1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao dân ca nam bộ từ năm 1975 2005

161 51 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao - dân ca Nam Bộ từ năm 1975 – 2005
Tác giả Nguyễn Lê Thu Lan
Người hướng dẫn Tiến sĩ Lê Văn Chưởng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia TP.HCM
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 14,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó luận văn trình bày những nhận xét về số lượng ca dao- dân ca đã sưu tầm và về những nội dung của các công trình đã côngbố; đồng thời cũng cung cấp những thông tin cho độc giả cùng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGỮ VĂN VÀ BÁO CHÍ

NGUYỄN LÊ THU LAN

TÌM HIỂU NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

CA DAO- DÂN CA NAM BỘ

TỪ NĂM 1975 – 2005

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 5.04.33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TIẾN SĨ LÊ VĂN CHƯỞNG

Thành phóa Hồ Chí Minh- 2007

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn:

 Tiến sĩ Lê Văn Chưởng

Đã hướng dẫn cho tôi

 Các Thầy Cô Khoa Ngữ Văn và Báo Chí

Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn,

Đại Học Sư Phạm Thành phóa Hồ Chí Minh

Đã cung cấp cho tôi vốn kiến thức quý báu trong suốt những năm học tại đây

 Thư viện Khoa học Tổng Hợp Thành phóa Hồ Chí Minh,

An Giang, Bến Tre, Sở Văn hóa Thông Tin Bến Tre, Thư viện

Khoa học Xã hội Thành phóa Hồ Chí Minh

và Thư viện Trường Khoa học Xã hội Nhân văn

Đã cung cấp cho tôi những tư liệu quý giá

 Cùng gia đình, bạn bè …

Đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều

trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng- phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu .9

5 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ- XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CA DAO-DÂN CA TRƯỚC NĂM 1975 11

1.1 Đôi nét về bối cảnh lịch sử- xã hội Nam Bộ từ giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XXI 11

1.2 Tình hình nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ từ năm 1975 trở về trước 16

1.3 Tiểu kết 27

Chương 2: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CA DAO- DÂN CA NAM BỘ

(1975- 2005) 28

2.1 Những công trình tiếp cận nghiên cứu từ góc độ ca dao- dân ca 29

2.2.Những công trình tiếp cận nghiên cứu từ góc độ dân ca 50

2.3 Tiểu kết 61

Chương 3: NỘI DUNG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CA DAO

DÂN CA NAM BỘ (1975- 2005) 62

3.1 Tiếp cận từ góc độ lịch sử- xã hội- văn hóa 62

3.2 Tiếp cận từ góc độ thi pháp ca dao 64

3.3 Tiểu kết 123

KẾT LUẬN 125

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

PHỤ LỤC 150

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn học dân gian Nam Bộ nói chung từ năm 1975 trở về trước cũng có một số tác giả quan tâm nghiên cứu nhưng chỉ rải rác trên tạp chí còn sách thì ít ỏi Riêng về ca dao- dân ca cũng vậy trong số những bài báo- sách viết về ca dao- dân ca Nam Bộ chưa nhiều có thể đơn cử một số công trình tiêu biểu như: “Ca dao giảng luận” của Thuần Phong, năm 1958; “Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao” của Đào Văn Hội, năm 1961; “Tính cách đặc thù của ca dao miền Nam”(Tiểu luận Cao học) của Nguyễn Kiến Thiết, năm 1972

Từ năm 1975 đến năm 2005 nhiều bài viết đã đăng trên các tạp chí, nhiều công trình xuất bản thành sách do cá nhân hoặc tập thể cán bộ và sinh viên của các trường Đại học trên địa bàn Nam Bộ được công bố rộng rãi trong và ngoài nước Trong ba mươi năm ấy, đã có một khóai lượng công trình nghiên cứu lớn, nhỏ được công bố rất phong phú và đa dạng nhưng chưa có một công trình tổng hợp về những thành tựu ấy Vì vậy, đề tài “Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ từ năm

1975 đến 2005” là tổng kết khóai lượng các công trình đã xuất bản thành sách và các công trình đã đăng trên các tạp chí- báo về ca dao- dân ca Nam Bộ Từ đó luận văn trình bày những nhận xét về số lượng ca dao- dân ca đã sưu tầm và về những nội dung của các công trình đã côngbố; đồng thời cũng cung cấp những thông tin cho độc giả cùng học viên cao học cũng như Nghiên cứu sinh trong việc chọn lựa đề tài

Với nhiệm vụ và mục đích nêu trên, luận văn hy vọng đáp ứng một phần nào trong nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ nhằm bảo tồn và phát huy những đặc trưng của bản sắc văn hoá Nam Bộ trong giai đoạn hội nhập quốc tế

Trang 6

và các bài viết trong tạp chí, báo cho đến cả mục lục, hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy công trình nghiên cứu tổng thuật về ca dao- dân ca Nam

Bộ Vì vậy, lịch sử vấn đề này là đề cập một cách khái quát những công trình bằng sách và các bài viết trong tạp chí cũng như báo có liên quan đến ca dao- dân ca Nam Bộ đã được công bố trước năm 1975 và từ sau năm 1975 đến 2005

2.1 Từ trước năm 1975

Khi đề cập đến lịch sử sưu tầm và nghiên cứu ca dao- dân ca ở vùng đất phía Nam của Tổ quốc, thì không thể quên nhắc đến sự ra đời của ca dao- dân ca ở vùng đất này

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu về ca dao ở miền Nam cho biết rằng:

ca dao- dân ca ở vùng này xuất hiện vào khoảng năm 1658, khi mà người Việt đến sinh sống ở Mô Xoài thuộc Biên Hoà, Bà Rịa ngày nay Lúc bấy giờ ca dao chỉ lưu truyền qua đường truyền miệng không có sự ghi chép Cho đến năm 1886 tác giả Trương Minh Ký tập hợp các bài ca dao và ghi chép thành tập “Câu hát An Nam” Để minh chứng sự ra đời của công trình vừa nêu trên người viết xin điểm qua một vài tài liệu nghiên cứu về tập sách này

- Theo cuốn “Hào khí Đồng Nai” của tác giả Ca Văn Thỉnh có vài chi tiết ghi nhận chung rằng: “ Tập câu hát An Nam” của Trương Minh Ký có in

phụ trang Tuồng Kim Vân Kiều” [204, tr 53]

Trang 7

- Còn giả Bằng Giang trong cuốn “Văn học quốc ngữ Nam 1930” đã lập bảng liệt kê các công trình sưu tầm và phiên âm của Trương Minh Ký trong đó có nhắc đến tập “Câu hát An Nam” như sau: “Không có chi tiết xuất bản nào khác Cả nơi xuất bản và năm xuất bản cũng không

Kỳ1865-Chúng tôi không được thấy cuốn này.” [44, tr.121]

- Trong “Lời nói đầu”của công trình “Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh”đã ghi nhận: “Câu hát An Nam của Trương Minh (Ký?) xuất bản ở Sài Gòn, năm 1886 có thể coi là sưu tập ca dao- dân ca Nam Bộ đầu tiên”

[227, tr 5]

Ba nhận định nêu trên đều chưa có cơ sở vững chắc Tuy nhiên, chúng tôi xem xét và đối chiếu với các tư liệu có liên quan đến công trình này của ông, chúng tôi cho rằng: “Câu hát An Nam “ của Trương Minh Ký

là công trình đầu tiên đã tập hợp những tác phẩm văn học dân gian được tác giả sưu tầm và văn bản hóa bằng chữ quốc ngữ Tác giả đã bảo tồn và phát huy nền văn học dân gian của Nam Bộ và cả nước nói chung

Cùng thời với Trương Minh Ký còn kể đến Trương Vĩnh Ký, ông đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học Nam Bộ, đặc biệt là văn học dân gian mảng ca dao- dân ca Nam Bộ Có thể kể đến sưu tập “Hát, lý, hò An Nam” được viết bản thạch bằng chữ quốc ngữ vào năm 1886 Kế đó, mười hai

“Câu hát” được Trương Vĩnh Ký công bố trong cuốn Miscellanées, năm

1888, “Có thể coi là cái mốc khởi đầu của công việc sưu tầm về ca dao- dân ca Nam Bộ” [227, tr 5] Đến năm 1889, sáu “câu hát” tiếp theo ra đời Tuy nhiên chúng tôi ít thấy các bài viết nhận xét về những công trình này Đến đầu thế kỉ XX, công tác sưu tầm và nghiên cứu ca dao- dân ca ở Nam Bộ được đẩy mạnh hơn Các nhà xuất bản đã cho ra đời hàng loạt

ấn phẩm để phục vụ nhu cầu ca hát trong dân gian Tuy nhiên, việc sưu tầm và nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ lúc bấy giờ chỉ mới là bước đầu Có thể kể đến những công trình sắp in thành sách và các công trình

Trang 8

đã xuất bản bằng sách được nhiều độc giả cùng các nhà nghiên cứu đón đọc và có lời nhận xét như sau:

Vào năm 1923 ông Văn- Tư có sáng tác một quyển sách nhan đề là

“Câu hát huê tình” Đến năm 1928, ông Đinh- Thái Sơn cũng sáng tác một quyển “Câu hát huê tình” khác (Sài Gòn Xưa Nay x.b 1928) Tất cả những quyển Câu hát huê tình của các ông Văn Tư và Đinh Thái Sơn kể trên đều

đã thất lạc Hiện nay chúng tôi chỉ còn thấy quyển “Câu hát huê tình” của Đinh Thái Sơn (Bổn cũ soạn lại, Chợ Lớn, Thuận Hòa xb 1966).” [203, tr

104]

Còn tác giả Huỳnh Ngọc Trảng thì cho rằng:

Các sưu tập ca dao- dân ca cũng được xuất bản ngày càng nhiều hơn (…) Việc xuất bản các sưu tập như vậy vẫn còn tiếp tục mãi đến năm

1960, mặc dù sau 1945, sinh hoạt hò hát tập thể trong dân gian ở lục tỉnh Nam kỳ bắt đầu lụi dần (…) Ngoài ra, việc sưu tầm ca dao- dân ca thời kỳ này cũng bắt đầu hướng đến việc sưu tầm trong dân gian và đặt công việc này trong nỗ lực tìm hiểu văn học dân gian chung Cuốn “ Hò miền Nam”

do Lê Thị Minh sưu tầm, một trong các sưu tập của loại sách “ Văn chương bình dân” của nhà xuất bản Phạm Văn Tươi (xuất bản năm 1956)

là một ví dụ.” [227 , tr 7]

Tác giả Sơn Nam nhận xét rằng: “Nhà văn Bình Nguyên Lộc đã ra công sưu tầm ca dao miền Nam soạn thành quyển “Thổ Ngơi Đồng Nai” (chưa xuất bản.)” [122, tr 56]

Tác giả Nguyễn Kiến Thiết ghi nhận lời của ông:

Trương Văn Đức, giám đốc Nha Tiểu học cho biết vào khoảng năm

1933, ông Nguyễn Trọng Quyền tức là Mộng (?) có sưu tầm khoảng 300 câu hát huê tình và giao cho nhà Tín Đức Thư Xã xuất bản với giá 0đ60 một cuốn Hiện nay quyển sách nầy đã thất lạc, chúng tôi tìm khắp các thư viện cũng không thấy Nhưng rất may cho tiền đồ văn hóa dân tộc, ông

Trang 9

Đinh Thái Sơn đã gia công sưu tầm và sao chép được 361 câu hát huê tình do nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1966 [202, tr 78]

Với Đoàn Xuân Kiên trong “Ca dao miệt vườn” thì cho rằng:

Nói riêng về ca dao, dân ca Nam Bộ, hay nói chung vốn văn học dân gian Nam Bộ, thì công việc đang ở bước đầu thời, lại càng chưa thấy công trình sưu tập và nghiên cứu về văn học dân gian từng địa bàn hẹp hơn

trong vùng văn học dân gian rộng lớn này [83, tr 32]

Trong những bài nhận xét ấy chúng tôi xem xét, đối chiếu với tư liệu hiện có của chúng tôi và có nhận định rằng: việc xuất bản hay tái bản các sưu tập ca dao- dân ca miền Nam cần phải xem xét kỹ hơn

để có kết luận chính xác Bởi theo chúng tôi, bài viết của tác giả Nguyễn Kiến Thiết trong tập Tiểu luận Cao học của ông thì cho là:

“Câu hát huê tình” của Đinh Thái Sơn “sáng tác” vào năm 1928, theo chúng tôi là chưa chính xác mà là quyển tái bản và có thể tác giả Đinh Thái Sơn không ghi “bổn cũ soạn lại” nên độc giả nhầm chăng? Ở đây chúng tôi khẳng định rằng: “Câu hát huê tình” của Đinh Thái Sơn là quyển sưu tập xuất bản lần đầu vào năm 1915 Để minh chứng sự chính xác ấy xin xem phần Phụ lục

Nói chung, công tác sưu tầm và nghiên cứu ca dao- dân ca miền Nam trước năm 1975, bước đầu là những sưu tập có giá trị làm tiền

đề cho sự phát triển ca dao- dân ca Nam Bộ trong những năm tiếp theo

2.2 Từ sau năm 1975 đến 2005

Giai đoạn này, việc sưu tầm và biên khảo ca dao- dân ca Nam Bộ ngày càng khẳng định vị trí và tầm quan trọng trong công tác sưu tầm và nghiên cứu về ca dao- dân ca ở vùng này qua hai góc nhìn từ ca dao- dân

ca và dân ca Dưới đây luận văn xin điểm qua các bài viết nhận xét về vài công trình như sau:

Trang 10

Tác giả Đoàn Xuân Kiên trong công trình “Ca dao miệt vườn” nhận xét về công tác sưu tập và nghiên cứu về ca dao- dân ca Nam Bộ như sau:

Gần đây (1979) cán bộ Trường đại học Tổng Hợp thành phóa Hồ Chí Minh đã về sưu tập tại chỗ ca dao, dân ca địa phương như Đồng Tháp, Bạc Liêu Đó là những cơ sở vững chắc cho công việc nghiên cứu những tính cách riêng và chung của gia tài văn học dân gian từng miền, từng vùng trên cả nước.[83, tr.32]

Từ năm 1980 sưu tập “Sen Tháp Mười” của tác giả Bùi Mạnh Nhị ra mắt bạn đọc Độc giả Lê Văn Thông nhận xét tập ấy như sau:

Anh Bùi Mạnh Nhị đã cố gắng ghi lại những câu ca dao từng miền trên khắp các địa phương miền Nam, một số câu ca dao anh đã ghi cả tên tác giả Nghe đâu anh còn còn xuống tận những thôn ấp nơi sinh ra, gìn giữ và lưu truyền những câu ca dao về Bác Đấy là những cố gắng rất lớn

[208, tr 12]

Còn tác giả Hoài Anh thì cho: “Gần đây, việc sưu tầm nghiên cứu văn học ở các tỉnh miền Nam đã có khởi sắc đáng mừng Bảo Định Giang hoàn chỉnh tập ca dao Nam Bộ(…) Thuần Phong giới thiệu Hò sưu tầm ở Đồng Tháp.” [1, tr 7]

Đến năm 1997 trở đi, nhiều công trình sưu tầm và nghiên cứu về ca dao- dân ca Nam Bộ đã liên tục ra mắt độc giả như cuốn: Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long của Khoa ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ biên soạn năm 1997, Văn học dân gian Sóc Trăng &ø Văn học dân gian Bạc Liêu do tác giả Chu Xuân Diên (chủ biên) Tuy nhiên, chúng tôi ít thấy có bài viết tìm hiểu những công trình này Vì vậy, người viết chưa có

dữ liệu để điểm qua những nhận xét về lịch sử nghiên cứu

Nhìn chung, các công trình được sưu tầm và biên khảo bằng sách và trong các tạp chí, báo sau năm 1975 có sự kế thừa trước năm 1975 Từ

Trang 11

đó về sau, các công trình ngày càng tiếp tục phát huy tính bảo tồn của ca dao- dân ca Nam Bộ trong lịch sử văn học dân gian hiện nay

3 ĐỐI TƯỢNG- PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Xác định thuật ngữ “Ca dao”, “Dân ca”, “Ca dao dân ca”

Việc xác định thuật ngữ “ca dao- dân ca” trong các công trình nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ từ trước năm 1975 và sau năm

1975 đến 2005 là cần thiết, nhằm làm cơ sở cho việc thực hiện luận văn Vì vậy, chúng tôi xin nêu vài ý kiến của các nhà nghiên về vấn đề này

Còn tác giả Nguyễn Kiến Thiết định nghĩa ca dao miền Nam rằng:

Ca dao miền Nam là những câu hò, câu hát, những bản dân ca chào đời từ 300 năm qua (1658- 1954) trên những địa danh từ Biên Hòa tới Hà Tiên vừa làm chứng nhân lịch sử, vừa phản ánh những ngữ ngôn đặc biệt cũng như phong tục, sanh hoạt của người bình dân miền nam [203, tr 52]

- Sau năm 1975 đến 2005:

Tác giả Trần Kiết Tường cho rằng: “Chúng ta không nên nhầm lẫn giữa ca dao và dân ca Ca dao là thơ dân gian, còn dân ca là âm nhạc dân gian Ca dao có thể trở thành dân ca như chúng ta đã nghe và cũng có thể không thể trở thành dân ca” [SA6, tr 13- 14]

Tác giả Triều Nguyên trong “Tiếp cận ca dao phương pháp bằng xâu chuỗi” cho rằng: “Ca dao được hình thành từ dân ca Dân ca bao gồm phần lời, phần giai điệu, phương thức diễn xướng và mơi trường diễn xướng Muốn tìm hiểu ca dao, không thể không quan tâm xem xét các yếu

tố vừa kể [136, tr 13]

Trang 12

Và cách nhìn nhận của các nhà nghiên cứu hiện nay đều thóang nhất cách hiểu ca dao- dân ca chung nhất như sau:

Ca dao là lời của các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca Giữa ca dao và dân ca như vậy là khơng có ranh giới rõ rệt

Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến ca dao, người

ta nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian.[75, tr 303- 304]

Từ những cách hiểu trên có thể tóm tắt như sau:

- Ca dao là những sáng tác bằng văn vần, theo thể thơ dân gian có tính trữ tình, ngắn gọn, thường miêu tả tâm trạng, tình cảm của con người

- Dân ca là những câu hát, bài hát dân gian được kết hợp thơ với nhạc

Như vậy, thuật ngữ “Ca dao- dân ca” trong đề tài này là những bài thơ dân gian trong cách gọi ca dao hoặc dân ca nói rộng ra là những sáng tác trữ tình dân gian bằng văn vần, nhằm phản ánh tiếng nói nội tâm của con người

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng

Như đã trình bày ở trên thì đối tượng nghiên cứu của luận văn là những bài ca dao- dân ca Nam Bộ và lời thơ đã được các tác giả công bố trong các công trình bằng sách hoặc các bài viết trên tạp chí/ báo

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là những công trình xuất bản thành sách và những bài viết đã công bố trên báo và các tạp chí từ năm 1975 đến 2005 Ngoài ra trong phạm vi đề tài như đã nêu chúng tôi còn tìm hiểu các đề tài khóa luận Đại học, luận văn Thạc sĩ, luận

Trang 13

án Tiến sĩ, nhằm giúp sinh viên cũng như học viên và nghiên cứu sinh tham khảo thêm khi chọn lựa đề tài

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Những công trình nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ đã được công bố bằng sách hoặc tạp chí/ báo từ năm 1975 đến 2005 rất đa dạng về đề tài cũng như nội dung Để có những nhận xét tương đối chính xác và để nêu lên những khía cạnh còn bỏ ngỏ, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây:

4.1 Phương pháp sưu tầm thư tịch và điều tra trực tiếp

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đến các thư viện Thành phóa

Hồ Chí Minh, Bến Tre, An Giang để tìm đọc những vấn đề có liên quan đến đề tài Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hỏi các Thầy, Cô, các nhà sưu tầm nghiên cứu và bạn bè

4.2 Phương pháp thóang kê và phân loại

Sau khi đã sưu tầm, chúng tôi thóang kê các tài liệu theo thứ tự thời gian và phân loại theo từng loại hình nghiên cứu đã công bố

4.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Chúng tôi tiến hành phân tích các tài liệu đã sưu tầm theo từng loại hình nghiên cứu để nắm bắt nội dung vấn đề Sau đó, chúng tôi tổng hợp các vấn đề theo từng loại hình để từ đó hình thành những nhận xét có tính khoa học về những thành tựu nghiên cứu đã công

bố

4.4 Phương pháp miêu tả

Trong quá trình phân tích và tổng hợp các vấn đề mà các công trình

đã trình bày chúng tôi kết hợp với việc miêu tả những ý kiến ấy xoay quanh những chủ đề trong các công trình

5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm có ba chương chính

Trang 14

Chương 1: Sơ lược về bối cảnh lịch sử- xã hội và tình hình nghiên cứu ca dao-dân ca trước năm 1975

Chương 2: Tình hình nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ (1975- 2005)

Chương3: Nội dung các công trình nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ(1975- 2005)

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 15

Chương 1

SƠ LƯỢC VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ- XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CA DAO- DÂN CA NAM BỘ

TỪ TRƯỚC NĂM 1975

1.1 ĐÔI NÉT VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ- XÃ HỘI NAM BỘ TỪ GIỮA THẾ

KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XXI

Nam Bộ ngày nay là vùng đất mới của Việt Nam đã được khai khẩn hơn 300 năm Ngay từ buổi đầu vùng đất này còn hoang sơ nhưng đến nay là vùng đất trù phú Ngược dòng lịch sử tính từ năm 1658 đến 2005

đã trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển

- Năm 1695, Mạc Cửu thần phục vua Chân Lạp Sau một thời gian ở Chân Lạp, ông xin vua ra làm ăn và chọn Mang Khảm (Hà Tiên) làm nơi sinh sống, ông tập hợp những người lưu tán khắp nơi đến để khai khẩn vùng đất hoang Một vùng đất mới được hình thành đã làm nảy sinh một nền văn học dân gian mới Một vùng đất mà kênh rạch, sông ngòi ngang dọc chằng chịt, với nhiều sản vật quý, với con người liều lĩnh, ngang tàng, nghĩa khí đã nảy sinh những câu ca dao dân ca mang nét đặc thù riêng so với miền Bắc, miền Trung là vậy

Trang 16

- Sang đến năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phước Châu (Nguyễn Phúc Chu) cử làm kinh lược sứ ở Đàng Trong, ông tổ chức chia Đồng Nai thành huyện Phước Long và dinh Trấn Biên Từ đó Nam Bộ từng bước hình thành và có thêm vùng đất Gia Định

- Năm 1714, Mạc Cửu tiếp tục sát nhập Mang Khảm (tức Hà Tiên) vào Đàng Trong Lịch sử Mang Khảm sang trang mới với tên gọi là Trấn

sự hình thành văn tự chữ Hán- Nôm Tuy nhiên, nền văn học dân gian Nam Bộ vẫn giữ bản sắc dân tộc Việt đó là những câu ca dao- dân ca nối tiếp nhau ra đời bằng đường truyền miệng

1.1.2 Từ năm 1858- 1867

Giai đoạn này lịch sử- xã hội Việt Nam nói chung và cũng như Nam

Bộ nói riêng có nhiều tiến triển Sang trang mới lịch sử- xã hội của nước Việt Nam có nhiều biến động và đổi thay nên đã phản ảnh trong ca dao- dân ca Nam Bộ

- Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi lập nên triều đại Nguyễn Phước đem lại bề ngoài sự thóang nhất và thái bình Tuy nhiên, không bao lâu thì xảy ra cuộc xung đột Việt- Pháp vào năm 1858 khi liên quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng sau đó là Sài Gòn Chúng hạ thành Sài Gòn vào năm 1859 Trước tình thế đó vua Tự Đức ra lệnh Tôn Thất Cáp đem

Trang 17

quân đóng ở Biên Hòa và các tỉnh An Giang, Hà Tiên, Định Tường để phòng thủ Sau khi tấn công Sài Gòn quân Pháp rút khỏi nơi đây nên tình hình yên ổn hơn

- Năm 1861, Pháp thực hiện tiếp kế hoạch chiếm ba tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa

- Một năm sau, năm 1862 Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Đông Nam

Bộ Như vậy, bộ máy hành chánh của ta rơi vào tay giặc Trước tình thế

đó nhiều phong trào của nhân dân Nam Bộ cũng như các nghĩa quân như: Trương Định, Đỗ Trình Thoại, Phan Văn Đạt v v nổi lên chóang lại Trong công trình “Ca dao- dân ca Nam Bộ” ghi nhận như sau:

Giặc Tây đánh đến Cần Giờ

Biểu đừng thương nhớ đợi chờ làm chi

- Tháng 10/ 1866, phó đề đốc La Grandiere cùng đại úy Paulin Vial ra Huế xin vua Tự Đức sửa đổi hòa ước với ý định buộc Triều đình Việt Nam nhượng cho Pháp lục tỉnh Tuy nhiên, yêu cầu của Pháp không được Việt Nam chấp thuận, sự từ chóai ấy làm phó đề đốc La Grandiere tức giận và chờ cơ hội hành động

- Sáng ngày 20/ 06/ 1867, phó đề đốc cho các chiến hạm Pháp tiến vào Vĩnh Long Tình thế cấp bách Phan Thanh Giản chấp nhận điều kiện của Pháp Chiếm xong Vĩnh Long sau đó ngược dòng đến chiếm đóng Châu Đốc Cùng ngày 24/ 06/ 1867 thành Hà Tiên cũng lọt vào tay quân Pháp Như vậy, lục tỉnh Nam kỳ đã hoàn toàn thuộc về Pháp cai trị

- Ngày 15/ 03/ 1874, “Hiệp ước hòa bình và liên minh” đã được ký giữa Triều đình Huế và Pháp ghi công nhận chủ quyền của Pháp trên phần đất của Nam kỳ Từ đây, bộ máy điều hành của Nam Bộ nằm trọn vẹn trong vòng tay của Pháp Mọi hoạt động trong nhiều lĩnh vực như: kinh

tế, chính trị, y tế, giáo dục, văn hoá, văn học, ngôn ngữ v.v đều do Pháp cai quản Tuy nhiên, nền Văn học dân gian vẫn duy trì tiếng nói của lòng mình

Trang 18

Miền Nam đất thép anh hùng Trai trung gái hiếu cùng chung một lòng [SV7, tr 62]

1.1.4 Năm 1945- 1975

Tháng 10/ 1945, tướng Leclerc của Pháp tiến về Sài Gòn cùng nhiều đơn vị bộ binh tiếp tục ý đồ đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ lần thứ hai Trước âm mưu và hành động của chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Lợi dụng Pháp khó khăn về chính trị, kinh tế, tài chính.v.v bọn đế quốc Mĩ can thiệp cuộc chiến tranh làm tình hình cả nước cũng như ở Nam Bộ trở nên trầm trọng hơn, bởi cả nước ta bị chia cắt hai miền Nam- Bắc Miền Bắc Pháp rút khỏi Hà Nội- Hải Phòng; miền Nam đế quốc Mĩ ra sức thực hiện việc xâm chiếm miền Nam Việt Nam Bắt đầu từ năm 1954, Nam Bộ nằm trong quỷ đạo của chế độ Ngô Đình Diệm chế độ của máy chém và khủng bố Những ngày mà đế quốc Mĩ

Trang 19

nhảy vào miền Nam Việt Nam từ đó Nam Bộ chìm trong mảng lửa chiến tranh suốt nhiều năm, và cũng từ đó nhiều phong trào đấu tranh của Nam

Bộ nổi lên rầm rộ Đặc biệt tháng 8/1954 “Phong trào hòa bình” của lớp trí thức và nhân dân Sài Gòn- Chợ Lớn dấy lên Rồi đến “Phong trào Đồng Khởi” năm 1959- 1960 Sau đó cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào mùa xuân năm 1968 Cuối cùng cuộc kháng chiến chóang Mĩ cũng đã kết thúc với chiến dịch đại thắng mùa xuân năm 1975 đó là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Từ đó, cả nước cũng như Nam Bộ đã mở ra kỉ nguyên độc lập hoàn toàn sau ba mươi năm chiến tranh Trong khoảng thời gian ngần ấy báo chí cùng dòng Văn học Việt Nam theo sát diễn tiến của lịch sử- xã hội Việt Nam đặc biệt là ca dao- dân ca Nam Bộ đã ghi lại những

sự kiện lịch sử vẻ vang ấy:

Chiến trường cần lúa nuôi quân

Hậu phương khói đạn ngày đêm mịt mờ

Khắc ghi lời dạy Bác Hồ!

“Ăn no đánh mạnh”, quân thù tả tôi

Trời khuya bom khói qua rồi,

Đồng xanh in đậm bóng người yêu thương

Gạo thơm đến tận chiến trường,

Chiến công thắng Mỹ kiên cường, vẹn đôi [SV5, tr 178]

1.1.5 Từ năm 1975 đến 2005

Bước sang thời bình, Nam Bộ một mặt hàn gắn vết thương chiến tranh một mặt khôi phục nền chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục.v.v Trong giai đoạn này về văn tự mà nói, chữ quốc ngữ chiếm vị trí quan trọng trong mọi hoạt động giao tiếp cũng như ngôn ngữ viết của cả nước Đây cũng là đỉnh điểm mà văn học dân gian nhất là mảng ca dao- dân ca Nam Bộ được nhiều công trình và bài viết quan tâm và sưu tầm nghiên cứu đông đảo Do vậy, ca dao- dân ca Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung đều

Trang 20

ảnh hưởng học thuật phương Tây chủ yếu là của Pháp và một ít học thuật phương Đông Song song đó học thuật Xô Viết cũng ảnh hưởng mạnh Chính vì thế mà các nhà nghiên cứu trước năm 1975 và sau năm 1975 đến 2005 nhìn nhận các vấn đề khác nhau Sự khác biệt sẽ được chúng tôi trình bày dưới đây

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CA DAO- DÂN CA NAM BỘ TỪ NĂM

1975 TRỞ VỀ TRƯỚC

Trong mục này, chúng tôi chỉ tìm hiểu việc nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ từ năm 1975 trở về trước, còn 1975 về sau sẽ đề cập sâu hơn ở chương 2 và chương 3 Việc tìm hiểu này nhằm có cái nhìn về lịch sử nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ từ trước 1975, đồng thời tiếp cận quá trình phát triển của việc nghiên cứu văn học dân gian Nam Bộ nói chung trong đó có ca dao- dân ca

Giai đoạn này, các công trình và bài viết nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ đã công bố trong các sách và tạp chí bằng chữ quốc ngữ như sau:

1.2.1 Về sách- Tiểu luận Cao học

1.2.1.1 Từ cuối thế kỷ XIX

Do tính chất diễn biến của lịch sử Nam Bộ trong giai đoạn giao thời nên đã ảnh hưởng mạnh đến nền văn học dân gian nhất là mảng ca dao- dân ca

Các sưu tập ca dao- dân ca Nam Bộ từ giai đoạn cuối thế kỷ XIX ảnh hưởng và chi phóai bởi hai nền học thuật phương Đông và phương Tây

Ở đây, có thể nhìn nhận rằng: ban đầu nền học thuật phương Đông chủ trương về đạo giáo, tôn sùng đạo bởi chỉ vì hoàn cảnh quá khổ cực, áp bức đau xót trong xã hội cho nên người bình dân Nam Bộ trong giai đoạn này có ý thức chóang lại sự cực đoan ấy Tuy nhiên, nền đạo giáo của phương Đông tồn tại không bao lâu bởi sự ra đời của khoa học tiên tiến phương Tây đã chiếm lĩnh nền học thuật phương Đông Vì vậy, sự diễn ra

Trang 21

xung đột và mâu thuẫn của hai nền học thuật này có ảnh hưởng đến nền văn học dân gian nhất là mảng ca dao- dân ca Nam Bộ Điển hình là sưu tập “Hát, lý, hò Annam”của Trương Vĩnh Ký viết bản thạch vào năm 1886, gồm 43 trang, trong đó nội dung thể hiện có ảnh hưởng ít nhiều về hai nền học thuật này Chẳng hạn, trong sưu tập này tác giả viết:

Chẳng lưu lạc sao trải mùi nhơn thế?

Còn trần- ai khôn tỏ mặt công hầu

Ngất ngưởng thay tạo- hóa khéo cơ cầu!

Rắp giảng nhậm lại chen cho lúng túng?

Thân hệ tang- bồng chung hữu dụng,

Nhơn sanh hào- kiệt nhứt vô ưu… [84, tr 27]

Ngoài ra, vào năm 1888- 1889, Trương Vĩnh Ký tiếp tục cho ra đời nhiều sưu tập khác và đã ghi lại trong cuốn Miscellanées với tất cả 18 câu hát theo hướng tiếp cận cũng như trên

Song song với các tập sách ấy còn kể đến sưu tập “Câu hát góp” (Recuell De Chansons Populaires) của Huỳnh- Tịnh Paulus Của, được xuất bản lần đầu năm 1897, tái bản lần thứ tư vào năm (1910) Tập sách

ấy gồm 1020 câu hát, xoay quanh các vấn đề về con người nhất là phụ nữ

đòi quyền bình đẳng trong hôn nhân- gia đình

Nhìn chung, trong giai đoạn này các công trình còn hạn chế về lực lượng sưu tầm nghiên cứu, bởi bị đóng khung trong cảnh đồng ruộng sông nước mênh mông; trong khi đó, ca dao- dân ca ngoài Bắc được nghiên cứu trình bày rộng rãi phổ biến khắp nước Tuy vậy, ở thế kỉ cuối thế kỷ XIX, hướng tiếp cận ca dao- dân ca miền Nam trong các sưu tập nghiên cứu thường hướng đến lịch sử của dân tộc và nội dung thể hiện lòng yêu nước, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên khá sâu sắc và mang đậm sắc màu phương Tây hoà lẫn một ít phương Đông

1.2.1.2 Từ đầu thế kỷ XX

Trang 22

Từ đầu thế kỉ XX, với luồng gió mới thổi từ Đông dương vào Việt Nam cùng với nền chính trị của bọn thực dân Pháp và nền học thuật phương Tây đã đánh dấu vào văn học, trong đó có văn học dân gian đặc biệt là mảng ca dao- dân ca Nam Bộ một sự chuyển hướng mới trong sự nhận thức giữa cái cũ và cái mới Tuy nhiên, hướng tiếp nhận cái mới không hẳn loại trừ cái cũ mà tiếp nhận có sự chọn lọc Ngoài ra, sự dung nạp loại văn chương bác học cũng ảnh hưởng đến sáng tác cũng như sưu tập, nghiên cứu về ca dao- dân ca

- Từ đầu thế kỉ XX, tình hình sáng tác và sưu tầm nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ mang hơi hướng của sự nhận thức cái cũ và cái mới đan xen Điển hình, 13 công trình trong bảng liệt kê của “Phân viện Văn hóa- Nghệ thuật tại TP Hồ Chí Minh và N.XB Đồng Nai” đã cung cấp thông tin

dữ liệu dưới đây:

- Đặng Lễ Nghi :

1/ Câu hát đối và câu hò tuồng, truyện, thơ, xạo Sài Gòn, Đinh Thái Sơn, xb, 1907

2/ Câu hát huê tình Sài Gòn, 1917

3/ Câu hát theo bạn cấy Sài Gòn, Nhà in xưa nay, 1929

7/ Hát đối đáp S Xưa nay, 1928

8/ Hát đối đáp, câu hát đời nay, hát giọng chèo ghe S Xưa nay,

1931

- Cử Hoành Sơn:

Trang 23

9/ Câu hò xay lúa đối đáp của S Xưa nay, 1933

10/ Câu hát và hò góp S Xưa nay, 1934

- Nguyễn Bá Thời:

11/ Câu hát đối đáp (in lần thứ hai) S Nhà in Đức Lưu Phương,

1933

- Khấu Võ Nghi:

12/ Hát huê tình đối đáp S Xưa nay, 1936

13/ Hát chèo ghe đối đáp (in lần thứ 3) S Xưa nay, 1939 [227, tr 6]

Ngoài những công trình trình bày trên còn rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao- dân ca Nam Bộ đáng lưu ý nữa, đó là sưu tập: “Câu hát huê tình” và “Hát đối đáp” của Đinh Thái Sơn đều xuất bản năm 1915 cũng

là sưu tập được độc giả quan tâm Nhìn chung, công tác sưu tầm và nghiên cứu ca dao- dân ca miền Nam lúc bấy giờ chưa phổ biến nhiều trong xã hội Có thể nhìn nhận rằng: những bộ sưu tập và nghiên cứu ca dao- dân ca miền Nam, hiện còn lưu giữ trong thời kì phong kiến cho đến nay là phải khôi phục và điều chỉnh lại mới dùng được Phần lớn, các công trình sưu tập, nghiên cứu về ca dao- dân ca miền này chưa có quan điểm

và phương hướng nghiên cứu rõ ràng, cho nên, có những công trình nghiên cứu thiếu nghiêm túc, chưa trung thực trong sưu tầm và có khi sao chép hoặc bỏ chi phí để mua bản quyền in thành sách

Tuy nhiên, dẫu sao các công trình ấy đã khơi gợi cho ta tìm về ký ức của thời xa xưa ấy Bên cạnh đó, các sưu tập ấy cũng cung cấp cho chúng ta nội dung thể hiện trong tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống mến thương và tôn trọng những luân lý cổ truyền trong cách cư xử với nhau cho đúng đạo nghĩa vợ chồng; song song đó, họ có ý thức chóang đối sự bất công trong xã hội mà họ đang sinh sống Nói chung, người bình dân Nam Bộ đã dùng ca dao- dân ca làm chất liệu cho cuộc sống cho nên ý thức về hệ tư tưởng của họ rất cao Tuy nhiên, dẫu sao những sưu tập này cũng không tránh khỏi sự chi phóai bởi nền văn minh khoa học tân

Trang 24

tiến của Pháp Vì vậy, trong các công trình ấy ít nhiều ảnh hưởng nền học thuật của phương Tây và thường có thiên hướng chú trọng về nội dung thể hiện hơn là hình thức nghệ thuật là vậy

- Từ cách mạng tháng tám đến 1975: do điều kiện, yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chóang thực dân Pháp và đế quốc Mĩ cùng với

sự sáng tạo và đổi mới truyền thóang văn học dân gian miền Nam theo khuynh hướng tốt đẹp hơn Vì vậy, mọi người dân của ta đều noi theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lê nin và đường lối của Đảng Cho nên, văn học dân gian Nam Bộ nhất là ca dao- dân ca cũng tiếp thu đúng vốn văn học dân gian mới Chính vì đó, mà nhiều công trình

ca dao- dân ca miền Nam ra đời và nghiên cứu theo hướng tiếp cận của học thuật Xô Viết và thể hiện tính dân tộc và lịch sử khá cao Đáng kể: công trình Ca dao Đồng Tháp của Sở VHTT Nam Bộ, 1947; Dân ca Nam Bộ của Đoàn Văn Công F.330, 1955; Hò miền Nam của Lê Thị Minh, 1956; “Hương hoa đất nước” (2 tập) của Nguyễn Trọng Toàn, 1956; “Ca dao giảng luận” của Thuần Phong, 1957; “Câu hát và

hò góp” của Nguyễn Bá Thời, 1959 và “Câu hò xay lúa” của soạn giả Đinh Công Thóang; Dân ca Nam Bộ của Trần Kiết Tường, 1959;

“Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao” của Đào- Văn- Hội, 1961; Dân ca Nam Bộ(Tập I &II) của Nx.b Âm nhạc Hà Nội, 1962; Bài ca đi cấy// Dân ca cải biên của Lê Quang Nghệ, 1964; Ca dao miền Nam chóang Mỹ, tập 1, N.xb Giải phóng, 1971.v.v Cũng vào thời điểm này, đáng phấn khởi hơn nữa là công việc nghiên cứu về ca dao đã được học viên Cao học thuộc các trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn

đã chọn ca dao miền Nam làm đề tài cho tập Tiểu luận của mình Đó

là đề tài về: “Tánh cách đặc thù của ca dao miền Nam” của Nguyễn Kiến Thiết, dày 282 trang viết và đã đem lại cái nhìn tổng quát về lịch sử- xã hội và lịch sử của ca dao Miền Nam trong những năm 1658 đến 1954

Trang 25

Như vậy, giai đoạn này các nhà sưu tầm và nghiên cứu đã cố gắng đi thực tế nhiều nơi và gom nhặt được nhiều bài ca dao- dân ca miền Nam rất hay Tác giả Sơn Nam ghi nhận lời của nhà văn Bình Nguyên Lộc như sau: “Miền Nam mới thành hình chừng 300 năm mà tổng số ca dao góp nhặt- đứng về số lượng mà nói- không kém miền Trung, miền Bắc, nơi người Việt lập quốc từ ngàn năm trước.” [122, tr 56]

Hơn nữa, không những về mặt số lượng của các bài ca dao- dân ca trong các sưu tập tăng cao mà còn phải kể đến đội ngũ sưu tầm và biên khảo theo tinh thần khoa học, một phương pháp quan sát thực tế để có được số lượng cũng như nội dung khá phong phú Nội dung của các công trình thường đề cập đến vấn đề về lịch sử và tính dân tộc rất rõ nét, bởi: giai đoạn này chúng ta chứng kiến hai cuộc chiến tranh chóang thực dân Pháp và đế quốc Mĩ trên đất nước Việt Nam Cho nên, lịch sử cũng như các nhà nghiên cứu có nhiệm vụ là ghi lại và phản ánh đầy đủ nhất về lịch

sử của dân tộc Bên cạnh đó, những người làm công tác sưu tầm và nghiên cứu về ca dao- dân ca của Nam Bộ cũng không được quên nhắc đến bối cảnh của lịch sử và sự biểu hiện của tính dân tộc Tác giả Thuần Phong cho rằng: “ Ca dao gồm đủ ba tánh- cách: dân tộc, đại chúng và khoa học là ba đức tánh tất yếu của một nền học thuật chơn chánh tự đặt lấy nhiệm vụ phụng sự dân tộc.” [159, tr 74] Song ấy, trong mỗi người chúng ta cần biểu hiện tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước là cần thiết.v.v Đào Văn Hội trong cuốn “Phong tục miền Nam qua mấy vần

ca dao” đã ghi nhận rằng:

Để ý nhận xét, ta thấy ca dao Nam Việt ít ca- tụng vua quan, thỉnh- thoảng ta mới gặp vài ba câu nói đến ơn vua lộc nước, nhưng ca dao ta lại rất giàu tình- cảm, nhứt là hiếu- hạnh đối với mẹ cha, và tình đằm- thắm giữa phu- thê, bằng- hữu Bàn về thế sự, ca dao có giọng châm biếm, thấm- thía, chua cay… Rồi, lúc cấy cày dưới ruộng, khi giả gạotrong sân, giữa trời thanh trăng tỏ, trai gái đối đáp nhau, đố nhau những câu mà triết-

Trang 26

học gia, toán- học- gia, có lẽ cũng chịu là tài- tình Lại có những câu trào- phúng nghe không khỏi tức cười [67, tr 10]

Ngoài những nội dung nghiên cứu đó các tác giả còn chú ý đến hướng nghiên cứu về thể cách trong ca dao Trong tập tiểu luận về “Tánh cách đặc thù ca dao miền Nam” của tác giả Nguyễn Kiến Thiết đã trình bày đặc trưng về thể cách của ca dao miền Nam như sau:

Ngoài điểm giống nhau về loại thơ thuần nhứt (lục bát, song thất và song thất lục bát) chung cho ca dao cả ba miền, chúng tôi nhận thấy sự đặc thù của ca dao miền Nam về loại thơ biến thể (lục bát, lục bát biến thể, song thất và song thất biến thể) và nhứt là loại thơ hỗn hợp [203, tr 80]

Như vậy, hướng tiếp cận và nghiên cứu của Nguyễn Kiến Thiết bắt đầu có phương pháp và chú ý đến vấn đề thi pháp ca dao miền Nam

Có thể nói rằng giai đoạn này các nhà sưu tầm và nghiên cứu về ca dao miền Nam thường hướng đến nội dung Nội dung càng phong phú thì

ca dao- dân ca miền này càng không thể rập khuôn theo lối văn học ngoại lai của Pháp, Mĩ v.v Tuy nhiên, không ít sưu tập chỉ cung cấp những văn bản trần trụi chưa thể hiện những mô tả và so sánh lịch sử về các cấp độ thể loại- chủ đề trong đề tài từ đó tạo chỉnh thể về nghệ thuật Mặt khác, một số công trình sưu tầm thường mang tính tự phát không theo quy tắc khuôn khổ của khoa học nghiên cứu Nói chung, tuy chúng ta chưa có những công trình khoa học với quy mô lớn, đội ngũ lý luận vững mạnh nhưng chúng ta cũng ý thức được rằng việc đặt ra vấn đề về cách thức và

ý nghĩa tiếp cậân về phương pháp luận là cần thiết và cấp bách trong xã hội đổi mới hiện nay

1.2.2 Về các bài viết trong các tạp chí- báo

Trước khi đề cập đến tình hình nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ trong các báo chí, chúng tôi trình bày sơ lược lịch sử ra đời của báo chí nước ta nói chung và ở Nam kỳ nói riêng

Trang 27

Báo chí Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước, vào 1865 tờ Gia Định báo xuất hiện bằng chữ quốc ngữ tại Nam kỳ, đã đánh dấu bước khởi đầu của sự phát triển báo chí ở Việt Nam trong công tác nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực văn học, văn hóa, giáo dục.v.v Tờ Gia Định báo chính thức ra số đầu vào 15/ 04/ 1865, mỗi tháng một số, sau thời gian tăng lên hai số một tháng và cuối cùng mỗi tuần một số Quản nhiệm

tờ Gia Định báo ban đầu là ông E Poteau (người Pháp) Bốn năm sau Trương Vĩnh Ký thay ông E Poteau làm giám đốc tờ báo Các tờ báo ấy hiện nay còn lưu giữ lại các số đầu tiên: 4, 5, 6 tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phóa Hồ Chí Minh, dưới hình thức microfilm Nội dung của những tờ báo này thường là: “những bài khảo cứu, nghị luận, thơ ca của các danh sĩ Nam kỳ như Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, …” [71, tr

xu hướng xã hội và quốc tế, điển hình như các tờ báo/ tạp chí như: Người mới, Đời mới, Ngày mới, Thế giới mới, Bách khoa, Sáng tạo, Gió Nam, Chấn hưng, Đại học, Phổ thông, Nghiên cứu văn học.v.v Các tờ báo/ tạp chí này phần lớn được nghiên cứu theo hướng nhận thức, phê bình và tiếp cận từ góc độ của tác phẩm văn học, hơn nữa thiên về nội dung hơn hình thức nghệ thuật và chịu chi phóai và ảnh hưởng của luồng học thuật phương Tây và học thuật Xô viết Đáng lưu ý là những bài viết ca dao- dân ca ở miền Nam Việt Nam từ những năm 1953 đến 1959 là những bài nghiên cứu có giá trị sâu sắc

Trang 28

về cái nhìn tổng quát Chẳng hạn, trong bài viết: “Ca dao Nam Việt” của tác giả Bình Nguyên Lộc đã ghi nhận ca dao miền Nam như sau:

Ngoài hình sắc của đất nước, ca dao miền Nam mang hình ảnh của một buổi giao thời Người Pháp chinh phục miền Nam trước Lẽ tự nhiên ở đây người ta thấy trước những gì thuộc về Pháp, thấy rồi hát lên những câu hát làm chứng cho một thời ngoại thuộc, một thời theo mới (…) Tưởng những nhà soạn các tập sưu tầm ca dao không nên bỏ quên những bài hát của một vùng có hơn năm triệu đồng bào sanh sống từ ba

trăm năm rồi vậy [100, tr 13]

Với sự tiếp nhận tư tưởng tiến bộ mới của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài và những tác giả nghiên cứu trước đó, cho nên các bài viết về ca dao- dân ca miền Nam trong giai đoạn này đã có định hướng nghiên cứu sâu hơn, và chú trọng hướng tiếp cận từ một giai đoạn lịch sử cũng như tính dân tộc trong ca dao Trong bài viết “Giới thiệu sơ lược về ca dao miền Nam” của Thái Bạch và “Ca dao miền Nam” của Phạm Thanh, hai nhà nghiên cứu đã phân tích tính lịch sử-

xã hội trong ca dao Nam Việt được thể hiện khá rõ nét nhất trong giai đoạn lịch sử này là: “chỗ tập trung tất cả những gì là tinh hoa, là sinh lực và khả năng của đồng bào toàn quốc để đi đến một công cuộc vĩ đại sau này là thóang nhất giang sơn và lãnh thổ.” [4, tr 35]

Vì vậy, khi nghiên cứu về ca dao thì theo Thái Bạch là phải nghiên cứu đầy đủ và chính xác về lịch sử “cơ hồ” của dân tộc Tác giả viết:

Các nhà khảo cứu và biên tập về văn chương bình dân đã xuất hiện khá nhiều, nhưng chỉ thấy đưa ra những gì đã có trong sách vở từ mấy thế

kỷ nay Các nhà xuất bản cũng vẫn còn có quan niệm cho rằng những tập

ca dao của ông Nguyễn Văn Ngọc là đầy đủ, nhưng không biết đó chỉ là phần nửa Việt Nam, những câu ca dao, tục ngữ đó không phải là của cả toàn dân mà mới chỉ là ở hai miền Trung, Bắc [4, tr 35]

Trang 29

Song song với phương pháp nghiên cứu về lịch sử- xã hội thì tính dân tộc cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm Thái Bạch thì cho rằng: Với nhiệm vụ phát huy tính chất văn nghệ dân tộc, chúng tôi muốn đem làm quà với các bạn bằng những câu ca dao miền Nam, mà từ trước đến nay trong kho tàng văn hóa, chúng ta đã bỏ quên đến cả gần một thế

kỷ, chưa ai nhắc đến, và nhận thấy ra được cái tính chất và ý nghĩa quan trọng của nó [4, tr 35]

Ngoài ra, khi nghiên cứu về ca dao- dân ca miền Nam, Thuần Phong đặt tính dân tộc lên hàng đầu Tính dân tộc của ca dao- dân ca miền này còn phảng phất hương vị của những câu hò miền Trung và miền Bắc rất

rõ Tác giả viết:

Đã từng học hỏi ca dao, ai cũng phải thừa nhận tánh cách đồng nhất của dân tộc, từ văn chương đến phong tục, trong lãnh thổ cũng như ở tinh thần Ca dao phương tiện tuyên truyền, một thể thức liên lạc, vượt tất cả đèo ải, núi sông, qua suốt thời gian triều đại (…) Ca dao là chiếc xe chở ngôn ngữ từ Bắc vào Nam (…) Những tư tưởng phổ thông, phản ảnh khía cạnh của dân tộc tính cũng, cũng nương theo giọng lảnh lót mà truyền thẳng vào Nam [160, tr 51]

Từ 1960 trở đi việc nghiên cứu về ca dao miền Nam bắt đầu có xu hướng quan sát để đi đến cảm nghĩ và từ đó hướng đến văn từ của thi pháp về ca dao Con đường tiếp cận ca dao từ thi pháp ở những năm này

là những bước đi chập chững còn nhiều khó khăn Những bài viết của tác giả Thuần Phong lúc bấy giờ cũng gợi ra hướng đi đến thi pháp trong cách thức sử dụng từ ngữ của ca dao Nam Việt Bài viết “Chuyển- biến trong ca dao” của Thuần Phong là sự tiếp thu ý kiến của độc giả và nghiên cứu phương pháp hành văn và cách thức dùng từ ngữ trong bài ca dao con chuột Tác giả cho là:

Ở trong ca dao, một ý niệm mở đầu bằng một hình ảnh, một sự việc trừu tượng đi sau một sự vật cụ thể là thường Ở trong âm nhạc, câu rao

Trang 30

có tác dụng cần thiết là đưa hơi; ở trong ca dao, ý niệm mở đầu có tác dụng hữu ích là gợi ý, tức là gây hứng thú cho ý niệm theo sau, ý niệm then chóat: ý niệm mở đầu trình bày theo phương pháp tả chơn, tức là phép phú; ý niệm theo sau nương theo hình ảnh mở đầu, do hình ảnh nầy

mà tức hứng và diễn đạt theo phép hứng(…)Bài Con chuột… đều thuộc loại ca dao đặt theo hai phương pháp hỗn hợp: phú và hứng [163, tr 48-

1.3 TIỂU KẾT

Trang 31

Nhìn chung, do sự hình thành vùng đất mới miền Nam và ảnh hưởng của lịch sử- xã hội trước những năm 1975, cho nên, sự ra đời của ca dao

và nghiên cứu về ca dao miền này cũng chậm hơn so với ca dao- dân ca hai miền Bắc- Trung Nhưng chỉ mới hình thành 300 năm mà số lượng ca dao- dân ca tăng gấp nhiều lần, và hơn nữa, lực lượng sưu tầm và nghiên cứu ngày càng đông đảo không kém miền Trung và Bắc Bên cạnh đó, nội dung sưu tập và nghiên cứu khá phong phú Tuy nhiên, phương pháp và phương hướng nghiên cứu ca dao- dân ca miền này chỉ ở mức thiên về nội dung Mặt khác, các bài viết cũng như nhiều công trình nghiên cứu về mảng này, còn ảnh hưởng mạnh đến những học thuật phương Đông và phương Tây cũng như học thuật Xô viết như đã phân tích và chứng minh bằng lý thuyết ở phần trên Mặt khác, các công trình cũng như những bài viết từ trước những năm 1975 chưa đáp ứng hết khả năng chuyên sâu về nhu cầu thưởng thức và nghiên cứu ca dao- dân ca cho độc giả Nhưng dẫu sao các tác giả ấy cũng gia công sưu tầm và nghiên cứu khá công phu để có được những sưu tập lưu truyền lại đến ngày nay và làm tiền đề cho công tác sưu tập và nghiên cứu sau này

Chương 2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CA DAO- DÂN CA NAM BỘ

(1975- 2005)

Công tác sưu tầm và nghiên cứu ca dao- dân ca Nam Bộ từ sau năm

1975 đến 2005 có vị trí và đóng vai trò quan trọng trong folklore học Giai đoạn này, đánh dấu quá trình phát triển mới về chất lượng cũng như số lượng sưu tầm nghiên cứu ca dao- dân ca ở Nam Bộ

Trang 32

Ngoài công việc ghi chép chọn lọc các đơn vị ca dao- dân ca của một vùng, công tác sưu tầm còn có nhiệm vụ đóng góp tư liệu cho nghiên cứu

về những đặc điểm, nội dung và hình thức nghệ thuật cùng sinh hoạt sáng tác dân gian trong ca dao- dân ca Nam Bộ Mặt khác, công tác sưu tầm- nghiên cứu ca dao- dân ca tại địa phương- vùng- miền còn có ý nghĩa khoa học, xã hội, lịch sử đáng kể Vì vậy, việc sưu tầm và biên soạn các sưu tập ca dao- dân ca Nam Bộ là quá trình tiến hành lâu dài và đòi hỏi phải có lực lượng tham gia đông đảo Từ trước những năm 1975 lực lượng tham gia vào công tác này còn tương đối hiếm, nhưng sau những năm 1975 đất nước nói chung và Nam Bộ nói riêng bước vào giai đoạn hòa bình nên có nhiều thuận lợi hơn trong công tác sưu tầm Nhiệm vụ đã đặt ra trong sưu tầm và nghiên cứu lúc bấy giờ là phải quán triệt đường lối của chủ nghĩa Mác- Lênin và của Đảng Chủ nghĩa Mác- Lênin nhấn mạnh đến sự sáng tạo về văn học và nghệ thuật của tiến trình phát triển lịch sử

xã hội Cho nên, vai trò của văn học nhất là văn học dân gian không thể thiếu vắng những câu hò, câu hát Vì thế, muốn xây dựng xã hội lành mạnh thì phải xây dựng nền văn nghệ dân gian mới với việc phát động quần chúng tham gia sáng tác văn nghệ và bồi dưỡng văn nghệ dân gian Bên cạnh đó, công tác sưu tầm văn học dân gian trong đó có ca dao- dân

ca Nam Bộ phải được kết hợp và đẩy mạnh để từ đó ta sưu tầm lại hết toàn bộ ca dao- dân ca vùng này Việc làm ấy, sẽ góp phần bảo tồn kho tàng ca dao- dân ca Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung Mặt khác, trong mọi chúng ta không được phủ nhận vốn ca dao- dân ca cổ truyền của dân tộc mà cần tiếp thu chọn lọc những tinh hoa ấy Xuất phát từ những vấn đề trên, cho nên công tác sưu tầm từ 1975 trở đi có nhiều thành tựu đáng mừng và đã có nhiều công trình sưu tập cũng như biên khảo có chất lượng khá tốt đến với độc giả Hơn nữa, với những thành tựu

ấy đội ngũ sưu tầm ngày càng đông đảo hơn, điển hình là những nhà

Trang 33

nghiên cứu cùng các thầy, cô, các bạn sinh viên và nhiều độc giả khác

tham gia công tác sưu tầm và biên khảo này

Nhìn chung, suốt từ sau 1975 đến 2005 tư liệu về sưu tầm và nghiên

cứu ca dao- dân ca Nam Bộ không ngừng được ghi chép, tích luỹ trên cơ

sở những định hướng về tư tưởng và ý thức hệ khá cao Cái đáng quý

hơn là những thành tựu đã thu thập được trong 30 năm qua khá nhiều,

khóai lượng các công trình sưu tầm và nghiên cứu về ca dao- dân ca ở

vùng này sẽ được chúng tôi lập thành bảng thóang kê và trình bày dưới

đây

2.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU TỪ GÓC ĐỘ CA

DAO- DÂN CA

Từ góc độ này, các nhà nghiên cứu đã công bố những công

trình của mình với hình thức là xuất bản thành sách và đăng trong

các tạp chí- báo chuyên ngành Ngoài ra, còn có các khoá luận đại

học, luận văn Thạc sĩ và luận án Tiến sĩ của các học viên thuộc các

trường đại học trong nước nghiên cứu về loại hình này Để có dữ

liệu và điểm nhìn tổng quát về các công trình ấy, dưới đây chúng tôi

lập bảng thóang kê theo các loại hình nghiên cứu nhằm mục đích tìm

hiểu số lượng văn bản ca dao- dân ca đã sưu tầm và nghiên cứu từ

sau năm 1975 đến 2005

2.1.1 Bảng thóang kê các loại hình nghiên cứu ca dao- dân ca (1)

Bảng này người thực hiện thóang kê các công trình bằng sách và các

khoá luận, luận văn, luận án Ngoài ra trong bảng ấy ở cột 1 chúng tôi sắp

xếp theo số STT nhưng ký hiệu thì được sắp xếp theo loại hình nghiên

Tên tác giả Năm Số

trang

Trang 34

SV1 Sen Tháp

Mười (Ca

dao miền

Nam về

Sưu tầm và giới thiệu

Ca dao miền Nam về

1984 150

SV4 Ca dao dân

ca Nam Bộ

Giới thiệu và sưu tập

ca dao dân ca Nam

Bộ về chủ đề: tình yêu quê hương đất nước; tình yêu nam

nữ và gia đình; các mối quan hệ khác

Bảo Định Giang Nguyễn Tấn Phát Trần Tấn Vĩnh Bùi Mạnh Nhị

Sở Văn hóa Thơng tin Tiền Giang

Trường ĐHSP TPHCM Trường Cao Đẳng Sư Phạm Đồng Tháp

1986 159

Trang 35

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Đồng Tháp

Giới thiệu, sưu tầm

ca dao & dân ca Bến

về chủ đề: nhiên, con người, tình yêu nam

nữ và gia đình

Nguyễn Phương Thảo-

Hoàng Thị Bạch Liên

Trang 36

Đoàn Tứ Thạch Phương (chủ biên)

Hà Thắng Nguyễn Hoa Bằng Nguyễn Lâm Điền

1997 181

SV16 Văn học dân

gian Sóc

Trăng/ Ca

dao dân ca

Giới thiệu, sưu tầm

ca dao Sĩc Trăng về chủ đề tương tự như SV4

Chu Xuân Diên (chủ biên)

dao- dân ca

Biên khảo ca dao dân ca Nam Bộ

Nguyễn Văn Hầu 2004 83

Trang 37

SV18 Diện mạo

văn học dân

gian Nam Bộ

(Tập 2)/ Ca

dao- dân ca

Biên khảo ca dao dân ca Nam Bộ

Nguyễn Văn Hầu 2004 49

ca dao- dân ca Nam

Chu Xuân Diên (chủ biên)

Tìm hiểu ca dao dân

ca Nam Bộ qua nội dung và nghệ thuật

Sưu tầm, phân loại

và giới thiệu khái quát nội dung, nghệ thuật của ca dao dân

ca Châu Đốc

Nguyễn Vạn Niên 1987 142

Trang 38

ca dao- dân ca Nam

Bộ

Nguyễn Hữu Dũng

dao- dân ca

Biên khảo và sưu tuyển ca dao dân ca Nam Bộ về tính cách người Nam Bộ ở vùng này

và hình thức hợp thể của thể nói lối

Đoàn Xuân Mỹ 1989 70

Trang 39

Nguyễn Văn Hải 1989 62

nữ qua ca dao dân

Tình yêu quê hương đất nước; Đời sống tình cảm và đấu tranh chóang kẻ thù

qua tư liệu

văn hoá dân

Giới thiệu mảng ca dao dân ca liên quan đến văn hoá dân gian Đồng Nai

Hồ Thị Đan My 1990 50

Trang 40

Lê Thị Kiều Tiên 1991 70

Lê Ngọc Trinh 1992 90

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (1978), “Cần đẩy mạnh việc sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian và văn học yêu nước ở các tỉnh phía Nam”, Văn nghệ TPHCM, (22), tr.6- 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần đẩy mạnh việc sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian và văn học yêu nước ở các tỉnh phía Nam
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Văn nghệ TPHCM
Năm: 1978
2. Toan Ánh (1971), “Tục ngữ Ca dao miền Bắc”, Nghiên cứu Văn học, (8), tr. 1- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Ca dao miền Bắc
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nghiên cứu Văn học
Năm: 1971
3. Toan Ánh (1971), “Tục ngữ Ca dao miền Bắc”, Nghiên cứu Văn học, (9), tr. 25- 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Ca dao miền Bắc
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nghiên cứu Văn học
Năm: 1971
4. Thái Bạch (1957), “Giới thiệu sơ lược về ca dao miền Nam”, Sáng tạo, (4), tr. 35- 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu sơ lược về ca dao miền Nam
Tác giả: Thái Bạch
Nhà XB: Sáng tạo
Năm: 1957
5. Thái Bạch (1958), “Khái luận về đặc tính văn nghệ của miền Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái luận về đặc tính văn nghệ của miền Nam
Tác giả: Thái Bạch
Năm: 1958
6. Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hồ Đồng Nai (1998), Biên Hồ Đồng Nai 300 năm hình thành & phát triển, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên Hồ Đồng Nai 300 năm hình thành & phát triển
Tác giả: Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hồ Đồng Nai
Nhà XB: Đồng Nai
Năm: 1998
7. Hoa Bằng (1952), Dân tộc tính trong ca dao, Vỡ Đất, Sài Gịn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc tính trong ca dao
Tác giả: Hoa Bằng
Nhà XB: Vỡ Đất
Năm: 1952
8. Nguyễn Chí Bền (1997), Nhìn lại tiến trình sưu tầm, nghiên cứu văn hoá dân gian Nam Bộ, 50 năm sưu tầm nghiên cứu, phổ biến văn hoá- văn nghệ dân gian, tr. 227- 228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại tiến trình sưu tầm, nghiên cứu văn hoá dân gian Nam Bộ, 50 năm sưu tầm nghiên cứu, phổ biến văn hoá- văn nghệ dân gian
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 1997
9. Trần Hồ Bình (1985), “Ca dao Đồng Tháp Mười”, Văn hóa dân gian, (2), tr.75- 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Đồng Tháp Mười
Tác giả: Trần Hồ Bình
Nhà XB: Văn hóa dân gian
Năm: 1985
10. Phan Xuân Biên (2004), Miền Đơng Nam bộ con người và văn hóa, Đại học Quốc gia thành phóa Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền Đơng Nam bộ con người và văn hóa
Tác giả: Phan Xuân Biên
Nhà XB: Đại học Quốc gia thành phóa Hồ Chí Minh
Năm: 2004
11. Lê Xuân Bột (2003), “Từ Hán- Việt trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở Nam Bộ”Ngôn ngữ và đời sống, (7), tr. 22- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Hán- Việt trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở Nam Bộ
Tác giả: Lê Xuân Bột
Nhà XB: Ngôn ngữ và đời sống
Năm: 2003
12. Nguyễn Công Chánh (1928), Câu hò xay lúa, S. Xưa nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hò xay lúa
Tác giả: Nguyễn Công Chánh
Nhà XB: S. Xưa nay
Năm: 1928
13. Nguyễn Công Chánh (1967), Hát và hò góp, Thuận Hoá x.b, Chợ Lớn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát và hò góp
Tác giả: Nguyễn Công Chánh
Nhà XB: Thuận Hoá x.b
Năm: 1967
14. Nguyễn Thị Phương Châm (2004), “Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của ca dao sưu tầm ở Nam Bộ”, Di sản Văn hoá dân gian Nam Bộ, tr.352- 371 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của ca dao sưu tầm ở Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Di sản Văn hoá dân gian Nam Bộ
Năm: 2004
15. Nguyễn Kim Châu (2004), “Thể thơ trong ca dao Nam Bộ”, Di sản Văn hoá dân gian Nam Bộ, tr.335- 351 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể thơ trong ca dao Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Kim Châu
Nhà XB: Di sản Văn hoá dân gian Nam Bộ
Năm: 2004
16. Vũ Hữu Chính (1989), Hình tượng cây lúa qua ca dao- dân ca Nam Bộ, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân chuyên ngành Văn học Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn Thành phóa Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng cây lúa qua ca dao- dân ca Nam Bộ
Tác giả: Vũ Hữu Chính
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1989
17. Mai Ngọc Chừ (1991), “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, Văn học, (2), tr. 24- 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Văn học
Năm: 1991
18. Mai Ngọc Chừ (2000), “Tên hoa trong ca dao Việt Nam”, Ngôn ngữ & đời sống, ( 11), tr. 11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên hoa trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Ngôn ngữ & đời sống
Năm: 2000
19. Lê Văn Chưởng (1979), “Hò chèo ghe Đồng Tháp một loại hình dân ca sông nước của nước ta”, Văn nghệ TPHCM, (74), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hò chèo ghe Đồng Tháp một loại hình dân ca sông nước của nước ta
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Văn nghệ TPHCM
Năm: 1979
20. Lê Văn Chưởng (1979), “Nói thơ kháng chiến Bạc Liêu”, Văn nghệ TPHCM, (90), tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói thơ kháng chiến Bạc Liêu
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Văn nghệ TPHCM
Năm: 1979

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.1. Bảng thóang kê  các loại hình nghiên cứu ca dao- dân ca (1) - Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao   dân ca nam bộ từ năm 1975   2005
2.1.1. Bảng thóang kê các loại hình nghiên cứu ca dao- dân ca (1) (Trang 33)
Hình tượng - Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao   dân ca nam bộ từ năm 1975   2005
Hình t ượng (Trang 38)
Hình ảnh thiên nhiên  trong ca dao dân ca  được thể hiện qua  tình yêu quê hương  đất nước, đời sống  tình cảm và các mối  quan hệ khác - Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao   dân ca nam bộ từ năm 1975   2005
nh ảnh thiên nhiên trong ca dao dân ca được thể hiện qua tình yêu quê hương đất nước, đời sống tình cảm và các mối quan hệ khác (Trang 40)
Hình thành các - Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao   dân ca nam bộ từ năm 1975   2005
Hình th ành các (Trang 51)
Bảng thóang kê. - Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao   dân ca nam bộ từ năm 1975   2005
Bảng th óang kê (Trang 54)
Hình công trình - Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao   dân ca nam bộ từ năm 1975   2005
Hình c ông trình (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w