Bản thân người viết được sinh ra và lớn lên ở vùng sông nước Nam Bộ nên tôi chọn đề tài “Truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ” nhằm tìm hiểu nhiều hơn về thể loại ca dao d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGỮ VĂN VÀ BÁO CHÍ
HUỲNH THỊ KIM LIÊN
TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI TRONG
CA DAO DÂN CA NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 5.04.33
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS LÊ VĂN CHƯỞNG
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Kết cấu luận văn 8
Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI TRONG CA DAO DÂN CA 1.1 Khái quát về truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca 10
1.1.1 Khái quát về truyền thống và biến đổi 10
1.1.2 Về truyền thống và biến đổi trong văn học dân gian 11
1.2 Cở sở truyền thống và biến đổi 13
1.2.1 Vùng văn hóa truyền thống Bắc và Trung Bộ 14
1.2.2 Vùng văn hóa Nam Bộ 19
1.3 Tiểu kết 25
Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI TRONG CA DAO DÂN CA NAM BỘ 2.1 Đề tài 27
2.1.1 Thiên nhiên 27
2.1.2 Lịch sử – văn hóa 33
2.1.3 Đời sống tình cảm 39
2.2 Cấu trúc mẫu đề 49
2.2.1 Mẫu đề 1: Đặc thù địa phương 50
2.2.2 Mẫu đề 2: Những lối ngõ tình cảm 51
2.2.3 Mẫu đề 3: Tâm trạng thời gian 53
2.2.4 Mẫu đề 4: Tâm trạng không gian 55
Trang 32.3 Thể thơ 57
2.3.1 Thể lục bát 57
2.3.2 Lục bát biến thể 60
2.3.3 Thể hỗn hợp 61
2.4 Văn phong 62
2.5 Tiểu kết 66
Chương 3 Ý NGHĨA CỦA TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI TRONG CA DAO DÂN CA NAM BỘ 3.1 Ý nghĩa của truyền thống 68
3.1.1 Ý nghĩa của truyền thống trong ca dao dân cathể hiện dưới hai góc cạnh 68
3.1.2 Ý nghĩa của truyền thống về mặt lý thuyết 72
3.2 Ý nghĩa của hiện tượng biến đổi 73
3.2.1 Ca dao dân ca Nam Bộ góp phần làm phong phú ca dao dân ca Việt Nam 74
3.2.2 Ca dao dân ca Nam Bộ góp phần làm phong phú về mặt từ ngữ 75
3.2.3 Phản ánh tính đặc thù về môi trường sinh thái 78
3.2.4 Phản ánh tính đặc thù về lịch sử – văn hóa 83
3.2.5 Nét đặc thù về xã hội và tính cách con người Nam Bộ 87
3.3 Tiểu kết 91
KẾT LUẬN 93
PHỤ LỤC 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 167
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Việc sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian nói chung và ca dao dân ca nói riêng là một việc không phải mới ở Việt Nam cũng như trên thế giới Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan thì ở Việt Nam ta, việc sưu tầm, biên soạn ca dao dân ca chỉ mới bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ XVIII, các soạn giả
“ghi chép tục ngữ - ca dao bằng chữ Nôm rồi định ra chữ Hán và chú thích” [48,7] và“Sang đầu thế kỷ XX, chúng ta mới có những sách sưu tập ca dao - dân ca bằng chữ quốc ngữ”[48,7], theo thời gian, việc nghiên cứu ca dao dân
ca đã có nhiều thành tựu, giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, có tính chất lý luận về bản chất, đặc trưng, phương pháp nghiên cứu…
Trong tất cả các vấn đề cần được nghiên cứu của ca dao dân ca thì việc nghiên cứu về ca dao dân ca của một vùng miền là điều rất cần thiết và cũng rất thú vị Điều đó sẽ giúp ta hiểu thêm về văn hoá vùng, về thiên nhiên, lịch sử - xã hội, con người… mang những nét đặc trưng của vùng ấy
Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội, nó tồn tại và phát triển trước hết là vì nhu cầu được sáng tạo của người bình dân, ca dao dân ca cũng là một bộ phận của sự sáng tạo ấy Có thể nói ca dao dân ca Việt Nam đã có từ rất lâu đời, với những nội dung và nghệ thuật mang đậm tính truyền thống dân tộc, nhất là ở vùng Bắc và Trung Bộ
Tiếp cận với kho tàng ca dao dân ca Việt Nam, chúng tôi thấy ca dao dân ca Nam Bộ không những chiếm một số lượng khá lớn mà còn có nhiều vấn đề mới cần tìm hiểu, nghiên cứu Nam Bộ là một bộ phận của đất nước
Trang 5ta, được các thế hệ đi trước từ miền ngoài, nhất là miền Trung đến khai phá cách đây trên 300 năm Đây là vùng đất mới, vừa có những nét truyền thống, vừa có những nét đặc thù về thiên nhiên, lịch sử - văn hoá, cho nên đã có nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có ca dao dân ca Dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về ca dao dân ca Nam Bộ được công bố nhưng chưa có công trình nào đề cập cụ thể đến vấn đề truyền thống và biến đổi của ca dao vùng này Bản thân người viết được sinh ra và lớn lên ở vùng sông nước Nam Bộ nên tôi chọn đề tài “Truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ” nhằm tìm hiểu nhiều hơn về thể loại ca dao dân ca của vùng đất mới, nơi mình sinh sống có những biến đổi gì so với ca dao dân ca truyền thống Ngoài ra, đề tài này còn góp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian, trong đó có ca dao dân ca
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Như đã trình bày ở phần trên, việc nghiên cứu ca dao dân ca Nam Bộ đã được nhiều nhà nghiên cứu văn học, văn hoá dân gian quan tâm, và đã có nhiều thành tựu mang tính khoa học Theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì có thể nói người đầu tiên đề cập đến ca dao miền Nam với tư cách nghiên cứu
là tác giả Nguyễn Kiến Thiết, với tiểu luận Cao học văn chương: Tính cách đặc thù của ca dao miền Nam, hoàn thành năm 1972 tại Đại học Văn khoa
Sài Gòn Trong công trình của mình, tác giả cho rằng:“những đặc tính của miền Nam về lịch sử, địa dư, ngôn ngữ đã tạo cho ca dao miền này một khuôn mặt khá đặc biệt so với ca dao miền Bắc và miền Trung”
Trong bài viết Mấy suy nghĩ về ca dao của vùng đất mới của Thạch
Phương đăng trên tạp chí Văn học số tháng 6 - 1981, tác giả có nói đến ca
Trang 6hiện thực lớn : bức tranh thiên nhiều màu sắc của một vùng đất trù phú, mênh mông với mùa mưa nắng rõ rệt và công cuộc khai sơn phá thạch của lớp người tiền phong đi mở nước, cùng sự nghiệp chiến đấu để bảo vệ đất đai và thành quả lao động đã được dựng lên bằng mồ hôi và xương máu của họ” [50,18] và “… qua ca dao Nam Bộ, ta cũng cảm nhận rất rõ dấu ấn đậm nét về tính cách, tâm lý, tình cảm của con người và phần nào những tập quán, sinh hoạt khác của xã hội trên vùng đất phương Nam của Tổ quốc” [50, 28]
Năm 1984, trong quyển Ca dao - dân ca Nam bộ của nhóm tác giả: Bảo
Định Giang, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh sưu tầm và giới thiệu có phần tiểu luận 117 trang, các tác giả nêu lên vấn đề tính địa phương của ca dao dân ca Nam Bộ so với ca dao dân ca truyền thống Cụ thể
ở bài viết của Nguyễn Tấn Phát :Vài nét về nội dung ca dao dân ca Nam Bộ,
ông nhận xét :“Ca dao dân ca sưu tầm ở Nam Bộ thống nhất với ca dao dân
ca các miền khác của đất nước về cội nguồn” [17,25] Ông cũng nêu lên những luận điểm chung về tính thống nhất của ca dao dân ca Nam Bộ:“ở vùng đất mới Nam Bộ, ta vẫn thấy những bài ca cũ (tức ca dao truyền thống) còn giữ nguyên vẹn phần lời, phần nghĩa, chỉ thay đổi về môi trường diễn xướng” [17,26] Cũng trong công trình sưu tầm này, Phó Giáo Sư Bùi Mạnh
Nhị có bài : Một số đặc điểm nghệ thuật của ca dao dân ca Nam Bộ, trong đó
tác giả xét ca dao Nam Bộ trong tương quan so sánh với ca dao Bắc Bộ :“Ca dao dân ca Nam Bộ luôn phát triển theo phương hướng chung, một xu thế chung luôn lĩnh hội và cảm thụ những truyền thống chung của ca dao dân ca toàn dân tộc, đồng thời nó luôn phát huy những đặc điểm riêng gắn với hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội, tâm lý tính cách cùa con người ở địa phương” [17,59]
Trang 7Trên tạp chí ngôn ngữ số tháng 1 năm 1984, Bùi Mạnh Nhị còn có bài :
Một số đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân ca Nam Bộ, có đoạn ông viết :
“Diện mạo ngôn ngữ ca dao dân ca Nam Bộ là một quá trình hội tụ, phát huy những truyền thống của ngôn ngữ ca dao dân ca dân tộc mà cha ông ta từ các miền ngoài mang vào, đồng thời là quá trình sáng tạo liên tục trước những đòi hỏi của cuộc sống ở mọi hoàn cảnh, mọi mục đích giao tiếp đang đổi mới không ngừng”[45,26]
Năm 1994, Tiến sĩ Lê Văn Chưởng có công trình nghiên cứu cấp Bộ:
Hiện tượng chuyển hoá trong ca dao dân ca Nam Bộ, tác giả cho rằng:“các
điều kiện tự nhiên, cư dân, lịch sử văn hoá đã tạo ra sự chuyển hoá trong ca dao dân ca Nam Bộ” Và trên cơ sở chọn ra trên dưới 100 bài ca dao dân ca
ba miền, tác giả cho rằng trong ca dao dân ca có hai yếu tố: bất biến và khả biến
Gần đây có thêm một số luận án cao học và tiến sĩ nghiên cứu ca dao
dân ca Nam Bộ như :Thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ của Trần Thị
Diễm Thuý Ở công trình này tác giả xác địmh :“thiên nhiên gắn chặt với đời sống văn hoá con người Thiên nhiên thay đổi trong tiến trình khai phá thì văn hoá dân gian cũng in dấu rõ nét” và từ việc tìm hiểu “mối quan hệ với thiên nhiên Nam Bộ, đề tài cũng góp phần tìm hiểu mấy đặc điểm riêng của văn hoá vùng” Còn ở luận án khác :“Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ ( khảo sát dưới góc độ thi pháp )” của Trần Văn Nam, tác giả cho nêu mục đích công trình của mình là“muốn góp phần nghiên cứu sâu sắc hơn về các biểu trưng nghệ thuật - một yếu tố thi pháp quan trọng của ca dao, từ đó góp thêm tiếng nói về đặc trưng của thể loại này, chỉ ra được một số đặc điểm của ca dao Nam Bộ về mặt thi pháp”
Trang 8Những phương diện, khía cạnh nghiên cứu của những công trình nói trên là những gợi ý quý giá đối với chúng tôi về mặt lý luận, phương pháp và nội dung nghiên cứu Riêng công trình của Tiến sĩ Lê Văn Chưởng có đề cập đến hiện tượng chuyển hoá trong ca dao dân ca Nam Bộ nhưng vẫn còn bỏ ngỏ một số vấn đề Kế thừa những thành quả đó, luận văn của chúng tôi ngoài việc tổng kết ý kiến của các tác giả nêu trên, chủ yếu là tìm hiểu về
“Truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ”
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu :
3 1 Xung quanh thuật ngữ ca dao và ca dao dân ca :
Theo giới nghiên cứu, hiện nay ca dao và ca dao dân ca là những thuật ngữ quen thuộc để chỉ các hiện tượng và hoạt động ca hát Nguyễn Xuân Kính cho rằng từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, các nhà nho đã sưu tầm, biên soạn những câu hát thôn dã và các tên gọi ca dao, phong dao chính thức ra đời Như một số tác phẩm :
- Tục ngữ phong dao, Nguyễn Văn Ngọc biên soạn, Nxb Vĩnh Hưng
Long, Hà Nội năm 1928
- Ca dao cổ, Tạp chí Nam phong, Hà Nội, số 167 năm 1931
- Phong dao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ, Nguyễn Tấn Chiểu biên
soạn, Hà Nội năm 1934 …
Trước đây người ta gọi là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh
phong tục của mỗi địa phương hay thời đại, nhưng rồi dần dần tên gọi này
ít
được sử dụng, nhường chỗ cho từ ca dao Tuy nhiên, ranh giới giữa ca dao và
dân ca có thể nói là không rõ ràng Có nhiều định nghĩa về các thuật ngữ này Chu Xuân Diên cho rằng “Giữa ca dao và dân ca không có ranh giới rõ
Trang 9rệt Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa” [27,304]
Nguyễn Xuân Kính định nghĩa :“ Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian Đối với ca dao, người ta không chỉ hát mà còn ngâm, đọc và xem bằng mắt thường”[28,32] Hay Vũ Ngọc phan cũng có định nghĩa:“Cũng như tục ngữ, ca dao dân ca là những bài văn vần
do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân” [48,32]
Tất cả các định nghĩa trên dù có khác nhau ở cách nói nhưng tất cả đều để chỉ những bài thơ dân gian, cho nên trong luận văn này chúng tôi gọi
chung là Ca dao dân ca Và ở tài liệu Kho tàng ca dao người Việt dù không
dùng từ dân ca nhưng cũng là để chỉ chung các thể thơ dân gian (trong đó bao
gồm ca dao và dân ca)
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu :
Luận văn của chúng tôi là nhằm tìm hiểu :“Truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ” Vì vậy đối tượng mà chúng tôi hướng đến là những sáng tác ca dao dân ca truyền thống và ca dao dân ca Nam Bộ, để từ đó xét đến tính biến đổi của ca dao dân ca Nam Bộ Theo cách hiểu thông thường nhất, truyền thống là những cái đã có từ lâu đời, mang tính bất biến, không thay đổi, còn biến đổi là sự thay thế một số yếu tố trong truyền thống
do điều kiện tự nhiên hoặc điều kiện lịch sử - xã hội
Trang 10Đối tượng, phạm vi ca dao dân ca khảo sát trong luận văn này là những công trình nghiên cứu, sưu tầm ca dao dân ca tiêu biểu của người Việt ở ba miền Bắc - Trung - Nam, chủ yếu là các công trình dưới đây :
1 Kho tàng ca dao người Việt ( 2 tập ), Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng
Nhật, Phan Đăng Tài, Nguyễn Thuý Loan, Đặng Diệu Trang - Nxb Văn hoá thông tin,tái bản năm 2001 ( TL I )
2 Văn học dân gian Bình Trị Thiên - Ca dao dân ca ca, Trần Hoàng
(chủ biên ), Lê Tiến Dũng, Lê Văn Hảo, Trần Thuỳ Mai, Phạm Bá Thịnh - Nxb Thuận Hoá, Huế 1988 ( TL II )
3 Ca dao dân ca Nam Bộ, Bảo Định Giang, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn
Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh - Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1984 ( TL III )
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi chỉ chọn những bài ca dao có tính biến đổi rõ rệt nhất so với ca dao truyền thống để phân tích, so sánh Ngoài
ra, chúng tôi còn tham khảo thêm một số các tài liệu có liên quan đến văn học dân gian cũng như ca dao dân ca Nam Bộ ( Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long của Khoa ngữ văn Trường Đại Học Cần Thơ, 1987 ; Tìm hiểu dân ca Nam Bộ của Lư Nhất Vũ, 1983…)
Tóm lại, tư liệu về ca dao dân ca Nam Bộ rất nhiều, nhưng trong giới hạn luận văn của mình chúng tôi chỉ chọn những công trình sưu tầm, nghiên cứu có tính chất tiêu biểu trên để khảo sát
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyết nghiên cứu thi pháp văn học dân gian để nghiên cứu về tính truyền thống và biến đổi của ca
Trang 11dao dân ca Nam Bộ Mặt khác, cần phải sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, chủ yếu là : ngôn ngữ học, văn hoá học, địa lý, lịch sử…
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi lần lượt tiến hành khảo sát, thống kê, miêu tả, phân tích, so sánh giữa ca dao dân ca truyền thống và ca dao dân
ca Nam Bộ để tìm hiểu những yếu tố truyền thống và yếu tố biến đổi, đồng thời lý giải các hiện tượng ấy Để làm rõ hơn, chúng tôi đã tuyển chọn ra được trên dưới 300 cặp bài ca dao (mỗi cặp gồm một bài ca dao dân ca truyền thống và một bài ca dao dân ca Nam Bo) để từ đó có thể so sánh và rút ra những khía cạnh biến đổi của ca dao dân ca Nam Bộ so với ca dao dân
ca truyền thống
5 Đóng góp của luận văn :
Như đã trình bày ở phần trên, đây là đề tài chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu, chính vì vậy đề tài này góp phần vào lĩnh vực nghiên cứu thi pháp ca dao dân ca, đặc biệt là ca dao dân ca Nam Bộ Trong đó chúng tôi dành cả chương 2 để nói về những hiện tượng biến đổi của ca dao dân ca Nam Bộ, để từ dó có thể thấy được những biến đổi ấy có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của kho tàng ca dao dân ca dân tộc
6 Kết cấu luận văn :
Ngoài phần mở đầu (9 trang) và kết luận (4 trang), luận văn gồm có 3 chương
Chương 1 : Giới thuyết về truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca
Chương này đề cập lý thuyết về truyền thống và biến đổi, đồng thời nêu lên cơ sở của hiện tượng ấy, gồm 16 trang (từ trang 10 đến trang 26) Chương 2 : Những biểu hiện của truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca
Trang 12Nội dung chương này miêu tả và phân tích những biểu hiện của truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ, gồm 41 trang (từ trang 27 đến trang 67)
Chương 3 : Ý nghĩa của truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ
Nội dung chương 3 đề cập đến những ý nghĩa của truyền thống và ý nghĩa của biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ, gồm 26 trang (từ trang 68 đến trang 92)
Phần phụ lục, có 73 trang (từ trang 97 đến trang 166)
Tài liệu tham khảo, 5 trang (từ trang 167 đến trang 171)
Trang 13Chương 1
GIỚI THUYẾT VỀ TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI TRONG
CA DAO DÂN CA
1.1 Khái quát về truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca :
1.1.1 Khái quát về truyền thống và biến đổi :
Truyền thống là những cái có tính chất lâu đời, đó là nền nếp, là thói quen tốt đẹp được lưu giữ từ đời này qua đời khác Theo Đào Duy Anh thì :
“Truyền thống”, tiếng Hán Việt có nghĩa là“đời nọ truyền xuống đời kia” Bất kỳ dân tộc nào cũng có truyền thống: truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước, truyền thống đạo đức… Truyền thống được hình thành dần qua hoạt động lịch sử của con người, sau khi hình thành nó có tính ổn định tương đối Tuy nhiên, cũng không phải những gì thuộc về lịch sử đều là truyền thống, mà chỉ có những gì được sao phỏng, kế thừa mới được gọi là truyền thống Truyền thống cũng không phải là cái cố định mà đó là do quá trình phát triển mang tính biện chứng, nghĩa là đến một lúc nào đó và do một yêu cầu nào đó mà nó có thể biến đổi cho phù hợp
Biến đổi cũng tương đương như thay đổi nhưng không đồng nhất, bởi thay đổi là thay cái này bằng cái khác, còn biến đổi cũng làm cho sự vật, hiện tượng khác đi nhưng vẫn còn giữ lại ít nhiều bản chất ban đầu (về nội dung và hình thức) Ta có thể thấy điều này rất rõ qua một vài hiện tượng trong thiên nhiên, trong cuộc sống Ví dụ như cây chè được trồng nhiều và chất lượng ngon nổi tiếng ở Thái Nguyên hay một số vùng miền núi phía Bắc, nhưng nếu ta đem về trồng ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì chắc chắn cây sẽ không tốt và chất lượng kém Tương tự như vậy, con chim ở
Trang 14miền ôn đới đến sinh sống ở miền nhiệt đới thì cũng có sự biến đổi về thể chất để phù hợp với môi trường Hay ở một trường hợp khác, tư tưởng Nho giáo khi đến Việt Nam ta thì không còn hoàn toàn là Nho giáo của đất nước Trung Hoa nữa mà đã có sự biến đổi ít nhiều để có thể tồn tại trong tư tưởng người Việt Nam
Vậy, có thể nói truyền thống và biến đổi là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ biện chứng với nhau : trong biến đổi có truyền thống, trong truyền thống có sự chuẩn bị cho biến đổi, để dần dần cái biến đổi ấy có tính ổn định và trở thành truyền thống, làm cơ sở cho sự biến đổi mới Trong văn học, nhất là bộ phận văn học dân gian cũng dựa trên nền tảng này
1.1.2 Về truyền thống và biến đổi trong văn học dân gian:
Văn học nói chung hay văn học dân gian nói riêng là một bộ môn nghệ thuật có tính kế thừa của thế hệ đi trước Trong văn học, việc kế thừa là điều
hết sức cần thiết Theo Từ điển văn học (Bộ mới) thì “Truyền thống là những
kinh nghiệm văn học nghệ thuật của các thời đại đã qua, được các nhà văn ở thời đại sau tiếp nhận và khai thác, xem như kinh nghiệm quý giá, như định hướng sáng tạo cho mình Truyền thống có thể trở thành một nhân tố tiùch cực hữu hiệu của quá trình văn học khi nhà văn chiếm lĩnh một cách tích cực, sáng tạo có chọn lọc di sản của các thế hệ đi trước, nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghệ thuật của thời đại mình, bởi vậy sự kế thừa truyền thống luôn luôn đi kèm với việc đổi mới văn học” [20,1834] Định nghĩa trên cho thấy rằng đổi mới (biến đổi) tức là thay đổi một số yếu tố, một số thành phần trong truyền thống để hình thành một thực thể không nguyên vẹn như truyền thống nhưng vẫn bảo tồn tính truyền thống, điều này cũng được thể hiện trong văn học dân gian
Trang 15Một trong những đặc điểm của văn học dân gian là phương thức truyền miệng, vì thế Chu Xuân Diên cho rằng :“Phương thức truyền miệng tất yếu dẫn đến hình thức ứng tác” và“ứng tác cá nhân bao giờ cũng là điều kiện tất yếu cho sự hình thành và phát triển của truyền thống” [27,71], để rồi sau đó truyền thống lại làm cơ sở cho những ứng tác cá nhân Như vậy, sự ứng tác trong văn học dân gian cũng là một dạng của sự biến đổi, nó vừa bị sức mạnh của truyền thống chi phối, vừa là nhân tố cụ thể tạo nên sự phát triển thường xuyên của truyền thống Cũng theo Chu Xuân Diên :“Truyền thống trong văn học dân gian tuy rất mạnh nhưng cũng không phải là một cái gì nhất thành bất biến, mà trái lại luôn có sự biến đổi theo với sự biến đổi trong đời sống tư tưởng và tình cảm, trong lý tưởng thẩm mỹ và sở thích thẩm mỹ của nhân dân” [27,72] Tác giả có đề cập đến “truyền thống toàn dân và truyền thống địa phương” Thực ra thì truyền thống địa phương cũng bắt nguồn từ truyền thống toàn dân nhưng khi đến một địa phương nào đó do có sự thay đổi của những điều kiện sống đã dẫn đến sự pha trộn giữa các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các địa phương khác nhau mà có sự biến đổi cho phù hợp
Đối với văn học dân gian, tác giả sáng tác và cảm thụ đều dựa trên truyền thống, một truyền thống có bề dày về lịch sử - văn hoá, xã hội và đời sống tình cảm của con người, đồng thời đó còn là truyền thống về mặt cấu trúc thể loại Những biểu hiện truyền thống đó trong văn học dân gian nói chung và ca dao dân ca nói riêng đã mang tính ổn định và sẽ biến đổi theo bước đi của lịch sử, xã hội
Đề cập đến truyền thống về mặt cấu trúc, Phó Giáo Sư Bùi Mạnh Nhị có nói đến các công thức truyền thống (ông gọi là công thức folklore), đó là
Trang 16những kiểu mẫu ổn định, điển hình khác nhau của truyền thống Tác giả cho rằng “Công thức folklore thường có tầng nền văn hoá, dân tộc học rất sâu sắc… Và vì vậy, nghiên cứu công thức folklore cần phải tìm hiểu “cốt” (code) văn hoá, dân tộc học và sự hình thành nghĩa của chúng Chính đây là cơ sở bề sâu của các công thức, cũng như của tác phẩm folklore” [46,322] Theo chúng tôi hiểu thì điều này cũng có nghĩa là những cấu trúc hay công thức truyền thống ấy đều phải dựa trên cơ sở của đời sống lịch sử - văn hoá, xã hội của dân tộc
Tất cả những yếu tố trên là cơ sở để chúng tôi đi vào phân tích cụ thể những biểu hiện của truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ ở chương sau Bởi vì căn cứ theo những khái niệm đã được trình bày thì Bắc và Trung Bộ được xem là vùng đất văn hoá có truyền thống lâu đời, bền vững, còn vùng văn hoá Nam Bộ có tuổi đời còn trẻ, có nhiều biến đổi
1.2 Cơ sở của truyền thống và biến đổi:
Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, truyền thống là những gì đã đi vào nề nếp, có giá trị và được lưu giữ, truyền tụng từ đời này sang đời khác Tuy nhiên, cần lưu ý là truyền thống không hoàn toàn nhất thành bất biến mà có sự biến đổi để kịp thời thích ứng với điều kiện tự nhiên, lịch sử - văn hoá, xã hội … Tương tự như vậy,“công thức folklore không bất biến, khô cứng
“Quỹ” công thức các thể loại folklore có sự loại bỏ những công thức không phù hợp và bổ sung những công thức mới ở các vùng dân cư và thời kỳ lịch sử khác nhau Và những công thức được nhân dân sử dụng cũng thường xuyên biến hoá, đổi mới trong các kết hợp, ngữ cảnh cụ thể”[46,322] Vì thế, Bắc và Trung Bộ là vùng văn hóa truyền thống của dân tộc và cấu trúc của
Trang 17ca dao dân ca vùng này cũng được xem là những công thức truyền thống, để rồi trong
quá trình vận động của lịch sử - xã hội, với những cuộc di dân về phía Nam đã tạo lập nên vùng đất mới thì chắc chắn sẽ kéo theo những biến đổi để con người thích ứng với môi trường mới
1.2.1 Vùng văn hoá truyền thống Bắc và Trung Bộ :
Bắc và Trung Bộ là vùng đất cổ xưa của người Việt, riêng Bắc Bộ đã hình thành từ thời Văn Lang - Âu Lạc, mà chứng tích là nền văn hoá Đông Sơn Nền văn hoá này bị nhấn chìm trong thời Bắc thuộc với chủ trương Hán hoá Và đến thời kỳ độc lập tự chủ (năm 939), không những về lịch sử - xã hội mà cả lãnh thổ đã mở rộng đến miền Trung ngày nay Do vậy mà hai vùng đất Bắc và Trung Bộ có tính ổn định về nhiều mặt
1.2.1.1 Thiên nhiên Bắc và Trung Bộ :
Địa hình Bắc và Trung Bộ đa dạng, không đơn điệu như Nam Bộ Bắc Bộ có nhiều dãy núi, nhiều thung lũng, cho đến cả Đồng bằng Sông Hồng cũng xen lẫn núi đồi Từ vùng đồi núi trung du, xen thung lũng hẹp, tiến về đồng bằng, cha ông ta phải đối đầu với những cơn thuỷ thần hung hãn (lĩnh vực của Thuỷ Tinh) Để đẩy lùi cơn thuỷ hoạ ấy con người phải đắp đê, đắp bờ, đê kéo dài đến đâu, đằng sau đất khô ráo đến đấy và con người đã biến sình lầy thành đồng ruộng, xóm làng để sinh sống Đây là nơi bắt nguồn của nền “văn minh Sông Hồng” như mọi người thường nói Vùng đồng bằng này chủ yếu được bồi đắp bởi hai hệ thống Sông Hồng và sông Thái Bình, phần lớn là đất phù sa mới, tương đối phì nhiêu Ngoài đồng bằng Sông Hồng ở Bắc Bộ, một vùng kinh tế khác cũng được hình thành ở dải đất miền Trung mà trước đây ta gọi là vùng Thuận Quảng Vùng đất này có giới hạn địa lý từ
Trang 18bắc Thanh Hoá đến nam Phan Thiết, nằm giữa biển Đông và dãy Trường Sơn, bị chia cắt bởi nhiều đèo và sông Nơi đây đồng bằng nhỏ hẹp, khô cằn và thường bị mặn xâm nhập làm cho việc sản xuất gặp nhiều khó khăn Nhìn chung, thiên nhiên, địa hình hai miền Bắc và Trung Bộ ở trong môi trường khí hậu khắc nghiệt hơn Nam Bộ Chính môi trường ấy đã để lại nhiều dấu ấn trong ca dao dân ca để hình thành nên chủ đề mang tính truyền thống về thiên nhiên Như câu ca về vùng sông núi Bắc Bộ :
Ai đưa em đến chốn này Bên kia thì núi, bên này thì sông
Hay người miền Trung thì giới thiệu về mảnh đất lắm phá nhiều đèo của mình:
Đường vô xứ Huế quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ Thương em anh cũng muốn vô Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang Phá Tam Giang ngày rày đã cạn Truông Nhà Hồ nội tán cấm nghiêm
Đó là những câu ca tiêu biểu về môi trường thiên nhiên Bắc và Trung Bộ, một chủ đề truyền thống của ca dao dân ca
1.2.1.2 Lịch sử - văn hoá :
Bắc Bộ là vùng đất được hình thành từ lâu đời (cách đây hàng ngàn năm), trải qua các triều đại phong kiến, kinh đô di dời dần từ đồi núi (khu vực Phong Châu, Mê Linh) xuống đồng bằng (Thăng Long - Hà Nội) và càng mở rộng về phía nam Đây là quê hương của các nền văn hoá nổi tiếng, trải dài suốt tiến trình văn minh Việt Nam từ thời đại Hùng Vương cho đến nay,
Trang 19là sự phát triển nối tiếp của ba nền văn hoá lớn : văn hoá Đông Sơn, văn hoá Đại Việt và văn hoá Việt Nam ngày nay
Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên là Thăng Long và từ đó trung tâm của văn hoá vùng Bắc Bộ là kinh thành Thăng Long - Hà Nội Tuy nhiên, văn hoá ở khu vực miền Trung cũng có những nét đặc thù riêng, một thời gian dài Huế là kinh đô của các vương triều phong kiến (từ thời nhà Nguyễn), đóng vai trò là trung tâm văn hoá ở miền Trung
Làng xã ở vùng Bắc và Trung Bộ cũng là một nét đẹp văn hoá Tổ chức chặt chẽ của làng được bảo tồn từ đời này qua đời khác, người trong làng thường gắn bó với nhau qua những quan hệ huyết thống của một vài dòng họ Trong cộng đồng làng xã ấy, một nền văn hoá với các phong tục tập quán tốt đẹp, các lễ hội và tình thân ái là những giá trị đạo đức được mọi người thừa nhận Bên cạnh đó, vì là vùng đất truyền thống, có tính ổn định, nên nơi này còn có những công trình kiến trúc cổ mang đậm giá trị văn hoá và nghệ thuật Đặc biệt, Bắc Bộ là vùng văn hoá biểu hiện bề dày của lịch sử với những di tích như : Đền Hùng, Loa Thành, Thăng Long … Và cũng nơi đây có rất nhiều lễ hội dân gian gắn với đời sống tâm linh của người Việt, như hội Làng Gióng, hội Cầu Lim, hội Chùa Dâu…, những lễ hội đó chính là môi trường nhập thân và trao truyền văn hoá giữa các thế hệ, hướng mọi người về cội nguồn dân tộc, về nơi quê cha đất tổ Vì vậy, nơi đây đã hình thành chủ đề lịch sử văn hoá mang tính truyền thống, hàm chứa trong ca dao dân ca :
Ai về Phú Thọ cùng ta Vui ngày giỗ Tổ tháng ba, mồng mười
Trang 20Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ về giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Hay câu ca của người dân miền Trung :
Đi đâu cũng nhớ quê mình Nhớ sông Hương gió mát, nhớ non Bình trăng trong
Bốn bề núi phủ mây phong Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng Vạn Niên
Có thể nói, lịch sử - văn hoá của hai vùng đất Bắc và Trung Bộ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá truyền thống của dân tộc, đó là hạt nhân của văn hoá Việt Nam Điều này cũng đã hình thành nên một chủ đề mang tính truyền thống cho ca dao dân ca người Việt
1 2.1.3 Cư dân :
Do đặc điểm địa hình thiên nhiên đa dạng, có lịch sử hình thành lâu đời nên vùng Bắc Bộ là nơi qui tụ sớm nhất của người Việt cổ Ngay từ buổi đầu, để ngăn chặn lũ lụt, con người đã biết đắp đê để lao động sản xuất, sinh hoạt và bảo vệ tài sản của mình (Truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh) hay con người phải đối đầu với nạn ngoại xâm (Truyền thuyết Thánh Gióng) Sức mạnh của cư dân ở vùng Bắc và Trung Bộ bắt nguồn từ tính cộng đồng, hình thành trong buổi đầu dựng nước và giữ nước Người Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước, đoàn kết và có đời sống tinh thần phong phú, là con người giàu tình cảm Cách thể hiện tình cảm của cư dân Bắc Bộ gắn liền với đời sống vật chất mang tính truyền thống quê nhà :
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh
Trang 21Người dân Bắc Bộ, nhất là người Hà Nội thì rất thanh lịch, nho nhã:
“chẳng lịch cũng thể là người Thượng Kinh”, điều đó cũng dễ hiểu, bởi nơi đây là trung tâm văn hoá lâu đời và cũng có lẽ một phần do ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến Vì vậy mà con người thường có cách bày tỏ tình cảm một cách nhẹ nhàng, kín đáo, đầy hình tượng Nhưng khi vào đến miền Trung, do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thiên tai luôn đe doạ nên con người nơi đây nổi tiếng về ý chí chiến đấu, tính năng động và trong câu ca của họ giọng điệu cũng có vẻ trúc trắc, mạnh mẽ hơn :
Từ ngày nhổ nọc lui thuyền Sông bao nhiêu khúc, dạ em phiền bấy nhiêu
Có tài liệu cho rằng người dân miền Trung ở mỗi tỉnh hầu như có cá tính riêng, có người thích phiêu lưu mạo hiểm và những người buổi đầu vào khai phá miền nam phần lớn là dân miền Trung
Nhìn chung, đời sống văn hoá của cư dân Bắc và Trung Bộ vô cùng phong phú, vì vậy mà ca dao mang tính trữ tình, nhất là tình yêu - hôn nhân gia đình chiếm một số lượng lớn và là một chủ đề mang tính truyền thống trong kho tàng ca dao người Việt
Tóm lại, Bắc và Trung Bộ là vùng đất có lịch sử hình thành từ lâu đời, nhất là Bắc Bộ với tinh thần 4000 năm văn hiến và nội hàm ngàn năm văn vật, Trung Bộ với trên 700 năm tồn tại và phát triển Do vậy đã hình thành một truyền thống văn hoá bền vững về vật chất lẫn tinh thần, trong đó có văn học dân gian nói chung và ca dao dân ca nói riêng Đó là kho tàng ca dao dân
ca mang những chủ đề truyền thống dân tộc và cũng là tài sản tinh thần, là hành trang mà cư dân vùng này mang theo khi đến vùng đất mới Nam Bộ - nơi có những nét đặc thù riêng về thiên nhiên lich sử - văn hoá và con người
Trang 221.2.2 Vùng văn hoá Nam Bộ :
Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, đó là vùng đất hoang hoá hàng ngàn năm từ sau khi đế quốc Phù Nam tan rã Một thời gian dài, mảnh đất màu mỡ này vẫn chưa được đánh thức tiềm năng vì cư dân còn thưa thớt, kỹ thuật còn lạc hậu Mãi đến đầu thế kỷ XVII mới bắt đầu có những cuộc
di dân cơ chế hoặc tự do để khai thác vùng đất này Trong quá trình mở cõi, cha ông ta cứ tiến dần về phía nam và do điều kiện tự nhiên, khí hậu mà nước ta càng về phía nam càng có sự biến đổi, sự biến đổi về thiên nhiên kéo theo những biến đổi về lịch sử - văn hoá và đời sống cư dân
1.2.2.1 Thiên nhiên và môi trường sinh thái Nam Bộ :
Nếu như thiên nhiên Bắc và Trung Bộ kỳ vĩ, khắc nghiệt thì thiên nhiên Nam Bộ có một thời hoang vu Để có được vùng đất Nam Bộ như ngày nay là nhờ công lao của bao thế hệ đi trước đã đẩy cảnh hoang vu lùi vào quá khứ Nơi đây những ngày đầu cư dân thưa thớt :“dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”, có lẽ con người vẫn còn nhớ cảm giác của buổi dầu mới đến :
Tới đây xứ sở lạ lùng Chim kêu phải sợ, cá vùng phải kinh
Vùng đất này có khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt : mùa mưa và mùa nắng, “miền Nam hết nắng rồi mưa”, đất phù sa mới, rất thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước và lập những vườn cây ăn quả Theo quá trình vận động của tự nhiên, Nam Bộ được chia thành hai khu vực : Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Đông Nam Bộ là miền đất cao phía Đông Bắc, với thổ nhưỡng là đất xám phù sa và những triền đồi đất đỏ, phù hợp với việc trồng cây công nghiệp và những vườn cây ăn trái Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng rộng lớn, là vựa lúa lớn nhất nước, được bồi đắp từ phù sa của sông Mêkông đổ vào
Trang 23Việt Nam chia thành hai nhánh lớn là Tiền Giang và Hậu Giang Nơi đây có nhiều loại đất khác nhau nhưng đất phù sa là chủ yếu, thiên nhiên có nhiều
ưu đãi đặc biệt cho con người : “cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn” Nét nổi bật của địa lý Nam Bộ là mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nơi đây không cần đắp những con đê kiên cố như Bắc Bộ mà có đến 57.000 km kênh rạch (Lê Bá Thảo) Kênh rạch, sông ngòi Nam Bộ ngoài tác dụng chuyên chở phù sa, nuôi trồng thuỷ hải sản, còn là mạng lưới giao thông quan trọng khi mà điều kiện giao thông đường bộ thời ấy chưa phát triển Vì sông ngòi nơi đây theo quy luật nước lớn ròng trong ngày nên người dân vận chuyển hàng hoá theo con nước : khi đi nước lớn, khi về nước ròng thì cả hai lượt đều là nước xuôi, không tốn nhiều công sức Điều này cũng một phần giải thích tại sao người dân Nam Bộ thường làm nhà ở dọc theo kênh rạch
Trong khi Bắc và Trung Bộ có những dải đồng bằng hẹp, xen kẽ những núi đồi và thung lũng thì Nam Bộ lại khác, vùng đất có vựa lúa lớn nhất nước này có những cánh đồng bao la, bát ngát đến choáng ngợp Do điều kiện tự nhiên thay đổi như vậy nên ca dao nơi đây cũng mang chủ đề thiên nhiên truyền thống nhưng đã biến đổi một số khía cạnh phản ánh :
Ruộng đồng mặc sức chim bay Biển hồ lai láng mặc bầy cá đua
Vì thế mà từ miền ngoài quen thâm canh tát nước, đắp bờ từng thửa ruộng nhỏ thì đến vùng đồng bằng rộng lớn này phải thay đổi kiểu canh tác cho phù hợp Đó là do môi trường tự nhiên qui định, vì thiên nhiên nơi đây có sự biến đổi so với vùng ngoài và lịch sử - văn hoá cũng có những đặc thù riêng của nó
Trang 241.2.2.2 Lịch sử - văn hoá vùng đất Nam Bộ :
So với lịch sử hình thành vùng đất Bắc và Trung Bộ thì Nam Bộ là vùng đất có độ tuổi còn rất trẻ, mới được hình thành trên 300 năm nay Đó là kết quả của cuộc Nam tiến, của sự phát triển đất nước về phía Nam Theo các nhà nghiên cứu lịch sư ûthì việc khai phá miền đất này chỉ thực sự được đánh dấu từ thế kỷ XVII, khi mà những bước chân trần của người Việt từ Bắc và Trung Bộ bắt đầu vào khai thác vùng đất thuộc phủ Gia Định, tức Nam Bộ ngày nay
Nam Bộ có điều kiện thuận lợi về hình thái tự nhiên, địa lý nên cũng dễ dàng phát triển về đời sống văn hoá xã hội Văn hoá Nam Bộ là văn hoá hoà đồng giữa các dân tộc : Việt - Chăm - Hoa - Khmer và những cộng đồng dân cư từ nhiều vùng Bắc - Trung - Nam tựu lại Nơi đây có nền văn hoá Óc
Eo - Đồng Nai đã được khẳng định cùng với văn hoá Đông Sơn - Sa Huỳnh của miền Bắc và Trung, chính sự giao lưu văn hoá này là biểu hiện tồn tại của văn hoá truyền thống Biểu hiện cụ thể đó là những địa danh gắn với tên đất ở miền Trung, nơi con người từng rời bỏ để ra đi Nhà văn Sơn Nam ghi :
“Dân nòng cốt là người miền Trung vào nên phong tục tập quán tương đối thuần nhất Tên đất gợi quê cũ miền Trung như Ba Động (xã Hoà An, Bình Thuận) đặt cho ba đống cát to, vùng Ba Động, biển Trà Vinh Hốc Hoả, nghe lạ tai, tưởng chừng như tiếng Khmer, nhưng là tên ngọn núi ở Mộ Đức, Quảng Ngãi …”[41,62] Nói như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là “Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân”
Cộng đồng làng xã ở Nam Bộ có cấu trúc riêng, không giống như hệ thống làng khép kín ở Bắc Bộ, làng xóm cũng như cơ cấu xã hội ở nông thôn Nam Bộ không bền chắc và chặt chẽ như Bắc Bộ Làng xóm trải dài theo
Trang 25kênh rạch, nằm giữa các vườn cây ăn trái, rất thoáng đãng, không co cụm, chen chúc Ở vùng Bắc và Trung Bộ thường có những lễ hội dân gian truyền thống, có khi kéo dài cả mùa xuân thì Nam Bộ lại không nhiều những lễ hội như vậy Tuy chưa có bề dày lịch sử như ở miệt ngoài nhưng cũng có những nét lịch sử - văn hoá được hàm chứa trong ca dao dân ca của vùng đất mới Cho nên, cũng là chủ đề lịch sử văn hoá truyền thống nhưng ca dao dân ca của vùng Nam Bộ đã có những biến đổi để phản ánh những đặc điểm lịch sử văn hoá nơi này, cụ thể như bài ca dao dưới đây :
Ai về Đồng Tháp mà coi Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng Bà con đùm đậu quanh vùng Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên
Vậy, từ cái nôi của nền văn hoá Việt, Nam Bộ đã trải qua một lịch sử hình thành với những nét văn hoá riêng (có sự biến đổi) nhưng vẫn không tách rời những nét chung của văn hoá dân tộc (truyền thống) Hay ta có thể nói văn hoá Nam Bộ cũng ở trong quỹ đạo của văn hoá Việt Nam Trên cơ sở đó, cư dân Việt ở Bắc và Trung Bộ vào khai thác vùng đất mới này cũng có sự thay đổi ít nhiều để kịp thời thích ứng với hoàn cảnh thiên nhiên và môi trường văn hoá, xã hội nơi đây
1.2.2.3 Cư dân Nam Bộ :
Điều cần khẳng định trước tiên: người Việt ở Nam Bộ vẫn là người Việt của cộng đồng dân tộc Việt Trong quá trình khai phá vùng đất phương Nam, họ vẫn lưu giữ những đặc điểm văn hoá truyền thống của người Việt ở miệt ngoài Nơi đây là vùng cộng cư của các tộc người Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, người Khmer ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long là lớp cư dân
Trang 26đầu tiên ở vùng Nam Bộ, trước cả người Việt, họ sống ở những giồng đất cao, làm ruộng rẫy Người Chăm sống ở một số nơi thuộc tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang… làm nghề chài lưới, dệt vải và buôn bán nhỏ Người Hoa có mặt ở Nam Bộ gần như cùng thời với người Việt, sống bằng nghề buôn bán Người Việt ở Nam Bộ vốn là người miền Bắc và Trung, thuộc nhiều thành phần khác nhau, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà họ có mặt ở đây cùng các tộc người khác để tiến hành cuộc khẩn hoang vĩ đại, biến vùng đất này thành nơi trù phú như ngày nay
Từ thế kỷ XVII, trên vùng đất Nam Bộ bắt đầu xuất hiện lớp cư dân mới với những dòng văn hoá mới do những cuộc di dân vào Nam để tìm đường sinh sống Tiến trình nhập cư từ miền ngoài vào vùng đất Đồng Nai -Gia Định diễn ra liên tục, có lúc lẻ tẻ, có lúc ồ ạt Theo Trần Văn Giàu thì gốc gác người dân Lục tỉnh chủ yếu có ba nguồn gốc :
- Thứ nhất là những người dân Trung, Bắc bần cùng, lưu tán hay muốn tránh cuộc phân tranh đẫm máu kéo dài giữa các chúa Trịnh và chúa Nguyễn nên đầu thế kỷ XVII họ đã lần lượt theo gió mùa vào vùng Đồng Nai - Cửu Long để kiếm sống và an thân Họ là những toán tiên phong, vũ trang bằng óc phiêu lưu mạo hiểm, bằng cán búa, lưỡi cày, tấm lưới…
- Thứ hai là những người (số ít ) có tiền của, có quyền thế, chiêu mộ dân nghèo (số đông) ở miền Trung đi vào Nam khẩn đất theo chính sách đinh điền
của nhà Nguyễn
- Thứ ba là những lính tráng cùng với nhiều tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào Nam lập đồn điền, bảo vệ biên cương, giữ trị an, vừa mở ruộng lập vườn xung quanh cứ điểm quân sự.[18,198]
Trang 27Những con người ấy trong những ngày đầu có lẽ cũng e ngại cảnh
“muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lền như bánh canh”, nhưng đây là vùng “sơn cùng thuỷ tận” rồi, phải bám trụ lại để sinh sống, thêm nữa, những người ra
đi cũng có ít nhiều óc phiêu lưu, mạo hiểm và ý chí chiến đấu nên dần dần họ đã chinh phục được vùng đất mới này Càng đi về phía Nam, chất phong kiến càng nhạt dần, thiên nhiên rộng rãi, thoáng đãng tạo cho con người cảm giác tự do, thoải mái Cư dân Nam Bộ không quá gắn chặt với làng quê như
cư dân Bắc Bộ, họ sẵn sàng bỏ làng ra đi theo nhu cầu của cuộc sống Nơi đây đất rộng người thưa, chỗ này làm ăn không khá thì chuyển đi nơi khác, con người không cần lo nghĩ, tính toán nhiều Thiên nhiên ưu đãi, đảm bảo cho đời sống no đủ nên hình thành một lối sống nhàn nhã, nhậu nhẹt với bạn bè, ngắm trăng đàn hát, đó cũng là một tập quán sống của họ Có lẽ vì vậy mà tính cách con người nơi đây phóng khoáng, bộc trực hơn, cách thể hiện tình cảm của họ rất thật thà, mộc mạc nhưng không kém phần mãnh liệt :
Dao phay kề cổ, máu đổ tôi không màng Chết tôi, tôi chịu, bảo buông nàng tôi không buông
Đó là những nét văn hoá riêng trong đời sống của cư dân Nam Bộ - những con người đã mạnh dạn tiến về làm chủ phía Nam Rõ ràng là những
gì biến đổi của thiên nhiên, lịch sử - văn hoá, con người đã tác động đến sáng tác của ca dao dân ca Nam Bộ Nhờ đó mà ca dao dân ca Nam Bộ vừa có tính đặc thù riêng, vừa mang tính truyền thống dân tộc
1.3 Tiểu kết :
Vùng đất miệt ngoài (Bắc và Trung Bộ) là cái nôi của văn hoá dân tộc
Trang 28phát triển về nhiều mặt Nam Bộ là vùng đất mới, chỉ ổn định trên ba thế kỷ nay Người Việt ở Bắc và Trung Bộ khi rời làng quê ra đi có thể để lại ruộng vườn, nhà cửa, nhưng chắc chắn họ mang theo hành trang tinh thần Những gì gọi là truyền thống, là phong tục tập quán đã đi vào nề nếp của miền đất ấy cũng theo bước chân những người Việt “mang gươm đi mở cõi” về phía Nam Đến đây, địa hình thay đổi, khí hậu thay đổi, quan hệ xã hội thay đổi thì có những cái không còn phù hợp nữa, buộc con người phải thay đổi theo Chính điều đó đã hình thành một tập quán sống, một tính cách rất Nam Bộ, tuy nó vẫn nằm trong dòng chảy của văn hoá truyền thống nhưng là cái mà ta không thể tìm thấy ở nơi khác Nơi đây có nhiều tầng văn hoá cũ và mới, truyền thống và biến đổi, tiếp nhận và ảnh hưởng của nhiều dân tộc, cùng với truyền thống văn hoá Bắc và Trung Bộ đan xen và tác động lẫn nhau Vì thế người dân Nam Bộ có một đời sống vật chất đa dạng mà cũng có một đời sống tinh thần phong phú Vậy những gì mà ta gọi là biến đổi của lịch sử - văn hoá, con người nơi vùng đất mới Nam Bộ đều dựa trên cơ sởcủa vùng đất truyền thống Bắc và Trung Bộ Bởi đó là những cái mang tính ổn định từ lâu đời, được con người nơi đây kế thừa và phát triển nhằm tạo thêm diện mạo mới cho văn hoá dân tộc, trong đó có ca dao dân ca
Trang 29Chương 2
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI
TRONG CA DAO DÂN CA NAM BỘ
Cái biến đổi trong lĩnh vực văn học dân gian Nam Bộ nói chung luôn nội hàm từ văn học dân gian truyền thống, bởi cái truyền thống như đã trình bày trong phần giới thuyết là những định hướng có tính bền vững trong việc sáng tạo Cũng vậy, ca dao dân ca truyền thống hàm chứa nhiều yếu tố có tính ổn định, tiêu biểu nhất là đề tài, cấu trúc, thể thơ và văn phong Những yếu tố này cũng nội hàm trong ca dao dân ca Nam Bộ nhưng ở địa bàn này có những nét đặc thù về thiên nhiên, lịch sử - văn hoá và con người Do vậy, cũng là những yếu tố truyền thống nhưng trong bản thân ca dao dân ca Nam Bộ có những nét biến đổi để phản ánh hiện thực khách quan của địa phương này
2.1 Đề tài :
Dân tộc Việt Nam đã làm ra đất nước Việt Nam, làm ra lịch sử Việt Nam và cũng chính họ làm ra ca dao dân ca Việt Nam Đề tài ca dao dân ca rất phong phú nhưng trong luận văn của mình, chúng tôi chỉ đề cập đến những đề tài truyền thống tiêu biểu như : thiên nhiên, lịch sử - văn hoá, đời sống tình cảm Ca dao dân ca Nam Bộ cũng không nằm ngoài những đề tài này nhưng đã có sự biến đổi về địa danh, nhân danh và ngôn ngữ biểu cảm, sự biến đổi này phù hợp với vùng đất Nam Bộ
2.1.1 Thiên nhiên :
Thiên nhiên là một đề tài rất phong phú trong ca dao dân ca truyền
Trang 30thống cũng như ca dao dân ca Nam Bộ, có điều là thiên nhiên Bắc và Trung
Bộ đa dạng hơn, không chỉ đơn điệu là đồng bằng như Nam Bộ Câu ca vùng đất truyền thống đã phản ánh cái đa dạng về thiên nhiên với núi đồi chen lẫn
đồng bằng nên lối đi nhỏ hẹp, quanh co :
Đường đi quanh quất ruột dê Chim kêu vượn hót dựa kề bên non
(TL I, tr 1010) Thiên nhiên Nam Bộ thuở ban đầu là rừng rậm, sông sâu, thú dữ,
“vượn hú chim kêu” nhưng ít khắc nghiệt mà đó chỉ là vùng đất của thời còn hoang sơ, con người mới đặt chân đến khai phá :
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma
(TL III, tr 134) Tương tự như vậy, ở miền Bắc có những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, vừa hùng vĩ lại vừa bí ẩn, tiêu biểu là hai địa danh Tản Viên và Tô Lịch không những liên quan đến đời sống vật chất mà còn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, không những qua truyền thuyết mà còn qua câu ca :
Nhất cao là núi Tản Viên Nhất sâu là vũng Thuỷ Tiên, Cửa Vường
(TL I, tr 1742) Hay là câu :
Làng tôi có luỹ tre xanh Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Bên bờ vải nhãn hai hàng
Trang 31Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng
(TL I, tr 1363) Theo năm tháng con người tiến về đất phương nam và những người chân trần đi mở cõi ngày ấy đã biến Nam Bộ thành những cánh đồng rộng lớn, phì nhiêu Thiên nhiên nơi đây thật thoáng đãng, không bị giới hạn bởi tầm nhìn núi non như ở Bắc và Trung Bộ, cũng không gắn với những truyền thuyết hay thần thoại, mà là những cánh đồng bát ngát, đầy ắp phù sa Nơi đây nước ngọt thường xuyên có đủ, ruộng đồng và cây cối xanh tươi quanh năm :
Quê em hai dải cù lao Có dừa ăn trái, có cau ăn trầu
Quê anh có cửa biển sâu Có ruộng lấy muối, có dâu nuôi tằm
(TL III, tr 147) Thiên nhiên nơi nào cũng có sông núi, ruộng vườn, nhưng mỗi nơi thực tế thiên nhiên khác nhau thì câu ca cũng có sự thay đổi Đó là những câu ca truyền thống của miền ngoài nhưng khi đến đây thì có sự biến đổi theo tên gọi địa phương Vì mỗi miền khác nhau sẽ có những địa danh khác nhau Như từ câu ca về địa danh Nhượng Bạn ở miền Trung :
Ai về Nhượng Bạn thì về Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn
( TL I, tr 94 ) Thì đến vùng Nam Bộ là :
Ai về Gia Định thì về
Trang 32Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn
( TL III, tr 127 )
Đi đến đâu, con người cũng tự hào về cảnh đẹp của quê hương, về sự giàu có của sản vật ở một vùng quê nào đó Câu ca truyền thống miêu tả :
Đức Thọ gạo trắng nước trong
Ai đến Đức Thọ thong dong con người ( TL I, tr 996) Đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ruộng lúa phì nhiêu, xứ sở “gạo trắng nước trong”, thì địa danh Đức Thọ được thay thế là Cần Thơ :
Xứ Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời
(TL III, tr 130) Góp phần tô thêm vẻ đẹp cho quê hương, con người còn tạo ra những món ăn đặc sản ở một số vùng Có thể đó là do những con người miền ngoài mang vào mà cũng có thể do con người nơi này làm nên Người dân Thanh Hoá nói:
Muốn ăn cơm trắng canh cần Thì về Đồng Lũng đan giần với anh
( TL I, tr 1561 ) Còn ở Nam Bộ, ngày xưa là xứ lắm cá nhiều tôm, cho nên ở vùng Đồng Tháp có món đặc sản là bông súng- cá kho:
Muốn ăn bông súng cá kho Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm
( TL III, tr142 )
Trang 33Ngoài ra, đôi lứa yêu nhau còn mượn địa danh sông núi, chùa chiền để làm vật chứng cho lời thề nguyền, hẹn ước Như từ câu ca miền ngoài :
Bao giờ lở núi Do Xuyên Cạn sông Lạch Bạng, lời nguyền mới phai
( TL I, tr 248 ) Và khi đến Nam Bộ, địa danh Do xuyên, Lạch Bạng đã được thay thế :
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai Nát chùa thiên Mụ mới sai lời nguyền
( TL III, tr 130 ) Đặc biệt, thiên nhiên, môi trường sinh thái Nam Bộ có nhiều những biến đổi so với Bắc và Trung Bộ Nơi đây kênh rạch chằng chịt, dọc theo kênh rạch có những loài thực vật chỉ có ở vùng này như lục bình, mù u, bần …
Cây bần ơi hỡi cây bần Lá xanh bông trắng lại gần không thơm
Nam Bộ không hề có một km đường đê nào, dựa vào chế độ thuỷ triều, hệ thống kênh rạch này đưa nước ngọt từ sông lớn vào rồi lên mương vườn Chính những đặc điểm này đã giúp người Nam Bộ có kỹ thuật làm vườn riêng Nhà văn Sơn Nam mô tả :“Nơi đất thấp gần ven sông, người Việt
“đào mương lên liếp” Đây là kỹ thuật làm vườn khá tinh vi mà người Miên không biết và người miền Trung thiếu hoàn cảnh để áp dụng Giữa hai mương là liếp đất cao, mương đào càng sâu, càng rộng thì đất quăng lên bồi liếp càng nhiều Nước lớn chảy vào, mang phù sa theo Phù sa lắng xuống, ở lại đáy mương Khi nước ngoài sông đã ròng thì nước trong mương rút trở ra, chuyến vào là nước đục, chuyến ra là nước trong Mớ phù sa dưới đáy mương
Trang 34được quăng lên liếp để đắp gốc cây, người làm vườn không cần mua phân bón” [41,274] Vì vậy mà nơi đây có những vườn cây ăn trái trĩu quả với những loại trái cây đặc sản vùng Nếu người miền Bắc tự hào với những cây trái, món ngon :
Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm
Ca rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây
( TL I, tr 2516 ) Thì ở Nam bộ là :
Bến Tre giàu mía Mỏ cày Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn
Bến Tre biển cá sông tôm
Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng
( TL III, tr 131 ) Tuy nhiên, thiên nhiên ở Bắc và Trung Bộ lại có khi khắc nghiệt, thất thường, luôn đe dọa cuộc sống con người, nhất là ở dải đất miền Trung, đất đai khô cằn, đời sống sản xuất gặp nhiều khó khăn, con người phải thường xuyên chống chọi với thiên nhiên để duy trì cuộc sống :
Gió nam thổi kiệt bảy ngày Ruộng đồng nức nẻ, cỏ cây úa tàn
Có thể nói, việc thiên nhiên xuất hiện nhiều và đa dạng trong ca dao dân ca đã phản ánh sự gắn bó của người bình dân với môi trường thiên nhiên, vốn cũng là môi trường lao động, sinh hoạt của họ Đồng thời, thiên nhiên -đất nước là một đề tài mang tính truyền thống của ca dao dân ca dân tộc, tất cả sông ngòi, núi non, ruộng vườn, cây trái đã đi vào ca dao dân ca nhưng mỗi nơi, mỗi vùng có một sắc thái, đặc điểm riêng, vì thế câu ca cũng có sự
Trang 35biến đổi cho phù hợp Để rồi từ những cảnh vật thiên nhiên đó mà môi trường lịch sử - văn hoá của dân tộc cũng hình thành ở các miền của đất nước
2.1.2 Lịch sử - văn hoá :
Với bề dày lịch sử 4000 năm văn hiến và ngàn năm văn vật thì Bắc và Trung Bộ là địa bàn của nhiều địa danh lịch sử - văn hoá Để có được đất nước như ngày nay là do cha ông ta đã dày công xây đắp qua bao thế hệ Vùng đất Bắc Bộ là nơi có nhiều địa danh văn hoá - lịch sử gắn liền với các câu truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết…, tiêu biểu như thành Cổ Loa ở Đông Anh - Hà Nội ngày nay là một công trình kiến trúc lịch sử, thể hiện ý thức chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước của nhân dân ta, thể hiện trong bài
hoá in dấu những chiến tích của tiền nhân :
Ai về Đồng Tháp mà coi Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng Bà con đùm dậu quanh vùng Tháng giêng, ngày giỗ xin đừng ai quên
Trang 36( TL III, tr 127 ) Ông thiên Hộ, tức Võ Duy Dương, một sĩ phu yêu nước, chống Pháp Năm 1864 ông lập trung tâm kháng Pháp ở Đồng Tháp Mười, năm 1865 cùng nghĩa quân tấn công giặc Pháp ở Tiền Giang, ông mất năm 1866
Những vị anh hùng dân tộc dù ở đâu, một khi đã có công dựng nước và giữ nước, sự nghiệp của họ làm rạng rỡ non sông thì tên tuổi họ đều được ghi vào lịch sử dân tộc, được nhân dân ghi nhớ bằng thơ ca Như ở vùng Bình Định, để tưởng nhớ nhân vật chú Lía đã nổi lên chống tầng lớp thống trị, phong kiến, người dân nơi đây có câu :
Chiều chiều én liệng truông Mây Cảm thương chú Lía bị vây trong thành
( TL I, tr 505 ) Vào đến Nam bộ, nhân vật Thiên Hộ Dương mà chúng tôi vừa nói ở phần trên đã để lại cho người dân nơi đây nhiều sự cảm phục và sùng kính, nên câu ca miệt ngoài đến đây cũng có sự biến đổi :
Chiều chiều gió giục mây vần Cảm thương ông Thiên Hộ xả thân cứu đời
( TL III, tr 134 ) Vùng đất Nam Bộ còn non trẻ nên không nhiều các nhân vật lịch sử đi vào câu ca như miệt ngoài Lịch sử Nam Bộ đã chứng minh những con người tiên phong đi khai phá phương Nam đã bám trụ lại đây bằng sức mạnh của đôi tay, của ý chí vươn lên và tinh thần đoàn kết Ca dao dân ca Nam Bộ không những đã phản ánh được những nét khái quát của lịch sử khai phá vùng đất mới mà còn ghi lại những hình ảnh, nhân vật cụ thể, như hình ảnh quen thuộc là Ông Chưởng Ông chính là Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh,
Trang 37người cầm đầu cả một đoàn quân trong những ngày đầu đi khai phá Trên đường hành quân ông đã dừng lại ở một cù lao (thuộc huyện Chợ Mới - tỉnh
An Giang ngày nay) và cho quân đội phát hoang, trồng cấy, cù lao ấy đến nay còn được mọi người gọi là Cù lao Ông Chưởng:
Ba phen quạ nói với diều Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Có lẽ câu ca này được biến đổi từ câu ca miền ngoài :
Ba phen quạ nói với diều Vườn hoang cỏ rậm thì nhiều gà con
Tên nhân vật đi vào ca dao dân ca Nam Bộ còn gắn liền với đời sống tình cảm của người dân nơi đây Nếu người miền ngoài xác định nhân nghĩa trong đạo vợ chồng là :
Đạo vợ chồng hôm ấp mai ôm Phải đâu cua cá với tôm
Khi đòi mớ nọ, khi chồm mớ kia
Tóm lại, đó là tên gọi các địa danh, nhân danh lịch sử mà từ ca dao dân
ca truyền thống đến ca dao dân ca Nam Bộ đã phản ánh trong các sáng tác
Trang 38của mình Cuộc sống ở vùng đất mới phương Nam này đã làm biến đổi những địa danh, nhân danh trong các câu ca dao dân ca truyền thống để hình thành nên những câu ca mới là vậy
Ngoài lịch sử thì văn hoá Bắc và Trung Bộ có những nét văn hoá cổ truyền của nề nếp làng xã Đây là một tổ chức chặt chẽ, khép kín, được bảo tồn từ đời này sang đời khác, với hình ảnh giếng nước, cây đa, con người thường gắn bó thân thiết với làng quê mình như người dân ở Cát Chính - Thanh Hoá đã tự hào về điều đó :
Cát Chính có cây đa xanh Có đường cái lớn chạy quanh trong làng
Cát Chính có giếng rìa làng Vừa trong vừa ngọt cả làng chắt chiu
( TL I, tr 395 ) Chất văn hoá làng xã ấy vào đến phía nam đã có sự biến đổi rõ rệt Có thể do điều kiện tự nhiên, do đặc điểm sinh hoạt nên làng Nam Bộ có tuổi đời còn ngắn, không có tính kết dính như ở Bắc Bộ tuy họ vẫn yêu đất , bám làng Quan hệ huyết thống trong làng không sâu đậm như Bắc và Trung Bộ, vấn đề gia phả ít được đề cập Làng Nam Bộ thường ở dọc theo kênh rạch để thuận lợi cho giao thông và vận chuyển hàng hoá buôn bán, cư dân trong làng có nguồn gốc ở khắp nơi Tính chất mở của làng Nam Bộ khiến người dân không quá gắn chặt với làng, cho nên người dân nơi đây quan tâm không phải là một làng cụ thể mà là một vùng quê rộng lớn:
Quê em Đồng Tháp mênh mông Xanh tươi bát ngát ruộng đồng bao la
Quê em óng ánh tơ vàng
Trang 39Ruộng nương thẳng tắp ngút ngàn dâu xanh
( TL III, tr 147 ) Đặc biệt, đình làng ở Bắc Bộ là nơi rất thiêng liêng, có vai trò quan trọng trong đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của con người Đó là kiến trúc cổ truyền tiêu biểu, cũng là trụ sở hành chính của làng Đình làng là nơi thờ cúng một vị Thành hoàng, nơi hội họp, giải quyết việc công, đồng thời cũng là nơi trai gái gặp gỡ, lấy làm vật chứng để bày tỏ tình cảm :
Qua đình ngã nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
Nói đến lịch sử - văn hoá thì không thể bỏ qua các lễ hội dân gian, đây là nơi con người gặp gỡ, giao lưu, trao đổi văn hoá và ôn lại truyền thống dân tộc Đó cũng là một nét đẹp của nền văn hiến Việt Nam, cho nên dù đi đâu, làm gì thì người Việt ta vẫn không quên những lễ hội mang tính truyền thống
ở quê nhà :
Dù ai buôn đâu, bán đâu Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về
( TL I, tr 770 ) Nam Bộ không nhiều những lễ hội như miền Bắc và Trung nhưng cũng có nơi để con người nhớ về :
Dù ai ăn đâu, làm đâu Có dòng, có dõi Cù lao Trâu nhớ về
( TL III, tr 136 ) ( Cù lao Trâu thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp )
Rõ ràng, so với bề dày văn hoá - lịch sử của Bắc và Trung Bộ thì vùng đất trẻ Nam Bộ không nhiều lễ hội Tuy nhiên không vì thế mà vùng đất này
Trang 40mất đi những nét văn hoá riêng của nó, đây cũng chính là những biến đổi so với miền ngoài Nếu như với địa hình của Bắc bộ là :
Đường đi những suối cùng khe Sao người chẳng bắc cây tre làm cầu ?
Cầu nào đưa rể, đón dâu Để ta đi lại cùng nhau một nhà
( TL I, tr 1009 ) Thì ở Nam Bộ, với hệ thống sông ngòi dày đặc, muốn sang bờ thì phải bắc cầu, nguyên liệu là tre hoặc ván có sẵn, nhân tố này tác động đến phong tục tập quán, sinh hoạt của đời sống văn hoá nơi đây :
Ví dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắc lẻo, gập ghình khó đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời
( TL III, tr 504 ) Và, thay cho lối hát quan họ, hát chèo ở Bắc Bộ hay hò Huế ở Trung Bộ thì Nam Bộ có hình thức “đờn ca tài tử” Đây là dòng âm nhạc riêng của vùng này, là hình thức sinh hoạt tinh thần phong phú, cũng rất lãng mạn, vừa mang tính giải trí, vừa mang tính nhân văn sâu sắc Vì khi trình độ nhận thức của con người được nâng lên thì nó không còn là chức năng giải trí thông thường nữa, mà tiếng đờn đã trở thành tiếng tri âm Như cách ca dao dân ca truyền thống nói về tình tri âm của Bá Nha và Tử Kỳ qua tiếng đàn vậy :
Đàn Bá Nha lên dây đợi sẵn Đợi bạn Tử Kỳ, tri âm hỡi có hay ? ( TL I, tr 796 )