1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt

225 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Bá Lân, TS. Nguyễn Thị Kiều Thu
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ so sánh - đối chiếu
Thể loại Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 6,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 0.1. Lý do chọn đề tài (13)
  • 0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (13)
    • 0.2.1. Trên thế giới (13)
    • 0.2.2. Ở Việt Nam (16)
  • 0.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (20)
    • 0.3.1. Mục đích nghiên cứu (20)
    • 0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (21)
  • 0.4. Phương pháp, đối tượng, phạm vi và đối tượng nghiên cứu (0)
  • 0.5. Đóng góp của luận án (31)
  • 0.6. Cấu trúc của luận án (32)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (0)
    • 1.1. Khái niệm về giới từ và giới ngữ (34)
    • 1.2. Giới từ định vị và sự tình định vị không gian (0)
      • 1.2.1. Khái niệm giới từ định vị (37)
      • 1.2.2. Phạm trù về sự tình định vị không gian (0)
      • 1.2.3. Mối quan hệ giữa giới từ định vị và các thành tố sự tình định vị (47)
    • 1.3. Các quan điểm nghiên cứu (49)
    • 1.4. Bình diện ngữ pháp của giới từ định vị (54)
      • 1.4.1. Sự tình chuyển động (54)
      • 1.4.2. Quan hệ chuyển tác (57)
      • 1.4.3. Các mô hình ngữ pháp của giới từ định vị trong tiếng Anh (60)
    • 1.5. Bình diện ngữ nghĩa của giới từ định vị (62)
      • 1.5.1. Nghĩa biểu hiện và nghĩa cấu trúc (62)
      • 1.5.2. Sự đa nghĩa từ vựng trong kết cấu (65)
      • 1.5.3. Điểm nhìn của giới từ định vị trong tiếng Anh (0)
    • 1.6. TĐTV với giới từ định vị (68)
      • 1.6.1. Các quan niệm về TĐTV (0)
    • 16.2. Các vai trò, phân loại TĐTV và đặc tính (70)
      • 1.6.3. Cơ chế hoạt động trên bình diện ngữ pháp của các TĐTV (76)
    • 1.7. Tiểu kết (81)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP CỦA GIỚI TỪ TIẾNG ANH 71 VÀ CÁC HÌNH THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG GIỚI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT (83)
    • 2.1. Mô hình ngữ pháp của giới từ định vị AT, IN, ON (83)
      • 2.1.1. Mô hình ngôn ngữ định khung động từ (VFL) (83)
      • 2.1.2. Mô hình ngôn ngữ định khung thành phần phụ (SFL) (89)
      • 2.1.3. Mô hình bổ ngữ của động từ (VM) (0)
    • 2.2. Mô hình ngữ pháp của TĐTV theo Talmy, Goldberg và Slobin (114)
      • 2.2.1. Mô hình ngôn ngữ định khung thành phần tương ứng (EFL) (114)
      • 2.2.2. Mô hình mang tính lưỡng phân trong tiếng Việt theo Talmy, Goldberg (116)
      • 2.2.3. Mô hình bổ ngữ của động từ của các TĐTV (0)
    • 2.3. Khảo sát cách chuyển dịch giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh (125)
      • 2.3.1. Những điểm tương đồng và khác biệt (125)
      • 2.3.2. Nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt (130)
    • 2.4. Tiểu kết (141)
    • 3.1. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh (142)
      • 3.1.1. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT (142)
      • 3.1.2. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị IN (143)
      • 3.1.3. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị ON (145)
      • 3.1.4. TĐTV trong từ điển và tài liệu, giáo trình ngôn ngữ (147)
    • 3.2. Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV (153)
      • 3.2.1 Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị AT (154)
      • 3.2.2. Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị IN (160)
      • 3.2.3. Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị ON (164)
      • 3.2.4. Chiều kích nghĩa của giới từ định vị AT, IN, ON và các TĐTV (167)
      • 3.2.5. Các vai nghĩa tích hợp phương thức chuyển động (169)
    • 3.3. Khảo sát cách chuyển dịch giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và TĐTV (172)
      • 3.3.1. Những điểm tương đồng và khác biệt (173)
      • 3.3.2. Nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt (177)
    • 3.4. Tiểu kết (183)
  • KẾT LUẬN (185)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (8)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong nhiều nghiên cứu trước đây, nhóm giới từ định vị trong tiếng Anh và các hình thức tương đương trong tiếng Việt TĐTV chưa được nghiên cứu sâu theo hướng xem xét m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TUYẾT HẠNH

GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ TIẾNG ANH (AT, IN, ON)

VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TUYẾT HẠNH

GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ TIẾNG ANH (AT, IN, ON)

VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ so sánh- đối chiếu

Mã số: 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS DƯ NGỌC NGÂN

2 PGS TS LÊ KÍNH THẮNG

3 TS TRẦN THANH NGUYỆN

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2020

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và dẫn chứng đưa ra trong luận án là hoàn toàn trung thực và không sao chép từ bất kỳ một công trình nào

Tác giả luận án

Trang 4

ii

LỜI TRI ÂN

Trước hết, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Huỳnh Bá Lân, TS Nguyễn Thị Kiều Thu, người trực tiếp hướng dẫn luận án, và cũng là người đã dìu dắt tôi đến với ngôn ngữ học từ những ngày đầu.Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, động viên của Thầy, Cô

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Bộ môn Ngôn ngữ học, Phòng SĐH Trường

ĐH KHXH&NV TP.HCM- nơi đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

và trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi đến gia đình, bạn bè lòng biết ơn chân thành vì đã tạo điều kiện và luôn khích lệ tôi trong suốt thời gian qua

Trang 5

iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời tri ân ii

Mục lục iii

Quy ước trình bày vii

Danh mục bảng biểu viii

Danh mục hình ix

Danh mục phụ lục x

DẪN NHẬP 1

0.1 Lý do chọn đề tài 1

0.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

0.2.1 Trên thế giới 1

0.2.2 Ở Việt Nam 4

0.3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

0.3.1 Mục đích nghiên cứu 8

0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

0.4 Phương pháp, đối tượng, phạm vi và đối tượng nghiên cứu 9

0.5 Đóng góp của luận án 19

0.6 Cấu trúc của luận án 20

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 22

1.1 Khái niệm về giới từ và giới ngữ 22

1.2 Giới từ định vị và sự tình định vị không gian 25

1.2.1 Khái niệm giới từ định vị 25

1.2.2 Phạm trù về sự tình định vị không gian 26

1.2.3 Mối quan hệ giữa giới từ định vị và các thành tố sự tình định vị 35

1.3 Các quan điểm nghiên cứu 37

Trang 6

iv

1.4 Bình diện ngữ pháp của giới từ định vị 42

1.4.1 Sự tình chuyển động 42

1.4.2 Quan hệ chuyển tác 45

1.4.3 Các mô hình ngữ pháp của giới từ định vị trong tiếng Anh 48

1.5 Bình diện ngữ nghĩa của giới từ định vị 50

1.5.1 Nghĩa biểu hiện và nghĩa cấu trúc 50

1.5.2.Sự đa nghĩa từ vựng trong kết cấu 53

1.5.3 Điểm nhìn của giới từ định vị trong tiếng Anh 55

1.6 TĐTV với giới từ định vị 56

1.6.1 Các quan niệm về TĐTV 56

16.2 Các vai trò, phân loại TĐTV và đặc tính 58

1.6.3 Cơ chế hoạt động trên bình diện ngữ pháp của các TĐTV 64

1.7.Tiểu kết 69

CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP CỦA GIỚI TỪ TIẾNG ANH 71 VÀ CÁC HÌNH THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG GIỚI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT 71

2.1 Mô hình ngữ pháp của giới từ định vị AT, IN, ON 71

2.1.1 Mô hình ngôn ngữ định khung động từ (VFL) 71

2.1.2 Mô hình ngôn ngữ định khung thành phần phụ (SFL) 77

2.1.3 Mô hình bổ ngữ của động từ (VM) 85

2.2 Mô hình ngữ pháp của TĐTV theo Talmy, Goldberg và Slobin 102

2.2.1 Mô hình ngôn ngữ định khung thành phần tương ứng (EFL) 102

2.2.2 Mô hình mang tính lưỡng phân trong tiếng Việt theo Talmy, Goldberg 104

2.2.3 Mô hình bổ ngữ của động từ của các TĐTV 111

2.3 Khảo sát cách chuyển dịch giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh sang TĐTV 113

2.3.1 Những điểm tương đồng và khác biệt 113

2.3.2 Nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt 118

2.4 Tiểu kết 129

Trang 7

v

CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA CỦA GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁC HÌNH THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG

VIỆT 130

3.1 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh 130

3.1.1 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT 130

3.1.2 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị IN 131

3.1.3 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị ON 133

3.1.4 TĐTV trong từ điển và tài liệu, giáo trình ngôn ngữ 135

3.2 Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV 141

3.2.1 Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị AT 142

3.2.2 Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị IN 148

3.2.3 Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị ON 152

3.2.4 Chiều kích nghĩa của giới từ định vị AT, IN, ON và các TĐTV 155

3.2.5 Các vai nghĩa tích hợp phương thức chuyển động 157

3.3 Khảo sát cách chuyển dịch giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và TĐTV 160

3.3.1 Những điểm tương đồng và khác biệt 161

3.3.2 Nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt 165

3.4 Tiểu kết 171

KẾT LUẬN 173

TÀI LIỆU THAM KHẢO 177

NGUỒN NGỮ LIỆU VĂN HỌC 187

DANH MỤC TỪ ĐIỂN 188

TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC 189

DANH MỤC BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 190

PHỤ LỤC 191

Trang 8

vi

QUY ƯỚC

1 Viết tắt

Để giản tiện trong trình bày, một số từ ngữ thường lặp lại trong luận

án sẽ được viết tắt như sau:

- TĐTV: hình thức tương đương giới từ trong tiếng Việt

Trang 9

vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Nguyên tắc tôn ti (Thematic Hierachy) 53

Bảng 1.2 Cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp của các tham thể 54

Bảng 1.3 Danh sách các TĐTV tương ứng với giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh 69

Bảng 2.1 Khái quát mô hình VFL 71

Bảng 2.2 Ví dụ minh hoạ của các TĐTV trong mô hình ngôn ngữ 71

định khung động từ Bảng 2.3 Khái quát mô hình SFL 78

Bảng 2.4 định khung thành phần phụ 78

Bảng 2.5 Khái quát mô hình VM 86

Bảng 2.6 Ví dụ minh hoạ cho mô hình bổ ngữ của động từ (VM) 86

Bảng 2.7 Đối chiếu điểm ngữ pháp tương đồng trong mô hình VFL, SFL, VM của Talmy và Goldberg 114

Bảng 2.8 Thống kê trên bình diện ngữ pháp với câu tiếng Anh 128

Bảng 2.9 Thống kê trên bình diện ngữ pháp với câu tiếng Việt 128

Bảng 3.1 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT theo sự tình định vị không gian 130

Bảng 3.2 Tổng hợp nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT 131

Bảng 3.3 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị IN theo sự tình định vị không gian 132

Bảng 3.4 Tổng hợp nghĩa biểu hiện của giới từ định vị IN 133

Bảng 3.5 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị ON theo sự tình định vị không gian 134

Bảng 3.6 Tổng hợp nghĩa biểu hiện của giới từ định vị ON 135

Bảng 3.7 Tổng kết nghĩa biểu hiện của giới từ định vị không gian AT, IN, ON 135

Bảng 3.8 Giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV 136

Trang 10

viii

Bảng 3.9 Thống kê ngữ nghĩa của giới từ định vị AT, IN, ON theo sự tình

định vị không gian và văn hoá, điểm nhìn, góc nhìn của ống kính camera 137

Bảng 3.10 Nghĩa cấu trúc của giới từ định vịAT, IN, ONtrong tiếng Anh

và các TĐTV 141

Bảng 3.11 Kết quả khảo sát ngữ liệu trong ba tác phẩm văn học: Jên Erơ

chuyện phiêu lưu của Tom Sawyer, Aivanho 160

Bảng 3.12 Thống kê trên bình diện ngữ nghĩa 171

Trang 11

ix

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Hình tròn kéo co giãn thành hình vuông trong “tô-pô” 29

Hình 1.2 Vòng tròn kéo co giãn thành tách cà phê trong “tô-pô” 29

Hình 1.3 Hướng không gian định vị của động từ “ra” 31

Hình 1.4 Hướng không gian định vị của động từ “vào” 32

Hình 1.5 Hướng không gian định vị của động từ “lên” 32

Hình 1.6 Hướng không gian định vị của động từ “xuống” 32

Hình 1.7 Hướng không gian định vị của động từ “sang/ qua” 32

Hình 1.8 Không gian cơ sở thực tế 34

Hình 1.9 Chuyển động tịnh tiến 44

Hình 1.10 Chuyển động tự thân 45

Hình 1.11 Khung tham chiếu định vị không gian theo đối tượng định hướng 63

Hình 1.12 Khung tham chiếu định vị không gian đường phân cắt 64

Hình 2.1 “Ngôn ngữ định khung động từ” với sự chuyển động của chiếc lá 73

Hình 2.2 Cấu trúc hình cây của mô hình “Ngôn ngữ định khung động từ” 73

Hình 2.3 “Ngôn ngữ định khung thành phần phụ” 79

Hình 3.1 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT 130

Hình 3.2 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị IN 131

Hình 3.3 Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị ON 133

Hình 3.4 Vật thể ở trong đường biên của một vật thể khác 151

Hình 3.5 Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị ON trong tiếng Anh 153

Trang 12

x

DANH MỤC PHỤ LỤC

1 Phụ lục 1 (PL1) Những mẫu câu không theo mô

hình ngữ pháp VFL, SFL, VM của Talmy, Goldberg

191

2 Phân biệt giới từ định vị AT, IN, ON 196

3 Bài làm khảo sát của sinh viên theo ba mô hình

của Talmy, Goldberg trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp

199

Trang 13

1

DẪN NHẬP 0.1 Lý do chọn đề tài

Trong nhiều nghiên cứu trước đây, nhóm giới từ định vị trong tiếng Anh và các hình thức tương đương trong tiếng Việt (TĐTV) chưa được nghiên cứu sâu theo hướng xem xét mối liên

hệ giữa động từ chuyển động chuyển tác với giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV cũng như việc ứng dụng những kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giao tiếp và giảng dạy Chính vì vậy, trong luận án này, chúng tôi sẽ nghiên cứu cụ thể hơn giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV trên bình diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa theo ba mô hình ngữ pháp kết cấu của Talmy (1983, 1985), Goldberg (1985, 2000) và mô hình ngôn ngữ định khung thành phần tương ứng của Slobin (2004) Đồng thời, chúng tôi cũng so sánh đối chiếu giới từ định vị trong tiếng Anh với các TĐTV để ghi nhận những nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ theo mô

thức: Động từ chuyển động chuyển tác + giới từ định vị với ý niệm chỉ hướng và các phạm trù

khác ngoài phạm trù định vị dưới tác động của tính chuyển động chuyển tác trong sự tình chuyển động Luận án không có tham vọng khảo sát tất cả các phương diện trong hai bình diện nêu

trên mà chỉ khảo sát giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh trên bình diện ngữ pháp dựa trên các mô hình ngữ pháp kết cấu của Talmy, Goldberg và Slobin (A construction grammar

approach) và bình diện ngữ nghĩa theo Herskovits

Trên bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, TĐTV hầu như chưa được khảo sát và miêu tả có hệ thống hoặc chỉ được miêu tả ở mức độ giải thích ý nghĩa và cách sử dụng của từng TĐTV riêng

lẻ Từ đó, chúng tôi nhận thấy sự cấp thiết của việc khảo sát TĐTV trên cả hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa

Vì vậy, chúng tôi chọn các giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV làm

đối tượng nghiên cứu của luận án trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa

0.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.2.1 Trên thế giới

a Các nghiên cứu giới từ trên thế giới trên bình diện ngữ pháp

Việc phân định giới từ đã có lịch sử nghiên cứu khá lâu đời Trên cơ sở kế thừa các lý luận

về từ loại của các triết gia, học giả Hy Lạp thời cổ đại như Protagoras, Platon, Aristole, một số học giả theo học phái Alexandrie đã xác lập hệ thống từ loại trong tiếng Hy Lạp gồm tám kiểu từ

loại trong đó có giới từ hay tiền trí từ (các từ loại khác là danh từ, động từ, tính động từ, thành phần, đại danh từ, phó từ và liên từ) Do đó, giới từ được học phái này quan niệm là kiểu từ loại có thể đứng trước các từ loại khác và giới từ được dùng trong kết cấu nội bộ của cụm từ và

Trang 14

2

câu (Yadroff và Franks, 2003; Weber, 2012)

Đến thế kỷ IV sau công nguyên, Donatus và Priscianus chia tiếng La tinh thành tám kiểu loại (danh từ, động từ, đại từ, tính động từ, phó từ, liên từ, thán từ và giới từ) (Yadroff và Franks,

1999;Weber, 2012) Trong đó, giới từ được xác định có đặc điểm là từ dùng như một từ riêng

biệt đứng trước các từ biến cách và kết hợp với cả các từ biến cách và các từ không biến cách Các nhà ngữ pháp học Châu Âu dựa vào kết quả này để xây dựng nên một hệ thống từ loại bao gồm chín kiểu từ loại là: article (quán từ), substantif (danh từ), adjectif (tính từ), verbe (động từ), adverbe (trạng từ), pronom (đại từ), préposition (giới từ), conjunction (liên từ) và interjection (thán từ)

Về sau, bảng từ loại trong hệ thống ngôn ngữ Châu Âu này được xem như là bảng phân loại kinh điển và được dùng để miêu tả hệ thống từ loại ngữ pháp của nhiều ngôn ngữ trên thế giới nhất là ở Châu Âu

Halliday (1973, 1975) cho rằng giới từ thường xuất hiện trong các ngữ cảnh giao tiếp với mối quan hệ hỗ tương giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa Clark (1973) và Lyons (1977) cho rằng giới

từ định vị không gian tiếng Anh (locative prepositions) được sử dụng để mô tả vị trí của một thực thể trong mối tương quan với thực thể khác trong không gian và chúng được gọi là giới từ

quan hệ (relational prepositions) như: giới từ IN (trong), behind (phía sau) hoặc above (phía

trên)

b Các nghiên cứu giới từ trên bình diện tri nhận

Talmy (1983), Herskovits (1987) được xem là một trong những người tiên phong trong việc nghiên cứu giới từ định vị theo góc nhìn trong ngôn ngữ trong việc tri nhận sự vật Trong các nghiên cứu của mình, các nhà ngôn ngữ này mô tả nhóm giới từ theo phương thẳng đứng

(vertical dimension) như ON the top of (trên đỉnh), ON the bottom of (dưới đáy), underneath (bên

dưới), Giới từ theo phương thẳng đứng (vertical dimension) được xem như là một hiện tượng

ngôn ngữ đặc biệt vì chúng được cố định bởi lực hấp dẫn của trái đất Theo đó, Talmy đề cập đến

“sơ đồ không gian” của giới từ (tức là các kiểu tri nhận không gian của giới từ ), các đối tượng định vị (ĐTĐV), phân loại các giới từ theo các thuộc tính không gian: vật lý, hình học, “tô-pô” Ngoài ra, Talmy cũng thảo luận về hình học của các vật thể trong mối quan hệ không gian và các cấu trúc không gian Herkskovits (1986) bổ sung thêm rằng đối tượng quy chiếu được nhìn từ bên ngoài khi người quan sát và đối tượng tham chiếu đối diện với nhau và đối tượng quy chiếu được nhìn từ bên trong khi người quan sát và đối tượng tham chiếu nằm trên cùng một toạ độ trong một trật tự cơ bản nhất định Một đóng góp quan trọng khác của Herskovits (1986) là ông

Trang 15

3

đã chỉ ra mối liên hệ “tô-pô” (topologia prepositions) của một số giới từ như IN (trong), AT (tại),

ON (trên) và near (gần) như trong ví dụ: The cat is ON the table (Con mèo trên bàn) Trong đó,

giới từ ON (trên) chỉ mối liên hệ “tô-pô” giữa con mèo (the cat) và cái bàn (the table) Sở dĩ giới

từ ON (trên) là giới từ chỉ mối liên hệ “tô-pô” vì người quan sát và đối tượng tham chiếu nằm

trên cùng một toạ độ theo trật tự phương thẳng đứng nhất định trong không gian Những giới từ

khác như in front of (phía trước), behind (phía sau), above (phía trên), below (bên dưới) chỉ mối

quan hệ hướng giữa một thực thể này với thực thể khác và được gọi là giới từ chỉ hướng (projective prepositions) Thêm vào đó, Herskovits (1986) còn bàn thảo về giới từ theo các tình huống giao tiếp với những vai nghĩa theo phạm trù ngữ dụng theo góc nhìn trong việc tri nhận giới từ

c Các nghiên cứu theo khung quy chiếu định vị

Đặc biệt, giới từ định vị được định nghĩa là từ loại được dùng để xác định mối quan hệ giữa một đối tượng định vị (ĐTĐV) và đối tượng quy chiếu (ĐTQC) bằng cách thiết lập một khung quy chiếu mà thông qua khung quy chiếu này ĐTĐV có thể được định vị (Logan và Sadler, 1996; Levinson, 1996)1 Các kiểu loại hình học khác nhau có thể là cơ sở trong việc tri nhận ngữ nghĩa của giới từ thông qua các mô hình cấu trúc liên kết hoặc hình học (Crangle và Suppes, 1989) với các khung tham chiếu khác nhau thông qua các tính năng sở chỉ, tính năng nội tại hoặc thông qua môi trường tương tác giữa các đối tượng Sở dĩ giới từ mang nhiều sắc thái ngữ nghĩa khác nhau là do giới từ được bao chứa trong những khung qui chiếu hình học khác nhau (Levinson, 1996) Các yếu tố phi hình học khác nhau của một đối tượng định vị (như chức năng

và động lực) cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình định vị (Herskovits, 1986; Vandeloise, 1991; Bowerman, 1996; Feist và Gentner, 1998; Coventry và Garrod, 2004; Carlson

và Van der Zee, 2005; Gärdenfors, 2014)2 Do đó, giới từ định vị liên quan đến khung tham

1 These locative prepositions define a relation between a trajector and landmark, by identifying a particular ‘region of acceptability’ or ‘search domain’ with respect to the landmark where the trajector can be found

2 (Different geometries can be the basis of a preposition’s meaning, like topology or projective geometry (Crangle and Suppes 1989) with different frames of reference, making use of deictic, intrinsic or environmental features (Levinson 1996)) Various non-geometric factors (like function and force-dynamics) also play an important role (e.g Herskovits 1986; Vandeloise 1991; Bowerman 1996; Feist and Gentner 1998; Coventry and Garrod 2004;

Trang 16

4

chiếu trong không gian tự nhiên3

d Các nghiên cứu trên bình diện ngữ nghĩa

Herskovits (1986) bàn luận về giới từ theo các tình huống giao tiếp với những vai nghĩa thuộc phạm trù ngữ dụng từ góc nhìn trong việc tri nhận giới từ

Một điều đáng chú ý khác, Tyler and Evans (2003) phân tích sự hình dung về điển cảnh của một số giới từ có đặc trưng là bao gồm cả không gian ý niệm giữa ĐTĐV và ĐTQC Leech and Svartvit (2006) bàn thảo nhiều vấn đề về giới từ trong không gian và việc lựa chọn giới từ nào trong câu phụ thuộc vào cách thức mà người nói nhìn nhận sự vật theo các chiều của không gian (không gian có một chiều, không gian có hai chiều hay không gian có ba chiều)

0.2.2 Ở Việt Nam

Trong chừng mực nào đó, lớp từ định vị trong tiếng Việt tương ứng với giới từ định vị

trong tiếng Anh chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu đúng mức Với những tài liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy rằng lớp từ loại này trong tiếng Việt được các nhà nghiên cứu ở những thời kỳ khác nhau đề cập trong các công trình sau với tên gọi là giới từ hay là lớp từ loại có chức năng giống với giới từ trong tiếng Anh như Dư Ngọc Ngân (1990, 1998, 1995, 2000, 2001), Lý Toàn Thắng (1994, 2002), Lê Kính Thắng (2004, 2006)

Carlson and van der Zee 2005; Gärdenfors 2014) và Radden & Dirven (2007: 304, 305) (reference frames in physical space) và tất cả khung tham chiếu này đều ảnh hưởng đến đối tượng quy chiếu (landmark) Ngoài ra, giới từ cũng hoạt động thông qua mối quan hệ tương tác qua lại giữa đối tượng định vị (trajector) và đối tượng qui chiếu trong nội hàm không gian nhất định trong khung tham chiếu “tô-pô” không gian

3 Radden & Dirven (2007: 307) cho rằng khái niệm "cấu trúc liên kết không gian"

là cấu trúc về không gian vật lý của các đối tượng định vị trong không gian vật lý và được phản ánh thông qua ngôn ngữ với ba loại quan hệ không gian cơ bản: vị trí, hướng và mức

độ theo hai chiến lược cơ bản về việc định vị các thực thể trong không gian là: kích thước của một mốc và định hướng giữa các mốc (The notion "topology of space" shall be understood here as our commonsense structuring of physical space and entities in physical space as reflected in language We will first consider three basic types of spatial relations: location, direction and extent and then discuss the two basic strategies of locating entities

in space in English: dimension of a landmark and orientation between landmarks)

Trang 17

5

+Trên bình diện ngữ pháp

Ở Việt Nam, tài liệu cũ nhất bằng tiếng Việt có lẽ là bài viết “Báo cáo vắn tắt về tiếng An

Nam hay Đông kinh” trong cuốn từ điển Việt-Bồ- La của tác giả Alexandre de Rhôdes được xuất

bản năm 1651 tại Rome đã chỉ rõ giới từ trong tiếng Việt là một trong bốn kiểu từ loại thuộc thành phần không biến hình của lời nói (đi cùng phó từ, thán từ, liên từ)

Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm và Bùi Kỷ (1940: 131) trong “Việt Nam văn phạm” đã cho rằng “giới từ là tiếng dùng để liên lạc một tiếng với tiếng túc từ của nó” và chúng ta cần dựa vào các cách phân loại nghĩa để xác định giới từ Bên cạnh đó, trong cuốn “Văn phạm Việt

Nam”, Bùi Đức Tịnh (1952, 2003, 2005) tuy không nêu rõ giới từ được định nghĩa như thế nào

nhưng ông xếp chúng vào nhóm các liên từ phụ thuộc (bởi vì, cho nên, tuy nhưng) và tạo thành lớp “giới từ và giới ngữ” và đây là những thuật ngữ dùng để chỉ sự tương quan giữa ý nghĩa của

hai từ và hai mệnh đề

Trong công trình “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt”, Nguyễn Kim Thản (1963: 330-347) tách giới từ thành một từ loại trong nhóm từ loại hư từ Ông cho rằng giới từ là một loại hư từ

(trong nhóm quan hệ từ) có vai trò nối liền các từ phụ (hay từ tổ phụ) với từ chính (hay từ tổ

chính) để biểu thị mối quan hệ ngữ pháp trong câu như trong ví dụ: đi với tôi (với là giới từ nối liền từ đi và từ tôi) Đặc biệt, trong công trình nghiên cứu, ông chỉ nghiên cứu về một số giới từ chính trong tiếng Việt như ở, ở trong như trong ví dụ Anh bếp ở trong chạy ra (ở trong là giới từ nối liền hai từ anh bếp và từ chạy ra) Do đó, các từ “trên”, “dưới”, “trong”, “ngoài”, “trước”,

“sau” không được xếp vào nhóm giới từ mà thuộc về phạm trù “thời động từ” Theo đó, giới từ

là từ loại đứng trước danh từ và danh từ là đồng ngữ mang ý nghĩa ngữ pháp về địa điểm, thời gian hay khối lượng để làm thành phần cấu trúc câu (là thành phần của từ tổ phụ (hay từ tổ phụ) với từ chính (hay từ tổ chính)

Nguyễn Tài Cẩn (1975, 1981: 326) trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng- Từ ghép-

Đoản ngữ)” cho rằng quan hệ từ (bao gồm giới từ và liên từ) là từ loại có khả năng đi kèm với

đoản ngữ, là cái dấu nối hai chiều, nối đoản ngữ với một đơn vị nào đấy tạo thành một đơn vị lớn

hơn như trong ví dụ: Làm việc ở nhà Trong đó, từ ở dùng để nối hai từ làm việc và nhà; nếu không có từ ở, câu văn sẽ đổi nghĩa thành làm việc nhà (quét nhà, rửa chén, giặt đồ, ) thay cho nghĩa đúng là làm việc nhưng không đến công ty mà làm việc ở nhà mình chẳng hạn

Giáo trình của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam-“Ngữ pháp tiếng Việt” (1983: 162) khái quát từ loại quan hệ với các đặc điểm và tác dụng của từ loại này (không nêu ra định nghĩa) Trong đó, quan hệ từ được hiểu là một loại từ loại bao gồm giới từ, liên từ hoặc từ định hình cú

Trang 18

6

pháp hoặc từ nối dùng để nối các thành phần trong nhóm từ và trong câu hoặc các thành tố trong

các cụm từ Do đó, quan hệ từ không có ý nghĩa phạm trù, chức năng; quan hệ từ là công cụ ngữ pháp dùng để góp phần “hiện thực hoá” các quan hệ cú pháp trong các cụm từ, trong câu để hình

thành nên các kết cấu ngữ pháp

Diệp Quang Ban (1989: 143-149) dùng thuật ngữ kết từ trong tài liệu “Ngữ pháp tiếng Việt

phổ thông” Trong đó, ông định nghĩa kết từ (còn gọi quan hệ từ) là những hư từ dùng để liên kết

các từ với nhau trong câu hoặc liên kết các vế với nhau trong câu Trong đó, ông phân biệt rõ kết

từ bao hàm giới từ và liên từ nhưng ở những chỗ cần thiết ông xác định rõ từng từ loại là giới từ

hay liên từ như sau:

*Giới từ là từ được dùng để nối định ngữ với danh từ (thành tố chính) hoặc bổ ngữ gián

tiếp với động từ (thành tố chính) như các từ của, bằng, do, vì, tại, bởi, để, từ, đến

*Liên từ gồm các từ và, với, cùng, cùng với, cũng, như, còn, mà, hay, hay là, hoặc, hoặc là,

Diệp Quang Ban (1989) cho rằng ranh giới giữa liên từ và giới từ rất khó xác định do tính chất đa chức năng của các yếu tố ngôn ngữ này và ông kết luận rằng tất cả các hư từ cú pháp

(giới từ và liên từ) tập hợp trong một phạm trù chung là quan hệ từ với ba tiểu loại:

(a) Các liên từ thuần tuý (liên kết các thành phần trong câu hoặc các câu lại với nhau)

như trong ví dụ Vì mệt, tôi không đến trường được (Vì đóng vai trò liên từ nối các thành phần trong câu- mệt, tôi không đến trường được và đồng thời chỉ nguyên nhân của sự việc)

(b) Các giới từ thuần tuý với ví dụ Chạy vào nhà (vào đóng vai trò từ nối các thành phần

trong câu: chạy, nhà và đồng thời chỉ vị trí của hướng chạy)

(c) Các liên từ -giới từ

Nguyễn Như Ý và các tác giả (1997: 105) định nghĩa giới từ là một từ loại mang ý nghĩa

phạm trù, đặc trưng của nó là biểu thị mối quan hệ của đối tượng này với đối tượng khác Hiện

tượng, cảnh huống và nghĩa của giới từ được biểu hiện không phải bằng nghĩa từ vựng chân thực

của từ mà nó được thể hiện bằng những đặc điểm qua quá trình hoạt động với tư cách là các từ

chỉ quan hệ như trong ví dụ làm việc ở nhà máy

Giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (1999) do Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu

và Hoàng Trọng Phiến xem quan hệ từ là những hư từ dùng để liên kết từ với từ, đoạn với đoạn hoặc câu với nhau và quan hệ từ được dùng để nối các cấu trúc ngôn ngữ lớn hơn câu Các tác giả này phân loại quan hệ từ thành hai từ loại độc lập là liên từ và quan hệ từ phụ thuộc với tên gọi là giới từ

Trang 19

7

Trong giáo trình “Cơ sở tiếng Việt” (2000: 160), Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan cho rằng kết từ được dùng để nối kết các thực từ Các tác giả này công nhận giới từ trong tiếng Việt và các tác giả chia kết từ thành hai kiểu loại là: liên từ và giới từ Trong đó, giới từ diễn đạt

mối quan hệ chính phụ thường được dùng để nối định ngữ với danh từ hoặc bổ ngữ gián tiếp với

động từ Liên từ được dùng để diễn đạt mối quan hệ bình đẳng về ngữ pháp hoặc quan hệ qua lại

về ngữ pháp và nghĩa khi nối các vế trong câu

Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (2001: 161), tác giả Hữu Quỳnh cho rằng quan hệ từ là

những từ chỉ mối quan hệ ngữ pháp và được dùng để nối các thành phần trong câu hay các thành

tố trong các cụm từ

Nguyễn Văn Thành (2003: 476) với công trình nghiên cứu “Tiếng Việt hiện đại (Từ pháp

học) tách giới từ ra khỏi liên từ thành hai từ loại độc lập với định nghĩa giới từ là những từ được

dùng để bổ trợ nghĩa trong quan hệ ngữ pháp, luôn đi trước danh từ, đại từ, số từ nhằm để giới hạn các hành động hay sự kiện về các “địa điểm cụ thể hoặc thời gian cụ thể hay biểu thị nguyên nhân, mục đích, đối tượng, phương tiện và cách thức cụ thể của đối tượng diễn ra trong câu” Cao

Xuân Hạo chủ biên (2005:113), trong cuốn “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 2- Ngữ đoạn

và Từ loại” đã tách giới từ ra khỏi liên từ để trở thành hai từ loại độc lập Do đó, giới từ được

xem như là những từ được dùng để đánh dấu mối quan hệ chính phụ, tức là ngữ đoạn đi sau nó là phụ (phụ của câu được tác giả gọi là trạng ngữ, phụ của ngữ danh từ thì gọi là định ngữ, phụ của ngữ động từ gọi là bổ ngữ)

+ Trên bình diện ngữ pháp cấu trúc tham thể

Trần Quang Hải (2001) khảo sát giới từ tiếng Anh với tám quan hệ về vị trí (3 vị trí “tô- pô”, 5 vị trí quy chiếu) cùng với 9 quan hệ theo đường dẫn (phối hợp với 3 vai đường dẫn với 3 loại đường dẫn) và qua sự đối chiếu giữa giới từ trong tiếng Anh và tiếng Việt, tác giả cho rằng

sự khác biệt giữa giới từ định vị tiếng Anh và tiếng Việt tồn tại qua hai góc độ là nghĩa của từ và

sự lựa chọn ĐTQC với 4 nguyên nhân chính gây ra sự khác biệt của hai ngôn ngữ: quan niệm triết học về chia cắt không gian, thói quen về nơi cư trú, tác động bởi địa hình, phương hướng bầu trời và tác động của đặc tính xã hội

+Trên bình diện ngữ nghĩa

Bùi Đức Tịnh (1952), Đinh Văn Đức (1986) nhìn nhận nghĩa giới từ tiếng Việt theo hướng giới từ là một loại hư từ cú pháp “không có nghĩa sở chỉ, sở biểu” mà chỉ là những từ chức năng dùng để “diễn đạt các mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy”, “chỉ sự tương quan ý nghĩa của hai từ ngữ và hai mệnh đề” hay giới từ là “những từ trợ nghĩa ngữ pháp, để giới hạn hành

Trang 20

8

động hay sự kiện về địa điểm cụ thể, thời gian cụ thể hoặc biểu thị nguyên nhân, mục đích, đối

tượng, phương tiện và cách thức cụ thể diễn ra trong câu”

Trong một nghiên cứu gần đây, Đinh Văn Đức (1986, 2001, 2004) phân tích cách dùng của

các giới từ chỉ vị trí như dưới và trên như trong các ví dụ: “Ngồi dưới đất”; “Bóng đèn ở trên

trần”; “Trên bàn có cuốn sách” và “Trên vấn đề này còn nhiều thắc mắc” Theo đó, trên bàn chỉ

một sự vật cụ thể, trên vấn đề chỉ một khái niệm trừu tượng Nghĩa của từ trên trong hai câu:

“Trên bàn có cuốn sách” và “Trên vấn đề này còn nhiều thắc mắc” giống nhau nhưng nghĩa ngữ

pháp lại khác nhau do nghĩa của danh từ đứng sau chúng khác nhau

+ Theo văn hoá, điểm nhìn hay góc ống kính

Có lẽ Nguyễn Lai (1977, 1989) là nhà Việt ngữ học đầu tiên ở Việt Nam quan tâm đến chuyển động, đặc biệt là hướng chuyển động Nhà Việt ngữ học này trong nghiên cứu của mình

đã đưa ra vấn đề về các tiểu từ chỉ hướng mang dáng dấp của giới từ trong tiếng Anh như: lên,

vào, xuống, về, qua, tới, sang và lại chuyển thành động từ trong tiếng Việt Nguyễn Đức Dân

(1998, 2015) trong “Tri nhận thời gian trong tiếng Việt” nhận thức “con người chuyển động trong không gian cũng tức là chuyển động trong thời gian Thời gian trong những không gian đã

đi qua là thời gian đến trước và trở thành thời gian quá khứ Thời gian trong những không gian đi tới là thời gian đến sau và trở thành thời gian tương lai Vậy, khi con người chuyển động, thời gian cũng từ quá khứ tới tương lai” và quan hệ không gian cơ bản trong lô- gích nhận thức của người Việt ẩn chứa trong những từ chỉ quan hệ và hướng chuyển động trong không gian liên

quan mật thiết đến đặc điểm “con người lấy mình làm trung tâm để nhận thức vũ trụ” để thảo

luận về các từ mang hình thái cú pháp như giới từ định vị tiếng Anh

+ Về việc ứng dụng nghiên cứu giới từ trong giảng dạy

Nguyễn Cảnh Hoa (2001) đã khảo sát bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ với việc ứng dụng trong dạy và học giới từ trong tiếng Anh Tuy nhiên, tác giả chỉ mới tập trung đối chiếu một số đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Việt với giới từ tiếng Anh

Thêm vào đó, Lê Văn Thanh (2003) nghiên cứu về ngữ nghĩa của giới từ chỉ không gian trong tiếng Anh (trong sự đối chiếu với tiếng Việt) Theo đó, tác giả tập trung phân tích, mô tả về

nghĩa của ba giới từ AT, IN, ON trong tiếng Anh với các hình thức tương đương trong tiếng Việt

để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt của hai ngôn ngữ Anh và Việt và đề xuất giải pháp cụ thể trong việc dạy và học tiếng Anh và tiếng Việt

0.3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 21

9

Mục đích nghiên cứu của luận án được chúng tôi thể hiện qua các điểm nghiên cứu về giới

từ định vị trong tiếng Anh với ba giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa; so sánh và đối chiếu ba giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV nhằm giải thích sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Anh, Việt

thông qua việc phân tích nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt ấy trên hai bình diện ngữ pháp

và ngữ nghĩa nhằm bổ sung cơ sở lý thuyết về giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV qua các phạm trù khu biệt của hai ngôn ngữ Anh và Việt và việc ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy trên nền tảng ngữ pháp kết cấu và văn hoá, điểm nhìn của hai dân tộc Anh và Việt

0.3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ những mục đích nghiên cứu đã xác định, luận án đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu như sau:

- Luận án được thực hiện nhằm xem xét các đặc trưng của giới từ định vị trong tiếng Anh và các

TĐTV trên hai bình diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa theo mô thức: Động từ chuyển động

chuyển tác + giới từ định vị theo bốn mô hình cú pháp của Talmy, Goldberg, Slobin trên bình

diện ngữ nghĩa và bình diện ngữ pháp thiên về khuynh hướng khảo sát phương diện “hướng” của giới từ định vị tiếng Anh dưới tác động của động từ chuyển động chuyển tác trong mô thức trên mặc dù “ý niệm sở chỉ đánh dấu hướng” không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án

- Chúng tôi khảo sát cách hành chức của giới từ định vị cũng như việc sử dụng giới từ định vị

AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV nhằm tìm ra nguyên nhân của sự tương đồng và sự

khác biệt giữa hai ngôn ngữ về lớp từ này trên cứ liệu đối chiếu là các tác phẩm văn học

Để thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luận án sẽ tập trung làm rõ các vấn đề nghiên cứu chủ yếu sau:

a) Giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV với những đặc điểm cơ bản

trên bình diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa

b) Đối chiếu giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh với các TĐTV trên cứ liệu là các

tác phẩm văn học trên bình diện ngữ pháp

c) Đối chiếu giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh với các TĐTV trên cứ liệu là các

tác phẩm văn học trên bình diện ngữ nghĩa

0.4 Phương pháp, đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu

a Nguồn ngữ liệu và cách xử lý ngữ liệu của luận án

Chúng tôi chỉ nghiên cứu ba giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV trên

cứ liệu các tác phẩm văn học cụ thể là ba tác phẩm văn học bằng tiếng Anh (i) Jane Eyre (ii) The

Trang 22

10

adventures of Tom Sawyer (iii) Ivahoe và ba bản dịch tiếng Việt tương ứng: Jên Erơ, Chuyện phiêu lưu của Tom Sawyer và Aivanhô Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ xem xét chúng trên góc độ ngoài phạm trù định vị trong mối quan hệ với động từ chuyển động chuyển tác gây ra chuyển động

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng “Từ điển từ công cụ” của Đỗ Thanh (1998), “Từ loại tiếng Việt hiện đại” của Lê Biên (1998), “Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1)” của Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung (1996) làm căn cứ xác định TĐTV

Chúng tôi cũng khảo sát bốn cuốn từ điển Anh Việt (i) Hồ Hải Thuỵ, Chu Khắc Thuật và Cao Xuân Phổ (2007) (ii) Từ điển Anh- Việt (1993) (iii) Bùi Phụng (2001) (iv) Trần Văn Điền (1974) và truyện ngắn tuyển chọn lọc của Nam Cao (2004) để tìm từ tương ứng trong lúc chuyển dịch các ví dụ minh hoạ tiếng Anh (xem danh mục từ điển)

Chúng tôi sử dụng những nguồn ngữ liệu này bởi vì nguồn ngữ liệu này bao hàm những

phương tiện định vị (giới từ) tương ứng với những giới từ định vị AT, IN, ON về các nét ngữ

nghĩa đa dạng và tồn tại trong những mô hình từ vựng hóa theo “nhóm ngôn ngữ định vị khung động từ” (mô hình VFL), mô hình từ vựng hóa “nhóm ngôn ngữ định khung thành phần phụ” (mô hình SFL) và mô hình bổ ngữ của động từ (mô hình VM) nhằm giúp chúng tôi nghiên cứu bình diện ngữ pháp, bình diện ngữ nghĩa cũng như đặc điểm cú pháp, đặc điểm ngữ nghĩa và vai

trò của các giới từ định vị AT, IN, ON và các TĐTV trong câu

Chúng tôi khảo sát việc tri nhận giới từ của 48 sinh viên năm thứ II và 52 sinh viên năm III tại Trường Đại học Hoa Sen TP.HCM Thời gian khảo sát là từ năm 2017 đến 2018 qua các bài kiểm tra, bài dịch trong lớp

Do nguồn ngữ liệu lấy từ các nguồn khác nhau: tác phẩm văn học bằng tiếng Anh, tác phẩm văn học bằng tiếng Việt, các trích dẫn từ các nguồn từ điển và tài liệu khảo sát từ các bài làm của sinh viên vì thế trước khi tiến hành xử lý nguồn ngữ liệu, chúng tôi xác định bộ tiêu chí nhận diện các nguồn ngữ liệu trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt để làm cơ sở cho việc

xử lý nguồn ngữ liệu

- Các tiêu chí để lựa chọn nguồn ngữ liệu:

! Các tác phẩm văn học bằng tiếng Anh và tiếng Việt được lựa chọn kỹ lưỡng như các tác phẩm văn học bằng tiếng Anh phải là do tác giả là người bản ngữ và các tác phẩm dịch thuật tương ứng phải do các nhà xuất bản uy tín và các tác giả người Việt có uy tín thực hiện

! Các ngữ liệu được dẫn từ các tác phẩm văn học trong tiếng Anh phải đảm bảo có đầy đủ các trích dẫn tương ứng trong tiếng Việt

Trang 23

Sau đó, chúng tôi xử lý nguồn ngữ liệu theo các bước sau:

! Bước 1: Lựa chọn danh sách các nghĩa ngữ pháp và nghĩa biểu hiện, nghĩa cấu trúc của

giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV

! Bước 2: Thu thập nguồn ngữ liệu từ các từ điển bằng cách sử dụng phương pháp miêu

tả, phân tích, thống kê như bước 1

! Bước 3: Thu thập bảng khảo sát sinh viên bằng cách sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích, thống kê như bước 1

! Bước 4: Làm sạch các văn bản, loại bỏ các thông tin khác (nếu có) khi không phù hợp với nguồn ngữ liệu, tiêu chí của chúng tôi

! Bước 5: Loại bỏ các văn bản trùng lặp

! Bước 6: Chú giải ngôn ngữ và chuẩn hoá ngôn ngữ

b Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

*Đối tượng nghiên cứu là giới từ định vị trong tiếng Anh cụ thể là giới từ định vị AT, IN, ON

trong tiếng Anh và so sánh đối chiếu với các đơn vị tương ứng trong tiếng Việt (TĐTV) trên

bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa

* Phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu giới từ định vị AT, IN, ON

trong tiếng Anh trên bình diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa và so sánh, đối chiếu ngữ pháp

và ngữ nghĩa của chúng với các đơn vị tương ứng trong tiếng Việt (TĐTV)

+Lý do chọn giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh

Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh trên bình

diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa vì những lý do sau:

- Giới từ định vị (locative preposition) AT, IN, ON trong tiếng Anh là những giới từ thông

dụng và là những giới từ có cách thức sử dụng đa dạng (Trần Quang Hải, 2010) Vì thế, việc nghiên cứu các giới từ này mang đến những đóng góp hữu ích trong thực tế Ba giới từ định vị

Trang 24

12

này thường gây nhầm lẫn và khó khăn cho người học như các giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh đều có nghĩa “ở”, “vào lúc”, “vào” trong tiếng Việt Thêm vào đó, giới từ định vị IN,

into đều có nghĩa “vào trong”, “vào” Điều này khiến người học không biết khi nào thì dùng

giới từ định vị IN, khi nào người học dùng giới từ định vị into Tương tự như thế, khi người học muốn biểu đạt vị trí “trên” trong tiếng Anh thì người Việt không biết sử dụng giới từ nào trong số các giới từ định vị như ON hoặc giới từ onto hoặc giới từ over Hơn thế nữa, ba giới từ

định vị không gian này thường gây không ít khó khăn cho người học khi dùng để định vị không gian (xem phụ lục)

- Các giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh là các giới từ có tính “tô-pô” (xem khái

niệm “tô-pô”) Điều này có nghĩa là các giới từ định vị này “không lệ thuộc” vào kích cỡ hay hình dáng của các đối tượng định vị (ĐTĐV) và đối tượng quy chiếu (ĐTQC)

- Theo từ điển Longman (Longman Pocket Idioms Dictionary, 2002), tần số xuất hiện cuả

các giới từ định vị trong thực tế giao tiếp là: giới từ định vị AT (300 lần), giới từ định vị IN (1.021 lần), giới từ định vị ON (618 lần) Bên cạnh đó, theo từ điển Oxford (Oxford Idioms Dictionary, 2006, tái bản lần thứ hai), các giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh có tần số xuất hiện khá cao như giới từ định vị AT (1.366 lần), giới từ định vị IN (3.424 lần), giới từ định

vị ON (1.858 lần)

-Leech, Rayson, Wilson (2001) với số liệu thống kê dựa vào khối liệu của Anh quốc

(British National Corpus) thì giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh được sử dụng theo số

lượt sử dụng trên một triệu chữ số như sau: 4.790, 18.214, 6.475 Vì vậy, có thể kết luận rằng các

giới từ định vị AT, IN, ON là những giới từ mà người học sử dụng thường xuyên và các giới từ

định vị này là những giới từ có thể gây không ít khó khăn trong quá trình thụ đắc tiếng Anh

- Cuối cùng, các giới từ định vị này gây khó khăn cho người học trong quá trình sử dụng

trong những ngữ cảnh giao tiếp4 Trong đó, lỗi của người học khi họ sử dụng giới từ định vị là do

sự ảnh hưởng của tiếng Việt (L1) và các lỗi này tập trung vào giới từ định vị Trong đó, giới từ

định vị AT và giới từ định vị IN là những giới từ mà người học thường xuyên sử dụng sai

+ Vấn đề nghiên cứu của luận án

Những tham thể trong sự tình chuyển động chứa ngữ động từ chuyển động theo ngữ pháp kết cấu chức năng theo trường phái động từ tham thể trong tiếng Anh là Talmy (1983, 1985,

4 trong ngữ liệu khảo sát 100 sinh viên năm thứ ba của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong luận văn thạc sĩ của Dương Thị Kim Hương

Trang 25

13

2000, 2008); Goldberg (1995) với hướng tiếp cận hệ thống ngữ pháp trong mối quan hệ từ vựng

trong cấu trúc câu với những khái niệm hữu quan như sau:

(a) Chuyển động (motion): sự thay đổi từ vị trí này đến vị trí khác của một thực thể: tới, lui, lên, xuống,…

(b) Cấu trúc của sự tình chuyển động (motion event) là cấu trúc gồm có hai sự tình là

chuyển động tịnh tiến và chuyển động tự thân Chuyển động tịnh tiến (translational motion)- sự

thay đổi vị trí liên tục của một đối tượng trong tương quan với khung quy chiếu không gian như

trong ví dụ John ran IN the park (John chạy trong công viên)- John di chuyển bằng cách chạy đến một cái đích (directed motion) là di chuyển từ một vị trí nào đó trong công viên và khung

tham chiếu không gian được hạn định qua chu vi của công viên Chuyển động tự thân (self- contained motion) là chuyển động khép kín, dao động, quay tròn, giãn nở hay lắc lư,… như trong

ví dụ The ball bounced down the step (Trái bóng nảy xuống cầu thang)- Trái bóng di chuyển bằng cách lăn tròn hay dao động đến một cái cái đích (directed motion) là bậc cầu thang đích

(PC) từ vị trí ban đầu (Pa) chẳng hạn với khung tham chiếu không gian là khoảng cách từ Pa đến

PC

(c) Các yếu tố cấu thành nội tại của sự tình chuyển động theo quan điểm của Talmy gồm

có: đối tượng chuyển động (figure), điểm quy chiếu chuyển động (ground), hướng chuyển động (path) và chuyển động (motion) và được gọi chung là thành tố nội tại của sự tình chuyển động

• Đối tượng chuyển động (figure)- là thực thể thực hiện chuyển động trong không gian do

động từ chuyển động biểu thị và đối tượng chuyển động có thể là tác nhân (agent) chuyển

động của chính mình hoặc là đối tượng chịu tác động hay bị thể (theme) như trong ví dụ:

Mary kicked the ball into the room (Mary đá quả bóng vào phòng) với Mary là đối tượng chuyển động hành chức như một tác nhân chuyển động (ran) và the ball là tham thể chịu

tác động hay bị thể do chịu tác động từ Mary

• Điểm quy chiếu chuyển động (ground) là thực thể quy chiếu, được định vị và có liên quan đến khung quy chiếu Hướng chuyển động của đối tượng chuyển động được xác định trong tương quan với thực thể quy chiếu như trong ví dụ: The bottle moved into

the cave (Cái chai di chuyển vào trong động) với động là điểm quy chiếu với khung

quy chiếu là không gian từ điểm xuất phát (ϕ-không rõ) đến điểm kết thúc của chuyển

động là cái động

Hướng chuyển động (path): biểu thị hướng chuyển động của đối tượng chuyển động

hoặc khoảng không gian do đối tượng chiếm giữ trong tương quan với đối tượng quy

Trang 26

14

chiếu Hướng chuyển động có thể là hướng lên, hướng xuống, hướng tới, hướng lui, dọc,

vòng quanh,… trong mối tương quan với một điểm quy chiếu nào đó của chuyển động

Hướng chuyển động được diễn đạt bằng một giới từ chỉ hướng như trong ví dụ: He

scrambled up the cliff (Anh ta leo lên vách đá) và hướng chuyển động trong ví dụ này

được biểu hiện qua giới từ chỉ hướng up

Chuyển động (motion): biểu thị ý nghĩa đối tượng chuyển động mà có thể không cần nêu

rõ hướng chuyển động qua ngữ cảnh hay không đề cập đến bản chất của chuyển động

(d) Thành tố bên ngoài của sự tình chuyển động bao gồm hai yếu tố: phương thức chuyển động (manner) và nguyên nhân chuyển động (cause)

Phương thức chuyển động (manner) là một hành động phụ trợ hoặc trạng thái mà đối tượng chịu tác động hay bị thể (theme) biểu thị đồng thời với chuyển động (hành động) hoặc

trạng thái chính Đây là nét nghĩa quan trọng trong câu liên quan đến các động từ chuyển

động trong tiếng Anh như trong ví dụ của động từ run (chạy) như sau: cấu trúc ngữ nghĩa

của động từ run bao gồm một chuyển động chính (chạy) và một chuyển động phụ thể hiện

sự hoạt động liên tục của chân trong quá trình thực hiện chuyển động chính và điều này được gọi là phương thức chuyển động Từ đó, Talmy gọi các động từ này là động từ chuyển

động phương thức (manner verbs) (có nghĩa là bao gồm cả chuyển động và phương thức

chuyển động)

Nguyên nhân chuyển động (cause): chỉ các loại sự tình tác động khác nhau và về bản chất

chúng được đánh dấu bằng các giới ngữ bắt đầu bằng các giới từ như from hoặc by như trong

ví dụ: The pencil blew off the table (Cây bút chì {bị} thổi ra khỏi cái bàn) Qua ví dụ nêu trên, động từ chuyển động blew (thổi) được Talmy giải thích là do gió thổi đi và đó là

nguyên nhân khiến sự tình chuyển động (và tác nhân gió được tác giả và người nghe ngầm hiểu trong quá trình sự tình chuyển động xảy ra) Một ví dụ khác, I flicked the ant off my plate (Tôi búng con kiến ra khỏi cái dĩa của tôi) Trong ví dụ này, nguyên nhân của sự tình

chuyển động của đối tượng chịu tác động hay bị thể (theme) – the ant (con kiến) khiến cho đối tượng di chuyển off my plate (ra khỏi cái dĩa của tôi) là động từ chuyển động flicked

(búng)

(e) Với tiền đề là mô hình ngữ pháp của cấu trúc ngữ động từ chuyển động chứa tham thể

là các thành tố của sự tình chuyển động của Talmy (1983, 1985, 2000, 2008) và Goldberg (1995)

trong “Ngữ pháp cấu trúc” (Goldberg’s Construction grammar), chúng tôi nhận thấy có 3 kiểu

loại mô hình từ vựng hoá như sau:

Trang 27

15

Ngôn ngữ định khung động từ (verb- framed-language)(VFL): Mô hình từ vựng hoá

nhóm ngôn ngữ định khung động từ là mô hình từ vựng hoá động từ chuyển động theo

dạng: Động từ chuyển động + cách thức chuyển động (verb [motion+manner]) (In

verb-framed constructions, information about a path of movement is expressed in a verb

(e.g exit, enter, pass) (Talmy, 1983, 1985, 2000: 69) Trong đó, giới từ đóng vai trò là

“đường dẫn” và các động từ chuyển động tích hợp cách thức chuyển động và hướng trong chính bản thân những động từ ấy

Ngôn ngữ định khung thành phần phụ (satellite- framed-language) (SFL) là mô hình từ

vựng hoá động từ chuyển động theo dạng: Động từ chỉ chuyển động và cách thức +

động từ chuyển động và hướng (đường dẫn) (verb[motion+ manner]+ verb[motion+ path]).Trong đó, động từ chuyển động đóng vai trò là tác nhân gây chuyển động còn

giới từ đóng vai trò là “đường dẫn” chỉ hướng (satellite-framed language (SFL) is

information about a path is expressed outside the verb by satellite by adverbial particle

or prepositional phrase (Talmy, 1983, 1985, 2000: 102) vì động từ chuyển động không

bao hàm phương hướng chuyển động cụ thể nào đó

Bổ ngữ của động từ (verb modifiers)(VM)

Ngoài hai mô hình từ vựng hóa các thành tố trong chuyển động của “ngữ động từ chuyển động chứa giới từ trong một sự tình chuyển động” trên, chúng tôi còn nhận thấy

mô hình chuyển động thông qua các thành phần “bổ ngữ của động từ” Trong đó, mô hình này có điểm khác biệt với hai mô hình trên của Talmy là trong khi hai mô hình từ vựng hóa của Talmy chỉ chứa một bổ ngữ sau thành phần phụ thuộc (giới từ) thì mô hình này của Goldberg lại bao hàm hai bổ ngữ và bản thân giới từ không còn đóng vai trò định vị (giữa ĐTĐV và ĐTQC) mà chúng chỉ biểu hiện phạm trù ngữ pháp nào đó vì ĐTQC trong ngữ cảnh ngôn ngữ hiện thời không tồn tại dưới dạng một điểm hay một phạm trù không gian được xem như một điểm theo điều kiện của khung ngữ nghĩa biểu hiện hoặc ĐTQC lúc này là điểm không đứng yên (chuyển động

• Mô hình khung thành phần tương ứng của Slobin (EFL)

Slobin (2004) cho rằng cách thức của chuyển động của động từ trong kết cấu chuỗi động từ có thể được mã hóa khi chúng được thể hiện bằng (a) một động từ xác định, (b) một từ đơn, (c) một đơn vị từ có tần số xuất hiện cao

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lấy giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh theo ngữ pháp kết cấu chức năng với trường phái ngữ pháp động từ tham thể trong mô thức: Động từ

Trang 28

16

chuyển động chuyển tác + giới từ định vị với ba mô hình ngữ pháp kết cấu của Talmy (1983,

1985); Goldberg (1995, 2000): ngôn ngữ định khung động từ (VFL); ngôn ngữ định khung thành

phần phụ (SFL); bổ ngữ của động từ (VM), mô hình khung thành phần tương ứng (EFL) của Slobin làm tiền đề nền tảng để đối chiếu ba giới từ định vị AT, IN, ON với các TĐTV là vì giới từ

định vị AT, IN, ON là thành phần phụ thuộc biểu hiện mối quan hệ định vị không gian của hai

hay nhiều đối tượng định vị (được gọi là thực thể định vị tức là ĐTĐV và ĐTQC) và sự chuyển động trong không gian của một thưc thể ngôn ngữ cũng “chính là quá trình định vị không gian” của thực thể ngôn ngữ ấy trong định vị không gian của thực thể ngôn ngữ đó (Talmy, 1983, 1985) Do đó, “giới từ định vị là tác thể biểu hiện sự tình chuyển động trong không gian” của một thực thể ngôn ngữ Hơn nữa, vì “tính chuyển tác của động từ” chỉ được biểu hiện qua “kết cấu của động từ chuyển động” chứa tham thể theo quan hệ chính phụ Cho nên, giới từ định vị cũng

là thành phần phụ thuộc mang vai trò biểu hiện tính chuyển tác của động từ chuyển động trong

câu và trong luận án, chúng tôi chỉ nghiên cứu ba giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh

+Trong chừng mực nào đó, các TĐTV chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu đúng mức Phần lớn các nhà Việt ngữ học tập trung vào cấu trúc tham thể của động từ Đây là hướng nghiên cứu tham thể trên bình diện ngữ pháp như các tác giả Trần Trọng Kim- Bùi Kỷ- Phạm Duy Khiêm (1940), Nguyễn Kim Thản (1963, 1964, 1977) và Nguyễn Tài Cẩn (1981)

Trong đó, Diệp Quang Ban (1989), Cao Xuân Hạo và các tác giả (1999) cho rằng các TĐTV tương ứng với giới từ định vị trong tiếng Anh trên bình diện ngữ pháp là tiếng thể hiện

mối quan hệ trong mối quan hệ định vị của các thành phần câu như “dùng để liên lạc một tiếng

với tiếng túc từ của nó”, “làm nhiệm vụ liên kết hai từ hay hai bộ phận từ ngữ với nhau”, “ có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với từ chính (hoặc từ tổ chính), “ có khả năng đi kèm đoản ngữ hoặc nối đoản ngữ với một đơn vị nào đấy ở trước để tạo thành đơn vị lớn hơn”, “cho biết ngữ đoạn đi sau nó là phụ” và quan niệm có sự tồn tại của những từ có nhiệm vụ “liên kết các từ với nhau hoặc các vế trong câu”, “diễn đạt mối quan hệ giữa thực từ, các vế câu; dùng để nối các

từ, các kết hợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ với nhau”, tức là những từ “cũng được dùng

để nối những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu” Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học, các TĐTV được xem là các đơn vị trong nhóm từ loại hư từ thể hiện mối

tương quan định vị giữa các thành phần câu (tham thể) với nhau vì “hư từ có tác dụng nối kết các

thành phần của cụm từ và thành phần câu”

+ Khi nghiên cứu các TĐTV theo các quan điểm về động từ và các tham thể, Nguyễn Thị

Quy (1995) với công trình “Vị từ hành động tiếng Việt và các tham thể của nó” (so sánh với

Trang 29

17

tiếng Nga và tiếng Anh) Trong đó, tác giả đã tìm hiểu nghĩa và hệ thống hoá, phân loại nhóm

động từ hành động trong kiểu từ loại động từ và các tiểu loại của động từ hành động; cách diễn đạt các vai nghĩa trong khung vị ngữ “hành động” bằng các bổ ngữ của động từ trong tiếng Việt

với sự so sánh, đối chiếu với tiếng Nga và tiếng Anh về các vai nghĩa sau đây trong tiếng Việt:

tác thể, hành thể, lực, động thể, nghiệm thể, đương thể, đối thể, mục tiêu, tiếp thể, đích, nguồn, công cụ, thời gian, nơi chốn và điều kiện Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp (2008) cũng đã trình bày về nghĩa miêu tả qua việc làm rõ cấu trúc

động từ- tham thể của câu dựa vào quan điểm của Tesnière thông qua việc phân biệt các khái niệm liên quan đến động từ và mô tả danh sách các vai nghĩa cơ bản trong cấu trúc động từ- tham thể Ông cũng làm rõ sự thể hiện hình thức của vai nghĩa và cách thức đánh dấu các vai nghĩa, phân loại các kiểu loại sự tình, sự đối chiếu của cấu trúc vai nghĩa lên cú pháp

c Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên quan điểm của ngữ pháp kết cấu chức năng của Talmy, Goldberg và

Slobin để nghiên cứu giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV trên bình diện

ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa

Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích ngữ pháp, ngữ nghĩa:

Phương pháp này dựa trên các thao tác, thủ pháp phân tích ngữ pháp, ngữ nghĩa để phản ánh đối tượng nghiên cứu (giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV) và xem xét, phân tích các yếu tố liên quan Để tạo nên sức thuyết phục cho các luận điểm trong luận án theo phương

pháp này, chúng tôi kết hợp phương pháp phân tích định tính với phân tích định lượng Trong đó,

phương pháp phân tích định tính được thực hiện trên cơ sở phân tích, suy luận để tìm ra đặc điểm

của giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV Qua đó, chúng tôi phát hiện những điểm tương

đồng và dị biệt của chúng Phương pháp phân tích định lượng được thực hiện trên cơ sở phân

loại, thống kê các yếu tố và kết quả thống kê có tác dụng giúp xác định được sự tương đồng và dị biệt giữa giới từ định vị trong tiếng Anh với các TĐTV

- Phương pháp miêu tả được thực hiện trên cơ sở miêu tả các đặc điểm của từ loại giới từ

định vị tiếng Anh và các TĐTV trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa để từ đó chúng tôi đưa ra những nhận xét, luận giải về cách thức sử dụng từ loại này và sự hành chức của chúng trong

ngôn ngữ văn chương Việc miêu tả này được triển khai theo ba hướng: miêu tả hình thức hoá,

miêu tả không hình thức hoá và miêu tả bằng lời Miêu tả hình thức hoá là phương pháp sử dụng

mô hình, bảng biểu, cấu trúc để miêu tả các bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa Miêu tả không

Trang 30

18

hình thức hoá là phương pháp sử dụng tư liệu, tài liệu thực tế để làm cơ sở để đưa ra những kết

luận và đồng thời chính xác hoá những kết luận ấy Miêu tả bằng lời là phương pháp sử dụng

từ ngữ, thuật ngữ, ký hiệu để diễn đạt, trình bày Với phương pháp miêu tả, luận án sử dụng một

số thủ pháp như sau: (a) Thủ pháp nghiên cứu tư liệu là thủ pháp được thực hiện qua việc nghiên cứu tài liệu về ngôn ngữ học, các tác phẩm văn học nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận án (b) Thủ pháp phân loại được thực hiện khi phân loại nguồn ngữ liệu theo các nội dung thuộc bình diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa (c) Thủ pháp thống kê được sử dụng khi miêu

tả giới từ định vị trong tiếng Anh để thấy được tần xuất xuất hiện của các giới từ AT, IN, ON trong tiếng Anh trong nguồn ngữ liệu để phân tích, đánh giá việc sử dụng chúng ở cấp độ từ

vựng, ngữ pháp

Các phương pháp miêu tả, phân tích dùng để phân tích các ý nghĩa của câu cụ thể như sau: + Ý nghĩa ngữ pháp của câu qua việc phân tích giới từ trong mô hình VFL, giới từ là đường dẫn chuyển động cho động từ trong câu và giới từ có vai trò là đường dẫn chuyển động chỉ hướng chuyển động trong mô hình SFL thông qua thành phần phụ và trong mô hình VM, giới từ là đường dẫn cùng với điểm quy chiếu chuyển động biểu hiện nghĩa ngữ pháp chỉ đích, điểm đến, nguyên nhân, cách thức chuyển động hay tác nhân chuyển động

+ Nghĩa của giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh thông qua các nghĩa biểu hiện

trong các từ điển và nghĩa cấu trúc thông qua ngữ cảnh sử dụng

Các phương pháp miêu tả, phân tích giúp cho luận án có cơ sở để khảo sát giới từ định vị

AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV

- Phương pháp đối chiếu là phương pháp được dùng để chỉ ra những sự tương đồng và

khác biệt giữa giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV trên cơ sở các yếu tố, đơn vị ngôn ngữ được khảo sát Phương pháp này được sử dụng hữu hiệu để nêu bật và mang lại một cái nhìn toàn diện hơn về đặc điểm ngôn ngữ, qua đó biện giải và làm rõ thêm đặc điểm của từ loại này trong hai ngôn ngữ

Cũng như những đối chiếu khác, việc đối chiếu các loại hình ngôn ngữ bao giờ cũng dựa

trên một cơ sở hay một nền tảng nhất định được gọi là “cơ sở so sánh” gọi tắt là TC (Tertium

Comparationis) Luận án sử dụng sự kết hợp đồng thời giữa TC hình thức và TC ngữ dụng trên

cứ liệu các tác phẩm văn học

Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để so sánh các nghĩa của giới từ định vị

AT, IN, ON trong tiếng Anh với các TĐTV

+ So sánh, đối chiếu giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh với các TĐTV trên bình

Trang 31

19

diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa qua bốn mô hình VFL, SFL, VM và EFL trong tiếng Anh

và tiếng Việt

+ Luận án sử dụng TC hình thức trên bình diện ngữ pháp và TC ngữ dụng trên bình diện

ngữ nghĩa khi so sánh giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh với các TĐTV

Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp, các thủ pháp trên được vận dụng kết hợp,

đan xen, hỗ trợ lẫn nhau Vì thế, cơ sở tri nhận của giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và

TĐTV được thể hiện rõ nét Trong đó, phương pháp phân tích định tính giữ vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ quá trình xử lý các dữ liệu của luận án và được xem là cơ sở cho quá trình luận giải, đối chiếu

0.5 Đóng góp của luận án

Luận án là một trong những công trình nghiên cứu có đóng góp về việc đối chiếu giới từ

định vị trong tiếng Anh với các TĐTV theo góc độ hướng dưới tác động của động từ chuyển

động chuyển tác nhìn từ bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa theo ngữ pháp kết cấu

Luận án tổng hợp những quan điểm lý thuyết mới nhất của các nhà nghiên cứu trên thế giới

và Việt Nam về giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV thông qua việc nghiên cứu đặc trưng của các giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV bằng các phương tiện biểu đạt trên hai bình diện: cú pháp học (syntactics) và ngữ nghĩa học (semantics) Hướng nghiên cứu này phù hợp với xu thế nghiên cứu chung của thế giới đã được thể hiện trong các công trình của các tác giả như Lyons (1995), Talmy (1983), Hersokovits (1986), Clark (1973), Chomsky (1981) nhằm góp phần vào quá trình nghiên cứu, đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt

Luận án phân tích và tổng hợp những đặc điểm của giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV để góp phần ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy Theo đó, luận án tiến tới thúc đẩy việc xác lập một cách nhìn hệ thống về giới từ định vị trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa kết cấu Vì thế, chúng tôi hy vọng đóng góp phần nào vào việc bổ sung một số kiến thức trong giảng dạy tiếng Anh cho các sinh viên Việt Nam cũng như góp phần vào nâng cao chất lượng chuyển dịch văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên nền tảng tri thức về giới từ định vị tiếng Anh và các TĐTV Đồng thời, đề tài sử dụng tư liệu cho việc so sánh hai ngôn ngữ Anh và Việt trên phương diện các đặc trưng của từng loại hình ngôn ngữ

Luận án giải thích nghĩa ngữ pháp và nghĩa biểu hiện, nghĩa cấu trúc của giới từ định vị

AT, IN, ON trong tiếng Anh trong mô hình kết cấu của Talmy và Goldberg cũng như Slobin

Theo đó, giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh trong câu không chỉ mang nghĩa biểu hiện

mà còn mang nghĩa kết cấu trong câu Giới từ nằm trong mô hình VFL, SFL, VM và EFL là

Trang 32

20

đường dẫn và tác nhân chỉ hướng của động từ chuyển động chuyển tác (mô hình SFL), giới từ đóng vai trò là từ nối giữa ĐTĐV và ĐTQC và biểu hiện hướng của động từ chuyển động chuyển tác (mô hình VFL), giới từ chỉ điểm đến, đích, (mô hình VM) và trong mô hình ngôn ngữ định khung thành phần tương ứng (EFL), giới từ có vai trò chỉ hướng (mặc dù giới từ chỉ hướng không phải là đối tượng nghiên cứu của đề tài)

Ngoài ra, sự vận dụng hệ thống ngữ pháp kết cấu của Talmy, Goldberg và Slobin có ý nghĩa quan trọng trong kết cấu của câu do sự hòa nhập các vai tham tố của động từ vào vai trò, vị trí của các vai tham tố trong kết cấu Như vậy, có thể nói ngữ pháp, ngữ nghĩa của kết cấu trong câu không phải chỉ đơn thuần là ngữ nghĩa riêng lẻ của các thành phần trong câu, mà nó còn là ngữ nghĩa của một kết cấu phức thể về ngữ nghĩa của các thành phần tham thể trong câu

+ Về mặt cấu trúc, kết cấu trong câu miêu tả một phức thể sự tình do hai sự tình bộ phận cấu thành: sự tình tác động và sự tình chuyển động do sự tác động Hai sự tình này diễn ra theo trật tự tuyến tính về mặt không gian và thời gian

+ Về mặt cú pháp, các tham tố cú pháp hành chức trong kết cấu chuyển động của câu như chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp…nằm trong mối quan hệ không gian chiếu xạ giữa các vai tham tố (tác thể, bị thể, hướng và đích hoặc nguồn, đường dẫn, điểm quy chiếu chuyển động ) trong kết cấu Tham tố tác thể thường xuất hiện ở vị trí chủ ngữ, đối tượng chuyển động hành chức như bổ ngữ trực tiếp trong khung cú pháp của ngữ pháp kết cấu của Talmy, Goldberg

và Slobin

Tóm lại, chúng tôi chỉ mong được đóng góp phần nào về thực tiễn cũng như về lý luận như

đã phân tích vào các công trình nghiên cứu giới từ định vị và làm cơ sở về mặt lý thuyết nghiên cứu ngôn ngữ cũng như việc ứng dụng đề tài vào quá trình giảng dạy và dịch thuật tiếng Anh và tiếng Việt trong bối cảnh hội nhập quốc tế

0.6 Cấu trúc của luận án

Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ đặt ra, luận án được sắp xếp như sau: ngoài phần dẫn nhập (21 trang) và phần kết luận (3 trang), luận án được bố cục thành 3 chương (172 trang) Chương 1 (48 trang): Cơ sở lý thuyết (giới thiệu về giới từ định vị trong tiếng Anh và các TĐTV làm cơ sở cho sự so sánh đối chiếu cũng như khả năng ứng dụng trong giảng dạy giới từ định vị tiếng Anh và các TĐTV)

Chương 2 (58 trang): Đối chiếu bình diện ngữ pháp của giới từ tiếng Anh và các hình thức

tương đương giới từ trong tiếng Việt (đối chiếu bình diện ngữ pháp của giới từ định vị “AT, IN,

ON” trong tiếng Anh dựa trên cơ sở lý thuyết về Ngữ pháp kết cấu (A construction grammar

Trang 33

21

approach) của Talmy, Goldberg qua việc trình bày các kết cấu ngữ pháp, ngữ nghĩa đặc trưng

(có đối chiếu với các TĐTV))

Chương 3 (42 trang): Đối chiếu bình diện ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh và các hình thức

tương đương giới từ trong tiếng Việt (đối chiếu bình diện ngữ nghĩa của giới từ định vị “AT,

IN, ON” trong tiếng Anh dựa trên cơ sở lý thuyết về Ngữ pháp kết cấu (A construction grammar approach) của Talmy, Goldberg qua việc trình bày các kết cấu ngữ nghĩa đặc trưng (có đối chiếu

với các TĐTV))

Trang 34

22

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Luận án phân tích và đối chiếu giới từ định vị tiếng Anh và các TĐTV trên bình diện ngữ

pháp và ngữ nghĩa theo mô thức: Động từ chuyển động chuyển tác + giới từ định vị theo ngữ

pháp kết cấu chức năng với cấu trúc động từ-tham thể với việc lấy giới từ định vị tiếng Anh làm gốc để phân tích và đối chiếu với các TĐTV

Chương 1 của luận án trình bày một số khái niệm hữu quan về giới từ định vị tiếng Anh,

đặc biệt là giới từ định vị được giới hạn vào ba giới từ định vị cơ bản là “AT, IN, ON” trong tiếng Anh (xem dẫn nhập mục 0.2 về lịch sử nghiên cứu giới từ)

1.1 Khái niệm về giới từ và giới ngữ

Giới từ thường được nhìn nhận theo cấu trúc và vai trò ngữ pháp như sau:

Theo Thatcher (2008:22), thuật ngữ “preposition” được dùng để chỉ giới từ trong tiếng

Anh và chúng tôi chọn định nghĩa về giới từ của Thatcher (2008: 22) làm cơ sở để nghiên cứu:

“giới từ là một từ loại với vai trò phụ thuộc được dùng để nối hoặc liên hệ một phần của câu

(thường là danh từ, đại từ hay động từ dưới hình thức (V+ing) hay một bổ ngữ (complement)

tương đương với các thành phần khác của câu hay với cả câu”5

Theo Quirk, Greenbaum, Leech và Svartvik (1985: 659), giới từ trong tiếng Anh có thể

được định nghĩa theo ba tiêu chí là giới từ không thể có (a) một mệnh đề bắt đầu chữ “that”, (b) một mệnh đề bắt đầu bằng động từ nguyên mẫu, (c) một chủ ngữ sở hữu cách tạo thành một đại

từ nhân xưng

Swan (2009) cho rằng giới từ là những từ ON, of, into và theo sau chúng thường là một danh từ hay một đại từ; hay giới từ là một từ hay một cụm giới từ (giới ngữ) như IN (trong), from

(từ), to (đến), out of (ra), ON behalf of (thay mặt) được dùng trước một danh từ hay đại từ để chỉ

nơi chốn, vị trí, thời gian hay phương hướng

Trong English complex prepositions of the prepositional phrase type, Klégr (1997: 669) cho rằng giới từ đơn bao gồm những giới từ như: AT, IN, ON (simple prepositions consist of

5 (“prepositions in English can be defined negatively with three criteria They cannot have…

as a complement: (i.) a that-clause (ii.) an infinitive clause (iii.) a subject case form of a personal pronoun”)

Trang 35

23

single word) và giới từ phức bao gồm hai hoặc nhiều hơn hai giới từ đơn kết hợp lại theo dạng thức: giới từl + bổ ngữ + giới từ26 như: according to (theo như), along with (cùng với)

Theo các nhà Anh ngữ học như Givón (1990, 1993: 95, 556), Quirk, Greenbaum, Leech và

Svartvik (1985: 657), giới ngữ trong cách phân biệt với giới từ phức được xác định bằng mô thức: “giới từ và các bổ ngữ” (preposition and complement) Asher (1994: 5159) cho rằng giới

ngữ (prepositional phrase) là nhóm từ bao gồm giới từ và ngữ danh từ có chức năng như một trạng từ 7như trong ví dụ: He arrived AT the window (Anh ấy hiện ra ở cửa sổ)8 Một nhà nghiên

cứu khác, Jackendoff (1983: 164) cho rằng giới ngữ được xác định theo phương trình sau: Giới

ngữ = giới từ ± hạn định từ + bổ ngữ

Trong đó, hạn định từ (determiner) là lớp từ đặc dụng nhằm hạn định danh từ hay ngữ danh

từ đi sau chúng về phạm trù số lượng hay phạm trù xác định như many dogs (nhiều con chó), few s (vài con chó), this dog (con chó này) Theo cách này, hạn định từ được phân biệt với từ loại tính từ trong tiếng Anh Do đó, tính từ trong tiếng Anh đứng trước danh từ hay ngữ danh từ

để mô tả tính chất của danh từ hay ngữ danh từ đi sau chúng như trong ví dụ: big dogs (những con chó lớn), red dogs (những con chó màu đỏ) (Hockey và Mateyak, 1998: 3) và được minh hoạ bằng ví dụ [1 ], [ 2 ] như sau:

[1] She knew she was destined for a great future

(Cô ấy biết cô ấy đã được sắp đặt cho một tương lai rực rỡ)

short, is used) như “in terms of ”

7 (prepositional phrase (PP, prep phr):a phrase consisting typically of preposition + noun phrase, of which functions like an adverb)

8 Ví dụ nêu trên: He arrived AT the window được dịch từng chữ: Anh ấy đến tại cửa hàng và

anh ấy hiện ra ở cửa sổ (theo nghĩa sử dụng)

Trang 36

(a) Vị trí - chức năng của giới từ + đối tượng quy chiếu ([(place/place-function)+ (thing)] như:

trong phòng (IN the room), dưới nhà (under the house)…Trong ví dụ trên, chúng tôi nhận thấy

rằng các giới từ như “trong” (IN), “dưới” (under) +đối tượng quy chiếu là: phòng, nhà….tạo

thành một giới ngữ

(b) Đường dẫn (chức năng của giới từ) +nơi chốn (chức năng của giới từ) + đối tượng quy chiếu

[(path/path-function)+([(place/place-function)+ (thing)]) như “từ trong nhà” (from in the room),

“từ trên bàn” (from on the table), “từ dưới nhà” (from under the house),… Trong các ví dụ này, chúng tôi nhận thấy rằng các giới từ “từ” (from) cùng với giới từ “trong” (IN), “dưới” (under)+

đối tượng quy chiếu là phòng, bàn, nhà,… tạo thành một giới ngữ Do đó, các giới từ đơn trong giới ngữ luôn đứng trước danh từ trong ngữ

Điều này giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa giới từ đơn, giới từ phức và giới ngữ Giới ngữ được phân biệt với giới từ phức qua vị trí của giới từ đơn đứng trước và giới từ đơn đứng sau một danh từ hay một danh ngữ trong giới từ phức như theo định nghĩa của giới từ phức Theo đó, giới từ phức là loại giới từ bao hàm hai hay nhiều giới từ đơn trở lên trong tổ hợp giới ngữ mà trong đó danh từ hay ngữ danh từ luôn được bao quanh bởi các giới từ đơn đứng

trước và sau những danh từ hay ngữ danh từ ấy như ON (giới từ), account (danh từ), of (giới

Trang 37

25

Trong ví dụ [3], chúng tôi nhận thấy rằng các giới từ như “vào trong” (into), “lên trên”

(onto), “dưới” (under) cùng với giới từ “tới” (to) +đối tượng quy chiếu là: phòng, bàn, nhà…

tạo thành một giới ngữ

1.2 Giới từ định vị và sự tình định vị trong không gian

1.2.1 Khái niệm giới từ định vị (locative prepositons) 9

Giới từ định vị được định nghĩa là từ loại được dùng để xác định mối quan hệ giữa một ĐTĐV và ĐTQC bằng cách thiết lập một khung quy chiếu mà thông qua khung quy chiếu này các đối tượng có thể được định vị (Logan và Sadler, 1996; Levinson, 1996)10 Các kiểu loại hình học khác nhau có thể là cơ sở trong việc tri nhận ngữ nghĩa của giới từ định vị thông qua các mô hình cấu trúc liên kết hoặc hình học (Crangle và Suppes, 1989) với các khung tham chiếu khác nhau thông qua các các tính năng sở chỉ, tính năng nội tại hoặc thông qua môi trường tương tác giữa các đối tượng Sở dĩ giới từ định vị mang nhiều sắc thái ngữ nghĩa khác nhau là do giới từ định vị được bao chứa trong những khung qui chiếu hình học khác nhau (Levinson, 1996) Các yếu tố phi hình học khác nhau của một đối tượng định vị (như chức năng và động lực) cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình định vị (Herskovits, 1986; Vandeloise, 1991; Bowerman, 1996; Feist và Gentner, 1998; Coventry và Garrod, 2004; Carlson và Van der Zee, 2005; Gärdenfors, 2014)11 Do đó, giới từ định vị liên quan đến khung tham chiếu trong không gian tự nhiên (reference frames in physical space) và tất cả khung tham chiếu này đều ảnh hưởng đến ĐTQC là mốc (landmark) Ngoài ra, giới từ định vị hoạt động thông qua mối quan hệ tương tác qua lại giữa ĐTĐV (trajector) và ĐTQC (landmark) trong nội hàm không gian nhất định trong khung tham chiếu “tô-pô” không gian Radden & Dirven (2007: 307) cho rằng khái niệm "cấu

9 Logan and Sadler, 1996 và Levinson, 1996

10 (These locative prepositions define a relation between a trajector and landmark, by identifying a particular “region of acceptability”or “search domain” with respect to the landmark where the trajector can be found (Logan and Sadler, 1996; Levinson, 1996)

11 Different geometries can be the basis of a preposition’s meaning, like topology or projective geometry (Crangle and Suppes, 1989) with different frames of reference, making use of deictic, intrinsic or environmental features (Levinson, 1996)) Various non-geometric factors (like function and force-dynamics) also play an important role (e.g Herskovits, 1986; Vandeloise, 1991; Bowerman, 1996; Feist and Gentner, 1998; Coventry and Garrod, 2004; Carlson and van der Zee, 2005; Gärdenfors, 2014; Radden & Dirven, 2007: 304, 305)

Trang 38

a Không gian trong ngôn ngữ học

Levinson (1996: 357) cho rằng “Nhân loại tư duy theo không gian” (“Human beings think

spatially”) Điều này khẳng định không gian có vai trò rất quan trọng trong nhận thức của loài

người Tuy nhiên, khái niệm không gian trong ngôn ngữ học khác với không gian vật lý khách quan và cũng khác với không gian chủ quan trong đầu óc con người Pinker (1989: 5) viết: trong ngôn ngữ, “không gian tuyệt đối là vô nghĩa và không gian chỉ dẫn cho chúng ta đến điểm bắt đầu bằng sự quy chiếu đến hệ thống các trục (đối xứng) Hệ thống các trục (đối xứng) này được giới hạn một cách cố định theo một cơ chế xác định” Jackendoff (1996: 5) mô tả không gian

ngôn ngữ học “như hai đường dẫn nơ ron (thần kinh) độc lập Thành tố cho sự cảm nhận không gian được gọi là các hệ thống Các hệ thống này bao gồm hai phạm trù là “cái gì” (what) và “ở

đâu” (where) và một cái điều khiển” Câu trả lời cho câu hỏi “cái gì” (what) biểu hiện “tính kỹ

thuật về kích cỡ, hình dáng, màu sắc…và câu trả lời cho câu hỏi “ở đâu” (where) thể hiện sự

định vị không gian Frawley (1992:14-15) nhấn mạnh đến tính phản ánh không gian trong ngôn ngữ theo “không gian chuẩn mực” nghĩa là sự phản ánh không gian có tính “phổ quát chung, ai cũng thấy như vậy, hiểu như vậy và sự diễn đạt có sự thống nhất nhằm phản ánh sự trải nghiệm trực quan chung đối với tất cả mọi người” và người ta sẽ rơi vào trạng thái “ngây thơ” với ý niệm “phi không gian do bị ảnh hưởng bởi tri thức không gian vật lý ” Điều này có nghĩa là: không gian này không được tạo ra bởi các kiến thức khoa học

12 (The notion "topology of space" shall be understood here as our commonsense structuring

of physical space and entities in physical space as reflected in language We will first consider three basic types of spatial relations: location, direction and extent and then discuss the two basic strategies of locating entities in space in English: dimension of a landmark and orientation between landmarks)

Trang 39

27

b Khung định vị trong không gian

Sự tồn tại của các kiểu định vị của giới từ định vị tùy thuộc vào kiểu loại khung định vị

trong không gian

Radden & Dirven (2007: 305) khái quát một số định nghĩa liên quan đến định vị không

gian như sau:

• ĐTĐV (trajector): Sự vật được định vị được gọi là đối tượng định vị (in the cognitive linguistic literature on space, the thing to be located is usually described

không gian”như trong ví dụ [4] dưới đây:

[4] The cat is ON the table [22]13

(Con mèo φ trên bàn)

ĐTĐV ĐTQC

(trajector) (landmark)

Giới từ định vị“ ON” (trên) biểu thị mối “quan hệ về mặt không gian” giữa ĐTĐV:

“cat” (con mèo), ĐTQC: “the table”- (bàn)”

c Khái niệm “trật tự hệ thống” (search domain or region of acceptability) 14

Theo nguyên lý của lực trọng trường và trục quay của trái đất (trục tung) cũng như mặt cắt

ngang mắt của con người trùng với đường chân trời (trục hoành), các thực thể được định vị theo những khung định vị theo một trật tự hệ thống trong khung tham chiếu tự nhiên tung- hoành trong không gian

Bolinger (1971: 28) đưa ra khái niệm về “trật tự hệ thống” Khái niệm này đóng vai trò quan trọng trong chiến lược định vị “Trật tự hệ thống” được hiểu là người nói sử dụng các cột

13 Tài liệu tham khảo khác

14 Logan và Sadler (1996); Bolinger (1971)

Trang 40

28

mốc định vị, những mối quan hệ nâng đỡ (quan hệ chồng), những mối bao hàm (quan hệ choán)

để dẫn dắt người nghe trong những bối cảnh giao tiếp Nói cách khác, người nói tạo một đường dẫn (quan hệ trùng), một tuyến định vị theo một “trật tự hệ thống” để người nghe hình dung ra được vị trí của vật trong không gian nhất định và người nghe tìm được đồ vật tìm kiếm như trong

ví dụ [5] dưới đây:

[5] “The keys are ON (*1) the brick ON (*1) the desk *IN (*1) the living room”

(Chùm chìa khóa ở trên hòn gạch nằm trên bàn trong phòng khách)

Trong ví dụ [5], người nói sử dụng đường dẫn (ký hiệu là *) với mối quan hệ nâng đỡ

trực tiếp (“trên”-“ON” 1), một quan hệ bao chứa (“trong”-“IN” 1) và người nói dẫn dắt người

nghe theo “trật tự hệ thống” về vị trí của chùm “chìa khóa” (the keys) như sau: người nghe ở trong “phòng khách” (the living room), tìm vị trí của cái “bàn” (the desk), trên “bàn” có hòn

“gạch” (the brick) và chùm “chìa khóa” (the keys) nằm ở trên “hòn gạch” (the brick):

ở trên trong

ON 1 ON 1 IN 1

The keys * the brick * the desk * the living room

(Chùm chìa khóa trên hòn gạch (nằm) bàn phòng khách)

“Trật tự hệ thống” của giới từ định vị ON được định dạng theo mô thức: A (is) ON B (A

(thì) ở trên B) (trong đó B là ĐTQC (mốc định vị), A là ĐTĐV và có một đối tượng C nào đó

xen giữa đối tượng B và đối tượng A) Trong ví dụ trên: A: chùm “chìa khóa”, B: hòn “gạch”,

C: cái “bàn” trong “phòng khách” Chúng ta thấy rằng nghĩa biểu hiện của giới từ định vị “ON” được thể hiện qua biểu thức ĐTQC nâng đỡ ĐTĐV và nghĩa biểu hiện của giới từ định vị ON

được thể hiện rõ nét qua “trật tự hệ thống” về mối quan hệ định vị giữa ĐTQC và ĐTĐV

d Khái niệm “tô-pô”

Một thực thể định vị chỉ có thể được định vị khi và chỉ khi thực thể ấy đứng yên hoặc không biến dạng trong không gian ba chiều tự nhiên theo những trục tọa độ nhất định Do đó, thực thể định vị cần phải được đặt trong hệ tọa độ “tô-pô” trong không gian trong quá trình định

vị

Các giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh trong luận án được coi là các giới từ định vị

có tính “tô-pô” vì ngữ nghĩa định vị của các giới từ định vị này không lệ thuộc vào kích cỡ hay hình dáng của các ĐTĐV và ĐTQC (một vật hình cầu và một khối lập phương được xem như là vùng và phân vùng của các thực thể định vị thì tương đương nhau trong “tô-pô”) Hay nói cách khác, mối quan hệ giữa ĐTQC và ĐTĐV luôn được xác định trong khung quy chiếu định vị “tô-

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ngữ pháp VFL, SFL, VM của Talmy,  Goldberg - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Hình ng ữ pháp VFL, SFL, VM của Talmy, Goldberg (Trang 12)
Bảng 1.2. Cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp của các tham thể - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 1.2. Cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp của các tham thể (Trang 66)
Bảng 1.3. Danh sách các TĐTV tương ứng với giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 1.3. Danh sách các TĐTV tương ứng với giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh (Trang 81)
Bảng 2.1. Khái quát mô hình VFL - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 2.1. Khái quát mô hình VFL (Trang 83)
Bảng 2.3. Khái quát mô hình SFL - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 2.3. Khái quát mô hình SFL (Trang 90)
Bảng 2.5. Khái quát mô hình VM - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 2.5. Khái quát mô hình VM (Trang 98)
Bảng 2.7. Đối chiếu điểm ngữ pháp tương đồng trong mô hình VFL, SFL, VM - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 2.7. Đối chiếu điểm ngữ pháp tương đồng trong mô hình VFL, SFL, VM (Trang 126)
Bảng 2.8. Thống kê trên bình diện ngữ pháp với câu tiếng Anh - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 2.8. Thống kê trên bình diện ngữ pháp với câu tiếng Anh (Trang 140)
Bảng 3.1. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT theo sự tình định vị không gian - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 3.1. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT theo sự tình định vị không gian (Trang 142)
Bảng 3.3. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị IN theo sự tình định vị không gian - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 3.3. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị IN theo sự tình định vị không gian (Trang 144)
Bảng 3.5. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị ON theo sự tình định vị không gian - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 3.5. Nghĩa biểu hiện của giới từ định vị ON theo sự tình định vị không gian (Trang 146)
Bảng 3.9* Thống kê nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT, IN, ON theo sự tình - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 3.9 * Thống kê nghĩa biểu hiện của giới từ định vị AT, IN, ON theo sự tình (Trang 149)
Bảng 3.10. Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Bảng 3.10. Nghĩa cấu trúc của giới từ định vị AT, IN, ON trong tiếng Anh và các TĐTV (Trang 153)
Hình 3.4. Vật thể ở trong đường biên của một vật thể khác - Giới từ định vị tiếng anh (at, in, on) và các đơn vị tương đương trong tiếng việt
Hình 3.4. Vật thể ở trong đường biên của một vật thể khác (Trang 163)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w