VƯƠNG THỊ HƯƠNG TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM – GIÁ TRỊ, BÀI HỌC LỊCH SỬ VÀ VẬN DỤNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC TP... GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG “
Trang 1VƯƠNG THỊ HƯƠNG
TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC”
TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM –
GIÁ TRỊ, BÀI HỌC LỊCH SỬ VÀ VẬN DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 2VƯƠNG THỊ HƯƠNG
TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC”
TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM –
GIÁ TRỊ, BÀI HỌC LỊCH SỬ VÀ VẬN DỤNG
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRƯƠNG VĂN CHUNG
TP HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trương Văn Chung Nội dung của luận văn
là trung thực và chưa được bất cứ tác giả nào công bố
TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2015
Học viên cao học
Vương Thị Hương
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 8
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9
6 Kết cấu của đề tài 9
Chương 1 CƠ SỞ XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM 10
1.1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM 10
1.1.1 Cơ sở xã hội hình thành tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong các vương triều phong kiến Việt Nam 10
1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong các vương triều phong kiến Việt Nam 26
1.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM 36
1.2.1 Nội dung tư tưởng “lấy dân làm gốc” các vương triều Ngô – Đinh – Tiền Lê 36
1.2.2 Nội dung tư tưởng “lấy dân làm gốc” vương triều Lý – Trần 39
1.2.3 Nội dung tư tưởng “lấy dân làm gốc” vương triều Lê – Nguyễn 52
Kết luận chương 1 66
Trang 5QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 68
2.1 GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM 68
2.2 HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM 83
2.3 BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM 91
2.4 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG “DÂN LÀ GỐC” TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY 106
Kết luận chương 2 127
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng lấy dân làm gốc là tư tưởng chính trị xã hội được thể hiện ở nước ta từ rất sớm Ở Việt Nam, lấy dân làm gốc đã trở thành một tư tưởng
chính trị xuyên suốt trong lịch sử đấu tranh giành, giữ nền độc lập dân tộc
và xây dựng đất nước từ các triều đại phong kiến Việt Nam cho đến ngày
hôm nay Lấy dân làm gốc đã trở thành một triết lý chính trị song hành,
định hướng, quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia Tư tưởng chính trị này được nhiều vương triều phong kiến Việt Nam vận dụng thành công như vương triều Khúc Thừa Dụ có chính sách “Khoan, giản, an, lạc”; vương triều Lý có chính sách “Ngụ binh ư nông”; vương triều Trần có
“Khoan thư sức dân”, “Chúng chí thành thành” và nổi tiếng với Hội nghị Diên Hồng; vương triều Lê Sơ với quan niệm “Dân như nước có thể chở thuyền và lật thuyền”, …
Cùng với quá trình phát triển của xã hội, tư tưởng chính trị lấy dân làm gốc được bổ sung thêm những giá trị mới tiến bộ, nhằm đáp ứng được đòi hỏi mới Đến thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng lấy dân làm gốc đã được
phát triển lên một trình độ mới, đáp ứng được những đòi hỏi lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, mang lại hạnh phúc cho đại đa
số nhân dân Đó là triết lý về một nhà nước “của dân, do dân và vì dân”
Từ khi mới ra đời, dưới lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng nhân dân, cách mạnh xã hội chủ nghĩa là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhân dân là chủ thể của cách mạng,
động lực cho cách mạng thành công và đồng thời cũng là mục tiêu của cuộc
cách mạng Tư tưởng chính trị lấy dân làm gốc là bài học kinh nghiệm,
Trang 7đường lối chiến lược góp phần vào thành công của cách mạng Việt Nam Bài học đó không chỉ có ý nghĩa trong thực tiễn cách mạng mà trong giai đoạn hiện nay vẫn còn nguyên giá trị Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã rút ra bài học: “Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì
lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo Đổi mới là
sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Để công cuộc đổi mới thành công phải động viên được mọi tầng lớp nhân dân và các thành phần kinh tế tham gia”[103]
Qua gần 30 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng
ta đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong giai đoạn hiện nay, việc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập sâu, rộng vào đời sống kinh tế khu vực
và thế giới, vấn đề về chủ quyền lãnh thổ quốc gia, những bất ổn trong khu vực và thế giới có tác động tới Việt Nam, … đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phát huy vai trò của nhân dân, lãnh đạo nhân dân vượt qua những khó khăn, thách thức để thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân đã lựa chọn
Mặt khác, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Chính phủ, chúng ta không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót; một bộ phận cán bộ, đảng viên tha hoá, biến chất, quan liêu, xa dân Thực tế này đã được phản ánh trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: “Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội
bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội… Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ,
Trang 8đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và
tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, … làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa
sự ổn định, phát triển của đất nước”[103] Sau gần 30 năm đổi mới, Đảng
đã chỉ ra bài học thứ hai là “Đổi mới phải luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc”[105] Từ “lấy dân làm gốc” đến “dân
là gốc” là một chặng đường dài gần 30 năm đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên trì quan điểm có tính nền tảng cho sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và là động lực văn hoá cho sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Tư tưởng lấy dân làm gốc trong các vương triều phong kiến Việt Nam - Giá trị, bài học lịch sử và
vận dụng” để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, bàn về lịch sử tư tưởng nói chung có các công trình, đề tài nghiên cứu, bài viết sau:
- Công trình: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, tác giả Trịnh
Doãn Chính (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Công trình đã phân tích điều kiện lịch sử - xã hội của Trung Quốc và nêu bật nội dung của các trường phái triết học, học thuyết triết học của Trung Quốc từ thời cổ đại tới thời cận đại Trong đó, ông đã phân tích, đánh giá trường phái triết học Nho gia và tư tưởng chính trị - xã hội của họ trong đó
có tư tưởng dân bản
- Công trình: Nho giáo, tác giả Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh, 1992 Công trình đã phân tích, đánh giá nội dung của
Trang 9triết học Nho giáo Trung Quốc qua các thời kỳ và phân tích, đánh giá nội dung Nho giáo ở Việt Nam
- Công trình: Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh của tác giả Nguyễn Hoài Văn, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, 2002 Công trình đã phân tích sự vận dụng tư tưởng chính trị Nho giáo vào quá trình trị nước trong lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời Lê đến đầu thời Nguyễn
- Đề tài nghiên cứu: Tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh tử và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Xuân Thanh, Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008 Đề tài đã phân tích điều kiện thực tiễn và lý luận hình thành tư tưởng dân bản của Mạnh Tử, phân tích nội dung và rút ra những bài học lịch sử đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
- Công trình: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX, tác giả Trịnh Doãn Chính (chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2013 Công trình đã nghiên cứu tư tưởng của những nhà tư tưởng tiêu biểu trong các thời kỳ lịch sử Trong đó, công trình có nhắc tới tư tưởng thân dân, nhân nghĩa, của một số nhà tư tưởng
- Công trình: Lịch sử tư tưởng Việt Nam – văn tuyển, Viện triết học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004; công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam của tác giả Lê Sỹ Thắng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội Các công trình này đã nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam từ nguồn gốc Trong quá trình đó, các tác giả đã phân tích tư tưởng chính trị thân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam được thể hiện qua các triều đại phong kiến, các nhà tư tưởng tiêu biểu
Trang 10- Công trình: Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần của tác giả Trương
Văn Chung, Trịnh Doãn Chính (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008 Công trình đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá
về điều kiện lịch sử, xã hội, văn hoá, tư tưởng, … của Thời Lý – Trần, trong đó có nói về tư tưởng thân dân, lấy dân làm gốc của thời Lý – Trần
- Công trình: Lịch sử tư tưởng Việt Nam của tác giả Nguyễn Tài Thư,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1993 Công trình đã khái quát lại toàn
bộ lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời cổ đại Trong quá trình phân tích đó, tác giả đã chỉ ra những giá trị của cha ông ta trong lịch sử, trong đó có tư tưởng nhân nghĩa
- Bài viết: Suy ngẫm về những giá trị trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam đăng trên tạp chí Thông tin Chính trị học, số 3, năm 1999 của tác
giả Hồ Văn Thông Bài viết đã phân tích những giá trị tư tưởng chính trị của các thế hệ cha ông đúc kết trong lịch sử dựng nước và giữ nước
- Bài viết: Tổng quan về lịch sử tư tưởng chính trị đăng trên tạp chí
Thông tin Chính trị học, số 4, năm 2000 của tác giả Nguyễn Văn Vĩnh Bài viết cung cấp cho người đọc một cái nhìn khái quát về lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại
- Công trình: Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam từ Bắc thuộc đến thời Lý - Trần của tác giả Lê Văn Quán, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, năm 2008 Công trình đã phân tích, bình luận những sự kiện lịch
sử diễn ra trong suốt thời kỳ Bắc thuộc đến thời kỳ hưng thịnh của phong kiến Việt Nam độc lập
- Bài viết: Các cuộc cải cách trong lịch sử, của tác giả Văn Tạo đăng
trên tạp chí Xưa và Nay, năm 2009, đã chỉ ra các cuộc cải cách lớn đã diễn
ra và vai trò của nhân dân đối với thành công của các cuộc cải cách đó
Trang 11- Công trình: Kế sách giữ nước thời Lý - Trần của Bộ Quốc phòng,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1994 Công trình đã phân tích, đánh giá các mặt của đời sống chính trị - xã hội thời Lý - Trần, những nguyên nhân để quân dân thời Lý - Trần đánh thắng giặc ngoại xâm, trong
đó có tư tưởng lấy dân làm gốc
Ngoài ra, còn có các đề tài nghiên cứu như:
- Tư tưởng chính trị thời Lê Sơ, luận văn Thạc sĩ của Bùi Thị Mỹ
Hạnh Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012
- Tư tưởng chính trị thời nhà Lý và ý nghĩa lịch sử của nó, luận văn
Thạc sĩ của Nguyễn Chính Nghĩa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012
- Tư tưởng chính trị đời Trần, luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thùy
Duyên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009
- Tư tưởng chính trị Triều Nguyễn giai đoạn 1802 - 1884, luận văn
Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Trang Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011
Các đề tài trên đã phân tích, đánh giá tư tưởng chính trị của các triều đại trong phạm vi đề tài nghiên cứu, trong đó có nhắc tới tư tưởng thân dân, lấy dân làm gốc trong các triều đại đó
Thứ hai, bàn về những nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài, có các bài viết với các tác giả sau:
- Bài viết: Góp phần tìm hiểu tư tưởng “dân là gốc” trong lịch sử tư tưởng Việt Nam của tác giả Đỗ Hoà Hới, đăng trên tạp chí Triết học số 60,
năm 1998 Bài viết đã phân tích, đánh giá khái quát tư tưởng dân là gốc thể hiện qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu
Trang 12- Bài viết: Lấy dân làm gốc trong kế sách dựng nước và giữ nước của
tổ tiên ta của tác giả Nguyễn Thế Vị đăng trên tạp chí Quân đội nhân dân
số 482, năm 1988 Bài viết đã phân tích vai trò của chính sách thân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ tiên ta
- Bài viết: Tìm hiểu tư tưởng chính trị “lấy dân làm gốc” từ thế kỷ X đến thế kỷ XV ở Việt Nam của tác giả Lê Thị Oanh đăng trên tạp chí Lý
luận chính trị số 2, năm 2004 Bài viết đã phân tích vai trò của tư tưởng lấy dân làm gốc trong lịch sử dân tộc Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV ở Việt Nam
- Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
ngày 16/9/2015 Dự thảo Báo cáo chính trị đã đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng và nhìn lại 30 năm đổi mới (1986 – 2016), những hạn chế, khuyết điểm và rút ra những bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ hai mà Dự thảo Báo cáo nhắc tới
đó là đổi mới phải luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”
Nhìn chung các công trình, bài viết đã phần nào chỉ ra những nội dung
xung quanh vấn đề tư tưởng dân bản, lấy dân làm gốc trong triết học Nho
giáo và trong lịch sử tư tưởng của dân tộc ta Những công trình, bài viết trên là tư liệu quý giá để tôi tham khảo trong việc nghiên cứu đề tài “Tư
tưởng lấy dân làm gốc trong các vương triều phong kiến Việt Nam - Giá
trị, bài học lịch sử và vận dụng”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích
Làm rõ nội dung tư tưởng lấy dân làm gốc trong các vương triều
phong kiến Việt Nam, phân tích những giá trị, hạn chế, bài học lịch sử và
Trang 13sự vận dụng vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
giá trị (Value theory) (Axiology) để nghiên cứu tư tưởng lấy dân làm gốc
trong các vương triều phong kiến Việt Nam
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Triết học của Stanford (Stanford Encyclopedia of Philosophy) thì lý thuyết giá trị là Triết học văn hoá nhằm tìm ra ý nghĩa ở tầng sâu nhất của hiện tượng, truyền thống văn hoá, tôn giáo, tư tưởng, …; bằng các phương pháp so sánh, văn bản, lý thuyết giá trị nghiên cứu khái quát những ý nghĩa cốt lõi của một hệ tư tưởng Sử dụng
lý thuyết giá trị trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận Chủ nghĩa Mác
- Lênin giúp cho luận văn tìm ra, khái quát những giá trị của tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong lịch sử và hiện tại của triết học Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trang 14Phương pháp nghiên cứu cụ thể: luận văn sử dụng các phương pháp như phương pháp lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, hệ thống, so sánh, quy nạp - diễn dịch, văn bản học, … Trong đó, luận văn sử dụng phương pháp văn bản học là chủ yếu
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Những phân tích, luận giải của luận văn nhằm làm sáng tỏ những giá
trị của tư tưởng lấy dân làm gốc trong các vương triều phong kiến Việt
Nam và bài học lịch sử đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu những bộ môn, chuyên ngành liên quan như Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương, 6 tiết
Chương 1: Cơ sở xã hội, tiền đề lý luận hình thành và nội dung tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong các vương triều phong kiến Việt Nam, với 2 tiết
Chương 2: Giá trị, bài học lịch sử và vận dụng tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với 4 tiết
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH
VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM
1.1 CƠ SỞ XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
“LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG CÁC VƯƠNG TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM
1.1.1 Cơ sở xã hội hình thành tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong các vương triều phong kiến Việt Nam
Tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong các vương triều phong kiến Việt Nam xuất phát từ nhu cầu xây dựng, củng cố vương triều và đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Thứ nhất, cơ sở xã hội hình thành tư tưởng “lấy dân làm gốc” các vương triều Ngô – Đinh – Tiền Lê
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương hiệu (năm 939), thực sự đã khôi phục nền độc lập và chủ quyền quốc gia, chấm dứt 10 thế
kỷ Bắc thuộc Năm năm sau, Ngô Quyền mất (năm 944) Các con của Ngô Quyền (Xương Ngập, Xương Văn) không đủ uy tín và sức mạnh để duy trì chính quyền quân chủ tập trung Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền) âm mưu cướp ngôi Các thổ hào, lãnh chúa nổi lên khắp nơi, cát cứ chống lại chính quyền trung ương Sau khi Xương Ngập (954) và Xương Văn chết (965), triều Ngô thực tế không còn tồn tại, đất nước rơi vào thế hỗn loạn của nhiều tướng lĩnh chiếm cứ các vùng địa phương, đánh lẫn nhau Sử cũ gọi là "Loạn 12 sứ quân"
Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư (Ninh Bình), từ nhỏ có chí khí, có tài tập hợp và lãnh đạo quần chúng Sau khi Trần Lãm chết, Đinh Bộ Lĩnh
Trang 16trở thành lực lượng mạnh mẽ, nổi bật, lần lượt dẹp yên các thế lực cát cứ thu về một mối Năm 968, ông lên ngôi, tự xưng là Hoàng đế (thường gọi
là Đinh Tiên Hoàng) lấy niên hiệu Thái Bình, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, xây dựng triều chính, bước đầu thống nhất đất nước Năm 979, nội bộ triều Đinh lục đục, Đinh Tiên Hoàng và con trưởng
là Đinh Liễn bị giết hại, Đinh Toàn (mới 6 tuổi) lên nối ngôi Các tướng lĩnh trong triều chia thành phe phái, đánh lẫn nhau Ở Trung Quốc, nhà Tống đang lăm le xâm phạm bờ cõi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn sau khi tiêu diệt Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, đã nắm trọn quyền bính Năm
980, trước sự đe dọa xâm lược của nhà Tống, được sự ủng hộ và suy tôn của Dương Thái hậu (mẹ Đinh Toàn), theo đề nghị của Phạm Cự Lạng, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế (thường gọi là Lê Đại Hành), chuẩn bị kháng chiến, lập ra nhà Tiền Lê
Được sự phò tá của Phạm Cự Lạng và các cố vấn như các nhà sư Pháp Thuận, Ngô Chấn Lưu, Lê Hoàn đã tổ chức phòng ngự ở kinh đô Hoa Lư, thành Đại La và phòng tuyến cửa ngõ Bạch Đằng - Hoa Lư Ở đây, theo kế Ngô Quyền, Lê Hoàn đã cho bố trí trận địa cọc ở lòng sông Mặt khác, nhà vua sai gửi thư sang nhà Tống, tìm kế hoãn binh
Cuối năm 980, theo kế hoạch tốc chiến, bất ngờ, quân Tống đã đem quân ồ ạt xâm lược Đại Cồ Việt do Hầu Nhân Bảo làm Tổng chỉ huy cả 2 đạo quân bộ (Tôn Toàn Hưng, sau là Trần Khâm Tộ) và thủy (Lưu Trừng) Sau một vài trận giao chiến, Lê Hoàn đã dùng kế trá hàng, dụ quân Tống vào trận địa phục kích Bạch Đằng, đánh tan giặc, giết Hầu Nhân Bảo tại trận tháng 4/981 Cánh quân bộ của Trần Khâm Tộ cũng bị truy kích ở Tây Kết Đại bại, quân Tống phải tháo chạy về nước Nền độc lập và thống nhất của Đại Cồ Việt qua thử thách càng được củng cố
Trang 17Năm sau (982), Lê Hoàn đã đem quân tấn công Champa, giữ yên và củng cố vùng biên giới phía nam
Năm 1005, Lê Hoàn mất, các con tranh chấp ngôi vua Lê Long Đĩnh nối ngôi, là người tàn ác, trụy lạc, mắc bệnh phải nằm họp triều đình (nên thường gọi là Lê Ngọa triều) không đủ năng lực và uy tín trị nước Sau khi
Lê Long Đĩnh chết (1009), triều thần do Đào Cam Mộc khởi xướng, đã suy tôn Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên làm vua, chấm dứt nhà Tiền Lê
Tổ chức nhà nước và chính quyền Đại Cồ Việt thời Ngô, Đinh, Tiền
Lê về cơ bản còn sơ sài Các vua (Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành) đều xuất thân là những tướng lĩnh quen trận mạc, là tổng chỉ huy tối cao quân đội, nắm giữ mọi quyền hành Hệ thống quan lại phần lớn là các quan võ Luật pháp thời Đinh - Tiền Lê còn nghiêm khắc và tuỳ tiện, dựa theo ý muốn của nhà vua Đinh Bộ Lĩnh đặt vạc dầu và cũi hổ ở sân triều để trừng phạt phạm nhân Lê Hoàn hay xử phạt đánh roi những ai làm phật ý mình
Lê Long Đĩnh lấy việc giết người làm trò vui
Trên lý thuyết, để khẳng định uy thế, các vua Đinh - Tiền Lê đã xây dựng bộ máy triều nghi của mình theo mô hình nhà Tống Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn đều lập cho mình 5 hoàng hậu, đặt ngôi Thái tử, cử các hoàng tử đi trấn trị các địa phương Đất nước thời Đinh chia làm 10 đạo, Lê Hoàn đổi thành lộ
Trên thực tế, bộ máy triều đình và quan lại còn rất sơ sài Khi gặp sứ Tống, Lê Hoàn còn đang đi chân đất, cầm xiên lội nước xiên cá, vào triều lại chơi trò đọ tay với quần thần Đó chưa phải là một nhà nước quy củ theo chế độ phong kiến
Các vương triều Ngô - Đinh - Tiền Lê có thể coi như một thời kỳ lịch
sử quá độ từ ngoại thuộc qua tự chủ đến độc lập Những thập kỷ bản lề đó
đã bước đầu thực hiện được sự nghiệp khôi phục độc lập, thống nhất quốc
Trang 18gia, xây dựng chính quyền quân chủ và đặt nền móng cho một nền văn hóa dân tộc Do thời gian tồn tại của các vương triều quá ngắn, bên cạnh đó, do phải thường xuyên chống giặc ngoại xâm và nguy cơ nội chiến nên những chính sách phát triển các mặt kinh tế, xã hội, ổn định đời sống nhân dân còn dang dở, sự nghiệp đó sẽ được củng cố và phát triển lên một tầm cao mới trong những thế kỷ tiếp sau
Về tình hình kinh tế - văn hóa, các vua Đinh - Tiền Lê khi lên ngôi hoàng đế đều đã cố gắng thực thi quyền sở hữu ruộng đất nhà nước, vừa để khẳng định quyền lực vừa để nắm lấy thần dân, thu tô thuế, bắt lính
Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nước có chủ quyền, ở Đại Cồ Việt nửa sau thế kỷ X cũng đã manh nha những mầm mống của một nền văn hóa mang tính dân tộc
Nho giáo tuy đã xâm nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc, nhưng đến lúc này, vẫn không tạo được những ảnh hưởng đáng kể Nổi trội trong đời sống tâm linh vẫn là những tín ngưỡng dân gian hòa trộn với những tôn giáo như Phật giáo và Đạo giáo Triều đình Đinh - Tiền Lê đã suy tôn Phật giáo làm Quốc giáo Ở kinh đô Hoa Lư đã xây dựng nhiều chùa chiền (chùa Bà Ngô, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ) và các cột kinh Phật Các nhà sư thời kỳ này như Sùng Phạm, Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu (Khuông Việt), Vạn Hạnh đã là các trí thức được sử dụng như những cố vấn cung đình và những nhà ngoại giao đắc lực của nhà vua, đặc biệt trong các dịp tiếp sứ thần nhà Tống
Nhiều loại hình văn hóa dân gian đã tồn tại trong thời Đinh - Tiền Lê như ca múa nhạc (qua truyền thuyết về bà Phạm Thị Trân dạy quân sĩ đánh trống), tạp kỹ như đi trên dây, đánh đu, trồng cây chuối (qua truyền thuyết
về Văn Du Tường dùng mưu diệt quỷ Xương Cuồng ở Bạch Hạc)
Trang 19Thứ hai, cơ sở xã hội hình thành tư tưởng “lấy dân làm gốc” vương triều Lý – Trần
Về bối cảnh lịch sử, Nhà Lý mở đầu là Lý Công Uẩn vào năm 1010 và kéo dài cho đến năm 1225, kết thúc ở đời thứ chín là Lý Chiêu Hoàng Triều đại nhà Lý tồn tại 215 năm, có thể chia thành ba giai đoạn: giai đoạn thịnh trị (1010 – 1127), giai đoạn trung suy (1128-1175) và giai đoạn suy vong 1175-1225) Đây không phải là triều đại đầu tiên nhưng lại có vị trí hết sức quan trọng đối với cả chặng đường dài về sau Vương triều Trần (1226 – 1400) là một vương triều lớn, tồn tại lâu dài trong 174 năm đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong lịch sử Việt Nam Vương triều Trần có thể chia thành ba thời kỳ: thời kỳ thứ nhất, từ Thái Tông đến Nhân Tông (1225 – 1293) là thời kỳ xây dựng và chống Mông – Nguyên; thời kỳ thứ hai, từ Anh Tông đến Hiến Tông (1293 – 1341) là thời kỳ kế tục phát triển; thời
kỳ thứ ba, từ Dụ Tông tới khi kết thúc (1341 – 1400) là thời kỳ suy tàn Cuối vương triều Trần, từ thời Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Minh Tông mất) hệ thống giá trị của nhà Trần ở những đời vua trước không được kế thừa, phát triển nên ngày càng suy tàn, quyền lực rơi vào tay Hồ Quý Ly
Bộ máy hành chính nhà nước Lý – Trần là bộ máy phong kiến theo hình thức trung ương tập quyền Nếu như ở vương triều Lý, chính quyền trung ương tập quyền bắt đầu được xây dựng thì đến vương triều Trần nó tiếp tục được củng cố và phát triển Đứng đầu nắm quyền lực tối cao là vua, đến các quan văn, võ Bên cạnh đó có một cơ quan chuyên trách từ trung ương xuống địa phương Cùng với việc xây dựng chế độ trung ương tập quyền, vương triều Lý – Trần bắt đầu phát triển hoạt động lập pháp Năm
1042, Lý Thái Tông ban hành bộ luật Hình Thư, đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta Sau này, vương triều Trần đã sửa đổi, bổ sung và biên soạn một bộ luật mới Pháp luật thời Lý – Trần mang tính chất phong kiến,
Trang 20bảo vệ hoàng cung, trừng trị mạnh kẻ mưu phản, sử dụng nhiều hình phạt khắc nghiệt, đồng thời cũng có tác dụng hạn chế sự lộng hành và tuỳ tiện của quan lại, bảo vệ trật tự xã hội
Về tình hình kinh tế, nền kinh tế chủ đạo của vương triều Lý – Trần
đó là nông nghiệp Nông nghiệp được coi là nền tảng cho sự xây dựng và phát triển đất nước Nhà nước Lý – Trần đặc biệt chú trọng sản xuất nông nghiệp Bên cạnh nông nghiệp, thời Lý – Trần thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ Thăng Long trở thành một trung tâm thủ công nghiệp và buôn bán sầm uất Việc buôn bán với nước ngoài, đặc biệt với Trung Hoa khá phát đạt Điều này, cũng tạo điều kiện cho việc giao lưu, tiếp thu những giá trị văn hóa, tư tưởng của các vùng trong nước và khu vực
Về tư tưởng, tôn giáo, sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc, bước sang thời kỳ xây dựng nền độc lập tự chủ, xã hội Việt Nam thời Lý – Trần đã xuất hiện ba dòng tư tưởng lớn: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Ba dòng
tư tưởng này cùng tồn tại lâu dài với vị trí, vai trò và phạm vi rộng, hẹp khác nhau Chúng đều là công cụ của nhà nước phong kiến dùng để ổn định trật tự xã hội, củng cố quyền lực của giai cấp thống trị Nho giáo, Phật giáo
và Đạo giáo đều là những yếu tố cấu thành của ý thức hệ phong kiến Việt Nam thời Lý - Trần Trong đó, Phật giáo giữ vai trò quan trọng, được coi là quốc giáo
Ở thời kỳ nhà Lý, Phật giáo nước ta có ba thiền phái: thiền phái Tì Ni
Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông và thiền phái Thảo Đường Ba thiền phái này mặc dù có nhiều điểm khác nhau về giáo lý, cách tu tập cũng như vai trò của từng thiền phái trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước Tuy nhiên, ba thiền phái này cũng có một điểm chung nhất định đó là đều dựa trên những giáo lý cơ bản của thiền tông để bàn luận, phát triển,
Trang 21làm sáng tỏ và phong phú hơn những vấn đề như Tâm, Phật, kiến tính, đốn ngộ, … Cả ba thiền phái này đều mang tinh thần nhập thế tích cực, hòa mình vào cuộc sống để giúp đời Đồng thời đây cũng là tiền đề cơ bản cho
sự hình thành một thiền phái duy nhất thời Trần – thiền phái Trúc Lâm Phật giáo Việt Nam thời Trần phát triển tới mức toàn vẹn và cực thịnh
mà đỉnh cao của nó là sự thống nhất ba thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông và thiền phái Thảo Đường thành một thiền phái Trúc Lâm – thiền phái duy nhất dưới đời Trần
Thiền phái Trúc Lâm đã có sự ảnh hưởng rõ rệt đến chính trị, văn hóa
và xã hội thời Trần Về đường lối chính trị, nó mang đậm màu sắc Phật giáo, đó là tinh thần khoan dung, tự do, cởi mở đã quy tụ, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Chính vì vậy, nhà Trần đã đưa ra kế sách chính trị “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc”
Tuy nhiên, với khuynh hướng nhập thế tích cực, Phật giáo cũng không khắc phục hết được những hạn chế của mình Bởi vì, bản thân Phật giáo với toàn bộ giáo lý của mình không hề có sự giải đáp thích đáng nào về các vấn
đề liên quan đến việc củng cố nhà nước phong kiến như vấn đề quân quyền, quy định các điển chương, lễ chế và cơ cấu hành chính từ triều đình cho đến địa phương, không đề ra những biện pháp trị nước, yên dân, Chính vì vậy, về cơ bản, nhà nước Lý - Trần vẫn tôn chuộng đạo Phật nhưng để duy trì quyền lực, tổ chức quản lý xã hội, nhà Lý - Trần đã lựa chọn Nho giáo
Nhà nước Lý - Trần lấy Nho giáo làm cơ sở lý luận cho đạo trị nước,
tu thân, tề gia, trị quốc Nội dung tư tưởng Nho giáo thời Lý - Trần chủ yếu
là xoay quanh tư tưởng chính trị xã hội với những vấn đề về mẫu hình lý tưởng của xã hội phong kiến Việt Nam, về đường lối cai trị, vấn đề xây dựng bộ máy chính quyền phong kiến, vấn đề đạo đức, tiết tháo của bậc
Trang 22trung thần nghĩa sĩ, … là những vấn đề có liên quan mật thiết đến sự phát triển của chế độ phong kiến trung ương tập quyền, góp phần củng cố sự thống nhất của xã hội, tạo ra một trật tự xã hội theo lễ và pháp, phục vụ cho yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước
Đạo giáo cũng giữ một vai trò, một vị trí quan trọng và có ảnh hưởng trong nhân dân Đạo giáo với phương châm vô vi, tiêu dao thoát ly với hiện thực, ít nhiều phù hợp với tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán và tín ngưỡng bản địa như thờ thần, thờ cúng tổ tiên Trong hai khuynh hướng Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy, thì khuynh hướng Đạo giáo thần tiên ảnh hưởng nhiều trong vua quan quý tộc, còn Đạo giáo phù thủy thì ảnh hưởng nhiều trong nhân dân
Nhận thức rõ về vai trò của các tôn giáo, nhà Lý - Trần đã thực hiện chính sách khoa dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian
Về ngoại giao, vương triều Lý trong suốt thời đại của mình liên tục phải đối phó với những mưu đồ bành trướng, thôn tính hoặc cướp phá của các nước láng giềng như nhà Tống ở phía Bắc, Chiêm Thành, Chân Lạp ở phía Nam, Đại Lý ở Tây Bắc hoặc những cuộc nổi loạn lẻ tẻ của các dân tộc thiểu số Đặc biệt, trong thời gian tồn tại của mình, vương triều Lý phải chống lại sự xâm lược của nhà Tống Nhà Trần được xem là một giai đoạn phát triển đặc biệt trong lịch sử Việt Nam với ba lần kháng chiến anh dũng chống quân xâm lược Nguyên – Mông Dưới thời vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông (1225 – 1293) là thời kỳ nhà Trần phải chống quân xâm lược Nguyên – Mông lần thứ nhất năm 1258, lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1288 Cả ba lần nhà Trần đều đánh tan sự xâm lược của một đế quốc được coi là hùng mạnh nhất bấy giờ
Trang 23Có thể khẳng định, sự phát triển của tư tưởng chính trị “lấy dân làm gốc” thời Lý – Trần có liên hệ chặt chẽ với thực tiễn chính trị, thực tiễn của công cuộc dựng nước và giữ nước, nhu cầu củng cố trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến Việt Nam đương thời
Thứ nhất, nhu cầu về mặt chính trị, tình hình chính trị cuối thời Tiền
Lê bất ổn, sản xuất kinh tế đình trệ, đời sống nhân dân cực khổ, niềm tin của nhân dân vào triều đình giảm sút Thực tiễn này đòi hỏi vương triều Lý phải có những chính sách thích hợp để xây dựng và củng cố vương triều,
ổn định tình hình kinh tế - xã hội, lấy lại lòng tin của nhân dân đối với vương triều Còn vào cuối triều đại nhà Lý đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, thiên tai, mất mùa, đói kém xảy ra ở khắp nơi làm cho nền kinh tế suy sụp; bộ máy chính quyền nhà Lý từ trung ương tới địa phương tỏ ra quan liêu, lỏng lẻo trong việc quản lý xã hội dẫn tới ở nhiều địa phương các thế lực địa chủ phong kiến đã tập hợp lực lượng nổi dậy chống phá triều đình dẫn tới tình trạng cát cứ, phân quyền Trước tình hình đó, xã hội Đại Việt cuối thời Lý giặc cướp hoành hành, đói kém liền năm, kinh tế đình trệ, bộ máy quyền lực nhà nước bị lũng đoạn bởi gian thần, tình hình chính trị bất ổn, hoạ ngoại xâm tới gần Bên cạnh đó, mặc
dù cuộc thay đổi triều đại chuyển từ vương triều Lý sang vương triều Trần diễn ra trong hoàng cung và triều đình, hầu như không có tác động gì xáo trộn xã hội, tập đoàn quý tộc họ Trần từng bước vững chắc và cuối cùng nắm giữ chính quyền nhanh gọn nhưng lòng dân còn chưa yên, còn nhớ thương vua cũ đòi hỏi nhà Trần cần có một đường lối cai trị khôn khéo Thứ hai, tư tưởng “lấy dân làm gốc” của vương triều Lý – Trần còn xuất phát từ nhu cầu xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước trung ương tập quyền lớn mạnh và nhu cầu củng cố trật tự của xã hội phong kiến
Trang 24Dưới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê việc xây dựng nhà nước của một quốc gia độc lập đã được đặt ra một cách khẩn thiết nhưng chỉ làm được bước đầu Phải đến khi vương triều Lý được thành lập thì nhà nước phong kiến tập quyền mới được xây dựng một cách quy mô Các vua nhà Trần cũng rất quan tâm đến việc củng cố chế độ phong kiến tập quyền với những thứ bậc và quyền lợi rạch ròi, đồng thời ra sức xây dựng một nhà nước trung ương hùng mạnh Ở triều đình, nhà Trần đã đặt thêm nhiều cơ quan chuyên trách mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của bộ máy hành chính Ở cấp địa phương, bộ máy hành chính cũng được xây dựng lại một cách chặt chẽ Quyền lợi của tầng lớp quý tộc và quan liêu được bảo vệ Nhu cầu xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
là một xu thế tất yếu của lịch sử Bởi chỉ có nhà nước tập quyền đó mới thực hiện được sự thống nhất quốc gia, tiến hành xây đắp, tu bổ các công trình thuỷ lợi, động viên và tổ chức được những cuộc chiến tranh giữ nước nước khi có ngoại xâm Và để nhà nước trung ương tập quyền được xây dựng, củng cố và phát triển thì không thể thiếu bóng dáng của sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân trong xã hội Chính vì vậy, để củng cố quyền lực, địa vị của mình, giai cấp quý tộc đã quan tâm tới các tầng lớp nhân dân, thi hành chính sách an dân thích hợp
Thêm nữa, thời Lý - Trần, giai cấp phong kiến Việt Nam trưởng thành với tư cách là một giai cấp thống trị của một quốc gia độc lập Giai cấp phong kiến bước lên địa vị thống trị giữa lúc chế độ phong kiến nước ta đang trên đà đi lên cùng với sự vững mạnh của đất nước, cho nên nó rất quan tâm đến việc tổ chức và quản lý nhà nước, đến việc xây dựng những trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của nó Nguyện vọng và ý chí của giai cấp này muốn củng cố địa vị và quyền lợi mới giành được, củng cố những quan
hệ kinh tế và quan hệ xã hội đã được xác lập có ích cho sự tồn tại của nó Ở
Trang 25vào thời Lý – Trần, giai cấp phong kiến còn đang ở giai đoạn trẻ trung, mối quan hệ giữa giai cấp phong kiến và nhân dân còn gần gũi Nên trong đường lối chính trị của mình bên cạnh những chính sách nhằm mục đích bảo vệ lợi ích giai cấp thì họ cũng có những chính sách mở quan tâm tới các tầng lớp nhân dân trong xã hội
Thứ ba, tư tưởng “lấy dân làm gốc” thời Lý – Trần còn xuất phát từ nhu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước
Với vị trí địa lý vô cùng đặc biệt, là ngã ba của con đường Đông Bắc
Á xuống Đông Nam Á, có thể ví như cửa ngõ của Đông Nam Á Do vậy, các triều đình phong kiến Trung Quốc muốn bành trướng lãnh thổ xuống phương Nam thì đều phải đi qua, phải xâm chiếm Việt Nam và có chiếm được Việt Nam, lấy Việt Nam làm bàn đạp để tiếp tục chiếm xuống phương Nam Ngoài có vị trí thuận lợi, nước ta còn có nguồn tài nguyên phong phú nên luôn là đối tượng để các triều đình phong kiến Trung Quốc nhòm ngó Nhà Lý trong thời gian tồn tại 216 năm phải hai lần chống Tống, dẹp yên sự xâm chiếm lãnh thổ của Chiêm Thành, Chân Lạp; nhà Trần phải ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông, ngoài ra, còn gặp phải
sự quấy rối của Chiêm Thành và Ai Lao
Song song với nhu cầu chống giặc ngoại xâm là nhu cầu phát triển kinh tế Thời kỳ phong kiến ở nước ta nói chung, thời Lý - Trần nói riêng, nền kinh tế chủ đạo và quan trọng của đất nước là nông nghiệp Ở một đất nước nông nghiệp trong điều kiện khí hậu hết sức khắc nghiệt, thường xuyên có hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh, … thì để ổn định sản xuất, phát triển nông nghiệp triều đình phải xây dựng hệ thống thuỷ lợi, đắp đê phòng lũ lụt, xây dựng mương máng để tưới tiêu, …
Việc chống giặc ngoại xâm mạnh hơn ta gấp nhiều lần cộng với việc phải xây dựng hệ thống đê điều thuỷ lợi thì một mình triều đình không thể
Trang 26thực hiện được mà cần phải có sự đồng thuận, đoàn kết được sức mạnh của nhân dân cả nước Chính vì vậy, trong đường lối cai trị của mình, vương triều Lý – Trần đã thực hiện chính sách “khoan thư sức dân” để làm kế sâu
rễ bền gốc
Cuối cùng, tư tưởng Nho giáo đã có tác động tới chính sách chính trị của vương triều Lý – Trần nói chung, tư tưởng “thân dân”, “lấy dân làm gốc” nói riêng Chính tư tưởng của Nho giáo đã đưa tư tưởng “lấy dân làm gốc” trở thành một triết lý chính trị trong thời kỳ Lý – Trần
Mặc dù Phật giáo chiếm lĩnh mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng Phật giáo lại không thể cung cấp cho các ông vua những điều cần thiết, những bài học để bảo vệ ngai vàng, xây dựng đất nước, kiến lập triều đại, trị quốc an dân Trong khi đó, Nho gia lại có mọi thứ cần thiết Nho gia về thực chất là học thuyết dành cho người trị quốc Trong bối cảnh lập quốc triều Lý – Trần, Nho giáo thoả mãn các nhu cầu mà ông vua xây nền đắp móng chế độ phong kiến cần có Các nhà vua, tầng lớp quý tộc thời Lý – Trần đã nhận thấy trong kinh điển của Nho giáo lý luận cũng như kinh nghiệm về quản lý xã hội Những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức của người quân tử, người cầm quyền, đạo đức xã hội như ngũ luân, đạo đức cá nhân như ngũ thường được nhà Lý – Trần tiếp thu và coi như là công cụ hữu hiệu cho quản lý xã hội của nhà nước phong kiến
Trong điều kiện đất nước như trên, để có thể giữ nước và dựng nước, những người đứng đầu vương triều không chỉ dựa vào sức mạnh của nhà nước, của quân đội mà phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của cả nước Trong đó, “dựa vào dân” và chính sách “ khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc” là một quốc sách và kế sách giữ nước quan trọng của nhà nước Đại Việt
Trang 27Trong lịch sử, dù là triều đại nào, vương triều, thể chế chính trị nào thì vai trò của nhân dân luôn là quyết định Chính vì vậy, giai cấp thống trị bằng cách này hay cách khác đã khai thác nguồn sức mạnh này để phục vụ mục đích chính trị của mình
Thứ ba, cơ sở xã hội hình thành tư tưởng “lấy dân làm gốc” vương triều Lê – Nguyễn
Vương trều Lê trải qua hai giai đoạn, giai đoạn Lê Sơ và hậu Lê; vương triều Nguyễn kéo dài từ năm 1808 đến 1945 Song luận văn tập
trung nghiên cứu tư tưởng lấy dân làm gốc ở giai đoạn Lê Sơ và nhà
Nguyễn trước khi bị thực dân Pháp đô hộ
Về bối cảnh lịch sử, nhà Lê Sơ (bắt đầu từ năm 1428 và tồn tại đến năm 1527) ra đời là kết quả của công cuộc kháng chiến cứu quốc lâu dài, gian khổ suốt 10 năm (1417 – 1427) và có tính nhân dân sâu rộng nhất từ năm 938 đến lúc này Nhà nước Lê Sơ là sự tiếp tục tự nhiên, là bước phát triển mới của bộ chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn Chính hoàn cảnh ấy là một thuận lợi để vương triều Lê Sơ xây dựng, củng cố vương quyền, lấy được lòng dân và sự đồng thuận trong xã hội Và cũng chính sau 20 năm cùng nhân dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, những người đứng đầu vương triều càng thấm nhuần được tư tưởng “lấy dân làm gốc” để trong sự nghiệp lãnh đạo vương triều của mình họ có những chính sách an dân đúng đắn để động viên được sức dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Khác với triều Lê Sơ, triều Nguyễn Ánh được hình thành sau khi đánh bại phong trào Tây Sơn Thực tiễn lịch sử của dân tộc ta đã chứng minh một điều rằng triều đại nào lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống ngoại xâm thắng lợi đều được nhân dân tin theo Trong khi đó cuộc chiến tranh Nguyễn – Tây Sơn kết thúc với thắng lợi thuộc về Nguyễn Ánh, nhưng đó là thắng lợi trước một triều đại vừa được thiết lập trên cơ sở đánh thắng quân Thanh xâm
Trang 28lược Hơn nữa, Nguyễn Ánh là hậu duệ của các chúa Nguyễn – cựu thần của nhà Lê, mà nay lại xóa bỏ nhà Lê, lập triều đại mới Điều này trái với đạo lý của Nho giáo Và một điều khiến nhà Nguyễn phải giải quyết đó là phản ứng của sĩ phu cũng như nhân dân ở Bắc Hà là nhà nước cũ của nhà
Lê với hơn 300 năm tồn tại
Không chỉ dừng lại ở đó, vấn đề thống nhất về thể chế chính trị trong
cả nước Sau 200 năm bị chia cắt, giữa Đàng Ngoài, Đàng Trong có những nét khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa nên việc thống nhất một chính thể là vô cùng khó khăn Điều đã khó còn khó khăn hơn là nhân dân và sĩ phu Bắc Hà có sẵn sàng chấp nhận hay không?
Như vậy, để giải quyết được những vấn đề trên, yêu cầu vương triều Nguyễn cần xác lập địa vị thống trị, xây dựng bộ máy nhà nước trung ương thống nhất sau thời kỳ phân liệt và nội chiến kéo dài
Về tổ chức nhà nước, vương triều Lê – Nguyễn là nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền
Sau khi thành lập ra vương triều Lê Sơ, Lê Lợi đã củng cố chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền giống như Trung Quốc Lê Lợi chia đất nước thành năm đạo (Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây) Đứng đầu mỗi đạo có chức hành khiển, bên cạnh có tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo Dưới đạo có các đơn vị hành chính: trấn, lộ, phủ, huyện, châu Đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã, đứng đầu là các quan xã Hệ thống chính quyền đứng đầu là vua, rồi đến các chức tả, hữu tướng quốc, kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sư, tam thái, tam thiếu, tam tư dành riêng cho những tôn thất và đại công thần Dưới đó là hai ngạch quan văn và quan võ Đến thời Lê Thánh Tông bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương
có sự thay đổi Ông chia đất nước ra làm 12 đạo Có thể nói bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê Sơ rất cồng kềnh
Trang 29Đối với nhà Nguyễn, chính quyền nhà Nguyễn được chia thành chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Ở chính quyền trung ương, đứng đầu là vua, nắm mọi quyền bính của đất nước, dưới vua có sáu bộ, do thượng thư đứng đầu, có các tham tri, thị lang giúp việc; sáu khoa và sáu
tự Ngoài các bộ, khoa, tự còn có các cơ quan chuyên môn như viện, giám,
ty, phủ
Bên cạnh nhà vua còn có hai cơ quan giúp việc là Viện cơ mật và Văn phòng (Nội các) Ngoài ra, trong bộ máy nhà nước ở trung ương còn có các
cơ quan cao cấp phụ trách công việc kiểm sát, xét xử là Đô sát viện, Đại lý
tự cùng với Bộ Hình hợp thành Tam pháp ty – ba cơ quan coi việc pháp luật
Ở chính quyền địa phương, lúc đầu, Gia Long chia đất nước thành ba khu vực Bắc, Trung, Nam, mỗi khu vực lại chia ra thành các trấn Sau này Minh Mạng chia cả nước thành 29 tỉnh trực thuộc triều đình Đứng đầu tỉnh
có tổng đốc, giúp việc có tuần phủ, bố chính, án sát Đứng đầu huyện có tri phủ, tri huyện Đơn vị hành chính cơ sở là xã, đứng đầu là lý trưởng, có phó lý giúp việc, do kỳ lão và chức sắc trong xã bầu ra Mỗi xã là một đơn
vị độc lập và chịu trách nhiệm về thuế đinh điền, phu, tạp dịch cho nhà nước Bộ máy quản lý làng xã được trao nhiều quyền hành Vì thế, dưới triều Nguyễn có nạn cường hào ở các địa phương
Về tình hình kinh tế, cả nhà Lê Sơ và nhà Nguyễn tiếp nhận một nền kinh tế đang bị khủng hoảng trầm trọng, nền sản xuất bị phá hoại và đình trệ, nạn mất mùa, đói kém, dịch bệnh xảy ra liên tiếp khiến đồng ruộng nhiều nơi bị bỏ hoang, nông dân bị phá sản Nền công thương nghiệp bị sa sút sau thời gian nhà Minh đô hộ (đối với nhà Lê Sơ) và sau thời gian đất nước bị chia cắt, chiến tranh liên miên giữa các thế lực (đối với nhà Nguyễn), chính vì vậy, để ổn định chính trị và tạo lập cơ sở vững chắc cho
Trang 30triều đại mình, nhà Lê Sơ cũng như nhà Nguyễn phải nhanh chóng khôi phục sản xuất nhất là sản xuất nông nghiệp – nền kinh tế nền tảng của vương triều Có những chính sách quan tâm tới nông dân, khuyến khích phát triển nông nghiệp cũng như các ngành nghề khác
Về tư tưởng, cả nhà Lê Sơ và nhà Nguyễn đều coi trọng Nho giáo Nho giáo đã chiếm địa vị độc tôn Nhà Lê Sơ và nhà Nguyễn sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng, làm bệ đỡ cho chế độ phong kiến quân chủ quan liêu
và duy trì địa vị tối cao của giai cấp thống trị Tư tưởng Nho giáo được đưa vào việc trị nước, ban hành pháp luật, giáo dục thi cử, các lễ nghi, là chuẩn mực của các giá trị đạo đức Xuất phát từ chỗ coi Nho giáo là khuôn vàng, thước ngọc “vững vàng, anh minh như bầu trời”, những gì trái với khuôn vàng, thước ngọc đều là xấu xa, sai trái Chính vì vậy, nhà Lê Sơ và nhà Nguyễn có thái độ và tư tưởng bài xích các tôn giáo khác (như Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo)
Về pháp luật, vương triều Lê – Nguyễn đã xây dựng được bộ luật thành văn Vương triều Lê Sơ có Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức; triều Nguyễn có Hoàng triều hình luật tức Bộ luật Gia Long Về nội dung, các bộ luật này cơ bản là bảo vệ vương quyền, chế độ quan liêu, trật tự đẳng cấp và ý thức hệ Nho giáo Pháp luật tập trung bảo
vệ những đặc quyền, đặc lợi của vua, hoàng tộc, quan lại, quý tộc và giai cấp địa chủ về mặt chính trị và kinh tế Pháp luật bảo vệ chế độ tư hữu về ruộng đất và tài sản, bảo vệ tư liệu và sức lao động cho sản xuất nông nghiệp, khuyến khích phát triển kinh tế, hạn chế sự ức hiếp, sách nhiễu của cường hào, quan lại đối với nhân dân
Như vậy, tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong các vương triều phong kiến Việt Nam xuất phát từ nhu cầu thực tiễn củng cố, xây dựng, phát triển
Trang 31của các triều đại phong kiến Việt Nam và nhu cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc
1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong các vương triều phong kiến Việt Nam
Bên cạnh nhu cầu thực tiễn, tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong các vương triều phong kiến Việt Nam còn có nguồn gốc lý luận từ học thuyết dân bản của Triết học Nho giáo (Khổng – Mạnh)
Thuyết dân bản, thân dân của triết học Khổng Tử và Mạnh Tử không phải là sản phẩm của sự tư biện thuần tuý của tư duy Nó không ra đời từ mảnh đất trống không mà hình thành phản ánh bối cảnh xã hội Trung Quốc đầy biến động thời Xuân Thu – Chiến Quốc
Từ thế kỷ thứ III TCN, xã hội Trung Quốc bước vào một thời kỳ có nhiều biến động to lớn, toàn diện và kéo dài đến giữa thế kỷ thứ III TCN Lịch sử gọi đó là thời Xuân Thu – Chiến Quốc Thời kỳ này, công cụ lao động bằng sắt xuất hiện đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp Bắt đầu từ thế kỷ thứ VI TCN thành thị thương nghiệp xuất hiện, trở thành những đơn vị khu vực của tầng lớp hiển tộc (địa chủ) mới lên
Sự phát triển của sản xuất, kinh tế đã tác động mạnh mẽ tới hình thức
sở hữu ruộng đất, đưa đến sự biến đổi của kết cấu giai tầng trong xã hội Đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, mối quan hệ giữa thiên tử và các nước chư hầu trở nên lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa không được coi trọng Trong khi ngôi thiên tử của vua nhà Chu chỉ còn là hình thức thì tầng lớp địa chủ mới lên ngày càng giàu có, lấn át giai cấp này Mâu thuẫn giữa tầng lớp địa chủ với giai cấp quý tộc thị tộc Chu; giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân với giai cấp quý tộc; giữa bộ phận bảo thủ và bộ phận cấp tiến
Trang 32ngay trong lòng giai cấp quý tộc thị tộc, … ngày càng trở nên sâu sắc, làm cho chế độ tông pháp của nhà Chu bị tan rã Nhiều nước chư hầu mượn danh khôi phục lại địa vị tông chủ nhà Chu đã đua nhau động binh để mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ nhằm giành ngôi bá chủ thiên hạ Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột tàn khốc dân chúng làm cho xã hội trở nên rối loạn, mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng gay gắt
Sang thời Chiến Quốc, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế, cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng trở nên quyết liệt Các cuộc chiến tranh tàn khốc trên quy mô lớn nhỏ giữa các nước chư hầu đã đẩy người dân vào tận cùng của nỗi khổ, tính mạng thì luôn bị đe doạ Chiến tranh và
sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã làm tan rã công xã nông thôn, đồng thời sự chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần dần trở thành quan hệ sở hữu thống trị Việc mua bán ruộng đất tự do và phổ biến của chế độ tư hữu tất yếu đưa tới tình trạng tập trung ruộng đất vào tay một số lãnh chúa, địa chủ giàu có và đa số dân nghèo mất hết ruộng đất phải đi cày thuê, cuốc mướn
để kiếm sống Từ đó xuất hiện hình thức bóc lột bằng phát canh thu tô Đây
là một trong những biểu hiện của quan hệ sản xuất phong kiến
Trong suốt thời Xuân Thu - Chiến Quốc, xã hội Trung Quốc một mặt tiềm ẩn nguy cơ triệt tiêu lẫn nhau giữa các tập đoàn vua chúa, mặt khác chiến tranh liên miên tàn khốc cùng với việc tăng cường hình pháp của giai cấp thống trị làm cho đời sống nhân dân hết sức cơ cực Bức tranh toàn cảnh của xã hội Trung Quốc đương thời gắn liền với sự chinh phạt, sự vơ vét của cải của các vương hầu, lãnh chúa; đói rét, trộm cướp; cảnh tôi giết vua, con giết cha, anh em, vợ chồng chia lìa nhau, …
Bối cảnh lịch sử trên đây khiến các nhà tư tưởng Trung Quốc đương thời không thể dửng dưng, an phận Họ bị cuốn theo dòng chảy “thiên hạ
Trang 33như nước đổ cuồn cuộn”, và tất cả đều cố gắng đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi lớn mà lịch sử đang đặt ra: Làm thế nào để thống nhất Trung Quốc về một mối, trị yên thiên hạ? Tuy nhiên, do khác nhau trong cách nhìn nhận về
xã hội, về nguyên nhân của tình trạng loạn lạc, cũng như về đạo đức nhân sinh, … và nhất là do khác nhau về địa vị, lợi ích giai cấp xã hội nên các nhà tư tưởng đã đưa ra những lời giải đáp không giống nhau Trường phái Nho gia mà hai đại biểu tiêu biểu là Khổng Tử và Mạnh Tử đã đưa ra những nguyên nhân của sự biến loạn trong xã hội và đề ra những tư tưởng nhằm đưa xã hội về sự ổn định Trong hệ thống tư tưởng chính trị đó có tư tưởng dân bản
Trước Khổng Tử, khi đề cập đến vai trò của dân trong quan hệ với nước, Kinh Thi cho rằng: “Dân là gốc nước, gốc vững thì nước yên” Khổng Tử đã tiếp thu, kế thừa và phát triển tư tưởng “dân là gốc nước” của Kinh Thi và bổ sung thêm những nội dung mới, nêu ra yêu cầu quan trọng
“nước phải lấy dân làm gốc” Ông cho rằng: “Dân lấy vua làm tâm, vua lấy dân làm thân thể Tâm nhờ thân thể mà toàn và cùng vì thân thể mà nguy Vua vì dân mà còn và cũng vì dân mà mất”[46; 169]
Trong suốt cuộc đời của mình, Khổng Tử là người nhận rõ vai trò, sức mạnh của dân đối với nước Khổng Tử cho rằng sự tồn vong của một triều đại phụ thuộc vào việc dân có tin, có nghe theo chính quyền hay không Nếu dân theo, dân tin, dân ủng hộ thì triều đình đứng vững, nếu dân không tin, không theo, không ủng hộ thì triều đình ắt sẽ đổ nát Vì thấy được sức mạnh to lớn của dân, coi dân là gốc nước nên Khổng Tử chủ trương “Quốc
dĩ dân vi bản”, tức là “Nước phải lấy dân làm gốc” Những quan niệm trên của Khổng Tử xuất phát từ sự nhận thức của ông đối với thực trạng xã hội đương thời Thời Xuân Thu – Chiến quốc là thời kỳ mà đời sống nhân dân hết sức cơ cực, lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra, đe doạ
Trang 34tới sự tồn vong của chế độ Hơn nữa, một thực tế hiển nhiên rằng, nước chư hầu nào nắm được đất đai rộng lớn và dân số đông sẽ có tiềm lực quân sự mạnh Để thực hiện được điều đó, ông đã đề xướng các chính sách trị dân nhân đức và đó cũng là trách nhiệm của nhà cầm quyền Ông coi điều kiện quan trọng nhất của nhà cầm quyền là phải được lòng dân Khổng Tử cho rằng: “Nhà cai trị cần phải được lòng dân, khiến kẻ ở gần, tức là người trong địa phương vui dạ mà nương sức che chở cho mình, và khiến cho kẻ
ở xa tức là người địa phương khác mộ danh tiếng mình mà kéo nhau đến làm ăn nơi địa phương mình”[14; 207] Trong tư tưởng trị nước của Khổng
Tử, vua phải làm ba điều quan trọng đó là phát triển dân số, phát triển kinh
tế và phát triển dân trí Để thực hiện được ba điều đó thì nhà cầm quyền phải đảm bảo được ba việc: nuôi dân, có đủ binh lực bảo vệ dân và lòng tin cậy của dân Luận Ngữ ghi: “Tử Cống hỏi về cách cai trị Đức Khổng đáp:
“Nhà cầm quyền phải có ba điều kiện này: lương thực cho đủ nuôi dân, binh lực cho đủ bảo vệ dân, lòng tin cậy của dân đối với mình” Tử Cống hỏi tiếp: “Trong ba điều ấy, bất đắc dĩ mà phải bỏ bớt, thì bỏ ra điều nào trước?” Đáp: “Bỏ binh lực” Tử Cống hỏi nữa: “Còn lại hai điều lương thực
và lòng tin, bất đắc dĩ phải bỏ bớt, thì bỏ ra điều nào trước?” Đáp: “Bỏ lương thực, là vì từ xưa cho tới nay, trong nước nếu thiếu lương thực thì xảy ra nạn chết đói; chứ dân mà không tin nhà cầm quyền thì chính phủ phải đổ””[14; 185] Qua đó cho thấy, Khổng Tử đã nhận thức rất sâu sắc về vai trò của dân đối với sự thịnh suy của chính quyền
Không chỉ có thế, Khổng Tử còn phân tích một cách sâu sắc nhiệm vụ của nhà cầm quyền trong mối quan hệ đối với dân Ông cho rằng, muốn được lòng dân, nhà cầm quyền phải biết dưỡng dân và giáo dân Dưỡng dân là phải biết “sử dân dĩ thì”, tức là sai khiến dân làm việc gì phải hợp thời, tuỳ lúc; phải biết giảm thuế cho dân khi mất mùa; phải chịu khó lo
Trang 35liệu giúp đỡ cho dân và đặc biệt là phải biết “làm cho dân giàu” Khi dân đã giàu thì nhà cầm quyền phải chú trọng dạy dỗ dân, giáo hoá dân Nếu nhà cầm quyền khéo nuôi dưỡng và giáo dục dân, thì người cầm quyền sẽ thu phục được nhân tâm, củng cố được địa vị Ngược lại, nếu để dân đói kém,
xã hội loạn lạc, không sớm thì muộn, chính quyền sẽ bị lật đổ Theo Khổng
Tử, nếu quần chúng nhân dân không no đủ họ sẽ tìm mọi cách để tranh giành miếng cơm, manh áo, đưa xã hội tới cảnh loạn lạc Vì vậy, nhiệm vụ của người cầm quyền là phải lo cho dân được đủ ăn, đủ mặc, tức phải thỏa mãn những nhu cầu vật chất tối thiểu cho dân Do đó, khi Tử Cống hỏi về việc trị nước, Khổng Tử đáp “Phải đủ lương thực, đủ binh lực, được dân tín phục – túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ”[50; 235] Như vậy, vấn đề kinh
tế, lương thực được Khổng Tử đưa lên hàng đầu, chứng tỏ nó vô cùng quan trọng
Bên cạnh dưỡng dân thì nhà cầm quyền còn phải quan tâm tới việc giáo hóa dân Có thể thấy, đối với Khổng Tử, giáo dục, dạy giỗ dân là công việc cực kỳ quan trọng đối với người cầm quyền, có tác dụng hơn dùng pháp luật, vì nhờ giáo hoá mà dân hiểu biết lễ nghĩa, biết nhường nhịn và khi làm sai khuôn phép thì biết hổ thẹn để sửa mình, như thế sẽ tốt hơn cho
xã hội rất nhiều Ông nói: “Muốn dắt dẫn dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh; muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết, thì chẳng những dân biết hổ ngươi, họ lại còn cảm hoá mà trở nên tốt lành”[14; 15] Như vậy, những điểm tiến bộ trong tư tưởng “thân dân” của Khổng Tử
có thể được khái quát ở các nội dung: Thứ nhất, theo Khổng Tử, dân là thiên hạ, có dân, được dân ủng hộ sẽ được thiên hạ Thứ hai, thiên hạ chỉ hùng mạnh và vững bền khi người cầm quyền làm cho dân được đông đúc, làm cho dân được giàu có và làm cho dân được giáo hoá Tuy nhiên, quan niệm về dân của Khổng Tử không bao gồm tất cả những người cùng khổ
Trang 36trong dân chúng Chữ nhân – dân, nội dung quan trọng của học thuyết Khổng Tử, việc đề cao chữ nhân đối với thời đại ông là có ý nghĩa tích cực, nhân bản nhưng vẫn mang tính đẳng cấp, dựa theo quan hệ sang hèn, thân
sơ, có giới hạn cụ thể chứ không phải là lòng yêu thương rộng lớn bao la Mạnh Tử trên cơ sở tư tưởng nhân nghĩa và chủ trương “nhân chính”, ông đã đề xuất một quan điểm hết sức độc đáo Đó là quan điểm dân bản Trong quan niệm về dân, nếu như Khổng Tử cho rằng, trong xã hội dân là người có vị trí thấp nhất và luôn luôn phụ thuộc vào người quân tử có vị trí, địa vị cao Thậm chí ông còn nói: “Đối với dân, chuyện nào cần làm thì nên khiến họ làm, chứ không nên giảng giải nghĩa lý sâu xa, vi diệu với họ”[13; 125] Có thể nói ở Khổng Tử, khi đề cao con người, phản ánh nguyện vọng của dân, ông đề xuất tư tưởng “ái nhân”, “hữu giáo vô loại”, “dân vi bản bang”, nhưng khi phải suy xét đến lợi ích đẳng cấp xã hội ông lại bị dấu ấn giai cấp chi phối Khác với Khổng Tử, Mạnh Tử nghiêng về triết lý: Nhà cầm quyền là thuyền còn thứ dân là nước, chính vì thế ông không gọi dân
là cỏ mà chỉ gọi dân là dân thường, là những người có vị trí thấp trong xã hội Trong quan hệ giữa nhà cầm quyền với dân, ông cho rằng đó là một mối quan hệ thân thiết như cha với con Là cha mẹ dân, nhà cầm quyền phải thương dân như con, và cố nhiên, tình thương yêu ấy xuất phát từ tâm,
từ lòng trắc ẩn chứ không mang tính gò ép, khiên cưỡng
Với nhãn quan của một nhà chính trị có tầm nhìn bao quát khi xem xét thực trạng của một quốc gia, Mạnh Tử có những quan điểm tiến bộ về vai trò của dân
Thứ nhất, Mạnh Tử cho rằng dân là gốc của nước Ông khẳng định:
“Một vị vua chư hầu có ba thứ quý: đất đai, nhân dân và chính sự Nếu chê
ba điều ấy mà quý châu ngọc, ắt thân mình phải vương lấy tai ương”[13; 270-271] Nhà nước thời Mạnh Tử có “Thiên tử” và chư hầu là công cụ
Trang 37dùng để thống trị và chiếm hữu, lấy đất nước làm đối tượng của sự chiếm hữu và thống trị Nhà nước ấy thuộc quyền chuyên chế của cá nhân vua và gia tộc, tập đoàn nhà vua Quần chúng nhân dân không tham dự vào đó Họ chỉ có một nghĩa vụ là làm theo mệnh lệnh của kẻ thống trị mà vua là đỉnh cao quyền lực Do vậy, khi Mạnh Tử nêu cho nhà cầm quyền ba vật báu: đất đai, nhân dân và chính sự, nghĩa là ông nhắc cho người đứng đầu nhà nước thấy được các yếu tố cơ bản cấu thành nên thực thể nhà nước Điều đáng lưu ý là, trong các yếu tố đó, Mạnh Tử đề cao vai trò của yếu tố nhân dân đối với sự tồn vong, thịnh suy của một đất nước Thậm chí ông còn cho rằng, dân còn quý hơn cả vua chúa và xã tắc Ông nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”[13; 262] Mệnh đề này chỉ rõ, trong các yếu tố dân, nước và vua thì dân là quan trọng nhất
Thứ hai, Mạnh Tử cho rằng nhà cầm quyền phải tôn trọng ý dân, làm theo ý dân Bởi theo ông, nếu nhà cầm quyền được lòng dân sẽ được tất cả, nhưng nếu để mất lòng dân sẽ mất tất cả Theo Mạnh Tử, vua Kiệt, vua Trụ mất ngôi thiên tử vì mất dân chúng, mất dân chúng vì mất lòng dân Do đó:
“Muốn được thiên hạ, có một phương pháp nên theo: Hễ được dân chúng,
tự nhiên sẽ được thiên hạ Muốn được dân chúng, có một phương pháp nên theo: Hễ được lòng dân tự nhiên sẽ được dân chúng Muốn được lòng dân,
có một phương pháp nên theo: Dân ghét việc chi, nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ”[12; 18-19] Như vậy, tranh thủ sức dân, được lòng dân, lo cho dân trở thành một phương pháp trị nước Mạnh Tử đã nối liền các mệnh đề được thiên hạ, được dân chúng, được lòng dân với việc thi hành nhân nghĩa của nhà cầm quyền
Thứ ba, theo Mạnh Tử, dân là yếu tố quyết định thiên hạ loạn hay trị Khi dân ủng hộ thì nhà nước tồn tại, xã hội ổn định, khi dân không ủng hộ, sớm muộn nhà nước cũng bị lật đổ nên kẻ cai trị phải biết dựa vào dân,
Trang 38phát huy sức dân Để phát huy được sức mạnh của dân đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước cố nhiên, nhà cầm quyền phải biết lo lắng cho dân và đáp ứng yêu cầu của dân Mạnh Tử đòi hỏi nhà cầm quyền phải biết chia sẻ niềm vui với dân, không được chìm đắm trong niềm vui của dục vọng, mải mê vui chơi, yến tiệc mà bỏ bê việc triều chính Mạnh Tử khuyên Tề Tuyên Vương: “Nếu người bề trên mà vui với sự vui của dân thì dân cũng buồn với sự buồn của mình Bậc quốc trưởng mà vui với thiên hạ, chia buồn với thiên hạ thì thế nào nền cai trị của mình cũng có bề hưng vượng”[11; 50-51]
Nhằm nhấn mạnh hơn nữa vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự tồn vong của một chế độ xã hội, Mạnh Tử đưa ra tư tưởng lấy dân làm trọng Từ chỗ thấy được tầm quan trọng của ba yếu tố thiên, địa, nhân, Mạnh Tử nhấn mạnh yếu tố nhân hoà Theo ông, nhân hoà là yếu tố quyết định sự thành công của nhà cầm quyền bởi “Thời trời chẳng bằng lợi đất; lợi đất chẳng bằng lòng người hoà hiệp”[12; 114-115] Với lập luận ấy, Mạnh Tử khuyến cáo các vua chư hầu: việc trị quốc bình thiên hạ cần phải nhận được sự ủng hộ của đa số dân chúng Bờ cõi chắc chắn, núi non hiểm trở, vũ khí tốt chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ cho ông vua làm nên nghiệp lớn Điều quan trọng nhất là phải có lòng người hoà hiệp
Với những quan điểm về vai trò của dân, Mạnh Tử đã thể hiện tư tưởng tiến bộ so với những nhà tư tưởng đương thời Xuất phát từ quan điểm coi dân là gốc của nước, dân là yếu tố quyết định đến sự thịnh suy của một chế độ, do đó, Mạnh Tử đã đi đến những quan điểm về việc làm sao để lấy được lòng dân
Để lấy được lòng dân, phát huy được sức mạnh của dân, nhà cầm quyền phải quan tâm tới việc dưỡng dân và giáo hoá dân bởi theo ông, khi dân đói khổ và không được giáo hoá, tất sẽ làm điều sai trái Nếu khi ấy
Trang 39nhà cầm quyền dùng hình phạt mà trừng trị họ thì đó là hành động giăng bẫy đánh lừa dân Ông cho rằng nếu nhà cầm quyền mà lo cho dân có đời sống no đủ thì dân sẽ trở nên hiền lành và không làm điều sai trái
Có thực mới vực được đạo Chỉ khi dân chúng có đời sống vật chất no
đủ thì tâm của họ mới vững vàng, không giao động và họ mới có thể sống theo nhân nghĩa Muốn bảo đảm đời sống vật chất cho dân, làm cho nền kinh tế đất nước phồn vinh thì vua chúa phải thực hiện các chính sách xã hội cũng như chính sách kinh tế thích hợp
Về chính sách xã hội, Mạnh Tử đòi hỏi nhà cầm quyền phải giúp đỡ những người nghèo khổ bằng những việc làm thiết thực Theo ông, chính sách xã hội phải hướng tới bốn hạng người quan, quả, cô, độc: “Quan là những ông lão không vợ, quả là những bà lão không chồng, độc là những ông lão, bà lão chẳng có con phụng dưỡng, cô là những kẻ mồ côi cha Đó
là bốn hạng người cùng khổ nhất thiên hạ, chẳng biết nhờ cậy vào ai”[11; 54-57] Ngoài bốn hạng người này, Mạnh Tử còn quan tâm tới người già
cả Ông cho rằng: “Trong thiên hạ, nếu có một vị vua hay phụng dưỡng người già cả, ắt những nhà nhân đức đều quay về với vị vua ấy”[12; 232-233]
Về chính sách kinh tế, Mạnh Tử cho rằng, để dân no đủ và cư xử có nhân, nhà cầm quyền phải dùng chính sách khéo léo như thi hành chế độ điền địa công bằng, thích hợp, sắp đặt phân chia ranh giới ruộng đất phân minh, thu thuế liễm của dân phải công bằng, thích hợp, khuyến khích nhà nhà chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm trên đất của mình Mạnh Tử đề cao cách thu thuế theo phép trợ của nhà Ân và phép triệt của nhà Chu, gọi chung là phép tỉnh điền Theo phép tỉnh điền, ruộng đất được chia làm chín khu, tám khu ngoài gọi là tư điền chia cho tám gia đình dân chúng, khu trung tâm gọi là công điền nơi dân chúng làm cho chính phủ Theo ông, thi hành chế
Trang 40độ điền địa này vừa thuận lợi cho việc thu thuế của chính phủ, vừa bảo đảm
sự no ấm cho quốc dân Đối với việc thu thuế, nhà cầm quyền phải linh hoạt, cụ thể, mềm dẻo, phải tính đến tình hình cụ thể như được mùa, mất mùa để thu thuế cho hợp lý Thu thuế không hợp lý sẽ làm cho dân oán hận
Bên cạnh dưỡng dân, Mạnh Tử còn quan tâm tới việc giáo hoá dân Dưỡng dân và giáo hoá dân là hai việc không tách rời nhau Mạnh Tử cho rằng, muốn trị nước, nhà cầm quyền phải tuân theo hai phép: Một là, thi hành một cách nhân huệ chế độ điền địa Hai là, thực hiện chế độ giáo hoá dân Theo ông: “Làm người ai cũng có đạo lý mà mình cần phải theo Chứ
cứ như đã được ăn no, mặc ấm, ở yên mà chẳng có giáo dục, thì gần với loài chim và loài thú rồi đó”[12; 168-169] Chínhh vì thế, dân vi phạm pháp luật không phải do lỗi của họ mà chính là tội của nhà cầm quyền không biết giáo hoá họ
Giáo hoá dân là tiến hành giáo dục dân, để dân trở lại tính thiện bẩm sinh đặc biệt là đức hiếu và đức nghĩa Mạnh Tử coi người làm chính sự biết dạy dân giỏi chính là nhà cai trị giỏi và tốt Trị nước bằng chính và hình không thể sánh bằng nhân và giáo Kẻ làm quan có địa vị trong xã hội muốn hành đạo, thì phương thức tốt nhất để hành đạo là giáo Có giáo dân mới được lòng dân, mới có thể dẫn dắt dân vào cuộc sống có đạo, đưa cả nước và thiên hạ tới hữu đạo Để giáo hoá dân, nhà nước cần lập nên những trường từ làng xã đến kinh đô để dạy dân về đạo lý, tri thức, phong tục, võ nghệ gọi là tường, tự, hiệu, học Tường là dạy cho dân sự kính nhường và phụng dưỡng người già cả Tự là trường dạy cho dân về phong hoá, đạo đức Đó là những trường mà nhà Hạ gọi là hiệu, nhà Ân gọi là tự, nhà Chu gọi là tường Còn trường quốc học, tức trường tại kinh đô, cả triều Hạ,