Sau những bước đi tiên phong trong việc cách tân văn học của các nhà văn Tây học như: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Trương Minh Ký, Diệp Văn Cương,… nền văn học Nam Bộ đã thực sự kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Phan Mạnh Hùng Luận văn thạc sĩ
TIỂU THUYẾT NAM BỘ TỪ 1930 ĐẾN 1945
ĐẶC ĐIỂM VÀ THÀNH TỰU Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã ngành: 5.04.33 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Đoàn Lê Giang
- TP HỒ CHÍ MINH - 2006
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ latinh xuất hiện khá sớm ở khu vực Nam Bộ, chỉ sau 25 năm tính từ khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) chính thức chấp nhận sự có mặt của thực dân Pháp tại vùng đất này Một thời gian không dài lắm, nhưng đủ để cho ra đời một thế hệ nhà văn cùng với nền văn học mới: văn học chữ quốc ngữ Latinh, lấy văn xuôi làm thể văn chính Sau những bước đi tiên phong trong việc cách tân văn học của các nhà văn Tây học như: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Trương Minh Ký, Diệp Văn Cương,… nền văn học Nam Bộ đã thực sự khởi sắc từ khi xuất hiện một thế hệ nhà văn thế hệ thứ hai từ sau năm 1910 như: Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên v.v… Đội ngũ nhà văn này đã tạo ra được một số lượng tiểu thuyết đồ sộ có hàng trăm cuốn, với dung lượng dày mỏng khác nhau, đã làm thay đổi gần như hoàn toàn bộ mặt của nền văn học Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX
Tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ thực sự đã có những đóng góp quan trọng cho quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Tiểu thuyết Nam Bộ cũng từng làm say mê và để lại những dấu ấn trong ký ức của nhiều thế hệ độc giả đầu thế kỷ trước Những năm gần đây, một số cuốn được các nhà xuất bản cho tái bản đã nhận được sự hoan nghênh của đông đảo bạn đọc Thậm chí những tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh do nhà xuất bản Tiền Giang in và
phát hành đã tạo ra một hiện tượng trong ngành xuất bản Người đọc tìm đến với
tiểu thuyết Nam Bộ với nhiều lý do, có người đến với nó vì nhiệm vụ nghiên cứu bảo tồn di sản văn học của tiền nhân, nhưng đa phần độc giả đọc và yêu thích nó
vì trong nội dung của những tác phẩm này ẩn chứa những tâm tư tình cảm, phong
Trang 3tục, lối sống của con người Nam Bộ thuần phác Trong đó có nhiều giá trị mất đi và có thể không bao giờ quay trở lại trong cuộc sống của con người hiện đại ngày nay
Có một thực tế là tiểu thuyết quốc ngữ latin Nam Bộ vốn đã định hình và tồn tại từ rất sớm nhưng, trong một thời gian dài, khoa nghiên cứu văn học ít chú
ý đến nền văn học Nam Bộ, ít chú ý đến một giai đoạn văn học đã có vai trò rất lớn trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam hiện đại Chỉ trong thời gian gần đây, giới nghiên cứu bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến văn học quốc ngữ Nam Bộ Có nhiều cuộc hội thảo khoa học được tiến hành, nhiều công trình bàn về văn học Nam Bộ được tổ chức biên soạn, nhiều luận văn khoa học nghiên cứu về mảng văn học này Thế nhưng, những nỗ lực của các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể giải quyết hết các khía cạnh của tiểu thuyết Nam Bộ Vẫn có nhiều vấn đề còn đang để ngỏ, thôi thúc các nhà nghiên cứu quan tâm, khám phá Trong không khí học thuật đó, chúng tôi tiến hành tìm hiểu tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn từ
1930 đến 1945 trên các phương diện đặc điểm và thành tựu của nó, nhằm đóng góp vào việc nghiên cứu văn học Nam Bộ nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết Nam Bộ đã đạt được những thành tựu nhất định trên các bình diện những vấn đề chung và tác giả Những công trình có liên quan đến đề tài có thể kể:
* Những vấn đề chung
Bùi Đức Tịnh trong công trình Những bước đầu của Báo chí, Tiểu thuyết và
Thơ mới (1865 - 1932) (Xuất bản lần đầu năm 1975, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh tái bản năm 1992) đã tiến hành giới thiệu một số gương mặt nhà văn tiên phong của văn học quốc ngữ Nam Bộ như: Trương Vĩnh Ký, Trương Duy Toản,
Trang 4Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt Đồng
thời tác giả cũng tóm tắt và trích tuyển một số tác phẩm thời kỳ đầu như: Phan
Yên ngoại sử Tiết phụ gian truân, Óan hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử, Tô Huệ Nhi ngọai sử, Kim thời dị sử, Nghĩa hiệp kỳ duyên, Giọt máu chung tình
Công trình này xuất bản năm 1975, là công trình công phu, xuất hiện sớm, có nhiều gợi ý cho những công trình nghiên cứu về văn học Nam Bộ sau này
Công trình Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900 - 1945) (Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 1988) đã phác thảo sơ nét về văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Đáng tiếc, ngoài việc giới thiệu một số khuynh hướng tiêu biểu của tiểu thuyết Nam Bộ, công trình này đã dừng lại ở mốc 1932 mà không tiến hành khảo sát đến 1945 như tham vọng của các tác giả trong nhan đề
Công trình Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998), mục Văn học chữ quốc ngữ ở Sài Gòn - Gia Định cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX đã cung cấp một bảng thư mục tương đối dày dặn các tác
phẩm tiểu thuyết và giới thiệu gương mặt của một số cây bút tiêu biểu Trong công trình đồ sộ và quy mô này, các tác giả cũng chỉ dừng ở việc giới thiệu các tiểu thuyết xuất bản từ 1932 trở về trước
Nguyễn Q Thắng đã giới thiệu về diễn trình của văn học Nam Bộ trong
công trình Tiến trình văn nghệ miền Nam (Nxb An Giang, 1990) Vì phạm vi bao
quát rộng lớn nên công trình chỉ điểm qua những sự kiện, gương mặt nhà văn cùng những tác phẩm tiêu biểu Mốc dừng lại của tiến trình văn nghệ miền Nam cũng dừng lại ở 1930
Nhà nghiên cứu Bằng Giang đã có đóng góp cho nghiên cứu văn học Nam
Bộ trong công trình Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 - 1930 (Nxb Trẻ, 1992)
Công trình đã cung cấp một bảng thư mục phong phú về tiểu thuyết và nhà văn Nam Bộ trước năm 1930 Tên của công trình cũng đã nói lên gới hạn khảo sát văn học Nam Bộ ở năm 1930
Trang 5Một số luận án tiến sĩ ngữ văn của các tác giả nghiên cứu tiểu thuyết quốc
ngữ Nam Bộ như: Tôn Thất Dụng: Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu
thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến năm 1932 (Đại
học Sư phạm I, Hà Nội, 1993); Cao Xuân Mỹ: Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết
Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX (Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh, 2001); Lê Ngọc Thuý: Đóng góp của văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối
thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX vào tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam (Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) Nhìn chung, các luận án này đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ Các luận án đều thống nhất ở việc thừa nhận vai trò tiên phong và đóng góp của tiểu thuyết Nam Bộ vào quá trình hiện đại hoá của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Phạm vi khảo sát, đánh giá tiểu thuyết của các luận án đều dừng ở mốc 1932
Công trình Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nxb Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2004) do Nguyễn Kim Anh chủ biên, là công trình đã giới thiệu khái quát về văn học Nam Bộ cũng như tiểu sử, sự nghiệp của từng tác giả Đây là công trình dày dặn được biên soạn khá công phu, có sự đánh giá về văn nghiệp đồng thời khảo và tóm tắt tác phẩm của một số nhà văn tiêu biểu Thế nhưng, phạm vi tiểu thuyết mà công trình này khảo sát chỉ từ cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1932
Bài viết Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong
bước khởi đầu (Tạp chí Văn học, Hà Nội, 2000), GS Nguyễn Huệ Chi đã đặt vấn
đề tìm hiểu những đặc điểm cơ bản, những thành quả và hạn chế của tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ trong chặng đường khởi đầu Một số ý kiến đáng chú ý như việc tác giả cho rằng: sự ra đời của văn xuôi tự sự quốc ngữ có sự trợ lực rất lớn của văn xuôi tự sự nôm của khu vực văn chương công giáo, hay mô hình bốn bước vận động, ngôn ngữ viết như tiếng nói thường.v.v…là những đặc điểm quan trọng của văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ
Trang 6Trong bài viết Những bổ khuyết cần thiết cho cho bức tranh toàn cảnh của
văn học Việt Nam hiện đại (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 5, 2005),
GS Trần Hữu Tá đã đặt vấn đề là cần nghiên cứu, giới thiệu những thành tựu của văn học phương Nam trong các giai đoạn sau 1930 để có những bổ khuyết cần thiết cho bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam hiện đại
Bài viết Văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 - thành tựu
và triển vọng nghiên cứu (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 7, 2006) của
TS Đoàn Lê Giang đã có sự tổng kết đầy đủ thành tựu nghiên cứu văn học Nam Bộ trên các phương diện: Sưu tầm, giới thiệu tác phẩm và nghiên cứu phê bình văn học Đồng thời tác giả đã nêu lên những triển vọng nghiên cứu văn học Nam Bộ trên một số phương diện như: văn học sử, ngôn ngữ học, nghệ thuật học, văn hoá học, xã hội học… Đáng lưu ý là tác giả đã đặt vấn đề: “Đối với văn học Nam Bộ, với tư cách là một vùng văn học, cách chia giai đoạn văn học như thế nào? Có thể dùng cái khung mà chúng ta vẫn chia lâu nay: Từ đầu đến 1930/
1932, từ 1930/ 1932 đến 1945 được không? Lấy gì để làm mốc đánh dấu sự thay đổi đó? Hay không cần phải phân kỳ như vậy?” (tr 13) Những ý kiến này tương đối bổ ích cho những ai quan tâm đến nghiên cứu văn học Nam Bộ
* Về tác giả và tác phẩm
Một số công trình tiêu biểu giới thiệu gương mặt các nhà văn và tiểu thuyết Nam Bộ có thể kể:
Phê bình và cảo luận (Nxb Nam Ký, Hà Nội, 1933) của Thiếu Sơn là công
trình phê bình văn học đầu tiên có quan tâm tới các gương mặt nhà văn và tiểu thuyết Nam Bộ Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu, đề cập đến các
gương mặt tiểu thuyết như: Nguyễn Thới Xuyên cùng tác phẩm Người vợ hiền, Phan Huấn Chương với Hòn máu bỏ rơi và Hồ Biểu Chánh Trong mục từ Người
vợ hiền, Thiếu Sơn đã tiến hành phân tích tâm lý cùng hành động của các nhân
Trang 7vật, chỉ ra những ưu điểm và những chỗ hạn chế của tác phẩm Theo Thiếu Sơn:
“nhờ ở cây viết tài tình linh động của Nguyễn quân nó đã gây cho cuốn sách có
được cái giá trị văn chương ít có” (tr 79) Đề cập đến tiểu thuyết Hòn máu bỏ rơi
của Phan Huấn Chương, Thiếu Sơn cho rằng: “Ông Phan Huấn Chương đã làm
được bộ phong tục tiểu thuyết Hòn máu bỏ rơi, rất xứng đáng với cái phần thưởng của báo Đuốc Nhà Nam ngày nọ” (tr 104) Tác giả công trình cũng đã dành hẳn
một mục từ quan trọng để giới thiệu về chân dung, tác phẩm và phong cách Hồ Biểu Chánh Theo Thiếu Sơn: “Hồ Biểu Chánh là một người có kinh nghiệm, hiểu rộng, biết nhiều về nhân tình thế thái, có quan sát, đã thâu vào cặp mắt tinh thần được nhiều bức tranh xã hội Lại thấy một nhà tâm lý, đã khám phá được nhiều điều bí ẩn ở tâm giới người đời; một nhà thi sĩ đã cùng với nước non cây cỏ mà cảm thương thiết tha; một nhà luân lý, đã từng vì những điều thảm mục thương tâm mà tỏ lòng bất mãn…” (tr 47) Có thể thấy đây là những ý kiến đánh giá về Hồ Biểu Chánh khá sớm và tương đối xác đáng, có ý nghĩa trong nghiên cứu về tác giả này
Mộc Khuê trong Ba mươi năm văn học (Nxb Tân Việt, Hà Nội, 1941)
cũng đã điểm qua các tác phẩm và gương mặt các nhà văn như: Bửu Đình, Phan Huấn Chương, Nguyễn Thới Xuyên, Hồ Biểu Chánh
Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (Nxb Tân Dân, Hà Nội, 1942) đã góp
một số trang nghiên cứu, giới thiệu về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Vũ Ngọc Phan đã đặt gương mặt nhà văn Nam Bộ này vào thế hệ các nhà văn lớp đầu đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Chân dung Hồ Biểu Chánh của Nguyễn Khuê (Nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn,
1974) đã phác họa tương đối đầy đủ về cuộc đời và văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh Thừa hưởng những thành quả nghiên cứu của những người đi trước, tác giả công trình đã có những đúc kết về phong cách tiểu thuyết của nhà văn này
Trang 8Những nhận định trong công trình đã có đóng góp đáng kể cho nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nói riêng và cho cả văn học Nam Bộ nói chung
Những áng văn chương quốc ngữ đầu tiên của Nguyễn Văn Trung (Tài liệu
in ronéo, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 1987) là công trình
kỷ niệm 100 năm ngày ra đời của tác phẩm Truyện Thầy Lazarô Phiền tại Sài
Gòn của Nguyễn Trọng Quản Tài liệu đã cung cấp văn bản, tóm tắt và trích
tuyển một số tác phẩm thuộc về giai đoạn đầu của tiểu thuyết như: Truyện Thầy
Lazarô Phiền, Chơn cáo tự sự của Michel Tinh, Kim thời dị sử của Biến Ngũ
Nhy, Người bán ngọc của Lê Hoằng Mưu Đặc biệt, tác giả đã đề xuất một số
hướng nghiên cứu về tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng và văn học Nam Bộ nói riêng Những ý kiến này có nhiều gợi ý tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu
Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (Nxb Văn học, Hà Nội, 2001) do Vũ
Tuấn Anh và Bích Thu chủ biên, đã giới thiệu và tóm tắt một số tác phẩm của các nhà văn Nam Bộ như: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Phạm Minh Kiên, Hồ Biểu Chánh, Dương Minh Đạt, Phú Đức, Nguyễ Ý Bửu, Nguyễn Văn Vinh, Tân Dân Tử, Nguyễn Bửu Mộc, Nguyễn Thế Phương, Phan Khôi, Kiều Thanh Quế, Phi Vân Trong số những tác phẩm được giới thiệu, không phải cuốn nào cũng là đại diện tiêu biểu của tiểu thuyết Nam Bộ Tuy vậy, các tác giả cũng đã có công lớn trong việc giới thiệu các tiểu thuyết của vùng văn học này từ lúc khởi đầu cho đến
1945
Chân dung văn học của Hoài Anh (Nxb Văn học, Hà Nội, 2001), Từ điển tác gia Việt Nam của Nguyễn Q Thắng (Nxb Văn hóa Thông tin, 1999), Văn học Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của Nguyễn Kim Anh chủ biên (Nxb Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2004), Từ điển văn học (bộ mới) Nhiều
tác giả (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005) là những công trình giới thiệu gương mặt
Trang 9và tác phẩm của các nhà văn Nam Bộ So với một số công trình xuất hiện trước đó, những công trình này đã bổ sung thêm được nhiều tư liệu về tác phẩm, về cuộc đời của các nhà văn, và do đó đã có những bước tiến đáng kể trong nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ
Nghĩ về buổi bình minh của tiểu thuyết Nam Bộ của Trần Hữu Tá (Tạp chí
Văn học, Hà Nội, số 10, 2000), Con đường đến với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
của hai nhà văn tiên phong Nam Bộ của Võ Văn Nhơn (Tạp chí Văn học, Hà Nội,
số 3, 2000), Văn học Việt Nam bước khởi đầu quan trọng ở Sài Gòn - Nam Bộ của
Nguyễn Thị Thanh Xuân (Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 3, 2000) đã đề cập đến chặng đường khởi đầu của văn học Nam Bộ Các ý kiến thống nhất ở chỗ thừa nhận những đóng góp lớn của nền văn học này cho quá trình đổi mới văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Đặc biệt là những luận điểm có nhiều đóng góp cho nghiên cứu như: về bước chuyển mình của văn học Nam Bộ gắn với thế hệ trí thức tân học với vai trò cầu nối văn hóa Đông - Tây của họ, những điều kiện góp phần hình thành nên những phạm trù của nền văn học mới,.v.v…
Phú Đức - một mẫu hình nhà văn Nam Bộ đặc biệt đầu thế kỷ XX (Tạp chí
Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 7, 2006) của Nguyễn Thị Thanh Xuân là bài viết công phu, có nhiều phát hiện lý thú về Phú Đức, một mẫu hình nhà văn Nam Bộ đặc biệt và tiêu biểu đầu thế kỷ XX Qua trường hợp Phú Đức, tác giả đã có nhiều gợi ý trong việc tìm hiểu tình hình sáng tác, mối quan hệ giữa nhà văn và công chúng, giữa báo chí và văn học của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Nhân trường hợp Phú Đức, bài viết cũng bày tỏ niềm lạc quan đối với tương lai của văn học nếu biết nắm bắt những kinh nghiệm của quá khứ
Đời sống Nam Bộ trong một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Huỳnh Thị
Lan Phương (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 7, 2000) đi vào tìm hiểu đời sống phong tục Nam Bộ trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Trang 10Những ý kiến, luận điểm của các nhà nghiên cứu mà chúng tôi đề cập trên đây, ít nhiều có liên quan trực tiếp, hoặc gián tiếp đến đối tượng nghiên cứu của chúng tôi Một số ý kiến, quan niệm sẽ được chúng tôi kế thừa và phát triển trong luận văn này
3 Giới hạn vấn đề
1 Về đối tượng khảo sát trong luận văn: Đối tượng khảo sát của luận văn là những tiểu thuyết được sáng tác và xuất bản ở Nam Bộ, không kể những tiểu thuyết đăng báo, trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945 Những tiểu thuyết được sáng tác do những nhà văn có gốc gác ở các vùng đất khác đến sống và làm việc tại khu vực này như: Bửu Đình, Phạm Minh Kiên, Phan Khôi cũng là đối tượng nghiên cứu của công trình Bởi theo chúng tôi, các nhà văn đã có một thời gian lâu dài sống ở đây, các tác phẩm của họ được sáng tác và xuất bản và hướng đến người đọc nơi mảnh đất họ từng gắn bó, do vậy, những tác phẩm đó nên xem là thành tựu của văn học Nam Bộ Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, người viết còn khảo sát một số tiểu thuyết xuất bản ở miền Bắc cùng một giai đoạn để phục vụ cho việc so sánh, đối chiếu
2 Về giai đoạn được khảo sát: Mốc thời gian được chọn để khảo sát là từ năm 1930 đến năm 1945 Đối với văn học Nam Bộ, với tư cách là một vùng văn học, sự phân chia từng giai đoạn văn học thật sự là không hề đơn giản Nếu chọn mốc 1932, là cái mốc chung cho văn học cả nước để áp dụng cho tiểu thuyết Nam Bộ thì liệu có hợp lý không? Vì cột mốc 1932 là mốc đánh dấu một thời kỳ mới trong văn học của miền Bắc: sự ra đời của Thơ mới và những tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn Chúng tôi nghĩ, khi phân định các chặng đường phát triển của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng của một vùng văn học, cần dựa vào chính những sự kiện quyết định sự phát triển tự thân của nó Và với tiểu thuyết Nam Bộ chúng tôi quyết định đặt lát cắt để khảo sát là năm 1930 với lý do sau:
Trang 11Tiểu thuyết Nam Bộ ra đời rất sớm, gắn với sự xâm lược và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Quá trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất làm thay đổi sâu sắc cơ cấu kinh tế xã hội Sự thay đổi trật tự xã hội, đời sống, văn hóa đã được các nhà văn phản ánh vào trong tác phẩm của mình, vì thế dấu ấn hiện đại xuất hiện sớm trong tiểu thuyết của vùng này Có điều, nó đã không có bước đột phá mạnh mẽ như tiểu thuyết miền Bắc sau này Trong tiến trình vận động và phát triển từ cuối thế kỷ XIX cho đến 1945, tiểu thuyết Nam Bộ ít có sự đột biến có tính chất mở ra một thời kỳ mới, mà có sự nhấn nhá trong sự phát triển Cột mốc 1930 là cột mốc đánh dấu sự phát triển cao của tiểu thuyết Nam Bộ Nhiều tác phẩm có giá trị ra đời gắn liền với những gương mặt nhà văn có tên tuổi: Tân
Dân Tử với Gia Long tẩu quốc, Phạm Minh Kiên với Lê Triều Lý thị, Tiền Lê vận
mạt, Phú Đức với Chẳng vì tình, Tình trường huyết lệ, Một thanh bửu kiếm, Bửu
Đình với Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ,… Đây cũng là thời điểm xuất hiện của
những gương mặt mới như: Sơn Vương, Nguyễn Bửu Mộc, Phan Huấn Chương, Nguyễn Thới Xuyên, Viên Hoành, Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Phương, Nguyễn Bá Thời Từ sau 1930, tiểu thuyết Nam Bộ được “tô đậm” thêm ở các khuynh hướng sáng tác Chúng ta chứng kiến sự được mùa của tiểu thuyết lịch sử cùng những thành tựu mới của tiểu thuyết phong tục xã hội, tiểu thuyết trinh thám võ hiệp, tiểu thuyết tâm lý tình cảm
3 Về khái niệm tiểu thuyết: Đây là giai đoạn nền văn học Việt Nam nói chung đã bước nhanh vào con đường hiện đại hóa Các thể loại của nền văn học hiện đại đã từng bước định hình trong đó có tiểu thuyết Khái niệm tiểu thuyết không còn được hiểu một cách uyển chuyển như trước nữa Trước đây, những sáng tác có dung lượng ngắn vẫn được các nhà văn gọi là tiểu thuyết Thời điểm từ sau 1930, nhận thức về thể loại của đa số nhà văn Nam Bộ đã khác trước Cách quan niệm về tiểu thuyết đã gần với quan niệm của thời hiện đại, đã có sự phân biệt rõ ràng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn Do đó, trong công trình này,
Trang 12khái niệm tiểu thuyết được quan niệm là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian; nó phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Điều đó có nghĩa là những tác phẩm có dung lượng nhỏ như những truyện ngắn không thuộc phạm
vi nghiên cứu của công trình này, mặc dù, một số nhà văn đương thời vẫn có thói quen gọi là tiểu thuyết
4 Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài văn học sử nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết Vì vậy, phương pháp chủ yếu được sử dụng trong công trình là phương pháp nghiên cứu văn học sử về thể loại Điều đó có nghĩa là khi tìm hiểu tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1930 - 1945 chúng tôi đặt nó trong mối quan hệ với lịch sử xã hội, văn hoá, văn học Nam Bộ để phát hiện ra đặc điểm, quá trình vận động, phát triển của thể loại tiểu thuyết cùng những thành tựu mà nó đạt được Kết quả của việc vận dụng phương pháp văn học sử trong nghiên cứu nhằm đạt được các yêu cầu sau đây:
- Tái hiện lại diện mạo của tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn từ 1930 đến
1945
- Tìm ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn từ 1930 đến 1945 và những đóng góp của nó trong tiến trình phát triển của thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Bên cạnh phương pháp nghiên cứu văn học sử, công trình còn sử dụng các phương pháp, thao tác nghiên cứu hỗ trợ như: phương pháp cấu trúc - hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, loại hình hóa, thi pháp học tiểu thuyết
5 Đóng góp của luận văn
Trang 13Thực hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn được góp thêm vào công việc nghiên cứu văn học Nam Bộ với mấy ý nghĩa sau đây:
Trình bày một cái nhìn tương đối bao quát về diện mạo, đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết Nam Bộ từ 1930 đến 1945 Đồng thời bước đầu giới thiệu được một số gương mặt các nhà văn và tác phẩm tiêu biểu thuộc các khuynh hướng tiểu thuyết Cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện về mặt tư liệu tiểu thuyết xuất bản ở Nam Bộ giai đoạn từ 1930 đến 1945 Đề xuất phương án khôi phục, bảo tồn, giới thiệu các gương mặt nhà văn và tác phẩm tiêu biểu Người viết mong muốn thông qua luận văn này, tiểu thuyết Nam Bộ sẽ ngày càng được quan tâm nghiên cứu sâu hơn
Tuy nhiên, do hạn chế nhiều mặt, chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, vẫn còn một số vấn đề còn để ngỏ, cần có thời gian và công sức để đầu tư thêm Người viết rất mong nhận được sự chỉ giáo của các giáo sư phản biện và những người đọc có quan tâm đến vấn đề tiểu thuyết Nam Bộ
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu (9 trang), kết luận (4 trang), thư mục tài liệu tham khảo (8 trang), phụ lục (8 trang), luận văn được trình bày thành 3 chương với các nội dung sau:
Chương 1: Văn hóa, xã hội và những thành tựu chủ yếu của tiểu thuyết
Nam Bộ từ 1930 đến 1945
Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo - đặc điểm và thành tựu
Chương 3: Những phương thức biểu hiện - đặc điểm và thành tựu
Trang 14Chương 1
VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA TIỂU THUYẾT NAM BỘ TỪ 1930 ĐẾN 1945
1.1 Văn hóa, xã hội Nam Bộ từ 1930 đến 1945
1.1.1 Tình hình kinh tế và chính trị
Cuộc xâm lược của thực dân Pháp đã tạo nên sự tiếp xúc kinh tế - văn hóa
- xã hội ở thế cưỡng bách, mang đặc tính thuộc địa Hệ quả của nó là tạo ra những biến đổi sâu sắc các thiết chế cũ trên một bình diện rộng lớn Ngoài việc phải đối phó với phong trào phản kháng diễn ra mạnh mẽ và quyết liệt của nhân dân yêu nước Nam Bộ, thực dân Pháp còn phải tiến hành nhiều biện pháp để xây dựng cơ bản một thiết chế kinh tế - xã hội - văn hóa phù hợp với ý đồ khai thác thuộc địa lâu dài ở Nam Bộ Do đó các thiết chế này mang những đặc điểm cũng như màu sắc của vùng Nam Bộ và xuất hiện sớm hơn so với cả nước
Về mặt kinh tế, đó là chế độ tư sản thuộc địa với nền kinh tế hàng hóa bị kìm hãm bởi tư sản nước ngoài, chủ yếu là tư sản Pháp, nhằm biến Nam Bộ thành thị trường tiêu thụ và tiến tới phụ thuộc hoàn toàn theo ý đồ khai thác thuộc địa của Pháp Sau khi chiếm xong các tỉnh miền Tây, chính quyền thuộc địa đem hàng triệu mẫu đất bán đấu giá Nhờ vậy những người Việt và Hoa có tiền có thể
Trang 15mua được những khu rộng lớn Những người có đất quay sang cho số dân nghèo đến “tá” để cày cấy rồi đến mùa trả cho họ một số huê lợi Do đó xuất hiện dạng điền chủ và tá điền Nhờ những công cuộc đầu tư của chính quyền thực dân cho nông nghiệp như đào kênh, dẫn nước, các đất đai mới mẻ ấy trở thành ruộng vườn phì nhiêu; và thông qua bộ máy cai trị của chính quyền phong kiến địa phương, thực dân đã tăng cường bóc lột, thu lợi Dưới tác động của phương thức sản xuất tư bản, nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, cũ kỹ và lạc hậu tồn tại bao đời nay theo máy móc và kỹ thuật của phương Tây hiện đại chuyển dần sang
cơ cấu của nền kinh tế tư bản thuộc địa Công việc quy hoạch, khai khẩn đất nông nghiệp ngày càng tiến triển Năm 1868, Nam Bộ có 380.000 mẫu Tây ruộng, sang năm 1938 số diện tích tăng lên 2.650.000 mẫu Nhờ thế Nam Bộ trở thành một vựa lúa xuất khẩu lớn Năm 1928 số gạo xuất khẩu lên đến 1.900.000 tấn Các loại cây nông sản khác như cao su, cà phê, chè cũng được thực dân cho trồng ở những đồn điền lớn để xuất khẩu Đối với công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thực dân chỉ khuyến khích phát triển theo phương thức dịch vụ và phục vụ không nằm ngoài quy trình bổ sung, đáp ứng các nhu cầu cho chính quốc Lợi dụng các nguyên vật liệu thiên nhiên tại chỗ và nguồn nhân công rẻ mạt, nhiều
xí nghiệp chế biến gạo, nhà máy nấu rượu ở Chợ Lớn, Sài Gòn được thực dân xúc tiến xây dựng nhằm xuất khẩu để thu lợi
Mặc dù là một vựa lúa lớn, dư đủ nhờ xuất khẩu gạo, nhưng Nam Bộ cũng
bị khủng hoảng kinh tế năm 1930 làm điêu đứng trong một thời gian dài Giá gạo giảm mạnh trong nhiều năm liền “Năm 1930, giá gạo tốt mỗi 100 kg là 13$10, năm 1931 tụt xuống 7$10, năm 1932 xuống 5$62 rồi 1933 xuống 3$20” [46, tr 444] Tá điền bị thua lỗ nặng, nhiều chủ điền không tiền nạp thuế phải phá sản Các xí nghiệp giảm bớt thợ, các đồn điền bớt nhân công, số người thất nghiệp tăng nhanh, tiểu công chức và nhân viên bàn giấy các cơ sở tư nhân cũng bị sụt lương
Trang 16Tình hình chính trị của vùng Nam Bộ 15 năm trước cách mạng tháng Tám đầy biến động Nhiều sự kiện lịch sử có tác động sâu sắc đến xã hội đã xảy ra Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một thời kỳ mới của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Năm 1932, phái Đệ tứ Quốc tế ra đời tại Sài Gòn do Tạ Thu Thâu, Trần Văn Trạch lãnh đạo, hoạt động công khai bằng báo chí Phái Cộng sản Đệ tam (Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai) đang bị đàn áp đã thay đổi đường lối tranh đấu Nhóm này liên kết với nhóm Đệ tứ, dùng tờ báo
La Lutte để cổ động các tầng lớp vô sản Năm 1933, một số người trong nhóm đã trúng cử vào Hội đồng Thành phố Năm 1939, mặt trận Bình dân bên Pháp tan rã,
ở Việt Nam nhà cầm quyền tự do đàn áp các đảng phái Phái Đệ tam rút vào họat động bí mật, còn Đệ tứ thì phân hóa và tan rã
Ở Nam Bộ, phong trào bãi công của công nhân ngày càng lên cao và lan rộng Năm 1930, nhiều cuộc bãi công có quy mô rộng và có tổ chức đã xảy ra như cuộc bãi công của công nhân cao su Phú Riềng, Dầu Tiếng, của công nhân nhà máy đóng tàu Ba Son, của ông nhân Nhà Bè v.v… Ngoài ra còn có các cuộc biểu tình của nông dân các huyện Đức Hoà (Long An), Chợ Mới (Long Xuyên), nông dân các tỉnh Cần Thơ, Bến Tre, Vĩnh Long Năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ Tuy bị thất bại và bị đàn áp, nhưng cuộc khởi nghĩa đã cho thấy tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân ngày càng lên cao Không khí những cuộc đấu tranh, biểu tình của nhân dân Nam Bộ góp phần không nhỏ vào sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Quá trình khai thác kinh tế thuộc địa và chính sách chính trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Nam Bộ phân hoá nhanh chóng, nhiều giai tầng mới xuất hiện Trước tiên là sự xuất hiện của giai cấp tư sản Giai cấp này không phải sinh
ra và trưởng thành từ cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến như một số quốc gia trên thế giới mà do thực dân Pháp đẻ ra, rồi lại bị chính thực dân chèn ép và kìm hãm Họ có thể là những người xuất thân từ các trường học Pháp Việt, hay
Trang 17du học ở nước ngoài về, hoặc hợp tác với người Pháp trong chính quyền thuộc địa; những người làm trung gian cho người Pháp, người Hoa trong các ngành thương mại, kỹ nghệ, dần dần trở nên giàu có Giai cấp tư sản có một số đặc tính như: vì nghề nghiệp họ phải định cư ở thành thị, xa hẳn thôn quê; họ thích thú và nhạy bén với việc tiếp xúc với văn hoá mới của phương Tây, do vậy cách suy nghĩ, thị hiếu thẩm mỹ có phần khác với truyền thống Đây là lực lượng góp phần thúc đẩy văn hoá và văn học bước vào quỹ đạo hiện đại của thế giới Giai cấp vô sản được hình thành từ những học sinh, sinh viên nghèo ở các thành thị; từ những nông dân bị tước hết ruộng đất, bị bần cùng hoá phải kéo nhau ra thành thị để kiếm sống, trở thành người làm thuê trong các đồn điền, công xưởng, nhà máy với đồng lương rẻ mạt Rất nhiều người trong số họ nhờ ý chí, nghị lực, đã vươn lên trong cuộc sống để chiếm lĩnh những kiến thức, văn hoá mới mẻ của thời đại Và với những tri thức, kinh nghiệm khoa học kỹ thuật, tấm lòng bác ái đối với giới cần lao, họ sẽ là lực lượng làm thay đổi lịch sử và thời đại của cả dân tộc Giai cấp địa chủ phong kiến vốn có lịch sử tồn tại lâu dài trước đó, nay vì quyền lợi đã quay sang bắt tay với thực dân để quay lại bóc lột nông dân và đàn áp phong trào yêu nước Giai cấp nông dân là lực lượng chiếm số đông trong xã hội (khoảng 80 % dân số) phải chịu cảnh một cổ hai tròng và ngày càng đi vào thế phá sản Nhiều người trong số họ phải từ bỏ ruộng vườn ở thôn quê, để gia nhập vào đội quân làm thuê, thất nghiệp đang ngày càng đông đảo ở các đô thị Từ khi các xưởng kỹ nghệ được thiết lập ở Nam Bộ thì số nông dân xin vào làm công ngày càng đông “Trước cuộc khủng hoảng kinh tế, năm 1929, số thợ và lao công ấy là 86.000 người, đến năm 1938, tăng lên gần 100.000” [46, tr 440] Đây là lực lượng sẽ góp phần làm thay đổi lịch sử chính trị cũng như văn hoá, là lực lượng quyết định đến sự đổi thay hoàn toàn diện mạo đời sống xã hội Nam Bộ đầu thế kỷ XX
1.1.2 Tình hình giáo dục và văn hoá
Trang 18Sau khi thực dân Pháp xác lập xong sự cai trị đối với vùng Nam Bộ, đô đốc Lagrandière liền cho bỏ Hán học để thành lập trường dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp Các trường học theo mô hình của phương Tây do thực dân lập ra nhằm mục đích thay đổi toàn diện nền giáo dục truyền thống của Việt Nam, tạo ra những người có sở học mới phục vụ cho mưu đồ bình định quân sự và khai thác thuộc địa Thời kỳ đầu các trường học do các giáo sĩ Công giáo điều hành đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Những trường này có chương trình giáo dục chưa thống nhất đặt ở những nơi các giáo sĩ truyền đạo nhằm dạy trẻ con học chữ quốc ngữ và giáo lý Chỉ sau khi nghị định về giáo dục ngày 17-11-
1874 được ban hành, các trường học mới thống nhất với nhau theo một chuẩn mực chung, chương trình học bắt buộc phải giống chương trình và sách giáo khoa của Pháp Chữ quốc ngữ và chữ Hán vẫn được đưa vào chương trình nhưng không được ưu tiên giảng dạy nhiều, chương trình học chú trọng nhiều đến tiếng Pháp và văn hóa Pháp Ý đồ “Tây hóa” đối tượng theo học của thực dân rất dễ nhận thấy, nhất là một lớp người trẻ tuổi được chính quyền gửi đi đào tạo ở nước ngoài (ở các nước thuộc địa của Pháp như: Pinhalu (Campuchia), Pénang (Malaysia), Alger), nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị tại chỗ Vì vậy, người học “hình như bị cắt đứt với những giá trị cổ truyền và những tinh thần của dân tộc, xa lạ với thực trạng của đồng bào Rồi trong khi hăng hái đi tìm những giá trị mới lạ họ khinh rẻ, không muốn quay nhìn lại cái văn hoá thất bại, gần chết, do tình thế chính trị gây ra, của Việt Nam, mà chỉ thu thập được những cái gì dễ dàng, hào nhoáng về hình thức của văn hoá mới Do đó, đã phát sinh một hạng người tân học mất gốc, học hiểu chưa thấu đáo cái học phương Tây mà lại chiếm giữ những địa vị trong xã hội” [46, tr 436]
Trong thực tế nền học mới đã tạo ra những công chức mẫn cán cho chính quyền cai trị, nhưng đồng thời theo đó cũng xuất hiện một số trí thức yêu nước, yêu văn hóa Việt
Trang 19Sự thay đổi về thiết chế kinh tế chính trị, giáo dục đã kéo theo sự biến đổi của đời sống văn hóa Thời kỳ đầu văn hóa thực sự là rào cản lớn đối với mưu đồ của thực dân, đặc biệt là ở phương diện ngôn ngữ Để khắc phục, thực dân Pháp đã ban hành nhiều nghị định cho phổ biến chữ quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và Nôm, trước mắt là để giải quyết vấn đề giao tiếp và phổ biến chính sách thuộc địa, bên cạnh công tác đào tạo ra một lớp người làm thông ngôn, thừa sai
Chữ quốc ngữ trước đây được sử dụng ở phạm vi hạn hẹp trong vòng giáo hội Công giáo để truyền đạo, nay được thực dân đưa vào sử dụng rộng rãi trong hành chính, trong học chánh và sách báo Thực hiện ý đồ phổ biến chữ quốc ngữ trong công văn giấy tờ bên cạnh công tác đào tạo những người làm thông ngôn nói giỏi tiếng Pháp và giỏi chữ quốc ngữ, ngoài việc phá bỏ sự ngăn cách và bất đồng ngôn ngữ với người bản xứ, thực dân còn có một ý đồ thâm hiểm hơn là cắt đứt người Việt với văn hóa truyền thống của họ, cũng như cắt đứt sự liên hệ giữa các sĩ phu yêu nước với phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ Thực dân không từ bỏ một biện pháp nào nhằm nhanh chóng đưa chữ quốc ngữ và tiếng Pháp vào đời sống từ việc cưỡng bách sử dụng cho đến trọng thưởng, tạo công ăn việc làm, đề bạt nắm giữ các chức vụ trong chính quyền cho những ai giỏi tiếng Pháp và chữ quốc ngữ
Sự phát triển của chữ quốc ngữ buổi đầu có được thuận lợi là do sự xuất hiện của báo chí và nhà in Báo chí là một trong những yếu tố mới mà văn hoá phương Tây mang lại cho vùng đất Nam Bộ Tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên
ra đời ở Nam Bộ là tờ Gia Định Báo (1865), lúc đầu nó là một tờ công báo dùng
để phổ biến thông tư, nghị định của chính quyền thuộc địa, từ khi Trương Vĩnh
Ký đảm nhiệm trông nom, Gia Định Báo lại có thêm nhiệm vụ khác như: cổ động
cho nền học mới, phát triển chữ quốc ngữ, khuyến khích người dân học chữ quốc
ngữ Sau Gia Định Báo (1865), một loạt các tờ báo tiếng Việt khác ra đời như:
Nhật Trình Nam Kỳ (1883), Thông Loại Khóa Trình (1888), Phan Yên Báo (1898)
Trang 20v.v đã tạo cho đời sống văn hóa, văn học Nam Bộ có một không khí sôi động, năng động và mới mẻ Hoạt động sôi động của báo chí Nam Bộ gắn liền với sự phát triển của nghề in ấn Chính quyền thuộc địa đã cho thành lập nhà in Impériale gọi là nhà in nhà nước (Impériale du Gouvernement) với phương tiện
kỹ thuật hiện đại nhất bấy giờ, trước ba năm so với thời điểm Gia Định Báo
(1865) ra số đầu tiên Riêng nhà in của người Việt do họ đạo ở Tân Định thành
lập năm 1864 buổi đầu dùng in kinh sách sau đó ra báo Nam Kỳ Địa Phận, hiện
nay máy in vẫn còn được bảo quản trong khuôn viên nhà thờ Tân Định
Báo chí Nam Bộ giai đoạn từ 1930 đến 1945 phát triển khá phong phú, có cả báo bằng tiếng Việt và tiếng Pháp với nhiều xu hướng phức tạp Có thể thấy báo chí phát triển theo hai xu hướng chính là xu hướng báo chí công khai và xu hướng báo chí bí mật
Xu hướng công khai có hai loại là loại báo chí thuần tuý và báo chí có xu hướng chính trị, yêu nước Loại báo chí thuần tuý chủ yếu đề cập đến những vấn đề kinh tế, văn hoá và văn học nghệ thuật, nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến đời
sống văn hoá và xã hội, một số tờ tiêu biểu như: Mai, Sống, Đồng Nai, Phụ Nữ
Tân Văn, Nam Kỳ Địa Phận, Phụ Nữ Thời Đàm, Đông Pháp Thời Báo, Lục Tỉnh Tân Văn… Loại báo chí thuần tuý và công khai chiếm số lượng rất lớn trong đời
sống báo chí và đã có nhiều đóng góp trong việc phát triển văn hoá và văn học Loại có xu hướng chính trị, yêu nước thường do những người hoạt động cách
mạng làm chủ bút hoặc viết bài như: La Lutte (Tranh đấu), Dân Muốn, Dân Tiến,
Việt Dân, Phổ Thông, Kịch Bóng Loại báo chí này thường có những bài viết đề
cập đến tình hình chính trị trong nước và quốc tế, nhiều bài có nội dung phê phán, đả kích các chính sách đàn áp của thực dân
Loại báo chí bí mật đa phần do các cơ quan của Cách mạng xuất bản và lưu hành bí mật Loại này không phổ biến trong quần chúng Một số tờ có thể kể
Trang 21như: Lao Động, Thợ Thuyền, Lao Khổ, Giải Phóng… là những phương tiện thông
tin và tuyên truyền hiệu quả của Cách mạng
Báo chí Nam Bộ phát triển phong phú và đa dạng, trở thành một phương tiện thông tin quan trọng của cuộc sống hiện đại Trên báo chí Nam Bộ, nhiều vấn đề được chú ý trong đó có lĩnh vực văn chương Báo chí đã đóng một vai trò thực sự quan trọng trong việc phát triển văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng
Có thể nhận ra, bên cạnh những khiếm khuyết của nền giáo dục và văn hoá do sự tương tác của các chính sách khai thác thuộc địa mang lại như: nguy cơ mất gốc, xa rời văn hoá truyền thống của một bộ phận cá nhân v.v… là những cơ hội để nền văn hóa Nam Bộ sớm tiếp xúc với những nhân tố tiến bộ của mẫu hình văn hoá của phương Tây mang lại Trước hết và khá quan trọng là văn hoá phương Tây đã đem đến cho người trí thức Nam Bộ (cả trí thức cao cấp lẫn trí thức bình dân) tinh thần khoa học, óc phê phán, hoài nghi, suy luận, kiểm điểm, phê bình, nhờ đó học thuật phát triển trên những nền móng mới Chính sự tiếp xúc văn hoá đã khiến cho chúng ta có quan niệm mới về văn chương rồi thành lập nền văn học mới, văn học chữ quốc ngữ la tinh, lấy văn xuôi làm thể văn chính Nhờ những ảnh hưởng của văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học Pháp thông qua các trường học Pháp - Việt, văn học của ta đã có sự phát triển phong phú về hình thức, thể loại của văn học Các nhà văn dần dần thoát ra khỏi lối văn cử nghiệp truyền thống, hướng đến lối văn sáng sủa, gọn gàng, lôgíc; tư tưởng ngày càng phóng khoáng, tự do Các thể văn mới như kịch, phê bình, tiểu thuyết, thơ phỏng theo Pháp văn ngày càng trở nên phổ biến trên văn đàn, tạo đà cho nền văn học Việt Nam hoàn tất chu trình hiện đại hoá văn học vào nửa đầu thế kỷ XX
1.1.3 Tình hình xuất bản và giải trí
Trang 22Súng ống và lưỡi lê của thực dân buổi đầu đã để lại trên cơ thể vùng đất Nam Bộ những vết thương không dễ liền miệng, làm đảo lộn mọi giềng mối của xã hội cũ Theo đó xã hội truyền thống chuyển mình một cách đớn đau, nhục nhã sang hướng tư sản thuộc địa nửa phong kiến, để lại những hậu quả tai hại nhất, nhưng điều đó cũng lôi kéo các mặt khác phát triển như: “Thay đổi bộ mặt thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế, dần dần quy tụ nông thôn quanh thành thị, thay đổi kết cấu xã hội, làm mất thế lực nhiều lực lượng bảo thủ trì trệ, tạo điều kiện cho cái mới - sau khi đã thay da đổi thịt, biến hoá - có điều kiện từ thành thị tỏa về nông thôn, chi phối sự phát triển theo kiểu xã hội hiện đại” [15,
tr 14] Sự đổi thay về chính trị, kinh tế, xã hội khiến cho đời sống giải trí ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX cũng có những biến chuyển Nhiều hình thức giải trí hiện đại như: chớp bóng, kịch nói, sách vở, báo chí… theo bước chân của quân xâm lược đã sớm có mặt trên mảnh đất này Những hình thức giải trí mới chắc chắn đã xuất hiện và gắn bó mật thiết với sự ra đời của tầng lớp thị dân ngày một đông đảo ở các thành thị Máy in và kỹ thuật của phương Tây đã góp phần làm cho văn hoá đọc ngày càng quen thuộc và phổ biến qua các ấn phẩm sách báo Các ấn phẩm này thường hướng tới lớp người đọc từ trung lưu cho đến hạng bình dân trong xã hội, lớp người đông đảo đã chi phối thị trường xuất bản và giải trí
Trước hết, các truyện thơ lục bát có nhan đề “bổn cũ soạn lại” do một số trí thức biên soạn, phiên dịch ra chữ quốc ngữ được các nhà xuất bản tư nhân in rất nhiều và bán với giá rẻ, chỉ khoảng vài ba xu Các truyện “bổn cũ soạn lại”
như: Chàng Nhái, Chàng Cóc, Tấm Cám, Nàng Út, Trần Minh khố chuối, Hoàng
Trừu, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Phạm Công - Cúc Hoa, Lâm Sanh - Xuân Nương, Con Tấm con Cám, Thạch Sanh - Lý Thông; loại “Chuyện hậu”: Hậu Phạm Công - Cúc Hoa, Hậu Thoại Khanh - Châu Tuấn, Hậu chàng Nhái, Hậu Nàng Út…; các loại “truyện diễn ca”: Tiết Giao đại ngọc, La Thành tróc ngũ vương, Quan Công phục Huê Dung đạo, Dương Dương trường bản… đã lôi kéo
Trang 23được một lượng người đọc rất lớn Nội dung của các truyện trên phần lớn được xây dựng trên căn bản đạo lý của Nho giáo: “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” Bối cảnh truyện được xây dựng từ đồng quê cho đến triều đình, cốt truyện đi từ hoàn cảnh nhân vật nghèo khó, rồi dần dần bước lên đường công danh sau khi nhân vật chính gặp những thế lực đối nghịch Dù cho thế nào đi chăng nữa thì phần kết của câu chuyện cũng có hậu, nghĩa là người tốt được hưởng vinh quang, còn kẻ xấu sẽ bị trừng trị thích đáng Loại kết cấu như vậy rất phù hợp với đời sống tình cảm và tâm lý của độc giả, không chỉ ở miền quê mà cả một số đông ở thành thị vốn có nguồn gốc nông thôn, đang ôm ấp nhiều mơ ước đổi đời Trước đây, truyện thơ nôm và truyện cổ tích vốn tồn tại chủ yếu qua con đường truyền miệng và in ấn hết sức hạn chế, nay nhờ công nghệ xuất bản hiện đại, sự hoàn bị của chữ quốc ngữ, đã được cố định hoá bằng văn bản, đến được tay người đọc đông đảo mọi lúc, mọi nơi Thậm chí nhiều tác phẩm loại này được in song song chữ quốc ngữ và chữ Nôm hoặc chữ Hán, chữ Pháp nên sức phổ biến rất rộng rãi
Bên cạnh các ấn phẩm văn học truyền thống (cả bác học và bình dân) vừa đề cập ở trên, các ấn phẩm dịch tiểu thuyết nước ngoài, nhiều nhất là tiểu thuyết của Trung Hoa đã góp phần làm cho đời sống giải trí thêm đa dạng và sôi động Các truyện dịch đều do các nhà xuất bản như: Tín Đức thư xã, Đức Lưu Phương, Bảo Tồn, Nhị Thiên Đường, Nguyễn Văn Viết, Phạm Văn Thình, Phạm Đình Khương, Thạnh Thị Mậu ấn hành dưới dạng các tập sách mỏng, bán giá bình dân và “là xương sống cho những tủ sách cho thuê, một ngành thương mãi mới thiết lập sau khi loại sách ấy ra đời” [100, tr 612] Chỉ tính trong khoảng thời gian đầu thế kỷ cho đến năm 1932, đếm sơ đã có gần 30 dịch giả có sách in với khoảng 70
bộ khác nhau [31], trong đó có ba tên tuổi sẽ được báo Phụ Nữ Tân Văn coi là
“những tay dịch thuật trứ danh ở Nam Kỳ” là Nguyễn An Khương, Nguyễn Chánh Sắt và Trần Phong Sắc Các tiểu thuyết Trung Hoa được dịch sang chữ
Trang 24quốc ngữ, một thời làm say mê người đọc các thế hệ độc giả, tiêu biểu như: Tam
quốc chí, Thuỷ hử, Ngũ hổ bình Tây, Đông châu liệt quốc, Chinh Đông chinh Tây, Chung Vô Diệm, La Thông tảo Bắc, Càn Long du Giang Nam, Anh hùng náo tam môn, Tiết Đinh San chinh Tây, Vạn Huê lầu, Phong thần diễn nghĩa, Nhạc Phi truyện… Bằng Giang có lý khi cho rằng: “Truyện Tàu được tiêu thụ mạnh trong
những năm đầu của phong trào một phần cũng do mảnh đất sáng tác của ta hãy còn là một bãi đất trống… Truyện Tàu tung hoành được cũng do vào thời đó, những phương tiện giải trí cho nhân dân còn hiếm hoi” [21, tr 244 - 249] Các tiểu thuyết dịch, một phần nào đó đã đáp ứng được nhu cầu giải trí, tạo nên thói quen thưởng thức văn xuôi quốc ngữ của phần đông độc giả trong xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố kích thích sự sáng tạo của các nhà văn quốc ngữ
ở Nam Bộ buổi đầu
Loại thứ ba chính là những tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ la tinh của các nhà văn mới ở Nam Bộ Những tiểu thuyết mới xuất hiện ngày một nhiều dưới dạng đăng báo và sách in, thậm chí in kèm theo các tờ rơi quảng cáo như các sách của nhà thuốc Nhị Thiên Đường ở Chợ Lớn, đã thu hút được lượng độc giả tương đối Tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ đã đi theo hướng kết hợp giữa những yếu tố mới du nhập và những yếu tố của truyền thống, thể hiện trong nội dung cảm hứng, kết cấu và ngôn ngữ tác phẩm Thi pháp tiểu thuyết quốc ngữ la tinh đã chịu ảnh hưởng từ hai nguồn chính là từ tiểu thuyết Tàu và tiểu thuyết Pháp Nhưng tiểu thuyết buổi đầu đã chịu ảnh hưởng nhiều từ thi pháp tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa nhiều hơn là tiểu thuyết Pháp, phải mất một thời gian dài về sau mới có sự cân bằng giữa hai luồng ảnh hưởng này
Một loại hình thông tin, giải trí hiện đại và mới mẻ đối với người dân Nam Bộ xuất hiện khá sớm là báo chí Báo chí buổi đầu đã cho thấy khả năng phổ biến thông tin và giải trí vô cùng to lớn trong xã hội hiện đại Nhiều tờ báo ở Nam Bộ đã chọn lớp người chiếm số đông trong xã hội là những người lao động
Trang 25bình dân để phục vụ Giá bán của một tờ báo thường lấy giá của một ly cà phê sáng của một người lao động bình thường trong xã hội làm chuẩn Nhà văn Sơn Nam cho rằng, làm báo thời kỳ đầu là nghệ thuật quản lý, vì toà soạn giống như một xí nghiệp, nuôi sống công nhân, người làm báo, ngoài số ký giả, nhà văn Các báo muốn tồn tại được cần hướng đến lớp độc giả đông đảo là những người lao động bình dân ngoại trừ các tờ báo được sự bảo hộ của nhà cầm quyền phục vụ cho mục đích chính trị Mỗi tờ báo muốn thu hút người đọc cần phải đề cập đến nhiều vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, ưu tiên tính chất thông tin và khoa học, cách trình bày đơn giản và dễ hiểu Lần mở lại các tờ báo thời kỳ đầu chúng ta không khỏi ngạc nhiên Bên cạnh các bài biên khảo, tin tức thời sự, chiến sự, tiểu thuyết đăng nhiều kỳ (cả loại sáng tác và dịch), để lộn xộn lên những bài quảng cáo, rao vặt, hiếu hỉ Dần dà, các mục in tiểu thuyết (dạng feuilleton) trên báo ngày càng được chú ý trau chuốt và chăm sóc, vì đây là điểm nhấn quan trọng thu hút độc giả Một số tờ báo về sau đã phát huy tốt truyền thống này khi dành cho tiểu thuyết một vị trí trang trọng trên tờ báo, chẳng hạn
như các tờ: Phụ Nữ Tân Văn, Lục Tỉnh Tân Văn, Trung Lập, Công Luận, Bình
Dân, Đuốc Nhà Nam Có điều lạ, các tiểu thuyết sau khi đã đăng báo được in lại
thành sách vẫn còn thu hút độc giả
Ngoài các hình thức giải trí vừa nêu còn có một hình thức khác tương đối phổ biến và khá quan trọng đó là sân khấu (tuồng hát bội, cải lương, kịch nói) Sân khấu Nam Bộ thực sự được thừa hưởng một truyền thống lâu dài trước đó Theo chân những lưu dân Nam tiến, sân khấu đã tìm thấy một môi trường thuận lợi để phát triển ở vùng đất mới Mang đặc trưng trình diễn, diễn xướng, sân khấu rất phù hợp với tâm lý và tâm thế của những người dân khai hoang lập ấp, những con người không còn có đủ thời gian để suy ngẫm những điều siêu hình, sâu lắng trước một thiên nhiên mời gọi và cũng không kém phần nguy hiểm Ở miền Bắc,
sân khấu truyền thống có thể thấy hai loại chính là Tuồng và Chèo Hai loại hình
Trang 26sân khấu này đều dành cho thành phần vua chúa, quyền quý, và quần chúng lao
động cần lao Ở miền Nam, Tuồng hát bội đã trở thành món ăn tinh thần không
thể thiếu đối với các tầng lớp nhân dân lao động, kể cả tầng lớp trên của xã hội, cho đến những năm đầu thế kỷ trước Với lợi thế ở cách bố trí sân khấu đơn giản, không rườm rà; lối bận y phục, cách vẽ mặt, râu ria của diễn viên được quy định rõ ràng cho từng loại nhân vật khiến cho người xem dễ hiểu; về dàn nhạc tuy có nhiều khí cụ nhưng không cần nhạc trưởng chỉ huy cuộc hoà tấu, cũng không cần bài bản để trước mặt, hát bội rất phù hớp với hoàn cảnh của người lao động bình dân Cho tới đầu thế kỷ XX “các gánh hát chỉ diễn trong chùa, đình, miễu, trong nhà lồng chợ, hoặc trong những rạp lộ thiên Lần hồi, một số người giàu có mộ điệu muốn thu lợi lớn mới cất rạp hát ở Sài Gòn, Chợ Lớn Còn ở miền Tây, do địa hình sông rạch nhiều nên phần đông các đoàn hát là “ghe hát dạo” Ở miền Đông, vùng Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hoà, nhiều “gánh hát” thường di chuyển bằng xe bò chở mướn Tuy vậy, số rạp hát ở Sài Gòn không phải ít, chứng tỏ rằng nghệ thuật hát bội vẫn được nhân dân ưa thích” [32, tr 106]
Đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất, loại hình ca kịch sân khấu mới là cải lương bắt đầu hình thành và phát triển nhanh chóng Không giống như hát bội thường lấy các sự tích trong lịch sử Trung Quốc làm nội dung kịch bản, các vở cải
lương thường dựa vào các truyện nôm, truyện xưa của ta như: Lưu Bình Dương
Lễ, Truyện Kiều, Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Thoại Khanh - Châu Tuấn v.v… hay các tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ la tinh đương thời như: Giọt máu chung tình (Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà), Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc của Tân Dân Tử, Tiểu anh hùng Võ Kiết của Phú Đức… Các bài bản
cải lương do các soạn giả soạn được các nhà xuất bản in với số lượng tương đối lớn, bán rất chạy Sân khấu cải lương ngày một hoàn thiện từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn Đến thập niên 30 thế kỷ XX, cải lương đã thực sự chiếm được ưu thế so với các hình thức giải trí khác, không chỉ ảnh hưởng đến
Trang 27đời sống giải trí của vùng Nam Bộ mà rộng hơn, còn lan ra cả miền Trung và Bắc
Bên cạnh các loại hình sân khấu truyền thống đang từng bước đổi thay cho phù hợp với cuộc sống mới, loại hình kịch nói được du nhập từ phương Tây đang từng bước hình thành và phát triển Ban đầu, các gánh hát của người Tây qua biểu diễn chủ yếu cho sĩ quan và binh lính Pháp xem là chính Các vở thường
được diễn như: Trưởng giả học làm sang (Le bourgeois gentilhome), Sự ghen
tuông của Bac - bui - ê (Le jalousie de Barbouillet), Ép cưới (Le mariage forcé)
của Molière, Cỗ xe ngựa (La carosse) của Saint Sacrement… Dần dần, thông qua
các trường học Pháp - Việt, loại hình kịch nói đã được một số trí thức người Việt tiếp thu và cố gắng vận dụng vào đời sống sân khấu thành thị Thế nhưng, kịch
nói đã không có một cơ sở vững chắc là tựa trên truyền thống như Tuồng và Cải
lương để phát triển Cho đến những năm tiền Cách mạng, “kịch nói vẫn là cậu bé
tí hon bên cạnh anh chàng khổng lồ là sân khấu cải lương” [32, tr 156]
Tóm lại, đời sống giải trí và xuất bản của Nam Bộ đầu thế kỷ XX là một phức thể đa diện, cho thấy sự phong phú, sôi động, đan xen nhiều yếu tố hiện đại và truyền thống Hoàn cảnh lịch sử xã hội đã tạo điều kiện và có nhiều tác động làm cho các loại hình giải trí truyền thống có điều kiện để từng bước đổi thay, sống dậy trong những hình thức mới Những loại hình giải trí mới mẻ du nhập từ bên ngoài sớm thay đổi cho phù hợp với tâm thế của cư dân bản địa để bén rễ và phát triển Kỹ thuật in ấn hiện đại góp phần quan trọng trong việc hình thành ngành thương mại xuất bản vận động theo hướng kinh tế thị trường, gắn chặt với đời sống giải trí của số đông, góp phần hình thành văn hoá đọc (khác với văn hoá
nghe và xem của các loại hình giải trí truyền thống), hình thành thị hiếu thẩm mỹ
mới khác trước Chính những đặc tính của đời sống giải trí và xuất bản như vậy, chắc chắn sẽ góp phần quy định các đặc điểm, quy luật vận động của đời sống văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng ở Nam Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
Trang 281.2 Những thành tựu của tiểu thuyết Nam Bộ từ 1930 đến 1945
1.2.1 Vài nét về những thành tựu chủ yếu của tiểu thuyết Nam Bộ trước
1930
Nhìn lại toàn bộ tiến trình văn học viết của dân tộc chúng ta dễ đi đến thống nhất ở cách phân chia văn học thành hai thời kỳ lớn là thời kỳ văn học trung đại từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX và thời kỳ văn học cận hiện đại từ cuối thế kỷ XIX đến nay Suốt mười mấy thế kỷ văn học thời kỳ trung đại, văn học Việt Nam tuy có thể chia làm nhiều thời kỳ nhỏ khác nhau như: văn học sơ kỳ trung đại, văn học trung kỳ trung đại, văn học hậu kỳ trung đại với những nét đặc thù riêng biệt, nhưng xét trong toàn bộ tiến trình, nó vẫn có chung mẫu số văn học của thời kỳ văn học trung đại mà trong thời kỳ mới kể từ sau 1858 chúng
ta không còn bắt gặp, hoặc bắt gặp ở thế ngày một biến đổi và dần mất đi Năm
1858, một cái mốc lịch sử đáng ghi nhớ của dân tộc đó là việc thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược nước ta, sự kiện trọng đại này đã có tác động lớn tới văn học Cuộc đổ bộ bằng quân sự của thực dân không làm cho văn học ngay lập tức có sự thay đổi dứt khoát và đột ngột với văn học trước đó, mà tạo nên một dư chấn mạnh mẽ trong đời sống văn học làm cho nó trở nên linh động Những vấn đề lớn của dân tộc như vấn đề chống Pháp trở thành đối tượng được đề cập thường trực trong các sáng tác của các nhà nho yêu nước, tạo thành một dòng văn học yêu nước phát triển liên tục và rộng khắp Bên cạnh đó là sự ra đời nhanh chóng của dòng văn học hiện đại chữ quốc ngữ la tinh ở khu vực Nam Bộ
Nếu như dòng văn học yêu nước chống Pháp do các nhà nho Nam Bộ tiến hành chính là sự kế thừa và phát huy truyền thống văn học vốn có từ ngàn xưa của dân tộc, thì dòng văn học quốc ngữ la tinh mới xuất hiện được đặt trong tay của những trí thức Tây học với đường hướng cách tân trong xu thế vượt ra khỏi
Trang 29tầm ảnh hưởng của văn học Đông Á và tiến tới sự hòa nhập vào quỹ đạo văn học hiện đại của thế giới Sự xuất hiện và tồn tại song song hai bộ phận văn học viết bằng hai thứ chữ cùng với hai lực lượng sáng tác khác nhau, cho thấy tính chất quá độ và đan xen giữa các yếu tố cũ và mới của văn học giai đoạn đầu hiện đại hóa ở Nam Bộ Cái mới chính là sự xuất hiện của dòng văn học viết bằng chữ quốc ngữ la tinh do các trí thức Tây học tiến hành (thời kỳ đầu chủ yếu là những trí thức nhà thờ Công giáo) với lối văn xuôi suôn đuột cùng thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết theo hình thức phương Tây, bên cạnh các yếu tố cũ là văn học của các nhà nho với những thơ, phú, văn tế, truyện thơ viết bằng chữ Hán và Nôm có đối có vần Không phải không có những yếu tố mới trong văn học của các nhà nho Nam Bộ khi trong những thi phẩm của họ thể hiện chủ đề yêu nước chống Pháp, với những áng thơ văn được xếp vào loại hay nhất của thời đại Thế nhưng sự chuyển biến trong bộ phận văn học nhà nho chỉ mới ở phương diện đề tài chứ về mặt thi pháp và hệ thống thể loại thì vẫn chưa có sự thay đổi bao nhiêu Văn học của các nhà nho vẫn ở trong tình trạng bình cũ rượu mới Chẳng hạn, trước hay sau cái mốc 1858 thì Nguyễn Đình Chiểu vẫn sáng tác theo một quan niệm mỹ học cũ, thể hiện qua một hệ thống thi pháp vốn có trước đó: mỹ học và thi pháp của thời kỳ trung đại Thực tế lịch sử không cho phép các nhà nho nắm vận mệnh của công cuộc canh tân văn học, mặc dù trong những sáng tác của họ đã có những tín hiệu và nhu cầu đổi mới thể hiện ở những “rạn nứt” [26, tr 62] trong quan niệm về văn chương cũng như các sáng tác của các tác giả: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Lộ Trạch v.v Những nhà nho này vẫn là người của thế hệ trước, thế hệ trưởng thành trên cơ sở kinh tế xã hội thuần phong kiến với cách suy nghĩ, lối cảm, lối nhìn của thời kỳ trung đại Sự biến đổi đột ngột của lịch sử ở cột mốc 1858 thực sự là cái mốc nghiệt ngã đối với họ Cái mốc đánh dấu cho sự thất bại và trên đà cáo chung của thế hệ nhà nho Nam Bộ trên phương diện chính trị cũng như văn học Văn
Trang 30học yêu nước của nhà nho âm thầm diễn tiến trong mạch sâu của đời sống tinh thần dân tộc, bên cạnh những hoạt động ngày một sôi nổi và rầm rộ của văn học mới trên bề mặt đời sống báo chí và xuất bản thời kỳ đầu ở các thành thị đầu thế kỷ XX Lịch sử văn học chào đón một thế hệ nhà văn mới theo Tây học xuất hiện ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, thế hệ nhà văn chủ lực của thời kỳ đầu của quá trình cận đại hóa văn học như: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương, Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh v.v…
Từ thế hệ nhà nho cuối thế kỷ XIX như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Lộ Trạch đến thế hệ trí thức Tây học này, văn học Nam Bộ đã có một bước chuyển mình lớn lao: chuyển từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học cận đại và hiện đại Thế hệ nhà văn mới đã tạo cho văn học Nam Bộ có sự biến đổi sâu sắc và chuyển động theo quy luật hiện đại hóa Những thành tựu mà nền văn học Nam Bộ đã đạt được trong quá trình hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX có công không nhỏ của thế hệ mở đầu này; một thế hệ nhà văn vấp phải không ít những trở lực và khó khăn trong việc xây dựng và cổ vũ cho nền văn học mới, nhưng đồng thời họ lại có được vị trí vẻ vang mà không phải thế hệ nào cũng có được Đó là tư thế của những người đi tiên phong trong việc xác lập cơ sở cho nền văn học mới, văn học chữ quốc ngữ la tinh
Chính hoàn cảnh lịch sử đã đặt ra và tạo điều kiện cho Nam Bộ tiến sớm, tiến nhanh vào quá trình đổi mới văn học Hàng loạt những phương tiện, cách thức được đem ra chuẩn bị, thể nghiệm cho công cuộc đổi mới văn học ở Nam Bộ như: Chữ quốc ngữ, báo chí, quan niệm mới về văn chương, hệ thống thể loại mới gắn liền với văn học hiện đại (tiểu thuyết, thơ, kịch, ký, dịch thuật, nghiên cứu phê bình) v.v… Tiểu thuyết là thể loại ra đời tương đối muộn nhưng nó đã chứng tỏ được sức trẻ và sức sống của một thể loại đang trong quá trình sinh thành và
Trang 31biến động Văn học Nam Bộ giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa đã lựa chọn tiểu thuyết là thể loại chính, mặc dù so với một số thể loại khác chẳng hạn như thơ ca, nó không có bề dày thành tích trong truyền thống văn học trung đại Thực tiễn văn học thường cho thấy một thời kỳ mới của văn học thường báo hiệu và mở đầu bằng thi ca Tiểu thuyết xuất hiện muộn hơn Lấy một thể loại chưa có bề dày truyền thống là tiểu thuyết làm thể loại chủ lực cho quá trình đổi mới văn học, một mặt có sự trợ giúp đắc lực của dòng văn xuôi tự sự chữ Nôm của khu vực văn chương Công giáo, sự hoàn thiện của chữ quốc ngữ, sự phát triển của báo chí, và những yếu tố mới được tiếp thu có ý thức của các nhà văn buổi đầu từ văn học nước ngoài, dưới sự tương tác của đời sống kinh tế, văn hoá đang trên đà tư bản hoá đầu thế kỷ XX Tiểu thuyết quốc ngữ la tinh Nam Bộ được hình thành trong bối cảnh nền văn học mới đang từng bước định hình về nhiều mặt, với bao công việc còn ngổn ngang, dang dở, lẫn cả những thách thức có tính chất sống còn, trước những yêu cầu của xu thế hội nhập vào quỹ đạo văn học thế giới Song song với quá trình tiếp xúc và tiếp biến những yếu tố mới từ văn học
phương Đông lẫn phương Tây qua những cuốn tiểu thuyết dịch là quá trình phục
dựng lại những tinh hoa của văn học dân tộc trong quá khứ (cả văn học viết và
văn học dân gian) thông qua việc làm của các trí thức Công giáo có sở học thái Tây, đã đem lại kết quả đáng ghi nhận Văn học mới được hình thành và phát triển trên nền tảng truyền thống và hiện đại (hiện đại trong nghĩa là những cái mới du nhập từ bên ngoài), thể hiện qua quan niệm về văn chương, qua hình thức và nội dung của tiểu thuyết buổi đầu Tuyên ngôn của nền văn học mới được
phát biểu lần đầu tiên trong tiểu thuyết Truyện Thầy Lazarô Phiền, xuất bản năm
1887 tại Sài Gòn của Nguyễn Trọng Quản Tiểu thuyết này đã nói lên quan niệm nghệ thuật mới mẻ rất khác với tiểu thuyết trung đại về cuộc sống, xã hội và con người: “Đã biết rằng xưa nay dân ta chẳng thiếu chi thơ văn phú truyện nói về những đấng anh hùng hào kiệt, những tay tài cao trí cả rồi đó, mà những đấng
Trang 32thuộc về đời xưa, nay chẳng còn nữa Bởi vì đó tôi mới dám bày đặt một chuyện đời nay là sự thường có trước mắt ta luôn như vậy sẽ có nhiều người lấy lòng vui mà đọc, kẻ thì cho quen mặt chữ, người thì cho đặng giải buồn một giây”
(Nguyễn Trọng Quản, Truyện Thầy Lazaro Phiền, J.Linage, Libraire éditeur, Rue Catinat, Sài Gòn 1887, tr 2) Qua Truyện Thầy Lazarô Phiền, Nguyễn Trọng
Quản đã đặt nền móng cho thể loại tiểu thuyết hiện đại theo lối phương Tây ở cả phương diện nội dung lẫn hình thức, đồng thời thể hiện một ước mơ hết sức chân thành và cảm động như trong lời tựa đề tặng các bạn đồng môn: “Các bạn còn nhớ chăng trên những lối đi ấy, miệng phì phà điếu thuốc bị cấm, chúng ta vừa sấn bước vừa thốt ra thành lời niềm mơ ước cho xứ Nam Kỳ thân yêu của chúng
ta một tương lai chói rạng ánh sáng, tiến bộ và văn minh! Này các bạn! Mong rằng tác phẩm khiêm tốn mà tôi đề tặng các bạn đây là khởi điểm của sự thực hiện mơ ước ngày trước” (Nguyễn Trọng Quản, sđd, tr 2) Phải chờ đến 23 năm
sau, Trần Chánh Chiếu trong lời tựa tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan (1910)
mới xác quyết lại: “Từ ngày các đấng cao minh trong lục châu bày diễn dịch các thứ chuyện chữ Nho ra quốc âm, thì ít thấy có chuyện nào nói về việc trong xứ mình Các chuyện đang làm là chuyện Tàu Nay tôi ngụ ý soạn một bổn mới nói về việc trong xứ mình, dùng tiếng nói thường cho mọi người hiểu đặng” (Trần
Chánh Chiếu, Hoàng Tố Anh hàm oan, nhà in Phát Toán, Sài Gòn 1910, tr 3) Khoảng lặng 23 năm từ Truyện Thầy Lazarô Phiền đến Hoàng Tố Anh hàm oan
chúng ta có thể lý giải rằng, đây là một khoảng thời gian mà nền văn học Nam Bộ phải vật lộn gian khổ để xác tín lại hướng đi của nền văn nghệ mang tinh thần mới mẻ và hiện đại như Nguyễn Trọng Quản từng phát biểu Trong khoảng lặng đó, những người làm văn học buổi đầu như: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Trương Minh Ký, Diệp Văn Cường, vừa phải tập trung vào việc phiên âm, chú giải, xuất bản các tác phẩm văn học của quá khứ, đồng thời dịch các tác phẩm văn học nước ngoài ra chữ quốc ngữ la tinh, tiến hành thể nghiệm sáng tác
Trang 33văn chương Những việc làm của các nhà văn, nhà văn hoá được tiến hành trong
tư thế vừa kiên trì, bền bỉ, vừa ý thức cố gắng vượt thoát ra khỏi những ảnh hưởng của những lối mòn văn học vốn đã trở thành quán tính trong sáng tác và thưởng ngoạn văn chương Những tiểu thuyết buổi đầu vừa nêu đã nói lên được đặc điểm và tính chất của nền văn học mới như: xây dựng ngôn ngữ tác phẩm
như tiếng nói thường ngày, viết về những việc bình thường trong cuộc sống là sự
thường có trước mắt ta luôn và hướng đến người đọc số đông trong xã hội khiến cho kẻ thì quen mặt chữ, người thì cho đặng giải phiền một giây, sẽ trở thành một
truyền thống và đặc điểm của tiểu thuyết Nam Bộ những năm sau này
Có thể thấy từ những năm cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thập niên 1930, tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ là bức tranh có nhiều mảng sáng tối, đậm nhạt
khác nhau Sau các sáng tác mang tính chất mở đường như: Truyện Thầy Lazarô
Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản, Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần
Chánh Chiếu, Phan Yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân (1910) của Trương Duy
Toản, tiểu thuyết bắt đầu có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng tác phẩm và đội ngũ cầm bút từ năm 1920 trở về sau Các tác giả giai đoạn này có thể kể: Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Bửu Đình, Phú Đức, Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên, Nguyễn Ý Bửu, Hồ Biểu Chánh v.v… Bên cạnh sự xuất hiện đông đảo các nhà văn, tiểu thuyết bắt đầu hướng đến nhiều vấn đề trong xã hội với nhiều khuynh hướng tiểu thuyết khác nhau như: Tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết trinh thám võ hiệp, tiểu thuyết phong tục xã hội, tiểu thuyết tâm lý tình cảm v.v…
Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử đã ghi nhận các tác giả và tác phẩm tiên
phong như: Trương Duy Toản với Phan Yên ngoại sử, Lê Hoằng Mưu với Oán
hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử, Tô Huệ Nhi ngoại sử Những tác phẩm này
thực sự có tác động đến các sáng tác giai đoạn sau như: Giọt máu chung tình (1926) của Tân Dân Tử, Việt Nam Lê Thái Tổ (1929) của Nguyễn Chánh Sắt,
Trang 34Nam cực tinh huy (1924) của Hồ Biểu Chánh, Việt Nam anh kiệt (1927), Việt Nam Lý trung hưng (1929) của Phạm Minh Kiên Tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ đã dẫn
đầu trên tất cả mọi phương diện, từ nội dung cho đến hình thức và những ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội so với mặt bằng sáng tác chung của cả nước cùng một giai đoạn Ngoài ra, các tác giả viết tiểu thuyết lịch sử đã xác lập được một số vấn đề lý luận thuộc về đặc trưng cùng chức năng của thể loại qua các lời tựa, lời bạt của các tác phẩm Những phát biểu này có ảnh hưởng lớn đến những sáng tác cùng khuynh hướng trong giai đoạn 1930 - 1945 về đề tài và cảm hứng
Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhy đăng trên Công Luận Báo năm 1921
được xem là cuốn tiểu thuyết mở đầu cho khuynh hướng trinh thám võ hiệp ở Nam Bộ và cả nước Sau này, Phú Đức là tác giả có duyên hơn cả, với hàng loạt
tác phẩm dài hơi như: Châu về hiệp phố (1926), Lửa lòng (1926), Tiểu anh hùng
Võ Kiết (1928), Non tình biển bạc (1929) mang màu sắc và đặc điểm của tiểu
thuyết trinh thám võ hiệp Bên cạnh Phú Đức, nhà văn Bửu Đình, Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên cũng xây dựng tác phẩm của mình ít nhiều có màu sắc của tiểu thuyết trinh thám võ hiệp, khi trong tác phẩm của họ nhấn mạnh đến quá trình phiêu lưu mạo hiểm của các nhân vật cùng những tình tiết bí mật, bất ngờ trong cốt truyện Hướng khai thác cốt truyện phiêu lưu mạo hiểm đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể Các tác phẩm đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo công chúng độc giả Nam Bộ
Khuynh hướng tiểu thuyết phong tục xã hội đã ghi nhận Hồ Biểu Chánh như một chủ soái, khi trong vòng chưa đầy 20 năm đã có 24 cuốn tiểu thuyết được xuất bản, một số cuốn được phóng tác thành công từ tiểu thuyết Pháp, bên cạnh một số sáng tác thực thụ Có thể kể một số tác phẩm đã làm nên tên tuổi
ông như: U tình lục (1910), Ai làm được (1912), Chúa tàu Kim Qui (1913) (phóng tác theo La Comte de Monte Cristo của A Dumas), Cay đắng mùi đời (1923) (theo Sans famille của H Malot), Nhơn tình ấm lạnh (1925), Tiền bạc bạc tiền
Trang 35(1925), Thầy thông ngôn (1926) (theo Les amours d ûEstève của A Theuriet),
Ngọn cỏ gió đùa (1926) (theo Les misérables của V Hugo), Chút phận linh đinh
(1928) (theo En Famille của H Malot), Kẻ làm người chịu (1928), Vì nghĩa vì tình
(1929) Ngoài ra ở khuynh hướng tiểu thuyết phong tục xã hội còn phải kể thêm các tác giả và tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm cho bức tranh tiểu
thuyết như: Tình kế màu nhiệm (1926), Bình vỡ gương tan (1927) của Dương Minh Đạt; Lòng người nham hiểm (1926), Tài mạng tương đố (1927) của Nguyễn Chánh Sắt; Danh lợi (1928) của Lê Chơn Tâm; Tấm lòng nghĩa hiệp (1929) của
Lê Bảo Quang Bên cạnh đó, khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý tình cảm xuất hiện đã góp phần làm đa dạng cho diện mạo của tiểu thuyết Nam Bộ
Khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý tình cảm đã thể hiện mối quan tâm của các tác giả tới vấn đề quan hệ tình cảm giữa các cá nhân con người, vấn đề hôn nhân gia đình dưới tác động của các nhân tố xã hội và quan niệm luyến ái mới Chính hơi thở của thời đại cùng những ảnh hưởng của các luồng văn hoá bên ngoài đã phả vào tâm thức con người những luồng gió rung cảm vượt ngưỡng định chế của lễ giáo cũ đang đè nặng lên tình cảm thiêng liêng của con người Ý
thức cởi trói thể hiện trong sáng tác nhiều khi quá mạnh bạo Một số tác phẩm thể hiện sự phá phách các lề lối cũ đã không được chấp nhận như tác phẩm Hà
Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu Hà Hương phong nguyệt đã công nhiên
miêu tả chuyện tính dục, được đăng lần đầu trên báo Nông Cổ Mín Đàm năm
1912, nhà in Nguyễn Văn Viết xuất bản năm 1915 đã gây tiếng vang lớn giữa lòng xã hội giao thời Nam Bộ, khiến cho nhiều cuộc tranh luận xẩy ra trên báo
chí đương thời Hà Hương phong nguyệt cuối cùng bị chính quyền thuộc địa tịch thu và cấm lưu hành Về sau Hà Hương hoa nguyệt của Nam Tùng Tử cũng miêu tả chuyện tính dục nhưng không thành công bằng Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu, nhất là về thời điểm ra đời Hà hương phong nguyệt ra đời sớm, gây
nên hiệu ứng xã hội rộng lớn và mạnh mẽ hơn Sau những thử nghiệm táo bạo,
Trang 36các ngòi bút buổi đầu đã có những điều chỉnh cho hợp với tâm lý người đọc còn
chuộng đạo lý cổ truyền Các nhà văn thể hiện thái độ dung hoà cũ - mới trên
phương diện tình cảm cá nhân con người Thái độ dung hoà có thể thấy qua các
tác phẩm: Biển tình chìm nổi (1925) của Trần Ngọc Minh; Gương rã bèo tan (1929) của Cao Ngươn Ngọc; Giọt lệ phòng đào (1928) của Nguyễn Thị Thanh
Hà; và trong một số sáng tác của Hồ Biểu Chánh v.v…
1.2.2 Những thành tựu chủ yếu của tiểu thuyết Nam Bộ từ 1930 đến 1945
Giai đoạn từ năm 1930 cho đến 1945, tiểu thuyết ở Nam Bộ như một anh chàng khổng lồ ngày càng đuối sức trên chặng đường dài sau khi đã có những đột phá Về đội ngũ cầm bút, ngoài các cây bút đã có vị trí chắc chắn trên văn đàn trước đó, một số gương mặt trẻ xuất hiện sau năm 1930 đã sớm khẳng định phong cách như: Phan Huấn Chương, Nguyễn Bửu Mộc, Dương Quang Nhiều, Đào Thanh Phước, Nguyễn Bá Thời, Nguyễn Thới Xuyên, và một cây bút rồi mai đây lịch sử văn học sẽ ghi nhận như một “Ngô Tất Tố của Miền Nam” [85] là Phi Vân
Về khuynh hướng sáng tác, tiểu thuyết giai đoạn này vẫn tiếp tục mạch vận động của các khuynh hướng trước đó
Văn học Nam Bộ cho thấy sự được mùa của tiểu thuyết lịch sử khi chỉ trong vòng khoảng 3 năm từ 1930 đến 1933 đã có khoảng 9 bộ tiểu thuyết, một số cuốn có dung lượng từ vài trăm đến năm trăm trang Nối tiếp các tác phẩm mở
đầu như: Nam cực tinh huy (1924), Việt Nam anh kiệt (1926), Giọt máu chung tình (1925), Tiểu anh hùng Võ Kiết (1929), Việt Nam Lê Thái Tổ (1929), các tác phẩm mới xuất bản như: Gia Long phục quốc (1930), Hoàng Tử Cảnh như Tây (1931),
Gia Long tẩu quốc (1932) của Tân Dân Tử; Lê triều Lý thị (1931), Tiền Lê vận mạt (1932), Việt Nam Lý Trung Hưng (1932), Trần Hưng Đạo (1933) của Phạm
Minh Kiên; Nặng gánh cang thường (1930) của Hồ Biểu Chánh; Óan lớn bằng
Trang 37trời (1931) của Nguyễn Bá Thời… đã làm cho tiểu thuyết lịch sử thêm phần
phong phú So với tiểu thuyết lịch sử ở miền Bắc cùng một giai đoạn với các tác giả: Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Nhật Quang, Đinh Gia Thuyết, Đào Trinh Nhất, Lan Khai, Khái Hưng, Phan Trần Chúc thì tiểu thuyết lịch sử ở Nam Bộ quả là đã có những đóng góp đáng kể cho quá trình hiện đại hóa văn học Tiểu thuyết lịch sử Nam Bộ đã bổ sung và làm phong phú cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam ở việc tái dựng lại hình ảnh những nhân vật có quan hệ đến mảnh đất phương Nam trong một giai đọan lịch sử đầy biến động và bi thương của dân tộc Chính hiện thực cuộc sống đấu tranh sôi động của nhân dân Nam Bộ đã tiếp sức cho khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử phát triển và đạt được những thành tựu nhất định Hơi thở đời sống từ các cuộc nổi dậy của Phan Xích Long (1913), các cuộc bãi công của công nhân nhà máy Ba Son (1912), các cuộc xuống đường đòi thả chí sĩ Phan Bội Châu (1925), rồi đám tang Phan Chu Trinh (1926), sự ra đời của Đảng Cộng sản (1930) đã phả vào đời sống văn học một luồng không khí mới và làm tỉnh hẳn bộ mặt xã hội Việt Nam Những người cầm bút ở Nam Bộ nhận thấy cần có những tác phẩm nói lên được khát vọng của cả một dân tộc muốn tìm lại “hồn nước”, đã một thời được cất lên từ các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX Các nhà văn lấy chuyện lịch sử ngày xưa để nêu những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc đã cho thấy một phương thức khôn ngoan và hiệu quả Tiểu thuyết lịch sử vừa đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thời đại và thời cuộc vừa tránh được lưỡi kéo kiểm duyệt khắt khe của kẻ thù Ngoài ra, tiểu thuyết lịch sử còn thể hiện ý thức phản kháng của các nhà văn đối với một số tiểu thuyết Tàu được dịch qua tiếng Việt có nội dung không mấy lành mạnh, đã cướp đi số đông độc giả bấy giờ Ý thức phản kháng được các nhà văn phát biểu trực tiếp qua các lời tựa, hay gián tiếp qua nội dung của tác phẩm với mong muốn đồng bào lánh xa những điều nhảm nhí, mê tín dị đoan, để cho dân trí kịp duy tân Tiểu thuyết lịch sử thực sự đã có những đóng góp quan trọng không chỉ ở phương diện phát triển, đa dạng
Trang 38hoá thể loại tiểu thuyết mà còn ở phương diện tạo nên hiệu ứng xã hội Tiểu thuyết lịch sử là những tiếng kèn xung trận, lay động, nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc Cùng với tiểu thuyết lịch sử của miền Bắc, khuynh hướng tiểu thuyết này ở Nam Bộ đã trở thành một bộ phận văn học yêu nước công khai đầu thế kỷ XX Như chúng ta thấy, khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử ra đời và phát triển xuất phát từ những yêu cầu của đời sống, từ yêu cầu của quá trình hiện đại hoá văn học, đồng thời nó cũng quay trở lại tác động, khích lệ tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân Đó là những thành tựu có thật, những đóng góp quý báu, đáng trân trọng và đáng ghi nhận
Bên cạnh khuynh hướng lịch sử, khuynh hướng tiểu thuyết phong tục xã hội vốn là một thế mạnh của vùng văn học này trước đó, đến nay càng có cơ hội để khẳng định trước một đời sống ngày càng đa diện và đầy biến động Hiện thực của xã hội Nam Bộ trong vòng xoáy của chu trình khai thác thuộc địa và cuộc khủng hoảng kinh tế những năm đầu thế kỷ XX là mảnh đất màu mỡ cho tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh vẫn là cây bút có sức bền bỉ, dẻo dai trên địa hạt tiểu thuyết phong tục xã hội khi có 28 cuốn tiểu thuyết được xuất bản, bộ nào cũng có
dung lượng lớn, có thể kể: Con nhà nghèo (1930), Con nhà giàu (1930), Ở theo
thời (1935), Ông Cử (1935), Một đời tài sắc (1935), Cười gượng (1935), Dây oan
(1935), Thiệt giả, giả thiệt (1935), Nợ đời (1935), Khóc thầm (1935), Đóa hoa tàn (1936), Tỉnh mộng (1936), Lạc đường (1937), Từ hôn (1937), Tân Phong nữ sĩ (1937), Lời thề trước miễu (1938), Tại tôi (1938), Bỏ chồng (1938), Ý và tình (1942), Bỏ vợ (1938), Người thất chí (1939), Tìm đường (1939), Hai khối tình (1939), Đoạn tình (1939), Ái tình miếu (1941), Cư kỉnh (1941), Mẹ ghẻ con ghẻ
(1943) Những tác phẩm này cho thấy sự trưởng thành của ngòi bút Hồ Biểu Chánh so với thời kỳ trước Hồ Biểu Chánh đã từ bỏ lối mô phỏng tiểu thuyết nước ngoài để xác lập một phong cách của riêng ông Ngòi bút họ Hồ hầu như đã chạm được đến nhiều vấn đề nóng bỏng: từ các mối quan hệ trong gia đình cho
Trang 39đến xã hội, vấn đề sức mạnh của đồng tiền, của các thế lực thống trị bóc lột trong xã hội, sự bần cùng của vô số kiếp người với bao hệ luỵ khác nhau hay sự tha hoá về mặt đạo đức của từng cá nhân con người trong xã hội v.v Nghệ thuật tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã có nhiều biến chuyển theo hướng ngày càng cách tân, hiện đại hoá, nhằm chuyển tải được nội dung hiện thực phong phú và tư tưởng của thời đại Cùng với Hồ Biểu Chánh, cây bút Việt Đông cũng đã chứng
tỏ sự trưởng thành qua các tiểu thuyết: Ai lỗi ba sinh (1931), Trường huyết chiến (1932), Trong ngọc trắng ngà (1932), Ngọc nát hoa tươi (1932)
Một số cây bút trẻ mới xuất hiện trên văn đàn Nam Bộ khoảng sau năm
1930 cũng đã tự khẳng định bằng các sáng tác khá đặc sắc Thế hệ nhà văn xuất hiện giai đoạn về sau có lợi thế ở chỗ đã kế thừa được những kinh nghiệm thuộc về kỹ thuật viết và truyền thống tiểu thuyết quốc ngữ của các nhà văn tiền bối, nhưng đồng thời cũng có nhiều thách thức lớn đối với họ Các nhà văn mới phải viết khác đi nếu muốn khẳng định vị trí, chỗ đứng trên văn đàn Những tác phẩm
đã làm nên diện mạo và vị trí của các cây bút trẻ có thể kể như: Hòn máu bỏ rơi (1932) giải thưởng của báo Đuốc Nhà Nam, Tan tác (1939) giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn của Phan Huấn Chương; Người vợ hiền giải thưởng báo
Phụ Nữ Tân Văn của Nguyễn Thới Xuyên; Mạng nhà nghèo (1931), Hổ thầm
(1932), Kẻ oán người ưng (1932), Chị em bạn dâu (1933) của Nguyễn Bửu Mộc;
Nước đời lắm nỗi (1932) của Đào Thanh Phước; May nhờ rủi chịu (1932), Gả hay bán (1933), Khác máu tanh lòng (1933), Nhà giàu kén rể (1933), Sẽ về ai? (1933)
của Ngọc Sơn; Oán lớn bằng trời (1931), Say tình quên nghĩa (1932), Âm thầm (1939) của Nguyễn Bá Thời; Đồng quê (1943) của Phi Vân Nhà văn Phú Đức
đang thống lĩnh địa hạt tiểu thuyết trinh thám võ hiệp, cũng ghé qua khuynh
hướng phong tục xã hội bằng tác phẩm Đau đớn phận nghèo (1934) Qua tiểu thuyết Đau đớn phận nghèo đã cho thấy Phú Đức không chỉ là nhà văn có biệt tài
miêu tả những cuộc phiêu lưu võ hiệp của những nhân vật thuộc tầng lớp trung
Trang 40và thượng lưu, mà còn có mối đồng cảm với nhiều cảnh đời thấp cổ bé họng
trong xã hội Đau đờn phận nghèo đã tạo được nhiều xúc động, cảm thương từ
phía người đọc Nếu tiếp tục mảng đề tài này chắc chắn Phú Đức sẽ có nhiều thành tựu mới hơn nữa Đáng tiếc là Phú Đức không viết thêm
Như đã trình bày, các nhà văn trẻ mới xuất hiện một mặt có những sáng tạo bứt phá riêng về mặt nghệ thuật, nhưng mặt khác lại chịu ảnh hưởng từ cây đại thụ Hồ Biểu Chánh ở một số phương diện, dễ thấy nhất là ở mặt đề tài, thể hiện qua nội dung của các tác phẩm Chính những ảnh hưởng từ Hồ Biểu chánh đã đưa lại cho họ những thành công nhất định
Mảng tiểu thuyết phong tục xã hội đã góp phần tạo nên những thành tựu và đóng góp của tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn này khi đi vào khắc hoạ diện mạo hiện thực cuộc sống bề bộn cùng tình cảm của người dân miền Nam những năm trước Cách mạng Tháng Tám Nội dung tiểu thuyết đã chuyển tải và khắc hoạ được nhiều hoàn cảnh, số phận của con người dưới sự áp bức, bóc lột của chế độ thuộc địa và trong sự tha hoá của đồng tiền Các tiểu thuyết thuộc khuynh hướng phong tục xã hội ở Nam Bộ, nếu được đem so sánh với các tác phẩm hiện thực phê phán của miền Bắc, chắc chắn không hề thua kém trong việc tái hiện đời sống xã hội qua nội dung cũng như những đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Khuynh hướng tiểu thuyết phong tục xã hội đã đem đến cho bộ mặt tiểu thuyết của Việt Nam đầu thế kỷ XX một tiếng nói đa âm và đa sắc trên phương diện khái quát, tái hiện lại đời sống và hơi thở của vùng đất mới Nam Bộ
Phú Đức là đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng tiểu thuyết trinh thám võ hiệp, sau khi khẳng định được tên tuổi trên văn đàn với nhiều bộ tiểu thuyết liên hoàn, dài hơi trước đó, nay càng khẳng định thêm sức viết và tài năng qua các
bộ: Chẳng vì tình (1930), Căn nhà bí mật (1931), Trần Trung tuấn kiệt (1931), Tôi
có tội (1935), Bà chúa đền vàng (1939) Các tiểu thuyết này vẫn trung thành với
tinh thần của các tiểu thuyết xuất bản trước 1930 ở chỗ, nội dung chứa đựng