do đó cũng có những quan niệm về đạo đức riêng; tuy nhiên, quan niệm đạo đức được áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng là những quan niệm của giai cấp thống trị Giai cấp bị trị, do bị tước đoạt mất những điều kiện và tư liệu sản xuất tinh thần, nên hệ thống đạo đức của họ tồn tại như cái không chính thống Mác chỉ rõ: “Những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại, nói cách khác, giai cấp nào đang là lực lượng vật chất chiếm địa vị thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần chiếm địa vị thống trị Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì đồng thời cũng chi phối luôn cả tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần, nói chung bị giai cấp thống trị chi phối” [36,66]
Trang 14- Chức năng của đạo đức
Cũng như những hình thái ý thức xã hội khác, đạo đức có nhiều chức năng, trong đó, những chức năng cơ bản của đạo đức là: chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục và chức năng nhận thức
+ Chức năng điều chỉnh hành vi
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi Mục đích điều chỉnh của đạo đức nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự hài hòa trong quan hệ lợi ích giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng và với toàn xã hội Đối tượng điều chỉnh của đạo đức là hành vi cá nhân qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng Cách thức điều chỉnh của đạo đức được biểu hiện qua sự lựa chọn giá trị đạo đức; xác định hành
vi, xác định phương án cho hành vi; tạo nên động cơ của hành vi và xây dựng lý tưởng, tình cảm đạo đức; v.v
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu: xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh mẽ cái ác; bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức xã hội
+ Chức năng giáo dục
Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời, hệ thống đạo đức tồn tại như là cái khách quan tác động, chi phối con người
Môi trường đạo đức tác động đến cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nhận thức đạo đức để chuyển hóa yêu cầu đạo đức của xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân Thực tiễn đạo đức là hiện thực hóa nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân, làm cho cả đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội được củng cố, phát triển trở thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức
Trang 15Hiệu quả giáo dục của đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, cách thức tổ chức, đào tạo, mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục
Chức năng giáo dục của đạo đức sẽ giúp chủ thể giáo dục lựa chọn, đánh giá đúng các hiện tượng xã hội, đánh giá đúng tư cách của người khác hay của cộng đồng, cũng như tự đánh giá đúng bản thân mình Một khi đã có sự tự nhận thức, tự đánh giá đúng thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, hình thức và các bước đi của quá trình giáo dục sẽ giúp mỗi cá nhân và cả cộng đồng tạo ra các hành vi đạo đức đúng Con người sẽ vươn đến gần hơn tới cái chân – thiện – mỹ
Như vậy, chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu một mặt “giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng; mặt khác, là sự “tự giáo dục” ở cả cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng
+ Chức năng nhận thức
Đạo đức phản ánh hiện thực có đặc điểm riêng Nếu xét dưới góc độ bản thể luận, đạo đức là hệ thống các yêu cầu về mặt tinh thần, được quy định bởi tồn tại xã hội Xét dưới góc độ xã hội thì hệ thống tinh thần đó được biểu hiện qua các hành động cụ thể, các quan hệ cụ thể của con người, do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính tinh thần, vừa mang tính hành động hiện thực Với đặc trưng đó, sự nhận thức của đạo đức có 4 đặc điểm:
Thứ nhất, hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá trị đạo đức Trong
đa số trường hợp, quá trình đó có sự hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức
Thứ hai, nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại vừa hướng nộị
Trang 16Nhận thức hướng ngoại là nhận thức lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống đạo đức của xã hội làm đối tượng Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống Nhờ sự nhận thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa được những chuẩn mực đạo đức của xã hội như là cái chung thành ý thức đạo đức của cá nhân như là cái riêng
Nhận thức hướng nội là tự nhận thức, là nhận thức lấy bản thân mình làm đối tượng nhận thức Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành, phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống: sáng tạo hay thụ động, hy sinh hay hưởng thụ, vi tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác,v.v
Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm rất quan trọng
Dư luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự tự phê bình Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị đạo đức của mình – giá trị mà xã hội mong muốn
Tự nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để hoàn thành trách nhiệm đó Trong cuộc sống những trách nhiệm như vậy luôn được đặt ra trong quan hệ giữa cá nhân với gia đình, bè bạn, tập thể, dân tộc, giai cấp, Tổ quốc, v.v
Thứ ba, nhận thức đạo đức được thể hiện ở hai trình độ: trình độ thông thường và trình độ lý luận
Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là ý thức đạo đức thông thường, bao hàm những giá trị riêng lẻ Nó đáp ứng nhu cầu đạo đức đời thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống
Trang 17Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là nhận thức được chỉ đạo bởi những giá trị đạo đức có tính phổ quát Đây là yếu tố không thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các giai cấp cầm quyền
Thứ tư, nhận thức đạo đức đem lại tri thức đạo đức cho chủ thể Các cá nhân, nhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhận thức mà tạo thành đạo đức cá nhân
Với những chức năng cơ bản trên, đạo đức giữ vai trò to lớn đối với sự phát triển của con người
Nhìn chung, con người luôn muốn vươn tới sự hoàn thiện Bản thân nhu cầu vươn tới sự hoàn thiện của con người là nhu cầu có tính đạo đức Vì vậy, đạo đức
là động lực bên trong của sự phát triển, hoàn thiện con người
1.1.2 Giáo dục đạo đức
Giáo dục là hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định [26,58]
Giáo dục thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng, giáo dục bao gồm cả việc đạy lẫn việc học cùng với hệ thống các tác động sư phạm khác diễn ra ở trong và ngoài lớp, trong và ngoài trường cũng như trong gia đình và ngoài xã hội Đó chính là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục
Theo nghĩa hẹp, giáo dục được hiểu như là quá trình tác động tới con người về mặt đạo đức, tư tưởng, hành vi, v.v , nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ và những hành vi thói quen cư xử trong xã hội
Mỗi chế độ xã hội có hệ thống những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức riêng để điều chỉnh hành vi của con người Nhu cầu đạo đức xuất phát từ xã hội,
Trang 18nhưng biểu hiện đạo đức lại qua hành vi đạo đức ở từng con người Con người, một mặt bị ảnh hưởng bởi các truyền thống đạo đức cũ, mặt khác môi trường xã hội cụ thể và trình độ cụ thể từng người cũng chi phối các quan niệm đạo đức và hành vi đạo đức của họ Do đó, để tiến tới những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức chung, phải tiến hành giáo dục đạo đức
Mục đích giáo dục đạo đức là nhằm biến những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức của xã hội thành ý thức cá nhân, thành tình cảm, thói quen đạo đức và những phẩm chất tâm lý – đạo đức của từng người Nói cách khác, mục đích giáo dục đạo đức là hình thành văn hóa đạo đức xã hội cho mỗi cá nhân
Cấu trúc của văn hóa đạo đức cá nhân gồm ba yếu tố cơ bản: quan điểm đạo đức, năng lực ứng xử đạo đức và tính cách đạo đức
- Quan điểm đạo đức là yếu tố quan trọng nhất của văn hóa đạo đức, nó thể hiện sự thừa nhận hay phủ nhận những giá trị đạo đức xã hôi của con người
- Năng lực ứng xử đạo đức là năng lực thể hiện quan điểm đạo đức qua hành vi, quan hệ của cá nhân Năng lực ứng xử đạo đức khi đã được khẳng định lại trở thành cơ sở để phát triển nhận thức đạo đức và chi phối tính cách đạo đức
- Tính cách đạo đức là cách thức thể hiện hành vi đạo đức, nó do trình độ nhận thức và năng lực ứng xử đạo đức chi phối, song nó cũng bị chi phối bởi các yếu tố: thể chất, điều kiện và môi trường sống, v.v Tính cách đạo đức hình thành dần dần, nhưng khi đã hình thành sẽ ảnh hưởng tới việc tiếp nhận tri thức và chi phối năng lực ứng xử đạo đức
Có thể nói, trên một ý nghĩa nhất định, văn hóa đạo đức là sự tổng hòa của nhận thức đạo đức, năng lực ứng xử đạo đức và tính cách đạo đức được biểu hiện
ở động cơ và hành vi đạo đức của con người Văn hóa đạo đức thể hiện các giá trị đạo đức
Trang 19Những giá trị này được Hội nghị quốc tế về đạo đức tổ chức tại Tôkyô tháng 2/1994 chia thành 8 nhóm với những nội dung như sau:
Nhóm 1: Những giá trị liên quan đến quyền con người Nội dung nhóm này
đề cập đến quyền bình đẳng (giữa giới, chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, địa vị xã hội), công lý trước pháp luật, bảo vệ quyền trẻ em, bảo vệ quyền phụ nữ, bảo vệ quyền lao động Nhóm còn đề cập đến tình cảm yêu mến đối với người thân (cha mẹ, anh chị em), đối với cộng đồng (trẻ em, phụ nữ, người có tuổi, những nạn nhân do tai họa tự nhiên gây ra, những nạn nhân vô tội do chiến tranh gây
ra)
Nhóm 2: Những giá trị liên quan đến dân chủ Nội dung nhóm này đề cập
đến các quyền mà con người phải được hưởng như: quyền tham gia mọi hoạt động của chính quyền, tham gia tổng tuyển cử, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự
do ngôn luận
Nhóm 3: Những giá trị liên quan đến sự hợp tác và hòa bình Nội dung
nhóm này chủ yếu kêu gọi các dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hãy chung sống hòa bình, cố gắng giải quyết mọi xung đột bằng thương lượng, thuyết phục
Nhóm 4: Những giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường Nội dung nhóm
này đề cập đến việc giáo dục mọi người lòng yêu tự nhiên; hiểu được tầm quan trọng của môi trường tự nhiên; biết giữ gìn, bảo vệ sự bền vững của môi trường; biết sống với tự nhiên
Nhóm 5: Những giá trị liên quan đến sự bảo tồn các nền văn hóa Nội dung
nhóm này bao gồm việc biết đánh giá và có ý thức bảo vệ di sản văn hóa thế giới, đối xử công bằng và trân trọng các nền văn hóa của các dân tộc; trong gia đình giữa các thành viên nên biết yêu quý chăm sóc lẫn nhau và nên có ý thức bảo vệ danh dự, truyền thống gia đình
Trang 20Nhóm 6: Những giá trị liên quan đến bản thân và người khác Nội dung
nhóm này đề cập đến những yêu cầu cụ thể của con người như: Với bản thân thì phải: ngay thẳng, thật thà, tự lực, tự trọng, khiêm tốn, giản dị, tiết kiệm, có tinh
thần trách nhiệm, biết tuân thủ kỷ luật, v.v Đối với người thì phải: lịch sự, tôn trọng, thân mật, thiện cảm, ân cần, quan tâm, đồng cảm, chia sẻ, chân thành,
khoan dung, v.v
Nhóm 7: Những giá trị có liên quan đến tinh thần dân tộc Nội dung nhóm
này yêu cầu con người trung thành với Tổ quốc; sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc lâm nguy; giữa các dân tộc và cộng đồng cần xây dựng mối quan hệ song phương và đa phương dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau
Nhóm 8: Những giá trị có liên quan đến tâm linh Nội dung nhóm này đề
cập đến lòng tin vào Đấng Tối cao, ở thái độ tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo của
người khác
Nhìn chung, những giá trị đạo đức mà Hội nghị Tôkyô đã đưa ra rất phong phú Nội dung của 8 nhóm giá trị liên quan tới rất nhiều vấn đề, từ vấn đề nhân quyền, dân chủ, sự hợp tác và hòa bình đến việc bảo vệ môi trường, bảo vệ các nền văn hóa thế giới; từ những giá trị liên quan đến bản thân và người khác đến những giá trị liên quan đến dân tộc, quốc tế
Tuy có những điểm khác nhau về chế độ chính trị, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, về những giá trị truyền thống đạo đức và văn hóa, nhưng việc các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thống nhất với 8 nhóm giá trị đạo đức nhân văn nói trên đã cho thấy chúng có vai trò rất quan trọng và có ý nghĩa rất lớn đối với giáo dục đạo đức
Trang 211.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh phổ thông ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức
Tuổi học sinh phổ thông bao gồm tuổi thơ và tuổi trẻ Tuổi thơ là học sinh tiểu học từ lớp 1 tới lớp 5 hay là khoảng từ 6 tới 11, 12 tuổi Sau đó tuổi thơ bước vào thời kỳ tuổi trẻ, tức là từ lớp 6 đến hết trung học hay là khoảng từ 11,
12 tới 18, 19 tuổi “Tâm lý và thái độ của tuổi thơ và tuổi trẻ khác xa nhau” [54,13]
1.2.1 Tâm lý và thái độ của tuổi thơ
Nhiều khảo cứu của các nhà tâm lý đã đưa ra một số lý thuyết về sự phát triển tâm lý tuổi thơ:
- Lý thuyết phát triển: Amold Gesell (1880 -1961), nhà tâm lý học cũng là
bác sĩ nhi khoa người Mỹ nhận định tâm lý tuổi thơ phát triển và biến chuyển tùy theo tuổi tác và sự khác biệt về tâm lý giữa những tuổi thơ tùy thuộc vào di truyền nhiều hơn là hoàn cảnh [54,15]
- Lý thuyết phân tâm học: Theo Anna Freud (1895-1982), tâm lý tuổi thơ
biến chuyển qua những phát triển nội tâm và thể chất, nổi bật nhất là giữa những thôi thúc bản thân và đòi hỏi thực tế Một cuộc sống ôn hòa, ổn định là giải pháp tốt đẹp cho những biến chuyển này và đem đến sự phát triển bình thường về cả thể chất lẫn tâm thần; ngược lại, có thể đi đến tình trạng tâm thần bất ổn [54,16]
- Lý thuyết học hỏi: Lý thuyết này nhận định rằng sự phát triển thể chất và
tâm lý trẻ thơ tùy thuộc một cách sâu đậm vào kinh nghiệm học hỏi Trẻ thơ được học hỏi về ăn nói, thái độ ứng xử, ngôn ngữ từ cha mẹ trong gia đình và từ thầy cô ở học đường Cha mẹ và thầy cô cần tạo ra những hoàn cảnh thuận tiện để tuổi thơ có hứng thú trong việc học hỏi, ngõ hầu phát triển tâm lý và thái độ
Trang 22thích đáng Hoàn cảnh không thuận tiện tại gia đình cũng như tại trường làm
giảm đi kết quả học tập của tuổi thơ [54,16]
- Lý thuyết nhận thức: Các nhà tâm lý học nhấn mạnh vào những động lực
thúc đẩy tự nhiên để tuổi thơ phát triển tâm lý và thái độ Động lực thúc đẩy này bao gồm ước muốn khám phá, thỏa mãn trí tò mò; có khả năng thách thức hành động; giảm thiểu những nhận định và hành động vu vơ, hàm hồ về thế giới chung quanh
Cũng theo lý thuyết này, tuổi thơ có khả năng thiết lập những nhận định cá nhân về thế giới chung quanh cũng như quan hệ giữa những sự kiện của thế giới này như: xã hội bao gồm những thành phần nào, quan hệ của các thành phần này ra sao; gia đình gồm những ai, bổn phận riêng rẽ của mỗi thành viên; học đường được tổ chức ra sao, các cấp lớp, giáo viên dạy lớp, giáo viên chủ nhiệm Nhận định của tuổi thơ rất sơ đẳng khi đứa trẻ mới bước vào lớp đầu của trường tiểu học, nhưng dần dần tuổi thơ học hỏi, gặt hái thêm kinh nghiệm và tùy thuộc vào thời gian, tuổi thơ đã có thể có những nhận định khá khác biệt và những trẻ khôn ngoan đã có thể có được những nhận định trừu tượng đơn giản về đạo đức, kiến thức, lễ nghi, có thể tóm tắt được nhận định qua sự việc [54,17]
Thái độ tuổi thơ được thể hiện một cách quan trọng qua tập quán Tập quán đối với tuổi thơ có thể huấn luyện, đặc biệt vào giai đoạn đầu của thời kỳ này; càng lớn lên, tuổi thơ càng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác và việc huấn luyện tập quán tốt trở nên khó khăn hơn
Việc hình thành các tập quán tốt phải được thực hiện đồng bộ tại trường cũng như tại gia đình, nếu không, tuổi thơ có thể quên lời giảng dạy của thầy cô hoặc cảm thấy khó hiểu tại sao ở trường thầy cô nhắc nhở mà ở nhà cha mẹ lại
Trang 23coi thường Đối với những gia đình thiếu thuận hòa, việc học hỏi những tập quán tốt rất khó khăn
Tập quán tuổi thơ cũng chịu ảnh hưởng ở ngoại cảnh Ngoại cảnh ở đây là khu vực sinh sống, bạn bè lối xóm cũng như bạn bè cùng lớp Khu vực gia cư xô bồ, hỗn tạp với lối sống ồn ào, ngôn ngữ thô lỗ, rất khó tạo những tập quán tốt cho tuổi thơ do việc tiếp xúc bắt buộc hàng ngày Đối với bạn bè hàng xóm cũng như bạn bè trong lớp, tuổi thơ chịu nhiều ảnh hưởng về thái độ, về ngôn ngữ vì ngoài lớp học, tuổi thơ được tự do hành động không có được sự nhắc nhở và kiểm soát của thầy cô cũng như của cha mẹ Một số tuổi thơ cho rằng những điều nhắc nhở dạy bảo của cha mẹ hoặc thầy cô là khắt khe, thì đây là dịp để các em tự do hành động mà không bị ai kiểm soát
1.2.2 Tâm lý và thái độ tuổi trẻ
Tuổi trẻ hay: bao gồm tuổi phát triển, tuổi dậy thì, tuổi thiếu niên, tuổi vị thành niên
- Tuổi trẻ - Thời kỳ phát triển giữa tuổi thơ và tuổi trưởng thành
- Tuổi phát triển - Thời kỳ phát triển về thể xác, cảm xúc, kiến thức
- Tuổi dậy thì - Thời kỳ phát triển sinh lý và có khả năng sinh sản
- Tuổi thiếu niên - Thời kỳ có sự khác biệt giữa nam và nữ
- Tuổi vị thành niên - Chưa được coi như trưởng thành về nhiều phương diện của luật pháp
Sự phát triển thể chất tuổi trẻ không đồng nhất, nó tùy thuộc ít nhiều vào hoàn cảnh địa lý, văn hóa và gia đình Nhưng nhìn chung, tuổi trẻ phát triển mạnh về chiều cao và sức nặng trong khoảng thời gian 6, 7 năm Con trai khởi sự phát triển ở tuổi 13 và tăng trưởng nhanh tới tuổi 18, 19, con gái phát triển sớm hơn, ở tuổi 11, 12 và tăng trưởng nhanh tới 17, 18
Trang 24Ở lứa tuổi từ 15 đến 17, tỷ lệ giữa khối lượng tim và cơ cấu các mạch máu đã đạt mức tiêu chuẩn, tần số mạch và mức huyết áp đã gần đạt mức của người lớn; hoạt động của tim đã trở nên ổn định hơn Hệ thần kinh trung ương cũng đã phát triển khá đầy đủ, do đó hoạt động phân tích và tổng hợp của nó đã trở nên tốt hơn Hệ thống tín hiệu thứ hai đã phát triển đạt mức tương đối hoàn thiện, thể hiện không chỉ ở ngôn ngữ miệng và viết, mà cả ngôn ngữ bên trong cũng biểu hiện rất đa dạng Trong lúc khối lượng của não tăng không nhiều so với thời kỳ trước, thì cấu trúc nội tế bào của não lại trở nên phức tạp hơn nhiều, số các sợi thớ liên hợp tăng lên, các quá trình hưng phấn và ức chế cũng như mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng được hoàn thiện
Những đặc điểm tâm lý của hoạt động của tuổi trẻ cũng khác so với tuổi thơ
Hoạt động chủ đạo của tuổi trẻ là hoạt động học tập Thái độ học tập của lứa tuổi này có chuyển biến rõ rệt, nghiêm túc và có ý thức hơn, vì các em đã ý thức được những tri thức, kỹ năng và kỹ xảo được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Rất hiếm em có thái độ như nhau đối với các môn học, ở các em “đã bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học và chỉ hứng thú với các môn học có quan hệ với nghề nghiệp tương lai” [21,496] Tất cả những cái đó không chỉ làm giảm sút kết quả học tập nói chung, mà còn ảnh hưởng xấu đến trình độ phát triển tâm lý và trình độ giáo dục nói chung
Hoạt động lao động xã hội hữu ích của tuổi trẻ cũng được mở rộng Điều
này ảnh hưởng lớn đối với sự tiếp tục phát triển ý thức của tuổi trẻ Chính trong lao động mà tuổi trẻ tạo được kinh nghiệm giúp đỡ lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau, biết yêu cầu cao đối với bản thân mình và với người khác, tập thói quen đem những lợi ích cá nhân phục tùng lợi ích chung
Trang 25Tâm lý cá nhân tuổi trẻ cũng có những đặc điểm riêng
Ý thức tự giác của tuổi trẻ gắn với nhu cầu nhận thức và đánh giá các phẩm chất tâm lý - đạo đức trong nhân cách của mình cả trên bình diện các mục đích và nguyện vọng cụ thể trong cuộc sống Nhưng nói chung “sự tự đánh giá này vẫn còn chưa hoàn thiện Tuổi trẻ thường đánh giá quá cao bản thân và các năng lực của mình Một số khác lại có sự tự ái có tính chất bệnh hoạn, thể hiện ở sự nhận thức thấp các khả năng của mình” [63,438]
Mặc dù có những thiếu sót trong việc đánh giá cá nhân mình, nhưng tuổi trẻ đã nhận thức được sự cần thiết phải tự giáo dục Đây là nét đặc trưng của sự phát triển đạo đức của tuổi trẻ Chính ở đây đã hình thành nên kỹ năng lựa chọn con đường đúng đắn cho hành vi trong những hoàn cảnh và tình huống khác nhau, kỹ năng điều chỉnh hành vi của mình theo những con đường đó Các em cố gắng hoàn thiện không chỉ các phẩm chất riêng lẻ mà cả cá tính của mình nói chung
Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt, “do sự giáo dục không đúng đắn hoặc do ảnh hưởng của môi trường sinh sống, mà ở một số em có thể hình thành những lệch lạc và thành kiến về đạo đức, thậm chí cả những nguyên tắc và tâm thế đạo đức xa lạ với dân tộc, với xã hội” [21,494] Những điều đó được thể hiện ở sự phóng túng về mặt đạo đức, ở thái độ trơ trẽn vô liêm sĩ, ở sự không tôn trọng những người xung quanh, ở thái độ nghi ngờ không lành mạnh,
ở chủ nghĩa ích kỷ
Từ nhu cầu tự hoàn thiện đạo đức, tuổi trẻ đã xuất hiện sự cố gắng biểu hiện bản thân, tức là cố gắng biểu hiện mọi ý nghĩ và cảm xúc của mình đối với tất cả mọi thứ xung quanh mình Các em muốn được thừa nhận là người lớn, muốn được đối xử ngang hàng với người lớn, thậm chí có em còn muốn cá tính của mình được thừa nhận, muốn được chia sẻ quyền của người lớn về một điều
Trang 26gì đó Sự tự biểu hiện có liên quan chặt chẽ với tính tích cực sáng tạo ngày càng tăng của lứa tuổi này và biểu hiện đặc biệt rõ nét trong các hình thức hoạt động sáng tạo khác nhau như: ghi nhật ký, làm thơ, vẽ kiểu và thiết kế, tham gia các cuộc thi tuyển, các trận thi đấu
Nhu cầu giao lưu là nhu cầu xã hội đầu tiên của tuổi trẻ Nó phát triển cùng với sự phát triển của tuổi trẻ và đạt đến đỉnh cao ở cuối tuổi thiếu niên và đầu tuổi thanh niên [21,498]
Ở lứa tuổi này tình bạn được xây dựng dựa vào sự phù hợp xu hướng, sở thích, hứng thú, nhu cầu, tính cách v.v “Tuổi trẻ cho rằng, bạn bè thân tín hiểu họ hơn cha mẹ, họ học hỏi ở bạn bè nhiều hơn là cha mẹ” [54,13] Số lượng các nhóm và tập thể mà tuổi trẻ tham gia tăng lên một cách rõ rệt Trong số đó, có những tập thể có tổ chức ở trong trường (lớp học, Đoàn Thanh niên cộng sản), những tập thể có tổ chức ở ngoài trường (các câu lạc bộ, các đội thể thao, nghệ thuật v.v ) và các nhóm, “hội” không chính thức, được hình thành tự phát trong quá trình giao lưu Điều đáng lo là: những giá trị để hình thành các nhóm đường phố thường là những giá trị chống đối xã hội, thủ lĩnh của nhóm ít khi là những
em tốt, trong khi đó “tuổi trẻ vẫn chưa có khả năng độc lập, rất dễ chịu ảnh hưởng xấu một cách không ý thức” [21,498] Theo nhiều cuộc nghiên cứu, ảnh hưởng bạn bè bắt đầu ở vài năm cuối tiểu học (11, 12 tuổi), phát triển mạnh vào giai đoạn đầu của tuổi trẻ (13, 14 tuổi), đến cuối giai đoạn tuổi trẻ (18, 19 tuổi) mới giảm dần, vì ở giai đoạn này tuổi trẻ đã biết suy nghĩ sâu rộng hơn” [54,13] Tình bạn khác giới và tình yêu cũng là một đặc điểm của tuổi trẻ Tại các lớp đầu của bậc trung học, trai gái có nhiều dịp để làm quen và trở thành bạn thân, nhiều nhóm bạn nam nữ đã có những sinh hoạt riêng rẽ để tìm hiểu nhau sâu rộng hơn, có những cặp nam nữ với tình cảm đặc biệt thường có những sinh hoạt riêng ngoài những sinh hoạt chung của nhóm bạn thân Những sinh hoạt
Trang 27này được xem như những cuộc hẹn hò khởi đầu để tìm hiểu và trao đổi tình cảm cá nhân nhưng vẫn là những sinh hoạt của cả một nhóm nam nữ mà chưa có tính cách riêng tư Có tình trạng đó, bởi thiếu niên vào tuổi dậy thì, nhất là phái nữ, đã phát triển một thứ cảm xúc mơ mộng lý tưởng về người khác phái Cảm xúc này rất mãnh liệt nhưng không bền lâu vì sau đó, thiếu niên đã nhận ra mình mơ mộng hão huyền
Đến các lớp cuối của bậc trung học, nhiều cặp nam nữ đã có những quan hệ tình cảm rất mật thiết Những cuộc hẹn hò trai gái đã diễn ra nhiều hơn để thiếu niên nam nữ trao đổi quan niệm sống, trao đổi tình cảm riêng tư và chân thành, để có thể an ủi và giúp đỡ khi người bạn gặp khó khăn Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều cặp trai gái lãng mạn đã lợi dụng hẹn hò để thỏa mãn những cảm xúc tình cảm nhất thời
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông
Ngay từ thời kỳ đầu của cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam - đã rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Người dạy: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa” [45, 679]
- Về nguyên lý giáo dục, vận dụng học thuyết Mác – Lênin trong việc xác
định nguyên lý giáo dục cho nền giáo dục Việt Nam, trong bài nói chuyện với giáo viên và học sinh trường phổ thông cấp 3 Chu văn An – Hà Nội, ngày 31/12/1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trường học của ta là trường học xã hội chủ nghĩa Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động, lý luận đi với thực hành” [44,295]
Trang 28Trong thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hóa vào ngày 31/8/1960, Người lại tiếp tục nhắc nhở: “Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và của Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế” [45,190]
- Về nội dung giáo dục, trong bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết phong
trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” (tháng 3/1963) của ngành giáo dục phổ thông và
sư phạm, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nội dung giáo dục cần chú trọng hơn nữa về mặt đạo đức, cần dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà, dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ quốc” [46, 615]
Người giải thích về nội dung giáo dục thật cụ thể và dễ hiểu:
“Đối với các em, việc giáo dục gồm có:
- Thể dục: để làm cho thân thể mạnh khỏe, đồng thời giữ gìn vệ sinh riêng và vệ sinh chung
- Trí dục: ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới
- Mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp
- Đức dục: là yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công
Các em cần rèn luyện các đức tính thành thật và dũng cảm
Ở trường thì kính thầy, yêu bạn, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau
Ở nhà thì yêu kính và giúp đỡ bố mẹ
Ở xã hội thì tùy sức mình mà tham gia những việc có ích lợi chung” [43,74]
Trong thư gửi các cháu thiếu nhi, trong các bài nói chuyện tại các hội nghị của ngành giáo dục - đào tạo, Người ân cần chỉ bảo:
Trang 29“Nay Bác viết mấy chữ, để cám ơn các cháu và khuyên các cháu:
1 Phải siêng học
2 Phải giữ gìn sạch sẽ
3 Phải giữ kỷ luật
4 Phải làm theo đời sống mới
5 Phải thương yêu giúp đỡ cha mẹ, anh em” [41, 421]
Người còn chỉ rõ nội dung của từng cấp học:
“Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế
Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công” [43,81]
- Về phương pháp giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy, việc giáo dục, trước
hết, phải tùy theo từng đối tượng Trong thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, Người viết: “ phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả
Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học ” [42,85]
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến phương pháp giáo dục nêu gương Người khẳng định: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [39,263]
- Về các lực lượng tham gia giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giáo
dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã
Trang 30hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [43,394] Vì thế, “Gia đình phải liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm
chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh” [43,81]
Sâu xa hơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu rõ nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương phải quan tâm đến giáo dục, bởi vì quan tâm đến giáo dục là quan tâm đến sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng toàn dân, bởi
vì giáo dục là động lực phát triển của xã hội Trong bức thư gửi cho các thầy cô giáo, các cháu học sinh và các cán bộ ngành giáo dục vào dịp 15/10/1968, Người đã căn dặn: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và của nhân dân ta, do đó các ngành các cấp Đảng và chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc
nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp của ta lên bước phát triển mới” [47, 404]
Nói tóm lại, “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ
các cấp, giữa nhà trường với nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ đó” [47,403]
Chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp giáo dục - đào tạo càng được các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm đặc biệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 6 định hướng chiến lược cho sự nghiệp phát triển giáo dục – đào tạo ở nước ta mà nội dung cơ bản của 6 định hướng đó là:
1 Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của
Trang 31dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thứùc khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo, trong các chính sách Phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục – đào tạo Chống khuynh hướng
“thương mại hóa”, đề phòng khuynh hướng phi chính trị hóa giáo dục – đào tạo Không truyền bá tôn giáo trong trường học
2 Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục
- đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Thực hiện các
chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu
tư và chính sách tiền lương Có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục
3 Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi người chăm lo cho giáo dục Các cấp ủy và tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục
- đào tạo, đóng góp trí lực, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục - đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể
4 Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thực
Trang 32hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội
5 Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục – đào tạo Tạo điều kiện để
ai cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng
6 Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý từ nội dung chương trình, quy chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, mở các trường
tư thục ở một số bậc học như: mầm non, phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa hình thức giáo dục [17,28-31]
Những định hướng chiến lược trên đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó những vấn đề cơ bản của hoạt động giáo dục đã được luật quy định ngay trong chương I
- Mục tiêu giáo dục là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (Điều 2)
- Tính chất của nền giáo dục Việt Nam là “nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có
tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” (Điều 3)
Trang 33- Nguyên lý giáo dục là “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động
sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.” (Điều 3)
- Nội dung giáo dục phải “bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện
đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học” (Điều5)
- Phương pháp giáo dục phải “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.” (Điều 5)
Luật Giáo dục đã dành trọn mục 2 chương II để quy định những vấn đề liên quan đến giáo dục phổ thông
- Mục tiêu của giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (Điều 27)
- Nội dung giáo dục phổ thông phải “bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn
diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.”(Điều 28)
- Giáo dục tiểu học phải “bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần
thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết
Trang 34và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật.” (Điều 28)
- Giáo dục trung học cơ sở phải “củng cố, phát triển những nội dung đã học
ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp.” (Điều 28)
- Giáo dục trung học phổ thông phải “củng cố, phát triển những nội dung đã
học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.” (Điều 28)
- Phương pháp giáo dục phổ thông phải “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” (Điều 28)
- Về lực lượng tham gia giáo dục, Luật xác định “Mọi tổ chức, gia đình và
công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và
an toàn.” (Điều 12)
Nhà trường “chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” (Điều 93) Gia đình có trách nhiệm “xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”
Trang 35(Điều 94) Xã hội phải “tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồng” (Điều 97)
Tất cả những nội dung trên cho thấy, từ người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến các tổ chức của Đảng, các giai đoạn phát triển của Đảng đều chú trọng vào việc giáo dục thế hệ trẻ, trong đó vấn đề giáo dục đạo đức luôn được đặt lên hàng đầu trong hệ thống các nội dung giáo dục
Trang 36Chương 2
NHỮNG HẠN CHẾ TRONG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI TP HỒ CHÍ MINH,
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
2.1 Đặc điểm của học sinh phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh
Theo quan niệm duy vật lịch sử, sự hình thành và phát triển của đạo đức và quá trình giáo dục đạo đức đều được quy định bởi những điều kiện kinh tế - xã hộiù Do đó, khi phân tích đặc điểm của học sinh phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, không thể không xét đến môi trường kinh tế, môi trường văn hóa - xã hội của thành phố
2.1.1 Đặc điểm về môi trường kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh, tiền thân là Sài Gòn được xây dựng vào khoảng nửa sau thế kỷ XVII, với tên gọi đầu tiên là Bến Nghé, đến năm 1856 mới chính thức gọi là Sài Gòn” [67,10] Sau khi thống nhất đất nước, ngày 2/7/1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VI chính thức đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí quan trọng về mọi mặt đối với Nam bộ, với cả nước và khu vực Đông Nam Á Vị trí quan trọng của thành phố đã từng bước được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài Thời phong kiến, thành phố đã là một trung tâm chính trị, phòng vệ của vùng phía Nam đất nước Sang thời thực dân Pháp cai trị, Sài Gòn là nơi có cơ quan toàn quyền Đông Dương đóng và Pháp đã xây dựng nó thành “Hòn ngọc Viễn Đông” Đến thời Mỹ thống trị, chúng đã dùng thành phố này làm Thủ đô của Chính quyền ngụy Mỹ đã đầu tư phát triển xây dựng, mở mang làm cho thành phố Sài Gòn trở thành một trung
Trang 37tâm chính trị - kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa, nhằm phục vụ cho chủ nghĩa thực dân kiểu mới Sau ngày giải phóng, vị trí của thành phố đã được Nghị quyết
01 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 9/1982) về công tác của thành phố Hồ Chí Minh xác định:
“ Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm công nghiệp lớn , là đầu mối giao thông lớn cả về thủy, bộ và đường hàng không, có vị trí và điều kiện rất thuận lợi về giao lưu quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh có triển vọng rất tốt đẹp về phát triển công nghiệp, phát triển xuất khẩu, du lịch và dịch vụ quốc tế , đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế chung của cả nước
ta và các nước bạn Lào, Campuchia Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí quan trọng trong hậu phương lớn của đất nước ta và của phía nam Đông Dương.” [67,8
Ở ngoại thành, nhân dân sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, rau, cây ăn trái, cây công nghiệp, chăn nuôi và những nghề truyền thống khác Đây là nơi cung cấp phần lớn lương thực và thực phẩm cho nội thành
Trang 38Nhằm chủ động tạo thêm nguồn hàng cho tiêu dùng và cho xuất khẩu, thành phố đã thực hiện việc liên kết với các tỉnh, thành thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và một số khu vực của vùng ven biển miền Trung Sự hợp tác và liên kết giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam không những đã giúp nhau khắc phục các mặt mất cân đối trong sản xuất và đời sống, phát huy thế mạnh của từng địa phương và tăng thêm sản phẩm cho xã hội, mà còn giúp hoạt động kinh tế đối ngoại mở rộng trên nhiều lĩnh vực Ngoài lượng hàng xuất nhập khẩu chính cho mình, thành phố còn đảm nhiệm vai trò xuất nhập khẩu cho các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả vùng Nam Bộ
Các khu vực kinh tế trên địa bàn thành phố đều phát triển Hiện kinh tế thành phố chủ yếu dựa vào khu vực dịch vụ và công nghiệp
- Khu vực dịch vụ, giai đoạn 1996 – 2000 chỉ tăng 8,4%/năm, sang giai đoạn
2001 – 2005 đã tăng 9,8%/năm [20,2] Trong đó, dịch vụ tài chính – ngân hàng có tốc độ phát triển cao nhất (từ 12,2% năm 2001 lên 18,7% năm 2004), kế đến là vận tải, kho bãi và viễn thông [20, 2]
Với vị trí địa lý khá quan trọng, cửa ngõ nhìn ra Đông Nam Á và xa hơn nữa là cả khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, hiện thành phố đang là trung tâm thương mại lớn nhất, sôi động nhất nước trong hoạt động nội thương cũng như ngoại thương Công tác xúc tiến thương mại ngày càng mang tính chuyên nghiệp, góp phần hỗ trợ tích cực và hiệu quả hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, nhất là thị trường mới ở Bắc Mỹ, Châu Âu Vài năm gần đây, Mỹ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất ở thành phố Hồ Chí Minh Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố ước đạt 9,5 tỷ USD, [76,22] chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước [74, 21]
Trang 39Về dịch vụ du lịch, cũng do có vị trí rất thuận lợi về địa lý và khí hậu nhiệt đới hải dương ổn định, thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch có sức thu hút đối với du khách từ khắp các miền đất nước Thành phố còn là trạm trung chuyển làm nhiệm vụ tiếp nhận, hướng dẫn đưa khách quốc tế đến các điểm du lịch trong cả nước và đến các nước láng giềng của nước ta Khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh từ 1,1 triệu lượt người năm 2000 lên 1,6 triệu lượt người năm 2004 (tăng bình quân 14%/năm, đạt 54% tổng số lượt khách đến Việt Nam hàng năm) Tổng doanh thu từ du lịch năm 2004 đạt 10.812 tỷ đồng, chiếm trên 40,8% doanh thu ngành du lịch cả nước [20,7]
- Khu vực công nghiệp của thành phố bao gồm các ngành chủ chốt như:
ngành sữa chữa và đóng tàu biển, nhựa cao su, dệt, may mặc, giầy da, hóa chất, ngành sản xuất máy (Diesel), sắt thép, các loại cáp điện và dây điện dân dụng chất lượng cao, vật liệu xây dựng, thực phẩm và đồ uống, giấy, radio, tivi, thiết
bị truyền thông Hiện giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố chiếm tỷ
trọng gần 30% so công nghiệp cả nước [74,21]
- Về khu vực nông nghiệp, cơ cấu nông nghiệp đã có sự chuyển dịch tích
cực, theo hướng tăng tỷ trọng của thủy sản và chăn nuôi, giảm tỷ trọng trong ngành trồng trọt Hiện nay, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch mạnh theo mô hình sản xuất hiệu quả hơn, với sự phát triển của các ngành chăn nuôi, thủy sản, cây kiểng, cá kiểng Sản lượng tôm sú năm 2004 của thành phố khoảng 7.500 – 7.700 tấn, sản lượng cá cảnh thương phẩm tăng mạnh, đạt 20 triệu con, hơn 48.500 con cá sấu đang được nuôi tại các hộ gia đình và các trang trại Chăn nuôi và thủy sản chiếm hơn 60% giá trị sản xuất nông nghiệp của thành phố [76,23]
- Về đầu tư nước ngoài, Thành phố Hồ Chí Minh với ưu thế về cơ sở hạ tầng
kỹ thuật, lại là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, nên từ khi Luật Đầu tư nước
Trang 40ngoài được ban hành và có hiệu lực (1/1/1988), thành phố là địa phương sớm thu hút FDI Theo Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố tuy có lúc thăng trầm, nhưng từ 1988 đến tháng 10/2004, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã có đến 1.885 dự án đầu tư trực tiếp của hơn 30 nước châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương Tổng vốn đăng ký là 14.410,8 triệu USD [57,24] Chỉ tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2005, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã có 150 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép với tổng vốn 255 triệu USD; so với cùng kỳ năm 2004, tăng 35 dự án; tổng vốn đầu tư tăng 164,9 triệu USD, gấp 2,83 lần [12,15]
Tỷ trọng xuất khẩu của FDI trong cơ cấu xuất khẩu của thành phố ngày càng tăng Kim ngạch xuất khẩu cũng tăng liên tục Chủ yếu là từ hoạt động có hiệu quả của hai khu chế xuất Tân Thuận (thành lập năm 1991), Linh Trung (thành lập năm 1992) Từ năm 1996, thành phố có thêm các khu công nghiệp: Tân Tạo, Tân Bình, Vĩnh Lộc, Bình Chiếu, Tây Bắc Củ Chi, Tân Thới Hiệp, Lê Minh Xuân, Hiệp Phước, Cát Lái 2, Phong Phú, Tân Phú Trung Hiện thành phố có 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Chỉ tính từ năm 1999 đến nay, đóng góp ngân sách của các khu chế xuất và khu công nghiệp là 1.002,811 tỷ đồng, riêng 6 tháng đầu năm 2004 là 302,671 tỷ đồng [33,119]
- Đời sống kinh tế của người dân thành phố cũng ngày càng cao Tốc độ
tăng trưởng GDP từ 9% năm 2000 lên 12% năm 2005 Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI ước tính bình quân đạt 11%/năm [20,1] So với mức bình quân trên toàn quốc, thành phố đứng đầu về mức tăng GDP trên đầu người (từ 1.365 USD năm
2000, tăng lên 2.000 USD vào năm 2005), là nơi có lượng trang bị máy tính gấp
8 lần, tỷ lệ người sử dụng internet gấp 7 lần, điện thoại gấp 3,5 lần [74,21] Mật độ thuê bao điện thoại ngày càng tăng nhanh, năm 2004 đạt 35 máy/100 dân,