1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự động từ và tha động từ trong tiếng nhật so sánh với lĩnh vực tương ứng trong tiếng việt

130 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật so sánh với lĩnh vực tương ứng trong tiếng Việt
Tác giả Đặng Thanh Yến Linh
Người hướng dẫn GS.TS. Bùi Khánh Thế
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dẫu biết rằng đây là một vấn đề không đơn giản, tuy nhiên chúng tôi vẫn hy vọng rằng với kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình học trước đây và dạy tiếng Nhật hiện nay chúng tôi có t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

-[oOo\ -

ĐẶNG THANH YẾN LINH

TỰ ĐỘNG TỪ VÀ THA ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG NHẬT SO SÁNH VỚI LĨNH VỰC TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh

Mã số: 5.04.27

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS BÙI KHÁNH THẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2006

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn đề tài 10

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 12

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14

6 Bố cục của luận văn 14

Chương 1: Tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật 16

1.1 Cơ sở lý luận chung 16

1.2.Động từ trong tiếng Nhật 17

1.2.1 Phân loại động từ theo cấu tạo 19

1.2.1.1 Động từ đơn 19

1.2.1.2 Động từ ghép 20

1.2.1.3 Động từ phái sinh 20

1.2.2 Phân loại động từ theo chức năng 21

1.2.3 Phân loại động từ theo đặc điểm biến đổi 22

1.2.4 Phân loại động từ theo ý nghĩa 24

1.3 Khái niệm tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật 24

1.3.1 Tự động từ 25

1.3.2 Tha động từ 26

1.4 Tiêu chí nhận diện tự động từ và tha động từ 27

1.4.1 Tiêu chí ý nghĩa 27

Trang 3

1.4.2 Tiêu chí hình thức 29

1.4.2.1 Tiêu chí dựa trêndanh từ + [wo]」 29

1.4.2.2 Tiêu chí “bị động” 32

1.4.2.3.Tiêu chí「~ている」[~teiru] và「~てある」[~tearu]35 1.5 Tự động từ và tha động từ trong mối quan hệ với chủ thể 38

1.5.1 Tự động từ biểu hiện hành động của chủ thể 38

1.5.2 Tự động từ biểu hiện trạng thái của chủ thể 39

1.5.3 Tự động từ có chủ thể là hiện tượng tự nhiên 40

1.5.4 Tha động từ biểu hiện sự tác động của chủ thể 40

1.5.5 Tha động từ biểu hiện tình cảm của chủ thể 41

1.6 Phân loại tự động từ và tha động từ 42

1.6.1 Phân loại tự động từ – tha động từ 42

1.6.2 Sự đối ứng giữa tự động từ và tha động từ 43

1.6.3 Tự động từ và tha động từ đối lập nhau về mặt hình thái 45 1.6.3.1 Sự phân loại của Torio Torami (1954) 45

1.6.3.2 Sự phân loại của Teramura Hideo (1982) 46

1.6.3.3 Sự phân loại của Muramoto Shinjirou (1991) 48

1.6.3.4 Phụ lục của quyển 日本語基本文法辞典 1 (1989) 49

Chương 2: Tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật so sánh với động từ nội động và động từ ngoại động trong tiếng Việt 56 2.1 Động từ nội động và động từ ngoại động trong tiếng Việt 56

2.1.1 Nhận diện và phân loại 56

1 [Nihongo kihon bunpou jiten] “Tự điển ngữ pháp tiếng Nhật cơ bản”

Trang 4

2.1.1.1 Động từ nội động 57

2.1.1.2 Động từ ngoại động 58

2.1.2 Các vấn đề điển hình liên quan đến động từ nội động và động từ ngoại động 59

2.1.2.1 Những khó khăn liên quan đến tiêu chí nhận diện 60

2.1.2.2 Về động từ có 2 cách dùng nội động và ngoại động 63 2.2 Tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật so sánh với động từ nội động và động từ ngoại động tiếng Việt 66

2.2.1 Về hình thức biểu hiện 67

2.2.2 Về yếu tố văn hóa 71

2.2.2.1 Tự động từ 71

2.2.2.2 Tha động từ 73

Chương 3: Vấn đề tự động từ và tha động từ đối với việc dạy và học tiếng Nhật 76

3.1 Điều kiện lựa chọn tự động từ và tha động từ 76

3.1.1 Đối tượng và nội dung điều tra 76

3.1.1.1 Đối tượng điều tra 76

3.1.1.2 Nội dung điều tra 77

3.1.2 Kết quả tổng hợp của cuộc điều tra và sự phân tích 78

3.1.2.1 Tự động từ: kết quả phân tích 78

3.1.2.2 Tha động từ: kết quả phân tích 83

3.1.2.3 Tổng quát về điều kiện lựa chọn tự động từ - tha động từ 85

3.2 Vấn đề tự động từ và tha động từ đối với việc dạy và học tiếng Nhật 87

3.2.1 Đối với giáo viên 88

Trang 5

3.2.2 Đối với học viên 94

KẾT LUẬN 96

PHỤ LỤC 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cùng với mối quan hệ lâu dài, ngày càng thân thiết giữa Việt Nam và Nhật Bản, những năm gần đây, nhu cầu về hợp tác khoa học kỹ thuật về giáo dục, về tham quan, du lịch, về hợp tác kinh tế, về nguồn nhân lực làm việc tại các công ty Nhật đang đầu tư tại Việt Nam, cũng như nhu cầu về giao lưu văn hóa giữa 2 nước ngày càng tăng nhanh Để đáp ứng nhu cầu này, nhiều trường Đại học ở Việt Nam đã xây dựng, mở rộng hoặc tăng cường thêm ngành Nhật Bản học hoặc khoa tiếng Nhật trong cơ cấu đào tạo của mình Bên cạnh đó, các trường chuyên, các trung tâm tiếng Nhật cũng gia tăng đáng kể Đặc biệt từ tháng 9 năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa tiếng Nhật vào dạy thí điểm ở trường Trung học cơ sở Chu Văn An (Hà Nội) và cho đến nay (tháng 2 năm 2006) trên cả nước đã có 8 trường Trung học cơ sở công lập đã đưa môn học này vào chương trình giảng dạy của mình

Điều đó không phải là ngẫu nhiên Bởi vì ngôn ngữ (hiểu theo nghĩa số nhiều) là công cụ giao tiếp nói chung, đồng thời cũng là cầu nối giao

Trang 6

lưu giữa các quốc gia, các cộng đồng người, các nền văn hóa Đáng chú ý hơn, hiện nay Bộ Giáo dục – Đào tạo đã trình chính phủ đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2006 – 2015, nhằm tạo điều kiện để đến năm 2020 phần lớn thanh niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin (Theo tin Báo SGGP, 29.3.2006) Thiết nghĩ, trong số các ngoại ngữ mà thanh niên Việt Nam nghĩ đến, do những nguyên nhân khách quan đã nêu trên, không thể không có tiếng Nhật

Trước tình hình cụ thể đó, nhiệm vụ của người giảng viên dạy ngoại ngữ cũng như ngành ngôn ngữ học sư phạm (pedagogical linguistics) và ngôn ngữ học đối chiếu (contrastive linguistics) nói chung là tìm các giải pháp và phương pháp tối ưu trong việc dạy tiếng Nhật cho học viên là người Việt Muốn đạt được điều đó, những đặc điểm chung và nhất là đặc điểm riêng của ngôn ngữ học đối tượng – ngôn ngữ 2 – trong sự đối chiếu với tiếng mẹ đẻ của người học cần được tìm hiểu, cần được phát hiện để vận dụng trong hoạt động sư phạm

Lý thuyết ngôn ngữ học đại cương đã cho chúng ta biết tiếng Nhật và tiếng Việt thuộc những loại hình ngôn ngữ khác nhau: tiếng Nhật là một ngôn ngữ điển hình thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính (agglutinating language), tiếng Việt là một ngôn ngữ điển hình thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (isolating language) Trong loại hình ngôn ngữ về trật tự cú pháp giữa các thành tố kiến tạo câu, tiếng Nhật có trật tự S-O-V, tiếng Việt có trật tự S-V-O Những đặc điểm khác biệt, không tương đồng do sự khác nhau về loại hình ngôn ngữ chắc hẳn không khỏi gây khó khăn cho người

Trang 7

Việt khi học tiếng Nhật Những điểm khác biệt như vậy được thể hiện trên nhiều mặt Chẳng hạn, về văn tự người Nhật hiện nay có đến 4 loại chữ viết, ngoài chữ Hiragana, Katakana còn có cả chữ Kanji và chữ Romanji Cách dùng, cách phối hợp các loại chữ viết này có những quy định rất chặt chẽ, đó là chưa nói đến các ngoại lệ mà khi tạo văn bản người viết phải tuân thủ Còn trên lĩnh vực từ vựng – ngữ nghĩa, tuy 2 ngôn ngữ đều có một tỷ lệ từ ngữ bắt nguồn chung từ tiếng Hán cổ (Hán – Việt, Hán – Nhật), nhưng lại có nét khác biệt khi người Nhật dùng từ ngữ trong khi nói năng giao tiếp mà người Việt – nói chung là người nói các ngôn ngữ khác – không dễ gì vận dụng thành thạo – như cách dùng kính ngữ hay nói chung cách dùng từ ngữ, kết cấu ngữ pháp thay đổi phụ thuộc vào đối tượng và bối cảnh giao tiếp v.v

Là giáo viên tiếng Nhật, chúng tôi nhận thấy một trong những cái khó học viên gặp phải là khi làm quen với khái niệm自動詞 [jidoushi] tự

động từ và 他動詞 [tadoushi] tha động từ, nhất là khi nhận diện và dùng

những động từ này để nói, để viết Khó bởi trong tiếng Nhật đây là một vấn đề cần nắm vững nhưng sự phân biệt này lại không được thể hiện rõ ràng trong tiếng Việt, và khó bởi đây không chỉ đơn thuần là đặc trưng về ngữ pháp mà còn là đặc trưng văn hóa, tư duy của người Nhật Tất cả những đặc trưng đó đều được bao hàm trong sự phân biệt tự động từ và tha động từ

Với định hướng chuyên ngành của mình là Ngôn ngữ học so sánh,

chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình là: “TỰ

Trang 8

ĐỘNG TỪ VÀ THA ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG NHẬT SO SÁNH VỚI LĨNH VỰC TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT” Dẫu biết rằng đây

là một vấn đề không đơn giản, tuy nhiên chúng tôi vẫn hy vọng rằng với kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình học (trước đây) và dạy tiếng Nhật (hiện nay) chúng tôi có thể, qua việc so sánh với hiện tượng tương ứng trong tiếng Việt, góp phần giúp người học dễ dàng hơn trong việc nhận diện và sử dụng nhóm động từ này của tiếng Nhật và mặt khác cũng mong muốn nhận được những ý kiến trao đổi nhằm làm phong phú thêm cho cách dạy và học tự động từ và tha động từ tiếng Nhật ở Việt Nam hiện nay

pháp, trong đó ông ghi vào mục (i) là lớp hạng “hành động (poiein) được xem là bao gồm cả nội động từ và ngoại động từ (đặc biệt là ở thì hiện tại hoặc thì / thể tác thuật – aorist)” [68, 214]

Apollonius Dyscolus trong khi thảo luận về 5 từ loại: mạo từ, đại từ,

động từ, giới từ và trạng từ đã dành một đoạn thảo luận về cách xử lý của

Trang 9

phái Stoic đối với động từ Qua đoạn thảo luận ta có thể nhận ra quan điểm

về 4 kiểu loại chính trong động từ: nội động nhân xưng (personal intransitive), ngoại động nhân xưng (personal transitive) bao gồm các động từ chi phối danh từ tặng cách hay sinh cách, nội động vô nhân xưng (impersonal intransitive), ngoại động vô nhân xưng (impersonal transitive)

(dẫn theo Householder, 1994a)

Chuyển sang thời sơ kỳ của đế quốc La Mã (khoảng năm 27 trước Công Nguyên và năm 200 Công Nguyên) hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ, đúng hơn là nghiên cứu ngữ pháp, có tính chuyên biệt hơn và thu hút giới

tinh hoa xã hội Trong các sách về ngôn ngữ, (Ars grammatica, De

verborum significatu, De orthographia v.v.) các tác giả mở rộng phạm vi

quan sát về ngữ liệu, so sánh tiếng Hy Lạp và La Tinh (dẫn theo Powel, 1994) Còn quan niệm về phân định từ loại và tiểu loại thì không có gì thay đổi

Ngữ pháp tổng quát và duy lý (1660) cắm một cái mốc mới trong

việc nghiên cứu ngôn ngữ ở châu Âu Tên của tu viện Port – Royal được quen dùng để gọi khuynh hướng ngôn ngữ học hình thành trong khuôn khổ

cơ sở tôn giáo – giáo dục này Hướng nghiên cứu ngữ pháp ở đây, như tên

gọi của công trình nghiên cứu do 2 tu sĩ Claude Lancelot và Antoine

Arnauld thể hiện trong tên gọi của công trình nêu trên, còn được nhắc đến

như một loại ngữ pháp logic về tiếng Pháp Hướng nghiên cứu ngữ pháp ở thời kỳ này cũng như vào thời kỳ Phục Hưng (các thế kỷ XV – XVI) không thấy đề cập, thêm hoặc thay đổi gì về việc phân định từ loại hoặc tiểu loại

Trang 10

liên quan đến động từ và tiểu loại nội động từ / ngoại động từ đã có ở các thời kỳ trước đó

Như vậy có thể nói trong ngôn ngữ học sự phân biệt nội động từ, ngoại động từ đã có từ lâu và bắt nguồn từ các ngôn ngữ biến hình Ấn –

Âu Nội động từ và ngoại động từ liên quan đến khái niệm chuyển tác (transitivity) / không chuyển tác (intransitivity); và gần đây khái niệm chuyển tác còn được phân ra chi tiết hơn là đơn chuyển (monotransitive) và

song chuyển (ditransitive) khi một động từ có 2 bổ ngữ Ví dụ:

Ed gave the bag to Di

Ed gave Di the bag

(Tsunoda, 1994) Trong các ngôn ngữ phương Đông thì tiếng Hán (Trung Quốc) vừa có truyền thống ngôn ngữ học đáng chú ý, vừa có những ảnh hưởng nhất

định đối với ngôn ngữ học Việt Nam “Việc nghiên cứu ngữ pháp một cách hệ thống chỉ có vai trò thứ yếu trong truyền thống ngôn ngữ học này và mãi đến thế kỷ XIX mới được quan tâm đúng mức thì cũng là thời kỳ chịu ảnh hưởng của Châu Âu” [90, 524] giống như tình hình ở

một số nước phương Đông Những thuật ngữ ngữ pháp học như là loại động

từ, các tiểu loại nội động từ, ngoại động từ trong ngôn ngữ học Việt Nam

hiện nay chính là được tiếp thu từ ngôn ngữ học Trung Quốc

2.1 Nội động từ và ngoại động từ trong tiếng Nhật

Trong tiếng Nhật việc phân loại động từ được dựa vào một số tiêu chí Chẳng hạn đó là tiêu chí theo đặc điểm biến đổi, theo cấu tạo, theo

Trang 11

chức năng Phân loại động từ theo nghĩa là một trong các tiêu chí phân loại đó

Thuật ngữ nội động – ngoại động trong tiếng Nhật được gọi là 自動詞

[jidoushi] tự động từ và 他動詞 [tadoushi] tha động từ “Dựa trên ý nghĩa,

động từ được chia thành 2 nhóm lớn: tự động từ và tha động từ” [70, 96]; “Động từ được chia thành tự động từ và tha động từ là cách phân chia được biết đến rộng rãi nhất” [81, 57]; “Có nhiều cách phân loại động từ Một trong những cách phân loại đó là phương pháp phân loại dựa trên ý nghĩa Và việc phân chia thành tự động từ và tha động từ là một cách phân chia dựa trên ý nghĩa tiêu biểu nhất từ trước đến nay”

[92, 46];… Như vậy, nếu dựa trên tiêu chí ý nghĩa, nhìn chung các nhà Nhật

ngữ học đều thống nhất cách chia động từ trong tiếng Nhật ra thành tự

động từ và tha động từ Tuy nhiên, họ cho rằng “Việc học tiếng Nhật như

ngoại ngữ thứ 2 sẽ gặp phải nhiều vấn đề ngữ pháp khó (…) Vấn đề tự động từ – tha động từ là một trong những vấn đề thường được đưa ra nghiên cứu nhiều.” [75, 20]; “ (…) Nhiều học giả cũng đã nghiên cứu lĩnh vực này nhưng còn nhiều vấn đề vẫn chưa được giải quyết.” [81, 57]; “Trong số những du học sinh đang học tiếng Nhật, có rất nhiều người gặp khó khăn về tự động từ và tha động từ.” [92, 46];… Như vậy,

tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật được các nhà Nhật ngữ học nhìn nhận là một vấn đề thật sự khó, đặc biệt là đối với người nước ngoài

Cho đến nay, ở Nhật Bản đã có rất nhiều sách, nhiều bài viết cũng như nhiều công trình nghiên cứu với mức độ khác nhau, đề cập đến các

Trang 12

phương diện khác nhau của tự động từ và tha động từ Chẳng hạn, 「自動詞・他動詞」及び「~てある」について Tự động từ – tha động từ với

1988), 自動詞.他動詞の対応と各組成 Sự cấu thành và đối ứng của tự động từ và tha động từ (Katou Hiroshi, 東北大学日本語教育研究論集, số 6, 1991), 動詞の自他 他動詞と自動詞の対応について Tự động từ và tha động từ

(Suga Kazuyoshi, Hayatsu Emiko, 羊書房, 2001), Về sự đối ứng giữa tự động

1986),…

2.1 Vấn đề nội động từ – ngoại động từ trong tiếng Việt

Trong tài liệu có sớm nhất viết về ngữ pháp tiếng Việt Báo cáo vắn

tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (1651), A de Rhôde khi viết về từ loại

chỉ dừng lại ở các miêu tả chung về động từ mà không đi sâu vào tiểu loại

Trong sách Ngữ pháp tiếng An Nam (Grammaire de la langue

annamite, 1883) ở chương động từ, Trương Vĩnh Ký có dành 2 mục giới

thiệu về động từ ngoại động và động từ nội động mà ông gọi là động từ

hành động (Le verbe actif on transitive) và động từ trung tính (verbe neutre

/ intransitif) Ông định nghĩa: “Động từ hành động hay ngoại động chỉ một hành động mà đối tượng phải là một người hoặc một vật, hoặc là động từ được xem là một hành động chuyển từ chủ thể đến một người hoặc một vật”, “Động từ trung tính là động từ không có sự chi phối trực tiếp Có 2 loại động từ trung tính: một chỉ trạng thái, phẩm chất;

Trang 13

và một chỉ hành động không chuyển tác đến một người hoặc vật Ví dụ:

Tôi buồn rầu Nó giỏi Tôi ăn Thằng nhỏ đi.”

Ở Việt Nam, mặc dù cũng có một số nhà Việt ngữ học như Lê

Quang Trinh, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê,… phủ nhận phạm trù nội

động – ngoại động trong tiếng Việt nhưng đại đa số các học giả khác đều

có đề cập tới phạm trù này theo nhiều khuynh hướng và bằng những thuật ngữ khác nhau Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm theo tiêu chí

hình thức đã chia động từ (động tự) thành 2 loại: động tự có túc từ và động

tự không có túc từ Bùi Đức Tịnh theo tiêu chí ý nghĩa đã chia động từ ra

làm 4 loại: động từ viên ý, động từ khuyết ý, động từ thụ trạng và trợ động

từ Cũng theo tiêu chí nghĩa nhưng Phan Khôi lại chia động từ tiếng Việt ra

làm 3 loại: nội động, ngoại động và chuẩn động từ Nguyễn Kim Thản lại

lấy tính chất chi phối của động từ mà chia động từ ra làm 3 nhóm lớn

(ngoại hướng, trung tính, nội hướng) gồm 12 tiểu loại (dẫn theo 27, 3-6)

Ngoài Nguyễn Kim Thản với chuyên luận của mình về động từ, hầu hết các nhà ngữ pháp Việt Nam ít hay nhiều, tiếp cận từ góc độ này hay góc độ khác đều có đề cập đến nhóm nội động từ và ngoại động từ Có những tác giả thảo luận vấn đề về mặt tiêu chuẩn phân loại: Hoàng Trọng Phiến nói đến sự không thích hợp việc phân chia nội động từ ngoại động từ triệt để như tiếng Nga hay một vài ngôn ngữ Ấn Âu, tính không bao quát nếu căn cứ vào ngữ nghĩa thuần túy, sự khó khăn trong việc áp dụng tiêu

chí hình thức Đinh Văn Đức xem “Bản chất của vấn đề nội động – ngoại động là vấn đề ngữ nghĩa cú pháp, nó là ngữ nghĩa vì đối lập này hình thành do mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy qua mối quan hệ

Trang 14

của động từ và bổ ngữ Nó có đặc trưng cú pháp vì giữa động từ và bổ ngữ phải có một mối liên hệ ngữ pháp được hình thức hóa” Sau khi nêu

lên một số đặc điểm của các ngôn ngữ phương Đông, trong đó có tiếng

Việt, tác giả này cho rằng “…nếu thật cần thiết trong khi miêu tả thì cũng có thể nghĩ đến sự phân chia thành động từ nội động – ngoại động, nhưng ngay trong trường hợp đó cũng chỉ nên nghĩ đến một ranh giới có tính chất ước lệ của 2 tập hợp mờ có liên quan đến khái niệm bổ ngữ và trạng ngữ…” [12, 117 – 118]

Mấy năm gần đây có một số luận văn, luận án lấy đề tài nghiên cứu liên quan đến nội động từ, ngoại động từ Chẳng hạn, khoá luận của Nguyễn Thị Minh Thúy, 2003: Lớp vị từ có hai cách dùng nội động và ngoại động, ĐHSPTp Hồ Chí Minh; luận văn cao học của Lê Kính Thắng, 2004: Vấn đề phạm trù nội động / ngoại động trong tiếng Việt hiện đại Có lẽ rồi

đây cũng sẽ còn nhiều công trình khác bàn đến đề tài này Bởi vì, theo chúng tôi nghĩ, vấn đề nội động từ, ngoại động từ cho đến nay vẫn còn là một đề tài mở đối với giới Việt ngữ học

Cùng với việc tiếng Nhật đang dần dần trở thành một ngoại ngữ phổ biến ở Việt Nam, ngày càng có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về các phương diện khác nhau trong tiếng Nhật mà đặc biệt là những công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu tiếng Nhật và tiếng Việt ở những lĩnh vực khác nhau và đã được ứng dụng hiệu quả trong việc dạy và học 2 ngôn

ngữ này Chẳng hạn như, Cấu trúc họ trong tiếng Nhật và việc xử lý nó khi

dịch ra tiếng Việt (Hoàng Trọng Phiến, trích trong Việt Nam những vấn đề

ngôn ngữ và văn hóa, 1993), Vài thể hiện của từ ở tiếng Việt so sánh với

Trang 15

tiếng Nhật (Lê Thị Minh Hằng, Nguyễn Văn Phổ, 2002), Trợ từ trong tiếng Việt so sánh với tiếng Nhật (Trần Sơn, trích trong Những vấn đề Ngôn ngữ và dịch thuật, 1993),…

Xét về nội dung của các công trình nêu trên, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu hoàn toàn chuyên biệt về tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật và so sánh với lĩnh vực tương ứng trong tiếng Việt Có thể nói, luận văn của chúng tôi là cố gắng đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

Hiện nay, có rất nhiều giáo trình tiếng Nhật dành cho người nước

ngoài Hầu hết các giáo trình đều đề cập đến vấn đề tự động từ - tha động

từ ở giai đoạn sơ cấp (bài 29, bài 30 sách Minna no Nihongo, quyển 2 và

sách ShinNihongo no Kiso, quyển 2), nhưng các sách này chỉ giới thiệu những cặp tự động từ - tha động từ đối ứng thông dụng cùng một vài cách sử dụng đơn giản nhất Những giáo trình ở trình độ trung và cao cấp thì hầu như không mục nào đề cập đến việc sử dụng tự động từ và tha động từ nữa mặc dù thỉnh thoảng vẫn có những trường hợp sử dụng tự động từ hoặc tha động từ khác với cách sử dụng mà học viên được học ở giai đoạn sơ cấp

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi không xem phạm trù nội động – ngoại động trong tiếng Việt là trung tâm nghiên cứu của mình mà lại cố gắng tìm hiểu càng đầy đủ càng tốt về tự động từ - tha động từ trong tiếng Nhật (ngữ hình, quy tắc đối ứng, dấu hiệu nhận biết, cách sử dụng,…) và trên tinh thần kế thừa thành tựu tiếng Việt, chúng tôi muốn so sánh, đối

Trang 16

chiếu lĩnh vực này trong tiếng Nhật với lĩnh vực tương ứng trong tiếng Việt Ngoài ra, chúng tôi căn cứ vào quyển 新国語辞典Từ điển Quốc ngữ hiện đại (1997) để tiến hành thống kê, phân loại 179 cặp tự động từ – tha động

từ đối lập nhau về mặt hình thái Bên cạnh đó, chúng tôi điều tra bằng phương pháp trắc nghiệm đối với sinh viên ngành Nhật Bản học nhằm phát hiện ra những lỗi thường dùng sai liên quan đến tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật

Ở phạm vi đề tài này, chúng tôi không nhằm nghiên cứu hướng đến lý thuyết ngôn ngữ học nhưng lại chú trọng đi vào vấn đề ứng dụng trong

việc giảng dạy hay còn gọi là Ngôn ngữ học giáo học pháp (Didactic

Linguistics) và trong tương lai có thể chúng tôi sẽ hướng đến việc nghiên cứu đề tài này theo hướng lý thuyết

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả, phân tích:

Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng phương pháp miêu tả, phân tích để làm nổi rõ đặc điểm riêng biệt của tự động từ và tha động từ trong từng ngôn ngữ

- Phương pháp thực nghiệm:

Chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm bằng cách điều tra xã hội học đối với sinh viên ngành Nhật Bản học nhằm hiểu rõ hơn những suy nghĩ, những hiểu biết của học viên đang học tiếng Nhật về vấn đề tự động

Trang 17

từ và tha động từ trong tiếng Nhật Trên cơ sở đó, chúng tôi có thể phân tích và đưa ra những kết luận khách quan hơn về việc dạy và học lĩnh vực này

- Phương pháp thống kê:

Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê nhằm thống kê các cặp tự động từ và tha động từ đối ứng trong tiếng Nhật, sắp xếp chúng vào từng nhóm thích hợp Từ việc thống kê này, chúng tôi muốn giới thiệu đến người học sự biến đổi ngữ hình của các cặp tự động từ – tha động từ đối ứng này nhằm giúp họ dễ học, dễ nhớ vấn đề này hơn

Ngoài ra chúng tôi còn thống kê kết quả bảng điều tra dành cho sinh viên về cách sử dụng tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật Từ những con số thống kê này, chúng tôi muốn đưa ra những trường hợp nổi bật mà người học dễ dùng sai tự động từ và tha động từ

- Phương pháp so sánh, đối chiếu:

Bên cạnh 3 phương pháp trên, chúng tôi còn dùng phương pháp so sánh, đối chiếu để nêu lên sự khác nhau của tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật và tiếng Việt nhằm góp phần cho việc dạy và học tiếng Nhật được tốt hơn, hiệu quả hơn

4.2 Nguồn tư liệu

Luận văn đã sử dụng nguồn tư liệu bằng tiếng Nhật và tiếng Việt

Tư liệu tiếng Nhật là các sách ngữ pháp tiếng Nhật dành cho mọi đối tượng, các sách ngữ pháp tiếng Nhật dành riêng cho giáo viên tiếng Nhật, các công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn đề tự động từ và tha động từ

Trang 18

trong tiếng Nhật được đăng trên những tạp chí ngôn ngữ của các Viện ngôn ngữ hoặc của nhiều trường Đại học ở Nhật Bản… Tư liệu tiếng Việt

chúng tôi sử dụng chủ yếu là các công trình Ngữ pháp tiếng Việt của các

nhà Việt ngữ học, các công trình nghiên cứu chuyên sâu, các bài viết liên quan đến phạm trù nội động – ngoại động trong tiếng Việt được đăng tải

trên các Tạp chí Ngôn ngữ, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản…

Ngoài nguồn tư liệu là các sách, các công trình nghiên cứu, cái bài báo… chúng tôi còn áp dụng nguồn tư liệu thực tiễn đó chính là những kinh nghiệm chúng tôi có được qua quá trình giảng dạy tiếng Nhật cho người Việt và dạy tiếng Việt cho người Nhật, cùng với số liệu thực tế mà chúng tôi có được từ việc điều tra xã hội học đối với sinh viên ngành Nhật Bản học

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

5.1 Ý nghĩa khoa học

Việc tìm hiểu tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật (ngữ hình, quy tắc đối ứng, dấu hiệu nhận biết, cách sử dụng,…) có thể giúp người nghiên cứu đưa ra một cái nhìn tương đối toàn cảnh về vấn đề này và việc

so sánh với tiếng Việt nhằm làm rõ sự khác nhau về vấn đề này trong 2 ngôn ngữ

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đưa ra những nội dung cụ thể hơn, cần thiết hơn nhằm giúp cho người dạy tiếng Nhật có thể truyền đạt dễ dàng hơn và người học có thể hiểu sâu hơn, đồng thời cho học viên

Trang 19

người Việt có một cái nhìn tổng thể hơn về lĩnh vực tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn chúng tôi gồm 100 trang Ngoài phần mở đầu (15 trang), phần kết luận (5 trang), có 3 chương nội dung như sau:

Chương 1 giới thiệu khái quát về động từ trong tiếng Nhật, nêu lên khái niệm và những vấn đề liên quan đến tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật Cụ thể, chương này đề cập tới cơ sở lý luận chung (mục §1),động từ trong tiếng Nhật (mục §2), khái niệm tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật (mục §3), tiêu chí nhận diện tự động từ và tha động từ (mục §4), tự động từ và tha động từ trong mối quan hệ với chủ thể (mục §5),

phân loại tự động từ và tha động từ (mục §6).

Chương 2 nêu lên việc nhận diện, phân loại và những vấn đề liên quan đến động từ nội động và động từ ngoại động trong tiếng Việt (mục

§1) nhằm làm cơ sở cho sự so sánh tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật với tiếng Việt (mục §2)

Chương 3 trình bày vấn đề tự động từ và tha động từ đối với việc dạy và học tiếng Nhật Chúng tôi cho rằng chương này có thể ứng dụng nhiều vào việc dạy và học về lĩnh vực cụ thể này trong tiếng Nhật Bên cạnh việc nêu lên những điều kiện lựa chọn tự động từ và tha động từ (mục §1),

chúng tôi đưa ra một số đề nghị về việc dạy và học vấn đề này trong tiếng Nhật (mục §2)

Trang 20

Ngoài ra, luận văn còn có Phụ lục (15 trang) và thư mục tài liệu tham khảo (gồm 92 văn bản là sách hoặc bài nghiên cứu)

CHƯƠNG 1 TỰ ĐỘNG TỪ VÀ THA ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG NHẬT

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

Vấn đề nội động (intransitive verb) và ngoại động (transitive verb)

thoạt tiên được đặt ra với động từ của các ngôn ngữ Ấn – Âu và các ngôn

Trang 21

ngữ có các đặc trưng hình thức biểu hiện quan hệ chi phối Đã từng có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, hơn thế nữa điều đó còn phụ thuộc vào từng truyền thống của các nền ngôn ngữ học Hình thức để phân biệt 2 nhóm động từ này có khi được hiểu là bất kì một động từ nào, hễ đòi hỏi bắt buộc phải có bổ ngữ thì được coi là ngoại động; có khi được hiểu là phạm trù ngoại động chỉ gắn với khái niệm bổ ngữ trực tiếp của động từ Cho đến ngày nay, trong từng ngôn ngữ vẫn tiếp tục có những phân tích, những nghiên cứu đi sâu hơn về vấn đề này

Theo T.Tsunoda, “thuật ngữ TRANSITIVITY – phái sinh từ tiếng

Latinh, ‘TRANS’ là “xuyên” và ‘TRE’ là “đi” – chỉ hiện tượng ngôn ngữ có liên hệ với mệnh đề chuyển tác (transitive clauses), chứa đựng mối liên hệ qua lại với mệnh đề không chuyển tác (intransitive

clauses).”

“Mệnh đề chuyển tác chứa đựng đối tượng (object) Một hành động/ hoạt động di chuyển từ chủ thể đến khách thể/ đối tượng.”

I hit him (Tôi đụng anh ấy.)

còn “Mệnh đề không chuyển tác không có đối tượng/ khách thể Không có hành động nào được chuyển.”

He sat down (Anh ấy ngồi.)

Tuy nhiên cũng theo ông, vấn đề lại còn phức tạp hơn bởi vì có những mệnh đề chuyển tác nhưng lại không có hành động nào được

“chuyển”,

Everyone like beer (Mọi người thích bia.)

hay mệnh đề chuyển tác nhưng không có mệnh đề bị động đối ứng,

Trang 22

Bill has many books (Bill có nhiều sách.)

nhưng không thể có mệnh đề:

Many books are had by Bill (Nhiều sách được Bill (sở hữu) có.)

hoặc mệnh đề không chuyển tác nhưng lại có thể có mệnh đề bị động tương ứng…

Kay looked at Di (Kay nhìn Di chằm chằm.)

có thể có mệnh đề bị động tương ứng:

Di was looked at by Kay (Di bị Kay nhìn chằm chằm.)

Vì những vấn đề này không chỉ có trong tiếng Anh mà cũng có thể bắt gặp trong ngữ pháp của các ngôn ngữ khác nên chúng tôi đã nhất trí lấy quan điểm của ông về phạm trù nội động - ngoại động làm cơ sở cho việc so sánh tự động từ và tha động từ trong tiếng Nhật với nội động từ và ngoại động từ trong tiếng Việt

1.2 ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG NHẬT

Cũng như các ngôn ngữ khác, động từ tiếng Nhật biểu thị ý nghĩa hành động, động tác, trạng thái… của một chủ thể nào đó

Động từ tiếng Nhật ở dạng nguyên thể (dạng từ điển) được cấu tạo từ một bộ phận thân từ mang nghĩa từ vựng, được biểu hiện hoàn toàn bằng chữ Hán hoặc một phần là chữ Hán và một bộ phận vĩ tố được biểu hiện bằng chữ Hiragana Ví dụ: 言う [iu] nói, 立つ [tatsu] đứng, 読む [yomu]

đọc, 働く[hataraku] làm việc, 考える[kangaeru] suy nghĩ, 忘れる[wasureru]

quên…

Trang 23

Bộ phận vĩ tố của động từ tiếng Nhật luôn là các âm tiết thuộc hàng [u]: う [u], つ [tsu], ぶ [bu], む [mu], る [ru]… Nếu ghi bằng hệ chữ phiên âm Romaji thì chúng ta thấy rằng mọi động từ đều kết thúc bằng âm tiết mở có nguyên âm /u/ : 歌う [utau] hát, 待つ [matsu] chờ, 飛ぶ [tobu] bay, 飲む

[nomu] uống, 売る [uru] bán… Trong câu, động từ không có những biến đổi

về dạng thức theo ngôi và số của chủ thể hành động như các ngôn ngữ phương Tây, nhưng bộ phận vĩ tố sẽ thay đổi theo các ý nghĩa ngữ pháp mà chúng đảm nhiệm

Ví dụ động từ 読む [yomu] đọc sẽ có các dạng thức ngữ pháp sau:

読む [yomu] (dạng nguyên thể)

読みます [yomimasu] (dạng lễ phép)

読まない [yomanai] (dạng phủ định) không đọc

読め [yome] (dạng mệnh lệnh) đọc đi

読むな [yomuna] (dạng cấm đoán) cấm đọc

読めば [yomeba] (dạng giả định) nếu đọc

読める [yomeru] (dạng khả năng) có thể đọc

読まれる [yomareru] (dạng bị động) được / bị đọc

読ませる [yomaseru] (dạng tác động) bắt đọc

読まされる [yomasareru] (dạng bị tác động) bị bắt đọc

読みたい [yomitai] (dạng mong muốn) muốn đọc

読もう [yomou] (dạng ý chí) định đọc

Trang 24

Như vậy, nếu như ý nghĩa ngữ pháp của động từ trong tiếng Việt được biểu thị nhờ các hư từ thì trong tiếng Nhật các ý nghĩa đó được thể hiện qua các yếu tố ngữ pháp kết hợp vào phía sau động từ Trong một động từ có thể biểu đạt nhiều ý nghĩa ngữ pháp bằng cách chắp dính các yếu tố ngữ pháp lại với nhau Ví dụ đối với động từ読む [yomu] đọc

読む [yomu] Ỉ 読みたい [yomitai] muốn đọc

Ỉ 読ませたい [yomasetai] muốn bắt ai đó đọc

Ỉ 読ませたければ [yomasetakereba]

nếu muốn bắt ai đó đọc

Ỉ読まされたければ [yomasaretakereba]

nếu muốn bị ai đó bắt đọc

Một số cách phân loại động từ tiếng Nhật:

1.2.1 Phân loại động từ theo cấu tạo

Theo đặc điểm cấu tạo, động từ tiếng Nhật có thể chia thành động từ

đơn, động từ ghép và động từ phái sinh

1.2.1.1 Động từ đơn

Là những động từ được cấu tạo bằng một hình vị thực có nghĩa từ vựng như: 借りる [kariru] mượn, 使う [tsukau] sử dụng, 住む [sumu] sống,

[kesu] xóa, 泳ぐ [oyogu] bơi… Đây đều là những động từ có gốc Nhật

mặc dù bộ phận thân từ được viết bằng chữ Hán

1.2.1.2 Động từ ghép

Gồm những động từ được cấu tạo từ 2 động từ đơn theo công thức:

Trang 25

{Động từ 1 (phần thân từ) + động từ 2 } Nghĩa của động từ 1 giữ vai trò chính, nghĩa của động từ 2 mang tính phụ trợ, bổ sung một nét nghĩa nào đó

読む [yomu] đọc + 続ける [tsuzukeru] tiếp tục

Ỉ 読み続ける [yomitsuzukeru] tiếp tục đọc

食べる [taberu] ăn + 過ぎる [sugiru] quá

Ỉ 食べ過ぎる [tabesugiru] ăn nhiều quá

書く [kaku] viết + 直す [naosu] sửa

Ỉ 書き直す [kakinaosu] viết lại

1.2.1.3 Động từ phái sinh

Là những động từ được cấu tạo từ danh từ Công thức cấu tạo chung của nhóm động từ này là:

{danh từ chỉ hành động + する [suru]}

Đại đa số các danh từ ở đây đều có nguồn gốc nước ngoài (gốc Hán hoặc gốc Âu), する [suru] làm được sử dụng ở đây với chức năng động từ

hóa danh từ

食事[shokuji] bữa ăn + する[suru] Ỉ 食事する[shokuji suru] dùng bữa

勉強[benkyou] việc học + する [suru] Ỉ 勉強する [benkyou suru] học

チェックする [chekku suru] kiểm tra, サインする [sain suru] ký…

check sign

1.2.2 Phân loại động từ theo chức năng

Trang 26

Theo cách phân loại này, động từ được phân làm 2 loại: động từ thực và động từ bổ trợ

Động từ thực là những động từ được sử dụng để biểu thị một hay một số nghĩa thực nào đó như: 返す [kaesu] trả lại, 戻る [modoru] trở lại, quay

lại, 呼ぶ [yobu] gọi, 取る[toru] lấy, 被る[kaburu] đội…

Động từ bổ trợ bao gồm những động từ có nguồn gốc là những động từ thực như 行く [iku] đi, 来る [kuru] đến, ある [aru] có (tồn tại), いる [iru]

có (tồn tại), おく [oku] đặt, để, しまう [shimau] cất, みる [miru] xem…

Nhưng khi nó đóng vai trò bổ trợ, kết hợp với các động từ thực khác nó được chuyển hóa về mặt ý nghĩa từ vựng so với ý nghĩa thực gốc của nó

Các động từ bổ trợ luôn đứng sau động từ thực ở dạng ~て [te], tạo thành các cụm ~ている [teiru], ~てある [~tearu], ~てみる [~temiru], ~ておく

[~teoku], ~てしまう [~teshimau]…

食べる [taberu] ăn + 見る [miru] xem

Ỉ 食べて見る [taberemiru] ăn thử

作る [tsukuru] làm + 置く[oku] đặt, để

Ỉ 作っておく [tsukutteoku] làm sẵn

忘れる[wasureru] quên + しまう [shimau] cất

Ỉ 忘れてしまう [wasureteshimau] quên mất

1.2.3 Phân loại động từ theo đặc điểm biến đổi

Đây là cách phân loại phổ biến nhất trong các giáo trình dạy tiếng Nhật cho người nước ngoài Trên cơ sở đặc điểm cấu tạo và phương thức

Trang 27

kết hợp với các yếu tố biểu thị nghĩa ngữ pháp, động từ tiếng Nhật được chia làm 3 nhóm:

- Động từ nhóm 1 gồm những động từ khi tồn tại dưới dạng lễ phép ~

ます [~masu], âm tiết cuối cùng của bộ phận thân từ (đứng trước yếu tố ~ま

す [~masu]) thuộc hàng い [i]

もらう [morau] nhận Ỉ もらいます [moraimasu]

泣く [naku] khócỈ 泣きます [nakimasu]

直す [naosu] sửa chữa Ỉ 直します [naoshimasu]

- Động từ nhóm 2 gồm những động từ khi ở dạng nguyên thể đều kết thúc bằng âm tiết る [ru], âm tiết kế cuối thuộc hàng え [e] hoặc hàng い [i] Khi tồn tại dưới các dạng thức lễ phép ~ます [~masu], âm tiết cuối bị mất

đi

寝る[neru] ngủ Ỉ 寝ます[nemasu]

食べる [taberu] ăn Ỉ 食べます [tabemasu]

起きる [okiru] thức dậy Ỉ 起きます [okimasu]

見る [miru] xem, nhìn Ỉ 見ます [mimasu]

- Động từ nhóm 3 (nhóm đặc biệt) chỉ gồm 2 động từ 来る [kuru] đến

và する [suru] làm Đặc điểm của động từ nhóm này là khi biến đổi theo ý

nghĩa ngữ pháp, cả bộ phận thân từ cũng có thể thay đổi Đối với động từ

来る [kuru], thân từ 来có khi bị thay đổi cách đọc mặc dù cách viết bằng chữ Hán không thay đổi

Trang 28

来る 来ます 来ない 来れば

[kuru] [kimasu] [konai] [kureba]

[suru] [shimasu] [shinai] [sureba]

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng có một số động từ có hình thức biểu hiện ở dạng nguyên thể giống động từ nhóm 2, nghĩa là động từ kết thúc bằng âm tiết る [ru], âm tiết kế cuối thuộc hàng え [e] hoặc hàng い [i], như:

帰る [kaeru] trở về 切る [kiru] cắt

走る [hashiru] chạy 入る [hairu] vào

nhưng những động từ này lại thuộc vào nhóm 1, do đó khi kết hợp với các dạng thức ngữ pháp những động từ này biến đổi như những động từ khác cùng nhóm

[hashiru] [hashirimasu] [hashiranai] [hashitta]

1.2.4 Phân loại động từ theo ý nghĩa

Trang 29

Đây là cách phân loại phổ biến nhất trong các sách giáo khoa dạy tiếng Nhật cho người Nhật Theo cách phân loại này, động từ được chia

làm 2 nhóm lớn: tự động từ và tha động từ

1.3 KHÁI NIỆM TỰ ĐỘNG TỪ VÀ THA ĐỘNG TỪ TRONG TIẾNG NHẬT

Như chúng tôi đã trình bày, có nhiều cách phân loại động từ trong tiếng Nhật

Theo tiêu chí ý nghĩa, động từ được chia thành 2 nhóm lớn: 自動詞

[jidoushi] tự động từ và 他動詞 [tadoushi] tha động từ

Người ta cho rằng sự phân biệt tự động từ và tha động từ bắt đầu từ những bài hát đối đáp thời kì trung đại Khi ngâm 和歌 [waka] Hòa ca 2 có

nội dung nói về chính bản thân mình là こなた [konata] tự, còn với nội

dung nói về người khác là あなた [anata] tha Tuy nhiên, thời đại lịch sử mà sự phân biệt về tự - tha được đưa ra một cách rõ ràng là vào cuối thời

đại Edo3 Những học giả ưu tú như Motoori Norinaga, Fujitani Nariakira đã cho rằng nên chú ý đến sự khác biệt giữa tự động từ và tha động từ về mặt văn chương Thế nhưng các nhà khoa học này đã không nghiên cứu chính thức về tự động từ và tha động từ Trong số các học giả về Nhật ngữ học, người đã phát triển và nâng cao việc nghiên cứu tự động từ và tha động từ đến chuẩn mực là Haruniwa (con trai trưởng của ông Motoori Norinaga)

Trang 30

雪が降る。[yuki ga furu] Tuyết rơi

雪が [yuki ga] tuyết (chủ thể)

khóc, 座る [suwaru] ngồi, 立つ [tatsu] đứng…

_ 非意志的自動詞 [hiishitekijidoushi] tự động từ phi ý chí chẳng hạn

ちる [ochiru] rơi, 割れる [wareru] vỡ, 破れる [yabureru] rách, 壊れる

[kowareru] hỏng, 流れる [nagareru] chảy…

Andou Sekko [62, 6] lại phân chia động từ thành 3 nhóm lớn tùy theo ý nghĩa khái quát của mỗi nhóm:

_ Tự động từ biểu thị trạng thái: ある [aru] có (tồn tại), 異なる

[kotonaru] khác, 分かる [wakaru] hiểu…

_ Tự động từ biểu thị quá trình biến đổi: なる [naru] trở nên, 発展する

[hattensuru] phát triển, 壊れる [kowareru] hỏng…

Trang 31

_ Tự động từ biểu thị sự chuyển động: 飛ぶ [tobu] bay, 泳ぐ [oyogu]

bơi, 遊[asobu] chơi…

Theo cách phân loại này, mỗi động từ không nhất thiết chỉ thuộc một nhóm, cũng có những động từ mang cả 2 ý nghĩa khái quát

Ví dụ: 芽が出た。[Me ga deta] Mầm nhú lên

Về ý nghĩa khái quát, 出た [deta] ở đây vừa biểu thị sự biến đổi vừa biểu thị sự chuyển động

Tuy nhiên, Nguyễn Thị Việt Thanh trong Ngữ pháp tiếng Nhật

(2000) đã phân chia tự động từ làm 2 nhóm:

_ Tự động từ ở trạng thái tĩnh: ある [aru] có, 見える [mieru] nhìn thấy,

聞こえる [kikoeru] nghe thấy, すむ [sumu] sống…

_Tự động từ ở trạng thái động: 行く [iku] đi, 来る [kuru] đến, 泣く

[naku] khóc, 飛ぶ [tobu] bay…

Nhìn chung, cách phân chia tự động từ thành tự động từ mang tính ý chí và tự động từ phi ý chí là phổ biến và được nhiều người chấp nhận hơn

1.3.2 Tha động từ

“Tha động từ là những động từ biểu thị những hành động có tác động chi phối tới các đối tượng khác, đòi hỏi phải có bổ ngữ trực tiếp thể hiện đối tượng của hành động.” [64, 626] Đó là các động từ như 食べ

[taberu] ăn, 飲む [nomu] uống, 読む [yomu] đọc, 書く [kaku] viết, 見る

[miru] xem, 聞く [kiku] nghe… Tha động từ đò hỏi tham tố đối tượng trực

Trang 32

tiếp của hành động Các bổ ngữ trực tiếp thường được biểu hiện bằng trợ từ を [wo] theo sau, 「danh từ + を」 tạo thành vị ngữ đối với chủ thể

私は本を読みます [watashi wa hon wo yomimasu] Tôi đọc sách

私は [watashi wa] tôi ……… (chủ thể)

本を読みます [hon wo yomimasu] đọc sách……… (vị ngữ)

本を [hon wo] sách………(đối tượng tác động của động từ đọc)

1.4 TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN TỰ ĐỘNG TỪ VÀ THA ĐỘNG TỪ 1.4.1 Tiêu chí ý nghĩa

Về việc phân loại động từ theo ý nghĩa, có cách phân chia thành

động từ chỉ động tác, động từ chỉ trạng thái, động từ biểu thị ý chí và động từ phi ý chí Song, cách phân loại động từ thành tự động từ và tha động từ

dựa theo tiêu chí ý nghĩa khái quát được coi là một phương pháp phân loại động từ tiêu biểu nhất từ trước đến nay

Tiêu chí của sự phân biệt này là “gọi những động từ mà sự tác động của nó chỉ dừng lại ở đó thôi là tự động từ, còn những động từ mà sự tác động của nó mở rộng đến cái khác là tha động từ” [81, 58]

Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy なまける [namakeru] lười,

biếng là một động từ biểu hiện sự thiếu hoạt động, không làm công việc

phải làm Chúng ta nhận thấy về mặt ý nghĩa, động từ này dường như không tác động đến những yếu tố khác nên chúng ta khó có thể nhìn nhận đây là một tha động từ nhưng nếu dựa trên tiêu chuẩn 「danh từ + を」 như:

Trang 33

仕事 を なまける [shigoto wo namakeru]

công việc wo lười Ỉ lười làm việc

• 練習 を なまける [renshuu wo namakeru]

sự luyện tập wo lười Ỉ lười luyện tập

thì なまける [namakeru] cũng được công nhận là tha động từ

Còn đối với những động từ như ぶつかる [butsukaru] đụng, 触る

[sawaru] sờ, 戦う [tatakau] đấu tranh,… thì sự tác động của nó mở rộng ra

những cái khác Về tiêu chuẩn ý nghĩa khái quát, những động từ này có khả năng được coi là tha động từ Tuy nhiên, những động từ này thường cần những danh từ đi với trợ từ に [ni] hay trợ từ と [to] chứ không phải là trợ từ を [wo]

bệnh to đấu tranh Ỉ đấu tranh với bệnh tật

Do đó, những động từ này vẫn được coi là tự động từ

Như vậy, nếu dựa trên tiêu chuẩn ý nghĩa khái quát thì cũng có những trường hợp khó phân biệt được tự động từ hay tha động từ

1.4.2 Tiêu chí hình thức

1.4.2.1 Tiêu chí dựa trêndanh từ + [wo]

Trang 34

Trong những mệnh đề chuyển tác như 本を開ける [hon wo akeru] mở

rửa mặt,… thì[hon] sách, かんばん [kaban] cặp, [kao] mặt lần lượt là

đối tượng nhận tác động của những tha động từ 開ける [akeru] mở, 持つ

[motsu] cầm, mang, xách, 洗う [arau] rửa Hoặc trong những mệnh đề như

セーターを編む [seetaa wo amu] đan áo, 湯をかわす [yu wo kawasu] đun

nước sôi, ご飯を作る [gohan wo tsukuru] nấu cơm,… thì セーター [seetaa] áo

ấm, [yu] nước sôi, ご飯 [gohan] cơm lần lượt là đối tượng được tạo ra như

kết quả của sự tác động của những tha động từ 編む [amu] đan, かわす

[kawasu] đun, 作る [tsukuru] làm, chế tạo Những trường hợp này hoàn toàn

không có vấn đề gì so với tiêu chuẩn ý nghĩa nên dễ dàng được chấp nhận

Tuy nhiên cũng có những trường hợp như 影響を受ける [eikyou wo

ukeru] chịu ảnh hưởng, 勉強をさぼる [benkyou wo saboru] sao lãng việc học,

元気を欠く [genki wo kaku] thiếu sức khỏe… thì những tha động từ受ける

[ukeru] chịu, nhận, さぼる [saboru] sao lãng, 欠く [kaku] thiếu không bao

hàm ý nghĩa tác động một cách chủ động lần lượt đến影響 [eikyou] sự ảnh

hưởng, 勉強 [benkyou] việc học, 元気 [genki] sức khỏe

Ngoài những trường hợp tha động từ có một thực từ đi kèm còn có những trường hợp tha động từ có hai thực từ đi kèm Trong đó:

- Một thực từ chỉ sự vật đưa ra (đi với trợ từ [wo]) và một thực từ chỉ kẻ tiếp nhận (đi với trợ từ に [ni]) như あげる[ageru] cho, tặng, 教える

Trang 35

[oshieru] dạy, 貸す[kasu] cho mượn, 書く[kaku] viết, 送る[okuru] gởi, 出す

[dasu] nộp…

友達 に 本 を 貸す 。[tomodachi ni hon wo kasu]

bạn ni sách wo cho mượn Ỉ cho bạn mượn sách

家族 に 手紙 を 書く。 [kazoku ni tegami wo kaku]

gia đình ni thư wo viết Ỉ viết thư cho gia đình

• 先生 に 宿題 を 出す。[sensei ni shukudai wo dasu]

giáo viên ni bài tập wo nộp Ỉ nộp bài tập cho giáo viên

- Một thực từ chỉ sự vật lấy vào (đi với trợ từ [wo]) và một thực từ chỉ kẻ có sự vật bị lấy đi hoặc nơi xuất xứ (đi với trợ từ に [ni] hoặc trợ từ

から[kara]) như もらう [morau] nhận, 借りる [kariru] mượn, 習う [narau]

học…

• 妹 に スカートを 借りる。[imouto ni sukaato wo kariru]

em gái ni váy wo mượn Ỉ mượn em gái chiếc váy

会社 から 給料 を もらう。[kaisha kara kyuuryou wo morau]

công ty kara lương wo nhận Ỉ nhận lương từ công ty

• 山田さんに 日本語 を 習う [yamadasan ni nihong wo narau]

anh Yamada ni tiếng Nhật wo họcỈ học tiếng Nhật từ anh Yamada

Trong khi tha động từ biểu thị những hành động có chi phối tới các đối tượng khác, đòi hỏi phải có bổ ngữ trực tiếp đi với trợ từ を[wo] để thể hiện đối tượng của hành động thì tự động từ lại không cần bổ ngữ như vậy

Trang 36

Thế nhưng, không phải tất cả những động từ đi với trợ từ を [wo] đều là tha động từ Những tự động từ di chuyển về mặt không gian như曲がる

[magaru] quẹo, 飛ぶ [tobu] bay,[aruku] đi, bước đi, 散歩する [samposuru]

dạo… có thể đi cùng với trợ từ を[wo] để biểu hiện sự di chuyển trong một phạm vi nào đó

公園 を 散歩する [kouen wo samposuru]

công viên wo dạo Ỉ dạo công viên

道 を 歩く [michi wo aruku]

đường wo đi bộ Ỉ đi trên đường

Ngoài phạm vi chuyển động thì tự động từ di chuyển về mặt không gian còn đi cùng với trợ từ [wo] để biểu hiện khởi điểm hay nơi đi qua

Ví dụ:

a 空を飛ぶ [sora wo tobu] bay trên bầu trời

b 道を渡る [michi wo wataru] băng qua đường

c うちを出る [uchi wo deru] rời nhà

a 空 [sora] bầu trời là phạm vi chuyển động

b 道 [michi ] đường là nơi chốn đi qua

c うち [uchi] nhà là điểm xuất phát

1.4.2.2 Tiêu chí “bị động”

Trong tiếng Nhật, cả tự động từ lẫn tha động từ đều có khả năng hoạt động trong câu bị động trừ những động từ mang nghĩa tồn tại hay biểu

Trang 37

thị trạng thái いる [iru] / ある [aru] ở, có, できる [dekiru] có thể, 見える

[mieru] thấy được, 聞こえる [kikoeru] nghe được… là không có dạng thức bị

động

Như ở phần 1.2 chúng tôi đã trình bày, ý nghĩa bị động được thể hiện chủ yếu thông qua sự biến đổi dạng thức của động từ

Có thể chia câu bị động tiếng Nhật thành 2 dạng:

a) Biểu thị ý nghĩa bị động trực tiếp

Những tha động từ có bổ ngữ trực tiếp là tham tố động vật khi chuyển sang câu bị động bổ ngữ trực tiếp này sẽ giữ vai trò chủ thể

• 犬 は 彼 を 噛む。[inu wa kare wo kamu]

con chó wa anh ấy wo cắn Ỉ Con chó cắn anh ấy

Mệnh đề này có mệnh đề bị động tương ứng là:

彼 は 犬 に 噛まれる。[kare wa inu ni kamareru]

anh ấy wa con chó ni bị cắn Ỉ Anh ấy bị con chó cắn

• 先生 は 私 を 注意した。[sensei wa watashi wo chuuishita]

giáo viên wa tôi wo nhắc nhở Ỉ Giáo viên nhắc nhở tôi

Có mệnh đề bị động tương ứng là:

私 は 先生 に 注意された。[watashi wa sensei ni chuuisareta]

tôi wa giáo viên ni bị nhắc nhở Ỉ Tôi bị giáo viên nhắc nhở

Những tha động từ có mệnh đề bị động tương ứng biểu thị ý nghĩa bị động trực tiếp như: 愛する [aisuru] yêu quý, 叱る [shikaru] la, mắng, ほめる

Trang 38

[homeru] khen, 注意する [chuuisuru] chú ý, nhắc nhở, 嫌う [kirau] ghét, 尊敬

する [sonkeisuru] kính trọng…

b) Biểu thị ý nghĩa bị động gián tiếp

Đây là trường hợp chủ ngữ trong câu bị động không phải là đối tượng trực tiếp của hành động trong câu chủ động nhưng phải chịu ảnh hưởng gián tiếp của nó

- Dạng bị động gián tiếp của tự động từ:

• きのう、雨 が 降った。[kinou ame ga futta]

hôm qua mưa ga rơi Ỉ Hôm qua trời mưa

Ỉきのう、私 は 雨に 降られた。 [kinou watashi wa ame ni furare]

hôm qua tôi wa mưa ni bị rơi Ỉ Hôm qua, tôi bị mắc mưa

• 田中さん の 父 は 死んだ。[tanakasan no chichi wa shinda]

anh Tanaka no bố wa mất Ỉ Bố anh Tanaka mất

Ỉ 田中さん は 父 に 死なれた 。 [tanakasan wa chichi ni shinareta]

anh Tanaka wa bố ni bị mất Ỉ Anh Tanaka bị mất bố

đứa bé ni bị khóc

[akachan ni nakareta (dakara watashi wa nemurenakatta)]

Bị đứa bé khóc (Nên tôi không ngủ được)

Dạng bị động này có một tên gọi riêng là 迷惑の受身 [meiwaku no

ukemi] dạng bị làm phiền Dạng bị động này biểu thị một sự phiền toái hay

hàm ý một kết quả xấu, không mong đợi do ảnh hưởng của các sự việc

Trang 39

- Dạng bị động gián tiếp của tha động từ:

• 私 は 妹 に時計を壊される。[watashi wa imouto ni kowasareru]

tôi wa em gái ni đồng hồ wo bị làm hỏng

Tôi bị em gái làm hỏng đồng hồ là mệnh đề bị động tương ứng của

mệnh đề Em gái làm hỏng đồng hồ của tôi

妹 は 私の時計を壊す。[imouto wa watashi no tokei wo kowasu]

em gái wa tôi no đồng hồ wo làm hỏng

• 犬 は 弟 の 足を噛んだ。[inu wa otouto no ashi wo kanda]

con chó wa em trai no chân wo cắnỈCon chó cắn chân em trai tôi

弟 は 犬 に 足 を噛まれた。[otouto wa inu ni ashi wo kamareta]

em trai wa con chó ni chân wo bị cắn

Ỉ Em trai tôi bị con con chó cắn chân Trong tiếng Nhật, danh từ bất động vật không được làm chủ ngữ trong câu bị động

山田さん は ケーキ を 食べる 。[Yamadasan wa keeki wo taberu]

Yamada wa cái bánh wo ăn Ỉ Yamada ăn cái bánh

thì mệnh đề bị động sau được coi là không đúng:

ケ ー キ は 山 田 さ ん に 食 べ ら れ る 。[keeki wa yamadasan ni taberareru]

cái bánh wa Yamada ni bị ăn Ỉ Cái bánh bị Yamada ăn

Trang 40

Nhưng ở những trường hợp chủ thể thực của các hành động không được xác định thì danh từ bất động vật cũng có thể làm chủ ngữ trong câu

bị động

shuppansareru]

này tạp chí wa mỗi tháng được xuất bản

Ỉ Tạp chí này được xuất bản hành tháng Như vậy, trong tiếng Nhật tha động từ có hình thức bị động tương ứng mang ý nghĩa bị động trực tiếp hoặc bị động gián tiếp; còn tự động từ cũng có hình thức bị động tương ứng nhưng chỉ mang ý nghĩa bị động gián tiếp biểu thị sự phiền toái mà thôi

1.4.2.3 Tiêu chí「~ている」[~teiru] và「~てある」[~tearu]

1) Tự động từ với 「~ている」[~teiru]

Tự động từ khi gắn với trợ động từ 「~ている」[~teiru] biểu hiện các

ý nghĩa:

¾ Biểu hiện một tiến trình, một sự tiếp diễn

a 雨が降っている。 [ame ga futteiru] Trời đang mưa

b 人が歩いている。 [hito ga aruiteiru] Người đang đi

¾ Biểu hiện một trạng thái

a 山がそびえている。 [yama ga sobieteiru] Ngọn núi cao ngất

b ナムさんは父親に似ている。 [Namusan wa chichioya ni niteiru]

Anh Nam giống bố

Ngày đăng: 01/07/2023, 21:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BÙI KHÁNH THẾ, Nhập môn ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
2. BÙI KHÁNH THẾ, Bài giảng chuyên đề về ngôn ngữ học đối chiếu, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề về ngôn ngữ học đối chiếu
3. BÙI TẤT TƯƠM, Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
4. BÙI TRỌNG NGOÃN, Đặc điểm ngữ nghĩa của các động từ tình thái nhận thức – thực hữu và động từ tình thái nhận thức – không thực hữu, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngữ nghĩa của các động từ tình thái nhận thức – thực hữu và động từ tình thái nhận thức – không thực hữu
5. CAO XUÂN HẠO, Tiếng Việt, Mấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, Mấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. CAO XUÂN HẠO (chủ biên), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng Việt, Cấu trúc – Nghĩa – Công dụng, Nhà xuất bản Giáo dục, Tp.HCM, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng Việt, Cấu trúc – Nghĩa – Công dụng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
7. DIỆP QUANG BAN, Bổ ngữ chủ thể – một thuật ngữ cần thiết cho việc phân tích ngữ pháp tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bổ ngữ chủ thể – một thuật ngữ cần thiết cho việc phân tích ngữ pháp tiếng Việt
8. DIỆP QUANG BAN, Thử bàn về một cơ chế chuyển di từ loại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn về một cơ chế chuyển di từ loại trong tiếng Việt
9. DIỆP QUANG BAN, HOÀNG VĂN THUNG, Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, Thanh Hóa, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
10. DIỆP QUANG BAN, Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
11. DIỆP QUANG BAN, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt
12. ĐINH VĂN ĐỨC, Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại, Nhà xuất bản ĐH&THCN, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐH&THCN
13. ĐỖ HỮU CHÂU, BÙI MINH TOÁN, Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
14. ĐỖ HỮU CHÂU, Đại cương Ngôn ngữ học, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học, tập 2
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
15. EDWARD SAPIR, Những dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói, ĐH KHXH&NV, Tp. HCM, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói
16. FERDINAND DE SAUSSURE, Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương
Nhà XB: Nhà xuất bản KHXH
17. JOHN LYONS, Ngữ nghĩa học dẫn luận, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học dẫn luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
18. HOÀNG PHÊ (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản KHXH
19. HOÀNG TUỆ, Xã hội – ngôn ngữ học và vấn đề dạy ngôn ngữ, tạp chí ngôn ngữ, số 2, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội – ngôn ngữ học và vấn đề dạy ngôn ngữ
20. HOÀNG TRỌNG PHIẾN, Ngữ pháp tiếng Việt – Câu, Nhà xuất bản ĐH&THCN, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – Câu
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐH&THCN

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w