1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn chương nguyễn huy thiệp trong quan hệ với văn hóa dân gian

114 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hóa dân gian
Tác giả Lê Thị Thanh Hà, Nguyễn Huy Thiệp
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Thu Hiền
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ văn học Việt Nam
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 865,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sáng tác của mình, nhà văn này đã sử dụng các thành tố của văn hoá dân gian như văn học dân gian, tín ngưỡng, phong tục, triết lý, văn hoá trào tiếu… Lê Huy Bắc trong bài “Bậc hiền

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2



LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN THU HIỀN

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2013

Trang 3

Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến cô giáo - PGS.TS Phan Thu Hiền, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, phòng Sau đại học, khoa Văn học và ngôn ngữ đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu

Xin cảm ơn các quý thầy cô giảng dạy đã nhiệt tình dìu dắt tôi đến bến bờ tri thức

Cuối cùng tôi gửi lời biết ơn chân thành đến các bạn học viên lớp Văn học Việt Nam khóa 2009 đợt 2 đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ nhau trong quá trình học tập

Xin chân thành cảm ơn tất cả!

 

 

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử vận động và phát triển, nhân loại đã có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất và chức năng của văn chương cũng như có những cách thức khác nhau trong hoạt động sáng tạo và khám phá văn chương Có lúc văn chương được coi là tiếng nói của tình cảm, là tự biểu hiện, ký thác tâm tư, ước vọng của con người Có khi nó được xem là một công cụ để nhận thức, phản ánh, miêu tả thực tại;

là hình ảnh, bức tranh của đời sống Và có lúc văn chương lại được xem là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, dùng ngôn từ làm phương tiện biểu đạt… Do vậy hoạt động sáng tác và khám phá văn chương cũng được thực hiện theo những hướng, những phương pháp khác nhau Sự thay đổi, đổi mới trong sáng tạo và nghiên cứu văn chương là tất yếu Nó thể hiện sự đa dạng, phong phú trong cách thức sáng tác

và khám phá văn chương nhằm khai thác ngày một sâu sắc, mới mẻ bản chất, tiềm năng và chức năng của văn chương, đáp ứng tinh tế và linh hoạt hơn những nhu cầu tinh thần phức tạp và luôn thay đổi của con người, giúp cho sự vận động và phát triển của văn chương được thuận lợi, hợp quy luật Thời xa xưa, văn chương từng tồn tại dưới dạng nguyên hợp bất phân giữa văn và tín ngưỡng, tôn giáo, văn và triết, văn và sử; bình diện tình cảm, tư tưởng của văn chương được đưa lên hàng đầu Sau đó văn chương được khu biệt, mặt nghệ thuật, thẩm mĩ rồi mặt ngôn ngữ được đề cao Vì vậy, văn chương được tiếp cận dưới nhiều góc độ tư tưởng, triết học, mĩ học, ký hiệu học, ngôn ngữ học…Sự khu biệt này đã đẩy nhanh quá trình phát triển của văn chương cả về mặt sáng tác lẫn nghiên cứu đồng thời làm nảy sinh nhu cầu về cái nhìn tổng hợp mới, liên ngành đối với văn chương, nêu rõ mối quan

hệ đa chiều của văn chương không chỉ với nghệ thuật, ngôn ngữ, tư tưởng mà còn với các hoạt động tinh thần khác của con người Trong tình hình đó đã xuất hiện cách tiếp cận văn hoá đối với văn chương Hướng nghiên cứu văn hoá đối với văn học là một phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hoá, dùng văn hóa để

Trang 5

tìm hiểu văn học, từ đó rút ra những kết luận và giá trị văn học của tác phẩm văn

học như nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương đã viết: “Tiếp cận văn hoá văn học

vừa giúp ta nhận thức sâu hơn tính cộng đồng loại hình của các hiện tượng văn học, vừa giúp ta xác định đặc trưng của từng loại hình trong các bộn bề phức tạp của nó” [61;49]

Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa với những nét độc đáo riêng Cấu thành

và nuôi dưỡng nền văn hóa ấy là nguồn mạch văn hóa dân gian chảy suốt diễn trình lịch sử của dân tộc Dân tộc Việt Nam tự hào với lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến Trong suốt quãng thời gian ấy, người Việt đã làm nên một đất nước đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, làm nên nét riêng trong nếp nghĩ, lối sống của người Việt Đất nước Việt Nam vốn là một đất nước có nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước Vì vậy, cái phần văn hóa dân gian vốn nhiều hơn văn hóa bác học; những phong tục tập quán, những câu ca dao, truyện kể dân gian đã đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi người dân Việt qua bao thế hệ Văn học viết của dân tộc cũng bắt nguồn và được nuôi dưỡng từ những câu ca, truyện kể truyền miệng từ đời này sang đời khác của cha ông ta ngày trước Vì vậy, trong sáng tác của mỗi nhà văn, ít hay nhiều đều có phần ảnh hưởng của văn hóa dân gian Và Nguyễn Huy Thiệp là một trong những trường hợp như thế Là một nhà văn đương đại trong địa hạt kịch – truyện ngắn và tiểu thuyết với những góc nhìn mới, văn chương Nguyễn Huy Thiệp không chỉ thể hiện một cái nhìn táo bạo về cuộc đời mà còn có cả sự mới mẻ trong cách sử dụng ngôn ngữ và đã phản ánh khá đậm nét về đời sống con người, đặc biệt

là những người lao động Truyện Nguyễn Huy Thiệp lại tiếp nối nguồn mạch văn hoá dân gian khá đậm nét Ở những tác phẩm của ông, người đọc có thể tìm thấy những ảnh hưởng của văn học dân gian, nhất là ở hơi hướng huyền thoại và cổ tích Không chỉ có vậy, văn chương Nguyễn Huy Thiệp còn chịu nhiều ảnh hưởng bởi các thành tố văn hóa dân gian khác như văn hóa trào tiếu dân gian, tín ngưỡng dân gian, triết lý dân gian Nhiều tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp còn mang hơi thở của những câu chuyện dã sử được lưu truyền trong dân gian Có thể nói, văn hóa dân gian là một yếu tố không nhỏ làm nên cảm hứng sáng tác cho Nguyễn Huy

Trang 6

Thiệp Vì thế, văn chương Nguyễn Huy Thiệp hoàn toàn có thể được soi sáng dưới góc nhìn văn hoá

Hơn nữa, Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn xuất hiện trên văn đàn tuy muộn nhưng tạo được sự chú ý ngay đối với độc giả và giới nghiên cứu phê bình văn học Văn chương Nguyễn Huy Thiệp được tiếp cận và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau và tạo được dư luận xôn xao với nhiều ý kiến đánh giá khen, chê có khi trái

ngược nhau hoàn toàn chỉ trong mười năm sau khi Tướng về hưu - truyện ngắn của

Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện Đến nay, văn chương của ông vẫn còn là đề tài của nhiều cuộc tranh luận của giới phê bình Tuy nhiên, dường như chưa có một công trình nào nhìn nhận mối quan hệ giữa văn chương Nguyễn Huy Thiệp với nền văn hóa dân gian của dân tộc một cách toàn diện Vì vậy, đây là vấn đề còn nhiều khoảng trống để chúng ta tiếp tục khơi nguồn trong hành trình khám phá văn chương Nguyễn Huy Thiệp

2 Lịch sử vấn đề

Ngay từ khi mới xuất hiện, văn chương Nguyễn Huy Thiệp đã có sức hút mạnh mẽ số đông các nhà nghiên cứu, phê bình Chỉ trong một thời gian ngắn đã có nhiều bài viết về các sáng tác của ông Dường như phê bình về văn của Nguyễn Huy Thiệp theo liền tức thời với những sáng tác của ông, liên tục và lâu dài Không chỉ giới nghiên cứu trong nước mà còn có cả các nhà phê bình người nước ngoài cũng xôn xao tranh luận về văn chương của ông Nhà phê bình, nghiên cứu văn học

Phạm Xuân Nguyên viết: “Thật hiếm trong văn chương Việt Nam xưa nay, tôi dám

chắc là chưa có một nhà văn nào vừa xuất hiện đã gây được dư luận, càng viết dư luận càng mạnh, truyện chưa ra thì người ta đã kháo nhau, truyện đăng rồi thì tranh nhau tìm đọc, đọc rồi thì gặp nhau bình phẩm, bàn tán, chốn phòng văn cũng như chốn vỉa hè đâu đâu cũng kháo chuyện Văn đàn thời đổi mới đã khởi sắc, bỗng khởi sắc hẳn, đã náo động càng thêm náo động, bởi những cuộc tranh luận,

cả tranh cãi, quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” [54; 6] Và cũng chính ông là

người có công sưu tầm, tuyển chọn khoảng hơn một phần ba số bài viết đã đăng

Trang 7

trên các tạp chí khắp nơi về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp trong khoảng gần

mười lăm năm sau khi nhà văn này góp mặt trên văn đàn Đó là cuốn sách Đi tìm

Nguyễn Huy Thiệp xuất bản năm 2001 Cuốn sách gồm 54 bài viết của các tác giả

trong và ngoài nước bàn về văn Nguyễn Huy Thiệp với nhiều ý kiến đánh giá ngược

chiều nhau bởi theo Phạm Xuân Nguyên thì “Nguyễn Huy Thiệp hai lần lạ: nội

dung lạ, nghệ thuật lạ” [54; 6] Sau đó, trong cuốn sách Văn học Việt Nam thế kỷ

XX xuất bản năm 2004, Bùi Việt Thắng cũng dành một phần viết về văn Nguyễn

Huy Thiệp Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong cuốn sách Truyện ngắn Việt Nam -

Lịch sử, thi pháp, chân dung, xuất bản 2007 cũng đã dành một chương để đánh giá

về tác phẩm của Thiệp Công trình Văn học Việt Nam sau năm 1975 - Những vấn đề

nghiên cứu và giảng dạy do Nguyễn Văn Long và Lã Nhâm Thìn đồng chủ biên, ra

đời năm 2009 là công trình tập hợp những bài viết của nhiều tác giả về những vấn

đề đáng lưu ý, còn đang chờ sự nghiên cứu của nhiều học giả về văn học Việt Nam sau năm 1975 Trong công trình này, người ta đề cập nhiều đến văn chương Nguyễn Huy Thiệp rải rác trong các bài viết Đáng chú ý nhất là các bài “Cuộc tìm kiếm phương thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại qua cấu trúc truyện của Nguyễn Huy Thiệp” của Châu Minh Hùng và bài “Bậc hiền triết – con chó xồm hay kỹ thuật nhại của Nguyễn Huy Thiệp” của Lê Huy Bắc Không chỉ vậy, viết về văn của Nguyễn Huy Thiệp, còn rất nhiều bài trên các tạp chí, mỗi bài một khía cạnh Nhìn chung, có thể khái quát những công trình nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp theo những hướng sau:

2.1 Những bài viết, ý kiến bàn về hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp

Ở những bài viết này, chúng ta thấy rõ hai luồng ý kiến “đánh giá khác nhau,

thậm chí trái ngược về mối quan hệ giữa hư cấu và sự thật, về tâm và tài, cách đọc cách hiểu” [54; 456] Một đằng là chối bỏ, phê phán và một bên là đề cao, ca ngợi

“Người khen, khen hết lời, người chê, có khi mất hết cả sự bình tĩnh cần thiết” [54; 518] Hầu hết những bài viết này đều tập trung vào truyện ngắn Tướng về hưu và bộ

ba truyện lịch sử: Kiếm sắt, Vàng lửa, Phẩm tiết Nhưng nhìn chung vẫn là những đánh giá chứa đựng sự bênh vực, đề cao đối với Nguyễn Huy Thiệp Khi Tướng về

Trang 8

hưu xuất hiện, Chu Huy đã nhận xét: “Tướng về hưu có những đoạn sắc sảo, bạo

dạn, nêu nhận xét gọn, sử dụng thành ngữ, tục ngữ đắt” [54; 518] và có nhà văn

đàn anh đã ao ước đổi cả đời văn của mình để chỉ lấy một Tướng về hưu Đánh giá

chung về văn chương của nhà văn này, nhà phê bình Vương Trí Nhàn trong bài viết

“Tưởng tượng về Nguyễn Huy Thiệp” đã vô cùng thán phục: “Nguyễn Huy Thiệp

hai lần kỳ lạ vì anh mang tới cái chất mà lâu nay văn học Việt Nam hơi thiếu: chất kiêu bạc, tàn nhẫn, cay đắng” [54; 406] Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp được

nhà văn Mai Ngữ xem như là “một hiện tượng khá độc đáo của văn học 1988” [54 ;

418] Giá trị của văn chương Nguyễn Huy Thiệp được các nhà nghiên cứu phê bình

đánh giá rất cao Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã nói: “Trong hành trình đi tìm

Nguyễn Huy Thiệp, tôi thấy một giọt vàng rơi vào lòng mình, giọt vàng ròng ngời sáng Đó là truyện ngắn của anh [54; 472] Nhà nghiên cứu văn học người nước

ngoài G Lockhart cũng đánh giá về Nguyễn Huy Thiệp với sự ngưỡng mộ: “Hơn

nữa, theo tôi đây là một tác giả Việt Nam có tài năng ngang tầm với những nhà văn xuất sắc quốc tế Vì thế tôi nghĩ rằng tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là một đóng góp cho văn học thế giới hiện đại” [54; 115]

Nhưng bên cạnh đó cũng có những người chê không tiếc lời đối với Nguyễn Huy Thiệp Những ý kiến đó chủ yếu tập trung vào những truyện viết về đề tài lịch

sử, những câu chuyện có yếu tố tình dục của nhà văn này Tạ Ngọc Liễn đã lên án Nguyễn Huy Thiệp gay gắt vì theo ông, tác giả này đã đi ngược lại với lịch sử dân

tộc, hạ bệ các thần tượng lịch sử Ông viết: “Tôi cho quan niệm viết về đời thường

người anh hùng với các khía cạnh nóng nảy, độc ác, bỗ bã, hám gái ở Quang Trung thì là hạ thấp văn học, chứ không phải là sự mô tả toàn diện” [54; 457] Cùng ý

kiến với Tạ Ngọc Liễn, Nguyễn Thuý Ái cho rằng: “Viết như thế cũng là một cách

bắn súng lục vào quá khứ” [54; 203] Nhà văn Mai Ngữ bên cạnh sự nhìn nhận tài

năng văn chương của Nguyễn Huy Thiệp, cũng có sự phê phán gay gắt Ông cho

rằng: “Ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp đúng là của hiếm Của hiếm của một tài

năng đồng thời cũng là của hiếm của một bệnh lý, sự vội vã định hình, sự bộc lộ sâu

Trang 9

sắc cái tâm lý chủ đạo là chối bỏ, phản kháng, lật đổ, hạ bệ mọi thần tượng” [54;

427]

Nhìn chung, như lời của Hoàng Ngọc Hiến đã viết:“Tôi không chúc bạn

thuận buồm xuôi gió” [54; 9], những bài viết, ý kiến về hiện tượng Nguyễn Huy

Thiệp bao gồm những phản ứng ngược chiều nhau, khen chê đều đủ cả Điều đó chứng tỏ Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng độc đáo, mới lạ như lời của Bùi Việt

Thắng: “Phong cách Nguyễn Huy Thiệp biến ảo, tung hoành, lôi cuốn người đọc

làm họ cùng thăng hoa với người sáng tác” [71; 210] Vì chỉ có như thế mới nhận

được nhiều sự quan tâm từ phía công chúng

2.2 Những bài viết, ý kiến có liên quan đến đề tài

Có rất nhiều bài viết về nhiều khía cạnh khác nhau của văn chương Nguyễn Huy Thiệp, song trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi lược khảo những ý kiến đánh giá liên quan trực tiếp đến vấn đề văn hoá dân gian trong văn Nguyễn Huy Thiệp Trong sáng tác của mình, nhà văn này đã sử dụng các thành tố của văn hoá dân gian như văn học dân gian, tín ngưỡng, phong tục, triết lý, văn hoá trào tiếu… Lê Huy Bắc trong bài “Bậc hiền triết, con chó xồm hay kỹ thuật nhại của Nguyễn Huy Thiệp” đã nghiên cứu về lối viết giễu nhại của nhà văn này Ông viết:

“Yếu tố nhại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thật phong phú Quả thật ông đã tạo ra được dấu ấn của riêng mình ở lĩnh vực này Đặc biệt là lối nhại của Nguyễn Huy Thiệp ít khi gắn với tiếng cười, mà nếu có thì tiếng cười đó là thực sự bi đát”

[74; 319] Sử dụng bút pháp huyền thoại là một thủ pháp quen thuộc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng như xây dựng cốt truyện trong văn Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Vy Khanh đã viết trong bài “Nguyễn Huy Thiệp: Những truyện

huyền kỳ, núi, sông và nước …”: “Huyền thoại có thể trần tục hoá những thần

thánh, danh nhân lịch sử, gỡ bỏ vầng hào quang, giản đơn hoá những ngôi sao có khi đã được chiếu sáng nhân tạo, đưa các ngài từ những đỉnh cao xuống đồng bằng sống với người hai bữa cơm chay gạo” [54; 370], “Truyện và lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp huyền thoại mà rất “đời” và “tục”" [54; 383] Cùng một hướng nghiên

Trang 10

cứu với Nguyễn Vy Khanh, nhìn nhận Nguyễn Huy Thiệp trong tương quan với văn

học dân gian, Hoàng Ngọc Hiến có bài “Tư duy tiểu thuyết và folklore hiện đại” và các bài “Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp như hình mẫu các truyền

thuyết văn học”, “Thơ trong văn Nguyễn Huy Thiệp” của T.N Philimonova Nhà

nghiên cứu người nước ngoài này cho cho rằng: “Hầu như trong mỗi truyện ngắn

của anh đều hiện diện vết tích của các huyền thoại, truyền thuyết, dân ca, tục ngữ

và đó không chỉ đơn giản là những “trích đoạn” riêng lẻ hay sự mượn nhập các mô típ…, mà là sự ảnh hưởng, cách điệu hoá chúng” [54; 59] và nhờ đó mà tác giả đã

“nêu bật những vấn đề vĩnh cửu về cái thiện và cái ác, về số phận…đang dằn vặt con người hiện đại” [54; 74] Văn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều yếu tố tục Nghiên

cứu về những yếu tố này Châu Minh Hùng có bài “Tiếng nói của cái tục trong văn

Nguyễn Huy Thiệp” Ở đây Châu Minh Hùng đã xem các bộ phận sinh dục và những uế tạp của cuộc sống như cứt, đái mà các nhân vật của Thiệp hay văng ra đều

có ý nghĩa riêng của nó: “Xem đi xét lại Nguyễn Huy Thiệp thường dùng những từ

thuộc bộ tứ quý, tứ linh: Chim và dái, Bướm và vú Đối lập với bộ tứ quý, tứ linh ấy

là cái uế tạp: cứt và đái Những tiếng tục này xuất hiện đúng lúc để cho nghĩa nghệ thuật phát sinh”

Như vậy, ở những bài viết này, các tác giả đã có sự nghiên cứu văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hoá dân gian nhưng chỉ dừng lại ở việc xem xét một số ảnh hưởng của văn học dân gian, hiện tượng nhại và cái tục trong dân gian đối với sáng tác Nguyễn Huy Thiệp Những bài viết theo hướng nghiên cứu này cũng chỉ là những bài viết lẻ tẻ, chưa thành hệ thống nó chỉ giúp cho người đọc hiểu được phần nào ảnh hưởng của văn hoá dân gian trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp mà thôi

Tóm lại, chỉ trong vòng hơn hai thập kỷ từ khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, các nhà nghiên cứu, phê bình đã tốn rất nhiều giấy mực cho văn chương của ông

Đó như một hiện tượng, một thành quả của sự nghiệp đổi mới văn học dân tộc Tuy nhiên, khảo sát qua những công trình ấy thì nhìn nhận văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hóa dân gian của dân tộc cũng chỉ mới dừng lại ở

Trang 11

những bài viết lẻ tẻ và dường như chỉ mới nhìn nhận ảnh hưởng của văn học dân gian đối với sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp mà chưa chỉ ra ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa dân gian khác như triết lý, tín ngưỡng, văn hóa trào tiếu trong sáng tác của nhà văn này Vì vậy cách tiếp cận theo hướng nghiên cứu này với văn chương Nguyễn Huy Thiệp vẫn còn là đề tài hấp dẫn, mời gọi các nhà nghiên cứu, phê bình tiếp tục phân tích

3 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với những yếu tố của văn hóa dân gian của dân tộc bằng cách nhìn nhận những ảnh hưởng của văn hóa dân gian của dân tộc trong trang viết của Nguyễn Huy Thiệp nhằm lý giải những điều còn tranh cãi, những ý kiến khen – chê

về văn Nguyễn Huy Thiệp, từ đó giúp người đọc hiểu hơn về văn Nguyễn Huy Thiệp

Về phạm vi khảo sát, trước hết đề tài xác định là nghiên cứu văn chương Nguyễn Huy Thiệp dưới góc nhìn văn hoá, trong tương quan với văn hóa dân gian

Vì vậy, chúng tôi xin được khảo sát dấu ấn văn hoá dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp ở một số khía cạnh như chất liệu văn học dân gian, tín ngưỡng dân gian, văn hóa trào tiếu dân gian, triết lý dân gian Nguồn văn bản tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp mà luận văn khảo sát là những truyện ngắn đã được in trong các

sách Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Huy Thiệp, Cánh buồm nâu thuở ấy, Tuyển tập

truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Bao gồm 42 tác phẩm được ông sáng tác từ năm

1971 đến năm 2004: Những ngọn gió Hua Tát (từ 1971 đến 1986), Tâm hồn mẹ (1982), Huyền thoại phố phường (1983), Cún (1984), Chảy đi sông ơi, Chút thoáng

Xuân Hương (1985), Tướng về hưu, Muối của rừng (1986), Không có vua (1987),

Những bài học nông thôn, Con gái thuỷ thần, Giọt máu, Những người thợ xẻ, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết (1988), Mưa, Nguyễn Thị Lộ, Tội ác và trừng phạt, Đời thế mà vui, Trương Chi (1990), Sang sông, Thiên văn, Chuyện tình kể trong đêm mưa (1991), Thương nhớ đồng quê, Mưa Nhã Nam (1992), Chăn trâu cắt cỏ,

Trang 12

Thương cả cho đời bạc (1996), Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, Không khóc ở California (1997), Bài học tiếng Việt (1999), Sống dễ lắm, Đưa sáo sang sông

(2000), Lòng mẹ, Những người muôn năm cũ, Thổ cẩm, Chuyện ông Móng (2001),

Chú Hoạt tôi (2002), Những tiếng lòng líu la líu lo, Chuyện bà Móng, Cánh buồm

nâu thuở ấy, Quan âm chỉ lộ (2004)

4 Phương pháp nghiên cứu

Văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hoá dân gian là

một đề tài nghiên cứu, nhìn nhận tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hóa dân gian Vì vậy người viết phải làm nổi bật được dấu ấn văn hoá dân gian của dân tộc trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp Do đó, để tiến hành thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu văn hoá – văn học:

Đây là phương pháp chính vì đề tài luận văn tiếp cận văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hoá dân gian Nghĩa là tìm hiểu việc Nguyễn Huy Thiệp đã phản ánh những khía cạnh nào của văn hóa dân gian, đã sử dụng các thủ pháp, chất liệu của văn hóa dân gian trong sáng tác của mình như thế nào và tác động, ảnh hưởng của văn Nguyễn Huy Thiệp đối với văn hóa dân gian ra sao Từ đó

sẽ đánh giá về văn Nguyễn Huy Thiệp, lý giải những yếu tố còn tranh luận trong văn chương của ông

Phương pháp thi pháp học:

Vì đây là luận văn nghiên cứu về văn học, cụ thể là tác phẩm văn học, nên phương pháp này không thể thiếu Nó giúp người nghiên cứu các phương tiện hình thức nghệ thuật trong quan hệ với nội dung của văn Nguyễn Huy Thiệp

Người viết còn sử dụng một số phương pháp, thao tác bổ trợ như phương

pháp liên ngành vì đề tài nghiên cứu là văn học nhưng lại có liên quan đến lịch sử,

văn hoá, tôn giáo nên luận văn cũng sử dụng những thành tựu nghiên cứu của các

ngành khoa học đó và các thao tác thống kê, phân loại để làm cứ liệu phân tích

Trang 13

5 Ý nghĩa, đóng góp của đề tài

Trong một chừng mực nào đó, có thể nói đây là một hướng nghiên cứu mới

về văn chương Nguyễn Huy Thiệp trên cở sở tiếp cận văn hoá văn học, nhìn nhận mối quan hệ giữa văn chương Nguyễn Huy Thiệp với văn hóa dân gian của dân tộc Luận văn lý giải nguồn mạch sáng tạo văn chương Nguyễn Huy Thiệp là cội nguồn văn hoá dân tộc với những truyền thống văn hoá trong đời sống tín ngưỡng, phong tục, triết lý, văn học, văn hóa trào tiếu dân gian Vì vậy, giải quyết được một số vấn

đề gây tranh cãi xung quanh tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp như: vấn đề về cái tục, hình thức truyện nhại lịch sử… Từ đó, luận văn đánh giá về giá trị, sự đóng góp của văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc

Văn Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng của công cuộc đổi mới văn học Tuy cuộc bàn cãi về văn ông đã tạm lắng dịu nhưng hiện tại, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp vẫn còn hấp dẫn người đọc Người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ có những bổ sung nhất định vào việc nghiên cứu, khám phá văn chương Nguyễn Huy Thiệp

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung: Trong chương này chúng tôi sẽ nêu ra

những vấn đề lí luận làm nền tảng cơ sở cho luận văn Đó là chỉ ra mối quan hệ giữa văn chương bác học và văn hóa dân gian, những đặc điểm về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hóa dân gian

Chương 2: Văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn học dân

gian: Nghiên cứu mối quan hệ của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp với thi pháp huyền thoại, kết cấu, mô típ, cảm hứng trong các truyện dân gian, ảnh hưởng của thơ ca dân gian trong tác phẩm của ông

Trang 14

Chương 3: Văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với triết lý dân

gian, tín ngưỡng dân gian: Nghiên cứu ảnh hưởng của triết lý dân gian, tín ngưỡng dân gian trong văn Nguyễn Huy Thiệp thể hiện ở tính cách của những nhân vật nữ, hình ảnh nước

Chương 4: Văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hoá trào

tiếu dân gian: Nghiên cứu mối quan hệ của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp với văn hoá trào tiếu dân gian, được thể hiện ở những hình ảnh xác thân vật chất, thân thể nghịch dị, hiện tượng giễu nhại

Trang 15

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Văn chương bác học trong quan hệ với văn hoá dân gian

1.1.1 Văn học và văn hóa

Văn hoá là một khái niệm khoa học được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học từ trước đến nay Cho đến hiện tại, người ta đã thống kê được vài trăm định nghĩa về văn hoá, con số đó nói lên mức độ quan tâm của các nhà khoa học về vai trò của văn hoá đối với đời sống của nhân loại

Ngay từ năm 1871, nhà nhân học văn hoá người Anh E.B.Tylor đã có định

nghĩa sớm nhất về văn hoá Theo ông: “Văn hoá là văn minh hiểu theo nghĩa rộng

nhất của dân tộc; có nghĩa là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thói quen khác mà con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên xã hội” [89; 13] Đây

là định nghĩa được nhiều nhà khoa chấp nhận và dùng để tham khảo

UNESSCO cũng đưa ra định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá là một

tổng thể sống động các hoạt động trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc” [16; 10]

Cách đây hơn năm mươi năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong bản thảo

Nhật ký trong tù: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó

mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [47; 172]

Trang 16

Từ những hiểu biết, nghiên cứu, chắt lọc tinh hoa của những khái niệm về văn hoá của các nhà khoa học đi trước, tác giả Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định

nghĩa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do

con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [68; 15]

Bên cạnh văn hóa, văn học từ lâu đã trở thành nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong đời sống con người Dường như ở đâu có cuộc sống thì ở đó có thi ca Trải qua bao thời gian sáng tạo và nghiên cứu con người ta đã định nghĩa được trọn vẹn về văn chương, văn học Văn chương là một thuật ngữ có nhiều nghĩa và sắc thái Theo nghĩa rộng, là tác phẩm văn nói chung, không phân biệt triết học, chính trị, lịch sử, văn hoá, quân sự Nghĩa hẹp hơn là tác phẩm văn học, nghệ thuật ngôn

từ Văn chương còn có thể được hiểu theo nghĩa khác, chỉ vẻ đẹp của câu văn, lời văn

Văn học là “một loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ nhằm phản ánh

hiện thực đời sống xã hội, qua đó thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người”

[59; 341]

Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội đặc thù thuộc kiến trúc thượng tầng Nó có liên quan mật thiết với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, triết học, tôn giáo…nhưng văn học cũng khác so với các hình thái ý thức xã hội nói trên Văn học có những đặc trưng độc đáo của bộ môn nghệ thuật thể hiện ở đối tượng phản ánh, nội dung và phương thức biểu đạt hình tượng ở chất liệu sáng tạo của nó: Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm với toàn bộ tính tổng hợp, trọn vẹn, sống động trong các mối quan

hệ đời sống phức tạp và phong phú của nó Trên phương diện thẩm mĩ, trong các sáng tác của mình, nhà văn không chỉ nhận thức chân lý khách quan mà còn bộc lộ

tư tưởng, tình cảm, ước mơ, khát vọng…của mình đối với con người và cuộc sống

Do đó, nội dung của văn học là sự thống nhất giữa phương diện chủ quan và phương diện khách quan Từ đặc điểm đó về đối tượng và nội dung của mình, văn

Trang 17

học đòi hỏi nhà văn phải có phương thức chiếm lĩnh và biểu đạt đặc thù, đó là dùng hình tượng nghệ thuật Và hình tượng nghệ thuật ấy được xây dựng bằng nghệ thuật ngôn từ nên nó phi vật thể và có khả năng tái hiện được tất cả những gì có trong cuộc sống, thậm chí trong cảm xúc của con người

Từ trước đến nay, văn chương và văn hoá luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Văn chương là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng còn văn hoá lại là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người làm ra nên văn chương được xem như là một bộ phận của văn hoá Nó phản ánh, biểu hiện các giá trị văn hoá trong đời sống con người, lý giải những nguồn mạch xâu xa của văn hoá và chịu sự chi phối của văn hoá Tuy nhiên văn chương cũng có sự tác động trở lại đối với văn

hoá, như Đỗ Thị Minh Thuý đã viết: “Nói đến vị trí văn học trong văn hoá là nói

đến hai mặt của một vấn đề Thứ nhất, bản thân văn học trong văn hoá là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hoá Thứ hai

là nói đến tính đại diện cho văn hoá của văn học, sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hoá” [81; 10], Huỳnh Như Phương cũng viết: “Văn học là một

bộ phận hợp thành của văn hóa, có mối quan hệ hữu cơ với các bộ phận khác, vừa tác động đến cấu trúc chỉnh thể của văn hóa, lại vừa chịu ảnh hưởng của cấu trúc ấy” [61; 43]

Văn chương phản ánh cuộc sống của con người, cũng có ý nghĩa nó thể hiện

văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Qua tập truyện ngắn Vang bóng

một thời của Nguyễn Tuân, người đọc có thể biết được vẻ đẹp của những thú vui tao

nhã – văn hoá của một thời đã qua của dân tộc hay nỗi khao khát được sống trong hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến được thể hiện hết sức

tự nhiên và cảm động trong những tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều… Không chỉ có vậy, qua những tác phẩm của mình, nhà văn lý

giải những nguồn mạch sâu xa của văn hoá Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du,

người đọc nhận thấy tác giả đã cố gắng giải thích cho những bất hạnh của đời Kiều qua những ảnh hưởng của tư tưởng tôn giáo Nho, Phật, Lão Bi kịch của Vũ Như

Tô, người nghệ sĩ luôn khao khát đem tài năng của mình xây dựng cho đất nước

Trang 18

những công trình tuyệt mỹ nhưng không những không thành mà còn đi ngược lại với mong muốn, lợi ích của nhân dân và cuối cùng phải chịu số phận cay đắng cũng

được Nguyễn Huy Tưởng lý giải trong vở kịch Vũ Như Tô… Văn hoá còn chi phối

hoạt động và sự phát triển của văn chương Nó chi phối văn chương ở đề tài, ở toàn

bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc lấy hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của người đọc Điều đó rất dễ nhận thấy Đề tài của văn chương có trong đời sống và khi cuộc sống của con người có những vấn đề nổi bật thì văn học sẽ tập trung thể hiện vấn đề ấy Lịch sử văn học đã chứng minh rất rõ Khi cả nước tập trung sức mạnh chống ngoại xâm thì văn học yêu nước, cách mạng phát triển chủ đạo (văn học những năm 1945-1975) nhưng khi chiến tranh qua đi, con người quay

về với cuộc sống đời thường thì văn học đi sâu vào đời sống cá nhân của con người (văn học từ sau 1975 đến nay) Nhà văn cũng như người đọc, sống trong xã hội, chịu sự chi phối của văn hoá xã hội đó nên quan niệm sáng tác, tiếp nhận cũng chịu

sự chi phối của môi trường văn hoá mà họ đang sống

Tuy nhiên, văn chương cũng có sự tác động to lớn đối với văn hóa Nó có sức mạnh đặc biệt đối với đời sống của con người Trong những cuộc kháng chiến chống xâm lăng, những áng văn giàu lòng yêu nước, khích lệ tinh thần chiến đấu của toàn quân và dân đã cổ vũ sức mạnh cho toàn dân tộc như Phan Bội Châu từng

viết trong Văn tế Phan Chu Trinh:

“Ba tấc lưỡi vừa gươm vừa súng, nhà cầm quyền trông gió cũng gai ghê

Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói”

[9; 1]

Văn chương còn có tác dụng to lớn trong việc bồi dưỡng tâm hồn con người Nhà văn ở một chừng mực nhất định nào đó cũng là một nhà văn hoá, đem đến cho người đọc những hiểu biết văn hoá qua tác phẩm của họ mà Nguyễn Tuân, Hồ Chí Minh là những ví dụ điển hình như thế

Trang 19

Là một bộ phận của văn hoá, văn chương còn có quan hệ mật thiết với các bộ phận khác của văn hoá như tôn giáo, chính trị, triết học, đạo đức, phong tục…Khảo sát tiến trình phát triển của văn học đã cho thấy sự phát triển của văn chương có liên quan mật thiết với tiến trình phát triển của triết học Từ thời cổ đại, khi văn - sử -

triết còn tồn tại dưới dạng nguyên hợp thì ta có các tác phẩm Đạo đức kinh, Nam

hoa kinh, Kinh thi…là những bộ sách vừa có giá trị văn học, vừa có giá trị triết học

Đến thời Phục hưng, triết học thời kỳ này tập trung khôi phục những giá trị nhân bản của con người, khẳng định con người thì đề tài chính của văn chương cũng xoay quanh vấn đề ca ngợi con người Đến thế kỷ XIX, triết học duy lý Đêcac được

đề cao, điều đó đã làm cơ sở cho tính cách nhân vật, hành động kịch trong các vở kịch cổ điển của Coocnây, Raxin …Và bước sang thế kỷ XX, triết học hiện đại đương thời đã làm nền tảng cho văn học phi lý mà F Kafka là đại diện tiêu biểu Không những thế, trong các tác phẩm của các nhà văn lớn bao giờ cũng có chiều

sâu triết lý: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tội ác và trừng phạt của Đôtôiepxki,

Những người khốn khổ của V Huygo…là những tác phẩm như vậy Đó không chỉ

là những tác phẩm văn học thuần tuý mà còn là những suy ngẫm về con người, về tội lỗi, trừng phạt, hạnh phúc…Vì vậy có thể nói văn chương chịu ơn triết học nhưng nó cũng có đóng góp cho triết học

Tôn giáo và tín ngưỡng cũng là một địa hạt không xa lạ với văn chương Điều đó có thể thấy rõ trong các tác phẩm xuyên suốt quá trình phát triển của văn học Đó là văn học Lý - Trần gắn liền với tư tưởng Phật giáo Thiền tông, sự ảnh hưởng của tam giáo qua cách lý giải số phận đời Kiều của Nguyễn Du, cái nhìn bi

đát về cuộc đời của Nguyễn Gia Thiều dưới ảnh hưởng của Phật giáo trong Cung

oán ngâm khúc…Nhìn rộng ra thế giới là những tác phẩm kinh Upanishad, sử thi Mahabharata của Ấn Độ, Tây Du Ký của Trung Hoa…là những sáng tác văn học

nhốm đầy màu sắc tôn giáo

Như vậy, không chỉ có quan hệ mật thiết với các thành phần của văn hoá, mối quan hệ giữa văn chương và văn hoá là mối quan hệ khăng khít, hai chiều Sự

Trang 20

phát triển của văn hoá tạo điều kiện cho văn chương phát triển và sự tiến lên đó của văn chương càng tạo cho văn hoá có được một bề dày, một chiều sâu

1.1.2 Văn hóa dân gian, nguồn mạch sáng tạo và nuôi dưỡng văn

chương bác học

Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học dân gian và văn học viết của những người dùng tiếng Việt Văn học viết còn có tên gọi khác là văn học bác học hay văn chương bác học

Văn chương bác học là thuật ngữ dùng để phân biệt với văn học dân gian (còn gọi là văn học bình dân), là sáng tác văn học của những người có học vấn và

được lưu truyền bằng chữ viết Nói đến bác học là “nhấn mạnh sự sáng tạo ra các

sản phẩm văn học phải dựa vào kiến thức sách vở trong hoặc ngoài nhà trường”

[36; 19 ]

Khác với văn học bình dân, văn học bác học hình thành đã mở ra một thời kỳ lịch sử mới, oanh liệt, rực rỡ Đó là kết tinh của nền văn học dân tộc và là kết quả của quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc Thời kỳ đầu văn chương bác học tồn tại ở dạng văn - sử - triết bất phân và thường ở chốn cung đình Cùng với những thăng trầm của lịch sử, văn học viết dần dần có được những vận hội mới, tạo được vị trí độc lập của mình Ba dòng tư tưởng Nho - Phật - Lão đã trở thành nguồn cảm hứng cho văn chương học thuật Bên cạnh đó, đời sống tích cực gần thiên nhiên của con người thời kỳ này còn mang lại cho văn chương bác học nhiều ẩn dụ cao nhã nhưng cũng rất cận nhân tình Cuối thế kỷ XVIII, khi chữ Nôm được sử dụng rộng rãi thì văn chương bác học đã từ chốn cung đình dần dần thâm nhập vào đời sống thường nhật và cái tôi cá nhân được đề cập đến Đặc biệt, khi chữ quốc ngữ ra đời, văn chương bác học không chỉ chịu ảnh hưởng của các dòng tư tưởng phương Đông mà dưới sự thâm nhập của văn hoá phương Tây, nó đã đi vào con đường hiện đại hoá từ hình thức, thể loại đến tư tưởng và nội dung sáng tác Sau hơn mười thế kỷ hình thành và phát triển, văn chương bác học Việt Nam đạt được những thành tựu nhất

Trang 21

định và vẫn tiếp tục dòng chảy của mình để có thể hội nhập vào nền văn học chung của thế giới

Văn hoá do con người tạo nên Cũng như văn học, văn hoá gồm hai bộ phận tích hợp thành: Văn hoá bác học và văn hoá dân gian Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc

Khánh trong tác phẩm Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam có viết: “Văn hoá

dân gian là sáng tạo của dân, từ dân mà ra và phục vụ cho cuộc sống của dân” [36;

22]

Vào khoảng giữa thế kỷ XIX học giả người Anh William J Thom lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ folklore để chỉ những giá trị của nền văn hoá vật chất nhưng chủ yếu là những giá trị của nền văn hoá tinh thần của nhân dân như phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ của người thời trước Dần dần thuật ngữ

folklore được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm “toàn bộ lịch sử văn hoá không

thành văn của dân tộc ở thời nguyên thuỷ” [75; 18] Theo Ngô Đức Thịnh và Frank

Proschan thì văn hóa dân gian “là tư liệu được truyền lại bằng lời nói hoặc phong

tục tập quán Đó có thể là bài hát dân gian, truyện kể dân gian, câu đố, tục ngữ hay những tư liệu khác được lưu giữ bằng lời nói Đó có thể là những công cụ và vật thể

cổ truyền như tấm hàng rào hay cái nút buộc, cái búi tóc trên đầu hoặc quả trứng trong lễ phục sinh; vật trang trí cổ truyền như bức thành Tơ-roa, hay những biểu tượng truyền thống như hình chữ thập Đó có thể là những phong tục cổ truyền như ném muối qua vai hay đạp mạnh lên gỗ Đó có thể là những niềm tin cổ truyền như cây cơm cháy chữa được các chứng bệnh đau mắt Tất cả những cái đó đều là folklore” [76; 66-67]

Ở Việt Nam, thuật ngữ folklore được hiểu là văn học dân gian, văn nghệ dân gian và nay là văn hoá dân gian do sự thay đổi nhận thức về văn hoá dân gian cũng như do sự tiếp nhận ảnh hưởng của các quan niệm folklore từ các trường phái khác

nhau trên thế giới Trong Từ điển văn hoá dân gian, nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh đã đưa ra định nghĩa về văn hoá dân gian như sau: “Theo đúng nghĩa,

văn hoá dân gian là nền văn hoá của dân chúng Văn hoá này bao gồm cả văn hoá

Trang 22

vật chất và văn hoá tinh thần Thuật ngữ quốc tế chính xác nhất mang ý nghĩa văn hoá dân gian là từ tiếng Anh: Foleultiore Khái niệm này rất rộng, bao gồm toàn bộ văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của dân chúng Nội hàm của nó có vấn đề phương thức sản xuất ra của cải, có phong tục tập quán, sinh hoạt tinh thần, tri thức tự nhiên và xã hội, quan niệm đạo đức, nhận thức tình cảm về thế giới, nhân sinh” [91; 620-621]

Ở đây chúng tôi dựa vào định nghĩa của Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan

trong Folklore thế giới, một số công trình nghiên cứu cơ bản để làm cơ sở lý luận

thực hiện đề tài

Văn hoá dân gian được thể hiện ở mọi lĩnh vực, mọi không gian, môi trường

và ở mọi thời điểm Có cuộc sống, có người dân thì có văn hoá dân gian Và trên ý nghĩa đó thì cả thế giới này, cả nhân loại này đều có văn hoá dân gian Đối với văn hoá dân tộc, văn hoá dân gian có một vị trí vô cùng đặc biệt Ngô Đức Thịnh cho

rằng: “Văn hoá dân gian là cội nguồn, bản sắc, là hệ giá trị và biểu tượng của văn

hoá dân tộc” [77; 25] Điều đó hàm nghĩa văn hoá dân gian gắn với lịch sử lâu đời

của dân tộc, là nguồn sinh sản và tiếp tục nuôi dưỡng văn hoá dân tộc Vì vậy, tìm hiểu văn hoá dân gian sẽ giúp ta tiếp cận với người dân và cuộc sống Đi vào văn hoá dân gian, ta có thể thu hoạch được nhiều điều, hiểu được thế giới, xã hội quanh mình và hiểu được cả chính ta nữa Nhờ văn hoá dân gian mà con người nâng cao được trình độ của mình, thậm chí có thể theo lối ứng xử của văn hoá dân gian mà con người có thể cư xử, ăn ở, đối phó hay hoà nhập Hơn nữa văn hoá dân gian lại chứa đựng tiềm ẩn rất nhiều những điều có thể ta không biết, hoặc phải nhiều công phu, nhiều thời gian mới giải mã được Văn hoá dân gian là của nhiều người Đời này qua đời khác, các hiện tượng văn hoá dân gian tự nó bồi đắp thêm cho nên nó rất cũ mà cũng là rất mới; rất chung mà cũng rất là riêng; tự nó có thể là rộng hay hẹp, là khép kín hay mở; vừa dễ hiểu lại vừa khó hiểu

Sự tồn tại và phát triển của văn học nghệ thuật nói chung chịu sự chi phối, tác động của cơ sở kinh tế, xã hội Tuy nhiên, sự phát triển tự thân của nó cũng có

Trang 23

những quy luật riêng Một trong những quy luật chi phối quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học là quy luật kế thừa những thành quả của thời đại đi trước ở thời đại đi sau, là sự sáng tạo cái mới trên cơ sở cái cũ Sáng tác của một tác giả cũng như thành tựu của một trào lưu, một giai đoạn, một thời kỳ bao giờ cũng có sự kế thừa những thành tựu của tác giả trước đó, giai đoạn trước đó Trước khi sáng tác, nhà văn bao giờ cũng tiếp xúc với những mẫu mực sáng tác, trong đó có những mẫu mực của sáng tác dân gian Sự tiếp xúc đó là cả một quá trình lâu dài, từ khi lọt lòng, sống trong những câu hát ru, rồi những câu chuyện kể, những bài văn thơ mẫu mực được học trong nhà trường rồi những chỉ dẫn của người đi trước, những yếu tố, văn hoá trong dân gian…Dù ý thức hay không ý thức, mọi sáng tạo của nhà văn bao giờ cũng có sự kế thừa những thành tựu văn học - văn hóa của các thế hệ thời đại trước đó, trong đó có sự kế thừa những truyền thống văn hoá dân gian nói chung,

văn học dân gian nói riêng Truyện Kiều của Nguyễn Du là kết tinh của thơ ca dân

gian, của nếp nghĩ, lối sống dân gian Việt Nam Vì vậy mà đã làm lay động lòng người đến thế Người ta còn tìm thấy bức tranh văn hóa dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố tục giảng thanh, trò chơi ), tín ngưỡng, phong tục dân gian

trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (đạo mẫu, tín ngưỡng

phồn thực, tục thờ thần Chó đá, thần Cây đa, thần Thành Hoàng, cảnh lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi ) Văn hoá dân gian nói chung, văn học dân gian nói riêng chính là vú nuôi của văn chương bác học Quá trình kế thừa đó làm cho văn học phát triển không ngừng và không đứt đoạn với truyền thống, làm nên truyền thống văn học của từng dân tộc

Hơn nữa nhà văn bao giờ cũng lớn lên trong môi trường văn hoá của dân tộc mình, vì vậy sáng tác của họ luôn chịu sự chi phối của nền văn hoá ấy Trong khi đó văn hoá dân gian là cội nguồn của văn hoá dân tộc Vì vậy văn chương bác học cũng được nuôi dưỡng từ cội nguồn ấy Điều đó có thể chứng minh qua những trang viết của nhà văn Pháp F Rabelais Ánh sáng của văn hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng ở Tây Âu với những hình thức nghi lễ diễn trò, những tác phẩm trào lộng và giễu nhại, những hình thức và thể loại ngôn ngữ suồng sã, chợ búa ở quảng

Trang 24

trường là cội nguồn tạo nên thế giới nghệ thuật kì dị trong tiểu thuyết Gargantua và

Pantagruel Nhà nghiên cứu mỹ học kiệt xuất thế kỷ XX, M Bakhtin đã khẳng định

tác phẩm của F Rabelais là một “pho sách bách khoa toàn thư về văn hóa dân

gian” [4; 104], và “chỉ dưới ánh sáng của văn hóa dân gian mới có thể khám phá

ra một Rabelais đích thực, mới có thể thấy một Rabelais trong Rabelais” [4; 104]

Trong lịch sử vận động và phát triển của văn hoá, văn học dân tộc, chúng ta không thể không thấy sự tác động trở lại, góp phần nâng cao và định hình của văn hoá bác học đối với văn hoá dân gian nhưng nhìn từ căn rễ cội nguồn thì chính văn hoá dân gian là cội nguồn nuôi dưỡng văn hoá bác học nói chung, văn chương bác

học nói riêng Hiện tượng Truyện Kiều của Nguyễn Du, sách Nam dược thần diệu

của Tuệ Tĩnh, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, sáng tác của F Rabelais thể hiện sự tác động đó

1.2 Cuộc đời và văn chương Nguyễn Huy Thiệp trong quan hệ với văn hoá dân gian

1.2.1 Tác động của những điều kiện về văn hoá xã hội và bản thân nhà văn

Nhà nghiên cứu người nước ngoài T.N Philimonova đã từng nói về sáng tác

văn học của Nguyễn Huy Thiệp như sau: “Yếu tố dân gian chiếm một vị trí to lớn

trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, một trong số những nhà văn Việt Nam hiện đại tiêu biểu đang thu hút sự chú ý của độc giả, các nhà phê bình và nghiên cứu văn học không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài Ngay lần đọc đầu tiên các tác phẩm của anh, đó thường là truyện ngắn, có một điểm khiến chúng ta chú ý ngay là việc anh rất hay sử dụng các tư liệu dân gian” [54; 59] Như vậy có thể nói, sáng tác

văn chương của Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn hoá dân gian Vậy nguyên nhân nào đã đưa nhà văn này đến với văn hoá dân gian của dân tộc để những chất liệu này thấm đẫm trong văn ông? Điều đó có thể được lý giải từ nhiều khía cạnh

Trang 25

Trước hết, đó là ảnh hưởng của những điều kiện khách quan tác động đến sáng tác của các nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là lớp nhà văn bắt đầu sáng tác từ sau công cuộc đổi mới đất nước năm 1986 Cái nhìn sử thi trong văn học giờ không còn nữa, con người trở về với cuộc sống đời thường, cái đời thường phồn tạp, muôn vẻ, lẫn lộn trắng đen, tốt xấu, bi hài…Những chuẩn mực của đời sống trước đó không còn phù hợp với tình hình đất nước hiện thời Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ VI 1986 đã thông qua đường lối đổi mới, cởi trói cho dân tộc Đường lối đổi mới chủ trương mở cửa, tăng cường giao lưu, hội nhập trên mọi bình diện kinh tế, chính trị, văn hoá Trên bình diện văn hoá, bên cạnh việc giao lưu hội nhập Đảng còn nhấn mạnh việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Điều kiện văn hoá xã hội đó đã tạo cho nền văn học nước nhà một thế hệ nhà văn không chỉ chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây mà còn mang ý thức tinh thần văn hoá dân tộc Một số nhà văn đã tìm

về với cội nguồn văn hoá dân gian của dân tộc như Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp…Hơn nữa, mỗi con người đều có quê hương, dân tộc của mình và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cội nguồn văn hoá ấy Điều đó như hoà lẫn trong máu thịt của mỗi con người Vì vậy, trong sáng tác của mỗi nhà văn bao giờ cũng mang bóng dáng của nền văn hoá dân gian đã nuôi dưỡng họ ngay từ lúc lọt lòng, từ những câu hát ru của bà, của mẹ, từ những trò chơi dân gian với bạn bè thuở ấu thơ

Với riêng bản thân nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, văn hoá dân gian thấm đẫm trong từng trang viết của ông còn do những điều kiện về cuộc đời, bản thân nhà văn Trong một lần trả lời phỏng vấn ở Seattle (bài phỏng vấn của Mary Thiên Yên Lê

đăng trên tạp chí Thế Kỷ số 93, 1-1997), Nguyễn Huy Thiệp đã xác nhận: “Khi viết

văn tôi luôn luôn tìm lại những giá trị truyền thống… Tôi nghĩ một nhà văn phải bắt đầu từ những kinh nghiệm nguyên thủy nhất của dân tộc mình Tóm lại, phải đi từ con người Việt Nam từ nguồn gốc, từ đó lần về sau” [54; 383] Nguyễn Huy Thiệp

lại là một nhà văn từng trải, “ông đến với văn học từ hai ngả đường: tri thức sách

vở và bụi đất của đời, biết chắt lọc chất liệu và con chữ để tạo nên những trang viết khá độc đáo” [95; 868] Ông sinh ra ở ngoại thành Hà Nội và trải qua những năm

Trang 26

tháng tuổi thơ phần lớn là ở khắp các vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ như ông

thường tự nhận: “Mẹ tôi là nông dân còn tôi sinh ra ở nông thôn” [8; 140] Đó là

tiền đề để sau này, nông thôn và những người dân lao động đã đi vào sáng tác và để lại dấu ấn khá đậm nét trong các tác phẩm của ông Sau khi tốt nghiệp khoa Sử - Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1970, Nguyễn Huy Thiệp tham gia dạy học ở các trường thuộc vùng núi Tây Bắc Thời gian mười năm gắn bó với những vui buồn nơi miền ngược này, nhà văn có dịp tìm hiểu và tiếp xúc với cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số, mang lại vốn sống không nhỏ và vốn tư liệu thực tế cần thiết cho các sáng tác về đề tài miền núi của tác giả Rồi khi trở về miền xuôi, nhà văn lại lao vào kiếm tiền bươn chải với cuộc đời Ông làm mọi thứ, miễn là để kiếm tiền, từ việc làm ở khu triển lãm Giảng Võ, buôn lậu giấy từ Tuyên Quang đến sau này mở một nhà hàng ăn uống bên bờ sông Hồng…Có lẽ vì cuộc đời gắn bó nhiều với người dân lao động nên sáng tác văn chương của Nguyễn Huy Thiệp mang nhiều dấu ấn của nền văn hoá dân gian do những người dân lao động tạo thành

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và những ảnh hưởng của văn hóa dân gian

Văn học Việt Nam từ sau 1975 là nền văn học bước ra từ thời kỳ chiến tranh,

đa phần vẫn tiếp tục khuynh hướng sử thi được khơi dòng từ những trang viết trong những cuộc chiến trước đó Nhưng khi chiến tranh đi qua, con người lại trở về với cuộc sống đời thường và đối mặt với thực tế cuộc đời muôn màu muôn vẻ Cái nhiệt huyết theo kiểu “đường ra trận mùa này đẹp lắm” đã không còn Vì vậy các nhà văn dần chuyển sự quan tâm sang các vấn đề thế sự và đời tư Nhất là sau năm 1986, từ

những truyện ngắn gây bất ngờ đầu tiên như: Bến quê, Người đàn bà trên chuyến

tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu đến những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp,

Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Tạ Duy Anh… “đều đặt ra các vấn đề đời sống từ góc

độ đạo đức- sinh hoạt, phong hoá và đời tư cá nhân” [11; 126] Các nhà văn được

phơi bày những mặt trái của cuộc đời vốn trước đây đã bị che khuất, mạnh dạn thể nghiệm những tìm tòi sáng tạo trong việc phản ánh cuộc sống và con người

Trang 27

Trong bối cảnh văn học ấy, sự xuất hiện của những truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đăng trên tuần báo Văn nghệ đã khuấy động đời sống văn học, gây nhiều tranh cãi Nguyễn Huy Thiệp được biết đến lần đầu tiên với các truyện ngắn đăng

rải rác trên các mặt báo như: Huyền thoại phố phường, Chút thoáng Xuân Hương

Thế nhưng cái tên Nguyễn Huy Thiệp thật sự được chú ý đặc biệt sau khi tập truyện

ngắn Tướng về hưu (Gồm chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát và 9 truyện ngắn đậm màu sắc truyền kỳ: Tâm hồn mẹ, Huyền thoại phố phường, Chảy đi sông ơi,

Tướng về hưu, Muối của rừng, Chút thoáng Xuân Hương, Giọt máu, Không có vua, Con gái thuỷ thần) được trình làng Khi làng văn chưa hết xôn xao, bàn tán về về

hiện tượng văn học này thì ông lại tiếp tục ra mắt độc giả chùm truyện ngắn lịch sử:

Kiếm sắt, Vàng lửa, Phẩm tiết Nguyễn Huy Thiệp đã trở thành đối tượng thẩm

bình, tranh cãi sôi nổi và ông “có lẽ là người đầu tiên trong văn học Việt Nam lập

kỷ lục có nhiều bài viết nhất về sáng tác của mình, chỉ trong thời gian ngắn và không có độ lùi thời gian Phê bình tức thời theo sáng tác, liên tục, lâu dài, không chỉ trong nước mà còn ngoài nước; không chỉ người Việt, cả người ngoại quốc [54;

7] Không chỉ viết truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp còn viết kịch, tiểu luận văn chương, tiểu thuyết nhưng thành công nhất vẫn là truyện ngắn Tác phẩm của ông

đã dịch sang nhiều thứ tiếng Pháp, Anh, Italia, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Hàn Quốc, Nhật Tuy không có duyên với các giải thưởng văn học trong nước nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã vinh dự nhận được Huân chương Văn học Nghệ thuật của Chính phủ Pháp Đầu năm 2008, lại một lần nữa nhận được giải thưởng Văn học của Ý, giải thưởng Premino Nonino nhằm tôn vinh những nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học của nhiều quốc gia trên thế giới Những tên tuổi như: Jorge Amacho, Claude Levi – Strauss, Mạc Ngôn…từng được khẳng định qua giải thưởng này

Giống như nhiều nhà văn khác cùng thế hệ, Nguyễn Huy Thiệp hướng ngòi bút vào sự tìm tòi những đề tài trong cuộc sống cùng những quan hệ trong đời

thường, “dẫu là kể truyện cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trước sau đều viết về cuộc

sống ngày hôm nay Và tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sống hiện tại”

Trang 28

[54; 9] Tuy nhiên, cái sự thật ấy trong những trang viết của nhà văn này không chỉ

là sự “bê tha, nhếch nhác” mà còn là “những sự thật rùng rợn, khủng khiếp Có sự

thật rùng rợ vì qiái đản … rùng rợn hơn cả vẫn là những sự việc hết sức bình thường nhưng bộc lộ sự đốn mạt, sự hèn kém của con người, giữa mọi sự nhố nhăng, sắng xít lòi ra cái tâm lý vụ lợi, vụ lợi một cách khinh bạc, trắng trợn, một cách muối mặt, táng tận lương tâm” [54; 10] Nói như nhà báo Nguyễn Mạnh Đẩu

là “những gì Nguyễn Huy Thiệp viết ra, cho dù có hư cấu nhiều đi chăng nữa, cũng

chỉ nhằm phơi bày một mặt hiện thực một cách triệt để trần trụi, một hiện thực cay độc mà lạnh tanh làm hầu hết chúng ta nhức nhối, chua xót”[54; 32] Dường như

trong từng trang viết của mình, Nguyễn Huy Thiệp đều “lột trần” những gì xấu xa

mà cuộc sống đang có Những sự thật ấy được nhà văn thể hiện phần nhiều bằng những hình thức truyện dân gian, đậm đặc không khí huyền thoại và cổ tích và

không ít tiếng cười giễu nhại: “Hầu như trong mỗi truyện ngắn của anh đều hiện

diện vết tích của các huyền thoại, truyền thuyết, dân ca, tục ngữ và đó không chỉ đơn giản là những “trích đoạn” riêng rẽ, hay sự mượn nhập các mô típ mà là sự ảnh hưởng, cách điệu hóa chúng” [54; 59] Tác giả đã đi đến cùng, phơi bày sự đốn

mạt của con người Nhưng cuối cùng vẫn cứ xót xa, không thể không thương con người Ngay cả ở những nhân vật đốn mạt nhất mà nhà văn vẫn không tuyệt vọng ở

họ Đặc biệt, những người phụ nữ trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp hiện lên như những điểm sáng giữa cuộc đời với vẻ đẹp rạng ngời của thiên tính nữ Đó chính là niềm tin vào cuộc đời ở nhà văn này Vì thế, chất lãng mạn, trữ tình vẫn luôn bàng bạc trong các câu chuyện về hiện thực của nhà văn

Như vậy, có thể nói, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã hòa chung trong một dòng chảy của văn học Việt Nam sau đổi mới Cũng như các nhà văn khác cùng thế

hệ, Nguyễn Huy Thiệp đã đi sâu vào cuộc sống đời thường của con người, mạnh dạn nêu lên những vấn đề nhức nhối của xã hội hiện đại Tuy nhiên, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp để lại dấu ấn trong lòng người đọc bởi không khí huyền thoại,

cổ tích, bởi những hình thức ngôn ngữ trần trụi, suồng sã Một phần đó là do ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong sáng tác của ông

Trang 29

* Tiểu kết chương 1:

Văn học là một bộ phận của văn hóa Mối quan hệ giữa chúng là mối quan

hệ hai chiều tương tác lẫn nhau: văn học thể hiện những giá trị của văn hóa, chịu sự tác động của văn hóa, tuy nhiên văn học cũng có sự tác động trở lại đối với văn hóa Trong mối quan hệ giữa các thành tố, văn hóa dân gian là nguồn mạch sáng tạo và nuôi dưỡng văn chương bác học Sáng tác của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, F Rabelais là những minh chứng rõ nhất cho điều đó Nguyễn Huy Thiệp là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam sau đổi mới Do tác động của những yếu tố khách quan cũng như chủ quan, sáng tác văn học của ông mang đậm

dấu ấn của văn hóa dân gian

Trang 30

CHƯƠNG 2: VĂN CHƯƠNG NGUYỄN HUY THIỆP

TRONG QUAN HỆ VỚI VĂN HỌC DÂN GIAN

2.1 Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và thi pháp huyền thoại

2.1.1 Khái niệm huyền thoại, thi pháp huyền thoại và vấn đề thi pháp huyền thoại trong sáng tác văn học

Huyền thoại (myth) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là muthos, nghĩa đen là lời, lời nói, câu chuyện, là truyền thuyết, truyền thoại Trong khoa học về huyền thoại (mythology), huyền thoại thường được định nghĩa là những truyện kể thiêng liêng, giải thích thế giới và con người đã hình thành và có được dạng tồn tại hiện

nay như thế nào Huyền thoại theo nghĩa đó thường được hiểu là “những truyện kể

về các vị thần, các nhân vật được sùng bái hoặc có quan hệ nguồn gốc với các vị thần, về các thế hệ xuất hiện trong thời gian ban đầu (thời gian nguyên thủy), tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo lập thế giới cũng như việc tạo lập nên những nhân tố của nó - thiên nhiên và văn hóa” [57; 74] Trong thế kỷ XX, myth

được dùng với những nghĩa như “ảo tưởng, giả dối, sự tuyên truyền dối trá, niềm

tin, sự tin tưởng, sự ước lệ hay quan niệm về giá trị dưới hình thức tưởng tượng, sự biểu hiện các phong tục xã hội và các giá trị mang tính chất thần thánh hóa, giáo điều” [46; 26]

Sáng tạo huyền thoại đã được khoa học về huyền thoại xác nhận là hiện tượng quan trọng trong lịch sử văn hóa nhân loại Trong các cộng đồng xã hội nguyên thủy, hệ huyền thoại là công cụ, là phương thức cơ bản của việc hiểu thế giới Hệ huyền thoại là sự cấu thành của những tư tưởng cổ xưa nhất của các cộng đồng Trong huyền thoại, có sự pha trộn, đan kết những yếu tố phôi thai của tôn giáo, triết học, khoa học và nghệ thuật Về sau, khi từ hệ huyền thoại có tính nguyên hợp đó, các hệ tư tưởng khác nhau đã tách biệt và phát triển riêng rẽ, thì huyền thoại vẫn còn giữ được vai trò của nó trong lịch sử văn hóa Nó không chỉ là một di sản

Trang 31

của thế giới quan nguyên thủy và của hình thức chuyện cổ xưa mà một số đặc trưng của nhận thức huyền thoại có thể vẫn được bảo tồn lâu dài trong nhận thức của nhân dân và các hình thái ý thức xã hội khác như triết học, khoa học, đặt biệt là tôn giáo

và văn học nghệ thuật

Văn học và huyền thoại luôn có mối quan hệ đặc biệt khăng khít bởi cả hai đều có chung thuộc tính: huyền thoại là sự tái hiện những quan niệm chung trong một hình thức cụ thể - cảm tính Thuộc tính đó của huyền thoại được văn học kế thừa và đó chính là cái mà chúng vẫn thường gọi là tính hình tượng Như trong lời

nói đầu giới thiệu cuốn sách Thi pháp của huyền thoại của E Melentinsky, tác giả

đã viết: “Thuộc tính của huyền thoại là sự tái hiện những quan niệm chung nhất

trong một hình thức cụ thể - cảm tính, tức là bản thân cái tính hình tượng rất đặc trưng cho nghệ thuật và hiển nhiên được nghệ thuật kế thừa từ chính huyền thoại”

[46; xxi] Vì vậy khái niệm thi pháp mà khoa nghiên cứu văn học vẫn dùng để nói

về những thủ pháp nghệ thuật, những phương tiện diễn đạt, phong cách và về những vấn đề khác nữa cũng có thể được dùng để nói về những vấn đề tương tự trong khoa học về huyền thoại Tuy nhiên, huyền thoại là một hình thức nhận thức có tính nguyên hợp bao hàm trong nó không chỉ mầm mống của nghệ thuật mà trước hết là nghệ thuật ngôn từ mà còn có cả những mầm mống của tôn giáo, triết học, khoa học… Vì vậy khái niệm thi pháp huyền thoại được dùng ở đây bên cạnh nghĩa chung với khái niệm thi pháp trong văn học nghệ thuật đích thực, còn bao hàm

nghĩa “đặc trưng của huyền thoại như là tiền sử của văn học với sự gạt bỏ tất yếu

phương diện tôn giáo” [46; xxi] Ngoài ra, một số nhà văn của thế kỷ XX như J

Joyce, T Mann, F Kafka, G Eliot đã quay về với huyền thoại, xem “huyền thoại

như là tổ chức chất liệu nghệ thuật, là phương tiện diễn tả những nguyên tắc tâm lý

“vĩnh cửu” nào đó hay dẫu chỉ là những mô thức văn hóa dân tộc bền vững” [46;

xxii] Do đó, hai khái niệm thi pháp huyền thoại và thi pháp văn học tuy còn được xem xét như là những hệ thống thi pháp của sự sáng tạo nghệ thuật nhưng chúng lại thuộc về hai hệ thống khác nhau Sự khác nhau đó được thể hiện cụ thể trong việc xác định và miêu tả các yếu tố thi pháp huyền thoại thoát ra khỏi khuynh hướng rập

Trang 32

khuôn việc xác định và miêu tả các yếu tố thi pháp của văn học Nhờ đó mà tạo điều kiện cho việc phát hiện ngày càng nhiều những yếu tố của thi pháp huyền thoại nhiều khi nằm ẩn sâu, khó nhìn thấy trong sáng tác văn học

Có thể dễ dàng nhận thấy trong suốt tiến trình lịch sử văn học thế giới, sáng tác văn học đã kế thừa và sử dụng thường xuyên các truyền thống huyền thoại vào những mục đích nghệ thuật đa dạng của mình Như nhà triết học, mỹ học Hy Lạp cổ đại Aristote đã nói rằng sử thi, bi kịch thoạt tiên mượn nội dung ở những câu chuyện huyền thoại đơn giản, sau đó mới đạt tới những đỉnh cao vẻ vang, còn nhà triết học, mỹ học Đức thế kỷ XVIII Shelling khi nói về mối quan hệ huyền thoại -

văn học đã khẳng định “huyền thoại là điều kiện cần thiết và là chất liệu cơ bản

cho mọi nghệ thuật”, là “chất liệu khởi thủy, từ đó sinh ra mọi thứ”, “là thế giới của mọi hình tượng khởi thủy” [46; 10], tức là những yếu tố đầu tiên, cơ sở và hệ

hình của mọi loại thi ca, và hơn thế nữa, của mọi thứ nghệ thuật, là mảnh đất và sự biến hóa của toàn bộ nghệ thuật Trong các truyện kể dân gian, huyền thoại được sử dụng ở những hình thức cổ điển như thời gian của cái thiêng và cái phàm, bậc tiên tổ- đấng sáng tạo- anh hùng văn hóa, huyền thoại cổ về sự sáng tạo và được sử dụng để giải thích về sự hình thành, nguồn gốc, mô hình của vũ trụ, về lịch biểu, truyện kể về những anh hùng và những nghi lễ chuyển tiếp Về sau, huyền thoại

còn được sử dụng nhiều trong thơ ca, kịch Đặc biệt, “ chủ nghĩa huyền thoại là một

hiện tượng đặc trưng của văn học thế kỷ XX cả với tư cách một thủ pháp nghệ thuật

cả với tư cách một biện pháp cảm thụ thế giới đằng sau thủ pháp đó (tất nhiên vấn

đề không chỉ trong việc sử dụng các mô típ huyền thoại riêng rẽ) Chủ nghĩa huyền thoại biểu hiện rõ rệt cả trong kịch, trong thơ ca, trong tiểu thuyết Ở tiểu thuyết, đặc trưng của huyền thoại hiện đại thể hiện rõ hơn cả, lý do là ở thế kỷ XIX tiểu thuyết khác với kịch và thơ trữ tình hầu như chưa bao giờ là mảnh đất cho việc sáng tác huyền thoại” [46; 403] Các nhà phê bình thuộc trường phái nghi lễ -

huyền thoại, một trường phái nghiên cứu và phê bình văn học ở phương Tây những năm 50 của thế kỷ XX, đã cố gắng phát hiện ra các yếu tố huyền thoại và nghi lễ trong sáng tác của bất kỳ nhà văn nào, từ những nhà văn có xu hướng sử dụng

Trang 33

huyền thoại một cách có ý thức như D.H Laurence, J Joyce, G Eliot, T Mann đến những nhà văn mà yếu tố huyền thoại khó nhận ra hơn hoặc nằm ẩn sâu trong sáng tác của họ hơn như F Kafka, W Faulkner, và cả những nhà văn thuộc dòng hiện thực phê phán hoặc tự nhiên chủ nghĩa của thế kỷ XIX như Stendhal, Balzac, Zola, Đại biểu lớn nhất của trường phái này là nhà phê bình văn học người Mỹ, N Frye Ông coi huyền thoại trong văn học có chức năng như một thứ đồ án, một thứ

đề cương, phác họa và so sánh vai trò của huyền thoại trong văn học với vai trò của

kỷ hà học trong hội họa Do đó, theo ông hoàn toàn có cơ sở để phân tích văn học bằng các thuật ngữ huyền thoại, nghi lễ, mẫu gốc Các mẫu gốc huyền thoại không mất đi mà chỉ biến dạng và sự phân tích văn học có thể và cần tìm ra những mẫu gốc ấy

2.1.2 Thi pháp huyền thoại trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp

Huyền thoại vốn là một thủ pháp nghệ thuật của văn học dân gian, được dân gian sử dụng với mật độ hết sức đậm đặc, nhất là trong các câu chuyện kể và sau đó

là sự hồi sinh của huyền thoại ở thời hiện đại qua các sáng tác văn học nước ngoài của J Joyce, F Kafka, Kawabata Yasunari Ở Việt Nam, huyền thoại hiện diện rất nhiều trong tác phẩm của Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Hòa Vang, Phạm Thị Hoài, Lí Lan, Nguyễn Quang Thiều, Vi Hồng, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Lưu Minh Sơn Trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhiều yếu tố huyền thoại được sử dụng để thể hiện cái nhìn của nhà văn đối với cuộc đời

Nguyễn Huy Thiệp từng viết: “Văn chương là thế giới hoang tưởng, ảo

tưởng, hão huyền” [8; 568] Trong các tác phẩm của ông, không khí huyền thoại

thấm đẫm trên từng trang viết Huyền thoại ấy vừa hư vừa thực Nó “hư” như lời

nhà nghiên cứu La Khắc Hòa đã viết: “Đọc Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy hóa ra,

“không khí huyền thoại” chính là không khí của một môi trường đời sống hoang sơ, trì đọng Môi trường trì đọng nuôi dưỡng định kiến bằng những lời đồn đại “Lời đồn” vừa là nguồn cội sản sinh huyền thoại, vừa là kí ức cộng đồng lưu giữ huyền thoại trong đời sống hoang sơ” [30; 8] Nhưng nó lại rất thực bởi huyền thoại trong

Trang 34

truyện Nguyễn Huy Thiệp không giống như huyền thoại cổ xưa không xác định rõ thời gian, địa điểm, chủ thể Trong các tác phẩm của nhà văn này, huyền thoại rất rõ

ràng, cụ thể về không gian, thời gian, chủ thể nhân vật Trong Những ngọn gió Hua

Tát, huyền thoại được ghi lại ở một địa điểm rõ ràng: “Ở Tây Bắc, có một bản nhỏ người Thái đen nằm cách chân đèo Chiềng Đông chừng dặm đường Bản tên là Hua Tát.” [8; 4], xoay quanh câu chuyện xảy ra với những người dân cụ thể trong

bản, đó là Pùa, chàng Khó (Trái tim hổ), Lù và Hếch (Nạn dịch), ông Pành (Đất

quên) Những lời đồn tạo nên huyền thoại Mẹ Cả trong Con gái thủy thần nhưng

Mẹ Cả ấy lại rất thực bởi tên nàng là Mẹ Cả, là Gianna Đoàn Thị Phượng, được

sinh ra từ “trận bão mùa hè năm 1956, ở bãi Nổi sông Cái Dân trong vùng gọi

đứa bé ấy là Mẹ Cả các xơ trong nhà tu kín đón về, đặt tên thánh cho Mẹ Cả là Gianna Đoàn Thị Phượng” [8;160] Chuyện con trâu đen huyền thoại trong Chảy đi sông ơi cũng được sinh ra từ bến đò Cốc “gắn liền với đời tôi những năm thơ ấu Hồi ấy nhà tôi ở cách bến đò chừng dăm thước Ngoài giờ đi học, thỉnh thoảng tôi vẫn lang thang xuống bến đò chơi” [8; 68] Có lẽ vì vậy mà nhân vật của Nguyễn

Huy Thiệp, về tâm linh, thường tin tưởng vào những huyền thoại ấy Nhiều khi như

có một sức mạnh siêu nhiên nào đó ám ảnh con người, dẫn dắt họ hành động trong

sự huyễn hoặc Tiếc thay, tin vào những huyền thoại ấy, họ lại đang “săn đuổi bao

điều phù du” [8; 8] Không khí huyền thoại đậm đặc trong Những ngọn gió Hua Tát: “Thung lũng Hua Tát ít nắng, ở đây quanh năm cứ lung bung một thứ sương

mù bàng bạc nên nhìn người và vật chỉ thấy những nét nhòa đại thể mà thôi đây là thứ không khí huyền thoại” [8; 5] Ở đó, người đọc bắt gặp bao điều kì diệu: “Con

hổ có trái tim khác thường, trái tim của nó chỉ bằng hòn sỏi và trong suốt Trái tim

ấy là bùa hộ mệnh, cũng là vị thuốc thần Ai có trái tim ấy sẽ được may mắn, giàu sang suốt cả cuộc đời Trái tim ấy nếu mang ngâm rượu sẽ chữa được mọi thứ bệnh hiểm nghèo Liệt chân như Pùa, uống thứ thuốc ấy cũng sẽ khỏi được” [8; 7] Nàng

Bua phóng túng cùng lũ con đào được một cái hũ sành sứt mẻ, nước da lươn đã xỉn

đi vì năm tháng nhưng bên trong hũ lại chứa đầy những thỏi vàng Và thế là “thoắt

một cái, người đàn bà nghèo khó và bị khinh rẻ trở thành giàu có nhất bản, nhất

Trang 35

mường” [8; 14] Ông Pành đã qua cái tuổi tám mươi nhưng lạc vào đất quên và

bỗng thấy yêu một cô gái trẻ Thế nhưng, những điều kì diệu ấy cuối cùng lại không có kết thúc như người ta mong đợi Chàng Khó đi săn hổ những mong lấy được trái tim nó mang về chữa bệnh cho Pùa Chàng đã phải trả giá bằng tính mạng

của mình mới giết được hổ, vậy mà “đã có kẻ đánh cắp trái tim con hổ” và Pùa cũng “chết trong mùa đông năm ấy” [8; 9] vì không có phương thuốc kì diệu ấy từ trái tim con hổ Nàng Bua bao dung và hào phóng với mọi người nhưng “nàng đã

chết khi trở dạ đẻ giữa đống chăn mền ấm áp trong khi đáng lẽ ra nàng sẽ sinh với người chồng được thừa nhận của mình một đứa con nữa, đứa con thứ mười” [8;

14] Ông Pành đã có những giây phút mà “cả cuộc đời từng trải của ông, chưa bao

giờ có cảm giác ấy Ông biết đây chính là điều ông vẫn khao khát mong tìm Hơn cả tình yêu, hơn cả những người phụ nữ mà ông đã gặp, cảm giác này như là hạnh phúc” [8; 24] nhưng ông không biết rằng đấy là nơi đất quên nên hạnh phúc ấy nào

kéo dài được lâu Ông chết khi đang cố thực hiện yêu cầu kén rể của cha cô gái Những huyền thoại của truyện Nguyễn Huy Thiệp vừa hư vừa thực nhưng trong cuộc đời thực hiện hữu, các nhân vật của ông dường như không bao giờ có được niềm may mắn từ những huyền thoại ấy

Huyền thoại trong truyện Nguyễn Huy Thiệp đẹp đến mức các nhân vật của ông luôn có niềm tin tuyệt đối vào nó Có người lìa bỏ quê hương, gia đình để dấn thân, bất chấp hiểm nguy ra đi để tìm gặp được những điều ấy Nơi bến đò Cốc đẹp

và buồn (Chảy đi sông ơi ), nhân vật Tôi bị mê hoặc bởi truyền thuyết con trâu đen:

“Những người đánh cá ban đêm quả quyết đã nhìn thấy nó Nó thường xuất hiện vào lúc nửa đêm Nó ở dưới đáy lòng sông lao lên mặt nước Toàn thân bóng nhẫy, đôi sừng cao vút, cái mõm thở phì phì, con trâu phi trên mặt nước như phi trên cạn Con trâu phì bọt, nước dãi của nó tựa như trứng cá Nếu ai may mắn hớp được bọt

ấy sẽ có sức mạnh phi thường, bơi lặn dưới nước giỏi như tôm cá” [8; 69] Đối với

tuổi thơ của nhân vật Tôi, điều ấy “có sức lôi cuốn lạ kỳ” và trong thâm tâm “tôi

vẫn ước mong nhìn thấy con trâu, biết đâu tôi sẽ chẳng được hưởng điều kỳ diệu?”

[8; 69] Vì vậy mà “hễ cứ chập tối là tôi bỏ nhà ra đi, mặc kệ sách vở và những lời

Trang 36

khuyên nhủ của mẹ” [8; 69] Mặc dù phải trải qua những nguy hiểm và được lão

trùm Thịnh tẩy rửa đầu óc: “Tao đã đánh cá trên khúc sông này sáu chục năm trời

Tao thuộc từng luồng lạnh một Chuyện con trâu đen chỉ là chuyện đồn nhảm nhí Mày hãy tin tao, ở bến Cốc này thì chuyện giết người, ăn cướp là có thực, ngoại tình có thực, cờ bạc có thực, còn chuyện con trâu đen là giả” [8; 72], nhân vật Tôi

vẫn cứ thế theo đuổi những ảo tưởng của mình Ngay với cả chị Thắm, người phụ

nữ dịu dàng từng nhiều lần bỏ qua những kiêng kị của nghề cá mà cứu không biết

bao nhiêu người chết đuối nơi bến đò này, cũng tin: “Trâu đen có thực! Nó ở dưới

nước Khi nó lên bờ là nó mang cho người ta sức mạnh nhưng nhìn thấy nó, được

nó ban điều kỳ diệu phải là người tốt” [8; 74] Cuối cùng, sau nhiều năm hăm hở

theo đuổi bao điều phù du, một ngày kia, Tôi trở lại bến Cốc tìm người quen là chị Thắm Dịu dàng, nhân hậu là thế mà chị lại chết trong sự lãng quên của mọi người:

“Bao nhiêu năm nay chẳng hề có ai hỏi thăm nhà Thắm Nhà Thắm chết đuối hai chục năm rồi” Oái ăm thay, “nhà Thắm cứu được không biết bao nhiêu người ở khúc sông này Thế mà cuối cùng nó lại chết đuối mà không có ai cứu” [8; 76] Và

lòng Tôi trở nên hụt hẫng vô cùng, “Tôi muốn gào lên chua xót Tôi bỗng nhiên

thấy cuộc sống hiện giờ của tôi trở nên vô nghĩa xiết bao Con trâu đen, con trâu đen trong thời thơ ấu của tôi đâu rồi?” [8; 75]

Niềm tin vào những huyền thoại kì diệu ở các nhân vật trẻ trong truyện ngắn

của Nguyễn Huy Thiệp hết sức mãnh liệt, chân thành Chương trong Con gái thủy

thần tiêu biểu cho những nhân vật ấy Cả thiên truyện là hành trình đi tìm Mẹ Cả

của anh Huyền thoại kể rằng “trận bão mùa hè năm 1956, ở bãi nổi sông Cái, sét

đánh cụt ngọn cây muỗm đại thụ, có một đôi giao long quấn chặt lấy nhau vùng vẫy làm đục cả một khúc sông Tạnh mưa, dưới gốc cây muỗm, có một đứa bé mới sinh đang nằm Đứa bé ấy là con gái thủy thần để lại Dân trong làng gọi đứa bé ấy là

Mẹ Cả” [8; 160] Và thế là với Chương, chuyện Mẹ Cả “ám ảnh tôi suốt đời niên thiếu Chuyện Mẹ Cả lung tung lắm, nửa hư nửa thực” [8; 160] Mặc dù nhiều

người nói chuyện Mẹ Cả là chuyện bịa và chính anh trên hành trình tuổi thơ tìm con gái thủy thần thì mỗi lần gặp, nàng lại biến hóa trần tục hơn: Mẹ Cả trong huyền

Trang 37

thoại - con bé ăn trộm mía - Gianna Đoàn Thị Phượng - bà Phượng chủ nhà; cảnh vật cũng biến đổi: Cây muỗm đại thụ bị sét đánh bao nhiêu năm khô xác, dưới gốc cây, bọn trẻ đốt lửa làm thành cái hốc lõm sâu đen sì, không còn dòng sông, chỉ còn lại nia rách trong lều bên lão già bại liệt, Mẹ Cả chỉ là khúc gỗ mục chẳng hình thù

gì Dù chỉ ít năm nữa là đến năm 2000 Dù huyền thoại tan vỡ: sông đổ ra biển Ngày mai tôi đi ra biển Ngoài biển không có thủy thần.Và dù cuộc sống gia đình

rất đỗi khó khăn nhưng Chương vẫn quyết ra đi tìm Mẹ Cả Bỏ mẹ, bỏ em, “tôi đi

tôi nhằm hướng mặt trời mọc mà đi” [8; 171] Từ sông tôi đi ra biển nhưng “ngoài biển không có thủy thần” Hành trình đi tìm Mẹ Cả thật gian nan: “tôi đi qua rất nhiều làng, vừa đi vừa làm thuê kiếm ăn có nhiều ngày tôi phải nhịn đói Cái đói cái rét bằng nhau Đói Rét Nỗi cô đơn như gió quất vào mặt” [8; 171-172] Dù

vậy, “lòng tôi cồn cào, đau đáu một nỗi khắc khoải hướng về Mẹ Cả, con gái thủy

thần nếu tôi tìm được nàng ấy thì tôi sẽ không hối tiếc gì về cuộc sống Không hiểu vì sao tôi lại nghĩ rằng nàng ở đấy, ở ngoài xa kia, ở biển Trái tim tôi thuộc về

Mẹ Cả, thuộc về con gái thủy thần” [8; 171-172] Và cứ thế, Chương vẫn tiếp tục

cuộc hành trình đi tìm Mẹ Cả, tìm Gianna Đoàn Thị Phượng Hành trình ấy như

khát vọng thoát khỏi cuộc sống buồn tẻ, héo mòn của anh: “Tôi biết, nếu tôi dừng

lại lúc này thì tôi sẽ không bao giờ đi nữa Tôi sẽ quay lại công việc của mười năm trước, tôi sẽ cứ thế cho đến suốt cuộc đời: Sáng đi cày, chiều đào đá ong, tối lột giang đan mũ Tôi sẽ kéo mòn kiếp sống của tôi như thế Như thể bố tôi, như ông Nhiêu, ông Hai Thìn, như những người dân hiền lành, lam lũ ở quê tôi” [8; 171]

Nhưng cuối cùng anh gặp cô Phượng - bà chủ ngôi nhà xinh đẹp, sống một mình

(chồng đi nước ngoài) Anh được Phượng dạy cho bài học: “Tất cả bí mật vũ trụ, xã

hội, công danh, tiền bạc, nghệ thuật là ở chuyện này Ám ảnh cao nhất, rộng lớn nhất - trên cao và rộng lớn hơn các ám ảnh khác, kể cả tôn giáo, chính trị - là tình dục” [8; 182] Dù vậy đến cuối truyện Chương vẫn theo đuổi điều huyền diệu của

mình: “Tôi cứ đi, đi mãi Trước mặt tôi là dòng sông thao thiết Sông chảy ra

biển Biển rộng vô cùng Con gái thủy thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu son phấn ra đi ” [8; 187]

Trang 38

Sử dụng thi pháp huyền thoại, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp dường như là những kiểu cổ tích hiện đại (có người gọi là giả cổ tích) Nhưng trong truyện cổ tích thì huyền thoại, niềm tin có thể thành sự thật, còn trong truyện giả cổ tích của Nguyễn Huy Thiệp thì hoàn toàn ngược lại Niềm tin của các nhân vật của ông vào huyền thoại tuy mãnh liệt, chân thành nhưng trên hành trình đi tìm cái đẹp ấy, họ khác nào đang theo đuổi những điều phù du, chỉ thấy toàn những cảnh đời thật, những sự lường gạt, giả dối, mánh khóe, lừa đảo, ti tiện Những giấc mơ, những huyền thoại ấy thật ra đều là những thứ không có trong thực tế, đều là bịa đặt, huyễn hoặc Làm gì có cái đẹp huyền diệu kia hiện hữu trên cõi đời dung tục này! Rốt cục

thì “tất cả mọi sự thanh cao, hoang tưởng vẫn chết trong cõi dung tục, tầm thường” [8; 87], “tất cả những trò bàn luận của lũ chúng ta đều vô nghĩa hết” [8; 86], chỉ có

“chuyện giết người, ăn cướp là có thực, ngoại tình có thực, cờ bạc có thực” [8; 72]

và “Thiên nhiên không hề dối trá” [8; 86] và Nguyễn Huy Thiệp với quan niệm:

“Văn học là thế giới hoang tưởng, ảo tưởng, hão huyền, trong cuộc đời thực tẻ nhạt, dung tục, của cảm xúc nhục cảm, vớ vẩn, suy đồi, là vàng ròng trong cát, sự bất lực thê thảm Chúng ta làm được gì khi xây những lâu đài cát trên bờ biển xanh” [8; 568]

Thi pháp huyền thoại còn được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng để xây dựng nhân vật Trong tác phẩm của ông, huyền thoại như là một phương thức đắc lực để ông đi sâu khám phá tâm linh của nhân vật, làm cho sự xuất hiện của nhân vật chìm

trong không khí nửa hư nửa thực “Đó là mảnh đất giàu có về lương tri dân gian

mà nhà văn khai thác được nhiều để làm cho cuộc sống tâm linh của con người có chiều sâu như vô tận, tự do của con người như không cùng” [54; 512] Trong Chảy

đi sông ơi, nhân vật Tôi đã đi tìm con trâu đen suốt cả thời thơ ấu Bị rơi xuống

sông, con trâu đen trong huyền thoại tuổi thơ mà bấy lâu nay Tôi luôn khao khát được tìm thấy đã hóa thân thành người phụ nữ bao dung, tốt bụng và độ lượng: Chị Thắm Sự chuyển hóa trong hình tượng kì ảo còn được thể hiện trong hành trình cô

đơn của Chương trong Con gái thủy thần Hình tượng Mẹ Cả đến và đi vào những

thời gian và địa điểm hoàn toàn khác nhau trong rất nhiều hình hài: Khi dưới dạng

Trang 39

cô bé 12 tuổi trên bãi mía ven sông trong một đêm trăng sáng, lúc trong hình ảnh người con gái ông trùm xứ Đạo, khi là cô thiếu nữ Mường Hòa Bình chốn thị thành

Mẹ Cả gắn liền với hành trình của Chương từ lúc ấu thơ cho đến lúc trưởng thành,

từ hồn nhiên đến mỏi mệt vẫn luôn ấp ủ một ao ước tìm được người con gái thủy thần nhưng chỉ gặp được những mảnh ghép của hình tượng nàng trong những thời khắc ít ngờ nhất Niềm tin tuyệt đối với những huyền thoại làm cho nhân vật trở nên đẹp hơn

Sương mù huyền thoại còn bao bọc quanh những nhân vật lịch sử, văn hóa của Nguyễn Huy Thiệp Tính cách của nhân vật được bộc lộ qua những yếu tố huyền thoại Lịch sử ghi lại, Gia Long là một con người hết sức tàn bạo Điều này hình thành trong con người tâm lý kinh hãi, sợ sệt Do đó để cụ thể hóa hơn nữa, Nguyễn Huy Thiệp đã miêu tả sự xuất hiện của Nguyễn Ánh bằng những chi tiết

thật đặc sắc: “Ánh đi đến đâu nghe nói có mây đen cuồn cuộn bay đằng trước, dân

hễ thấy có mưa là biết Ánh vừa đi qua” [8; 239] Đặng Phú Lân là cận thần tin cậy

của Nguyễn Ánh Có lần Lân đưa kiếm cho Ánh “phạt đứt cây hoa đại vòng gốc

như cột nhà mà chỉ bằng một nhát Nhựa cây phun ra máu trắng” [8; 243] để rồi

sau này, Ánh dùng chính thanh kiếm đó để chém đầu Lân Khi Lân bị chém, máu phun ra không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại Tình huống đó, một mặt nói lên tính chất tàn bạo của Nguyễn Ánh, mặt khác muốn nói đến số phận của những người phò tá quân vương Lân chỉ là quân cờ trong cuộc chơi của Nguyễn Ánh mà thôi Sự ra đời của Vinh Hoa cũng hết sức kỳ ảo Nàng là biểu tượng của cái đẹp hoàn mĩ Vì vậy, sự xuất hiện của nàng là sản phẩm hư cấu tuyệt

vời trong cảm quan nhà văn hiện đại: “Khi đẻ ra Vinh Hoa, trên nóc nhà bỗng có

đám mây ngũ sắc bay đến tỏa ra ánh sáng rực rỡ, khắp nơi hương thơm ngào ngạt Trên cổ Vinh Hoa có tràng hoa quấn cổ, xòe lòng bàn tay ra thấy có viên ngọc bên trong, trên khắc hai chữ thiên mệnh” [8; 255] Vinh Hoa lớn lên, hát hay, đàn giỏi,

đẹp lồ lộ, nói câu nào thiêng câu ấy Cả khi chết đi rồi, gần hai trăm năm sau, người

ta quật mộ nàng lên vẫn thấy “một người phụ nữ đẹp rực rỡ, khuôn mặt tươi tỉnh

như người sống, trang phục xiêm y lộng lẫy” [8; 254] Sự xuất hiện của Vinh Hoa

Trang 40

như là một sự hóa kiếp của thiên thần Sự linh ứng của nàng thể hiện ngay trong lời nói của nàng Bản thân nàng không thuộc về ai bởi nàng là hiện thân của cái đẹp bất diệt Nàng không thành thân với ai nhưng chết đi trên tay lại có đứa bé Đứa bé ấy chính là biểu tượng của cái đẹp được sinh sôi nảy nở, nó thuộc về nhân dân Cuộc tình của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là mối lương duyên mà tạo hóa đã dày

công chuẩn bị những 29 năm 9 tháng 10 ngày nên “Hôm Nguyễn ngỏ lời cầu hôn,

trời mưa như trút Đồn rằng hôm ấy có rồng bay trên sông Cái” [8; 283] Đó là sự

thăng hoa của một mối tình mà hậu thế vẫn còn nhắc mãi Sử dụng yếu tố huyền thoại trong xây dựng nhân vật, xây dựng tình huống truyện đã thể hiện đặc sắc tính cách nhân vật Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra những tình huống lung linh kì ảo, như một thứ “nước rửa ảnh” để từ đó nhà văn tái hiện rõ nét hơn bản chất, tính cách của nhân vật

2.2 Ảnh hưởng của kết cấu, ý tưởng, cảm hứng từ truyện dân gian

Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp người đọc nhận ra rằng tác phẩm của ông có mối liên hệ gần gũi với những câu chuyện kể dân gian Một phần là vì tác giả đã sử dụng thi pháp huyền thoại đậm đặc trong truyện Bên cạnh đó là sự vay mượn kết cấu, ý tưởng cảm hứng từ kho tàng văn học dân gian

Những ngọn gió Hua Tát là chùm truyện tiêu biểu nhất cho phong cách dân

gian của Nguyễn Huy Thiệp Mười câu chuyện hầu như là những câu chuyện cổ tích thần kì Tác giả đã kể về cuộc đời của những con người ở bản Hua Tát với những huyền thoại gắn liền với cuộc đời họ, một thủ pháp nghệ thuật mà cổ tích

thần kỳ vẫn sử dụng Chuyện thứ nhất là Trái tim hổ kể về một cô gái mười sáu tuổi

tên là Pùa, rất xinh đẹp nhưng bị liệt hai chân từ nhỏ và chàng Khó, một chàng trai đáng thương không chỉ bởi chàng mồ côi từ bé mà còn có bề ngoài dị dạng Giữa hai nhân vật này được kết nối bởi yếu tố kỳ lạ: con hổ có trái tim thật đặt biệt, có nó người ta sẽ trở nên giàu có và nó cũng là phương thuốc kỳ diệu có thể chữa bệnh liệt cho Pùa Chàng Khó cũng như bao thanh niên khác trong bản đều ra sức săn con

hổ những mong đem lại vẻ đẹp toàn diện cho Pùa Chuyện thứ hai là Con thú lớn

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Phan Vàng Anh (số 237/ 2008), “Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại”, TC. Sông Hương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Nhà XB: TC. Sông Hương
Năm: 2008
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2004
3. M. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. M. Bakhtin
Nhà XB: Trường viết văn Nguyễn Du
Năm: 1992
4. M. M. Bakhtin (2008), Sáng tác của Francois Rablais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng, Nxb Khoa học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác của Francois Rablais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng
Tác giả: M. M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Khoa học Hà Nội
Năm: 2008
5. Roland Barthes (2008), Những huyền thoại (Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại
Tác giả: Roland Barthes
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
6. Lê Huy Bắc (số 9/ 1988), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, TC. Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: TC. Văn học
Năm: 1988
7. Lê Huy Bắc (số 8/ 2005), “Truyện ngắn hậu hiện đại”, TC. Văn học 8. Lê Huy Bắc (số 8/ 2006), “Cái kì ảo và văn học huyền ảo”, TC. Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn hậu hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: TC. Văn học
Năm: 2005
9. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hóa dân gian những suy nghĩ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
10. Phan Thanh Bình (2007), Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn thạc sỹ, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Phan Thanh Bình
Nhà XB: Đại học Thái Nguyên
Năm: 2007
11. Nguyễn Thị Bình (2005), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
12. Lê Ngọc Canh (1999), Văn hóa dân gian những thành tố, Nxb Tổng hợp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian những thành tố
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1999
13. Trương Chính, Phong Châu (1986), Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười dân gian Việt Nam
Tác giả: Trương Chính, Phong Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1986
14. Nguyễn Đình Chú (1994), Văn học Việt Nam một chặng đường, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam một chặng đường
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1994
15. Đào Ngọc Chương (2008), Phê bình huyền thoại, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình huyền thoại
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố
Năm: 2008
16. Chu Xuân Diên (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
17. Chu Xuân Diên (2006), Văn hóa dân gian mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội và nhân văn
Năm: 2006
18. Chu Xuân Diên (2008), Nghiên cứu văn hóa dân gian- phương pháp lịch sử, thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa dân gian- phương pháp lịch sử, thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
19. Đinh Xuân Dũng (2004), Văn học, văn hóa tiếp nhận và suy nghĩ, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học, văn hóa tiếp nhận và suy nghĩ
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2004
20. Nguyễn Đình Đăng (số 24/ 2004), “Nhà văn Việt Nam của tôi”, TC. Ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam của tôi
Tác giả: Nguyễn Đình Đăng
Nhà XB: TC. Ngày nay
Năm: 2004
21. Phan Cự Đệ (số 48/ 1992), “Văn học đổi mới và bước đi hợp quy luật”, TC. Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học đổi mới và bước đi hợp quy luật
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: TC. Văn nghệ
Năm: 1992

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm