Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chọn nghiên cứu vai trò của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh đối với việc góp phần bảo tồn và phát triển không gian văn hóa của người Việt – tộc người c
Trang 1KHOA VIỆT NAM HỌC
HỒ THỊ NGỌC BÌNH
VAI TRÒ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN VĂN HÓA VIỆT Ở NAM BỘ CỦA BẢO TÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
Mã số: 60.31.60 LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG ANH TUẤN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và quý Thầy Cô trong Khoa Việt Nam học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng như truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cho tôi trong quá trình học tập tại trường
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Anh Tuấn, người Thầy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn Ban Giám đốc Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh và anh, chị, em đồng nghiệp đã hết lòng tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tôi theo học chương trình Cao học và hoàn thành luận văn của mình
Xin cảm ơn Cô Lê Tú Cẩm – Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Thành phố, ThS Phạm Lan Hương – Trưởng khoa Di sản Văn hóa Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ, cung cấp thông tin và tư liệu cho tôi thực hiện đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn hữu đã động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10-2014
Học viên
Hồ Thị Ngọc Bình
Trang 3Mở đầu……… ……… 1
1 Lý do chọn đề tài……… ……… 1
2 Tính cần thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn……… ……… 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… ……… 3
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… ……… 4
5 Cơ sở lý luận……… ……… 7
6 Phương pháp nghiên cứu……… ……… 8
7 Cơ cấu luận văn……… ………. 9
Chương 1: Tổng quan về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ và Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh ………. 11
1.1 Tổng quan về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ……… 11
1.1.1 Khái niệm về không gian văn hóa và không gian văn hóa tộc người……. 11
1.1.2 Quá trình hình thành không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ……… 13
1.1.3 Về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ……… ……… 16
1.1.4 Đặc trưng của không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ……… 20
1.2 Tổng quan về Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh……… 22
1.3.1 Cơ sở lý luận………. 22
1.3.1.1 Định nghĩa và chức năng của “bảo tàng” ………. 22
1.3.1.2 Một số khái niệm có liên quan………. 24
1.3.2 Vài nét về Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh……… 27
1.3.2.1 Lịch sử hình thành……… 27
1.3.2.2 Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh góp phần bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ……… 32
Tiểu kết……… 34
Chương 2: Tình hình bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh 36 2.1 Nghiên cứu – sưu tầm hiện vật……… 36
2.1.1 Nghiên cứu khoa học………. 36
Trang 42.2.1 Kiểm kê hiện vật……… 50
2.2.2 Bảo quản hiện vật……… 51
2.3 Trưng bày………. 55
2.3.1 Không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ qua trưng bày……… 55
2.3.2 Một số vấn đề về công tác trưng bày……… 74
2.3.2.1 Nội dung trưng bày……… 74
2.3.2.2 Hình thức trưng bày……… 80
2.4 Giáo dục – Tuyên truyền……… 84
2.4.1 Thuyết minh, hướng dẫn tham quan trưng bày………. 85
2.4.2 Các hoạt động giáo dục tuyên truyền khác……… 87
Tiểu kết……… 89
Chương 3: Nâng cao vai trò bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh……… 91
3.1 Bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ trong bối cảnh mới 91 3.1.1.Vấn đề bảo tồn và phát triển……….……….……… 91
3.1.1 Quan điểm đổi mới hoạt động Bảo tàng.……….………. 93
3.2 Giải pháp cho công tác bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ ……….……… ……….……… ……… 96
3.2.1 Giải pháp cho công tác nghiên cứu – sưu tầm.………. 96
3.2.1.1 Công tác nghiên cứu khoa học.………. 96
3.2.1.2 Công tác sưu tầm.……… ……… 97
3.2.2 Giải pháp cho công tác kiểm kê – bảo quản hiện vật……… 101
3.2.2.1 Công tác kiểm kê……… ……… 101
3.2.2.2 Công tác bảo quản……… ………101
3.2.3 Giải pháp cho công tác trưng bày……… ……… 104
3.2.3.1 Về mặt nội dung trưng bày……… ……… 105
3.2.3.2 Về mặt hình thức trưng bày……… ………. 109
Trang 5Kết luận…… ……….……… ……….……… ……… 119 Tài liệu tham khảo …… ……….……… ……….……… …… 123 Phụ lục
Trang 6BBPV Biên bản phỏng vấn
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu thế kỷ XVII hoặc sớm hơn đã có những người Việt sinh sống tại vùng đất phía Nam của Tổ quốc Họ là những lưu dân từ miền Trung, miền Bắc mang theo mình văn hóa truyền thống của người Việt, trải qua hàng trăm năm thích nghi với những điều kiện tự nhiên, đồng thời tiếp xúc với các cư dân của những tộc người khác nhau tại vùng đất phương Nam này, đã hình thành nên tính cách của người Nam Bộ và bản sắc văn hóa Nam Bộ độc đáo Người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh là một bộ phận của người Việt ở Nam Bộ Văn hóa Thành phố Hồ Chí
Minh thuộc tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định (theo Ngô Đức Thịnh), là trung
tâm văn hóa của Nam Bộ, nằm trong tổng thể văn hóa Nam Bộ
“Trong tiến trình lịch sử không thể phủ nhận một điều, với vị thế là thương cảng trung tâm kinh tế - văn hóa, có tầm giao lưu và ảnh hưởng đến khu vực rộng hơn, Sài Gòn luôn được coi là thành phố tiêu biểu và
đại diện cho Nam Bộ trên tất cả các lĩnh vực.” [89]
Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh có những đặc điểm riêng được qui định bởi đặc thù về vị trí địa lý và xã hội: Đô thị Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là cửa ngõ giao lưu kinh tế mà còn là nơi hội tụ, giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền, các khu vực và các nước trên thế giới Ở vào vị trí ấy nên cư dân Thành phố Hồ Chí Minh không “thuần nông, không khép kín” (từ dùng của tác giả Đặng Nghiêm Vạn), mà hết sức năng động, nhạy bén tiếp thu những yếu tố văn hóa mới từ bên ngoài Người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh bên cạnh việc giao lưu văn hóa với các dân tộc cùng cộng cư sinh sống, còn sớm tiếp xúc và chịu những ảnh hưởng nhất định từ văn hóa Đông - Tây Một điều hiển nhiên là người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh là một bộ phận của người Việt ở Nam Bộ, mang đầy đủ những nét tính cách của cái gọi là “tính cách Nam Bộ” và văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cũng thể hiện rõ nét và đầy đủ nhất các đặc trưng của văn hóa Việt ở Nam Bộ Do vậy, trong tiến trình lịch sử, Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh luôn được coi là
Trang 8một trung tâm kinh tế - văn hóa của cả vùng, một đô thị tiêu biểu của Nam Bộ trên tất cả các lĩnh vực
Đối với một đô thị là trung tâm văn hóa của Nam Bộ như Thành phố Hồ Chí Minh, việc có một thiết chế văn hóa như bảo tàng để bảo tồn những di sản văn hóa của cộng đồng thì hết sức cần thiết và quan trọng Trong số 7 bảo tàng trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bảo tàng khác tại Thành phố, có một số là bảo tàng chuyên đề, bảo tàng danh nhân, chỉ duy nhất Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
có chức năng là bảo tàng khảo cứu địa phương – một bảo tàng tổng hợp lưu giữ, trưng bày và giới thiệu đến khách tham quan về lịch sử, văn hóa và con người Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chọn nghiên cứu vai trò của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh đối với việc góp phần bảo tồn và phát triển không gian văn hóa của người Việt – tộc người chủ thể ở Nam Bộ, có vai trò quyết định sự phát triển của vùng đất này và họ
đã tạo nên một không gian văn hóa vừa mang các nét văn hóa truyền thống của dân tộc vừa có những nét riêng độc đáo
Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò của một bảo tàng địa phương như Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh trong việc bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ là vô cùng quan trọng Vấn đề này chưa từng được nghiên cứu một cách hệ thống và hoàn chỉnh trước đây
Luận văn cho thấy tầm quan trọng và tính cấp thiết của vai trò bảo tồn và phát triển những giá trị của không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời xác định bảo tàng nói chung không chỉ là một thiết chế văn hóa cứng nhắc, chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa xưa, cũ, những di sản văn hóa với nội dung trưng bày ổn định, thậm chí bất biến, mà Bảo tàng còn phản ánh cuộc sống hiện tại của cộng đồng và là nơi thu hút khách tham quan, đáp ứng nhu cầu học tập và thưởng thức văn hóa của cộng đồng, góp phần vào công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Để làm được những điều này, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh cũng cần đổi mới ở một số điểm trong tổ chức hoạt động Trong luận văn, chúng tôi đưa ra một số giải pháp để hoạt động của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh trong
Trang 9đó có việc bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ ngày càng hiệu quả hơn
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học: Tiếp cận lý thuyết khoa học và góp phần vào việc bảo tồn và quản lý di sản văn hóa trong hệ thống bảo tàng nói chung Qua quá trình tham khảo, tập hợp tư liệu, nghiên cứu thực địa, luận văn góp phần tìm hiểu về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ
Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp vào việc định hướng, hoàn thiện hoạt động của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh đúng với
vị trí, vai trò của một bảo tàng khảo cứu địa phương, đáp ứng yêu cầu bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung, trong đó có văn hóa của người Việt ở Nam Bộ, đồng thời phát huy chức năng xã hội của bảo tàng trong việc phục vụ nhu cầu học tập, thưởng thức của cộng đồng, nâng cao ý thức bảo vệ di sản trong cộng đồng và giới thiệu di sản văn hóa Nam Bộ đến với khách tham quan trong và ngoài nước
Luận văn đưa ra các đề xuất mang tính giải pháp để nâng caohiệu quả công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần định hướng việc xây dựng mới Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai –là một trong những công trình trọng điểm của Thành phố giai đoạn 2010 – 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh đối với việc bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ 2- Phạm vi nghiên cứu
2.1 Về giới hạn không gian, chúng tôi nghiên cứu việc Bảo tàng Thành phố
Hồ Chí Minh thực hiện vai trò bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam
Bộ qua các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ
2.2 Thời gian: Chúng tôi giới hạn nghiên cứu hoạt động của Bảo tàng Thành
Trang 10phố Hồ Chí Minh từ năm 1999 cho đến nay
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vai trò của bảo tàng về bảo tồn và phát triển văn hóa của cộng đồng được đề cập ở nhiều góc độ trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả người nước ngoài Ở Việt Nam, có không ít công trình nghiên cứu về vai trò của bảo tàng trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cũng như các nghiên cứu về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ
Tác giả Nguyễn Văn Huy –một trong những nhà nghiên cứu dành nhiều sự quan tâm về hoạt động của bảo tàng – đã có một số bài viết trình bày một cách thẳng thắn những suy nghĩ, trăn trở và quan điểm của mình về sự nghiệp phát triển
bảo tàng Việt Nam Đặc biệt với công trình nghiên cứu “Từ dân tộc học đến Bảo
tàng Dân tộc học – Con đường học tập và nghiên cứu” (2005), tác giả đã cho thấy
tầm quan trọng và cốt lõi trong chức năng nghiên cứu khoa học và trưng bày của Bảo tàng Dân tộc học là phản ánh các chủ thể văn hóa trong quá trình kế thừa và sáng tạo văn hóa Chủ thể văn hóa ở đây là những người dân, cộng đồng lớn hay nhỏ, những tập thể và cá nhân hoạt động, suy nghĩ, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, đối với những vấn đề hết sức cụ thể như sản xuất, mưu sinh, giải trí, tín ngưỡng… Theo tác giả, tất cả hoạt động này phải được Bảo tàng Dân tộc học phô diễn bằng ngôn ngữ thực tiễn, đời thường sinh động và hấp dẫn, phải phản ánh cả văn hóa truyền thống và hiện đại nhằm bảo tồn, phát huy và tôn trọng những bản sắc văn hóa riêng độc đáo của mỗi dân tộc trong 54 dân tộc Việt Nam
Trong nhiều năm qua đã có các bài viết về Bảo tàng Thành phố Hồ Chí
Minh “Kỷ yếu 25 năm Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh1978 – 2003” gồm nhiều
bài viết về quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng từ thuở ban đầu là Bảo tàng Cách mạng cho đến khi đổi tên thành Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh Đáng
chú ý là bài viết “Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh với việc bảo tồn di sản phi vật
thể”, ở thời điểm năm 2003, tác giả Lê Tú Cẩm đã gợi mở một hướng mới, đi vào
chiều sâu cho hoạt động của Bảo tàng Đặc biệt tác giả gần như đưa ra một dự báo
về xu hướng cũng như quy mô phát triển của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai
Trang 11Tác giả Nguyễn Thế Hùng với bài viết “Xây dựng các sưu tập hiện vật – Con
đường duy nhất để tạo dựng bản sắc riêng của mỗi bảo tàng” nghiên cứu các sưu
tập hiện vật ở một số bảo tàng ở Nhật Bản Qua bài viết, tác giả cho rằng con đường duy nhất để tạo dựng bản sắc riêng của mỗi bảo tàng là đầu tư xây dựng các sưu tập hiện vật
Nghiên cứu của tác giả Mark O’Neil “Các bảo tàng và những cộng đồng của
chúng” phân tích cụ thể về định hướng “hướng nội” hay “hướng ngoại” trong việc
trình bày các bộ sưu tập của mình Tác giả đề cập những trăn trở của những người làm bảo tàng trong việc cân bằng hai định hướng: đặt những bộ sưu tập làm trung tâm hay nhu cầu thưởng ngoạn của cộng đồng làm trung tâm, để vừa không làm giảm bớt giá trị của các bộ sưu tập, vừa phục vụ tốt cho nhu cầu học tập và thưởng thức của cộng đồng
Sách “Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng trong phát triển bảo tàng
tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vì văn hóa và sự phát triển bền vững” là
tuyển tập mười bài viết về các bảo tàng cộng đồng trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương phác họa những phương pháp tiếp cận khác nhau trong việc nâng cao vai trò của bảo tàng trong sự nghiệp phát triển cộng đồng
Trong luận án tiến sĩ Văn hóa học của Lê Thị Minh Lý “Bảo tàng Việt Nam:
Thực trạng và những giải pháp chính nhằm kiện toàn hệ thống bảo tàng trong phạm
vi cả nước” (2006), tác giả có nhấn mạnh đến vai trò của bảo tàng đối với sự nghiệp
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc và bảo tàng là một hoạt động văn hóa không thể thiếu trong đời sống của con người Tác giả đã cho thấy một bức tranh thực trạng của hệ thống bảo tàng Việt Nam và đồng thời nêu một số quan điểm và giải pháp để kiện toàn và phát triển hệ thống bảo tàng Việt Nam trong tương lai một cách chung nhất, ở góc độ công tác quản lý Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống cũng được tác giả nhắc đến trong mục “Bảo tàng và sự nghiệp văn hóa”
- Sách Học từ bảo tàng – trải nghiệm của khách và làm nên ý nghĩa (2008) của tác
giả John H Falk và Lynn D Dierking: Từ những trải nghiệm của khách tham quan trong các bảo tàng ở Mỹ, tác giả đã có những kết quả nghiên cứu sâu sắc về một
Trang 12trong những chức năng xã hội của bảo tàng đó là chức năng giáo dục cộng đồng Tác giả cho rằng bảo tàng như một “thiết chế công cho việc học tập” Bảo tàng là nơi mà mọi đối tượng, cả người lớn và trẻ em có thể đến xem, học hỏi và khám phá
về quá khứ, hiện tại và tương lai của cộng đồng Một trong những lý do để cộng đồng gắn kết với bảo tàng đó là nhu cầu học tập, nghiên cứu Các tác giả cho rằng học tập trong bảo tàng là “một trải nghiệm xã hội cơ bản” Tác giả cũng đã nhận định vai trò lớn hơn của bảo tàng trong xã hội đương đại là truyền tải những thông điệp về quyền lực, sức mạnh và giá trị của một nền văn hóa
Một trong những tác giả đề cập trực tiếp đến không gian văn hóa của người
Việt ở Nam Bộ đó là tác giả Phan An trong nghiên cứu “Có một nét riêng của văn
hóa người Việt ở Nam Bộ” Tác giả nêu những nét riêng của người Việt chỉ có ở
Nam Bộ trên các phương diện văn hóa như giọng nói, nghệ thuật trình diễn, tôn giáo… Tác giả phân tích các khía cạnh không gian văn hóa của người Việt ở Nam
Bộ được quy định bởi trước hết là đặc thù về địa lý tự nhiên và xã hội mà chủ thể văn hóa là người Việt khi đến vùng đất mới này phải thích nghi Thêm vào đó là yếu
tố giao lưu, tiếp biến văn hóa của người Việt với văn hóa của các tộc người cùng cộng cư cũng như văn hóa phương Tây…Với tất cả những trải nghiệm và thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội, người Việt Nam Bộ đã hình thành một nét văn hóa riêng của mình trên vùng đất Nam Bộ
Trong một công trình nghiên cứu khác đề cập đến Bảo tàng Thành phố Hồ
Chí Minh Đó là công trình nghiên cứu “Mối quan hệ giữa bảo tàng và cộng đồng
tại các bảo tàng ở Thành phố Hồ Chí Minh”(2011) của tác giả Phạm Lan Hương,
giảng viên trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã có một nghiên cứu tổng quan mối quan hệ giữa bảo tàng và cộng đồng tại 7 bảo tàng trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
Sách “Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh – Một góc nhìn lịch sử văn hóa”
(2012) trên cơ sở kế thừa và có chỉnh lý nội dung của sách giới thiệu Bảo tàng phát hành năm 2002, trình bày khái quát lịch sử hình thành, phát triển của Bảo tàng và các phần trưng bày hiện tại nhằm đáp ứng cho nhu cầu tìm hiểu của khách tham
Trang 13quanvề Bảo tàng Sách cũng đã được dịch sang tiếng Anh với tựa “An angle of
historic – cultural vision” (2013)
Trong “Thông báo khoa học 2013” đăng một số bài viết là kết quả của quá
trình sưu tầm, nghiên cứu tư liệu và hiện vật trong Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh về lịch sử và văn hóa vùng đất Nam Bộ Bên cạnh đó, còn một số bài viết đúc kết kinh nghiệm cũng như đưa ra những giải pháp cho vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Nam Bộ qua hoạt động của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí
Minh
Một số công trình nghiên cứu trên cho thấy vấn đề bảo tồn và phát triển các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, văn hóa cộng đồng, văn hóa tộc người trong bảo tàng được nghiên cứu khá nhiều, kể cả mối liên hệ, gắn kết giữa bảo tàng
và cộng đồng được xác định là quan trọng và là định hướng trong hiện tại, tương lai của hoạt động bảo tàng Nhìn chung, vai trò của Bảo tàng trong việc bảo tồn không gian văn hóa của tộc người nói chung và vai trò của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh trong việc bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào được thực hiện
5 Cơ sở lý luận
Về lý thuyết: Chúng tôi nghiên cứu đề tài dựa trên lý thuyết cấu trúc của Claude Lévi-Strauss Lý thuyết cấu trúc khẳng định các yếu tố của nền văn hóa phải được hiểu trong các mối quan hệ tạo thành một hệ thống hay cấu trúc bao quát, rộng hơn, giúp hiểu được các hiện tượng của đời sống con người và hơn nữa là hiểu được phía sau những biến đổi bộ phận trên bề mặt các hiện tượng là những quy luật bất biến của nền văn hóa trừu tượng Chúng tôi dựa trên lý thuyết cấu trúc để nghiên cứu các yếu tố và đặc trưng của không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ mà Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh bằng các hoạt động nghiệp vụ đã và đang bảo tồn và phát triển nó
Về các khái niệm: Liên quan đến đề tài của chúng tôi có các khái niệm (được trình bày cụ thể ở Chương I của luận văn) như: Khái niệm “không gian văn hóa” và
“không gian văn hóa tộc người”, khái niệm “bảo tàng”, “bảo tàng khảo cứu địa phương”, “bảo tồn”, “phát triển” và giải thích về chức năng của bảo tàng
Trang 146 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngành Việt Nam học Việt Nam học là khoa học liên ngành nghiên cứu về đất nước và con người Việt Nam dựa trên từng chuyên ngành như Địa lý, Lịch sử, Khảo cổ, Văn hóa, Dân tộc học… Trên cơ sở đó, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu của những ngành khoa học xã hội và nhân văn liên quan
để tìm hiểu các vấn đề về lịch sử, địa lý, xã hội…của văn hóa Việt ở Nam Bộ Đồng thời, chúng tôi dùng phương pháp nghiên cứu Bảo tàng học để phân tích tiến trình bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ thông qua chức năng xã hội (gồm nghiên cứu khoa học và giáo dục phổ biến khoa học) và các hoạt động (nghiên cứu – sưu tầm hiện vật, kiểm kê – bảo quản, trưng bày và tuyên truyền giáo dục) của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu định tính: Chúng tôi kết hợp các kết quả điền dã, quan sát tham
dự và phỏng vấn sâu 14 trường hợp Trong đó chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu 7 cán bộ, nhân viên đang công tác tại BTTPHCM để tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển Bảo tàng, những thuận lợi và khó khăn, phương pháp, kinh nghiệm và suy nghĩ của họ trong quá trình thực hiện bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt
ở Nam Bộ Chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu 4 trường hợp là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà nghiên cứu khảo cổ, trưởng khoa Khoa Di sản Văn hóa – Đại học Văn hóa TPHCM, cựu lãnh đạo Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch TPHCM – Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Thành phố để có được những đánh giá về hoạt động của Bảo tàng và đặc biệt là các ý kiến chuyên môn, mang tính xây dựng cho sự phát triển của Bảo tàng Đồng thời, để có những đánh giá khách quan về kết quả hoạt động trưng bày của Bảo tàng, chúng tôi thực hiện phỏng vấn 9 sinh viên đại học đến tham quan, học tập tại Bảo tàng
Ngoài ra, chúng tôi đã sử dụng, kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu về: văn hóa Nam Bộ, công tác bảo tồn di sản văn hóa nói chung, các kết quả nghiên cứu về chức năng và hoạt động của bảo tàng trong và ngoài nước, những nghiên cứu về mối quan hệ giữa bảo tàng và cộng đồng Bên cạnhviệc tham khảo và trích dẫn các Hồ sơ hiện vật, Biên bản họp Hội đồng Khoa học đang được lưu trữ
Trang 15tại Bảo tàng, nguồn tư liệu là sách, bài báo khoa học, kỷ yếu các Hội thảo về bảo tồn di sản văn hóa nói chung, các bài viết được đăng trong tạp chí khoa học và mạng internet, cũng được chú trọng tham khảo Những ý kiến đóng góp hoặc cảm nhận của khách tham quan từ các Sổ cảm tưởng về trưng bày của Bảo tàng cũng được trích dẫn để có được những đánh giá khách quan hơn trong công tác nghiên cứu
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục, toàn luận văn dài 122 trang, gồm phần Mở đầu (10 trang) và ba chương:
Chương một: Tổng quan về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ và Bảo tàng
Thành phố Hồ Chí Minh Chương này gồm có 25 trang Chúng tôi nghiên cứu cơ sở
lý luận và tiền đề hình thành không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ từ nghiên cứu khái niệm không gian văn hóa, khái niệm văn hóa tộc người để đi đến làm rõ khái niệm cần nghiên cứu là không gian văn hóa tộc người Xác định được các đặc trưng và các yếu tố cấu thành không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ là cơ sở rất quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu vai trò của BTTPHCM trong việc bảo tồn và phát triển nó
Chương hai: Tình hình bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam
Bộ của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh Chương hai gồm có 55 trang Trong
chương này, chúng tôi phân tích tình hình bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ của BTTPHCM qua các hoạt động chuyên môn của Bảo tàng như nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày hiện vật và tuyên truyền – giáo dục khoa học Hoạt động của Bảo tàng chủ yếu xoay quanh hiện vật gốc, do vậy, việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể thuộc không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ được Bảo tàng thể hiện cụ thể qua việc bảo tồn và phát huy giá trị các hiện vật và sưu tập hiện vật
Chương ba: Nâng cao vai trò bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt
ở Nam Bộ của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh Chương ba gồm có 32 trang Trên
cơ sở nghiên cứu kết quả đạt được của BTTPHCM trong việc bảo tồn và phát triển
Trang 16không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ và đề án xây dựng mới Bảo tàng Tổng hợp TPHCM, chúng tôi đề xuất mô hình bảo tàng khảo cứu địa phương và những giải pháp nhằm mục đích hoàn thiện vai trò của Bảo tàng đối với việc bảo tồn không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ nói riêng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nói chung
trong tương lai
Bên cạnh nội dung chính, là phần phụ lục bao gồm những biên bản phỏng vấn, hình ảnh các phần trưng bày và hiện vật, các hoạt động của BTTPHCM, hồ sơ hiện vật, đã được đề cập và sử dụng trong luận văn giúp người đọc có thêm cơ sở để hiểu hơn về vấn đề mà chúng tôi muốn trình bày
Trang 17Chương 1:
Tổng quan về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ
và Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
1.1 Tổng quan về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ
1.1.1 Khái niệm về không gian văn hóa và không gian văn hóa tộc người
Liên quan đến đề tài của luận văn, chúng tôi nghiên cứu các khái niệm về không gian văn hóa và không gian văn hóa tộc người UNESCO đưa ra khái niệm chung nhất về “không gian văn hóa” là không gian vật chất hoặc không gian mang tính biểu tượng thiêng liêng, trong đó mọi người tụ họp để giao tiếp, trao đổi thông tin, cùng thực hành, trải nghiệm các tập quán xã hội và các ý tưởng sáng tạo
Ở Việt Nam, khái niệm về không gian văn hóa (viết tắt là KGVH) có khác nhau, từ khái quát cho đến cụ thể Chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu khi đề cập đến không gian văn hóa thường chú ý đến 2 yếu tố cơ bản, đó là vị trí địa lý – tức không gian sinh tồn của một nền văn hóa và chủ thể của nền văn hóa ấy
Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, từ thập niên 70 trở lại đây, các nhà khoa học khi nghiên cứu, biên soạn, sưu tầm các công trình về văn hóa đã bắt đầu thể hiện khuynh hướng nhìn nhận văn hóa theo vùng, tức là không gian tồn tại của các nền văn hóa hay từng yếu tố văn hóa Từ “nhận ra một KGVH bằng cảm nhận
đã được trình bày, đôi khi chưa sâu sắc” [84, tr.222] cho đến khi “không còn là cảm nhận hay những ý niệm mà từng bước nâng lên thành các khái niệm và lý thuyết khoa học” [72, tr.81]
Trong hai công trình nghiên cứu “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt
Nam” và “Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam”, tác giả Ngô Đức
Thịnh đã đưa ra kết quả nghiên cứu về KGVH cũng như KGVH tộc người Tác giả nêu khái niệm về KGVH có phần cụ thể và sâu sắc hơn theo hai nghĩa: nghĩa trừu tượng và nghĩa cụ thể
Theo nghĩa trừu tượng, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cho rằng KGVH có
thể hiểu như một “trường” (mượn khái niệm trường của vật lý), để chỉ một hiện
Trang 18tượng hay tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan toả (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hoá đó một không gian (trường) văn hoá rộng hay hẹp khác nhau” Điều này lý giải về khả
năng thu nhận những ảnh hưởng từ các nền văn hóa bên ngoài của văn hóa Việt Nam nói chung và đồng thời tạo ra những ảnh hưởng đối với những nền văn hóa khác trong phạm vi lãnh thổ việt Nam [71, tr.39]
Còn theo nghĩa cụ thể, KGVH được coi như là “một không gian địa lý xác định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hoá nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống Trong đời sống xã hội của con người, ít khi một hiện tượng văn hoá nảy sinh, tồn tại và biến đổi một cách độc lập, mà chúng thường liên kết với nhau thành những tổ hợp Có thể hiểu tổ hợp văn hoá như một hệ thống lớn nhỏ khác nhau, bao gồm nhiều hiện tượng liên kết với
nhau như một thực thể hữu cơ” Trong đó, tác giả nhận định văn hoá tộc người
cũng là một dạng của tổ hợp văn hoá Vì “văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người khác” [71, tr.229]
Từ hai khái niệm về KGVH và văn hóa tộc người, tác giả đưa ra khái niệm
về KGVH tộc người như sau: “KGVH tộc người chính là không gian sinh tồn của tộc người đó, nó gắn với vùng lãnh thổ mà cộng đồng dân cư của tộc người đó sinh sống” Tác giả xác định văn hóa tộc người là tổng thể các sắc thái văn hóa giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, “đầu tiên là ngôn ngữ mẹ đẻ, trang phục, nhất là trang phục phụ nữ, các tín ngưỡng và nghi lễ, là vốn văn hóa dân gian truyền miệng, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý dân tộc…” [71, tr.229]
Như vậy, khái niệm về KGVH tộc người của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh
là rõ ràng và đầy đủ, khái niệm xác định cụ thể vùng không gian mà tộc người chủ thể sinh sống Trong luận văn, chúng tôi nghiên cứu KGVH của người Việt ở Nam
Bộ trên cơ sở khái niệm KGVH tộc người của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh Từ khái niệm, chúng tôi xác định không gian văn hóa Việt trong luận văn là không gian
cụ thể ở Nam Bộ, nơi mà người Việt sinh sống từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ
Trang 19XVII Cùng với khái niệm “KGVH tộc người”, chúng tôi cũng dựa vào các yếu tố thuộc KGVH tộc người mà nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh đã nêu để nhận định, phân tích KGVH Việt ở Nam Bộ – là đối tượng mà Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh đang bảo tồn và phát triển
1.1.2 Quá trình hình thành không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ
Để hiểu được KGVH Việt ở Nam Bộ trước hết chúng tôi tìm hiểu về chủ thể văn hóa người Việt qua lịch sử khai khẩn, xây dựng và định hình nét tính cách cũng như một KGVH của họ ở Nam Bộ
Nói về chủ thể văn hóa của văn hóa Việt Nam, các nhà dân tộc học Phan Hữu Dật và Nguyễn Văn Huy đã nhận định: “Trong sự thống nhất của văn hóa Việt Nam, yếu tố văn hóa của người Việt là yếu tố chủ đạo vì người Việt là dân tộc chủ thể Nó được thể hiện trên các mặt: Nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý dân tộc…” Là chủ thể văn hóa hàng ngàn năm ở cội nguồn sông Hồng, người Việt tiếp tục thể hiện vai trò chủ thể của mình trong hơn 300 năm xây dựng vùng đất mới Nam Bộ Lịch sử đã chứng minh sự đóng góp tích cực của người Việt từ thuở khai hoang mở cõi cho đến khi Nam Bộ trở thành một vùng giàu có và trù phú
Lịch sử cùng vùng đất Nam Bộ cũng có điểm đặc biệt đáng chú ý, đó là sự tồn tại của các nền văn hóa cổ đại tại đây Những di chỉ khảo cổ được khai quật đã khẳng định chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam đã từng tồn tại ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cho tới thế kỷ VII – Chân Lạp nổi lên thôn tính vương quốc Phù Nam “Bảy thế kỷ tiếp theo đó là một thời kỳ rất quan trọng đối với lịch sử Nam Đông Dương cũng như đối với nền văn hóa khảo cổ của vùng
hạ lưu Sông Cửu Long” với sự hiện diện của người Khmer – lớp cư dân thứ hai trên vùng đất này [33, tr.82] Tuy nhiên, từ thế kỷ XIII trở đi, hầu như không có tư liệu nào ghi chép về quá trình cũng như kết quả khai phá, mở mang của họ tại đây
“…Nam Bộ xưa, trước khi có lưu dân Việt Nam đến khẩn hoang lập ấp, là đất hoang vắng Dân Khmer còn tập trung và khai thác các vùng đất màu mỡ quanh Biển Hồ, chưa đủ số đông và công sức để khai hoang miền Nam Thủy Chân Lạp, đặc biệt từ bờ Tiền Giang tới lưu vực sông Đồng Nai” [33, tr.215] Điều đó cho thấy
từ thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XVII, nơi đây là một vùng đất hoang vu, dân cư hết
Trang 20sức thưa thớt
Cho đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, xuất hiện lớp cư dân tiếp theo tới sinh sống và làm chủ vùng đất này đến tận ngày nay – chính là cư dân người Việt Lưu dân Việt tới đất này là để khẩn hoang và thành lập thôn ấp mới, và cùng với họ còn có lưu dân của những tộc người khác đến định cư ở vùng này
Lấy cột mốc thế kỷ XVII là nói đến đợt di dân khẩn hoang lớn đầu tiên chính thức của người Việt trong lịch sử khi Chúa Nguyễn Phúc Chu cử thống suất Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược và xây dựng chính quyền tại đây Còn một số tài liệu khác đã ghi chép lại những đợt Nam tiến trước đó, lưu dân Việt Nam đã tới khẩn hoang lập ấp trước 1698 lâu rồi Và, một trong những khu vực đầu tiên mà người Việt đặt chân đến là vùng Sài Gòn, Đồng Nai Về mặt chính trị, chúa Nguyễn đã đánh dấu sự có mặt của mình ở vùng này bằng sự kiện lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn và lập đồn dinh ở Sài Gòn từ năm 1623
Các nghiên cứu lịch sử khác cũng đề cập đến sự có mặt của người Việt ở vùng Gia Định – Sài Gòn từ thế kỷ XVI, XVII: “Cũng như ở Đồng Nai, lưu dân người Việt đến định cư và khai phá vùng Sài Gòn (Bến Nghé) từ rất sớm Theo các nguồn sử liệu phương Tây thì từ đầu thế kỷ XVII, người Việt đã đến định cư và khai phá vùng này Họ cùng với cư dân địa phương – người Khmer, khai phá các vùng đất cao như khu vực kéo dài từ Chợ Quán đến gò Cây Mai, chùa Gò (Phụng Sơn tự), khu vực từ Tân Định, Bà Chiểu, Gò Vấp…kéo dài đến Hóc Môn và dọc theo trục lộ đi về phía Tây Ninh” [56, tr.48]
Còn sự kiện năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, thiết lập nền hành chính đầu tiên tại vùng đất này, lập phủ Gia Định, gồm hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, với hai huyện Phước Long, Tân Bình đã đánh dấu sự hiện diện một cách chính thức của nhà nước Việt Nam tại Nam Bộ
Người Việt đã tạo nên một biến đổi lớn lao trong lịch sử của vùng đất phương Nam này, họ là ai?
Những lưu dân người Việt đến định cư ở vùng đất này dù xuất thân là thành phần xã hội nào ở quê cha đất tổ thì vào đến đây đều có một mục đích chung là làm
Trang 21ăn sinh sống, để mong cầu một cuộc sống ấm no hơn Họ đã cùng nhau tập hợp lại, cùng nhau khai mở đất đai, lập ấp khẩn hoang Họ nhanh chóng thích ứng với vùng đất mới, vận dụng vốn kinh nghiệm trồng lúa nước và hoa màu của nơi quê cha đất
tổ đồng thời tiếp thu các yếu tố văn hoá của những tộc người cùng cộng cư để xây dựng và phát triển này cho đến ngày hôm nay
Khởi nghiệp ở vùng đất mới đầy khó khăn, gian khổ, người Việt ở Nam Bộ càng thích ứng với hoàn cảnh, phát huy tính sáng tạo và năng động Họ vẫn mang trong mình sự chân chất của con người Việt Nam, cộng thêm tính khoáng đạt, trọng nghĩa, khinh tài, khẳng khái, bao dung và nghĩa tình Họ giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và cũng đồng thời không ngại tiếp nhận cái mới và nhạy bén với cái mới
Họ đã có mặt sớm nhất và đông đúc nhất ở Sài Gòn – Gia Định từ trước thế
kỷ XVII, đến năm 1623 dân số ở vùng này có khoảng 10.000 người [33, tr.219] Một số nhà nghiên cứu cho rằng những lưu dân người Việt cả vùng Đồng Nai có khoảng 20 – 25 vạn vào thời điểm Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đặt ra phủ Gia Định Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê Việt Nam năm 2009 (thống kê định kỳ
10 năm), dân số Nam Bộ là khoảng 31.204.258 người, trong đó có 28.969.341 người Việt, chiếm 92.84% dân số Nam Bộ Riêng TPHCM có khoảng 7.123.340 người, trong đó người Việt là 6.675.511, chiếm 93.71% dân số (Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê Việt Nam cung cấp ngày 9/9/2014) [Phụ lục 2]
Tiến trình lịch sử Nam Bộ có những đặc điểm riêng Xã hội Nam Bộ được hình thành sớm nhất là từ cuối thế kỷ XVI cho đến giữa thế kỷ XIX, chưa được bao lâu so với lịch sử dân tộc, lại là nơi đầu tiên chịu sự thống trị của thực dân Pháp Do hoàn cảnh lịch sử như vậy mà Nam Bộ trở thành nơi tiếp xúc sớm nhất với văn hóa phương Tây một cách “cưỡng bức”, mạnh mẽ từ năm 1959 đến 1945, rồi tiếp tục từ năm 1954 đến 1975
Trong suốt thời kỳ bị Pháp đô hộ, bị mất chủ quyền dân tộc nhưng con người
và văn hóa Nam Bộ đã không đóng kín, co cụm Người Việt ở Nam Bộ vừa kháng chiến chống Pháp để giành độc lập, tự do, mặt khác vừa tiếp thu có chọn lọc văn hóa Pháp để làm giàu cho nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, làm cho văn hóa dân tộc
Trang 22biến đổi mạnh mẽ và tự cường Xã hội Nam Bộ lại là nơi đầu tiên chuyển mình từ một xã hội phong kiến bước sang một xã hội hiện đại, bên cạnh những giá trị của văn hóa cổ truyền của dân tộc, xuất hiện nhiều giá trị văn hóa mới như ý thức hệ Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa văn minh đô thị, chữ quốc ngữ, chế
độ giáo dục mới theo Tây học, đội ngũ trí thức mới, hình thành nhiều ngành khoa học, hình thức văn hóa nghệ thuật phong phú, mới mẻ như tiểu thuyết, thơ mới, kịch nghệ, phim ảnh,…
Sau khi thống nhất nước nhà, người Việt ở Nam Bộ lại thể hiện tư duy nhanh nhạy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
Như vậy, với những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hóa Nam Bộ mang những đặc điểm riêng biệt Người Việt ở Nam Bộ trong hơn 3 thế kỷ qua luôn chiếm ưu thế, là chủ thể văn hóa và đóng vai trò quyết định sự hình thành và phát triển vùng đất phương Nam Cùng với quá trình Nam tiến, khai hoang
mở cõi của lưu dân người Việt là tộc người chiếm số lượng đông nhất tại đây, còn
có các tộc người khác, Nam Bộ đã trở thành vùng đất đa tộc người, tạo nên một hệ quả là sự giao thoa văn hóa tất yếu giữa các dân tộc cùng cộng cư sinh sống Trong quá trình tiếp xúc văn hóa Đông – Tây, người Việt ở Nam Bộ đã tạo cho nền văn hóa của mình những nét riêng độc đáo
1.1.3 Về không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ
Trong lịch sử khẩn hoang vùng Nam Bộ, người Việt với vốn kinh nghiệm trồng lúa nước của mình đã cùng với các cộng đồng dân tộc khác như Chăm, Hoa, Khmer…khai hoang, lập ấp, trồng trọt, mở rộng giao thương, hình thành đô thị và đồng thời tại nơi đây cũng dần hình thành nên một sắc thái văn hóa riêng biệt của Nam Bộ Văn hóa của người Việt ở Nam Bộ là vốn văn hóa được đúc kết từ hàng ngàn năm ở Bắc Bộ, theo đoàn di dân qua miền Trung vào đến Nam Bộ, thích ứng với điều kiện tự nhiên và xã hội ở vùng đất mới, dung hợp tự nhiên với văn hóa của các tộc người cùng cộng cư và cả văn hóa phương Tây để tạo ra “những sắc thái văn hóa tiêu biểu, những “tính cách” riêng của mình” [72, tr.265] Trong luận văn, chúng tôi nghiên cứu một KGVH Việt trong khoảng giữa thế kỷ XX trở về trước, là
Trang 23giai đoạn mà không gian văn hóa Việt với đặc trưng và những nét riêng đã được định hình ở Nam Bộ
Trước hết là không gian sinh tồn của người Việt ở Nam Bộ, điều kiện thiên nhiên Nam Bộ với những đặc điểm riêng đã có những tác động rõ rệt tới đời sống văn hoá vật chất, đời sống văn hoá tinh thần cũng như hình thành nên tính cách của người Nam Bộ
Người nông dân ở Nam Bộ sống trong điều kiện đất rộng người thưa, tài nguyên phong phú, dư dật Họ kế thừa kinh nghiệm trồng lúa nước ở cội nguồn sông Hồng nhưng điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện tự nhiên tại đây nên phương thức canh tác truyền thống của họ là khai hoang, quảng canh là chính Họ còn thu lượm được nhiều nguồn lợi khác như tôm, cá, chim, thú rừng, mật ong…nên ở đây có câu “đất làm chơi ăn thật” là vậy [71, tr.682] Lúa gạo làm ra nhiều, họ lại đem bán, chỉ tích trữ một ít để dùng Gạo sớm trở thành hàng hóa, không chỉ cung cấp đủ trong vùng, qua cảng Sài Gòn lại còn đi khắp nơi trên thế giới Đó là một trong những yếu tố làm kinh tế hàng hóa ở Nam Bộ phát triển từ rất sớm
Môi trường sông nước là một trong những đặc trưng của Nam Bộ, tạo nên một mạng lưới kênh rạch, sông ngòi chằng chịt Làng Nam Bộ tỏa dọc theo các dòng kênh, không “khép kín” như làng Bắc Bộ mà thoáng, “mở”, có xu hướng hướng ngoại nhiều hơn, dần dần hình thành nên những khu vực buôn bán sầm uất, cộng với việc sản xuất hàng hóa phát triển Từ rất sớm, Nam Bộ đã xuất hiện những trung tâm thương mại và giao dịch nổi tiếng như thương cảng Cù lao Phố (Biên Hòa) hay thương cảng Sài Gòn… Cùng với điều kiện tự nhiên, sinh hoạt làng xã cởi
mở, ít bảo thủ đã tạo nên tính cách của người Nam Bộ thoáng, mở, năng động và dễ dàng tiếp nhận cái mới
Về đời sống vật chất, cách ăn, mặc, ở, đi lại của người Việt ở Nam Bộ kế
thừa nét chung truyền thống của người Việt ở Bắc và Trung Bộ nhưng cũng có những sắc thái riêng biệt
Cơ cấu bữa ăn của người Việt ở Nam Bộ cũng là cơm + rau + cá như ở
những vùng miền khác, “tuy nhiên, do điều kiện địa lý đặc thù và giao lưu tiếp biến
Trang 24văn hoá, cơ cấu bữa ăn thông thường của người Việt nơi đây đã được điều chỉnh
thành cơm - canh - rau - tôm cá Để cân bằng với khí hậu nóng nực, người Việt nơi
đây rất chuộng ăn canh, và do tiếp biến các món canh chua của người Khmer, nên
các món canh chua Nam Bộ cực kỳ phong phú Do nguồn thuỷ sản dồi dào, thành phần thuỷ sản như cá, tôm, cua, rùa, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, lươn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu bữa ăn Cũng do môi trường lắm tôm cá, nên các loại mắm nơi
đây phong phú hơn hẳn các vùng miền khác: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm tôm chua, mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc, mắm nêm Cách chế biến cũng rất đa dạng và đặc sắc: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm, bún mắm ” [98] Bữa ăn của người Việt ở Nam Bộ thể hiện sự phong phú, dồi dào
về sản vật trong vùng nhưng lại ít câu nệ, cầu kỳ trong khâu chế biến món ăn, họ chú trọng đến ăn no và ăn thoải mái
Trong ăn mặc, “người Việt ở Nam Bộ nhất là ở đô thị sẵn sàng tiếp nhận sự
đa dạng, “chung sống” nhiều kiểu cách, tuy nhiên vẫn giữ nét truyền thống độc đáo của mình” [71, tr.686] Đó là trang phục áo bà ba – bộ trang phục đã đồng hành cùng người Việt ở phương Nam từ những ngày đầu mở cõi, chân phương, giản dị và rất tiện lợi trong lao động và trong sinh hoạt hàng ngày Bộ bà ba đi cùng chiếc khăn rằn còn được xem là một biểu hiện của giao lưu văn hóa trong trang phục của dân tộc Việt – Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Tiếp đến là chiếc áo dài truyền thống có nguồn gốc từ miền Bắc, người Việt ở Nam Bộ đã có những cải tiến riêng biệt như xẻ tà cao hơn, vạt áo ngắn hơn, áo được may ôm sát thân người với những đường cắt cúp táo bạo hơn… Khi người Pháp vào, họ nhanh chóng tiếp thu lối ăn mặc theo âu phục, đa dạng nhưng nhìn chung vẫn giữ được nét kín đáo và lịch sự
Nhà ở của người Việt ở Nam Bộ thường cất dọc theo ven lộ, nhà sàn thì cất
dọc theo kinh rạch Đa số nhà cất theo kiểu nhà ba gian, hai chái, bằng tre nứa khá đơn giản “Do cư trú tản dọc theo kênh nên mô hình ưu thích về ngôi nhà là “tiền viên, hậu điền” (trước có vườn, sau có ruộng)” [86, tr.234] Trừ những nhà giàu, có điều kiện thì xây nhà cao lớn, kiên cố, chạm trổ cầu kỳ, hoặc giai đoạn sau này nhiều ngôi nhà thể hiện sự lai tạp kiến trúc của phương Tây, nhất là ở đô thị
Về phương tiện đi lại, Nam Bộ là xứ sông nước nên người Việt cũng như các
Trang 25tộc người khác từ xưa nay “sắm xuồng là để làm chân”, họ sử dụng ghe thuyền đi lại là chủ yếu và cả làm nhà ở Đường bộ ngày càng phát triển, người Việt ở Nam
Bộ đi lại bằng nhiều loại phương tiện, trên bộ có đủ các loại xe ngựa, thổ mộ, xe bò,
xe kéo, xe đạp, xe gắn máy, xe tải…
Về cách thức làm ăn của người Việt ở Nam Bộ cũng thể hiện tính cách sôi
nổi, mạnh bạo, dám nghĩ, dám làm của họ Đây cũng là một phần kết quả của nền kinh tế hàng hóa phát triển từ rất sớm ở Nam Bộ như đã đề cập ở trên Họ thích nghi rất nhanh với mọi điều kiện hoàn cảnh, từ đó nhanh chóng tiếp cận với sự canh tân, cải tiến
Nghề thủ công truyền thống ở Nam Bộ khá phát triển, tập trung nhiều ở đô thị và biểu hiện rõ rệt sự giao lưu, kế thừa tinh hoa nghề của các nền văn hóa khác
Về đời sống tinh thần, người Việt ở Nam Bộ đã tạo ra một đời sống tinh thần
vô cùng phong phú với những sắc thái riêng biệt, là kết quả của quá trình giao thoa giữa văn hóa truyền thống và các yếu tố văn hóa ngoại lai
Nam Bộ là nơi hội tụ phong phú và phức tạp nhất về tín ngưỡng, tôn giáo ở
Việt Nam Đó là sự đan xen, cùng tồn tại của các tôn giáo trên thế giới như Phật giáo, Hindu giáo, Thiên chúa giáo…với các tín ngưỡng dân gian như tục thờ tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ mẫu Nam Bộ cũng là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo và tín ngưỡng khác như đạo Hoà Hảo, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Dừa, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa…Người Việt nơi đây vẫn giữ tục thờ Thành Hoàng nhưng có thay đổi ít nhiều do tồn tại trong môi trường văn hóa mới Bên cạnh đó là sự giao lưu, tiếp biến
về tôn giáo, tín ngưỡng với các tộc người khác như Hoa (thờ mẫu, thờ ông địa, thờ Quan Công…) và Khmer (thờ Neak Tà)…
Người Việt Nam Bộ vẫn giữ phong tục của người Việt ở Bắc và Trung Bộ
như tổ chức giỗ, lễ tết, tục ăn trầu, phong tục cưới hỏi… Lễ hội của người Việt ở Nam Bộ cũng rất đa dạng: Phổ biến có lễ hội Kỳ yên, lễ hội Nghinh Ông trong đời
sống văn hoá và tâm linh của cư dân vùng ven biển Lễ hội tưởng nhớ các danh nhân có công mở cõi như Nguyễn Hữu Kính, Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu),
Lê Văn Duyệt, Trần Thượng Xuyên và các anh hùng dân tộc Lễ hội tín ngưỡng -
tôn giáo có lễ hội chùa Bà Đen; lễ vía Bà Chúa Xứ, các lễ tết cổ truyền như tết
Trang 26Nguyên đán, tết Đoan ngọ
Kho tàng văn học, văn nghệ dân gian của người Việt Nam bộ cũng vô cùng phong phú “Đó là các truyện dân gian phản ánh sự nghiệp khai phá đất đai, gắn liền với những danh thắng, di tích và nhân vật lịch sử Đó là kho tàng ca dao và dân
ca với các điệu hò, điệu lý, các bài hát huê tình, hát ru em, hát đồng dao, hát sắc
bùa, hát thài, hát rối, hát vọng cổ, hát tài tử, v.v Đặc biệt, hát vọng cổ và hát tài tử
rất được người Nam Bộ ưa thích Ngoài ra, Nam Bộ còn có một số thể loại văn học
dân gian đặc sắc khác là nói vè, nói tuồng, nói thơ, truyện thơ Đây là loại hình tự sự
dân gian khá phổ biến, nó thông tin nhanh những nỗi niềm, tâm sự” [98] Các loại
hình diễn xướng chuyên nghiệp có Hát Bội từ miền Bắc, miền Trung vào và phát triển mạnh mẽ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX Rồi thể loại Đờn ca tài tử, nghệ thuật cải
lương là loại hình sân khấu mới ra đời tại Nam Bộ vào đầu thế kỷ XXthể hiện được
tiếng nói nội tâm của người Việt ở phương Nam
Và nói đến văn hóa tinh thần Nam Bộ không thể không nói đến nền văn hoá
bác học của người Việt ở Nam Bộ “Từ giữa thế kỷ XVIII, Gia Định đã có những
trường học nổi tiếng như trường Hòa Hưng của nhà giáo ưu tú Võ Trường Toản Người thầy giáo lớn của Nam Bộ đã đào tạo được nhiều người tài danh như Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Tòng Châu” [84, tr.275] Chữ Quốc ngữ xuất hiện đầu tiên ở Sài Gòn và “nhanh chóng trở thành công cụ chuyển tải văn hóa ở Nam Bộ, thay cho chữ Nôm, tầng lớp trí thức mới xuất hiện và chính
họ góp phần thúc đẩy quá trình thay đổi chữ viết của văn hóa Nam Bộ” [84, 276] Báo chí cũng xuất hiện đầu tiên tại Sài Gòn với những tên tuổi như Sương Nguyệt Anh (báo Nữ giới chung), Lê Hoàng Mưu (báo Lục tỉnh tân văn), Nguyễn
tr.275-Dư Hoài (báo Nông cổ mín đàm)…họ có công trong việc phát triển văn học viết bằng chữ Quốc ngữ đồng thời đã dùng văn chương báo chí như một vũ khí để thức tỉnh ý thức dân tộc trong nhân dân, đấu tranh đòi giải phóng dân tộc
1.1.4 Đặc trưng của không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ:
Những biểu hiện của KGVH Việt ở Nam Bộ là vô cùng phong phú Để bảo tồn và phát triển KGVH của người Việt ở Nam Bộ trước hết phải tiến hành từ việc nghiên cứu đặc trưng của các yếu tố giúp nhận biết văn hóa của tộc người Việt ở
Trang 27Nam Bộ
Đặc trưng cơ bản của không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ là sự kế thừa văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc và nét riêng độc đáo được hình thành trong quá trình thích nghi với điều kiện tự nhiên mà đặc điểm nổi trội là vùng sông nước và với điều kiện xã hội là sự giao lưu, tiếp biến của văn hóa Việt với văn hóa các dân tộc cùng cộng cư và với văn hóa Đông –Tây
Từ thế kỷ XIX, trong Gia Định thành thông chí Trịnh Hoài Đức đã viết
“người Việt ta theo tục cũ Giao Chỉ” Từ cách phục trang của quan chức, kẻ sĩ, trai gái cho đến phong tục lễ tết không khác miền Bắc và miền Trung Như vậy, Trịnh Hoài Đức đã khẳng định người Việt ở phương Nam vẫn giữ được phong tục truyền thống của vùng đất cội nguồn
Dù trải qua nhiều biến cố chính trị và xã hội vẫn không làm mất đi hay mờ nhạt ý thức cội nguồn, cả về phương diện văn hóa trong tâm thức người Việt ở Nam
Bộ Nhìn chung, văn hóa của người Việt tại đây là “sự tiếp nối văn hóa cội nguồn Sông Hồng ở một vùng không gian mới” Văn hóa Việt ở Nam Bộ là sự giao thoa văn hóa, sự uyển chuyển, linh động, phóng khoáng, bao dung của văn hóa Việt và
sự tái tạo các giá trị văn hóa thu nạp được cho phù hợp với nhu cầu của người Việt trên vùng đất mới Văn hóa người Việt ở Nam Bộ trước hết đó là văn hoá truyền thống trong tiềm thức Và đây chính là đặc trưng cơ bản đầu tiên của KGVH Việt ở Nam Bộ
Đặc điểm tự nhiên nổi trội của Nam Bộ là vùng sông nước Yếu tố sông nước chi phối đời sống vật chất của cư dân vùng này: cuộc sống của họ gắn bó mật thiết với sông nước, từ đó hình thành nên những chợ trên sông gọi là chợ nổi, nghề buôn bán đường sông được gọi là nghề thương hồ, cảng thị ra đời làm cho kinh tế vùng Nam Bộ phát triển không ngừng Bữa ăn của người Việt ở đây cũng theo cơ cấu truyền thống cơm – rau – cá của người Việt ở Bắc và Trung Bộ, nhưng món ăn từ thuỷ sản rất đa dạng, đặc biệt là các loại “mắm” “Đất Gia Định nhiều sông kinh, cù lao, bãi cát, nên trong 10 người đã có 9 người giỏi nghề lội bơi, chèo thuyền, lại ưa
ăn mắm…” [30, tr.185] Yếu tố sông nước còn để lại những dấu ấn trong đời sống tinh thần của họ khi trở thành môi trường sản sinh ra nguồn dân ca, hò, vè vô cùng
Trang 28phong phú và đặc sắc
Tiếp đến, đặc điểm xã hội nổi bật của KGVH Việt ở Nam Bộ là sự giao lưu, tiếp biến của văn hóa Việt với văn hóa các dân tộc cùng cộng cư, với văn hóa Đông –Tây và kể cả sự liên hệ với những nền văn hóa bản địa xa xưa Ở Bắc Bộ và Trung
Bộ đều có hiện tượng tiếp biến văn hoá của các tộc người khác nhau, nhưng ở Nam
Bộ quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt với các nền văn hóa khác diễn ra sâu sắc, nhanh và mạnh mẽ Đến nỗi “hệ quả là hầu như không có hiện tượng văn hoá nào ở nơi đây còn nguyên chất thuần Việt mà luôn có bóng dáng của những nền văn hoá khác” [98]
Tóm lại, hai đặc điểm tự nhiên và xã hội của vùng đất Nam Bộ đã quy định đặc trưng cơ bản của KGVH Việt ở Nam Bộ, đó là sự kế thừa văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc và nét riêng độc đáo của người Việt ở Nam Bộ hình thành trong quá trình thích nghi với điều kiện sống nơi đây
Trong luận văn, đặc trưng trên là cơ sở trong quá trình chúng tôi phân tích, nhận định các yếu tố thuộc KGVH Việt ở Nam Bộ mà Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh đang bảo tồn và phát triển
1.2 Tổng quan về Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
“Bảo tàng” là một thiết chế văn hóa và có khá nhiều định nghĩa về nó Từ năm
1946, khi Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (The Internatinal Council of Museum gọi tắt
là ICOM) được thành lập thì các nhà bảo tàng học quốc tế đã thống nhất một định nghĩa chung về bảo tàng Nhiều năm sau, ICOM đã liên tục điều chỉnh định nghĩa
“bảo tàng” cho phù hợp với sựphát triển của xã hội Đầu năm 1995, ICOM đã đưa
ra định nghĩa “bảo tàng” được cho là chính thống trong khoảng 10 năm từ năm
1999 đến 2004: “Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận hoạt động lâu dài phục vụ
Trang 29cho xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa cho công chúng đến xem, có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, giới thiệu và trưng bày các bằng chứng vật chất về con người và môi trường sống của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức” [58, tr.14]
Định nghĩa trên cho thấy bảo tàng là một thiết chế văn hóa song hành cùng với sự phát triển của xã hội Khác với những tổ chức khác, bảo tàng có được vị trí hết sức quan trọng trong cộng đồng bởi chức năng, nhiệm vụ phản ánh sự hình thành và phát triển của con người và xã hội và bởi việc phục vụ cộng đồng không vì mục tiêu lợi nhuận Mặc dù trong định nghĩa “bảo tàng” trên của ICOM vẫn chưa thật rõ nét nội dung và ý nghĩa của bảo tàng Bởi bảo tàng không chỉ đơn thuần chỉ trưng bày giới thiệu “bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người, môi trường sống của con người” mà qua đó còn thể hiện những giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng Cho đến khi UNESCO chủ trương chú trọng việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, quốc gia và nhân loại thì định nghĩa “bảo tàng” cũng được ICOM điều chỉnh Và định nghĩa về bảo tàng gần đây nhất trong Điều lệ sửa đổi được thông qua tại Đại hội đồng ICOM lần thứ XX họp tại Seoul tháng 10/2004 như sau: “Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên mở cửa cho công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường sống của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức” [58, tr.18]
Định nghĩa trên được tham khảo và kế thừa để xây dựng định nghĩa “bảo tàng” trong Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam năm 2001 ở Điều 47 “Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hoá của nhân dân” Sau
đó định nghĩa “bảo tàng” của Luật Di sản Văn hóa Việt Nam cũng được điều chỉnh
và định nghĩa mới nhất năm 2009 quy định ở Khoản 16, Điều 4 như sau: “Bảo tàng
là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham
Trang 30quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng.” [55, tr.35].
Định nghĩa trên xác định bảo tàng là một thiết chế văn hóa, phi lợi nhuận, hoạt động vì mục tiêu hướng đến phục vụ cộng đồng và cũng là nơi cộng đồng tìm đến để nghiên cứu, tìm hiểu về những giá trị di sản văn hóa của cộng đồng mình Nhiệm vụ chuyên môn cụ thể của bảo tàng được qui định ở Điều 48, Luật Di sản Văn hóa (bổ sung năm 2009) gồm: Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng bày các sưu tập hiện vật; Nghiên cứu khoa học phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; Tổ chức phát huy giá trị di sản văn hoá phục vụ xã hội; Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của bảo tàng;…
Như vậy, có thể thấy là không phân biệt về loại hình, bảo tàng luôn hoạt động vì lợi ích của con người và lợi ích chung của toàn xã hội.Với hai chức năng cơ bản là nghiên cứu khoa học và tuyên truyền, giáo dục khoa học, bảo tàng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phục vụ xã hội
1.3.1.2 Một số khái niệm có liên quan
Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động với chức năng của một bảo tàng khảo cứu địa phương, do đó, chúng tôi nêu rõ khái niệm “bảo tàng khảo cứu địa phương” để cho thấy vai trò của Bảo tàng đối với việc phản ánh, bảo tồn lịch sử tự nhiên và xã hội của địa phương Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh và Nam Bộ – đồng thời cũng là bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ nói chung:
“Bảo tàng khảo cứu địa phương”: Theo chuyên ngành và các sưu tập có
tính đặc thù có thể phân loại bảo tàng thành: bảo tàng tổng hợp, bảo tàng lịch sử, bảo tàng khoa học và kỹ thuật… Trong đó, bảo tàng tổng hợp khảo cứu địa phương
“có những sưu tập của một hoặc nhiều chủ đề, là tập hợp của một số bảo tàng chuyên ngành, ra đời sớm, có quy mô lớn với phạm vi không gian là vùng và miền
Chức năng quan trọng bậc nhất của loại hình bảo tàng này là phản ánh lịch sử
tự nhiên và con người, truyền thống và tinh thần sáng tạo của vùng đất đó những chủ đề khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau” [58, tr.44]
Vì đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò bảo tồn và phát triển không gian văn hóa Việt ở Nam Bộ của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, do đó chúng tôi
Trang 31muốn nêu rõ định nghĩa các từ dùng “bảo tồn” và “phát triển” theo nghĩa thông thường:
“Bảo tồn”: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam
(1998), “bảo tồn” có nghĩa là “gìn giữ (cái có ý nghĩa lịch sử thuộc tài sản chung),
không để bị mất mát, tổn thất”
“Phát triển”: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam
(1998), từ “phát triển” có nghĩa là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao hơn, đơn giản đến phức tạp”
“Hiện vật bảo tàng”: “Hiện vật bảo tàng là nguồn gốc đầu tiên của tri thức,
mà nhờ có nguồn gốc đầu tiên của tri thức ấy, bảo tàng mới trở thành cơ quan nghiên cứu khoa học, mới có khả năng trở thành cơ sở dữ liệu phục vụ cho các ngành khoa học, tổ chức kinh tế, xã hội, cơ quan văn hóa khác [58, tr.13]
Hiện vật chứa đựng ba tính chất: tính thông tin, tính biểu đạt, tính cuốn hút/ hấp dẫn và bốn giá trị: giá trị khoa học, giá trị lịch sử, giá trị ký ức, giá trị thẩm mỹ
nghệ thuật Hiện vật là những vật chất minh chứng cho tiến trình lịch sử tự nhiên và
xã hội loài người Hiện vật là trung tâm của mọi hoạt động của bảo tàng Tùy vào chức năng và loại hình mà mỗi Bảo tàng có kế hoạch và mục đích sưu tầm hiện vật khác nhau Những giá trị thể hiện trên hiện vật giúp ích nhiều cho công tác nghiên cứu khoa học Ngoài ra, qua giá trị và nội dung hiện vật cũng làm nổi bật tính chất
và đặc trưng của từng bảo tàng
“Sưu tập”: “Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia…được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội.” [55, tr.14]
Sưu tập là cơ sở nền tảng để hình thành một bảo tàng Mỗi bảo tàng trong quá trình hoạt động đều đặt ra mục tiêu xây dựng sưu tập riêng, mang tính đặc thù cho mình Dựa vào sưu tập hiện vật có thể xác định được loại hình, quy mô và tính chất của bảo tàng Nó cũng phản ánh tính hiệu quả và chiến lược phát triển rõ ràng của một bảo tàng Và “bảo tàng tạo điều kiện cho con người khám phá các sưu tập
để mang đến cảm xúc, để học tập và để thưởng thức” Với các sưu tập của
Trang 32mình,“bảo tàng là thước đo sự giàu có về di sản văn hóa và khoa học nhân văn của mỗi quốc gia, dân tộc” [58, tr.23].
Chức năng xã hội của Bảo tàng
“Chức năng xã hội của bảo tàng chính là vai trò và ý nghĩa xã hội của bảo tàng, là kết quả hoạt động của bảo tàng đối với xã hội, được xác định thông qua kết quả tác động vào xã hội của bảo tàng” [58, tr.34]
Có rất nhiều quan điểm về chức năng của Bảo tàng Trong cuốn Cơ sở Bảo tàng học Trung Quốc, tác giả Vương Hoằng Quân cho rằng “chức năng cơ bản của bảo tàng là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, giáo dục” [67, tr.77]
Hội nghị ICOM năm 2005 đã ấn định những nguyên tắc cơ bản cho bảo tàng trong đó có việc phải đảm nhận ba chức năng: “Chức năng nghiên cứu khoa học, chức năng giáo dục, chức năng bảo tồn và thưởng thức Còn ở Việt Nam, Luật Di sản Văn hóa đã quy định rõ bảo tàng có: Chức năng nghiên cứu khoa học, chức năng giáo dụctuyên truyền, chức năng phục vụ tham quan hưởng thụ văn hóa của nhân dân” [42, tr.127]
Theo TS Lê Thị Minh Lý, bảo tàng có “hai chức năng cơ bản là nghiên cứu khoa học, chức năng tuyên truyền, giáo dục khoa học Hai chức năng này có quan
hệ mật thiết với nhau” [58, tr.33]
Đề cập đến chức năng xã hội của Bảo tàng, chúng tôi đồng tình với quan điểm của TS Lê Thị Minh Lý: Bảo tàng đảm nhiệm một số chức năng và nhiệm vụ nhưng chức năng xã hội cơ bản của bảo tàng bao gồm: chức năng nghiên cứu khoa học và chức năng tuyên truyền, giáo dục khoa học
Chức năng nghiên cứu khoa học là một trong những chức năng quan trọng nhất, nó có vai trò, ý nghĩa to lớn đối với bảo tàng đồng thời là tiền đề, là cơ sở cho mọi hoạt động của bảo tàng Thể hiện ở sự nhận biết những tri thức mới trên cơ sở nghiên cứu các sưu tập hiện vật bảo tàng; nghiên cứu bộ môn khoa học tương ứng với bảo tàng và nghiên cứu lý luận bảo tàng học Công tác nghiên cứu khoa học là
cơ sở của tất cả các hoạt động của bảo tàng từ sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và giáo dục khoa học, khai thác kho bảo tàng và hội thảo khoa học…đều trên cơ
sở nghiên cứu khoa học” Và mọi hoạt động nghiên cứu khoa học đều xoay quanh
Trang 33hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc có giá trị bảo tàng [42, tr.132]
Chức năng giáo dục được công nhận như một chức năng chính của bảo tàng
từ khi xuất hiện các bảo tàng cho công chúng [58, tr.36] Bảo tàng thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục “thông qua các hình thức hoạt động của mình nhằm để chuyển giao có mục đích rõ ràng các thông tin, những tri thức khoa học, lịch sử, văn hóa giúp cho việc hình thành thế giới quan, giáo dục tư tưởng đạo đức, thẩm mỹ cho con người phát triển toàn diện” Bảo tàng thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục có quan hệ mật thiết với chức năng nghiên cứu khoa học [42, tr.137]
1.3.2 Vài nét về Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.2.1 Lịch sử hình thành
Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là BTTPHCM) trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh có tiền thân là Nhà Bảo tàng Cách mạng Thành phố được thành lập theo Quyết định số 172/QĐ-UB ngày 12/8/1978 với nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản và giới thiệu các tư liệu, hình ảnh về lịch sử cách mạng Việt Nam, gồm có phần chung của cả nước và của Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là TPHCM) Sau 20 năm hoạt động, nhân dịp kỷ niệm 300 năm Sài Gòn – TPHCM (1968 - 1998), đứng trước yêu cầu là Thành phố phải có một bảo tàng tổng hợp khảo cứu địa phương “trưng bày toàn diện về lịch sử
tự nhiên và lịch sử xã hội nhân văn của Sài Gòn – TPHCM” (Theo Bà Lê Tú Cẩm –
Trích Biên bản họp Hội đồng Khoa học mở rộng ngày 14/8/1998 về việc đổi tên Bảo tàng Cách mạng TPHCM) [9], Nhà Bảo tàng Cách mạng đã được chỉnh lý nội
dung trưng bày và chính thức đổi tên thành BTTPHCM trực thuộc Sở Văn hóa và Thông tin Thành phố theo Quyết định số 7606/QĐ-UB-VX ngày 13/12/1999
Giai đoạn đầu tiến hành việc đổi tên Bảo tàng cũng có sự cân nhắc, băn
khoăn và trăn trở từ các nhà nghiên cứu khoa học và lãnh đạo Thành phố Như đồng
chí Võ Văn Kiệt – Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong cuộc họp Hội đồng Khoa học mở rộng ngày 14/8/1998 về việc đổi tên Bảo tàng Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Bảo tàng lịch sử TPHCM sẽ phản ánh lịch sử 300
năm Mà lịch sử thì liên tục, không kết thúc Nói để phát triển Cách mạng phải gắn
Trang 34liền với truyền thống và phát triển Một đất nước hiện đại, TPHCM cũng rất hiện đại, không sợ mất giai đoạn chiến đấu cách mạng Cũng không phải lo lắng nếu tiến lên bảo tàng lịch sử thì sẽ mất ý nghĩa cách mạng mà đây là có sự liên quan, kế thừa
và liên tục phát triển Lịch sử ông cha ta khai phá mảnh đất này khốn khổ ra sao, ông cha ta chiến đấu gian khổ ra sao để giải phóng dân tộc, phải mày mò gian khổ
ra sao để tìm kiếm con đường đi lên…tất cả đều có ý nghĩa của một cuộc chiến đấu liên tục Ta đối diện với tất cả gian khó để vượt qua, những sự kiện đó không thể không có trong bảo tàng lịch sử này Làm nổi bật giai đoạn cách mạng trong lịch sử chung Khách nước ngoài xem bảo tàng để hiểu lịch sử TPHCM, BTTPHCM phải không giống các bảo tàng khác” [9]
Đổi tên và phát triển một bảo tàng chuyên đề về cách mạng trở thành một bảo tàng khảo cứu địa phương trong thời điểm “nhạy cảm”, cả nước nhất là Sài Gòn – TPHCM vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến không bao lâu là một việc làm đột phá và mới mẻ Nhưng xuất phát từ yêu cầu thực tế, BTTPHCM đã được xây dựng trên nền tảng Nhà Bảo tàng Cách mạng Thành phố và là bảo tàng khảo cứu địa phương duy nhất ở TPHCM
Không đơn thuần là việc thay đổi tên gọi, nội dung trưng bày và hoạt động của BT được nghiên cứu để phát triển một cách sâu sắc và toàn diện Từ một bảo tàng chuyên đề trưng bày và giới thiệu về hai cuộc kháng chiến của nhân dân Thành phố được mở rộng thành một bảo tàng tổng hợp khảo cứu địa phương Để đáp ứng cho yêu cầu mới, BTTPHCM chú trọng chuyên môn hóa, hoàn chỉnh và nâng cao 6 khâu hoạt động của Bảo tàng:
1 Công tác nghiên cứu khoa học
2 Công tác sưu tầm hiện vật bảo tàng
3 Công tác kiểm kê hiện vật bảo tàng
4 Công tác tổ chức kho – bảo quản hiện vật bảo tàng
5 Công tác trưng bày hiện vật bảo tàng
6 Công tác giáo dục tuyên truyền
Sự phát triển của BTTPHCM từ năm 1999 đến nay biểu hiện rõ rệt qua các mặt sau:
Trang 35Về số lượng hiện vật: từ con số khiêm tốn ban đầu là 10.117 hiện vật (năm 1993), chủ yếu là hiện vật minh chứng cho 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của nhân dân Sài Gòn – Gia Định Đến năm 2013, số hiện vật, hình ảnh và tài liệu
mà Bảo tàng sở hữu được công bố trong báo cáo tổng kết nhân kỷ niệm 35 năm thành lập Bảo tàng là “345.000, trong đó có trên 45.600 hiện vật gốc, với nhiều hiện vật và sưu tập hiện vật quý hiếm” (theo báo cáo của Bà Phạm Dương Mỹ Thu Huyền – Giám đốc Bảo tàng) Hiện vật được chia thành 133 bộ sưu tập theo chuyên
đề, trong đó có một số sưu tập quý hiếm như:“Sắc phong, văn bản hành chính”,
“Con dấu thời phong kiến”, “Tiền kẽm Đàng Trong thế kỷ XVIII”, “Thoi bạc (từ
giữa TK XVIII – giữa TK XX)”, “Tiền thưởng – Tiền mệnh giá lớn (từ giữa TK
XVIII – giữa TK XX)”, “Tiền kim loại Đông Dương”, “Khuôn in tiền giấy VNDCCH”, “Sưu tập Radio,máy ảnh”, “Tượng thờ dân gian”, “Cờ Việt Nam và các nước qua các thời kỳ”, “Hiện vật liên quan đến các nhân vật lịch sử - văn hóa của Thành phố”, “Ký họa kháng chiến”, “Sưu tập hiện vật về Ban Tài chính Trung ương cục miền Nam”, …” [91] Có trên 1000 hình ảnh tư liệu được phân chia theo chủ đề như: Sưu tập ảnh “Sài Gòn xưa 1858 – 1945”, “Sưu tập bản đồ Sài Gòn xưa”, “Nam
Kỳ lục tỉnh xưa”, “Đám cưới truyền thống ở Nam Bộ”, “Sân khấu cải lương”, “Tết Việt Nam - xưa và nay”…
Dựa vào sưu tập hiện vật có thể thấy được định hướng phát triển rõ ràng, đồng thời khẳng định được loại hình, quy mô và tính chất của một bảo tàng khảo cứu địa phương như BTTPHCM
Về nội dung trưng bày: BTTPHCM kế thừa nội dung của bảo tàng tiền thân
là Nhà Bảo tàng Cách mạng Thành phố với 6 phòng trưng bày chủ yếu giới thiệu về lịch sử Cách mạng Việt Nam và TPHCM, để phát triển thành bảo tàng khảo cứu địa phương Phát triển theo từng giai đoạn, BTTPHCM có những điều chỉnh và làm mới nội dung và hình thức trưng bày Hiện nay, trưng bày của BTTPHCM đã gần như đạt được sự ổn định và khá phong phú với hơn 10 nội dung giới thiệu về lịch sử
tự nhiên và xã hội của Sài Gòn – TPHCM như: Lịch sử hình thành và phát triển, Thiên nhiên – Khảo cổ, Thương cảng – Thương mại và Dịch vụ, Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp, Văn hóa, Tiền Việt Nam, Kỷ vật kháng chiến, Kháng chiến
Trang 36chống Pháp, Kháng chiến chống Mỹ, ngoài ra còn có khu vực trưng bày ở tầng hầm, trưng bày ngoài trời và 2 khu vực trưng bày chuyên đề (thay đổi 4 chuyên đề/năm)
Diện tích trưng bày cũng được mở rộng ra để đáp ứng cho sự phát triển về nội dung và hình thức trưng bày của Bảo tàng Năm 1998, một năm trước khi chuyển hướng xây dựng BTTPHCM, diện tích trưng bày là 1.200m2 với gần 1.000 hiện vật và 500 bức ảnh [43, tr.33] Đến nay, diện tích trưng bày trên 2.000m2 chia thành 11 phòng trưng bày với 4.266 hiện vật và hình ảnh
Về tổ chức bộ máy nhân sự: Từ 17 nhân viên vào ngày đầu thành lập Bảo tàng, đến nay (năm 2014), nhân sự của BTTPHCM đã tăng lên 64 người Từ 1 phòng nghiệp vụ của Nhà Bảo tàng Cách mạng Thành phố được phát triển chuyên sâu thành 4 phòng chuyên môn là: Nghiên cứu sưu tầm, Trưng bày, Kiểm kê bảo quản và Tuyên truyền Giáo dục Có giai đoạn 2 phòng chuyên môn được sát nhập thành Phòng Sưu tầm – Trưng bày (2003), nhưng do tính chuyên sâu và quy mô của mỗi mảng công việc nên phòng này được tách trở lại thành 2 bộ phận riêng biệt vào năm 2011
Sự phát triển và hoạt động hiệu quả của BTTPHCM được thể hiện một phần qua số lượng khách tham quan mỗi năm Từ 1993, tổng số khách tham quan Bảo tàng là 47.141 lượt người, trong đó khách trong nước là 35.990 lượt người, khách quốc tế là 11.151 lượt người Đến năm 2013, số lượng khách tham quan đạt 457.020 lượt người, trong đó khách trong nước là 307.986 lượt người, khách quốc tế là 42.142 lượt người
Vài nét về tòa nhà Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
Tòa nhà BTTPHCM có lịch sử trên 100 năm, tọa lạc trong một khuôn viên rộng 1,2 ha ngay trung tâm Thành phố Tòa nhà do người Pháp xây dựng từ năm
1885 đến năm 1890 với mục đích ban đầu là làm Bảo tàng Thương mại Nhưng sau khi xây dựng xong, tòa nhà đã được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, thuộc
về nhiều chủ sở hữu khác nhau, gắn với nhiều sự kiện lịch sử tại Sài Gòn – TPHCM Ban đầu tòa nhà trở thành Dinh Thống đốc Nam Kỳ, đến năm 1945 là Dinh Thống Nhật, Dinh Khâm sai, trụ sở của Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ, tiếp theo là Ủy ban Nhân dân Nam Bộ, rồi Dinh Thủ hiến Nam phần Sau Hiệp định
Trang 37Genève 1954, tòa nhà là Dinh Quốc khách, rồi trở thành trụ sở Tối cao Pháp viện của chính quyền Sài Gòn (1966 – 1975) Sau 30/4/1975, tòa nhà được Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản, tổ chức triển lãm về Đại thắng mùa Xuân 1975 và là
cơ quan thường trú của báo Quân Đội Nhân Dân Tòa nhà được sử dụng làm Nhà Bảo tàng Cách mạng năm 1978, rồi trở thành BTTPHCM từ 1999 cho đến nay Từ khi được xây dựng cho đến gần 100 năm sau, cuối cùng, tòa nhà lại được sử dụng đúng như mục đích xây dựng ban đầu là trở thành một bảo tàng Tòa nhà trải qua một lần trùng tu qui mô lớn năm 1998, nhân dịp kỷ niệm 300 năm Sài Gòn – TPHCM
Đây là một trong những công trình tiêu biểu ở Sài Gòn mang vẻ đẹp cổ điển theo phong cách kiến trúc Gothic và sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông – Tây Đặc biệt là phần điêu khắc mỹ thuật trang trí của tòa nhà mô tả sinh động sinh cảnh vùng Nam Bộ xưa hoang dã và trù phú, những mũi tàu – tượng trưng cho phương tiện đi lại và các loài vật đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ
Với phong cách kiến trúc độc đáo và lịch sử gắn liền với những sự kiện chính trị của Sài Gòn – TPHCM, tòa nhà của BTTPHCM đã được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia vào năm 2012 Nằm ngay vị trí khá đắc địa ở trung tâm Thành phố, thiết kế thoáng, mở, ở góc độ nào đó, tòa nhà cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của BTTPHCM nhiều năm qua
Tuy nhiên, với xu hướng phát triển được dự báo, tòa nhà không đáp ứng được những yêu cầu về trưng bày cũng như các hoạt động trong tương lai của BTTPHCM Cho đến hiện tại, khi đề án xây dựng một Bảo tàng Tổng hợp tại Khu
đô thị mới Thủ Thiêm chưa được triển khai thì tòa nhà cũng đã phát huy hết công năng, đã cùng với BTTPHCM trở thành một điểm đến quen thuộc của khách tham quan, được bình chọn là điểm tham quan lý tưởng trong chương trình “100 Điều thú
vị của TPHCM” năm 2012
1.3.2.2 Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh góp phần bảo tồn và phát triển không
gian văn hóa Việt ở Nam Bộ
Qua 16 năm kể từ khi trở thành BTTPHCM, hoạt động của Bảo tàng luôn
Trang 38hướng đến mục tiêu nghiên cứu và giới thiệu lịch sử tự nhiên và xã hội của Thành phố nói riêng và của vùng đất Nam Bộ nói chung từ thời tiền sử cho đến nay
Với chức năng nghiên cứu khoa học và tuyên truyền khoa học, nhiệm vụ của BTTPHCM được quy định cụ thể ở Điều 2, Quyết định 7606/QĐ-UB-VX là:
“Nghiên cứu, sưu tầm bảo quản và tổ chức trưng bày và những hiện vật, tư liệu, hình ảnh về lịch sử tự nhiên – xã hội và lịch sử đấu tranh Cách mạng của nhân dân Sài Gòn – TPHCM; nhằm giới thiệu quá trình lịch sử tự nhiên, phong tục tập quán lâu đời cũng như truyền thống đấu tranh Cách mạng anh hùng, bất khuất của nhân dân Thành phố và những thành tựu phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của Thành phố qua các thời kỳ, góp phần động viên nhân dân Thành phố tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước trong công cuộc đổi mới, xây dựng Thành phố văn minh, hiện đại…”
Lịch sử Thành phố của BTTPHCM luôn được nghiên cứu đặt trong tổng thể lịch sử vùng đất Nam Bộ và cả nước
Xét về góc độ thời gian, theo sử sách ghi chép lại, lưu dân Việt Nam đến Sài Gòn khá sớm, có lẽ đồng thời hoặc sớm hơn các địa điểm khác ở miền nam Đông Dương Ban đầu họ tới đây khai hoang lập ấp, sau xây dựng Sài Gòn “lần lượt trở thành một bến sông, một phố chợ, một sở thu thuế, một ngã tư giao dịch quốc tế, một đồn luỹ chiến lược, rồi một trung tâm hành chính chung cho toàn miền Nam đất mới.” [33, tr.216] Xét về góc độ không gian địa lý, khi Nguyễn Hữu Cảnh đại diện triều đình nhà Nguyễn tiến hành lập chính quyền tại miền Nam đã “lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn”, thì “xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình ở đây khá rộng – kể từ Mỹ Tho qua sông Vàm Cỏ tới hữu ngạn sông Sài Gòn, tức phần lớn Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Long
An, tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp nay” [33, tr.216] Điều này cho thấy, yếu tố địa giới hành chính chỉ mang tính tương đối trong nghiên cứu các hiện tượng văn hoá
Một điều nữa, mặc dù mang đặc trưng “văn hóa đặc thù của cư dân đô thị” nhưng Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn hóa của cả Nam Bộ, hội
Trang 39tụ đầy đủ và rõ nét đặc trưng văn hóa của Nam Bộ, đặc trưng của chủ thể văn hóa là người Việt Điều này thể hiện rõ qua các sưu tập, qua hệ thống trưng bày và một số hoạt động bảo tồn di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của Bảo tàng
Qua định hướng và kết quả hoạt động của Bảo tàng từ năm 1999 đến nay, nổi lên các đặc điểm đáng chú ý:
Thứ nhất, trong quá trình nghiên cứu tiến trình khai hoang mở cõi, hình thành và phát triển vùng đất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng chú trọng sưu tầm, nghiên cứu các hiện vật và sưu tập về lịch sử của 4 nhóm dân tộc có đông dân sinh sống tại đây (gồm Việt, Chăm, Hoa, Khmer), thì dân tộc Việt là đối tượng được nghiên cứu trội hẳn so với các nhóm dân tộc khác Hiện Bảo tàng có 345 000 hiện vật, trong đó, hiện vật về đời sống văn hóa của người Việt là 339 500, chiếm khoảng 98,4 % tổng số hiện vật của Bảo tàng
Vai trò chủ thể của người Việt ở Nam Bộ đã được những người làm công tác nghiên cứu khoa học của BTTPHCM lưu ý từ những ngày đầu BTTPHCM được thành lập Trong cuộc họp Hội đồng Khoa học ngày 30/3/2001 về duyệt bố cục trưng bày “Các sắc dân đến khai phá vùng SG thế kỷ XVII”, một số ý kiến cho rằng: “Việc giao thoa văn hóa giữa các dân tộc nên được thể hiện trong trưng bày, nhưng làm nổi bật vai trò của chủ thể văn hóa là người Việt” [11] Hay “phần trưng bày “Các sắc dân đến khai phá vùng Sài Gòn thế kỷ XVII” phải mang nội dung công cuộc khai phá của người Việt” [11]
Định hướng trên mang tính chủ quan của những người làm công tác bảo tàng, nhưng chúng tôi cho là hoàn toàn hợp lý vì nó phản ánh một cách tự nhiên và đúng đắn tiến trình lịch sử với vai trò to lớn của người Việt – là chủ thể sáng tạo mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở Nam Bộ nói chung
Thứ hai, hiện vật và sưu tập của Bảo tàng về văn hóa của người Việt ở Sài Gòn – TPHCM mang đặc trưng của văn hóa Việt ở Nam Bộ, là những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể thuộc về KGVH Việt ở Nam Bộ Trong đó, nét đặc thù văn hóa đô thị của Sài Gòn – TPHCM khá rõ nét và cô đọng
Thứ ba, ngoài các giá trị văn hóa vật thể, Bảo tàng còn góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa phi vật thể - những yếu tố thuộc
Trang 40KGVH Việt ở Nam Bộ, đặc biệt là những tri thức dân gian qua sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, văn hóa dân gian và nghệ thuật dân gian…Qua đó, phản ánh được các sắc thái tâm lý tình cảm và tính cách của người Việt ở Nam Bộ.
Như vậy, thực hiện một trong những chức năng của bảo tàng tổng hợp, khảo cứu địa phương là “phản ánh lịch sử tự nhiên và con người, truyền thống và tinh thần sáng tạo của vùng đất” trong đó có một phần lớn là di sản văn hóa Việt, BTTPHCM đã và đang góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát triển KGVH Việt ở Nam Bộ
Tiểu kết
Như vậy, từ sau thế kỷ XVII, sự xuất hiện của người Việt ở Nam Bộ đã mở đầu cho một sự thay đổi mang tính lịch sử tại vùng đất này Người Việt đã đến đây khai hoang, lập ấp, chính thức thiết lập chính quyền tại Đồng Nai – Sài Gòn, biến vùng này sớm trở thành một đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng, một trung tâm hành chính, kinh tế và văn hóa của cả Nam Bộ Nam Bộ là mộtvùngđất đa tộcngười
và chủ thể văn hoá của toànvùng là ngườiViệt - tộc người có số lượng dân cư chiếm
đa số, quyết định sự hình thành và phát triển của vùng đất mới Người Việt ở Nam
Bộ mang trong mình vốn văn hóa cội nguồn của dân tộc, trong quá trình phát triển tại vùng đất mới đã có sự thích ứng, tương tác với điều kiện tự nhiên và xã hội nơi đây tạo nên một KGVH Việt với những đặc trưng riêng, đậm chất Nam Bộ KGVH Việt ở Nam Bộ không phải là bất biến, nó vẫn thay đổi và phát triển trong suốt hơn
300 năm qua và vẫn đang tiếp tục thay đổi và phát triển, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu hiện nay Bảo tồn những giá trị văn hóa để làm cơ sở cho sự phát triển KGVH Việt ở Nam Bộ và văn hóa dân tộc nói chung là một yêu cầu cấp thiết trong mục tiêu chung về bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Và, việc xác định được các đặc trưng cũng như các yếu tố cấu thành KGVH Việt ở Nam Bộ là cơ sở rất quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu vai trò của BTTPHCM trong việc bảo tồn và phát triển nó
BTTPHCM là bảo tàng khảo cứu địa phương với chức năng và nhiệm vụ bảo