Với mong muốn đạt được hiệu quả tốt nhất của một giờ dạy, em đã nghiên cứu đề tài: “Áp dụng dạy học phân hóa vào dạy Chương IV: “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” –SGK Tin học 11 – Trường THPT n
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong những năm qua, công cuộc cải cách nền giáo dục nước nhà và việc đổimới phương pháp dạy và học diễn ra mạnh mẽ Điều đó đã mang lại cho nền giáo dụcnước nhà một bộ mặt mới và thể hiện chủ trương đường lối đúng đắn của nhà nước ta.Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải xem xét xung quanh phương phápdạy và học của giáo viên (GV) – học sinh (HS) Việt Nam
Với mong muốn đạt được hiệu quả tốt nhất của một giờ dạy, em đã nghiên cứu
đề tài: “Áp dụng dạy học phân hóa vào dạy Chương IV: “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” –SGK Tin học 11 – Trường THPT nhằm phát triển năng lực học sinh” Sau một thờigian nghiên cứu tìm hiểu, tới hôm nay đề tài đã được hoàn thành Điều đầu tiên, emxin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô đang giảng dạy tại Khoa CNTT- ĐHSP
Hà Nội Đặc biệt là thầy đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tận tình để đề tài được hoànthành - Tiến sĩ Trần Doãn Vinh Cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các BGH, cácthầy cô giáo trường THPT A Duy Tiên – Hà Nam đã phối hợp giúp em hoàn thành đềtài này
Tất cả những nội dung mà chúng em trình bày trong đề tài này có thể còn chưađầy đủ và còn có nhiều thiếu sót Bởi vậy một lần nữa rất mong có được sự đóng góp ýkiến nhận xét của thầy, cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Minh Thu
Trang 2NHẬN XÉT (Của giảng viên hướng dẫn)
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3NHẬN XÉT (Của giảng viên phản biện)
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Một số nét về lịch sử nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở tâm lý học 6
1.2.1 Đặc điểm tâm lý HS THPT 6
1.2.2 Đặc điểm tâm lý HS THPT trong dạy học Tin học 8
1.2.3 Tính tích cực hóa và quan niệm về PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS 9
1.3 Tổng quan về đổi mới PPDH 17
1.3.1 Vì sao phải đổi mới PPDH? 19
1.3.2 Dạy học phân hóa là một hướng đổi mới của PPDH 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC PHÂN HÓA 24
2.1 Thế nào là dạy học phân hóa? 24
2.1.1 Khái niệm dạy học phân hóa 24
2.1.2 Tư tưởng chủ đạo về dạy học phân hóa 25
2.1.3 Xu thế quốc tế về dạy học phân hóa 26
2.2 Thực trạng dạy học phân hóa chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam 30
2.3 Thực trạng dạy học phân hóa môn Tin học ở trường THPT 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 32
CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 33
1 Năng lực 33
1.1 Thế nào là năng lực? 33
1.2 Bản chất của năng lực 33
1.3 Các dạng năng lực 34
1.4 Cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát triển năng lực 36
Trang 71.4.1 Các quan điểm của dạy học định hướng phát triển năng lực 36
1.4.2 Nội dung dạy học định hướng phát triển năng lực 37
1.4.3 PPDH định hướng phát triển năng lực 37
2 Mối quan hệ giữa năng lực và hoạt động giáo dục trong trường phổ thông 37
2.1 Hoạt động giáo dục trong trường phổ thông 37
2.1.1 Khái niệm “hoạt động giáo dục” 37
2.1.2 Vai trò của hoạt động giáo dục 38
2.1.3 Đặc trưng của hoạt động giáo dục 38
2.2 Mối quan hệ giữa năng lực và hoạt động giáo dục trong trường phổ thông .40 3 Tác động giữa dạy học phân hóa và năng lực trong dạy học ở trường THPT .41 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 42
CHƯƠNG 4: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀO DẠY CHƯƠNG IV: “KIỂU DỮ LIỆU CÓ CẤU TRÚC” 43
1 Yêu cầu dạy học kiểu dữ liệu có cấu trúc 43
1.1 Yêu cầu chung về dạy học Tin 11 43
1.2 Yêu cầu Chương IV: “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” 43
1.2.1 Mục tiêu chung 43
1.2.2 Nội dung của chương IV 44
1.2.3 Phân phối chương trình chương IV: “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” 45
2 Nội dung bài giảng 46
CHƯƠNG 5: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84
1 Đối tượng và phạm vi thực nghiệm 84
2 Phương pháp thực nghiệm 84
3 Kết quả đạt được 85
4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 87
KẾT LUẬN 88
PHỤ LỤC 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, trên con đườngtiến vào thế kỷ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi chúng ta phải đổi mới giáodục nhất là phương pháp dạy và học Đây là vấn đề không chỉ của riêng nước ta mà làvấn đề chung của tất cả các nước đang phát triển Định hướng đổi mới phương phápdạy học (PPDH) đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 -1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 – 1996)
Luật Giáo dục, điều 24.2 có nêu: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS"
Chúng ta đang bước vào giai đoạn II thực hiện chiến lược phát triển giáo dục
2000 – 2010 cần đổi mới mạnh mẽ và toàn diện giáo dục – đào tạo vì vậy việc đổi mớimạnh mẽ chất lượng dạy và học đặc biệt được chú trọng Trong những năm gần đây,việc đổi mới chương trình, nội dung dạy học, đưa SGK mới vào trường phổ thôngđang đạt được những hiệu quả đáng kể Cùng với việc đưa SGK mới vào trường phổthông, là việc đổi mới PPDH Vấn đề đặt ra là đổi mới như thế nào để phát huy đượcnăng lực học tập của tất cả các đối tượng HS? Câu hỏi này cần được mọi GV đặt racho bản thân mình và tìm cách giải quyết GV chủ yếu quan tâm đến việc cho HS tiếpthu hết kiến thức cơ bản trong SGK mà không phân rõ đối tượng tiếp thu cụ thể Ví dụ:đối với HS trung bình thì có thể chỉ cần nắm đầy đủ kiến thức cơ bản nhưng với đốitượng HS khá, giỏi, nên phát triển thêm năng lực tư duy, sáng tạo trong bài học
Đối với bộ môn Tin học ở trường phổ thông, GV dạy Tin chủ yếu chỉ dừnglại ở việc truyền đạt kiến thức cơ bản nhất cho HS, cố gắng dạy đúng bài, đúng tiết,vừa đủ thời gian chứ không đi sâu vào bồi dưỡng thêm kiến thức cho HS khá, giỏi.Hơn nữa, tư tưởng chung của cả GV và HS phổ thông hiện nay, Tin học là mônphụ, không thi tốt nghiệp và đại học nên chỉ cần đảm bảo nội dung, kiến thức là đủ
và việc áp dung cách dạy “thầy truyền đạt, đọc; trò ghi nhớ, chép” Song song với
đó, dạy Tin học nhưng vẫn sử dụng các PPDH truyền thống không có giáo cụ trựcquan như: máy chiếu, máy tính để HS thực hành luôn nội dung bài học
Trang 9Câu hỏi đặt ra là có thể áp dụng được các PPDH tích cực vào bộ môn Tin họckhông? Theo chúng tôi, môn Tin học hoàn toàn có thể áp dụng được PPDH hiện đại.Bằng những hệ thống bài tập và câu hỏi phù hợp kết hợp với những biện pháp phânhóa nội tại hợp lý, môn Tin học sẽ phát huy được rất nhiều khả năng của HS Lấy mặtbằng chung của HS trong lớp làm nền tảng, từ đó bổ sung, phát triển thêm nội dung vàcác biện pháp phân hóa sẽ giúp HS khá, giỏi có cơ hội phát huy khả năng của mình.Kết hợp nhiều PPDH như: dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học tích hợp,dạy học phân hóa, dạy học lấy người học làm trung tâm đặc biệt là PPDH phân hóa
sẽ nâng cao được năng lực của tất cả mọi đối tượng HS trong lớp, tứ đó các em sẽ chủđộng hơn trong việc học môn Tin học Đạt được các nội dung đó mới thực sự là đổimới PPDH, góp phần đào tạo con người mới cho xã hội hiện đại ngày nay
Môn Tin học mới được triển khai ở trường phổ thông chưa lâu, GV chủ yếu làthế hệ trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, nhất là đối với môn Tin học 11 đòihỏi trình độ chuyên môn của GV phải thật vững và hiểu biết sâu sắc về lập trình.Trong chương trình Tin học 11, chủ đề kiến thức “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” là một chủ
đề khó đối với HS phổ thông Phân phối chương trình cho chủ đề này cũng rất ít nênviệc vừa nắm nội dung lý thuyết, vừa vận dụng vào bài tập là rất khó Nhiều HS gặpkhông ít khó khăn khi làm các bài tập thực hành Nếu các giờ học vẫn cứ áp dụng đồngloạt một hình thức cho mọi đối tượng HS thì sẽ có nhiều HS yếu kém không nắm đượcbài học Dạy học phân hóa là một trong những con đường, một cách để khắc phụcnhững hạn chế này
Từ những lý do trên, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Áp dụng dạy học phân
hóa vào dạy Chương IV: “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” – SGK Tin học 11 – Trường THPT nhằm phát triển năng lực HS”.
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về PPDH phân hóa
Nghiên cứu việc phát triển năng lực của HS trong dạy học khi áp dụng PPDHphân hóa
Nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng PPDH phân hóa vào dạy Chương IV:
“Kiểu dữ liệu có cấu trúc” – SGK Tin học 11 – Trường THPT, từ đó phát triển nănglực của HS
Trang 10+ Đối tượng nghiên cứu:
Khách thế: Dạy học phân hóa nhằm phát triển năng lực của HS
Chủ thể: Chương IV: “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” – SGK Tin học 11 – TrườngTHPT (Sách do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành)
+ Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Lớp 11 – Trường THPT
Phạm vi về thời gian: số liệu được điều tra năm 2014
Phạm vi về nội dung: Áp dụng dạy học phân hóa vào dạy kiểu dữ liệu có cấutrúc nhằm phát triển năng lực HS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lí luận về quá trình nhận thức, quá trình học và tự họccủa HS; nghiên cứu lí luận về dạy học phân hoá trong dạy học môn Tin ở trường THPT
Tại sao phải thực hiện dạy học phân hóa trong giờ học môn Tin học?
Mối quan hệ giữa dạy học phân hóa với các PPDH khác
Nghiên cứu hệ thống kiến thức chủ để “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” trong mônTin học – Trường THPT, xác định khả năng vận dụng dạy học phân hoá vào dạy họcchủ đề kiến thức này
Đề xuất một số biện pháp sư phạm, xây dựng một số hệ thống câu hỏi và bàitập về chủ để “Kiểu dữ liệu có cấu trúc” phù hợp với hình thức dạy học phân hoá, phùhợp với yêu cầu bồi dưỡng năng lực cho HS
Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu: Trong đề tài, chúng em đã kết hợp sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp thu thập số liệu: số liệu được điều tra trực tiếp thông qua việc
thăm và dạy HS trên lớp
Phương pháp phân tích:
Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin trênInternet
Mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp mô tả để trình bày, phân tích
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và tra cứu các tài liệu viết về PPDH phân
hóa và tài liệu về phát triển năng lực HS; nghiên cứu các luận văn, tạp chí, sách, báo, tài
Trang 11liệu chuyên ngành của trường ĐHSP Hà Nội có liên quan đến dạy học phân hóa Sau đó,tổng hợp, lựa chọn, phân tích và hoàn thiện đề tài.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đề tài được thực nghiệm tại các lớp 11
phân ban khác nhau của trường THPT A Duy Tiên – Hà Nam Từ đó so sánh kết quả,đánh giá năng lực HS trước và sau khi áp dụng nội dung đề tài
5 Cấu trúc đề tài
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC PHÂN HÓA
CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CHƯƠNG 4: ÁP DỤNG DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀO DẠY
CHƯƠNG IV: “KIỂU DỮ LIỆU CÓ CẤU TRÚC”
CHƯƠNG 5: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Chú ý: Chương trình được sử dụng thực hiện đề tài đều được viết bằng ngôn ngữ lập
trình Turbo Pascal 7.0
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số nét về lịch sử nghiên cứu
Từ xưa, PPDH phân hóa đã xuất hiện nhưng chưa rõ nét, “thầy giáo” xưa cũng
đã dạy học dựa trên đặc điểm và trình độ cá nhân của mỗi người học Như trong thời
kỳ phong kiến: thầy đồ (một thầy dạy nhiều học trò với nhiều lứa tuổi khác nhau cùnghọc một lớp) bắt buộc phải quan tâm tới từng HS để có cách dạy phù hợp với từng lứatuổi, trình độ nhận thức và nhu cầu của họ
Ở Phương Đông, Khổng Tử (551 – 479 TCN) đã đề cao PPDH phân hóa Khigiảng dạy, ông đã chia làm hai phần: tâm truyền và công truyền Trong đó, tâm truyềnnói về sự sâu xa, khó hiểu hơn để dành riêng cho những người có tư chất đặc biệt; còncông truyền là dùng luân thường đạo lý để dạy cho mọi đối tượng Khổng Tử đòi hỏi
sự nỗ lực, phấn đầu rất cao của từng cá nhân người học và đặt ra các yêu cầu rất khắtkhe cho thầy giáo khi đó phải tìm cách dạy phù hợp mọi đối tượng người học
Ở Phương Tây, cũng đã xuất hiện nhiều nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ, đã ápdụng các PPDH hướng vào người học vào giảng dạy, đặc biệt là dạy học phân hóa,nhằm khai thác tiềm năng của HS Thế kỷ XX, J.Dewey (1916) đã nói: “giáo dục vàdạy học là sự chỉ dẫn phát triển tiềm năng, năng lực vốn có của HS” [9] Công việchọc tập hiện nay là sự tự xử lý các nội dung bài học dưới sự giúp đỡ của GV theo nhucầu của HS Vì vậy, dạy học dựa trên kinh nghiệm cá nhân và hiệu quả học tập do từngngười học quyết định
Ở Pháp, người ta coi trọng việc rèn luyện cho HS phương pháp tự tìm kiếm trithức ngay từ bậc Tiểu học, từ đó hình thành ý thức cho HS đến khi học THPT ÔngIu.K.Babanxki cho rằng công việc dạy học bao gồm ba công việc cơ bản sau:
+ Tổ chức thực hiện các hoạt động học tập;
+ Kích thích hoạt động nhận thức;
+ Kiểm tra, đánh giá
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu các hoạt động dạy học tích cực cũng đang đượcphát triển nhưng vấn đề tổ chức dạy học phân hóa chưa nhiều, một số tác giả như:Nguyễn Bá Kim, Nguyễn Hữu Châu, Hà Sĩ Hồ, Đặng Thành Hưng, cũng đã cónhững nghiên cứu về vấn đề này Giúp HS tự học, tự tìm tòi, khám phá tri thức bằngchính khả năng tự có của mình để các em có thêm niềm vui, hứng khởi trong môn học
mà các em yêu thích
Trang 131.2 Cơ sở tâm lý học
1.2.1 Đặc điểm tâm lý HS THPT [16]
Tâm lý học lứa tuổi đi sâu nghiên cứu các động lực phát triển tâm lý theo lứatuổi con người, sự phát triển của các quá trình tâm lý, phẩm chất tâm lý trong nhâncách con người Nhưng sự phát triển của các giai đoạn lứa tuổi không hoàn toàn đồngnhất với trình độ phát triển tâm lý “Tuổi thanh niên” (từ 14, 15 đến 18 tuổi) là thế giớithứ 3 theo đúng nghĩa đen của từ này, tồn tại giữa trẻ em và người lớn Do đặc điểmnày mà lứa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển phức tạp nhất, cần phải đưa ra nhiềuđịnh hướng giáo dục cho độ tuổi mới lớn này
Hầu như, thanh niên mới lớn (từ 14, 15 đến 18 tuổi) tham gia vào quá trình giáodục ở bậc THPT Vì vậy, các nghiên cứu về phương pháp giáo dục, định hướng nghềnghiệp, nhằm góp phần hoàn thiện nhân cách cho thanh niên lứa tuổi này và là tiền
đề cho các em bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo
“HS THPT” là một thuật ngữ chỉ nhóm HS đầu tuổi thanh niên Theo tâm lýhọc lứa tuổi, thanh niên là giai đoạn bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vàotuổi mới lớn Xem xét qua nhiều yếu tố tác động hình thành các đặc điểm phát triểnlứa tuổi này, xuất phát từ những quan niệm khác nhau có rất nhiều lý luận về tâm lý
HS THPT Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý HS THPT như:
1.2.1.1 Yếu tố sinh học
Từ 14, 15 đến 18 tuổi là thời kỳ mà sự phát triển thể chất con người đang đi vàogiai đoạn hoàn chỉnh, tuy nhiên sự phát triển này so với sự phát triển của cơ thể cònkém Giai đoạn này bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối ổn định về mặt sinh lý Trọnglượng cơ thể phát triển nhanh, các tố chất về thể lực như: sức mạnh, sức bền, sự dẻodai được tăng cường Như vậy, các em trong giai đoạn lứa tuổi này nhìn với ngoại hìnhbên ngoài thì là một người trưởng thành và dần ý thức được mình cần làm những gì
1.2.1.2 Yếu tố xã hội
Xã hội ngày càng phát triển phong phú và phức tạp hơn, đi đôi với đó lứa tuổi
HS THPT cũng “mở rộng” cả về lượng và về chất Lứa tuổi này xuất hiện ngày càngnhiều vai trò của người lớn và các em thực hiện vai trò đó ngày càng có tính độc lập vàtinh thần trách nhiệm hơn Các em không còn là những đứa trẻ nhưng cũng chưa phải
là người lớn mà chỉ là đang trên con đường để trở thành người lớn
Trang 14Vai trò của xã hội thay đổi cơ bản: trong gia đình, các em được bố mẹ trao đổimột số vấn đề xảy ra trong cuộc sống hằng ngày Vai trò của các em cũng thay đổi nếucác em là anh, chị của các em nhỏ hơn, sẽ tỏ ra là người có trách nhiệm hơn và có ýthức trong việc chọn nghề nghiệp cho tương lai Ngoài xã hội, các em đã là Đoàn viên
và trách nhiệm với các công tác xã hội bắt đầu Đến 18 tuổi, các em có quyền bầu cử,làm chứng minh thư nhân dân, và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hoạt động học tập cũng là một hoạt động đặc thù của con người, được điềukhiển bởi mục đích tự giác Mỗi giai đoạn của hoạt động học tập có những đặc điểmriêng, khác nhau cả về tính chất và nội dung Hoạt động học tập của HS THPT đòi hỏicao về tính năng động, tính độc lập, gắn liền với tư duy, suy nghĩ về chọn nghề, cuộcđời, Đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được chương trình học một cách sâu sắc thìcần phải phát triển tư duy lý luận, khả năng trừu tượng, khái quát, nhận thức, pháttriển, HS ở tuổi này trưởng thành hơn, sử hữu nhiều kinh nghiệm sống hơn và các
em dần ý thức được vị trí, vai trò của mình Từ đó, ý thức của các em trong hoạt độnghọc tập ngày càng được phát triển
Thái độ của các em đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn, tính phân hóatrong hoạt động học tập thể hiện rõ hơn, cao hơn, do xu hướng chọn nghề chi phối.Các em bắt đầu hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghềnghiệp Cuối bậc THPT thì các em đã xác định được cho mình hứng thú ổn định đốivới môn học đã chọn và bắt đầu tập trung vào một lĩnh vực nào đó của nghề nghiệptương lai Tuy nhiên, thái độ học tập ở nhiều em còn có một nhược điểm lớn đó là các
em tích cực học các môn mình hứng thú thì lại xao nhãng các môn học khác hay giáodục hay gọi đó là “học lệch” Nhiệm vụ của người GV là giúp đỡ các em tìm hiểu đầy
đủ công việc học tập cơ bản, toàn diện, tạo nền tảng vững chắc hình thành nhân sinhquan, thế giới quan khoa học của con người
Lứa tuổi này, cấu trúc não đã rất phức tạp, do đó việc tư duy của HS THPT cónhững thay đổi quan trọng Đó là sự phát triển mạnh mẽ của tư duy hình thức Các em
có khả năng tư duy lý luận và tư duy trừu tượng Tư duy của các em nhất quán hơn,chặt chẽ hơn và có căn cứ hơn Sự phát triển mạnh mẽ của tư duy lý luận liên quanchặt chẽ đến tư duy sáng tạo Nhờ khả năng khái quát, các em có thể tự phát hiện ranhững cái mới và gặp khó khăn các em sẽ tự mình cố gắng tìm cách giải quyết HS cấpIII đánh giá các bạn trong lớp không thông qua điểm số mà dựa vào cách thức giải
Trang 15quyết vấn đề nảy sinh trong học tập: giải bài tập, phương pháp tư duy, Các em đánhgiá cao những bạn thông minh và thầy cô có phương pháp giảng dạy tích cực, tôntrọng suy nghĩ độc lập của HS.
Bên cạnh tư duy, ghi nhớ cũng phát triển rất rõ ở giai đoạn này Ghi nhớ có chủđịnh giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logictrừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các em sử dụng tốt hơn các phươngpháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh, đối chiếu, ) Các em phân biệt tài liệu nào cầnnhớ từng chữ, cái gì hiểu mà không cần nhớ Bên cạnh đó, một số em còn ghi nhớkiểu đại khái, chung chung, hoặc chủ quan vào trí nhớ của mình mà đánh giá thấp việc
ôn tập tài liệu Đặc điểm này do bốn nguyên nhân sau:
+ Ghi nhớ máy móc của các em thường chiếm ưu thế
+ HS chưa hiểu cụ thể cần phải nhớ cái gì, nhớ bao lâu?
1.2.2 Đặc điểm tâm lý HS THPT trong dạy học Tin học
Sự phát triển tâm lý của HS THPT theo quy luật không đồng đều Trong cùngmột lứa tuổi nhưng khả năng và sự phát triển trí tuệ của các em không giống nhau,hứng thú, nhu cầu, động cơ học tập, cũng khác nhau Dựa trên những đặc điểm tâm
lý của HS THPT đã nêu ở trên, việc học Tin học cũng có ảnh hưởng lớn đến quátrình lĩnh hội tri thức của các em Chúng ta có thể hình dung quá trình lĩnh hội trithức của HS dưới dạng hình xoắn ốc, trong đó mỗi bậc thang của việc học tập sẽnâng cao trình độ của HS, kích thích sự ham hiểu biết và tư duy độc lập của các em
Vì vậy, việc học Tin học sẽ giúp các em dần chiếm lĩnh nội dung kiến thức thể hiệntrong tài liệu học tập
Trang 16Vì các lý do trên, việc dạy Tin học đối với HS THPT đặc biệt coi trọng công tácthực hành các bài tập lý thuyết đưa ra Thông qua thực hành, các em sẽ làm quen dầnvới máy tính và các phần mềm trên máy cũng như các kỹ năng cơ sở, từ đó các em sẽchủ động tìm hiểu nội dung bài học và kích thích việc phát triển tư duy soạn thảo vănbản, tư duy lập trình, Song song với đó, khi khái quát lại nội dung bài học, HS THPTthường dựa vào chức năng và công cụ của sự vật, hiện tượng để tiến hành phân loại vàphân hạng Hoạt động này sơ đẳng nên việc học Tin học sẽ giúp các em biết phân tích
và tổng hợp
Trên các phương diện đặc điểm tâm lý đó, mục đích quan trọng của việc dạyTin học là tạo ra hứng thú học tập cho mỗi cá nhân Để đạt được sự hứng thú đó có rấtnhiều yếu tố trong đó đảm bảo tính vừa sức là yếu tố quan trọng nhất Vận dụng dạyhọc phân hóa có nhiều ưu thế để GV tác động đến từng đối tượng HS
1.2.3 Tính tích cực hóa và quan niệm về PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS
1.2.3.1 Tính tích cực hóa
Thế nào là tính tích cực? Quan niệm về “tích cực” theo từ điển Tiếng Việt là sựhăng hái, nhiệt tình với công việc Nói đến tính tích cực là nói đến sự chủ động và nhữnghoạt động tạo ra sự biến đổi theo hướng tiến bộ Theo I.F.Kharlamop đã từng nói: “Tínhtích cực là trạng thái hoạt động học tập của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắngtrí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức”[15] Vì vậy, nhiệm vụ của người
GV là hình thành và phát triển tính tích cực nhận thức nhằm đào tạo những con người tựchủ, năng động, sáng tạo, phù hợp với thời đại mới
Tính tích cực hóa được thể hiện trong hoạt động học tập thông qua việc tích cựcnhận thức, đặc trưng nổi bật đó là khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực caotrong quá trình chiếm lĩnh tri thức Theo quan niệm của các tác giả trong và ngoàinước thì thích cực học tập bao gồm các nội dung sau:
+ Tính độc lập học tập: HS tự định hướng, thực hiện và hoàn thành nhiệm vụbằng chính sức lực của mình, không trông chờ, ỷ lại vào người khác Người học tựphát hiện vấn đề, tự tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của bản thân và từ đó tựmình giải quyết vấn đề
Ví dụ: Khi dạy lập trình bài toán tìm số nguyên tố, đây là bài toán mới nhưngdựa trên nền tảng các bài toán đã học
Trang 17Theo định nghĩa Toán học: Số nguyên tố là số có ƯCLN là 1 và chính nó Nhưvậy, dựa trên định nghĩa này, ta có thể quy bài toán tìm số nguyên tố về bài toán tìmƯCLN mà các em đã biết.
Đây là cách đòi hỏi các em phải có sự tư duy độc lập, tự phát hiện ra vấn đề khigặp cái mới dựa trên những tri thức đã học
+ Tính tự giác học tập: HS nhận thức được các nhiệm vụ học tập, từ đó có ýthức lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và biết vận dụng những tri thức, kỹnăng, kỹ xảo đó vào quá trình học tập
Ví dụ: Lập trình giải bài toán tìm nghiệm của phương trình bậc 2 tổng quát
ax2+bx+c=0
Kỹ năng, tri thức các em đã có khi học Toán:
= b2 – 4acnếu < 0 thì kết luận phương trình vô nghiệm;
nếu = 0 thì kết luận phương trình có nghiệm kép x = -b/2a;
nếu > 0 thì kết luận phương trình có 2 nghiệm phân biệt là
nếu d < 0 thì thông báo phương trình vô nghiệm rồi kết thúc;
nếu d = 0 thì thông báo phương trình có 1 nghiệm x = -b/(2*a), rồi kết thúc;nếu d > 0 thì thông báo phương trình có 2 nghiệm phân biệt là:
x1 = (-b + )/(2*a) và x2 = (-b - )/(2*a), rồi kết thúc
+ Tích cực hóa hoạt động học tập: là quá trình tác động có mục đích, có hệthống của người dạy đến người học, biến người học thành con người hoạt động chính
để đạt được mục tiêu đặt ra Chuyển người học từ vai trò bị động sang thể chủ động tự
tổ chức, tự chỉ đạo hoạt động học tập của mình
Tuy nhiên, khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trìnhnhận thức trong học tập không phải để phát hiện những điều loài người chưa biết mà
để lĩnh hội những tri thức mà loài người khám phá được Đôi khi, trong học tập, HS
Trang 18đến trình độ nhất định, sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và ngườihọc cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học.
Tích cực học tập thể hiện qua những dấu hiệu cụ thể như: HS hăng hái trả lờicâu hỏi GV đưa ra, bổ sung câu trả lời của bạn, hay nêu ra thắc mắc trong bài học, cốgắng hỏi những vấn đề chưa hiểu rõ, chủ động vận dụng những kiến thức, kỹ năng học
để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành tốtcác bài tập, không nản trước những bài toán khó khăn,
Tích cực học tập bao gồm các cấp độ sau:
Bắt chước: cố gắng làm theo mẫu mà GV đã thực hiện
Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm ra nhiều hướng giải quyết khácnhau cho một vấn đề
Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hiệu quả
1.2.3.2 Quan niệm về PPDH theo hướng tích cực hóa
Trong điều kiện đất nước đang trên con đường phát triển mạnh mẽ theo hướngCNH – HĐH thì việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, những con người năngđộng, sắng tạo phù hợp với thời kỳ đổi mới thì việc đổi mới giáo dục là rất quan trọng,
cụ thể là đổi mới PPDH Cần lựa chon PPDH sao cho đạt được mục tiêu: “Dạy ngườikhác muốn học, dạy người khác biết học, dạy người khác kiên trì học tập và dạy ngườikhác học tập có kết quả” [9] Cũng dựa trên nhu cầu đó, ngành giáo dục nước ta đã vàđang tiến hành đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoạt động nhận thức của HS trongquá trình học tập Một trong những quan niệm về PPDH nhằm phát huy tính tích cựchọc tập của HS đó là: “PPDH là cách thức hoạt động của GV trong việc tổ chức, chỉđạo các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động đạt được mục tiêu dạy học”
Để có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS thì GV cần sửdụng những phương pháp như sau:
+ Phương pháp vấn đáp: vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó GV đặt
ra câu hỏi để HS trả lời, hoặc HS có thể tranh luận với nhau và với cả GV; qua đó HSlĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người taphân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
Vấn đáp tái hiện: GV đặt câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và
trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là
Trang 19phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệgiữa các kiến thức vừa mới học.
Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào
đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để HS dễ hiểu,
dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiệnnghe – nhìn
Vấn đáp tìm tòi: GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để
hướng HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượngđang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết GV tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cảtranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đềxác định Trong vấn đáp tìm tòi, GV giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn HS giốngnhư người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, HS cóđược niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy
+ Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Trong một xã hội đang phát triển
nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lýnhững vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trongcuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh Vì vậy, tập dượt cho HS biết phát hiện, đặt ra vàgiải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình
và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt như một mục tiêugiáo dục và đào tạo Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương phápđặt và giải quyết vấn đề thường như sau:
Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
Giải quyết vấn đề đặt ra
Kết luận:
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giải
quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV GV đánh giá kết quả làm việc của HS
Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề HS thực
hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và HS cùng đánh giá
Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện và
xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp HS thực hiệncách giải quyết vấn đề GV và HS cùng đánh giá
Trang 20 Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc
cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng,hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc
Bảng 1: Mức độ đặt và giải quyết vấn đề
Các mức Đặt vấn đề Nêu giả thuyết Lập kế hoạch Giải quyết vấn
đề
Kết luận,đánh giá
và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
+ Phương pháp hoạt động nhóm:
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mục đích, yêucầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, đượcduy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm
vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗingười một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực,không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trongnhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác.Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Đểtrình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diệnhoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm làkhá phức tạp
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:
Trang 21ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ
đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏilẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ GV
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên,
vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên, phươngpháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiếthọc, cho nên GV phải biết tổ chức hợp lý và HS đã khá quen với phương pháp này thìmới có kết quả Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải đượcphát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữacác thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phònglạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mớiPPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới
+ Phương pháp động não:
Động não là phương pháp giúp HS trong một thời gian ngắn nảy sinh đượcnhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó
Thực hiện phương pháp này, GV cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền
đề cho buổi thảo luận
Do vậy, tất cả các phương pháp đó đã nêu ở trên đều có một số đặc trưng cơbản của PPDH tích cực như sau:
+ Trong việc dạy bài mới: Dạy bài mới không có nghĩa là dạy kiến thức HS
chưa biết hoàn toàn, kiến thức mới được xây dựng trên nền kiến thức đã có Vì vậy,việc dạy bài mới có một số đặc điểm nổi bật như:
Hướng dẫn HS tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học bằng cách:hạn chế truyền đạt kiến thức có sẵn; tổ chức cho HS huy động những hiểu biết của bảnthân (hoặc của một nhóm HS) thiết lập mối liên hệ giữa vấn đề mới phát hiện với cáckiến thức đã lĩnh hội được, từ đó đưa ra phương án giải quyết vấn đề; trân trọng, khuyếnkhích mọi cách giải quyết của HS, giúp các em lựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất
Tổ chức cho HS thực hành, vận dụng kiến thức mới học ngay trong tiết dạy họcbài mới để HS “học qua làm”, góp phần giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới, bằng cách
sử dụng các bài tập trong SGK để tổ chức cho HS tự làm theo năng lực của mình
+ Làm các bài luyện tập, luyện tập chung, thực hành, ôn tập:
Trang 22 Giúp HS tự phát hiện ra mối liên hệ giữa bài tập và các kiến thức đã học, từ
đó lựa chọn, sử dụng những kiến thức thích hợp để giải bài tập
Giúp HS tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng em, không dạy học
“đồng loạt”, “bình quân” Khi tổ chức cho HS làm bài, chữa bài GV cần quan tâm đếntừng đối tượng HS
Khuyến khích sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đối tượng HS bằng cách phối hợpgiữa bài làm của từng cá nhân với trao đổi ý kiến trong nhóm về cách giải của các bạn
để rút kinh nghiệm và tự hoàn chỉnh cách làm của mình
Tập cho HS thói quen tìm nhiều cách giải một bài toán (nếu có thế) và lựachọn cách giải hợp lý nhất, không nên thõa mãn với kết quả đã đạt được
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác:
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đềutuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa vềcường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thànhmột chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sựphân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhàtrường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng củamỗi HS
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều đượchình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếpthầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đườngchiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi
cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên mộttrình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của ngườithầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ,lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trongnhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phảigiải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cánhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể cóhiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, pháttriển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa
Trang 23vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp táctrong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liênquốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phảichuẩn bị cho HS
+ Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập:
Sau mỗi bài học GV nên đưa ra hệ thống câu hỏi, bài tập để tổng kết lại bài,
HS dựa vào các bài tập đó để làm và ôn tập tổng hợp kiến thức làm các bài kiểm trađịnh kỳ
Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GVphải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quanvới điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạttrong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
Việc đánh giá chất lượng học của HS cũng rất quan trọng, dựa trên kết quảđánh giá, HS sẽ biết lực học của mình đang ở mức nào và phải phấn đầu như thế nào
để đạt được mục tiêu đặt ra
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con ngườinăng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thểdừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyếnkhích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn làmột công việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linhhoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vaitrò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nộidung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu củachương trình Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước
đó, khi soạn giáo án, GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy
và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác,động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi
Trang 24của HS GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới
có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dựkiến của GV
Như vậy, phát huy được tính tích cực của từng cá nhân HS nghĩa là phát huynăng lực học tập sẵn có trong từng cá nhân (nội lực của HS) Khi đó, người GV đã sửdụng thành công PPDH phân hóa sẽ có ý nghĩa và tác dụng trực tiếp đến sự phát triểnnăng lực của HS
1.3 Tổng quan về đổi mới PPDH
Đổi mới PPDH là vấn đề then chốt của chính sách giáo dục Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay Đổi mới PPDH sẽ làm thay đổi tận gốc suy nghĩ của các thế hệ học trò– chủ nhân tương lai của đất nước Đổi mới PPDH sẽ tác động vào mọi thành tố củaquá trình giáo dục và đào tạo
Đổi mới PPDH là gì, có phải mọi cái cũ đều không tốt, đều phải vứt bỏ? Chúng
ta đều biết không phải cái gì cũ đều xấu, cái mới cái gì cũng hoàn hảo Hiệu quả haykhông của PPDH là do người sử dụng nó như thế nào Không có một định nghĩa nàođầy đủ, chính xác cho phương pháp tốt, phương pháp tồi, phương pháp tích cực,phương pháp không tích cực, nếu sử dụng các phương pháp đúng lúc, đúng chỗ thìhiệu quả dạy và học sẽ được nâng cao
Đổi mới PPDH không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng một loạt cácPPDH mới Về bản chất, đổi mới PPDH là đối mới cách tiến hành các phương pháp,đổi mới phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để
ưu điểm của các phương pháp cũ và vận động linh hoạt một số phương pháp mớinhằm phát huy tốt tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học Có thể so sánhđặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau:
Bảng 2: So sánh dạy học truyền thống và dạy học mới
Quan niệm
Học là quá trình tiếp thu và lĩnhhội, qua đó hình thành kiến thức, kĩnăng, tư tưởng, tình cảm
Học là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện,
luyện tập, khai thác và xử lýthông tin,… tự hình thành hiểu
biết, năng lực và phẩm chất.
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và Tổ chức hoạt động nhận thức
Trang 25chứng minh chân lí của GV. cho HS Dạy HS cách tìm ra
chân lí
Mục tiêu
Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo Học để đối phó với thi
cử Sau khi thi xong những điều đãhọc thường bị bỏ quên hoặc ít dùngđến
Chú trọng hình thành các năng
lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạyphương pháp và kĩ thuật lao
động khoa học, dạy cách học.
Học để đáp ứng những yêu cầucủa cuộc sống hiện tại và tươnglai Những điều đã học cần thiết,
bổ ích cho bản thân HS và cho
sự phát triển xã hội
Nội dung Từ sách giáo khoa + GV
Từ nhiều nguồn khác nhau:SGK, GV, các tài liệu khoa họcphù hợp, thí nghiệm, bảng tàng,thực tế…: gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm
và nhu cầu của HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh
và môi trường địa phương
- Những vấn đề HS quan tâm
Phương pháp Các phương pháp diễn giảng,
truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điềutra, giải quyết vấn đề; dạy họctương tác
Trang 26của chính khoa học về PPDH, một số PPDH hiện đại cần được bổ sung vào hành trangPPDH của GV.
1.3.1 Vì sao phải đổi mới PPDH?
1.3.1.1 Điều kiện đổi mới PPDH
Đổi mới PPDH cần được đặt trong những điều kiện và môi trường giáo dục phùhợp của từng địa phương Có rất nhiều điều kiện cần để đổi mới PPDH như: GV, HS,thiết bị dạy học, chương trình và sách giáo khoa, cách đánh giá kết quả học tập,… Nộidung các điều kiện đó được trình bày cụ thể như sau:
+ GV: GV phải được đào tạo chu đáo để thích ứng với những thay đổi về chức
năng, nhiệm vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, nhiệt tình với công cuộc đổi mớigiáo dục GV vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lànhnghề, biết ứng sử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ thông tin vào dạy học, biết địnhhướng phát triển của HS theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự docủa HS trong hoạt động nhận thức
+ HS: Dưới sự chỉ đạo của GV, HS phải dần dần có được những phẩm chất và
năng lực thích ứng với PPDH tích cực như: giác ngộ mục đích học tập, tự giác tronghọc tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp,biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại hình
tư duy biện chứng, lôgíc, hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế…
+ Chương trình và sách giáo khoa: Phải giảm bớt khối lượng kiến thức nhồi
nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm bớtnhững thông tin buộc HS phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toánnhận thức để HS tập giải; giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏiphát triển trí thông minh; giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để
HS tự nghiên cứu phát triển bài học
+ Thiết bị dạy học: Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc
triển khai chương trình, sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổimới PPDH hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của HS Đáp ứng yêu cầu nàyphương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho HS thực hiện các hoạtđộng độc lập hoặc các hoạt động nhóm Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợđắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạyhọc cá thể, dạy học hợp tác Trong quá trình biên soạn sách giáo khoa, sách GV, các
Trang 27tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị và chuẩn bị các thiết bị dạy học theo một
số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học
+ Đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS: Đánh giá là một khâu quan trọng
không thể thiếu được trong quá trình giáo dục Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuốicùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dụctiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năngthực hiện mục tiêu học tập của HS về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằmtạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường cho bản thân HS để
HS học tập ngày một tiến bộ hơn Đổi mới PPDH được chú trọng để đáp ứng nhữngyêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theohướng phát triển trí thông minh sáng tạo của HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt cáckiến thức kĩ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc,thái độ của HS trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộngđồng Chừng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thìchưa thể phát triển dạy và học tích cực Thống nhất với quan điểm đổi mới đánh giánhư trên việc kiểm tra, đánh giá sẽ hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từngchương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp cấp Các câu hỏi bài tập sẽ đođược mức độ thực hiện các mục tiêu được xác định
Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hóa, đảm bảo70% câu hỏi bài tập đo được mức độ đạt trình độ chuẩn - mặt bằng về nội dung họcvấn dành cho mọi HS THPT và 30% còn lại phản ánh mức độ nâng cao, dành cho HS
có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn
+ Trách nhiệm quản lý: Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp về việc đổi mới
PPDH ở trường mình, đặt vấn đề này ở tầm quan trọng đúng mức trong sự phối hợpcác hoạt động toàn diện của nhà trường Hiệu trưởng cần trân trọng, ủng hộ, khuyếnkhích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của GV, đồng thời cũng cần biết hướng dẫn, giúp
đỡ GV vận dụng các PPDH tích cực thích hợp với môn học, đặc điểm HS, điều kiệndạy và học ở địa phương, làm cho phong trào đổi mới PPDH ngày càng rộng rãi,thường xuyên và có hiệu quả hơn
Trang 28Phấn đấu để trong mỗi tiết học ở trường phổ thông, HS được hoạt động nhiềuhơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiềuhơn trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập.
1.3.1.2 Vì sao phải đổi mới PPDH?
Đổi mới PPDH xuất phát từ nhu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hộiđang diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp đất nước Công cuộc đổi mới này cần cónhững người có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thíchứng được với thực tiễn đời sống xã hội luôn luôn phát triển Thực tiễn này làm chomục tiêu đào tạo của nhà trường phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sựthay đổi một cách tất yếu của nội dung và PPDH
Đặc điểm của lối dạy học cũ là có sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của
GV và hoạt động học của HS GV lên lớp truyền thụ kiến thức chủ yếu bằng phươngpháp thuyết trình, giảng giải theo các tài liệu có sẵn trong SGK; HS thụ động tiếp thutheo cách: thầy giảng – trò nghe và ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu GV là người duy nhất
có quyền đánh giá kết quả học tập của HS; HS ít có khả năng tự đáng giá và đánh giálẫn nhau Tiêu chuẩn để đánh giá HS là kết quả ghi nhớ, tái hiện những điều GV giảng
Vì vậy trường THPT cần rèn luyện cho HS tính năng động và sáng tạo bằng cáchsớm chuyển sang dạy học theo hướng tích cực hoá người học, tập trung vào hoạt động củangười học thì mới rèn luyện được cho HS những năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu đổimới của đất nước Điều đó cũng phù hợp với xu thế giáo dục của khu vực và thế giới làdạy học phát huy năng lực, sở trường của người học làm cho người học linh hoạt và sángtạo tiếp thu kiến thức, tạo tiền đề cho Việt Nam hoà nhập vào cộng đồng Quốc tế
1.3.1.3 Đổi mới PPDH như thế nào?
Đổi mới PPDH được hiểu là: Đưa các phương pháp mới vào nhà trường trên
cơ sở phát huy mặt tích cực của các phương pháp truyền thống để nâng cao chấtlượng dạy - học, nâng cao hiệu quả đào tạo của giáo dục Đổi mới PPDH phải thiếtthực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục THPT, tạo điều kiện để cá thể hoá dạyhọc và khuyến khích dạy học phát hiện ra nội dung mới của bài học Làm được nhưvậy sẽ phát triển được các năng lực, sở trường của từng HS; rèn luyện HS trở thànhnhững người lao động chủ động, sáng tạo
Đổi mới PPDH ở THPT phải thực hiện đồng bộ với đổi mới mục tiêu và nộidung giáo dục; đổi mới đào tạo và bồi dưỡng GV; đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị
Trang 29Đó là một quá trình lâu dài, kiên trì, bền bỉ, tránh nôn nóng đốt cháy giai đoạn; phải kếthừa những thành tựu về PPDH của đội ngũ GV THPT ở nước ta đồng thời khiêm tốnhọc tập những kinh nghiệm thành công của việc đổi mới phương pháp dạy Tin học ởTHPT của các nước; kế thừa và phát huy các mặt tích cực của các PPDH truyền thống
và vận dụng hợp lý các PPDH mới Mức độ thực hiện đổi mới PPDH ở THPT phải tuỳthuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, của GV từng trường,từng lớp
Để đảm bảo sự thành công của đổi mới PPDH ở THPT nên lựa chọn những giảipháp có tính khả thi cao
Một là đổi mới nhận thức, trong đó cần trân trọng khả năng chủ động, sáng tạocủa GV và HS THPT
Hai là đổi mới các hình thức tổ chức dạy học, nên khuyến khích dạy học cánhân, dạy học theo nhóm, dạy học ở hiện trường, tăng cường trò chơi học tập
Ba là đổi mới cách trang trí, sắp xếp phòng học để tạo ra môi trường học tậpthích hợp
Bốn là đổi mới phương tiện dạy học, khuyến khích dùng các loại phiếu học tập,
đồ dùng học tập, phương tiện kỹ thuật
Năm là đổi mới cách trong cách đánh giá, phân loại HS của GV
Như vậy định hướng đổi mới PPDH Tin học ở THPT hiện nay là tích cực hoá hoạtđộng học tập của HS, khơi dậy và phát triển khả năng tực học, nhằm hình thành cho HS
tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
1.3.2 Dạy học phân hóa là một hướng đổi mới của PPDH
Dạy học phân hoá như là một hướng đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của HS được hiểu là quá trình GV tổ chức và hướng dẫn cáchoạt động học tập Bao gồm:
+ Huy động mọi khả năng của từng HS để tự HS tìm tòi, khám phá ra nhữngnội dung mới của bài học
+ Phân hoá HS theo trình độ nhận thức, giao nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm
HS tạo điều kiện và phương tiện hoạt động để HS tự phát hiện ra các tình huống cóvấn đề; tự mình hoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch hợp lý nhất đểgiải quyết vấn đề
Trang 30+ Tập trung mọi cố gắng để phát triển năng lực, sở trường của mỗi HS, tạo cho
HS có niềm tin và niềm vui trong học tập
Dạy học như trên khuyến khích GV chủ động và sáng tạo trong nghề nghiệpđồng thời yêu cầu họ phải trân trọng mọi cố gắng, mọi sáng tạo dù nhỏ bé của từng
HS Kết quả của cách dạy học như thế không chỉ góp phần hình thành cho HS các kiếnthức, kỹ năng và thái độ cần thiết, mà chủ yếu là xây dùng cho HS nhiệt tình vàphương pháp học tập để sáng tạo
Cụ thể của PPDH phân hóa như thế nào sẽ được trình bày đầy đủ, cụ thể và rõ ràng hơn trong chương 2: “Dạy học phân hóa” của đề tài nghiên cứu
do xã hội tích lũy cho thế hệ trẻ Cho nên một tổ chức dạy học trong đó HS phải khámphá lại tất cả những điều mà loài người biết được trước đây và được quy định trongchương trình học, là một điều ít nhất cũng là kì quái” [16]
Phương pháp học tập là do mục tiêu giáo dục quyết định, mà mục tiêu giáo dụclại được quy định bởi nhu cầu của hoạt động thực tiễn, của đời sống xã hội Đươngnhiên đời sống cần những con người sáng tạo, có khả năng khám phá, nhưng vẫn cónhững công việc, những hoạt động chỉ đòi hỏi người ta biết vận dụng những tri thứctrong kho tàng văn hóa của nhân loại và không phải do bản thân mình tìm ra
Đồng tình với Lécne, chúng tôi không yêu cầu HS tự khám phá tất cả các trithức quy định trong chương trình mà thực hiện như sau:
Đối với một nội dung học tập mới, HS khám phá tri thức dựa trên việc tổ chứccác hoạt động dạy học tích cực của GV
HS học được không chỉ kết quả mà điều quan trọng hơn là cả quá trình dạyhọc tích cực
HS sẽ tự tìm ra hướng giải quyết cho các vấn đề không được giải quyết bằngcác phương pháp dạy học tích cực do GV tổ chức
Trang 31CHƯƠNG 2: DẠY HỌC PHÂN HÓA 2.1 Thế nào là dạy học phân hóa?
2.1.1 Khái niệm dạy học phân hóa
Dạy học phân hoá là một cách thức dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành cáchoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, nhu cầu nhậnthức, các điều kiện học tập nhằm tạo ra những kết quả học tập và sự phát triển tốt nhấtcho người học, đảm bảo công bằng trong giáo dục, tức là đảm bảo quyền bình đẳng về
cơ hội học tập cho người học
Với PPDH truyền thống, HS là một bộ phận tiếp thu sự hướng dẫn, giáo dục vàdẫn dắt của GV, không phân biệt người này với người khác: khi đó, lớp học là chungkhông phân biệt trình độ của từng cá thể và cùng hướng tới mục tiêu là đạt được kiếnthức đề ra Trong dạy học hiện đại ngày này, PPDH đó không còn phù hợp và đã nảysinh nhiều nhược điểm Ngày này, người ta quan tâm đến từng cá nhân người học trênbình diện tổ chức (phân chia các cấp học từ tiểu học đến đại học, cao đẳng, ) cũngnhư trên bình diện giáo dục (dạy học lấy người học làm trung tâm, dạy học phát hiện
và giải quyết vấn đề, dạy học phân hóa ) Có nhiều tiêu chí để “chia” người học, ví dụchia theo lứa tuổi, chia theo giới tính, chia theo từng địa bàn cư trú Trong đề tài này,chúng tôi chỉ giới hạn trong việc chia theo năng lực và nhu cầu người học
Theo GS.TSKH Nguyễn Bá Kim: “Dạy học phân hóa xuất phát từ sự biệnchứng thống nhất và phân hóa, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy họcđối với tất cả mọi HS, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khảnăng cá nhân” [12]
Khi dạy học, cần chú ý tới năng lực, sở thích, nguyện vọng của từng em HS
để từ đó có thể đưa ra được các phương pháp dạy đa dạng phù hợp với từng đối tượng.Việc dạy theo một chương trình, với cùng một cách tổ chức dạy học đã không còn phùhợp với yêu cầu hiện nay của xã hội
Như vậy, phân hóa là một hoạt động cần phải phân loại và chia tách các đốitượng, từ đó tổ chức, vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức phù hợp với đốitượng ấy nhằm đạt hiệu quả cao Và dạy học phân hóa là định hướng mà GV tổ chứcdạy học tùy vào đối tượng, nhằm đảm bảo yêu cầu giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm– sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú khác nhau của người học, nhằm phát triển tối
Trang 322.1.2 Tư tưởng chủ đạo về dạy học phân hóa
Kết hợp giáo dục “đại trà” với giáo dục “mũi nhọn”, giữa “phổ cập” với “nângcao” trong dạy Tin học ở trường THPT cần được tiến hành theo các tư tưởng chủ đạo sau:
a Lấy trình độ phát triển chung của HS trong từng lớp làm nền tảng:
Trong dạy học nói chung và dạy học Tin học nói riêng, GV phải biết lấy trình
độ phát triển chung và điều kiện chung của HS trong lớp làm nền tảng, phải hướng vàonhững yêu cầu cơ bản về chuẩn kiến thức kĩ năng để điều chỉnh nội dung dạy học chophù hợp GV phải biết lựa chọn nội dung và PPDH phù hợp với trình độ và điều kiệnchung của lớp Có thể phải lược bỏ những nội dung chưa sát thực, chưa phù hợp vớiyêu cầu cơ bản đặt ra hoặc cũng có thể phải bổ sung những nội dung cần thiết để pháttriển tư duy cho HS Vì vậy, một mặt cần làm cho mọi HS đều nắm được hết yêu cầucủa chương trình, mặt khác phải phát huy khả năng, sở trường, năng khiếu của từng
sẽ chỉ cho HS cách nhận biết các tham số trong thủ tục (tham biến, tham trị, tham sốhình thức, tham số thực sự)
+ Nếu lớp có nhiều HS khá giỏi thì nên yêu cầu HS chạy thử bằng tay cácchương trình đó xem dự đoán kết quả sẽ như thế nào và nếu thay đổi chức năng củatham số thì kết quả còn như dự đoán không, không yêu cầu HS yếu kém thực hiện cácyêu cầu trên
b Sử dụng những biện pháp phân hoá đưa diện HS yếu kém lên trình độ trung bình.
Trong dạy học phân hoá, nếu lớp có HS diện yếu kém thì GV cần sử dụng cácbiện pháp để đưa những HS đó có đủ khả năng đạt được những yêu cầu về chuẩn kiếnthức kĩ năng Những HS này thường có kết quả học tập dưới mức trung bình, đối vớikiến thức cơ bản cũng không thể đáp ứng được Đối với những HS này, cần phải hạ
Trang 33thấp yêu cầu so với HS diện đại trà, GV cần kèm riêng từng cá nhân để các em có thểtheo kịp trình độ chung của HS cả lớp.
Ví dụ: Khi yêu cầu HS yếu kém trong lớp giải các bài toán lập trình Pascal cầnmức độ tư duy hơn một chút, nếu có HS yếu về cách đặt lời giải thì GV cần gợi ý trựctiếp với riêng cá nhân HS đó về cách đặt lời giải hoặc có thể thiết kế riêng phiếu bàitập có in sẵn lời giải và để trống một số chỗ trọng điểm, yêu cầu HS chỉ điền một sốcâu lệnh dưới lời giải
c Có những nội dung bổ sung và biện pháp phân hoá giúp HS khá, giỏi đạt được những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bản
Trong dạy học phân hoá, một yêu cầu rất quan trọng đối với GV là cần phải bổsung những kiến thức nâng cao cho HS khá, giỏi bằng những dạng bài tập mang tínhphát triển tư duy Đối với những HS này, ngoài việc đạt được yêu cầu về chuẩn kiếnthức kĩ năng còn phải vận dụng các kiến thức đã học vào việc giải toán nâng cao Cácdạng bài tập bổ sung cần đảm bảo yêu cầu sát với chuẩn kiến thức kĩ năng và phải vừasức với HS
Ví dụ: Trong bài: “Ví dụ về cách viết và sử dụng hàm” – Tin học 11: Phần cáchviết và sử dụng hàm có ví dụ về chương trình rút gọn phân số có sử dụng hàm tínhƯCLN của 2 số nguyên GV có thể yêu cầu HS khá, giỏi dựa vào đó viết chương trìnhcho bài toán tìm BSCNN của 2 số
2.1.3 Xu thế quốc tế về dạy học phân hóa
Do đặc điểm của từng đối tượng người học, mỗi HS có tiềm năng riêng, có tríthông minh riêng và động lực học tập khác nhau Vì vậy, dạy học phân hóa tốt sẽ đápứng và phát huy được nguyện vọng, sở trường và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnhcủa từng HS
Do yêu cầu phát triển khoa học và đòi hỏi của thị trường lao động, việc dạy họcphân hóa sẽ cung cấp cho Giáo dục một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyên sâu
về một lĩnh vực khoa học hoặc ngành nghề chuyên biệt
Dạy học phân hóa thường chia ra 2 loại: phân hóa trong và phân hóa ngoài:
a Phân hóa trong (phân hóa nội tại): là cách dạy chú ý tới các đối tượng riêng
biệt, cá nhân hóa người học trên lớp, dạy phù hợp với từng đối tượng để hiệu quả dạyhọc đạt được cao nhất và kết quả nhận được là tốt nhất Đây là sự cá nhân hóa trongquá trình dạy học Một số biện pháp phân hóa có thể sử dụng trong dạy học:
Trang 34 Đối xử cá biệt ngay trong những pha dạy học đồng loạt:
Theo tư tưởng chủ đạo của dạy học phân hóa ở trên, dạy học cần lấy trình độphát triển chung của lớp làm nền tảng Trong lớp thường có những nhóm HS học kháhơn và những nhóm HS học ở mức độ trung bình, yếu Khi đó, với nhóm HS khá giỏi,
GV nên giao cho các em những nhiệm vụ mang tính tìm tòi, phát hiện, nâng cao trênmặt bằng chung của nội dung bài học đặt ra Còn đối với nhóm HS yếu kém thì câuhỏi đưa ra chỉ cần mang tính chất vận dụng các kỹ năng cơ bản, sẵn có để giải quyếtđược vấn đề của bài học, kèm theo đó là sự gợi ý hoặc đưa ra những câu hỏi nhỏ đểkhuyến khích khi các em tỏ ý muốn trả lới câu hỏi
Tổ chức những pha phân hóa ngay trên lớp:
Ở những lúc nhất định trong quá trình dạy học, có thể thực hiện những phaphân hóa tạm thời, tổ chức cho HS hoạt động một cách phân hóa Ở những pha nàythầy giáo thường cho HS những nhiệm vụ phân hóa, điều khiển quá trình giải bài tậpmột cách phân hóa Điều đó được minh họa bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Tổ chức các pha phân hóa trên lớp
Cụ thể sơ đồ trên như sau:
Tác động qua lại giữa người học với nhau: Khi GV đưa ra một vấn đề nào
đó liên quan tới bài học, nên khuyến khích sự giao lưu giữa các em HS trong lớp như:thảo luận theo tổ, theo bàn, theo từng cặp ngồi gần nhau; lấy điểm mạnh của HS này
để điều chỉnh điểm yếu của HS khác Điều này có nhiều ưu điểm hơn so với tác dụng
Trang 35của thầy giáo: có tính thuyết phục, nêu gương, không có tính chất áp đặt Làm việctheo nhóm là một hình thức vẫn thường xảy ra trong đời sống HS dù khá giỏi hay yếukém cũng đều cần luyện tập hoạt động trong những tình huống như thế.
Ra bài tập phân hóa: Việc ra bài tập phân hóa là nhằm mục đích, nhiều HS
khác nhau có thể làm các dạng bài tập khác nhau phù hợp với trình độ của họ Cụ thể là:
Phân hóa về yêu cầu: sử dụng những bài tập phân bậc
Ví dụ: Phân bậc tìm kiếm phần tử của mảng 1 chiều mà các phần tử của mảng
là số nguyên dương Ta có thể hình dung sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Phân bậc hoạt động
Ở đây, bậc 2 cao hơn bậc 1 về mặt mức độ độc lập của hoạt động và thấp hơnbậc 3 về sự phức hợp của hoạt động; bậc 2’ cao hơn bậc 1 về mặt sự phức hợp củahoạt động và thấp hơn bậc 3 về mặt tính độc lập của hoạt động Tuy nhiên, bậc 2 vàbậc 2’ không thể so sánh được với nhau
Phân hóa về số lượng: để hình thành nên một kiến thức, hay rèn luyện một kỹ
năng nào đó, một HS này có thể cần nhiều bài tập cùng loại hơn HS khác Những HScòn thừa thời gian, đặc biệt là HS giỏi nên đưa thêm các bài tập để đào sâu, nâng cao
Điều khiển phân hóa: Khi cho HS làm bài tập, GV có thể đưa ra các yêu cầu
Trang 36hoặc không gợi ý cho HS khác phụ thuộc vào khả năng và trình độ của trò Đồng thờicần quan tâm đặc biệt tới từng HS trong lớp để đưa ra các yêu cầu phù hợp hơn.
Phân hóa bài tập về nhà: Một số hình thức phân hóa các dạng bài tập về nhà
được cụ thể như sau:
Phân hóa về số lượng bài tập: nên đưa ra số lượng bài tập vừa phải, đủ sức để các
em HS khá giỏi cũng như HS trung bình yếu đều có thể đạt được mục tiêu GV yêu cầu
Phân hóa về nội dung bài tập: tránh việc yêu cầu quá đơn giản gây nhàmchán cho HS khá giỏi cũng như áp lực quá cao đối với HS yếu kém
Phân hóa yêu cầu về mặt tính độc lập: bài tập cho HS diện yếu kém chứanhiều yếu tố dẫn dắt, gợi ý hơn bài tập dành cho HS giỏi
Ra riêng những bài tập nhằm đảm bảo trình độ cho HS yếu kém để hiểu đượcnội dung bài học sau
Ra riêng các dạng bài tập nâng cao cho HS khá giỏi
Phân hóa trong kiểm tra, đánh giá chất lượng HS: kiểm tra một trong những
là hình thức để đánh giá chất lượng dạy – học của GV và HS, phân hóa trong kiểm tra
để phân loại HS trong lớp từ đó có những phương pháp dạy học phù hợp Dạng phânhóa này có một số đặc điểm cơ bản sau:
Trong khi ra đề kiểm tra cho HS, ngoài các câu hỏi, các dạng bài tập đảm bảonội dung kiến thức cơ bản thì nên có những bài tập (không cần nhiều) mang tính chấtvận dụng tổng hợp Khi đó, việc đánh giá sẽ phân loại được HS mà vẫn đảm bảo yêucầu cơ bản
Dựa trên cách làm bài của HS, GV sẽ đánh giá được HS đang ở mức nào(yếu, trung bình, khá, giỏi), từ đó sẽ điều chỉnh được phương pháp dạy cho phù hợpvới các đối tượng HS
b Phân hóa ngoài (dạy học phân hóa ở cấp độ vĩ mô): Là cách dạy theo các
chương trình khác nhau cho các nhóm người học khác nhau nhằm đáp ứng được nhucầu, sở thích và năng lực của từng nhóm người học Kết quả đạt được phụ thuộc chủyếu vào việc thiết kế nội dung cho từng môn học Phân hóa ngoài thể hiện rõ nhất ởcác lớp của trường THPT
Có nhiều hình thức tổ chức dạy học phân hóa ngoài khác nhau như: phân ban,dạy học tự chọn, phân ban kết hợp với tự chọn, phân luồng nhưng chủ yếu là ba hìnhthức sau:
Trang 37 Tổ chức dạy học phân hóa theo hướng phân ban: Mỗi ban được xác định
theo một nhóm môn học phù hợp với nhóm ngành nghề, nghề xã hội HS lựa chọn bancăn cứ vào năng lực và nguyện vọng của bản thân và điều kiện thực tiễn của từngtrường Chương trình học tập của mỗi ban gồm các môn học nhất định, với khối lượngnội dung và thời lượng dạy học được quy định thống nhất như nhau trong toàn quốc.Hình thức này hiện nay đã được thực hiện tại tất cả các trường THPT trên toàn quốcvới ba ban là: Khoa học tự nhiên (A), Khoa học tự nhiên – kỹ thuật (B), Khoa học xãhội (C)
Tổ chức dạy học phân hóa theo hướng tự chọn: HS chỉ học một số ít môn
học và hoạt động bắt buộc chung, còn lại tự chọn các môn học hoặc chủ đề giáo dụcphù hợp với nguyện vọng, sở trường của cá nhân người học Số lượng môn học vàhoạt động giáo dục bắt buộc cũng như các môn, các chủ đề tự chọn thường gắn với đặcđiểm môi trường của địa phương Như vậy, dạy học tự chọn là dạy học hướng đếntừng cá nhân HS, cho phép mỗi HS ngoài việc học theo một chương trình chung còn
có thể học một chương trình với các môn học khác nhau, hoặc có thể học các chủ đềkhác nhau trong một môn học
Để phân hóa sâu nhiều nước đưa ra danh mục các môn tự chọn rất phong phú.Hàn Quốc là một ví dụ điển hình Phương pháp này đang là lựa chọn của đa số nềngiáo dục các nước
Tổ chức dạy học phân ban kết hợp với dạy học tự chọn: Đây là hình thức HS vừa
được chia học theo các ban khác nhau vừa được chọn một số môn học và sách được chọnngoài phần nội dung học tập bắt buộc chung cho mỗi ban Cách dạy này tận dụng đượcnhững ưu điểm và khắc phục những nhược điểm của hai hình thức tổ chức dạy học trên
Việt Nam đang lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phân ban kết hợp với dạyhọc tự chọn cho các trường THPT
2.2 Thực trạng dạy học phân hóa chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam
Trước tiên, chúng ta hiểu vì sao phải dạy học phân hóa ở trường THPT:
Dạy học phân hóa là phù hợp với quy luật phát triển nhận thức và đặcđiểm tâm sinh lý của lứa tuổi HS Phương pháp này cũng góp phần giúp các em tìm
ra được sở trường, năng khiếu của bản thân để định hướng nghề nghiệp trong nămcuối cấp THPT
Trang 38 Dạy học phân hóa góp phần đáp ứng yêu cầu đào tọa và phân công lao động
xã hội, để mỗi người sẽ đóng góp công sức hiệu quả nhất cho công việc Đây là mộtphần trong nhiệm vụ hướng nghiệp
Dạy học phân hóa ở trường THPT là cần thiết và phù hợp với điều kiệnphát triển chung của xã hội Hiện nay, ít trường THPT nào còn dạy học theo mộtchương trình và kế hoạch duy nhất cho mọi HS
Nhìn chung, hiện nay, các môn học đều thực hiện dạy học phân hóa trong theonhiều hình thức và mức độ khác nhau Về phân hóa ngoài, hình thức phân ban ở THPThiệu quả chưa cao; một số trường chuyên, năng khiếu mới có thể phát huy được vaitrò, vị thế, chất lượng và hiệu quả phân hóa cao hơn
Chương trình giáo dục phổ thông hiện nay đã có nhiều tiến bộ nhưng so với cácnước phát triển thì giáo dục phổ thông Việt Nam còn nhiều hạn chế như: chưa chủđộng được phân hóa ngoài ở THPT, HS đang có xu hướng “tự phân hóa” theo các môncủa khối thi tuyển đại học, cao đẳng
2.3 Thực trạng dạy học phân hóa môn Tin học ở trường THPT
Qua điều tra việc học của HS trường THPT và trao đổi với GV dạy Tin học, emnhận thấy rằng việc dạy môn Tin học còn đang gặp phải một số vấn đề sau:
Khi lên lớp, với 45 phút cho 1 tiết học, GV chỉ đủ thời gian để dạy chạy hết
lý thuyết của một bài nên phương pháp chủ yếu là thuyết trình, tập trung truyền đạtkiến thức có sẵn trong SGK Tin học
HS trong lớp thường coi đây là môn phụ nên vào các giờ học Tin học, các emchủ yếu nghe giảng, chép những gì GV ghi trên bảng hoặc giờ thực hành xem GV làmmẫu rồi làm theo những gì thầy cô đã thao tác Vì vậy, HS rất thụ động trong việc tìmkiếm kiến thức mới
Chủ yếu, GV sử dụng PPDH đồng loạt, ít đưa ra câu hỏi, hay bài tập phânhóa để phân loại và đánh giá HS Rất ít GV có thể tạo ra những môi trường học tậpkhác nhau phù hợp với từng đối tượng HS
GV dạy Tin học thường là những người trẻ, kinh nghiệm chưa nhiều nên khisoạn giáo án chỉ chú trọng tới kiến thức chung mà chưa có phần dành riêng cho HSyếu kém hay HS khá giỏi, chưa đưa ra hết được các tình huống phát sinh trong quátrình dạy, các thông tin phản hồi từ phía HS
Trang 39 Cùng với đó việc kiểm tra, đánh giá cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phânhóa, chưa sát với từng đối tượng HS Vì thế, thông tin trả về cho GV để đánh giá chấtlượng HS chưa thực sự chính xác.
Nguyên nhân của các vấn đề trên là do:
GV dạy Tin học ở trường THPT tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ
Dạy học phân hóa chưa được phổ biến rộng rãi
Tài liệu hướng dẫn về dạy học phân hóa còn hạn chế
Thời gian cho môn học còn ít, phân phối chương trình còn cứng nhắc
Sĩ số lớp học đông gây khó khăn cho GV trong việc tổ chức dạy học phân hóa
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
DHPH là một trong những hình thức dạy học tích cực đang được áp dụng trongcác nhà trường phổ thông hiện nay Phương pháp dạy học này đã mang lại hiệu quả rõnét trong việc dạy của GV và việc học của HS DHPH có rất nhiều ưu điểm nhưngcũng mắc phải một số nhược điểm như sau:
Nhược điểm:
DHPD đòi hỏi GV phải có chuyên môn cao, bề dày kinh nghiệm, tâm huyếtvới nghề Giáo án DHPH phải có sự nghiên cứu, xây dựng công phu, chặt chẽ, phải dựđoán trước tất cả các tình huống có thể xảy ra trong quá trình lĩnh hội kiến thức của HS
DHPH đòi hỏi GV phải chủ động thời gian một cách hợp lý nhất Nếukhông điều hành thời gian chuẩn giữa các hoạt động có thể gây nhàm chán cho HS vàchất lượng học sẽ giảm so với việc dạy học đồng loạt
Trang 40CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Nếu xét về yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa, năng lực là khảnăng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hànhđộng một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đã dạng của cuộc sống
Định nghĩa theo cách nào thì năng lực đều có một số đặc điểm chung cơ bản sau:
Năng lực đều đề cập tới việc đạt được một kết quả nào đó của một công việc
cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lựcquản lý bản thân )
Có sự tác động của một cá nhân nào đó tới một đối tượng (kiến thức, quan hệ xãhội, ) để tạo ra được một sản phẩm nhất định, nhằm phân biệt người này với người khác
Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động
cụ thể Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện củahoạt động nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó
Việc đưa ra hai xu hướng định nghĩa khái niệm năng lực và các đặc điểm chungcủa năng lực trên nhằm định hướng cho việc phối hợp cách xác định mục tiêu giáodục, dạy học khi soạn thảo các chương trình môn học, đánh giá kết quả học tập nóichung và môn Tin học nói riêng
1.2 Bản chất của năng lực
Năng lực thực ra là khả năng của chủ thể được kết hợp một cách linh hoạt, có tổchức hợp lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng nhữngyêu cầu phức tạp của hoạt động Từ đó, nhằm mang lại cho hoạt động đó một kết quảtốt đẹp trong một tình huống nhất định
Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và kỹ năng trong một tìnhhuống có mục đích, chứ không phải chỉ tiếp thu lượng tri thức rời rạc