1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng trị nước trong triết học trung quốc cổ đại và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước việt nam hiện nay

98 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng trị nước trong triết học trung quốc cổ đại và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước việt nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Nguồn
Người hướng dẫn PGS. TS. Vũ Văn Gầu
Trường học Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ triết học
Năm xuất bản 2008
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 792,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tư tưởng ấy rất phong phú và sâu sắc về nội dung do đó đã để lại dấu ấn cho một thời đại, phản ánh một giai đoạn phát triển sôi nổi của lịch sử triết học Trung Quốc đó là thời kỳ X

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TP HỒ CHÍ MINH - 2008

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình m tơi nghin cứu

Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất

kỳ công trình no

Người thực hiện

Trang 4

MỤC LỤC

3 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 8

trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại

10

1.1.1 Cơ sở kinh tế – xã hội hình thành tư tưởng trị nước trong

triết học Trung Quốc cổ đại

10

1.1.2 Những thành tựu văn hóa - khoa học là cơ sở hình thành tư

tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại

17

1.2 Quá trình phát triển của tư tưởng trị nước trong

triết học Trung Quốc cổ đại

ChươngII: Nội dung tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc

cổ đại và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà

37

Trang 5

nước Việt Nam 2.1 Nội dung tư tưởng trị nước trong triết học Trung quốc

cổ đại

37

2.1.1 Tư tưởng đức trị của trường phái Nho gia 37

2.1.2 Tư tưởng pháp trị của trường phái Pháp gia 61

2.1.3 Quan điểm vô vi nhi trị của trường phái Đạo gia 79

2.2 Ý nghĩa của tư tưởng trị nước trong triết học Trung

Quốc cổ đại đối với việc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay

85

2.2.1 Ý nghĩa của tư tưởng trị nước trong triết học Trung quốc

cổ đại đối với việc xây dựng nhà nuớc phong kiến Việt Nam

85

2.2.2 Tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại và ý

nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay

91

Kết luận 98

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay mà Đảng và Nhà nước khởi xướng đòi hỏi chúng ta một mặt phải nâng cao về đạo đức, mặt khác phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước Bởi vì sự nghiệp đổi mới

ở nước ta trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, tức là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường, mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước đã không ngừng phát triển, đạt những thành tựu to lớn

Song mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm cho không ít cán bộ đảng viên suy thoái về đạo đức lối sống, tệ nạn xã hội ngày càng tăng do thị hiếu chạy theo đồng tiền nên các cơ sở sản xuất gian lận thương mại, trốn thuế, gây

ô nhiễm môi trường sinh thái, vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng Để tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị – xã hội thì việc trị nước bằng đức trị

và pháp trị là việc làm tất yếu để theo kịp nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng trị nước của triết học Trung Quốc cổ đại có ảnh hưởng nhất định đối với các triều đại phong kiến Việt Nam Những tư tưởng ấy rất phong phú và sâu sắc về nội dung do đó đã để lại dấu ấn cho một thời đại, phản ánh một giai đoạn phát triển sôi nổi của lịch sử triết học Trung Quốc đó là thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, tư tưởng tiêu biểu của triết học Trung Quốc cổ đại như tư tưởng đức trị của Nho gia, pháp trị của Pháp gia, vô vi nhi trị của Đạo gia… Với các nhà tư tưởng lớn có ảnh hưởng rất nhiều trong những giai đoạn đầy biến động của lịch sử Trung Quốc

như Khổng Tử, Lão Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử và Hàn Phi Tử…

Nếu như tư tưởng đức trị luôn đặt nhân nghĩa lên hàng đầu trong việc xây dựng nhà nước thì tư tưởng pháp trị lại đề cao vai trò của pháp luật trong việc trị nước hay tư tưởng vô vi nhi trị của Đạo gia đó là coi trọng yếu tố tự nhiên trong việc trị nước… Những tư tưởng này thực sự có ý nghĩa và sự tác động

Trang 7

mạnh mẽ đối với nước ta Vì thế, để xây dựng đất nước bên cạnh việc giữ gìn

tư tưởng lâu đời của dân tộc, cũng cần phải biết kế thừa những truyền thống quý báu của những dân tộc khác Trong đó, tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại có ý nghĩa thiết thực trong việc vận dụng xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay

Nhận thức được vai trò quan trọng của những tư tưởng trị nước đối với việc ổn định nền chính trị - xã hội của đất nước nên tác giả quyết định chọn đề

tài: “Tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại và ý nghĩa của

nó đối với việc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt

nghiệp thạc sĩ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm tìm hiểu, trong đó phải kể đến một số công trình tiêu biểu như:

Thứ nhất, nghiên cứu đại cương về Trung Quốc có các công trình sau:

Công trình do PGS, TS Doãn Chính chủ biên: “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2004 đã đề cập đến rất nhiều nội dung về lịch sử triết học Trung Quốc từ thế kỷ XVIII trước Công nguyên đến những năm đầu của thế kỷ XX, đặc biệt là bối cảnh xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Trong tác phẩm “Lịch sử văn hoá Trung Quốc” gồm có 2 tập, do Trung tâm Phương Đông, Thượng Hải xuất bản năm 1993; và cuốn “Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc” gồm các tác giả Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý chủ biên, Nxb Văn hoá - Thông tin, xuất bản năm 1994

Không những thế còn có rất nhiều những tác phẩm khác của các học giả như: “Đại cương triết học sử Trung Quốc” của Phùng Hữu Lan (bản dịch của Nguyễn Văn Dương), Nxb Thanh niên, xuất bản năm 1999 Đồng thời trong các tác phẩm khác như “Đại cương triết học Trung Quốc” gồm 2 tập của Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê do Cảo Thơm, Sài Gòn xuất bản năm 1960; cuốn “Lịch sử

Trang 8

triết học” do GS, TS Nguyễn Hữu Vui chủ biên, Nxb Tư tưởng văn hoá Hà Nội, xuất bản năm 1992… Trong những tác phẩm này, các tác giả đã làm rõ bối cảnh xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với tư cách là cơ sở khách quan hình thành các trường phái triết học ở Trung Quốc vào giai đoạn này Trong các tác phẩm kể trên thì cuốn “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc” mà PGS,TS Doãn Chính chủ biên không những phân tích sâu sắc những

tư tưởng của những nhà triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại nói chung mà còn

có những đánh giá hết sức xác đáng rất có giá trị về tư tưởng trị nước

Trong công trình có tên: “Tư tưởng pháp trị của Pháp gia với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2007 của PGS, TS Doãn Chính, TS Nguyễn Văn Trịnh, một chuyên khảo nghiên cứu về quan điểm trị nước của trường phái triết học Pháp gia và phân tích ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Tuy nhiên, cũng cần phải kể đến một số công trình khác của PGS, TS Trịnh Doãn Chính trong tác phẩm: “Triết lý phương Đông - giá trị

và bài học lịch sử”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2005 Tập trung chủ yếu trên hai phương diện, trong đó có nội dung đề cập đến những bài học lịch sử trong triết học Trung Quốc cổ đại Mặc dù đây được xem là đề tài không mới nhưng với việc nghiên cứu hết sức công phu, khoa học có ý nghĩa rất lớn lao đồng thời qua đó tác giả còn chỉ ra được những kiến giải hết sức xác đáng và có giá trị rất cao

Những công trình tiêu biểu kể trên đã trình bày một cách tổng hợp nhất, tiêu biểu nhất về xã hội Trung Quốc vào thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Tuy nhiên, những giá trị lịch sử cùng với những hạn chế của tư tưởng trị nước cũng chỉ được các tác giả rút ra và đánh giá ở mức độ mang tính chất hết sức khái quát

Thứ hai, những công trình khoa học khi nghiên cứu về tư tưởng đức trị,

pháp trị đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam và ý nghĩa của những tư tưởng đó

Trang 9

đối với Việt Nam, trong đó có cả những bài viết, chuyên khảo và những công trình khoa học tiêu biểu như:

Đề tài luận án tiến sĩ triết học: “Vấn đề đức trị và pháp trị trong lịch sử tư tưởng Việt Nam” của tiến sĩ Phan Quốc Khánh, TP Hồ Chí Minh, năm 2005 Công trình này tác giả đặc biệt đề cập đến sự tác động mạnh mẽ của tư tưởng đức trị của Nho gia, tư tưởng pháp trị của Pháp gia… vào Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến giai đoạn hiện nay

“Đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong xã hội Việt Nam”,

TP Hồ Chí Minh, năm 2005, đó là đề tài luận án của tiến sĩ triết học Nguyễn Sinh Kế Đây cũng là công trình mà tác giả đã nghiên cứu một cách hết sức tổng quát về đạo đức của Nho giáo, đồng thời tác giả còn chỉ rõ những ảnh hưởng của nó trong lòng xã hội Việt Nam

Ngoài những công trình kể trên thì cũng còn rất nhiều bài viết, tham luận được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, như bài viết của

GS Vũ Khiêu có tên: “Đức trị và Pháp trị trong Nho giáo” hay “Thuật trị nước của người xưa” của Việt Đăng Lê Văn Được Điều đáng nói là xuyên suốt trong những tác phẩm này là việc đề cập đến tư tưởng trị nước của các triết gia Trung Quốc Ngoài ra trong đó có những nội dung cơ bản của tư tưởng đức trị

và pháp trị thông qua việc sắp xếp mang tính chất hệ thống làm cho người đọc

dễ tiếp cận với nó

Khi đề cập đến vấn đề mối quan hệ giữa đức trị và pháp trị này thì PGS Hà Thúc Minh với bài viết “Khổng Tử và vấn đề con người” trên tạp chí Sinh hoạt lý luận đã cho rằng Khổng Tử đề cao đạo đức quá mức để rồi coi thường pháp luật là không đúng và ông cho rằng trong lịch sử các nước phương Đông, tư tưởng của Pháp gia không được đón nhận nồng nhiệt như tư tưởng của Nho gia bởi vì điểm chung nhất trong lịch sử phương Đông là những triều đại đề cao Pháp trị đã không tồn tại lâu dài là vì vậy Điều này có thể chứng minh đó là tư tưởng đức trị có phần phù hợp hơn với văn hoá truyền thống của

Trang 10

dân tộc Việt Nam luôn coi trọng các giá trị đạo đức, trọng nghĩa tình Bài viết này cũng được xem là tác giả đã có cái nhìn hết sức xác đáng

Bên cạnh đó tác phẩm “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu, do Khai Trí, Sài Gòn xuất bản năm 1973; và cuốn “Nho giáo” của Trần Trọng Kim,

do Nxb Văn hoá - thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 2001 Hai công trình tiêu biểu này đã nghiên cứu hết sức công phu về toàn bộ lịch sử phát triển của Nho giáo từ thời kỳ Khổng Tử cho đến tận triều đại nhà Thanh ở Trung Quốc Các tác giả Phan Bội Châu và Trần Trọng Kim dựa trên những quan điểm, lập trường của nhà Nho khi bàn về Nho giáo và tư tưởng trị nước, dù vẫn còn những hạn chế đó là vẫn chưa có tinh thần phê phán khoa học nhưng đều có những đóng góp to lớn trong việc dịch thuật

Tác phẩm “Nho gia với Trung Quốc ngày nay” của tác giả Vi Chính Thông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; và “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1994 cũng là những tác phẩm rất tiêu biểu về lịch

sử tư tưởng Nho giáo, dù không trình bày theo niên đại nhưng nói chung cũng

đã phân tích tư tưởng của Nho giáo một cách khái quát và đặc biệt hai công trình này đã phân tích mối quan hệ của Nho giáo đối với thực tiễn cuộc sống ở

xã hội hiện đại

Những công trình khác như: “Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần” của Tào Thượng Bân (bản dịch của Lê Thanh Thùy, Đào Tâm Khánh, Chu Thanh Nga, Phạm Sỹ Thành, Mai Thị Thơm), Nxb Đại học Quốc gia,

Hà Nội, xuất bản vào năm 2005 Tác phẩm “Vấn đề con người trong Nho học

sơ kỳ” của Nguyễn Tài Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản vào năm 2005; tác phẩm “Nho giáo tại Việt Nam” do Lê Sỹ Thắng (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1994 Tác phẩm “Vấn đề quản lý nhà nước trong triết học Trung Quốc cổ đại” do Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, xuất bản 2002… những công trình này không chỉ đã đề cập đến những tư tưởng của các nhà triết học ở Trung Quốc từ thời kỳ cổ đại mà còn rút ra ý nghĩa đối với thời kỳ hiện đại

Trang 11

Ngoài ra trong bài phát biểu của mình có tựa đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh và vấn đề đức trị, pháp trị” của Đặng Xuân Kỳ lại phân biệt “trị nước, trị dân” với việc lãnh đạo, quản lý, điều hành, ông còn khẳng định chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng luật pháp của Nhà nước, nhưng cũng rất coi trọng việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên

Trong tác phẩm có tên gọi “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh” của tác giả Vũ Đình Hòe thì lại cho rằng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh thì đạo đức

và pháp luật lại có sự nhất thể hóa, trong đó đạo đức là gốc còn pháp luật lại là chuẩn

Có thể nói, quan điểm trị nước thực sự có ý nghĩa sâu sắc và thu hút đối với thời kỳ hiện nay bởi vì nó giúp cho việc ổn định nền chính trị - xã hội Vì thế trong lịch sử đất nước Trung Quốc thường thấy thời kỳ này thì giai cấp cầm quyền sử dụng phương pháp đức trị trong việc giáo hoá dân nhưng trong giai đoạn khác thì họ lại lựa chọn phương pháp giáo hoá dân bằng Pháp trị là vì vậy Triết học phương Đông mà đại diện tiêu biểu là triết học Trung Quốc vô cùng phong phú và đa dạng đặc biệt là thời kỳ cổ đại, với nhiều quan điểm trị nước khác nhau

Tóm lại, có thể nói tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại thực sự phong phú và đa dạng, vì thế có rất nhiều đề tài của các nhà khoa học đặc biệt quan tâm nghiên cứu vấn đề này Tuy nhiên, trong các công trình khoa học nghiên cứu trước đây thì chưa có công trình nào trình bày về quan điểm trị nước của triết học Trung Quốc ở thời kỳ cổ đại và việc vận dụng vào nước ta hiện nay Chúng tôi chọn đề tài “Tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc

cổ đại và vận dụng vào việc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay” nhằm làm rõ cơ sở hình thành và quá trình phát triển của

tư tưởng trị nước, nội dung của tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại và vận dụng nó để xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn:

Trang 12

Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc

cổ đại và ý nghĩa của những tư tưởng đó đối với việc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm vụ

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lịch sử và lôgíc, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê

Trong luận văn này, tác giả đã sử dụng một số tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, kinh điển của Nho giáo, tác phẩm của các nhà nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Trung Quốc và vấn đề xây dựng và hoàn thiện nhà nước cùng với một số tạp chí có liên quan đến nội dung của luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn trình bày một cách hệ thống những tư tưởng

cơ bản về trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại Ngoài ra luận văn còn góp phần làm phong phú thêm việc nghiên cứu những tư tưởng trị nước ở Trung Quốc cổ đại và đồng thời nêu rõ ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

Trang 13

Về mặt thực tiễn, sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay, tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại là bài học bổ ích và thiết thực không những đối với các triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử mà còn có ý nghĩa đối với việc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn triết học phương Đông nói chung và triết học Trung Quốc nói riêng ở các trường đại học và cao đẳng

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của luận văn gồm có 2 chương 6 tiết

Trang 14

quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của

họ”[2, 15] Tư tưởng trị nước của mỗi thời đại bao giờ cũng phản ánh những dấu ấn của thời đại đó Vậy tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại

đã được hình thành dựa trên cơ sở như thế nào?

1.1 CƠ SỞ KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU

KHOA HỌC – VĂN HOÁ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI

1.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội hình thành phát triển tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại

Đất nước Trung Quốc có sự phát triển mạnh mẽ được đánh dấu vào thời

kỳ Xuân thu - Chiến quốc, đồng thời đây cũng chính là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ bước vào giai đoạn suy tàn Có thể xem đây chính là giai đoạn giao thời từ chế độ tông tộc sang chế độ gia trưởng, vì vậy, những giá trị về tư tưởng và đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, những giá trị đạo đức mới đang hình thành, phát triển Do đó đã tạo ra sự biến đổi toàn diện và sâu sắc trong rất nhiều các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Đó là tiền đề cho

sự giải phóng con người thoát khỏi sự phụ thuộc của thế giới quan thần thoại tôn giáo đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của triết học Lịch sử Trung Quốc

cổ đại qua nhiều thiên niên kỷ với những giai đoạn phát triển mạnh mẽ, có những thành tựu hết sức rực rỡ về mọi mặt Triều đại nhà Hạ mở đầu cho một giai đoạn lịch sử cũ gọi là Tam đại Thời kỳ này, Trung Quốc chuyển qua chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến sơ kỳ

Trang 15

Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XI trước Công nguyên, phía Bắc Trung Quốc xuất hiện một liên minh thị tộc rộng lớn với một nền sản xuất nông nghiệp, đó là triều đại Ân - Thương Dưới thời nhà Thương nghề trồng trọt

và chăn nuôi rất phát triển, giai đoạn này tiền tệ đóng vai trò làm vật trung gian trong việc trao đổi sản phẩm Xã hội thời Ân - Thương chủ yếu gồm quý tộc chủ nô, nông dân và nô lệ Quý tộc chủ nô sống rất xa hoa, hưởng lạc trên nỗi khổ của quần chúng nhân dân Nô lệ bị coi như trâu ngựa, là lực lượng lao động chủ yếu và bị huy động triệt để, thỏa mãn nhu cầu của giai cấp quý tộc Nô lệ thường bị chôn sống theo chủ và làm vật hiến tế cho thần linh Điều đó đã nói lên sự tàn khốc của chế độ chính trị thần quyền của triều đại Ân - Thương Do đó vào thời kỳ Chiến quốc, triều đại

Ân - Thương đã bị suy tàn, nhiều nhà tư tưởng thường ca ngợi vua Nghiêu, vua Thuấn và phê phán vua Trụ Sự diệt vong của vua Trụ và triều đại nhà Thương chính là nguyên nhân của việc coi thường những giá trị đạo đức, đối lập hoàn toàn với tư tưởng trị nước của vua Nghiêu, vua Thuấn

Bước vào giai đoạn Tây Chu từ thế kỷ XI đến thế kỷ thứ VIII trước công nguyên, nhà Chu được coi là tồn tại lâu hơn so với nhà Ân Công cụ lao động chuyển từ thời đại đồ đồng sang công cụ bằng sắt đã xuất hiện, đưa lực lượng sản xuất lên trình độ cao hơn Vào thời kỳ này có rất nhiều những phát minh về khai thác, sử dụng đồ sắt đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến về công

cụ và kỹ thuật sản xuất trong nông nghiệp Có thể nói, những phát minh này đã đánh dấu sự thay đổi vượt bậc của nền kinh tế Trung Quốc, nếu như trước đây

tư liệu sản xuất đều nằm trong sự quản lý của nhà Chu thì giai đoạn này đã có

sự thay đổi, đó là việc biến ruộng đất của công thành ruộng đất của tư ngày càng nhiều dẫn đến sự tan rã của chế độ “tỉnh điền” Về sau pháp luật đã có sự thay đổi, đó là việc công nhận sự tồn tại của chế độ tư hữu ruộng đất Việc thay thế công cụ bằng đồng sang sử dụng công cụ bằng sắt lúc này ngày càng trở nên phổ biến và sự mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động trong nền sản xuất thủ công nghiệp ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn, rất nhiều ngành

Trang 16

nghề đã được mở ra như nghề rèn, nghề mộc, nghề đúc… Điều này đã tạo nên

sự cách biệt giữa những người làm nông nghiệp ở vùng nông thôn với những người làm nghề buôn bán ở khu vực thành thị, bắt đầu có sự phân hoá giữa tầng lớp quý tộc với những người được coi là hèn mọn, tiểu nhân trong xã hội Càng về sau này thì các ngành sản xuất như thủ công nghiệp, thương nghiệp càng phát triển Song song với sự phát triển của các ngành nghề là sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân có tài sản khổng lồ và có thế lực trong

xã hội Sự phát triển của nền kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ của tầng lớp thương nhân đã tác động không nhỏ vào nền chính trị - xã hội đương thời

Tuy nhiên, vào thời kỳ đó việc kinh doanh buôn bán của họ được xã hội coi trọng, với quan điểm coi thường nghề nông, đề cao nghề buôn đã gây khó khăn rất lớn trong việc phát triển kinh tế ở thời kỳ này Tuy nhiên,

sự phát triển của nghề buôn với tầng lớp thương nhân giàu có đã tạo nên sự xuất hiện của tầng lớp quý tộc, chính điều này đã dẫn đến sự biến đổi về chính trị trong xã hội, đó là sự tranh giành quyền lực của tầng lớp quý tộc mới với tầng lớp quý tộc cũ Vì thế, sự biến đổi về quan hệ trong xã hội đã làm nên sự thay đổi về chính trị - xã hội của đất nước Trung Quốc thời kỳ bấy giờ Mối quan hệ giữa nhà vua và các nước chư hầu đã có sự biến đổi

và dần trở nên xa lạ, trật tự lễ nghĩa bị đảo lộn Bởi vậy, quyền lực của nhà vua không được xem là quyền lực tối cao, ý của vua không còn được coi là

ý trời như thời kỳ trước đây Cho nên những quyền lực trước đây của nhà Chu đối với các nước chư hầu cũng không còn, vì thế uy tín của nhà vua cũng dần bị giảm sút, các nước chư hầu nhân cơ hội này đã tìm cách khôi phục nhằm thôn tính những quốc gia nhỏ bé hơn mình bằng cách mượn danh khôi phục lại nhà Chu Những cuộc nội chiến triền miên và hạn hán xảy ra liên tiếp, nạn đĩi trn lan đã dẫn đến nhà Chu ngày càng trở nên suy tàn Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho địa vị và quyền lợi của các tầng lớp, các giai cấp đã bị thay đổi

Trang 17

Bước vào thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc (770 - 221 TCN), triều đại nhà Chu suy tàn Thời Xuân thu (770 - 476 TCN) việc sử dụng đất công không còn nữa, cho nên đã dẫn đến tình trạng tầng lớp quý tộc ngày càng ra sức bóc lột nhân dân lao động, đẩy họ rơi vào tình trạng vô cùng khốn khó Thêm vào đó

là những cuộc chiến tranh xâm lược, dẫn đến những cảnh chết chóc đau thương, các gia đình phải sống trong cảnh chia ly do chiến tranh thường xuyên xảy ra Nhân dân lao động nghèo đã khó khăn thì ngày càng trở nên khó khăn bởi vì phải chịu cảnh thiên tai, dịch bệnh, hạn hán mất mùa… thường xuyên Trong khi đó, tầng lớp quý tộc tham lam lại càng ra sức bóc lột bằng cách thu thuế nặng nề đổ lên đầu những người nông dân nghèo Vào thời kỳ Xuân thu

đã xảy ra rất nhiều cuộc chiến tranh nhằm mục đích tranh giành địa vị và thôn tính lẫn nhau giữa các nước Đến cuối thời kỳ Xuân thu thì các quốc gia dần dần bị thu hẹp do các cuộc chiến tranh tạo nên thanh thế đã xuất hiện ngày càng nhiều, một số quốc gia đã bắt đầu nổi lên bằng sự hùng mạnh của mình nhờ chính sách cai trị “bá đạo”, sử dụng sức mạnh bạo lực để thực hiện chính sách cai trị Trong đó, phải kể đến một số nước như Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần còn gọi là “lục quốc”

Chính vì những nguyên nhân trên, tầng lớp quý tộc nhà Chu đã vẽ lên một bức tranh ảm đạm về cảnh chết chóc, đau khổ chia ly, ruộng đồng bị bỏ hoang Không những thế, các cuộc chiến tranh còn tạo ra sự đau khổ của hàng triệu người và nỗi ám ảnh của nhiều thế hệ, đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của một số nước chư hầu, làm đảo lộn trật tự lễ nghĩa vô cùng tôn nghiêm của nhà Chu, biến tất cả những lễ nghĩa tôn nghiêm trước đây trở thành hình thức và không còn giá trị như trước nữa Vì thế, đây là thời kỳ xã hội đang rơi vào tình trạng loạn lạc thì không chỉ lễ nghĩa, trật tự, cương thường bị đảo lộn, đạo đức xã hội bị xuống cấp nghiêm trọng mà còn đẩy nhà Chu vào tình trạng tranh giành ngôi vị và điều này cũng dẫn đến việc vị thế của nhà Chu không còn nữa Việc cống nạp của các nước chư hầu đã bị phá bỏ, đây cũng được xem là một tổn thất lớn đối với nhà Chu vào thời bấy giờ vì

Trang 18

việc phải huy động một số lượng rất lớn người cống nạp đã chứng tỏ vị thế của nhà Chu Cho đến thời điểm này thì cảnh chia ly không chỉ dừng lại trong gia đình mà đến cả đất nước vì "ngũ luân" không còn được coi trọng như trước nữa Khi nhận định về vấn đề này Khổng Tử cho rằng sự biến đổi của trật tự lễ nghĩa nhà Chu đã diễn ra từ rất lâu chứ không phải là mới bắt đầu

Đối lập với bức tranh ảm đạm của những người nông dân nghèo trong xã hội là sự xa hoa của tầng lớp quý tộc Cùng với thiên tai thì những tệ nạn xã hội cũng bắt đầu phát sinh, đẩy nông dân vào nỗi khổ đau cùng cực Có thể xem đây chính là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự ra đi của chế độ chiếm hữu nô lệ trong lịch sử đất nước Trung Quốc Đồng thời những cuộc chiến tranh triền miên xảy ra đã đẩy đất nước Trung Quốc vào thời kỳ Chiến quốc, diễn ra từ năm 475 trước công nguyên đến năm 221 trước công nguyên Vào thời kỳ này trong xã hội từ nghề đồng chuyển sang nghề sắt đã có sự phát triển rất cao, đưa nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh Nhiều trung tâm lớn đã

ra đời làm cho kỹ thuật thuỷ lợi, canh tác và khai khẩn đất đai phát triển mạnh

mẽ Cùng với sự phát triển về kinh tế thì các cuộc chiến tranh cũng phát triển không ngừng, khi nhận định về vấn đề này Mạnh Tử viết: “Đánh nhau giành đất, giết người thây chết đầy đồng, đánh nhau tranh thành, giết người thây chết đầy thành” (Tranh địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã Tranh thành dĩ chiến, sát nhân doanh thành)[76, 26-27] Vì thế, đã dẫn đến sự tan rã của chế độ công xã nông thôn càng trở nên nhanh chóng hơn, chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất trở thành quan hệ sở hữu thống trị đã tạo nên sự biến đổi lớn Trong đó chính sách thu thuế cũng có sự thay đổi, trước đây dựa vào sản lượng thì nay lại thay bằng việc tính theo số lượng, đồng thời việc mua bán ruộng đất cũng trở nên dễ dàng hơn, điều đó đã tạo cơ hội cho tầng lớp địa chủ giàu có thay nhau thâu tóm đất đai vào tay mình, đẩy những người nông dân nghèo phải đi làm thuê kiếm sống Do đó đã dẫn đến thực tế là những người nông dân ngày càng rơi vào tình cảnh vô cùng nghèo khó, không thể vươn lên được trong xã hội Những mâu thuẫn trong lòng xã hội phong kiến Trung Quốc vào thời kỳ

Trang 19

này, chính là nguyên nhân làm cho đất nước không thể phát triển được, đưa nền kinh tế ngày càng đi vào suy thoái và càng đẩy tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội vào tình trạng nghèo khổ, lạc hậu Muốn đẩy lùi được thực trạng trên thì điều quan trọng lúc này chính là đất nước cần có những chính sách cai trị đúng đắn, phù hợp với tình hình của đất nước, nhằm khắc phục sự rối loạn của xã hội vào thời điểm này Nhận thức được nguy cơ trật tự xã hội bị đảo lộn, cho nên giai cấp thống trị đã sử dụng một số biện pháp như áp dụng

“biến pháp” vào một số nước Đồng thời, vào thời gian này trong các quốc gia “lục quốc” thì nhà Tần được xem là hùng mạnh nhất vào năm 362 trước công nguyên, do Tần Hiếu Công làm vua

Nước Tần hùng mạnh không thể không nói đến những công lao mà Tần Hiếu Công đã đóng góp trong việc thực hiện khôi phục và phát triển nền kinh tế của đất nước Chính vì việc phát triển nền kinh tế có vai trò quan trọng trong cải thiện đời sống của một bộ phận không nhỏ những tầng lớp nhân dân trong xã hội và để ổn định nền chính trị - xã hội thì nhà Tần đã sử dụng pháp trị, cai trị đất nước bằng pháp luật, thưởng thật hậu cho những người có công

và phạt thật nặng những người vi phạm, nhờ phương pháp cai trị này mà nước Tần đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất trong số “lục quốc” Thời kỳ này, các quốc gia muốn tồn tại được thì cần có chính sách cai trị và phương pháp riêng phù hợp Nước Tần, người đứng đầu là Tô Tần đã đưa ra nhiều chính sách như cách hợp những nước nhỏ tạo thành sức mạnh để đánh nước mạnh, với kế sách “liên hoành” này mà nước Tần đã được tôn lên làm nước mạnh nhất để đánh bại những nước yếu hơn mình Dưới thời Tần Doanh Chính nước Tần là quốc gia đầu tiên đã thống nhất đất nước Trung Quốc, chấm dứt hoàn toàn những cuộc chiến tranh liên miên trong lịch sử Đây cũng chính là thời điểm một quốc gia mới ra đời, đó là quốc gia phong kiến trung ương tập quyền vào năm

221 trước công nguyên Sự ra đời của quốc gia này được coi là một dấu son lịch

sử vô cùng quan trọng về chính trị - xã hội của đất nước Trung Quốc đương thời, một thời kỳ mới đã mở ra

Trang 20

Khi đất nước thống nhất thì câu hỏi đặt ra cho những người cầm quyền

là làm sao để đất nước Trung Quốc ổn định về chính trị - xã hội và phát triển bền vững Đáp ứng yêu cầu đó, nhà Tần đã thực hiện rất nhiều chính sách vô cùng khắc nghiệt, như việc “chôn nho, đốt sách” do đó các học thuyết đương thời đều bị cấm, chỉ giữ lại và được truyền bá những sách về

y học, chiêm tinh, nông học nhằm thống nhất về mặt tư tưởng và chính trị Chính sách của nhà Tần đã làm tổn thất rất lớn đối với đất nước Trung Quốc, vào thời kỳ này rất nhiều tư tưởng có giá trị đã bị chôn vùi Cùng với việc thống nhất về tư tưởng, nhà Tần đã gây ra các cuộc chiến tranh nhằm mở rộng bờ cõi của mình và rất nhiều nông dân đãra đi mãi mãi cùng với những chính sách tàn bạo và lối sống xa hoa của nhà Tần Sự ra đời của những chính sách đó làm cho máu và nước mắt của hàng triệu những người nông dân nghèo đã đổ xuống, báo hiệu sự suy vong của nhà Tần mà đứng đầu là Tần Thủy Hoàng Chính sách hà khắc của nhà Tần đã tạo cơ hội cho những người nông dân đứng lên đấu tranh giành độc lập tự do và giải phóng cho mình thoát khỏi kiếp trâu ngựa Vào năm 206 trước Công nguyên, cuộc khởi nghĩa do Lưu Bang đứng đầu đã lật đổ nhà Tần, xây dựng một nhà nước mới và đây chính là thời kỳ nhà Hán đã ra đời

1.1.2 Những thành tựu văn hóa - khoa học là cơ sở hình thành tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại

Sự biến động của đất nước Trung Quốc không làm cho các lĩnh vực khác của đời sống xã hội giảm sút, mà còn phát triển rất đa dạng và phong phú Trong đó phải kể đến một số lĩnh vực tiêu biểu như tư tưởng văn hoá, khoa học có ý nghĩa rất lớn đối với đất nước vào thời kỳ này, tạo tiền đề hình thành tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại Những thành tựu

trong khoa học như việc làm ra lịch của nhà Ân, đánh dấu sự phát triển rất lớn

của lịch sử Trung Quốc thời kỳ này Đồng thời, với việc sáng tạo ra chữ viết cũng được coi là có ý nghĩa lớn trong việc chinh phục thiên nhiên của con người, quan sát sự vận hành của mặt trăng và các vì sao, tính được tính chất

Trang 21

và chu kỳ của nước sông dâng lên, quy luật sinh trưởng của cây trồng để tính Âm lịch Ngoài ra họ còn tính được một năm có hai mùa và mỗi tháng

có 30 ngày như cách tính của chúng ta ngày nay Có thể nói, phát minh trong khoa học được coi là sớm nhất của đất nước Trung Quốc chính là làm

ra lịch đồng thời tri thức về khoa học tự nhiên được xem là phát triển tương đối hoàn thiện vào thời kỳ này

Cũng như một số quốc gia ở phương Đông, những phát minh khoa học của thời kỳ cổ đại cũng chịu sự ảnh hưởng của tôn giáo Vì thế, nền kinh tế

có sự phát triển cao đặc biệt là về nông nghiệp, chăn nuôi và săn bắt Trong thời kỳ này quan hệ sản xuất là chế độ gia trưởng với trình độ thấp, điểm khác biệt ở thời kỳ này đó chính là chưa có sự phân biệt về khái niệm sở hữu với tư liệu sản xuất và sức lao động Có thể nói đây là thời kỳ xã hội Trung Quốc đã có sự phân hoá sâu sắc giữa thành thị và nông thôn, sự phân chia này chính là nguyên nhân dẫn đến việc ra đời nhà nước dù là ở trình độ thấp kém Những thành tựu rực rỡ trong khoa học như việc làm ra lịch, việc phát minh ra chữ viết, tính được các ngày trong một năm đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc khẳng định con người có khả năng chinh phục thiên nhiên vào thời kỳ mà trình độ của con người còn được xem là thấp khi nhận thức về thế giới Sự ra đời của những phát minh đã đánh dấu bước tiến

vô cùng quan trọng trong lịch sử đất nước Trung Quốc, xoá bỏ những nhận thức trước đây của con người còn vô cùng lạc hậu khi nhận thức về tự nhiên

Ngoài sự phát triển của khoa học, những thành tựu về văn hoá cũng có

sự tác động không nhỏ đối với những tư tưởng của các nhà triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại Trong đó, đặc biệt phải kể đến sự xuất hiện của chữ viết, với hơn 3000 ký tự, gồm có chữ tượng hình và tượng thanh xuất hiện trên vỏ sò

và mai rùa, đây chính là một phát minh vô cùng quan trọng của thời kỳ này Đồng thời, trên đó còn có sự xuất hiện của những phần ghi chép có liên quan đến việc bói toán tương lai Trên cơ sở đó người ta đưa ra cách tính thời tiết, mùa màng, thiên tai, lũ lụt… Những phát minh của các nhà khoa học và những thành tựu về

Trang 22

văn hoá vào thời kỳ cổ đại đã có sự tác động không nhỏ đến tư tưởng của các nhà triết học đương thời

Thời kỳ trước đây cũng đã có những tư tưởng về trị nước nhưng còn rất tản mạn, chưa trở thành những học thuyết nhất định Chỉ có một số như tư tưởng thần quyền, đề cao tính siêu nhiên của quyền trị nước; tư tưởng thiên ý, ý của vua chính là ý trời Sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học thời Xuân thu - chiến quốc, khiến người ta phải gọi là thời kỳ “ Bách gia chư tử”, “trăm hoa đua nở, muôn chim cùng hót” Đây được coi là thời kỳ ra đời các học thuyết triết học nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc của thời đại đặt ra

Với mục đích bình ổn xã hội, nhưng các học thuyết triết học lại đề ra những giải pháp trị nước khác nhau Có thể nói vấn đề trị nước là vấn đề cơ bản của mọi nhà nước Trị nước là hoạt động trung tâm của toàn bộ quá trình tổ chức và thực hiện những công việc của đất nước Vì thế, quan niệm trị nước cũng được hiểu theo những ý nghĩa rất khác nhau Ở Trung Quốc có hai đường lối trị nước cơ bản đó là đức trị và pháp trị Xã hội Trung Quốc cổ đại thì trong một chính thể quân chủ tuyệt đối, quyền lực nhà nước tập trung trong tay nhà vua Quyền lực của nhà vua luôn luôn được xem là quyền lực tối cao nhất Nhà vua trực tiếp ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và xét xử những người vi phạm pháp luật Cho nên về mặt ý thức, trong tư tưởng của những nhà triết học chưa thể có quan niệm trị nước theo nghĩa hẹp như chúng ta hiểu ngày nay Chính vì vậy, tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại được hiểu theo nghĩa rộng nghĩa

là chỉ hoạt động tổ chức thực hiện quyền lực của nhà nước nói chung Có thể xem quyền lực của nhà nước luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với một quốc gia

và không thể thiếu được trong việc ổn định nền chính trị - xã hội của chính quốc gia ấy

Vì thế, khi coi chính trị là việc lớn của đạo làm người quân tử thì triết học Trung Quốc cũng đồng thời coi việc trị nước là công việc cơ bản của đời sống xã hội, bởi vì trị nước là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại Điều đó, khiến cho nhiều người cảm thấy rằng không có

Trang 23

dân tộc nào xem chính trị quan trọng như dân tộc Trung Hoa Bởi vì với họ, việc trị dân, trị nước phải là sứ mệnh của kẻ sĩ, mà nếu không gặp thời, bất đắc dĩ phải

“độc thiện” thì kẻ sĩ ít nhất cũng phải truyền cái đạo của tiên vương, tiên thánh cho đoàn hậu sinh Tiến vi quan thoái vi sư [5, 433]

Có thể nói, các nhà triết học Trung Quốc cổ đại dù ở những mức độ khác, đều bàn đến vấn đề trị nước Vì thế, nó đã được rất nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu, ngay cả nhà tư tưởng thuộc trường phái triết học Danh gia như Công Tôn Long mặc dù đã đưa ra những lý thuyết phù phiếm như “bạch mã phi mã”, nhưng cũng không thể bỏ qua vấn đề trị nước Đối với ông, sự đi sâu tìm hiểu các khái niệm về mặt hình thức của ông cũng chính là muốn “chính danh thực, sửa thiên hạ” Trường phái Danh gia, mặc dù bàn về những lý thuyết khiến người ta tưởng chừng thuần túy như luân lý học, nhưng cuối cùng lại hướng đến việc trị nước muốn đạt hiệu quả phải dựa trên sự chính danh

Triết học Trung Quốc cổ đại coi vấn đề trị nước như một chủ đề chính của mình, vì thế đây là điểm đặc thù của thời kỳ này Ngoài ra vấn đề trị nước còn được xem như một công việc trong quá trình hoàn thiện con người Tuy nhiên, trong việc trị nước thì các nhà triết học Trung Quốc cổ đại đã đề cập rất nhiều vấn đề như : tư tưởng trị nước đã xuất hiện như thế nào, vì lợi ích của ai và do

ai thực hiện ; trị nước bằng đạo đức hay bằng pháp luật, hay là cần sự kết hợp của cả hai; nhà quản lý tức là bậc cầm quyền cần phải có những tiêu chuẩn gì

để xứng đáng là người trị nước, ngoài ra có những nghệ thuật gì mà bậc cầm quyền có thể sử dụng trong việc trị nước

1.2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

1.2.1 Quá trình phát triển tư tưởng trị nước của trường phái Nho gia

Sự ra đời của nhà Chu bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII trước công nguyên khi

xã hội đang có rất nhiều biến động to lớn, đánh dấu sự phát triển quan trọng của đất nước Trung Quốc vào lúc bấy giờ, gọi là thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, trong xã hội

Trang 24

Trung Quốc lúc này có sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên Xã hội Trung Quốc vào thời kỳ này trở nên hết sức rối ren, chiến tranh, thiên tai, lũ lụt… thường xuyên xảy ra, một bên là sự khốn cùng của tầng lớp lao động nghèo với một bên là sự giàu có của tầng lớp tư sản, phong hầu kiến địa Nhân dân thường xuyên phải sống trong cảnh đói rét, khổ đau Trong khi đó, thế lực cầm quyền luôn tìm mọi cách để gây thanh thế, cho nên thường xuyên diễn ra các cuộc chiến tranh

Dường như, trong tiếng kêu than của tầng lớp nhân dân lao động nghèo

đó đã tiếp thêm sức mạnh cho rất nhiều nhà tư tưởng cùng với những học thuyết của mình ra đời với mong muốn sẽ đưa họ thoát khỏi kiếp trâu ngựa, xây dựng một đất nước thái bình thịnh trị như mong muốn, khát khao cháy bỏng của rất nhiều người Bên cạnh sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là lĩnh vực thiên văn học và y học trở thành tiền đề cho sự phát triển mạnh

mẽ của các tư tưởng ở thời kỳ này Với những quan điểm trị nước có những nội dung không đồng nhất, mỗi quan điểm, học thuyết đều đưa ra cách giải thích riêng để bảo vệ quan điểm của mình Chính vì vậy, người ta gọi đây là thời kỳ "bách gia tranh minh", trăm nhà đua tiếng, đồng thời sự phong phú và

đa dạng của các tư tưởng thời kỳ này khi tìm cách bảo vệ quan điểm của mình

đã làm cho hệ thống triết học càng ngày càng trở nên hoàn chỉnh hơn Có những quan điểm khác nhau như thế nên đã dẫn đến sự phân chia thành các trường phái triết học khi giải thích các quan điểm của mình, trong các trường phái

đó tiêu biểu phải kể đến đó chính là Nho gia, Pháp gia, Đạo gia…

Tư tưởng của trường phái Nho gia với một số nhà triết học tiêu biểu như

Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử… Trong đó, Khổng Tử là người sáng lập, ông

cho rằng cai trị xã hội bằng pháp luật thì dân sợ nhưng không phục Khổng Tử

(551 – 479 tr.CN), họ Khổng tên Khâu, tự Trọng Ni nguyên quán ở làng Xương Bình, nước Lỗ đời Chu Nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông Cha tên là Thúc Lương Ngột, là một người anh dũng nhưng bị mất sớm khi Khổng

Tử mới lên ba tuổi Mẹ tên là Nhan Thị, khi cha mất đi chẳng bao lâu thì mẹ

Trang 25

cũng qua đời, ông trở thành đứa con mồ côi cả cha lẫn mẹ và sống trong một gia đình nghèo khó, nhưng Khổng Tử lại là người có tướng mạo khác thường, rất hiếu học, trở thành người nổi tiếng, có trí tuệ uyên thâm từ khi ông mới bước sang tuổi ba mươi Khổng Tử là người đầu tiên mở trường học và ông cũng là người có rất nhiều học trò theo học Ông sống vào thời kỳ mà chế độ tông pháp nhà Chu sắp bị băng hoại, suy tàn bởi các nước chư hầu phân tranh

từ thời Xuân thu cho đến khi chuyển sang thời Chiến quốc Thời đại của ông chính là thời đại “vương đạo suy vi”, trật tự lễ nghĩa của nhà Chu bị đảo lộn

Là người có trí tuệ uyên bác, Khổng Tử chủ trương lập lại trật tự lễ nghĩa của nhà Chu, theo cách của mình để phù hợp với tình hình chính trị - xã hội lúc bấy giờ Khi ông mở trường dạy học thì ông luôn khát khao được thực hiện lý tưởng chính trị của mình, ông đi nhiều nơi và mong muốn tìm được một vị vua nào đó thực hiện lý tưởng của mình, Khổng Tử bằng nhiều cách đã tìm cách tuyên truyền lý tưởng của mình chẳng hạn như tranh luận với các trường phái khác Khổng Tử luôn khao khát mang lại hoà bình thịnh trị, đặc biệt khi sống trong thời kỳ đất nước đang bị rối loạn, trật tự lễ nghĩa bị đảo lộn, ông chủ trương lập lại trật tự lễ nghĩa của nhà Chu và ông đã xây dựng nên học thuyết Chính danh

Ngoài ra, những quan điểm của Khổng Tử cũng đã tác động không nhỏ và trở thành tiền đề quan trọng cho các thế hệ học trò về sau kế thừa phát triển

Trong những nhà triết học đó có Mạnh Tử, hay còn gọi là Mạnh Kha (371 -

289 tr.CN), tên là Tử Dư, là người đất Trâu, thuộc miền nam tỉnh Sơn Đông ngày nay, là học trò của Tử Tư có tên là Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử

Tử Tư là học trò của Tăng Tử hay còn gọi là Tăng Sâm Mạnh Tử là triết gia lớn thời kỳ này, ông là người có công lao rất lớn trong việc bảo vệ phát triển những quan điểm của Khổng Tử và đưa ra những quan điểm hoàn toàn mới bổ sung cho trường phái triết học Nho gia, điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với thời kỳ này Ông sống vào thời kỳ mà những tư tưởng “mọc lên như nấm sau mưa” Chính vì vậy, để hoàn thiện và phát triển những tư tưởng bậc thầy

Trang 26

của mình là Khổng Tử và hy vọng những học thuyết của mình sẽ được tầng lớp thống trị tin dùng Mạnh Tử đã đi chu du khắp nơi với mong muốn truyền bá được những tư tưởng của mình để giúp ích cho đời Với khát khao cháy bỏng trong suốt cuộc đời, ông đã đến rất nhiều nước như Tề, Lương, Sở, Ngụy, Tần… nhưng học thuyết của ông đều không được trọng dụng Bởi vì nguyên nhân chính là do những quốc gia này đã sử dụng những học thuyết của những nhà tư tưởng trước đó rất thành công và ngày càng lớn mạnh Cho nên, những điều Mạnh Tử mang đi diễn thuyết đều trở nên xa lạ, không có sức thuyết phục đối với họ Trong đó, nước Tần lớn mạnh chính là nhờ việc dùng Thương Quân, còn các quốc gia khác như Sở, Ngụy thì thường xuyên đánh thắng địch

là nhờ vào việc dùng Ngô Khởi… Vì vậy, các nước thường xuyên sử dụng một số kế sách như hợp tung, liên hoành để đối phó với nhau Cho nên những tâm nguyện của ông không thể trở thành hiện thực, ông trở lại chuyên tâm vào con đường dạy học và nghiên cứu kinh sách như Kinh Thi, Kinh Thư, đồng

thời ông đã ghi chép và tổng hợp lại thành bộ sách có tên gọi là Mạnh Tử

Cuốn sách này đời sau đã đánh giá là tác phẩm kinh điển của trường phái triết học Nho gia

Có thể nói, những đóng góp của Mạnh Tử đối với triết học Nho gia còn phải kể đến đó là việc ông đã đấu tranh để chống lại những quan điểm của những trường phái triết học khác vào thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Để kế thừa và phát triển những tư tưởng của Khổng Tử, ông đã cho ra đời hệ thống triết học duy tâm chủ nghĩa dựa trên nền tảng những tư tưởng như “Thiên mệnh”, “sinh nhi tri chi”, “nội tỉnh”, “chính tâm thành ý” của triết học Khổng

Tử và Tử Tư, Tăng Sâm với danh nghĩa bảo vệ Nho giáo, đồng thời Mạnh Tử

đã phát triển những tư tưởng này lên đến đỉnh cao Tuy nhiên, những tư tưởng của Mạnh Tử lại dựa trên lập trường, tư tưởng của giai cấp quý tộc chủ nô đang sắp chuyển hoá thành giai cấp địa chủ phong kiến nên những tư tưởng của ông trở nên bảo thủ và không phù hợp với thời kỳ lịch sử lúc bấy giờ Vào cuối thời kỳ Xuân thu những cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt hơn,

Trang 27

những mâu thuẫn xã hội càng trở nên trầm trọng hơn bao giờ hết Tầng lớp quý tộc mới ở thời kỳ này ngày càng phô trương thanh thế của mình, trong khi đó tầng lớp quý tộc cũ thì lại ngày càng mất dần vị trí thống lĩnh Đây cũng là nguyên nhân chính làm cho những tư tưởng của các nhà triết học có sự chuyển biến rất rõ nét và có những quan điểm khác nhau, Mạnh Tử khi quan niệm về thế giới, ông lại cho rằng trời là đấng anh minh tối cao, sáng tạo và chi phối vạn vật trong vũ trụ Chính điều này để ổn định nền chính trị - xã hội của đất nước, Mạnh

Tử đề cao mệnh trời và cho ra đời học thuyết “Nhân chính”, nhằm đem lại bình yên cho nhân dân mà không cần sử dụng vũ lực

Cùng những quan điểm của các nhà triết học thuộc trường phái Nho gia, thì học thuyết bản tính ác của con người mà Tuân Tử và Hàn Phi là tiền đề lý

luận của chủ trương Pháp trị của trường phái Pháp gia Tuân Tử họ Tuân tên

thường gọi là Huống, tên tự là Khanh người đời còn gọi là Tôn Khanh, ông sinh khoảng năm 313 và mất năm 238 trước công nguyên Tuân Tử là người nước Triệu, thuộc phía nam tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây ngày nay Những năm trước tuổi 40, ông thường chuyên tâm vào việc trau dồi học vấn Đến năm 50 tuổi, Tuân Tử dành phần lớn thời gian của mình để đi chu du tới các nước Trong đó, ông đến nước Tề và được xem là bậc thầy già nhất, ở đây ông đã được tôn kính gọi là “Liệt đại phu” và ông đã ba lần làm tế tửu, một danh hiệu vinh dự trong buổi tiệc “quốc yến” vào khoảng năm 265 - 260 tr.CN, nhưng ông cũng không được trọng dụng Rồi vài năm sau đó, Tuân Tử đã đến nước Tần diện kiến Tần Chiêu Vương vào khoảng năm 260 - 255 tr.CN và gặp được

tể tướng Phạm Tuy Đây chính là giai đoạn mà nước Tần được xem là một cường quốc, nhờ vào thế mạnh của mình để đe dọa các nước chư hầu Khi được tể tướng của nước Tần hỏi về những suy nghĩ của mình đối với nước này thì ông đã thẳng thắn ca ngợi đây là nước có nhiều tập tục tốt như cảnh núi non thì hùng vĩ, quan lại thì hết lòng vì dân… Tuy nhiên, trước mặt tể tướng của nước Tần ông lại không tiếc lời phê bình nước Tần còn khiếm khuyết về đạo Nho Theo quan điểm của ông thì thiếu đạo Nho chính là việc thiếu lễ nghĩa,

Trang 28

đó chính là linh hồn của một quốc gia Có thể nói, Tuân Tử đã khen điều hay

và chê điều khiếm khuyết của nước Tần một cách hết sức thẳng thắn, không sợ

bị mất lòng và rất nghiêm túc mà như người ta nói thì đúng như cách phân biệt phải, trái của người Nho học Cũng chính vì thế, nên ông đã không có dịp may thi thố tài đức của mình và để thực hiện được lý tưởng chính trị của mình, phải quay trở về quê hương Từ nước Tần ông lại về nước Triệu diện kiến Triệu Hiếu Thành Vương, ở đây Tuân Tử đã từng biện luận về phép dụng binh với Lâm Vũ trước mặt Triệu Hiếu Thành Vương Lâm Vũ Quân lại dựa vào nguyên tắc “xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị” của binh pháp Tôn Tử và cho rằng

kẻ dùng binh giỏi bao giờ cũng “quyền mưu thế lợi” và “công đoạt biến trá” nghĩa là không từ bỏ bất cứ thủ đoạn gian trá nào Ngược lại, với quan điểm của nhà triết học Tuân Tử, ông lại cho rằng kẻ giỏi về quân sự là phải biết

"thiện phụ dân", nghĩa là cần phải biết dựa vào sức mạnh của dân một cách hiệu quả Theo Tuân Tử, người thành công chính là người biết dựa vào sức mạnh của dân không thể không nắm chắc phần thắng, đặc biệt là khi đất nước

có chiến tranh xảy ra điều này lại càng trở nên vô cùng quan trọng Ông cho rằng "thiện phụ dân" chính là sức mạnh của người cầm quyền, người điều binh khiển tướng Tuy nhiên, những tư tưởng của ông cũng không được trọng dụng ngay trên mảnh đất quê hương của mình, nên ông đã sang Sở vào khoảng năm

250 tr.CN, tại đây ông đã được vị tướng là Xuân Thân Quân bổ nhiệm cho làm huyện lệnh và sinh sống ở đây đến cuối đời mà không trở về quê hương nữa

Sau hai nhà triết học lớn là Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử được xem là nhà triết học thuộc trường phái Nho gia lớn vào cuối thời kỳ Chiến quốc Có thể nói, đây chính là thời kỳ có rất nhiều nhà tư tưởng với rất nhiều những học thuyết khác nhau như Nho gia, Đạo gia, Mặc gia… Vì thế, đây là thời kỳ có nhiều học thuyết phát triển và nở rộ, mỗi học thuyết đều có thế giới quan và nhân sinh quan khác nhau, kế thừa và đối lập với nhau Trong những nhà tư tưởng ấy, Tuân Tử là người đã dựa trên quan điểm của mình đó chính là thế giới quan duy vật và lập trường lý luận của mình để chống lại những quan

Trang 29

điểm của các trường phái triết học khác như quan điểm về "đạo" của Lão - Trang rồi học thuyết về "tính thiện" của Mạnh Tử… Những quan điểm của Tuân Tử thực sự có ý nghĩa rất lớn đối với thời kỳ bấy giờ và điều đó đã làm cho các nhà tư tưởng thời kỳ đó không thể phủ nhận trình độ nhận thức vô cùng uyên bác của ông Quá trình nghiên cứu những tư tưởng triết học của Tuân Tử có thể thấy ông có sự kế thừa rất lớn những quan điểm trong triết học của Khổng Tử như việc đề cao nhân, nghĩa, lễ, nhạc, ông chủ trương "chủ nghĩa chính danh", trọng vương khinh bá; nhưng quan điểm của ông cũng

có phần đối lập với tư tưởng của Khổng Tử và Mạnh Tử không chỉ về thế giới quan mà còn cả về triết học chính trị - xã hội Ngoài ra, những tư tưởng của ông về vương chế, pháp hành, chính danh, quân đạo… trở thành tiền đề lý luận của triết học Pháp gia về sau

1.2.2 Quá trình phát triển tư tưởng trị nước của trường phái Pháp gia

Có thể nói, lịch sử phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại được đánh giá rất cao với nhiều quan điểm của các trường phái triết học khác nhau, ngoài trường phái Nho gia với những nhân vật tiêu biểu như Khổng Tử, Lão Tử, Tuân Tử… hay còn gọi là Nho gia Tiên Tần khi đưa ra quan điểm của mình về vấn đề trị nước Ngược lại với quan điểm của trường phái Nho gia, trường phái Pháp gia cũng đưa ra những quan điểm trị nước của mình với những nhân vật xuất sắc như Quản Trọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng, Hàn Phi… Sự hình thành và phát triển của những quan điểm trị nước nói trên, cũng xuất hiện từ thời kỳ cổ đại khi có rất nhiều những quan điểm khác nhau đã được hình thành và phát triển khi đề cập về vấn đề này Những quan điểm của Pháp gia thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử phát triển của đất nước Trung Quốc thời kỳ bấy giờ, trong việc thống nhất và phát triển phồn vinh của đất nước Đặc biệt trường phái Pháp gia với việc đề cao tính tự tôn “pháp luật” trong việc trị nước

Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Pháp gia đưa ra lý thuyết cho rằng để ổn định nền chính trị - xã hội của đất nước thì cần dạy cho dân biết đến

Trang 30

vấn đề tự tôn pháp luật, hay còn gọi là tư tưởng “hình pháp” là các điều luật của bộ hình xuất hiện vào thời kỳ đầu nhà Chu, đó là “lễ” được áp dụng cho cách cư xử của tầng lớp quý tộc hay còn gọi là người quân tử và “hình” được

áp dụng cho tầng lớp thứ dân hay còn gọi là những kẻ tiểu nhân Chính vì vậy, người ta còn cho rằng trong quan niệm của tầng lớp cầm quyền thời kỳ này, chưa có ai đề ra việc sao chép pháp luật thành văn bản cả, cho nên việc phổ biến pháp luật trong những tầng lớp dân chúng càng trở nên hạn chế Nguyên nhân chính đó là, nếu những văn bản pháp luật này càng được giữ bí mật và không phổ biến ra bên ngoài bao nhiêu, càng có giá trị hơn bấy nhiêu, không những thế điều này còn thể hiện tính nghiêm minh của nhà nước lúc bấy giờ

Để ổn định nền chính trị - xã hội của một quốc gia thì điều này có vai trò hết sức quan trọng

Quản Trọng sinh vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, còn có

tên là Di Ngô người ở vùng đất Dĩnh Thượng, thuộc nước Tề, ông xuất thân

từ tầng lớp bình dân nhưng là người học rộng hiểu sâu, am tường về chính trị Quản Trọng là người mở đầu cho trường phái triết học Pháp gia Ông đã từng làm tướng quốc cho nước Tề từ năm 685 đến năm 645 trước Công nguyên Khi ông đang còn đương chức thì đây chính là thời điểm mà nước Tề đang bị suy thoái về chính trị nhằm giành vị trí bá chủ so với các nước chư hầu, do đó đây chính là thời kỳ rất khó khăn của nước Tề Có thể nói, không phải ngay

từ đầu Quản Trọng đã tìm đến những hệ thống chính trị thuộc trường phái Pháp gia mà ban đầu ông nghiên cứu quan điểm của Nho gia trước, sau đó mới quay sang nghiên cứu những quan điểm thuộc trường phái Pháp gia nghĩa là ông đã chuyển sang từ nghiên cứu quan điểm “đức trị” sang nghiên cứu những quan điểm “pháp trị” Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, Quản Trọng được xem là người đầu tiên nghiên cứu bàn về vấn đề pháp luật trong phương pháp trị nước của mình và đề cao vai trò của pháp luật trong phương pháp trị nước, ngoài ra ông còn đề ra những chủ trương công khai pháp luật trong dân chúng Có thể nói, đây chính là điểm khác biệt rất lớn

Trang 31

khi ông nghiên cứu về tư tưởng của trường phái “pháp trị” với tư tưởng của trường phái “đức trị” trước đây Những tư tưởng của ông được ghi chép

trong bộ Quản Tử với rất nhiều những quan điểm độc đáo

Ngoài những quan điểm của Quản Trọng, trong thời kỳ Chiến quốc Thận Đáo cũng có vai trò hết sức quan trọng khi nghiên cứu về tư tưởng của trường

phái pháp trị Thận Đáo (370 – 290 tr.CN) là người sinh ra và lớn lên ở nước

Triệu Những tư tưởng của ông được ghi chép trong Hán thư, Nghệ văn chí

gồm có 42 thiên nhưng do những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ

quan mà người đời sau chỉ còn tập hợp lại được 5 thiên, lấy tên là Thận Tử

Tuy nhiên, cuốn sách này của ông cũng bị thất lạc, cho nên chúng ta chỉ biết

được tư tưởng của ông thông qua những tác giả khác mà thôi Có thể nói,

những tư tưởng triết học của ông chịu sự ảnh hưởng của “đạo” tự nhiên, “vô vi” của triết học Lão Tử Vì vậy, Thận Đáo chủ trương trị nước bằng pháp luật, ông cho rằng pháp luật phải khách quan như vật “vô vi”, đồng thời loại trừ những quan điểm chủ quan của nhà cầm quyền Tuy nhiên, Thận Đáo cũng đặc biệt đề cao “thế” trong phép trị nước

Những quan điểm của trường phái Pháp trị thực sự được đánh giá cao

vào thời kỳ này, trong đó còn phải kể đến tư tưởng của Thân Bất Hại Ông

sinh vào khoảng những năm 401 và mất vào khoảng năm 337 trước Công nguyên Có thể nói Thân Bất Hại là người nghiên cứu về hình danh Khi ông đến đất Hàn, được Chiêu Ly Hầu phong cho làm tướng quốc, vốn xuất thân từ tầng lớp quý tộc mới Trái với quan điểm của Thận Đáo là đề cao “thế”, ông chủ trương nâng cao vai trò của “thuật” trong quan điểm trị nước của mình và đồng thời chủ trương ly khai “đạo đức” và chống “lễ” Cùng với những biến động của thời gian, cho nên những tư tưởng của ông đã bị thất lạc nên chỉ còn

lại qua hai thiên của tác phẩm Hàn Phi Tử

Cũng thuộc trường phái Pháp trị đó là quan điểm của Thương Ưởng

Ông sinh ra ở nước Vệ, nhưng lại là người xuất thân từ tầng lớp quý tộc

sa sút Những nhà triết học như Mạnh Tử, Thận Đáo và Thân Bất Hại là

Trang 32

những người sống cùng thời kỳ với ông Có thể nói, Thương Ưởng được đánh giá là nhà chính trị có tài đã được Tần Hiếu Công rất tin dùng, trọng dụng làm tể tướng của nước Tần với rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm mục đích mang lại cho nước này sự hùng mạnh về mặt kinh

tế, thịnh vượng về chính sách pháp luật và hành chính Cho nên, những quan điểm của ông luôn được vua Tần đánh giá cao và sử dụng

Ngoài những quan điểm của các nhà triết học trên, chúng ta không thể không nhắc đến vai trò to lớn, đại biểu xuất sắc của trường phái Pháp gia

đó chính là Hàn Phi - người có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp

thống nhất đất nước Trung Hoa vào năm 22 tr.CN Hàn Phi sinh vào

khoảng năm 280 và mất vào năm 233 trước Công nguyên, xuất thân từ tầng lớp quý tộc của nước Hàn Từ nhỏ, ông đã trở nên đặc biệt nổi tiếng, không chỉ về học hành mà còn về sự thông minh, uyên bác của mình Hàn Phi đã say mê nghiên cứu cả đạo Nho, đạo Lão, nhưng điều đáng chú ý đó chính

là việc ông thực sự thích thú và say mê nghiên cứu học thuyết của trường phái Pháp gia Hàn Phi tuy xuất thân từ tầng lớp quý tộc, nhưng ông luôn mang trong mình tinh thần cách mạng và tư tưởng tiến bộ Cho nên, ông rất khinh ghét bọn quý tộc bảo thủ, nhưng đồng thời lại trọng kẻ sĩ giỏi pháp thuật Khi nhắc đến tên tuổi của nhà triết học Hàn Phi, người ta không chỉ nhắc đến những tư tưởng chính trị có giá trị to lớn của ông mà còn nhắc đến những công lao to lớn của ông trong việc ông đã dành cả cuộc đời mình cho lý tưởng chính trị với mong muốn giúp cho đất nước thoát khỏi cảnh loạn lạc, nhân dân sống trong cảnh ấm no và thịnh vượng muôn đời Phần lớn thời gian của cuộc đời mình Hàn Phi đã dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu về rất nhiều lĩnh vực như triết học, luật học, khảo sát chính trị… đồng thời ông còn dành tâm huyết của mình trong việc viết sách với mong muốn quan điểm trị nước của mình sẽ được trọng dụng khi được dâng lên vua Hàn, nhưng thật đáng tiếc mong muốn của ông lại không được vua Hàn chấp thuận Mặc dù quan điểm của ông không được vua Hàn

Trang 33

trọng dụng nhưng quan điểm ấy lại rất có giá trị đối với vua Tần khi đọc sách của ông Với trí tuệ uyên bác của mình Hàn Phi đã bị quan lại trong triều đình nhà Tần ganh ghét, khiến ông phải vào tù và mất đi vào năm 233 trước Công

nguyên Sau khi ông mất đi đã để lại cho đời sau cuốn Hàn Phi Tử, đây là

cuốn sách có giá trị rất lớn với 55 thiên, khoảng trên 10 vạn từ thể hiện những

tư tưởng cơ bản như quan niệm của ông về thế giới, lịch sử xã hội, đạo đức và quan trọng hơn cả đó chính là về luật pháp được xem là một hệ thống pháp trị duy nhất và thống nhất trong tư tưởng chính trị của ông Mặc dù ông mất đi nhưng những tư tưởng của ông thực sự có giá trị ngay cả trong thời kỳ này, vì khi đất nước Trung Quốc đang ở trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc thì tư tưởng trị nước của trường phái triết học Pháp gia mà đại diện tiêu biểu là Hàn Phi vẫn còn ý nghĩa nhất định của nó ngay cả ở nước ta khi xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay

1.2.3 Quá trình phát triển tư tưởng trị nước của trường phái Đạo gia

Quan điểm của trường phái Đạo gia với nhân vật tiêu biểu như Lão Tử, Trang Tử nổi tiếng với học thuyết về "đạo", tư tưởng về phép biện chứng và

đặc biệt là học thuyết “vô vi” ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại Lão Tử là người

có ảnh hưởng rất lớn đối với trường phái triết học Đạo gia, ông cũng chính là người sáng lập ra học thuyết này Những tư tưởng của ông có sự tác động không nhỏ đối với nền chính trị - xã hội lúc đương thời Trường phái triết học Đạo gia chính là một trong những trường phái lớn vào thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Trường phái này được chia làm nhiều phái khác nhau, nhưng điểm chung nhất của những nhà tư tưởng là đề cao lợi ích của cá nhân, với chủ trương “vị ngã” Người ta cho rằng điểm đặc biệt đó là Lão

Tử, người sáng lập ra trường phái này thì cuộc đời của ông còn rất nhiều điểm chưa thể xác định được Tuy nhiên, theo tài liệu ghi chép được thì Lão Tử còn gọi là Lão Đam, họ Lý, tên là Nhĩ, tự là Bá Dương, quê quán tại xóm Khúc Nhân, làng Lê, huyện Khổ nước Sở nay thuộc phía đông ấp Lộc, tỉnh Hà Nam Ngoài ra thì năm sinh và năm mất của ông cũng chưa

Trang 34

được xác định và còn rất nhiều khuất tất Nhiều nhà tư tưởng cho rằng có thể ông sống cùng thời với nhà triết học Khổng Tử

Lão Tử chính là người làm quan trông coi kho sách trong triều đình nhà Chu, những tư tưởng chính của ông được ghi chép chủ yếu trong cuốn sách

“Đạo đức kinh”, đây là cuốn sách gồm có 81 chương, với 2 thiên thượng và hạ

Có thể nói, các học giả khi nghiên cứu về nhà tư tưởng này đều cho rằng đây chính là cuốn sách do các môn đệ của ông sưu tầm và ghi chép lại Ông được đánh giá rất cao và được ví như một kim tự tháp trong lịch sử triết học Trung Quốc, tư tưởng của trường phái này được so sánh là một trong hai trường phái

có những tư tưởng lớn, bao trùm toàn bộ tư tưởng trong lịch sử đất nước Trung Quốc Tư tưởng của ông là sự diễn đạt hết sức súc tích và mang tính chất ẩn

dụ, trong đó có một số vấn đề cơ bản như: Học thuyết về “đạo”, tư tưởng về phép biện chứng và học thuyết “vô vi” Trong những nội dung này thì học thuyết về “đạo” có vị trí vô cùng quan trọng, học thuyết này chính là nền tảng chi phối thế giới quan và nhân sinh quan của ông Khái niệm về đạo trong lịch

sử Trung Quốc được giải thích theo ý nghĩa đó là “thiên đạo”, “nhân đạo”, “đại đạo”… Nhưng đến thời kỳ Lão Tử thì khái niệm về “đạo” được hiểu theo ý nghĩa hoàn toàn khác, mang tính chất hệ thống và sâu sắc Đạo của ông được thể hiện ở ba mặt : thể, tướng, dụng

Có thể nói, trong triết học Lão Tử là quan niệm cốt lõi của Đạo thì Lão

Tử còn cho rằng xã hội con người không những không thể tách khỏi tự nhiên mà ngược lại không được làm những gì ngược lại với tự nhiên Mọi cái nhân tạo đều sai lầm, mọi cái tự nhiên đều vĩ đại Do đó thể chế chính trị tốt nhất là chính sách vô vi Bởi vì vô vi không có nghĩa là không làm gì cả mà theo Lão Tử thì

vô vi mới chính là cách làm tốt nhất

Trong trường phái triết học Đạo gia ngoài người sáng lập ra học thuyết này là Lão Tử thì người kế thừa và phát triển tư tưởng của ông còn có nhà

triết học Trang Tử, ông còn có tên gọi khác là Trang Chu (369 - 286

tr.CN), giai đoạn khoảng nửa cuối thế kỷ thứ IV trước công nguyên và mất

Trang 35

vào khoảng những năm đầu thế kỷ thứ III trước công nguyên, quê ở huyện Mông nay là đông bắc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam Ông sinh ra và lớn lên trong gia đình quý tộc nhỏ sa sút ở nước Tống Người có ảnh hưởng mạnh mẽ, mang dấu ấn của thời đại Có thể nói, ông sinh ra và lớn lên vào thời kỳ Chiến Quốc, giai đoạn đất nước đang trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài ở thời kỳ cuối Giai đoạn chiến tranh loạn lạc, tranh giành địa

vị, quyền lợi của các nước chư hầu, đồng thời đây cũng chính là giai đoạn chuyển giao từ xã hội nô lệ kiểu phương Đông sang chế độ phong kiến tập quyền Thời kỳ này đời sống của nhân dân gặp rất nhiều gian nan, vất vả, trật tự cương thường của xã hội bị đảo lộn, những giá trị đạo đức trước đây không còn nữa Vì thế, lịch sử đất nước Trung Quốc lúc này cũng đã tác động không nhỏ đối với sự phát triển của các nhà tư tưởng lúc bấy giờ, trong đó có nhà triết học Trang Tử Là nhà tư tưởng lớn về đạo học, người

kế thừa xuất sắc tư tưởng của bậc thầy của mình trước đó Để tôn vinh công lao của ông, người đời thường gọi là triết học Lão - Trang là vì vậy

Trang Tử từ lúc sinh thời cho đến khi mất đi là người có cuộc sống thanh bạch và giản dị, là tấm gương sáng cho sự kế thừa của thế hệ sau Những tư

tưởng của ông tập trung chủ yếu nhất trong bộ sách Nam hoa kinh với khoảng

33 thiên, với 3 phần lớn là Nội thiên, Ngoại thiên và Tạp thiên Trong đó, có

ý kiến cho rằng chỉ có phần Nội thiên là do ông viết, còn Ngoại thiên và Tạp thiên phần lớn là do người đời sau viết thêm vào

Trang Tử là người kế thừa tư tưởng của Lão Tử trong học thuyết vô vi, ông chủ trương con người không được tách rời khỏi tự nhiên Cho nên mọi thứ hữu vi của con người cuối cùng không đem lại lợi ích gì mà còn có hại là khác Mặc dù kế thừa tư tưởng của Lão Tử, nhưng Trang Tử dường như lại có sự tiến xa hơn bậc thầy của mình Vì thế, ông nhìn cuộc đời, nhìn xã hội qua lăng kính mờ ảo hơn Lão Tử Những cái gì gọi là văn minh văn hóa đều đáng vứt

đi, hãy trở lại cuộc sống mà Trang Tử gọi là “thời đại tốt đẹp nhất” (chí đức chi thế) là vì vậy

Trang 36

Có thể nói, những tư tưởng của Trang Tử có sự kế thừa mạnh mẽ những tư tưởng của Lão Tử trước đó Vì thế, người đời sau thường tôn vinh gọi là triết học Lão - Trang để luôn nhớ đến công lao của người sáng lập ra trường phái và người kế thừa xuất sắc trường phái triết học Đạo gia Đồng thời những tư tưởng của trường phái triết học Đạo gia nói chung và Trang

Tử nói riêng cho dù còn những hạn chế nhất định, nhưng cũng không thể phủ nhận những đóng góp to lớn mà ông đã mang lại cho thời đại Những tư tưởng

đó cũng đã ghi đậm những dấu ấn trong lịch sử đất nước Trung Quốc vào thời

kỳ cổ đại

Trang 37

Chương 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC TRONG TRIẾT HỌC

TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI

VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Những điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học… đã trở thành nguồn gốc đối với việc hình thành và phát triển tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại Cùng với rất nhiều những nhà tư tưởng lớn, có những đóng góp không nhỏ đối với thời đại đặc biệt là vào thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Tư tưởng trị nước trong triết học Trung Quốc cổ đại được hình thành và phát triển cùng với những nội dung như sau:

2.1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

2.1.1 Tư tưởng đức trị của trường phái Nho gia

Trong quan điểm trị nước của trường phái triết học Nho gia, phương pháp nhân trị hay còn gọi là đức trị được đặt lên hàng đầu, trường phái này cho rằng muốn trị nước thì cần phải lấy nhân nghĩa làm tiêu chuẩn để giáo hóa dân

Người sáng lập ra trường phái triết học Nho gia là Khổng Tử, ông đặc biệt tin

vào mệnh trời và đưa ra quan điểm cho rằng “sống chết có mệnh giàu sang tại trời” Cho nên, ông đã lý giải rằng việc phân xử đúng sai đều do trời quyết định,

đó là một cách phân xử công bằng nhất Chính vì vậy, mỗi chúng ta hãy luôn tin tưởng và tuân theo ý chí của trời, đây cũng chính là cách làm cho con người hoàn thiện hơn và đó còn là cách để phân biệt người quân tử với kẻ tiểu nhân Ngoài ra, vào thời kỳ cổ đại mối quan hệ giữa trời và người luôn được coi là nguyên nhân làm cho các cuộc đấu tranh của các trường phái triết học nổ ra

Tuy nhiên, trong cách lý giải của mình, Khổng Tử lại cho rằng vạn vật đều cùng một nguồn gốc, cái phức tạp biến sinh từ cái giản dị Vì vậy, theo ông

sự đảo lộn của trật tự xã hội, không phải xuất phát từ một sớm một chiều mà

đó chính là nguồn gốc từ việc sa sút của thế lực cầm quyền, điều đó chính là nguyên nhân làm cho “danh” không được “chính” nghĩa là làm cho “danh”

Trang 38

không phù hợp với “thực” Do đó, làm cho xã hội bị rối loạn, trật tự cương thường của xã hội bị đảo lộn mà nguyên nhân là do con người không thực hiện theo đúng nghĩa vụ của “danh” và theo Khổng Tử để giữ cho trật tự cương thường của xã hội ổn định, trước hết mọi người phải “chính danh” Bởi, mỗi vật, mỗi người đều có “danh” để thực hành nhiệm vụ riêng của mình với mỗi

“danh” tương ứng Và mỗi vật, mỗi người mang “danh” nào thì cần phải được thực hiện tương ứng với “danh” đó và nếu mỗi người không thực hiện đúng

“danh” thì sẽ phải thay bằng “danh” khác Theo ông đó là thuyết “chính danh” Ông cho rằng: “Chính là làm cho mọi việc ngay thẳng” còn chính danh thì cần phải làm sao: “vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha phải ra cha, con phải ra con”

Và theo ông thì nếu “danh” mà không chính thì những điều nói ra sẽ không đúng và khi đó việc làm sẽ bị sai Và trong xã hội người với người sẽ mất đi hoà khí, không còn tôn trọng nhau nữa và luật pháp sẽ ngày càng trở nên lỏng lẻo và dân sẽ không còn biết nhờ cậy vào đâu nữa cả Ông còn cho rằng khi người dân mất đi chỗ tin cậy nhờ vả thì cũng sẽ mất đi cả niềm tin vào những bậc cầm quyền, điều này rất nguy hiểm vì khi đó xã tắc sẽ không thể tránh khỏi nguy cơ bị sụp đổ cũng bởi nguyên nhân này Khổng Tử đặc biệt đề cao học thuyết “chính danh” và ông còn cho rằng người cầm quyền để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình thì cần thực hiện theo thuyết “chính danh” vì như thế giang sơn sẽ giữ vững, đất nước sẽ thái bình thịnh trị muôn đời

Tư tưởng về “chính danh” của ông còn được thể hiện trong cách dùng

từ ngữ trong các tác phẩm nhất là khi phân biệt với các hiện tượng trong xã hội Không những thế, học thuyết “chính danh” của Khổng Tử còn được thể hiện ở cả hành động của ông nữa Trong việc tôn trọng trật tự, phép tắc, trong mối quan hệ giữa người với người mà Nho gia thường gọi là

“luân” Cũng theo quan điểm của triết học Nho gia, “luân” còn thể hiện trong xã hội với những mối quan hệ cơ bản đó là mối quan hệ giữa vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bè bạn ở đây còn được gọi là “ngũ luân” Trong đó, mỗi quan hệ có những

Trang 39

tiêu chuẩn riêng của mình Tuy nhiên, Khổng Tử đặc biệt đề cao mối quan

hệ giữa vua tôi và mối quan hệ cha con Mối quan hệ giữa vua tôi thì ông phê phán kiểu duy trì cha truyền con nối Điều này chính

là đặc quyền mà ở thời kỳ này người ta vẫn duy trì, nhưng ông lại kịch liệt phản đối quan điểm này Vì theo quan điểm của Khổng Tử người cầm quyền không những cần có đức mà còn cần có cả tài nữa, còn việc họ xuất thân ở đẳng cấp nào thì không quan trọng Ngoài ra, theo ông người đứng đầu một quốc qia thì còn có hàm ý đó chính là người phải đạt được nhân đạo và cả thiên đạo nữa để trở thành một minh quân chính trực [8, 59] Có thể nói, khi đề cập đến những tiêu chuẩn của người quân tử, một minh quân chính trực thì đó là yêu cầu rất quan trọng trong tư tưởng của ông vào thời kỳ này Những quan điểm của ông còn thể hiện rõ trong việc ông đưa ra những tiêu chuẩn của người quân tử, của bậc minh quân đó

là làm sao cho dân được no ấm, đảm bảo cuộc sống bền vững, muốn làm được thì cần phải giữ vững an ninh trong đó là việc phải xây dựng lực lượng quân sự vững mạnh và đồng thời phải giữ cho được niềm tin của nhân dân Ngoài ra, Khổng Tử còn bàn rất nhiều về chữ nhân, ông cho rằng nhân chính là thuộc tính riêng có của con người gồm tổng thể các giá trị về mặt đạo đức cao quý nhất của con người được hình thành và chịu sự chi phối trong mối quan hệ giữa con người với con người Vì thế, nhân trị cũng

có thể gọi là đức trị, thể hiện trong việc trị dân bằng đạo đức của nhà cầm quyền Bàn về vấn đề này, trong sách Trung Dung đã chép lại lời của Khổng Tử: “Đạo đức của con người làm cho chính trị có kết quả… cho nên làm chính trị cốt ở con người'” Có thể nói, việc nhà nước lấy nhân trị để nhằm mục đích tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của nhà cầm quyền thì được xem là điều kiện quan trọng đối với việc trị nước, bàn về vấn đề này Khổng Tử cho rằng: “Người hay còn thì chính trị hay thi hành được, người hay mất thì chính trị cũng hay cũng mất theo, cho nên trị nước cốt ở yếu tố con người” (Kỳ nhơn tồn, tắc kỳ chính cử Kỳ nhơn vong, tắc kỳ chính tức Cố vi chính tại nhơn)[61,

Trang 40

68-69] Chính vì vậy, có thể nói mệnh đề “chính giả chính giã” được xem là

mệnh đề bất hủ của Khổng Tử Ông cho rằng việc chính trị cốt chính tâm của

người trị dân Vì thế, đạo đức của bậc cầm quyền cũng sẽ làm ảnh hưởng và

cảm hoá được dân chúng làm theo điều thiện và xã hội sẽ thịnh trị, vững bền

Khổng Tử đã ví “đức của bậc cầm quyền như gió, đức của kẻ tiểu nhân như cỏ

Gió lướt tới đâu thì cỏ rạp xuống tới đó” (Quân tử chi đức phong giã; tiểu nhơn

chi đức thảo giã Thảo thượng chi phong tất yển) [61, 152-153] Vì thế, việc trị

nước không khó nếu như nhà cầm quyền biết giữ thân mình cho đoan chính,

bởi nếu không biết giữ thân mình cho đoan chính thì không thể sửa người khác

cho đoan chính được Nhà cầm quyền mà chính đáng thì chẳng cần ra lệnh dân

cũng theo và ngược lại nhà cầm quyền không chính đáng thì tuy ra lệnh dân cũng

sẽ không

theo, vì thế khó lòng mà giáo hoá được dân Khổng Tử cho rằng, đạo đức của bậc

cầm quyền tác động không nhỏ đến việc trị nước Có thể nói, hiệu quả của

phương pháp đức trị đó là làm chính trị mà dùng đức thì như sao Bắc Đẩu ở một

nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả (Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần cư kỳ

sở nhi chúng tinh ủng chi) [61,14] Vì vậy, việc dùng phương pháp đức trị để

trị nước, để giáo hóa dân đặc biệt có ý nghĩa rất quan trọng của trường phái

triết học Nho gia Trong đó, hiệu quả của việc trị nước còn tuỳ thuộc vào việc

tu dưỡng đức nhân của bậc cầm quyền Khi bàn về vấn đề này, Mạnh Tử cho

rằng đạo của vua Nghiêu, vua Thuấn không dùng nhân chính, cho nên không thể

bình trị thiên hạ được Còn các vua đời Hạ, Thương, Chu được thiên hạ vì có

lòng nhân, mất thiên hạ vì mất lòng nhân [61, 5]

Những tư tưởng của Khổng Tử thật sự có ý nghĩa sâu sắc, mang tính thời

đại và tác động rất lớn trong việc trị nước Sự ảnh hưởng này không chỉ đối với

nhân dân mà còn ảnh hưởng đối với các thế hệ học trò của ông, trong đó có

Tăng Tử do đó ông đã viết trong sách Đại học là: “Đời xưa muốn làm sáng đức

trong thiên hạ thì trước hết phải trị nước mình Muốn trị nước mình phải tề nhà

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Tư pháp (1993), Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1993
[2]. C.Mác- Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 13, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 13
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1995
[3]. Phan Bội Châu (1996), Chu Dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Dịch
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 1996
[4]. Phan Bội Châu (1998): Khổng học đăng, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng học đăng
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1998
[5]. Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (1992), Đại cương triết học Trung Quốc, quyển 2, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc, quyển 2
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1992
[6]. Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (1994), Tuân Tử, Nxb. Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuân Tử
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - thông tin
Năm: 1994
[7]. Doãn Chính (chủ biên) (1992), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb. Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1992
[8]. Doãn Chính (chủ biên) (2004), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[9]. Doãn Chính (chủ biên) (2007), Tư tưởng pháp trị của Pháp gia với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng pháp trị của Pháp gia với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
[10]. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1992
[11]. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
[12]. Phan Đại Doãn (chủ biên) (1998), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
[13]. Đại học - Trung dung Nho giáo (Đoàn Trung Còn dịch) (1996), Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học - Trung dung Nho giáo
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w