LỜI CÁM ƠN Sau thời gian học tập và nghiên cứu, chúng tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài : Tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt với « hiện tượng láy nghĩa » trong tiế
Mục đích nghiên cứu đề tài
Các từ Hán khi được tiếp nhận vào tiếng Việt đã trải qua quá trình Việt hóa mạnh mẽ, hình thành nên lớp từ Hán Việt Nghĩa của các từ Việt thường cụ thể, rõ ràng và gần gũi với người sử dụng, trong khi nghĩa của từ Hán Việt lại có phần trừu tượng và mang tính ngoại lai.
Đơn vị gốc Hán đã đóng góp tích cực vào việc hình thành kho từ vựng phong phú của tiếng Việt, nhưng cũng cần nhận thức rằng sự hiện diện của chúng có thể gây cản trở cho quá trình chuẩn hóa và phát triển ngôn ngữ này.
Trong quá trình học tập và giảng dạy tiếng Việt, chúng ta thường gặp phải những vấn đề cần giải thích liên quan đến đơn vị gốc Hán, như cấu tạo từ mới và hiện tượng đồng nghĩa, đồng âm Đặc biệt, hiện tượng kết hợp giữa yếu tố gốc Hán và yếu tố Việt đồng nghĩa, tạo ra tổ hợp láy nghĩa Hán – Việt, ngày càng trở nên phổ biến và gây ra nhiều ý kiến trái chiều cần được thảo luận.
Người Việt có khả năng sử dụng đúng nghĩa các từ Hán Việt, nhưng không phải ai cũng hiểu hết các yếu tố Hán Việt trong tổ hợp láy nghĩa Nghiên cứu hiện tượng láy nghĩa Hán – Việt sẽ giúp đưa ra những kết luận thống nhất và thỏa đáng, đồng thời góp phần tích cực vào quá trình chuẩn hóa tiếng Việt trong hiện tại và tương lai.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ mang lại những ý nghĩa thiết thực về mặt thực tiễn và khoa học sau:
3.1 Về mặt ý nghĩa thực tiễn
Luận văn này hỗ trợ việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt, đồng thời nâng cao ý thức sử dụng ngôn ngữ dân tộc Nó cũng tạo nền tảng khoa học cho việc bảo tồn, phát triển và chuẩn hóa tiếng Việt.
3.2 Về mặt ý nghĩa khoa học
Chúng tôi mong muốn làm rõ khái niệm vay mượn trong việc tiếp nhận và cải tạo ngôn ngữ dân tộc, đồng thời cung cấp thêm tư liệu và lý thuyết về tiếp xúc ngôn ngữ, đặc biệt là tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt.
Lịch sử nghiên cứu đề tài
Các từ gốc Hán và từ Hán Việt đóng vai trò quan trọng trong từ vựng tiếng Việt Nhờ vào lịch sử và địa lý, tiếng Việt đã tiếp xúc với tiếng Hán từ lâu, trải qua nhiều giai đoạn và con đường khác nhau, dẫn đến sự ảnh hưởng lẫn nhau mạnh mẽ giữa hai ngôn ngữ.
Năm 1912, H Maspero đã chỉ ra rằng hơn 60% vốn từ tiếng Việt có nguồn gốc Hán, và con số này hiện nay đã tăng lên đáng kể Sự quan tâm đến nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt ngày càng gia tăng, với công trình của Hồ Lê về “Qui luật ngôn ngữ” định nghĩa rõ ràng vấn đề này Trong “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nguyễn Tài Cẩn đã phân tích lớp từ gốc Hán từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ pháp Nguyễn Thiện Giáp cũng đã giới thiệu về từ gốc Hán trong “Từ vựng học tiếng Việt”, trong khi Lê Đình Khẩn đề cập đến từ đơn, từ ghép, ngữ cố định, hư từ gốc Hán và quá trình Việt hóa trong “Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt”.
Nhiều chuyên luận, bài viết và luận văn thạc sĩ, tiến sĩ đã đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu vốn từ Hán Việt Tác giả Nguyễn Tài Cẩn đã thảo luận về sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong bài viết “Tiếng Việt, chữ Việt trên quá trình tiếp xúc với tiếng Hán, chữ Hán” đăng trên Nghiên cứu nghệ thuật, số 7, 1981 Đồng thời, tác giả Lê Đình Khẩn cũng đã có nhiều nghiên cứu sâu sắc về từ vựng trong lĩnh vực này.
Hán Việt mang đến cái nhìn đa dạng về việc sử dụng, học tập và nghiên cứu từ Hán Việt, đặc biệt là trong lớp từ gốc Hán trong tiếng Việt.
KHXH, số 23, 1995; “Vấn đề chuẩn hóa các từ đồng nghĩa Việt – Hán”,
Ngôn ngữ và đời sống, số 12, 1997, cùng với số 7, 2000, đã đề cập đến ý nghĩa Việt hóa của từ Hán Việt Bài nghiên cứu “Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á” của tác giả Phan Ngọc, xuất bản trong Những vấn đề lịch sử - văn hóa Đông Nam Á, Viện Đông Nam Á, Hà Nội, 1983, khẳng định giá trị và nét đặc sắc của hiện tượng giao thoa ngôn ngữ Ngoài ra, các công trình của Đặng Đức Siêu, đặc biệt là “Từ Hán Việt nhìn từ góc độ tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa” (Ngôn ngữ, 1989), cũng góp phần làm rõ vấn đề này.
Nhà ngôn ngữ học N V Xtankêvich đã nghiên cứu về "Hiện tượng giao thoa từ ngữ pháp tiếng Hán sang ngữ pháp tiếng Việt" trong tác phẩm "Những vấn đề ngôn ngữ về các ngôn ngữ phương Đông" xuất bản năm 1986 tại Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Tác giả Nhất Chi Mai cũng đã đóng góp với bài viết "Dạy và học các từ Hán Việt đồng âm, đồng nghĩa" đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, năm 1990 Ngoài ra, tác giả Nguyễn Ngọc Trâm cũng đã thực hiện nghiên cứu về các từ Hán Việt.
Hán Việt đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển từ vựng tiếng Việt hiện nay, như được nêu trong bài viết "Hán Việt trong sự phát triển từ vựng tiếng Việt giai đoạn hiện nay" đăng trên Ngôn ngữ, số 5, 2000 Tác giả Nguyễn Văn Tu cũng đã đề cập đến vấn đề này trong cuốn sách "Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại", xuất bản năm 1976 bởi NXB ĐH và TH chuyên nghiệp.
Dựa trên những thành tựu của các nghiên cứu trước, công trình của chúng tôi làm rõ bản chất của "hiện tượng láy nghĩa" thông qua các quy luật cơ bản của lý luận tiếp xúc ngôn ngữ.
Hướng tiếp cận tư liệu để thực hiện đề tài
5.1 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:
Bài viết này mô tả cấu tạo và phân tích ngữ nghĩa của lớp từ khảo sát, đồng thời áp dụng phương pháp thống kê để tra cứu từ điển và nguồn ngữ liệu Mục tiêu là thống kê số lượng đơn vị từ láy nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Hán - Việt.
Phương pháp so sánh sẽ góp phần tìm ra giải pháp cho vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt
5.2 Nguồn tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu
Nguồn tài liệu tham khảo chính của đề tài bao gồm các nghiên cứu và văn bản khoa học từ các nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước, liên quan đến tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt và hiện tượng láy nghĩa giữa từ Hán và từ Việt.
Nguồn dữ liệu trong luận văn bao gồm các trích dẫn từ các trang báo mạng như Dân trí, Ngôi sao, VN Express, Người lao động, Tuổi trẻ, cùng với tạp chí Ngôn ngữ, ca dao, tục ngữ, các tác phẩm văn học, tư liệu từ sách giáo khoa lớp 10-11, Từ điển tiếng Việt, Từ điển Hán Việt, và lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhiều đối tượng thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội.
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
SƠ LƯỢC VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ HÁN – VIỆT
Chương này tạo cơ sở lí luận cho việc triển khai chương 2 và chương 3 Gồm các nội dung chính sau:
1.1 Khái ni ệm về tiếp xúc ngôn ngữ
1.2 K ết quả của quá tr ìmh ti ếp xúc ngôn ngữ
1.3 Ti ếp xúc ngôn ngữ Hán - Vi ệt
MỘT SỐ HÌNH THỨC “LÁY” TRONG TIẾNG VIỆT
Chương này tạo cơ sở lí luận cho các nội dung của chương 3, gồm các nội dung chính sau:
2.1 Khái ni ệm về láy
2.3 Láy ngh ĩa v à các hình th ức láy nghĩa
“HIỆN TƯỢNG LÁY NGHĨA HÁN - VIỆT”
Chương 3 gồm các nội dung chính sau:
3.1 Khái ni ệm “láy nghĩa Hán - Vi ệt”
3.2 Các d ạng “láy ngh ĩa Hán – Vi ệt” thường gặp
3.3 Nh ững nguy ên nhân d ẫn đến “hiện tượng láy nghĩa Hán - Vi ệt” 3.4 Đánh giá và những khuyến cáo về “hiện tượng láy nghĩa Hán – Vi ệt”
SƠ LƯỢC VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ HÁN – VIỆT
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ
“Tiếp xúc ngôn ngữ” là thuật ngữ ngôn ngữ học chỉ hiện tượng phổ biến khi con người sử dụng hai hoặc nhiều ngôn ngữ đồng thời Hiện tượng này xuất hiện do song ngữ hoặc đa ngữ, thường liên quan đến các nguyên nhân như địa lý, chính trị, kinh tế, lịch sử và văn hóa.
Tiếp xúc ngôn ngữ đề cập đến sự ảnh hưởng và tác động giữa các ngôn ngữ khác nhau, với mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Ngôn ngữ có trình độ phát triển cao hơn thường chiếm ưu thế trong quá trình này Hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ thể hiện rõ qua việc vay mượn từ ngữ và các phương thức cấu tạo từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.
1.2 KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC NGÔN NGỮ
Lí thuyết về “tiếp xúc ngôn ngữ” đã có mầm mống lâu dài và được nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước nghiên cứu, như L.V Scerbe,
Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa ngôn ngữ A và ngôn ngữ B rất đa dạng, có thể hình dung bằng hai hình tròn đại diện cho hai ngôn ngữ Các tình huống xảy ra trong quá trình này sẽ thể hiện sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng.
1.2.1 A và B có sự “giao thoa”, nghĩa là giữa chúng có ảnh hưởng qua lại hai chiều: A vay mượn từ ngữ của B và ngược lại (xem hình 1.1) hình 1.1
Hình 1.1 cho thấy sự hiện diện của B’ trong A và A’ trong B, thể hiện xu hướng đồng hóa giữa A và B A’ và B’ là những đơn vị ngôn ngữ kết hợp đặc điểm của cả hai, A và B.
Trong các ngôn ngữ Đông Á, tiếng Hán và tiếng Nhật là những ví dụ tiêu biểu cho sự tiếp xúc ngôn ngữ Từ thời kỳ trung đại trở về trước, người Nhật đã vay mượn nhiều từ đơn Hán thông qua chữ Hán để làm phong phú thêm cho ngôn ngữ của mình.
Trong thời kỳ cận đại và hiện đại, người Hán đã vay mượn nhiều từ ghép và thuật ngữ từ tiếng Nhật để làm phong phú thêm cho tiếng Hán Chẳng hạn, từ "cách mạng" trong tiếng Hán là một từ mượn từ tiếng Nhật.
"Cách" và "mạng" là hai từ mà tiếng Nhật đã mượn từ tiếng Hán Người Nhật đã sử dụng những từ này để dịch nghĩa mới, thực hiện việc dịch trực tiếp từ các từ gốc.
“revolution” (cách mạng) trong tiếng Anh Người Nhật dùng chữ Hán để tự tạo ra hoặc dịch những từ ngữ Ấn - Âu, sau đó tiếng Hán mượn trở lại
Những từ này được hình thành từ chữ Hán, thể hiện sự vay mượn công bằng giữa hai ngôn ngữ, mang lại lợi ích cho cả hai bên mà không có sự áp đảo.
Tiếng Việt đã tiếp nhận nhiều từ ngữ từ các ngôn ngữ phương Tây thông qua hình thức phiên âm và dịch nghĩa, như quán ba, vũ ba lê, nhà ga, fan hâm mộ, xe taxi, xe buýt, hi xin chào Những từ này được mượn nguyên âm và nghĩa từ tiếng Anh, Pháp như bar, ballet, gare, fan, taxi, bus, hi và trở nên phổ biến trong đời sống hàng ngày Hình thức vay mượn này không chỉ thể hiện sự Việt hóa tích cực mà còn đáp ứng nhu cầu bổ sung nghĩa cho từ mượn, giúp giải quyết hiện tượng tối nghĩa trong các từ vay mượn.
1.2.2 A lấn lướt và thôn tính B (xem hình 1.2)
Khi ngôn ngữ A có lợi thế trong mọi điều kiện tiếp xúc, nó có khả năng lấn át ngôn ngữ B, thậm chí có thể dẫn đến việc xóa sổ ngôn ngữ B trên chính mảnh đất và dân tộc đã sản sinh ra nó Tình trạng này cũng xảy ra với ngôn ngữ của các dân tộc chậm phát triển ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh và Châu Úc, khi ngôn ngữ của các nước thực dân mạnh như Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha xuất hiện và chiếm ưu thế.
Trong các quốc gia đa dân tộc với nhiều ngôn ngữ khác nhau, thường có một ngôn ngữ được công nhận là "tiếng phổ thông" hay "quốc ngữ" Ngôn ngữ này dần dần chiếm ưu thế và có khả năng thay thế các ngôn ngữ khác Thời gian để sự thay thế này diễn ra có thể kéo dài từ vài trăm năm đến lâu hơn, tùy thuộc vào sức sống và truyền thống của từng dân tộc.
Trung Quốc là quốc gia đa dạng với hơn 50 dân tộc và nhiều ngôn ngữ phong phú Tuy nhiên, hiện nay, nhiều ngôn ngữ trong số đó đã bị mai một hoặc chỉ còn tồn tại như một hình thức bảo tồn văn hóa Sự phát triển của tiếng Hán đã khiến cho các ngôn ngữ dân tộc khác phải nhường chỗ.