1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng triết học chính trị của mặc tử và ý nghĩa lịch sử của nó

98 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng triết học chính trị của Mặc Tử và ý nghĩa lịch sử của nó
Tác giả Trần Ngọc Chiến
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Văn Gầu
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ triết học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 699,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tìm hiểu tư tưởng triết học chính trị của Mặc Tử, đặc biệt là tư tưởng “ Kiêm ái” sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về triết học Trung Quốc cổ đại, rút ra những giá tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS VŨ VĂN GẦU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam ( tháng 12 năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, cùng với đổi mới kinh tế là đổi mới chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Trải qua hơn hai mươi năm đổi mới đất nước ta cũng đã gặt hái được rất nhiều thành công về nhiều mặt, song vẫn còn rất nhiều tồn tại cần phải giải quyết để đạt được mục tiêu là xây dựng thành công chế độ chủ nghĩa xã hội mà toàn thể dân tộc Việt Nam đã lựa chọn Trong những tồn tại ấy, xây dựng con người mới được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng Nó chính là nhân tố quan trọng nhất cho công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta hiện nay Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhận định rằng: “ Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [ 37, 310] “ con người xã hội chủ nghĩa” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nói đến ở đây chính là những con người có năng lực làm việc,

chuyên cần và chuyên nghiệp; có “đạo đức cách mạng” trong sáng

Thực hiện lời của Hồ Chủ Tịch, trong mấy năm gần đây, Đảng ta đã và đang phát động phong trào học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người Điều đó còn được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc từ khi đổi mới tới nay Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII nhận định: “ Trong điều kiện kinh tế thị trường

và mở rộng giao lưu quốc tế phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp

Trang 3

thêm nền văn hóa Việt Nam, nhằm hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại” [ 9, 111] Chúng ta đều biết rằng, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đại hội

mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam trên tất cả các mặt trận Sự thay đổi lớn nhất đó là chính sách kinh tế của Đảng ta Cơ chế quản lý kinh tế chuyển từ tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, có sự định hướng

xã hội chủ nghĩa của nhà nước Mặt khác, Văn kiện Đại hội VI đã khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người trong tiến trình phát triển của xã hội Từ đó con người được chuyển dịch dần vào vị trí trung tâm của mọi quá trình phát triển Các Văn kiện Đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam sau này đã tiếp tục khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định:

“ Lấy việc phát huy nhân tố con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh

và bền vững” [9, 85] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam (4-2001) một lần nữa xác định phát triển nguồn nhân lực, giáo dục- đào tạo, khoa học – công nghệ là những khâu đột phá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để làm được điều đó trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ chúng ta phải: “ Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [ 10, 106]

Trang 4

Mặt khác, trong thời đại mới, tình hình chính trị thế giới đã và đang có nhiều biến đổi sâu sắc trên mọi mặt của đời sống xã hội Những vấn đề về toàn cầu hóa, mở cửa, hội nhập văn hóa, sự phát triển của nền kinh tế tri thức, vấn đề tôn giáo, sắc tộc, khủng bố, chủ quyền quốc gia…đã đem lại không ít khó khăn cho công tác chỉ đạo của Đảng ta Vì thế, trên bình diện tổng thể của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, chúng ta vừa phải kế thừa những bài học kinh nghiệm lịch sử, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa phải biết tiếp thu những tinh hoa văn hóa và coi trọng các giá trị tư tưởng nhân văn chung của nhân loại để vận dụng thành công vào công cuộc đổi mới

Những thách thức của công cuộc xây dựng đất nước trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng và của các nhà khoa học xã hội Công tác nghiên cứu

lý luận thực sự giữ một vai trò quan trọng trong việc nhận thức đúng đắn chiều hướng và quy luật phát triển của xã hội, định hướng mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng việt Nam Đúng như Ph.Ăngghen đã từng nhận định: “ một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” Nhưng muốn hoàn thiện tư duy lý luận thì: “ không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học đời trước”[37, 489] Trong bối cảnh nước ta mở rộng, giao lưu quốc tế trên tất cả những lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế….việc giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu những tinh hoa tư tưởng văn hóa của nhân loại để xây dựng và phát triển đất nước hiện đại, văn minh là một công việc hết sức cần thiết và cấp bách Suy ngẫm về nền triết học Trung Quốc – một nền triết học lâu đời, sâu sắc, không chỉ để tìm hiểu, học hỏi trong đó những nét độc đáo có một không hai của nhân loại mà còn chính là để mài sắc tư duy, vươn tới đỉnh cao của tư duy khoa

Trang 5

học Trong nền triết học lâu đời ấy, mỗi trào lưu tư tưởng đều có những giá trị lịch sử riêng của nó Việc tìm hiểu tư tưởng triết học chính trị của Mặc Tử, đặc biệt là tư tưởng “ Kiêm ái” sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về triết học Trung Quốc cổ đại, rút ra những giá trị và bài học lịch sử của nó đối với việc nâng cao phẩm chất chính trị, hoàn thiện đạo đức lối sống, phát huy dân chủ trong công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta hiện nay Với lý do đó, Tác giả đã quyết định chọn đề tài: “ Tư tưởng triết học chính trị của Mặc Tử và ý nghĩa lịch

sử của nó”

2 Tình hình nghiên cứu

Hàn Phi trong thiên Hiển học bảo hai học thuyết tiếng tăm nhất thời ông là Nho và Mặc Tác giả bộ Lữ Thị Xuân Thu, trong thiên Đương Nhiễm cũng bảo

đệ tử của Khổng, Mặc “đầy thiên hạ”

Vậy vào đầu đời Tần Thủy Hoàng hai học thuyết đó vẫn còn thịnh Sự thực là ảnh hưởng và uy tín của Nho và Mặc về phương diện chính trị chắc chắn đã suy yếu từ khi phái pháp gia mạnh lên, nghĩa là vào khoảng giữa thời Chiến Quốc Hai nước chư hầu mạnh nhất là Sở và Tần lúc này đã thấy đạo nhân nghĩa, phi công của Nho và Mặc không giúp cho họ mạnh lên được để thôn tính mà thống nhất thiên hạ, cho nên Sở Điệu Vương mới dùng Ngô Khởi, Tần Hiếu Công dùng Thương Ưởng để trị đất nước Hai chính khách đó đều không được dùng lâu, đều bị chết một cách oan ức vì bọn quý tộc (bọn “ cha anh” của vua) , nhưng ảnh hưởng của họ rất lớn, và sau họ, phái Pháp Gia mỗi ngày một mạnh lên Còn môn đồ của Khổng, Mặc tuy vẫn được vua chúa trọng, nhưng không giữ một vai trò nào quan trọng cả Tuân Tử nhờ tình tri kỉ của Xuân Thân Quân mà làm một chức huyện lệnh ở Lan Lăng; Phúc Thôn, một cự tử của Mặc, sống sau Mặc Tử khoảng bảy tám mươi năm, có thời lui tới triều đình Tần Huệ Vương,

Trang 6

nhưng chẳng có chức vụ gì Học trò của Tuân Tử không đông bằng của Khổng

Tử hay Mặc Tử; đáng buồn cho ông là hai người có tài nhất là Hàn Phi và Lý Tư lại không theo đạo của ông mà lại đứng về phe Pháp Gia

Sau khi Mặc Tử mất, môn đệ của ông chia làm ba phái: Tương Lí, Tương Phu, Đặng Lăng Chúng ta không biết họ có chống đối nhau không, nhưng chắc chắn là họ có điểm khác nhau trong sự áp dụng học thuyết của thầy Rồi sau lại

có phái Biệt Mặc nữa sửa đổi thuyết Kiêm Ái, không tin quỷ thần, không bàn về chính trị và bàn về tri thức, về khoa học thường thức và đả phái ngụy biện Như vậy là mới hơn một trăm năm mà đạo Mặc đã biến đổi hẳn, không còn nhận ra được nữa, thật là một hiện tượng lạ lùng trong lịch sử triết học Phe còn làm chính trị thì rất ít người còn giữ được một nửa tinh thần của Mặc Tử

Tới khi Tần Thủy Hoàng nghe theo lời của tể tướng Lý Tư ra lệnh “ đốt sách, chôn Nho” thì cả Nho lẫn Mặc đều đi đến tàn lụi Dĩ nhiên quan lại nhà Tần không sao kiểm soát hết được và trong dân gian, ở xa kinh đô vẫn còn một số ít người lén lút giữ những sách của Nho, Mặc để truyền lại cho con cháu Khoảng một trăm năm sau, Hán Vũ Đế nghe lời Đổng Trọng Thư, dùng lại đạo Nho mà bãi truốt tất cả các nhà khác Thế là Nho học lại thịnh lên hơn hai ngàn năm nữa, tới cách mạng Tân Hợi(1911) ở đầu thế kỷ XX, còn Mặc thì không ai nhắc tới Phải đợi tới thế kỷ thứ III sau công nguyên, đời Tấn Huệ Đế mới có một học giả tên Lỗ Thắng tìm hiểu đạo Mặc viết cuốn “Mặc Biện Chú” nhưng cuốn này đã thất truyền Vào đời Đường (thế kỷ thứ VII – IX), một người tên Lạc Đài cũng chú thích Mặc Tử, nhưng cũng thất truyền

Phải đợi một ngàn năm sau nữa, vào thế kỷ thứ XVIII, đời Càn Long nhà Thanh, Mặc học mới được nhiều nhà đem ra nghiên cứu kỹ lưỡng, có công nhất chính là Tất Nguyên, Uông Trung, Vương Niệm Tôn Trước đó người ta mới chỉ chú thích Mặc Tử; còn Mặc Kinh thì không ai hiểu nổi Tất Nguyên là người đầu

Trang 7

tiên sắp đặt lại và tìm được cách đọc Mặc Kinh Có thể nói, Mặc học nhờ ông mà sống lại được Phong trào nghiên cứu Mặc học đạt tới mức thịnh nhất nhờ các học giả như Tôn Di Nhượng, Lương Khải Siêu, Chương Bính Lân,…và gần đây chúng ta thấy có Hồ Thích, Phùng Hữu Lan, Phương Thụ Sở, Cao Hanh Những nhà đó đều chịu ảnh hưởng không nhiều thì ít của văn minh Phương Tây; một số lại có nhiệt tâm cứu quốc Họ thấy Mặc học có nhiều điểm giống Phương Tây và tiếc rằng nếu Mặc học không bị Khổng học kìm hãm thì Trung Hoa có thể đã có một tôn giáo như Ki Tô ở Phương Tây Một số ý kiến khác lại cho rằng Mặc Tử

đã lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị của mình

Tuy thế, sau này dịch thuật và nghiên cứu về triết học của Mặc Tử thì cũng

có khá ít các học giả Chủ yếu họ đi tìm hiểu tư tưởng của Mặc thông qua 53 thiên còn sót lại trong cuốn “Mặc tử” Đây thật sự là một công việc hết sức đồ

sộ

Tài liệu chính để tác giả có thể nghiên cứu đó chính là cuốn “Mặc tử” do một số tác giả như Ngô Tất Tố dịch, “Mặc tử tinh hoa” của nhà xuất bản Phương Đông, “Mặc học” của Nguyễn Hiến Lê, cuốn “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc” của PGS.TS Doãn Chính(chủ biên)….Thu thập những nghiên cứu trước

đó về triết học của Mặc Tử, Tác giả luận văn thấy các học giả hướng việc nghiên cứu của mình theo những luận đề rất khác nhau Ví như: Trong cuốn “Đại cương Triết học Trung Quốc” của tác giả Giản Chi –Nguyễn Hiến Lê, các ông khai thác triết lý theo hướng các chuyên đề như:Vũ trụ luận, Căn bản luận, Đại hóa luận, Pháp tượng luận, chính trị luận và bàn rất ít về Mặc Tử; Cuốn “Mặc Học” của Nguyễn Hiến Lê cũng là một chuyên khảo sâu sắc về triết lý Mặc Tử nhưng chưa tìm ra những giá trị lịch sử trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay Ngoài

ra còn phải kể đến nhiều nghiên cứu đáng trân trọng nữa như cuốn “Mặc Tử” của

Trang 8

Ngô Tất Tố Ông đã dịch thuật những thiên quan trọng làm nổi bật nên tư tưởng triết lý của Mặc tử nhưng lại bàn rất ít đến những ý nghĩa thực tiễn của nó mà Mặc Tử - một nhân vật có ảnh hưởng lớn một thời đã sáng lập; ngoài ra phải kể đến bài báo khoa học “kiêm ái nhân sinh-triết lý độc đáo của Mặc Tử” của tác giả Vũ Văn Gầu đăng trên tạp chí triết học số 5 năm 2003 Tác giả đã đi sâu phân tích những căn bản lý luận làm nổi bật chủ thuyết chính trị của Mặc Tử dưới lăng kính của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Đây là một công trình khoa học rất có giá trị cho bất cứ ai muốn đi sâu tìm hiểu triết lý chính trị của Mặc Tử Cùng với đó, cuốn “Đại cương triết học Trung Quốc” của PGS.TS Trịnh Doãn Chính(Chủ biên) là một công trình khoa học có thể làm căn cứ tài liệu chuẩn mực khi tìm hiểu về triết học Trung Quốc nói chung và triết học Mặc Tử nói riêng Tìm hiểu các luận văn, luận án triết học chính trị của những người đi trước Tác giả thấy có khá nhiều Về Phương Tây họ tìm hiểu về Aristotle, Montesquer, Rousseau…; về Phương Đông họ tìm hiểu về Nho Gia, Lão, Pháp Gia; tư tưởng của Trần Thủ Độ, Phan Bội Châu…nhưng chưa thấy có đề tài nào về Mặc Tử Dựa trên sự khảo sát ấy, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, Tác giả mạnh dạn chọn Mặc Tử và hướng việc nghiên cứu của mình đến tư tưởng triết học chính trị của ông và rút ra những ý nghĩa lịch sử của triết lý ấy trong giai đoạn đổi mới đất nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích:

Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ tư tưởng triết học chính trị của Mặc Tử Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa lịch sử của nó cho trong công cuộc đổi mới ở nước

ta hiện nay

Trang 9

Hai là, làm rõ nội dung triết học chính trị của Mặc Tử

Ba là, qua đó rút ra ý nghĩa lịch sử của nó trong công cuộc xây dựng đất

nước ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của đề tài đặt ra, tác giả đã dựa trên quan điểm thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam để đi sâu tìm hiểu triết lý chính trị của Mặc Tử Đồng thời trong quá trình nghiên cứu và trình bày

đề tài, tác giả còn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: Phương pháp sử học,

hệ thống cấu trúc, lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch Cách tiếp cận của luận văn là cách tiếp cận ở góc độ triết học chính trị

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu về triết học chính trị của một trong bốn học phái lớn của Trung Quốc cổ đại – đó là triết học chính trị của Mặc Tử Từ đó, rút ra ý nghĩa lịch sử của nó

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trang 10

- Đề tài đi sâu tìm hiểu triết lý chính trị của Mặc Tử với chủ thuyết trung tâm là Kiêm Ái Chỉ ra những cơ sở lý thuyết và thực hành của triết lý Kiêm Ái,

từ đó rút ra những ý nghĩa lịch sử của tư tưởng triết lý chính trị Mặc Tử đối với công cuộc xây dựng đất nước ta hiện nay

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu triết học chính trị Trung Quốc nói riêng và triết học chính trị Phương Đông nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm hai chương, năm tiết:

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ CỦA MẶC TỬ

1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI THỜI XUÂN THU – CHIẾN QUỐC VỚI

SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ CỦA MẶC TỬ

1.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội thời Xuân Thu

Sự phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc cổ đại cũng là lúc xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc Đây là thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và thời kỳ Phong Kiến đang dần dần được xác lập

Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triều đại nhà Hạ (khoảng từ năm 2205 đến năm 1766 trước công nguyên), qua nhà Thương ( theo truyền thuyết là từ 1766 đến năm 1123 trước công nguyên), rồi đến nhà Chu (khoảng 1122 đến năm 256 trước công nguyên) Vào cuối thời nhà Chu, tức nhà Tây Chu, thì chế độ chiếm hữu nô lệ bắt đầu bước vào giai đoạn khủng hoảng và dần đi đến suy tàn Lúc này xã hội Trung Quốc phải trải qua một giai đoạn giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng Hệ quả của nó là những giá trị tư tưởng, đạo đức của xã hội trước để lại bị băng hoại, những giá trị tư tưởng và đạo đức mới còn trong giai đoạn manh nha và đang trên con đường được xác lập Sự biến đổi một cách toàn diện về các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thời kỳ này đã tạo tiền đề cho sự giải phóng tư tưởng con người thoát khỏi thế giới quan thần thoại, tôn giáo, huyền bí truyền thống Chính điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển tư tưởng triết học Trung Quốc nói chung

Trang 12

Ở thời Tây Chu, khi nhà Chu còn thịnh vượng, chế độ tông pháp và những trật tự lễ nghĩa nhà Chu còn được duy trì Từ thời Chu Lệ Vương đến thời Chu U Vương, mâu thuẫn nội bộ nhà Chu ngày càng trở nên gay gắt hơn Hơn thế nữa,

do phải thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh đàn áp sự nổi dậy của chư hầu và phải chống lại sự xâm lăng của các bộ lạc khác, nhất là giặc Hiểm Doãn, Tây Nhung, cùng với nạn hạn hán liên tiếp xảy ra, nạn đói tràn lan, đã làm cho nhà Chu ngày càng lao nhanh tới sự sụp đổ, suy vong Vị trí, quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội bị đảo lộn

“ Năm 781 trước công nguyên, nhân vua nhà Chu là U Vương phế hoàng hậu họ Thân và thái tử Nghi Câu, phong Bao Tự làm hoàng hậu, cha Thân hậu là Thân hầu đã liên kết với giặc Tây Nhung, tấn công Hạo Kinh, thiêu hủy kinh đô nhà Chu, giết chết U Vương dưới chân Ly Sơn, lập thái tử Nghi Câu lên làm vua, lấy hiệu là Chu Bình Vương (năm 771 trước công nguyên) Sau đó một năm, vì đất Thiểm Tây luôn bị giặc Hiểm Doãn, Tây Nhung đe dọa, nên Chu Bình Vương phải dời đô về phía đông, đến Lạc Ấp (tức Lạc Dương, tỉnh Hà Nam bây giờ), nhường căn cứ Quang Trung cho Tần Tương Công Lúc này xã hội Trung Quốc bước vào giai đoạn đặc biệt, đó là thời Xuân Thu" [7, 38]

Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Việc dùng bò kéo cày đã trở thành phổ biến Trong sách Quốc Ngữ có viết: “ Đồng thau để đúc kiêm kích, sắt để đúc quả cân…” Phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Ở thời kỳ này, hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang Diện tích đất đai canh tác nhờ

đó được mở rộng Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến, tạo điều kiện tăng năng xuất lao động trong nông nghiệp Từ đó người ta thấy rằng không cần thiết phải

Trang 13

chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt hay xấu như trước nữa Giờ đây công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài Vì vậy, nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh

để tăng năng suất cây trồng Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển

và thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông dân vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày càng nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng sở hữu riêng Chế độ tỉnh điền dần tan rã Sau đó chế độ tư hữu ruộng đất còn được luật pháp nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Trước kia, theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã chia đều cho nông

nô, nông nô phải bán một phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho công

xã để nộp lên triều đình Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước đã bỏ hình thức thu thuế cũ

mà thi hành chế độ thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu) Nước đầu tiên thi hành chế độ thuế mới là nước Lỗ (năm 594 trước công nguyên) Cùng với chế độ thuế mới, các nước cũng thi hành chế độ quân sự mới

Ở nước Lỗ, chế độ quân sự này được gọi là “khâu giáp”, nước Trịnh gọi là “khâu phú”

Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở thành phổ biến, cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như là nghề luyện sắt, nghề mộc, nghề làm đồ gốm…Cuối thời Xuân Thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt lớn đến ba trăm người thụt bễ, đổ than Nước Tấn trưng thu sắt để đúc đỉnh hình Trong sách Chu Lễ đã viết về sự phát triển của các ngành thợ chuyên môn rằng: “thợ mộc chiếm bảy

Trang 14

phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…” Thợ thuyền tuy nhiều nhưng vì trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước Tiền tệ đã xuất hiện Trong xã hội đã hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống (vốn là học trò của Khổng Tử)…Thương nhân đã có nhiều người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm sẻ bảy do nạn chư hầu cát cứ, đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đương Hơn thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc lúc bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất, theo quan điểm “nông bản, thương mạt”, nên nó cũng chưa thực sự phát triển Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ

Về chính trị xã hội, nếu như thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu

kiến địa” vừa có ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài hưng thịnh, thì đến thời Xuân Thu, chế độ nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các quan hệ kinh tế, chính trị, quân sự giữa Thiên tử và các nước Chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn uy quyền gì với các nước chư hầu Thiên tử không còn xét xử được những cuộc tranh chấp giữa các nước chư hầu Các lãnh chúa nhỏ và vừa xưa nay vẫn dựa

Trang 15

vào quyền uy của Thiên tử giờ đây trở nên thất vọng Nhiều nước chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu đề ra khẩu hiệu “tôn vương bài di”, đua nhau động binh để mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ Thời Xuân Thu có khoảng 242 năm mà đã xảy

ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ khác nhau Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn lại hơn một trăm nước Trong đó có những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ thay nhau làm bá chủ thiên hạ là Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần Những quốc gia này hùng mạnh và làm minh chủ các nước khác là do các vua trị vì dùng cách cai trị theo chính sách “bá đạo” dựa trên sức mạnh bạo lực hoàn toàn đối lập với cách cai trị của “vương đạo” lấy nhân

nghĩa, “lấy đức thu phục người và chủ giáo hóa người”(Mạnh tử, Tận tâm

thượng) Mới đầu, cục diện “ngũ bá” có Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước

Tấn, Mục Công nước Tần, Trang Vương nước Sở Cuối thời Xuân Thu có thêm Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn

Thời Xuân Thu, các lãnh chúa càng tăng cường bóc lột nhân dân lao động Người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện những cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý tộc, còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân ngày càng thêm khổ cực Dân lưu vong “đồng trong ruộng ngoài bỏ hoang”[

7, 37]

Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột một cách tàn khốc đối với dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của một loạt các nước chư hầu nhỏ, mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật

tự triều hội, triều cống, chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội

Trang 16

ngày càng tăng Đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ, tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc này cũng

bị xem thường Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kỳ Xuân Thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội như “tiếm ngôi việt vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ nghĩa của chư hầu Cùng với nạn “tiếm ngôi việt vị”, chế độ triều cống cũng bị các nước chư hầu tự

ý phá bỏ Thậm chí các nước lớn còn mượn danh Thiên tử bắt các nước nhỏ cống nạp và lệ thuộc vào mình Theo Tử Sản, mỗi lần nước Trịnh cống nạp cho nước Tấn “ phải dùng đến một trăm xe chở lụa và da thú, mà một trăm xe thì phải cả ngàn người” Trong xã hội, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra Tình trạng đó, theo Khổng Tử không phải xảy ra một sớm một chiều mà nó đã âm ỉ, mục rỗng từ lâu Chế độ lễ nghi nhà Chu trở thành các hình thức sáo rỗng Việc “tang, viếng, tế lễ, chúc mừng” trở thành thủ đoạn ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa của quan hệ gia tộc và trật tự xã hội nữa Trong khi người dân phải chịu cảnh cùng cực thì các vương hầu, lãnh chúa quý tộc sống rất xa hoa Họ xây cất những cung điện nguy nga, như cung Bồng

Đế của vua Tấn rộng đến mấy dặm, trong cung chen chúc các cung nữ(Tả

truyện, Chiêu Công năm thứ ba) Do đói rét, cực khổ, nạn trộm cướp nổi lên

Bọn thống trị lại tăng cường “ hình pháp” làm cho đời sống nhân dân ngày càng trở nên nghẹt thở Đó đây đã nổi lên những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô

lệ Tất cả tình hình ấy đã đẩy mâu thuẫn xã hội thời Xuân Thu, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc lên đến đỉnh cao

Trong thời Xuân Thu(theo sử Trung Quốc thì thời Xuân Thu là từ 770 – 475

trước Công Nguyên), ngoài các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các nước,

trong từng nước cũng luôn xảy ra những cuộc tranh giành đất đai, địa vị, quyền

Trang 17

thế giữa bọn quý tộc với nhau Ở nước Tấn, năm 403 trước công nguyên có ba dòng họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy Khi đó Trung Quốc đã bước vào thời kỳ Chiến

Quốc (Thời Chiến quốc từ năm 475 trước công nguyên đến năm 221 trước Công

Nguyên) Bấy giờ chỉ còn bảy nước lớn là Tề, Sở, Yên, Tần, Hàn, Triệu, Ngụy,

tạo thành cục diện “ thất hùng”, thường gây các cuộc chiến tranh tàn khốc hơn, với quy mô lớn hơn thời Xuân Thu để giành ngôi bá chủ thiên hạ Trong đó nước Tần ở phía Tây Hàm Cốc Quan, sáu nước kia ở phía Đông ải quan đó, nên thường gọi là Sơn Đông Lục Quốc

1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội thời Chiến Quốc

Thời Chiến Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế Nghề luyện sắt đã đạt đến trình độ khá cao Đồ dùng bằng sắt, đặc biệt là các công cụ sản xuất như lưỡi cày, liềm, quốc, rìu, dao được sử dụng phổ biến Các nước đều hình thành những trung tâm luyện sắt lớn như Hàm Đan nước Triệu, Đường Khê nước Hàn, Lâm Truy nước Tề….Vì vậy mà kỹ thuật thủy lợi và canh tác, khai khẩn đất đai càng phát triển Các công trình thủy lợi được xây dựng khắp nơi từ lưu vực sông Hoàng Hà tới lưu vực sông Trường Giang, từ biển Đông đến vùng Tứ Xuyên Kéo theo đó là sự phát triển của nghề thủ công, như nghề làm đồ gốm, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, trạm trổ vàng bạc….Tiền tệ bằng kim loại ra đời Như thế, nhờ có công cụ bằng sắt, sức lao động giảm đi mà năng xuất lao động lại tăng lên, đặc biệt là năng xuất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Hệ quả của nó là trong xã hội, địa chủ thì tài sản ngày càng tăng lên, uy quyền ngày càng lớn mạnh, mà nông dân thì ngày càng bị bóc lột tàn nhẫn hơn Công nghiệp, Thương nghiệp và các trung tâm trao đổi hàng hóa ngày càng hưng thịnh Đô thành các nước và một số thành ấp lập trên các trục lộ giao thông trọng yếu đã biến thành những thành đô sầm uất như Hàm Dương nước Tần, Thọ Xuân nước

Trang 18

Sở, Lâm Truy nước Tề, Khai Phong nước Ngụy Tuy nhiên chiến tranh tàn khốc

và ác liệt trên quy mô lớn và liên tục giữa các nước chư hầu đã làm cho đời sống nhân dân ngày càng cùng cực hơn Mạnh tử đã viết: “ Đánh nhau tranh thành, giết người thây chết đầy thành; đánh nhau giành đất, giết người thây chết đầy

đồng” (Mạnh tử, Ly Lâu thượng) Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và

chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên đã làm cho công xã nông thôn tan rã Chế

độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần trở thành quan hệ sở hữu thống trị Thay thế cho chế độ thu thuế dựa vào sản lượng thu hoạch trước kia, thì nay thu thuế tính theo số lượng ruộng đất Việc mua bán ruộng đất tự do và sự phổ biến của chế độ tư hữu đã mở đường cho sự tập trung ruộng đất vào tay một số địa chủ, lãnh chúa giàu có Đa số nông dân nghèo mất hết ruộng đất phải đi cày thuê, cấy mướn và trở thành tá điền, cố nông Chế độ bóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện Trong lòng xã hội đã xuất hiện những yếu tố của quan hệ sản xuất mới, đó

là chế độ Phong Kiến quận huyện Mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt hơn, đã đẩy xã hội tới nguy cơ nghiêm trọng Điều đó chính giai cấp thống trị đã nhận thấy, nên chúng đã tiến hành một số biện pháp cải cách nhằm ngăn chặn nguy cơ đảo lộn xã hội Đó là phong trào “ biến pháp” ở một loạt nước như nước Ngụy, nước Triệu, nước Hàn, nước Tề, nước Tần…suốt thời Chiến Quốc Công nghiệp

và thương mại phát triển như thế thì tất yếu là các phương tiện giao thông vận tải

đã được cải thiện so với trước đó Hệ quả là nhiều con buôn lúc này lại giàu có hơn cả bọn quý tộc, mà theo quy luật tất yếu rằng hễ giàu có thì có quyền lực

Đô thị mọc lên rất mau, đường xá phải đắp thêm Người ta thấy biên giới giữa các nước lúc bấy giờ cản trở sự lưu thông, chính sách thuế quan bất tiện cho thương mại, cho nên muốn phá biên giới mà thống nhất Trung Quốc

Trang 19

Công việc thống nhất này được dễ dàng hơn với khí giới bằng sắt Những khí giới này sắc bén và công hiệu hơn những khí giới trước đó, nên chiến tranh càng trở nên khốc liệt hơn Cùng với nó, chiến thuật cũng tiến bộ: giữa thế kỷ thứ V, người ta biết dùng kỵ binh và Công Thâu Ban đã cải thiện thuật công thành Quan niệm về chiến tranh cũng thay đổi với kỹ thuật chém giết, công phá Thời Xuân Thu, chiến tranh còn ít nhiều theo luật quân tử, qua thời Chiến Quốc,

nó theo luật rừng rú Kinh tởm nhất là vào năm 260 Trước Công Nguyên, tướng Tần Bạch Khởi đã chôn sống bốn chục vạn quân Triệu đã đầu hàng Ngay trước thời Mạnh Tử đã có cảnh thây người chất đầy đồng; quân lính chết nhiều thì phải bắt nhiều lính Già nửa số dân phải đi lính, để có được những đạo quân hàng

trăm ngàn người; và để nuôi số quân đó, những người ở nhà (đàn bà và người

già) có khi phải nộp cho nhà nước tới ba phần tư hoa lợi Nhưng cũng nhờ vậy

mà các nước nhỏ mau bị thôn tính mà việc thống nhất Trung Quốc mới hoàn thành được Như vậy, tất cả những chuyển biến, hỗn loạn trong xã hội Trung Hoa thời Chiến Quốc, truy nguyên ra thì không trực tiếp cũng gián tiếp là hậu quả của sự phát minh kỹ thuật luyện sắt Điều đó đúng với không chỉ ở riêng Trung Hoa cổ đại mà còn đúng ở những vùng như Tây Á và Hy Lạp - La Mã cổ đại

Năm 362 trước Công Nguyên, trong tất cả những quốc gia lớn thời đó, có vương quốc Tần là mạnh nhất Tần Hiếu Công lên ngôi đã tích cực phát triển nông nghiệp, củng cố và chuẩn bị binh bị Do những cuộc cải cách của Thương Ưởng, vào những năm từ 359 đến năm 350 trước Công Nguyên về kinh tế, tổ chức hành chính, pháp luật, tiền tệ, thuế má, chế độ khen thưởng, quan hệ gia trưởng và công xã nông thôn ở nước Tần hoàn toàn tan rã Chính từ những cải cách trên và sử dụng pháp trị, nước Tần đã trở thành nước mạnh nhất trong “ thất

Trang 20

hùng” Cục diện thời Chiến quốc đã làm nảy sinh những thủ đoạn ngoại giao và quân sự dùng để đối phó lẫn nhau giữa các nước, gọi là thuật “ hợp tung” và “

liên hoành” Trong đó, Tô Tần (thế kỷ IV trước Công Nguyên, người Lạc Dương)

đã đề xuất thuật “ hợp tung”, hợp nhiều nước yếu để chống đỡ đối với nước

mạnh và Trương Nghi ( Thế kỷ IV trước Công Nguyên, người nước Ngụy) đề

xuất thuật “ liên hoành”, tôn một nước mạnh để đánh nước yếu, giúp nước Tần lần lượt đánh bại sáu nước ở phía Đông là Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Tề, Yên, chấm rứt cuộc chiến tranh liên miên, tàn khốc, thống nhất Trung Quốc thành một quốc gia Phong Kiến trung ương tập quyền lần đầu tiên vào năm 221 trước Công Nguyên Đó là đế chế nhà Tần Biến cố này là dấu ấn ghi lại sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử chính trị Trung Quốc Nó gắn liền với một tư tưởng triết học có ảnh hưởng lớn thời bấy giờ là Pháp gia mà người đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử, đã giúp nước Tần thành công trong sự nghiệp thống nhất Trung Quốc

Với chính sách hà khắc, để đạt mục đích thống nhất về tư tưởng và chính trị

trong xã hội, nhà Tần đã chủ trương “ chôn Nho, đốt sách” (phần thư khanh

nho), cấm tất cả các học thuyết đương thời, chỉ cho giữ lại và truyền bá những

sách về y học, chiêm tinh, nông học, cùng với việc gây chiến tranh chinh phạt, huy động bằng bạo lực hàng chục vạn nông dân xây Vạn Lý Trường Thành, đã phá hoại cơ sở kinh tế và vùng chính trị của nước Tần, nhà Tần đứng đầu là Tần Thủy Hoàng đã tự làm mình sụp đổ nhanh chóng Cuộc khởi nghĩa nông dân hùng mạnh do Lưu Bang lãnh đạo đã lật đổ nhà Tần, xây dựng lên một chính thể của một triều đại mới, đó là nhà Hán, năm 206 trước Công Nguyên

Cùng với thực tiễn lịch sử xã hội, những tri thức về khoa học, văn hóa khá phong phú của nhân dân Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc như thiên văn, địa lý, cơ học, y học, sinh vật học, văn học….đã góp phần không chỉ thúc

Trang 21

đẩy quá trình sản xuất xã hội phát triển mà còn là những tiền đề làm nảy sinh những tư tưởng triết học ở Trung Quốc cổ đại

Về thiên văn học, vào thế kỷ thứ IV trước Công Nguyên, nhà thiên văn Trung Hoa là Thạch Thân đã sáng tạo ra bảng tổng mục về các vì sao bao gồm

800 vì tinh tú Những biên niên sử ở thế kỷ thứ II trước Công Nguyên đã có nói tới cuộc du lịch trên bộ, trong đó người Trung Quốc cổ đã biết sáng chế và sử

dụng la bàn Cuốn Cam Thạch Tinh Kinh là cuốn ghi chép các hành tinh cổ nhất

trên thế giới mà người Trung Hoa đã tạo ra Dựa theo vị trí của 28 ngôi sao trên xích đạo thiên cầu lúc bấy giờ, người ta phân chia toàn bộ bầu trời thành 28

“túc” Theo vị trí mặt trời đối chiếu với các “túc”, người ta phân biệt được các tiết của một năm như lập xuân, xuân phân; lập thu, thu phân; lập hạ, hạ chí; lập đông, đông chí

Trên lĩnh vực y học, vào thời Chiến Quốc, những tri thức y học Trung Quốc

cổ đại đã kinh qua kinh nghiệm thực tiễn phong phú và lâu dài được tổng kết lại trong các cuốn sách y học hết sức quý báu như Hoàng Đế Nội Kinh, Thần Nông Bổn Thảo Kinh Các nhà y học Trung Quốc thời kỳ này đã biết giải phẫu cơ thể người, biết các cơ quan nội tạng và hệ thống tuần hoàn khá rõ Họ còn đi sâu nghiên cứu các nguyên nhân gây bệnh tật, các phương pháp chuẩn đoán bệnh như nghe, nhìn, hỏi, bắt mạch Đồng thời họ cũng biết áp dụng các phương pháp trị bệnh như châm cứu, bấm huyệt, sắc thuốc uống bằng các lá cây Họ cũng nói tới các phương pháp giữ gìn sức khỏe như việc giữ gìn vệ sinh, thuật dưỡng sinh…

Về toán học, người Trung Quốc đã đạt được một trình độ khá cao Ngay vào thời Chiến Quốc, các nhà bác học Trung Hoa đã biết rằng trong một tam giác

Trang 22

vuông, bình phương của một cạnh huyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông Họ cũng đã biết tính toán diện tích các hình, biết các phép đo lường…

Về nông học và sinh vật học, những điều ghi chép trong Kinh Thi, một trong tuyển tập thi ca gồm 305 bài, được sáng tác trong khoảng thời gian 500 năm, từ thời Tây Chu tới giữa thời Xuân Thu, là một trong những cuốn sách cổ nhất của Trung Quốc đã nói tới hơn 200 loài thảo mộc, chứng tỏ sự phong phú

về tri thức sinh vật học của người Trung Quốc cổ xưa Trên cơ sở những kinh nghiệm lao động sản xuất nông nghiệp của nhiều thế hệ, người Trung Hoa cổ đã xây dựng được cả một hệ thống các phương pháp canh tác chuyên canh, chu kỳ thường là ba năm, phương pháp bón phân cho đất, phương pháp trồng trọt theo

thời vụ và kỹ thuật dẫn thủy nhập điền(thủy lợi)

Về văn học, thời Tần đã để lại nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng, trong đó phải kể đến các tác phẩm như Kinh thi, Sở từ Kinh thi gồm có ba bộ phận: Phong, Nhã, Tụng Đây là một công trình sáng tác tập thể, do nhiều thi nhân thuộc nhiều thế hệ khác nhau viết nên, trong đó căn bản là những sáng tác từ nhân dân lao động Nó phản ánh tình hình chính trị, kinh tế, phong tục tập quán, đời sống, tình cảm và nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc trong thời gian từ thời Tây Chu đến cuối thời Xuân Thu Tiếp theo Kinh Thi là bộ Sở từ của nhà thơ yêu nước vĩ đại Khuất Nguyên Sở Từ là tập dân ca nước Sở tiếp thu nhiều ảnh hưởng tốt của Kinh Thi, phản ánh đặc điểm của thời Chiến Quốc và của địa phương nước Sở Sở từ gồm có: Cửu Ca, Chiêu Hồn, Thiên Uẩn, Cửu Chương

và Ly Tao

Trang 23

Về sử học, thời cổ đại người Trung Quốc đã sáng tạo ra nhiều bộ sử có giá trị Xuân Thu là bộ biên niên sử vào hạng xưa nhất thế giới, phản ánh sinh động tình hình xã hội loạn lạc từ thời Xuân Thu đến thời Chiến Quốc Nhưng Xuân Thu không chỉ có giá trị về mặt sử học mà còn có giá trị về cả mặt triết học, nhất

là quan điểm “chính danh, định phận” của Khổng Tử Sau Xuân Thu là Tả Truyện ở chỗ nó chép sử theo địa phương, theo khu vực và theo từng nước Tương truyền, sách Tả Truyện và Quốc Ngữ là do Tả Khâu Minh làm ra, trong bài Thái Công Sử tự đề tựa, Tư Mã Thiên viết: “Tả Khâu bị mù, bèn làm Quốc Ngữ” [ 47, 29] Nhưng thực ra, Quốc Ngữ là do nhiều người biên soạn mà thành Hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn lâu dài của nhân dân lao động, những tri thức khoa học mà nhân dân Trung Hoa đạt được đã góp phần thúc đẩy, phát triển đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội Trung Quốc cổ đại Hơn thế nữa, nó còn góp phần thúc đẩy phát triển trình độ nhận thức, làm cơ sở cho thế giới quan triết học nảy nở và phát triển

Chính trong thời đại lịch sử biến đổi toàn diện và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề triết học, chính trị xã hội, luôn lý đạo đức, kinh tế, pháp luật, quân sự ngoại giao…kích thích lòng người, khiến các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải, để tìm ra phương pháp giải quyết cứu đời, cứu người, làm nảy sinh ra một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn Các nhà tư tưởng, các môn phái triết học đại diện cho lợi ích các tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt, tạo nên không khí sôi động trong đời sống văn hóa tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại Nó thực sự trở thành điểm đỉnh của toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại, như một cái mốc son chói lọi trong lịch sử tư tưởng Phương Đông Sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học thời

Trang 24

Xuân Thu – Chiến Quốc, khiến người ta phải gọi là thời kỳ “ Bách gia chư tử” (“Bách gia” thiên Thiên Hạ, sách Nam Hoa Kinh, “ Chư tử” thiên Giả Nghị liệt truyện, sách Sử Ký), như “ Trăm hoa đua nở, muôn chim cùng hót” Như thế, có thể nói, tư tưởng triết học Trung Quốc bắt nguồn từ thần thoại tôn giáo thời cổ Nhưng các môn phái triết học có tính hệ thống thì chỉ được hình thành vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc, một thời đại tư tưởng được giải phóng khỏi ảnh hưởng của thần thoại tôn giáo truyền thống, tri thức được phổ cập

Tư Mã Thiên (146 – 86) trước Công Nguyên, trong cuốn Sử Ký của ông đã

thuật lại lời của cha ông là Tư Mã Đàm ( chết năm 110 trước Công Nguyên) với

Luận lục gia yếu chỉ chia “ Bách gia chư tử” thời tiên Tần làm sáu phái chính là

Âm Dương Gia, Nho Gia, Mặc Gia, Pháp Gia, Danh Gia, Đạo Đức Gia Ban Cố ( 32 -92) tác giả của Hán Thư, Nghệ văn chí theo sách Thất Lược của Lưu Hâm (

46 Trước Công Nguyên) và Lưu Hướng ( 79 -8 trước Công Nguyên), cho chư tử

trước đời Tần gồm 189 người, có thể xếp thành 10 nhà là: Nho Gia, Đạo Gia, Mặc Gia, Âm Dương Gia, Danh Gia, Pháp Gia, Tung Hoành Gia, Nông Gia, Tạp

Gia và Tiểu Thuyết Gia Trong số đó, chỉ có chín nhà là đáng kể ( trừ Tiểu

Thuyết Gia) Vì thế chư tử còn có tên là Cửu Lưu

Về nguồn gốc lịch sử của các học phái, Lưu Hâm cho rằng chư tử đều xuất phát từ vương quan “ những người trong Nho Gia vốn do ở quan tư đồ…họ chơi

văn trong cõi “ lục nghệ”(lục nghệ có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất chỉ Lễ, Nhạc,

Xạ(bắn), Ngự(đánh xe), Thư(viết chữ), Số(toán pháp); nghĩa thứ nhì chỉ lục kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, Dịch) Ở đây lục nghệ hiểu theo nghĩa thứ

nhì, lưu ý về điều nhân nghĩa Họ tổ thuật Nghiêu, Thuấn, hiển chương Văn, Vũ, tôn sư Trọng Ni, để làm cho lời họ được trọng, đạo họ là đạo tối cao…Những người Đạo Gia vốn do ở sử quan Họ ghi cái đạo thành bại, tồn vong, họa phúc

Trang 25

xưa nay, sau đó mới biết giữ điều cốt yếu, nắm cái căn bản…Những người trong

Âm Dương Gia vốn do ở các quan hy hòa Họ kính cẩn thuận theo trời cao, trải xem biểu tượng của nhật nguyệt tinh thần, đem lại mùa màng cho dân…Những người trong phái Pháp Gia vốn do ở lý quan Họ giúp nghiêm thưởng phạt để giúp cho chế lễ….Những người trong Danh Gia vốn do ở lễ quan Người xưa hễ danh vị bất đồng, lễ cũng sai lạc…Người trong Mặc Gia vốn do ở quan giữ thanh miếu…Những người trong Tung Hoành Gia vốn do ở quan đi sứ, hành nhân Những người trong Tạp Gia vốn do ở nghị quan Họ kiêm Nho Gia, Mặc Gia,

hợp Danh Gia, Pháp Gia…”(Văn nghệ chí, Tiền Hán Thư) Vào thời cận đại, Hồ

Thích đã bác lại thuyết này, cho rằng đây chỉ là những giả thuyết của Nho Gia

đời Hán, không hợp với sự thực Trước Lưu Hâm, các sách như Trang Tử (thiên

Thiên hạ), Tuân Tử(thiên Phi thập nhị tử), “Luận lục gia yếu chỉ” của Tư Mã

Đàm có bàn về các học phái nhưng không hề nói đến thuyết chư tử xuất phát từ vương quan Các học giả cận đại khác như Chương Học Thành (1738 -1801) và Chương Bính Lân (1869 – 1936) đã đưa ra cách giải thích khác về nguồn gốc các học phái triết học Trung Quốc Họ cho rằng, trong thời kỳ đầu nhà Chu, trước sự tan rã của những chế độ đương thời không thấy có sự phân biệt giữa quan và thầy học Các quan lại trong triều đình cũng là những người thầy truyền thụ kiến thức chuyên môn thuộc phạm vi của họ Do vậy, lúc bấy giờ chỉ có công học chứ không có tư giáo Từ khi vương thất và chế độ nhà Chu suy vong thất thế, quan lại trong các ngành của nhà nước đều bị mất hẳn địa vị quyền thế mà phân tán ra khắp nơi, học thuật mới được truyền bá trong dân gian Họ không còn là quan nữa mà chỉ là thầy Do đó mới phát sinh ra các học phái khác nhau, trong đó có Mặc Gia

Trang 26

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ CỦA MẶC TỬ

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Mặc Tử

Về cuộc đời Mặc tử:

Theo soạn giả Nguyễn Hiến Lê thì Mặc Tử là một nhân vật kỳ dị nhất Trung Hoa, kỳ dị từ tên họ, tư tưởng đến đời sống, kỳ dị tới nỗi gần đây người Trung Hoa ngờ rằng ông có dòng máu Ấn Độ hoặc Ả Rập chứ không thể là con cháu của Phục Hi, Thần Nông được Họ là họ Mặc, tên là Địch,trước và sau chưa ai có

họ như ông Mặc Tử được xem là người khởi xướng cho sự ra đời của một trường phái tư tưởng mà người đời sau lấy tên ông làm tên gọi – trường phái Mặc Gia Trong xã hội đương thời, có thuyết cho rằng Mặc Tử từng làm thợ và phu dịch Theo Tiền Mục thì chữ Mặc là một loại tội nhẹ, bị khắc chữ vào trán

và phạt làm nô dịch Còn trong Mạnh Tử, thiên Đằng văn công hạ, thì Mặc là họ của Mặc Địch Kỳ dị nhất và đáng phục nhất là ông có lẽ không có vợ con, suốt

cả cuộc đời lo chuyện thiên hạ, hễ nghe nói một nước nào tấn công nước khác thì

dù xa xôi tới đâu, cũng gấp rút đi tới tìm cách thuyết phục, ngăn cản nước mạnh

và bảo vệ nước yếu

Về cuộc đời của Mặc Tử, chẳng hạn như nơi sinh của ông, người ta còn nhiều cách lý giải khác nhau Có thuyết thì cho rằng Mặc Tử sinh ở nước Sở thuyết này do Tất Nguyên đời Thanh đưa ra Thiên Lữ Gián trong bộ Lữ Thị Xuân Thu bảo Mặc Tử người Lỗ, Tất Nguyên hiểu lầm là Lỗ Dương, một miền ở nước Sở xưa kia, nên cho quê quán của ông là ở nước Sở.Một số học giả căn cứ vào Hán thư, Nghệ văn chí của Ban Cố(32-95) cho rằng, Mặc Tử là người nước Tống, ở vào miền Đông tỉnh Hà Nam và miền tây tỉnh Sơn Đông bây giờ Một số khác

Trang 27

như Tôn Di Nhượng và Hồ Thích lại cho rằng ông là người nước Lỗ, cùng quê với Khổng Tử Thuyết này căn cứ vào Hoài Nam Tử trong sách Hoài Nam Yếu Lược, có nói: “Mặc Tử theo nghiệp Nho Gia, học đạo Khổng Tử, cho rằng lễ của Nho Gia có nhiều điều quá phiền phức mà không bằng lòng, chê Nho Gia là chôn cất hậu chỉ làm hại dân, để trở quá lâu hại cho sự sống và hại công việc”, nên xác định Mặc Tử là người nước Lỗ Về vấn đề này, chúng tôi đồng ý với các học giả Hồ Thích và Tôn Di Nhượng cho Mặc Tử là người nước Lỗ Đó cũng là nhận định của hầu hết các học giả nghiên cứu về triết học Trung Hoa hiện nay

Về niên đại của ông cũng có vấn đề và nhiều ý kiến chưa thống nhất Tôn Di Nhượng trong Mặc Tử niên biểu căn cứ vào những cuộc đối đáp giữa Mặc Tử và Công Thâu Ban, Lỗ Dương Văn quân chép trong bộ Mặc Tử, cho rằng Mặc Tử

phải đồng thời với Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử) và sinh sau Tử Tư, vào khoảng 468 – 376 Lương Khải Siêu, trong Mặc Tử Niên Đại Khảo cho rằng

Mặc Tử sinh sau Khổng Tử mất trên mười năm và chết trước khi Mạnh Tử sinh cũng trên mười năm, nghĩa là sinh vào khoảng 468 – 459, chết trong khoảng 390 – 382 Tiền Mục trong Mặc tử niên biểu cho rằng Mặc Tử sinh sớm hơn một chút, sinh vào năm Khổng Tử mất(479) và mất cùng năm với Ngô Khởi(381) Thuyết này ở giữa thuyết của Tôn Di Nhượng và Lương Khải Siêu Nhưng nói chung các học giả ngày nay đều cho rằng niên đại của Mặc Tử vào khoảng 479 đến năm 381 trước Công nguyên

Tóm lại, ta có thể nói Mặc Tử sinh ở Lỗ, có phần chắc là sau khi Khổng Tử mất, như vậy là ngọn đuốc triết học của nước Lỗ truyền từ Khổng Tử qua Mặc

Tử mặc dù Mặc không thuộc về Khổng phái Khổng sống vào cuối thời Xuân Thu, Mặc mở đầu cho thời Chiến Quốc, trước cả Dương Chu, Lão Đam, Liệt Ngự Khấu Suốt hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc xã hội Trung Hoa vẫn biến

Trang 28

chuyển liên tục, không bị gián đoạn, nhưng xét chung thì thời Chiến Quốc xã hội Trung Hoa loạn lạc hơn, biến cố dồn dập hơn, chiến tranh càng nhiều và càng khốc liệt hơn

Mặc Tử là người có tài hùng biện thuyết phục người khác Ông đã từng chu

du khắp thiên hạ để giảng thuyết “Kiêm Ái” của mình với một tinh thần, nghị lực, niềm tin hiếm có Càng thấy thiên hạ ít người theo mình thì ông lại gắng sức làm Ông suốt đời hăm hở, kiên nhẫn, hy sinh làm việc nghĩa hòng cứu thiên hạ khỏi cảnh chiến tranh loạn ly, cực khổ, dù gặp nguy hiểm, vẫn không nản chí Sách sử có ghi rằng, vì lo đi làm việc nghĩa mà Ông “mòn trán, lỏng gót”, “bắp chân, bắp vế không còn sợi lông” Bếp nhà ông lúc nào cũng lạnh vắng “Biên thùy nước Lỗ có người tên là Ngô Lự, mùa đông nung lò, mùa hè cày ruộng, tự

ví mình với vua Thuấn Mặc Tử tự đến ra mắt” Ngô Lự bảo Mặc Tử: “cứ làm việc nghĩa mà thôi cần chi phải nói?” Mặc Tử hỏi: “cái mà người gọi là nghĩa cũng có sức giúp người ta, cũng có của để chia cho người ta chăng?” Ngô Lự đáp: “có” Mặc Tử nói: “Địch đã tính rồi Địch định cày cả thiên hạ để nuôi người ta, giỏi ra mới bằng sức của một sức cày của người nông dân, chia cho thiên hạ mỗi người không thể được một thưng thóc Giá như có một thưng thóc

mà chia cho mỗi người thì cũng không thể làm cho kẻ đói trong thiên hạ no được Địch tính dệt vải để mặc cho người trong thiên hạ, giỏi mới bằng sức dệt của một người đàn bà, chia cho thiên hạ, mỗi người không thể được một thước vải Giá cho mỗi người một thước vải đi nữa thì cũng không thể làm cho kẻ rét trong thiên hạ ấm được….Địch tính mặc giáp bền, cầm đao nhọn cứu cái no cho các nước chư hầu, giỏi ra mới bằng sức chiến đấu của một người lính, không thể chống nổi ba quân Địch cho là không bằng học đạo tiên vương mà tìm lấy thuyết, không lời nói của thánh nhân mà xét lấy lời, trên thì bảo các đấng vương

Trang 29

công, đại phu, dưới thì dạy những kẻ thất phu đi đất; các đấng vương công, đại phu dùng lời nói của ta nước nhà ắt được thịnh trị; những kẻ thất phu dùng lời nói của ta, tính nết ắt tu tỉnh Và cái công còn lớn hơn cày cho họ ăn, dệt cho họ

mặc”(Mặc tử - thiên Lỗ Vấn)

Khi xét về tư cách và tài năng của Mặc Tử, chúng ta thấy hiện lên ở Mặc Tử một con người có lối sống đạm bạc, nếu không muốn nói là khắc khổ Trong sinh hoạt hằng ngày, Mặc Tử không khó tính như Khổng Tử : “Khổng Tử nếu thịt không tươi thì nhất định không ăn, và phải có gừng để thơm miệng và dễ tiêu

hóa” [30, 36] và cũng không đòi các bậc vua chúa phải cưng phụng mình như

Mạnh Tử Mặc Tử, sinh thời chưa thấy một lần ra làm quan và ông cũng ít khi ở nhà, suốt đời đi khắp nơi lo việc thiên hạ, có lần đi từ Lỗ tới Sở, ngày đêm không nghỉ, thì đời của ông chắc chắn phải khắc khổ nhiều lắm Khổng và Mạnh, về già, biết đạo của mình không thi hành được, đành trở về quê hương dạy học, còn được hưởng ít năm an nhàn Mặc Tử dường như là bôn ba khắp thiên hạ cho tới trán mòn gót lỏng mới thôi Và khi chết ở đâu cũng chẳng ai biết nữa Vốn ghét

ca nhạc, Mặc Tử không được hưởng cái vui nghệ thuật của Khổng Tử; lại ghét

sự an nhàn, ông cũng không bao giờ thổ lộ tâm sự hoặc nói chuyện phiếm với môn sinh như Khổng Tử Sống trên bốn thế kỷ trước Ki –Tô, ông không bị đóng đinh trên cây thánh giá như Ki –Tô nhưng đã không phải vác nó mươi mười lăm năm như Ki-Tô mà ít nhất là năm chục năm vì tương truyền là ông sống thọ đến

tám hay chín chục tuổi vậy

Vừa là một nhà triết học, lại vừa là một nhà chính trị, Mặc Tử hẳn phải vừa

có tinh thần hoài nghi và đức tự tín rất cao Nói về đức tự tín của ông, chúng ta thấy nó ở thiên Quý Nghĩa Trong thiên đó Mặc Tử nói: “lời nói của ta dùng được Kẻ nào không dùng lời nói của ta mà lại thay đổi tư tưởng của ta thì ví như

Trang 30

không gặt lúa mà lại đi mót bông lúa vậy; kẻ nào dùng lời của mình mà bác lời của ta thì cũng như cầm chứng ném vào đá, ném hết chứng trong thiên hạ mà đá

vẫn y nguyên, không sứt mẻ được”(Quý Nghĩa)

Ông cả đời không tham quyền vị, danh lợi, sống đạm bạc, coi thường dư luận Những đức tính ấy thì nếu chúng ta làm phép so sánh thì có rất nhiều người cũng

có thể bằng được hoặc hơn Mặc Tử là đằng khác, nhưng xét đến đức nhiệt tâm cứu đời, tận tụy vì nhân loại như ông thì từ cổ kim , Đông Tây không thể có người thứ hai Ông chú trọng lời nói đi đôi với việc làm và hành động

Như thế, cuộc đời của Mặc Tử gắn với những khổ hạnh cho tới lúc chết thì việc ông đưa ra những chủ trương bảo vệ tầng lớp bình dân trong xã hội lúc ấy là một lẽ hiển nhiên Thêm nữa sống nay đây mai đó thì tất yếu ông cũng phải thâu thập rất nhiều những văn hóa, tín ngưỡng các vùng, thâu thập những trào lưu tư tưởng khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau mà làm nên học thuyết riêng cho mình

Về tác phẩm Mặc tử:

Mặc Gia là trường phái triết học về cơ bản đại biểu cho lợi ích của tầng lớp sản xuất nhỏ thời Tiên Tần Nó được chia ra làm hai thời kỳ Ở thời kỳ đầu, Mặc

Gia lấy tư tưởng của Mặc Địch với chủ nghĩa Kiêm Ái nổi tiếng làm trung tâm và

luôn là một trong những học phái có nội dung tư tưởng đối lập với Nho Gia Mặc Gia hậu kỳ là sự tiếp nối tư tưởng của Mặc Địch, xuất hiện vào thời kỳ Chiến quốc Họ đã loại bỏ thế giới quan tôn giáo của Mặc Địch, chú trọng nghiên cứu những kinh nghiệm và kỷ thuật sản xuất, tiến hành tổng kết những thành quả của khoa học tự nhiên thời bấy giờ và lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc xây dựng nên lý luận về nhận thức và khoa học logic một cách có hệ thống Mặc Tử,

Trang 31

một trong những nhà triết học lớn của Trung Quốc thời cổ dại, có tư tưởng đối nghịch với Nho Gia trong thời kỳ Xuân Thu –Chiến Quốc Mặc Tử thuộc lớp người bình dân

Tài liệu chính để nghiên cứu tư tưởng của Mặc Tử là cuốn Mặc Tử, gồm 53 thiên Năm mươi ba thiên đó, hai học giả Lương Khải Siêu và Hồ Thích chia làm năm “tổ” hoặc vì nội dung, hoặc vì hình thức có điểm giống nhau

- Tổ một, gồm 7 thiên là: Thân sĩ, Tu thân, Sở nhiễm, Pháp nghi, Thất hoạn,

Từ quá, Tam biện

Còn rất nhiều ý kiến của các học giả về tác giả của ba thiên đầu vì ở đó khi đi nghiên cứu, người ta cho rằng có chứa những tư tưởng của các nhà khác mà khó

có thể nhận định đâu là của Mặc, đâu là của Nho, đâu là của Lão Nho và Lão ngụy tạo Mặc chăng?.Thiết nghĩ Đạo Gia và Mặc Gia chủ trương ngược hẳn

nhau (một bên vô vi, một bên cực hữu vi), còn Nho Gia thì oán ghét với Mặc Gia,

mắng là bọn “không có cha”, “không nhà cửa”; như thế cho dù có đồng ý với nhau rằng ở đó là sự ngụy tạo của Nho và Lão thì chúng ta có thể khẳng định rằng đó tất không phải là Nho và Lão chân chính., mà trái lại họ đã ảnh hưởng đậm tư tưởng của Mặc rồi và việc coi họ là Mặc Gia đời sau cũng chẳng có gì là sai trái

Về bốn thiên sau, ý kiến của các học giả tương đối thống nhất cho rằng: cả bốn thiên ấy đều diễn tả thêm những tư tưởng chủ yếu của Mặc Tử Thiên bốn: Pháp Nghi diễn đạt thêm nghĩa của thiên Thiên Chí; thiên năm, thiên sáu diễn thêm nghĩa của các thiên Tiết Dụng; thiên bảy diễn thêm nghĩa của thiên Phi Nhạc Như thế thì có thể nói rằng bốn thiên sau này tóm tắt những điểm chính của Mặc Gia

Trang 32

- Tổ hai, gồm 24 thiên là: Thượng hiền(thượng, trung, hạ); Thượng

đồng(thượng, trung, hạ); Kiêm ái(thượng, trung, hạ); Phi công(thượng, trung,

hạ); Tiết dụng(thượng, trung); Tiết táng(hạ); Thiên chí(thượng, trung, hạ); Minh

quỷ(hạ); Phi nhạc(thượng); Phi mạng(thượng, trung, hạ); Phi nho(hạ)

Cùng với tổ một, thì tổ hai này nói lên những triết lý chính trị sâu xa của Mặc

Tử Một đặc điểm của các thiên trong tổ này là: chúng được chia thành thiên thượng, thiên trung, thiên hạ, độ dài ngắn rất khác nhau

Theo Hàn Phi Tử thì sau khi Mặc Tử mất, Mặc học chia làm ba phái: Phái của họ Tương Lí, phái của họ Tương Phu và phái của họ Đặng Lăng Một số học giả đời Thanh như Du Việt và Lương Khải Siêu căn cứ vào thuyết đó mà đoán rằng mỗi đề tài trong tổ này sở dĩ chia làm ba thiên ý và lời đại đồng tiểu dị, là

do ba phái chép riêng lời của Mặc Tử, rồi người đời sau thu thập hết cho đủ Các thiên thượng, trung, hạ có chiều dài, ngắn khác nhau Khi khảo sát, chúng ta thấy hầu như tất cả các thiên thượng đều ngắn hơn các thiên trung và hạ rất nhiều, trừ thiên Phi Mạng (thượng)

Khi nghiên cứu, chúng ta có thể tin chắc rằng: những thiên trong tổ II này ghi lại những điểm cốt yếu trong học thuyết Mặc Tử sau khi Mặc Tử mất không lâu; còn những ý kiến của hai nhà nghiên cứu trên về vấn đề này thì theo Nguyễn Hiến Lê “chỉ được coi như là những giả thuyết cho chúng ta tham khảo mà thôi”

- Tổ ba, gồm 6 thiên là: Kinh thượng, hạ; Kinh thuyết thượng, hạ; Đại thủ;

Tiểu thủ

Sáu thiên này không liên quan gì đến triết học chính trị của Mặc Tử, mà nó là sản phẩm của phái Biệt Mặc đời sau viết

Trang 33

- Tổ bốn, gồm 5 thiên là: Canh trụ; Quý nghĩa; Công mạnh; Lỗ vấn; Công

- Tổ năm, gồm 11 thiên là: Bị thành môn; Bị cao lâm; Bị thê; Bị mộc; Bị đột;

Bị huyệt; Bị nghi phục; Nghinh địch từ; Kình xí; Hiệu lệnh; Tạp thủ

Mười một thiên này đều ghi chép về thuật phòng bị quân địch của Mặc Tử Mặc Tử được biết đến như là một người rất giỏi về thuật phòng ngự, đã chế tạo

ra một số binh khí, và đã chỉ cho nhóm Cầm Hoạt Li cách giữ thành cho nước Tống

Trên đây là cuốn sách ghi lại những lời dạy và trước tác của Mặc Địch cũng

như của các học trò ông Trong đó người ta cho rằng, các thiên như Thiên Chí,

Minh quỷ, Thượng đồng, Thượng hiền, Kiêm ái, Phi nho, Phi công, Phi mệnh, Tiết táng, Tiết dụng đều là những thiên diễn đạt chính tư tưởng của Mặc Tử

Năm thiên khác như Canh quế, Quý nghĩa, Công mệnh, Lỗ vấn, Công Thâu Ban

là do những người của phái Mặc Gia ghi lại những lời nói và hành động của Mặc

Tử mà làm ra Các thiên Kinh, thượng và hạ, Kinh thuyết, Thượng và hạ, Đại thủ, Tiểu thủ với nội dung lý luận học và logic học đặc sắc của hậu Mặc Còn các thiên khác không quan trọng lắm và đều do người đời sau thêm vào

Thiên Kiêm Ái là thiên quan trọng nhất trong các thiên nói lên tư tưởng triết

lý của Mặc Tử Thiên kiêm ái bao gồm: kiêm ái thượng, kiêm ái trung, kiêm ái

Trang 34

hạ Ở mỗi phần, có sự dài ngắn khác nhau và ngôn luận cũng khác nhau Ví như

so sánh ba thiên Kiêm Ái, chúng ta sẽ thấy thiên thượng chỉ diễn tả cái ý: loạn do không yêu nhau, người nào cũng chỉ nghĩ tới cái lợi riêng của mình mà ra; vậy muốn cho hết loạn thì phải Kiêm Ái, tức gồm yêu mọi người như yêu bản thân mình Thiên trung cũng diễn tả cái ý đó, nhưng còn bác thêm lời những người không tin rằng có thể thi hành được thuyết Kiêm Ái vì nó khó quá, không thể làm được Thiên hạ cũng diễn ý loạn do không yêu nhau mà ra; nhưng còn giảng

thêm cái lợi của Kiêm ái: tai mắt của mọi người sẽ thành tai mắt của mình, người

già và trẻ em sẽ được nuôi nấng, săn sóc… ; sau cùng bác lời của những người cho rằng thuyết kiêm ái không dùng được vì khó quá(như thiên trung), vì chọn

kẻ sĩ kiêm ái thì được chứ làm sao chọn được vua kiêm ái, lại thêm nếu kiêm ái, coi cha mẹ người như cha mẹ mình, tức coi cha mẹ mình như người ngoài, tức là bất hiếu Danh từ cũng có khi khác Ví như ba tiêu chuẩn để nói năng, bàn luận, Phi mạng trung gọi là “tam biến”, Phi mạng hạ gọi là “tam pháp”; tiêu chuẩn thứ nhất, Phi mạng trung gọi là “bản”, Phi mạng hạ gọi là “khảo” Xét những điểm khác nhau đó chỉ là rất nhỏ khi có nhiều người cùng thuật lại những tư tưởng mà Mặc Tử có thể phô diễn trong những hoàn cảnh khác nhau, vào những thời khác nhau

Cách chia “tổ” như vậy dễ dàng được chấp nhận khi các tác giả khác nhau đi nghiên cứu những chủ đề khác nhau về Mặc Tử Với đề tài này, nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị của Mặc Tử, tác giả chú trọng nhiều đến “ tổ 2”

1.2.2 Những cơ sở lý luận của sự ra đời triết lý chính trị Mặc Tử

- Chính trị giữ một vị trí quan trọng trong triết học Trung Quốc nói chung

và triết học Mặc Tử nói riêng

Trang 35

Bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp, triết học Trung Quốc mang những đặc trưng của triết lý Phương Đông với triết lý thâm trầm, qua những câu chuyện ngụ ngôn, những lời nói ẩn dụ và cả cách diễn đạt phóng khoáng, gợi mở, nửa

hư, nửa thực Triết học Trung Quốc hiện lên lung linh, kỳ ảo, khêu gợi trí tò mò, làm tư duy bay bổng, trí tưởng tượng phong phú, cuốn hút mãnh liệt con người vào trong trạng thái nửa mơ, nửa tỉnh, chỉ cảm nhận mà khó diễn đạt thành lời Triết học Trung Quốc chính vì thế giống như bức tranh mộc mạc, đường nét bố cục đơn sơ nhưng lại chứa đựng tất cả dạng chuyển hóa, biến động trong sự ẩn hiện vô cùng của vũ trụ

Cuộc chiến tranh liên miên của các nước chư hầu, sự rối loạn về chính trị, sự băng hoại về đạo đức thời Xuân Thu – Chiến Quốc đã làm nảy sinh những nhu cầu hết sức cấp bách trong đời sống tinh thần của xã hội Trung Quốc lúc đó Đó

là một khát vọng được sống trong một xã hội ổn định, một đất nước thống nhất, bình yên, dưới sự dẫn dắt của một minh quân của đông đảo các tầng lớp dân chúng Khát vọng này trở thành tiêu điểm của toàn bộ các trường phái triết học của Trung Quốc, là mục tiêu cuối cùng của các nhà tư tưởng đề xuất những biện pháp, đường lối chính trị, đạo đức hữu hiệu nhằm cứu vãn xã hội đương thời Trên tinh thần đó triết học Trung Quốc cổ đại nói chung mang tính thực tiễn và thiên về chính trị

Theo sự nghiên cứu của hầu hết các học giả thì chính trị được xem như là phần nhỏ của triết lý về nhân sinh Nhưng ở đây Tác giả cho rằng nên tách triết

lý chính trị ra ngoài triết lý nhân sinh khi đi nghiên cứu các tư tưởng triết học Trung Quốc vì tính cách phổ biến và rất quan trọng của nó Điều đó được lý giải là: ở Trung Quốc thì từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc cho tới sau cuộc cách mạng Tân Hợi, nghĩa là khoảng trên 2500 năm, hầu hết các thi nhân, các nhà tư tưởng

Trang 36

đều hầu hết bàn về chính trị Người ta có cảm tưởng rằng không có dân tộc nào cho chính trị là quan trọng bằng dân tộc Trung Hoa, rằng đối với họ, việc trị dân, trị nước phải là sứ mạng của những kẻ sĩ, mà bất đắc dĩ không thành thì họ cũng phải truyền cái đạo của các tiên vương, tiên thánh cho đoàn hậu sinh Bởi thế nên mới có câu là tiến vi quan, thoái vi sư, tức là cần phải ra làm quan để có thể làm chính trị, giúp dân giúp nước, còn khi những đường lối của mình vì lý do nào đó không được thực hiện thì có thể về làm thầy dạy học truyền lại đạo của tiên vương

Cả một thời Xuân Thu – Chiến Quốc, luôn mấy trăm năm, người ta chỉ bàn

về chính trị(tất nhiên phải bàn về giáo dục nữa nhưng chính trị và giáo dục luôn

đi song hành và dường như là một); Khổng Tử mở đầu cho phong trào, tiếp theo

là Mặc Tử, Lão Tử, Thương Ưởng, Mạnh Tử, Trang Tử, Tuân Tử…có cả đến mười mấy, hai chục nhà tư tưởng đại danh Từ thời Hán trở đi, nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng nào có tên trong văn học sử thì cũng đều là nhà chính trị triết học sử: Giả Nghị, Đổng Trọng Thư, Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên, Vương An Thạch,

Tô Đông Pha, Lưu Cơ, Phương Hiếu Nhụ, Vương Thủ Nhân, Hoàng Tôn Hi, Vương Thuyền Sơn, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu…không sao kể hết được Triết học Trung Quốc phát sinh trong một thời kỳ biến chuyển rất lớn của xã hội, thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc Ở giai đoạn đó có rất nhiều các triết gia Trung Hoa đã đưa ra mỗi giải pháp của mình để cứu quốc, để bình trị thiên hạ, những giải pháp đó tất nhiên là bàn về chính trị Sau này, cho đến tận cách mạng Tân Hợi, các học giả, nhà văn, nhà thơ, triết gia Trung Quốc cũng đều bàn đến chính trị, tức làm sao bình ổn xã hội như là mục đích cao nhất của đời mình Điều đó được lý giải là vì những chiến tranh, loạn lạc diễn ra liên tục; sự thiếu

Trang 37

triệt để của các triết thuyết chính trị khác nhau và cả những ảnh hưởng hết sức sâu đậm của Nho giáo đối với các lực lượng thống trị một thời

- Nho giáo xuất hiện đầu tiên trước cả Mặc Giáo, có tính cách chính trị rõ rệt

xét Tứ Thư(Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh(Thi, Thư,

Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu), chúng ta thấy rằng: bộ nào trong đó cũng bàn về

chính trị cả; ngay trong Kinh Thi – một tập ca dao mà ý tưởng chính trị cũng tiềm tàng trong nó, có khi còn rất rành mạch đến lộ liễu như: Đại nhã, Tiểu nhã Những ông thánh của Nho Gia, Mặc Gia không phải là những nhân vật lý tưởng, xuất thế quyền quý như Thích Ca hay nhẫn nhục hy sinh cho nhân loại như đức Ki Tô, mà đều là những vị nhập thế, làm chính trị như vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Văn, vua Vũ, Chu Công…

Có ý kiến cho rằng triết học Mặc Tử là “chân truyền” của các thánh nhân Nghiêu, Thuấn, Vũ

Trong thiên Hiển học, Hàn Phi nói: “ Khổng Tử và Mặc Tử đều xưng tụng

Nghiêu, Thuấn mà chủ trương khác nhau, và đều tự cho là chân truyền của Nghiêu, Thuấn Nghiêu, Thuấn đã không thể sống lại thì ai là người quyết định được học thuyết nào mới thực của Nghiêu, Thuấn” Đúng vậy, khi tìm hiểu, Tác giả không thấy chỗ nào Mặc Tử tự cho mình là “chân truyền” của Nghiêu, Thuấn

cả Mặc Tử dù có nhắc tới Nghiêu, Thuấn hơn sáu lần, một lần trong thiên Tiết Táng hạ, Mặc Tử bảo hai ông ấy khi chết đều chôn cất rất giản dị, niệm bằng ba

bộ áo, quan tài bằng gỗ, cột bằng dây sắn, hạ huyệt rồi lấp đất mà không đắp nấm Tuy nhiên, rõ ràng rằng: ba vị Nghiêu, Thuấn, Vũ theo truyền thuyết thì lại chính là những nhân vật điển hình mà xã hội dưới thời cai trị của các ông đều rất thịnh trị Như thế mặc dù tư tưởng chính trị Mặc Tử không trực tiếp là “chân

Trang 38

truyền” của ba vị kia đi nữa thì cũng không thể phủ nhận rằng: ba vị trên chính là

cơ sở cho những luận giải các chủ trương chính sách để bình trị xã hội của Mặc

Tử

- Một điểm nữa khi nói đến sự ra đời của tư tưởng triết học chính trị của Mặc

Tử là kế thừa quan niệm truyền thống

+ Quan niệm về quỷ thần:

Con người Trung Quốc ở thời đại nguyên thủy, tri thức đang trong thời kỳ sơ khai, thường cho rằng tất cả sự vật trong vũ trụ đều có thần thống trị Thần cũng

có nhân cách và có thể ốp vào “đồng nam” hay “đồng nữ” Từ đời nhà Hạ, nhà Thương trở đi mới có quan niệm về “Trời” và “Đế”, nhất thần luận mới dần dần

có thế lực mà đa thần luận vẫn còn ảnh hưởng tới đời sống tâm linh trong xã hội

Trong Tả Truyện, ngoài những đoạn nói đến Trời vẫn còn nhiều đoạn nói đến

Thần Bích Lương Phu nói: “Vua dẫn dắt và ban lợi cho dân, kiến cho Thần, người, trăm vật chẳng gì là chẳng được hết sức” Quý Lương bảo: “Gọi rằng đạo

là trung với dân, tín với Thần Trên nghĩ đến lợi dân là trung, cầu khấn những lời

chính đáng là tín”( Tả Truyện) Chu Tuyên Vương nói: “ Xưa tiên vương của ta

có nước vuông nghìn dặm, lấy làm điện phục để dùng vào việc thờ cúng Thượng

Đế và trăm Thần sông núi”

Như thế ta thấy người xưa luôn nói đến trăm Thần, đủ rõ quan niệm cổ cho rằng có rất nhiều Thần Trách nhiệm của người cầm quyền là làm sao cho trăm Thần được yên ổn, vạn dân nhu hòa, nếu không thế thì Thần giận, dân phản khó lòng mà giữ được nước Ngoài Thần và Thượng đế còn có Quỷ

Trang 39

Ảnh hưởng của quan niệm xưa về Thần, Thượng Đế, Quỷ, Mặc Tử còn rất tin quỷ thần, xem quỷ thần là lực lượng tối cao như trời Ông rất bực tức khi thấy người đời thời của ông không tin Quỷ Thần để đến nỗi xã hội loạn lớn mà không biết căn nguyên của nó Ông dùng quỷ thần như là lý lẽ chứng minh cho các chủ trương chính trị của mình

+ về quan hệ trời với người:

Con người so với vạn vật thì như thế nào, so với trời và vũ trụ ra sao? Đây là một đặc điểm của triết học Trung Hoa Hầu hết các triết gia Trung Hoa đều chủ trương rằng “thiên nhân hợp nhất” Chỉ có một số rất ít các triết gia, không gây ảnh hưởng gì nhiều, chủ trương rằng “thiên nhân bất tương quan” “Thiên nhân hợp nhất” được hiểu theo hai nghĩa là: thứ nhất, trời và người giống nhau; kế đến, trời và người “thông” với nhau hay có quan hệ mật thiết với nhau Ở nghĩa thứ nhì ảnh hưởng trực tiếp đến nhân sinh quan của người Trung Quốc nói chung

và Mặc Tử nói riêng

Quan niệm về trời của dân tộc Trung Hoa rất đặc biệt Người Trung Hoa cho rằng: Trời là ông vua của vũ trụ, nên gọi trời là Đế, là Thượng Đế, và cho loài

người là con của Trời Đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư ta thường thấy chữ dân dùng thay

cho chữ nhân: “Trời sinh dân đó, trời yêu dân lắm Cái đạo của Đại học ở chỗ

làm sáng tỏ cái đức, ở chỗ thân yêu dân Hồi xưa dân có ba vật” Sách Tả Truyện

cũng viết: “ Trời sinh dân mà đặt ra vua để làm lợi cho dân Trời sinh dân mà đặt

vua, sai các quan chăn nuôi dân” Trong Kinh Thi có câu: “Trời sinh ra dân, có

hình phép, dân giữ tính thường, muốn có đức tốt” Cái bẩm thụ được tính của trời, nên trời và người quan hệ mật thiết với nhau, mà người phải lấy phép tắc

Trang 40

của trời làm mẫu mực, phải coi thiên đạo là nhân đạo, nghĩa là phải ăn ở sao cho hợp với đạo của trời

Người Trung Hoa tin rằng nhờ sự liên lạc mật thiết với trời, người có thể tương cảm, tương ứng được Cho nên có điều gì hồ nghi, họ thường thành tâm

dùng bốc phệ(bói bằng mai rùa và bằng cỏ thi) để xin quỷ thần cho biết việc

hung cát Các vua chúa thời xưa đều đặt chức quan Thái bốc để coi việc bói toán Thiên Hồng phạm trong Kinh Thi có câu: “Người(chỉ vua) có điều ngờ lớn thì tự trong bụng suy nghĩ cho kỹ rồi bàn với khanh sĩ, hỏi những thứ nhân(tức người thường), hỏi những người coi việc bói” (Nhữ tắc hữu đại nghi, mưu cập nãi tâm, mưu cập khanh sĩ, mưu cập thứ nhân, mưu cập bốc phệ)

Khổng Tử ít bàn về trời, song cũng nhận rằng trời là một đấng chủ tể vũ trụ, xếp đặt mọi chuyện và có một luật thiên nhiên mà con người chúng ta phải theo Lão Tử không hoàn toàn chủ trương “thiên nhân tương dữ”, nhưng cũng nghĩ rằng “người bắt chước đất, đất bắt chước trời” Mặc Tử có đức tin mạnh hơn khi cho rằng trời là một đấng tối cao, có uy quyền, rất công bằng, như gia trưởng một nhà, quốc quân một nước Người phải thuận ý trời, như con phải thuận ý cha, dân phải thuận ý vua

Như vậy, quan niệm về quỷ thần, về trời có ảnh hưởng lớn đến sự ra đời các chủ thuyết của các nhà triết học Trung Hoa cổ đại và cả sau này Mặc dù có sự khác nhau khi đưa ra những chủ thuyết để bình ổn chính trị tuy thế rất nhiều các triết gia đã chủ trương người phải theo trời cả Vậy nên bảo thế giới quan truyền thống ấy là cơ sở cho sự ra đời các triết thuyết của các triết gia Trung Quốc cổ đại trong đó có Mặc Tử là hoàn toàn hợp lý không thể chối cãi

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w