1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh cấu trúc đề thuyết trong câu tiếng việt và câu tiếng anh

205 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh cấu trúc đề thuyết trong câu tiếng Việt và câu tiếng Anh
Trường học Đại Học Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ pháp Tiếng Việt và Tiếng Anh
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 639,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự khác biệt về cấu trúc cú pháp cơ bản của câu ở hai loại ngôn ngữ này không được chú ý đúng mức hay bị xoá nhoà gây khó khăn không nhỏ cho việc dạy và học tiếng Việt trong nhà trường..

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Có nhiều cách để tiếp cận và mô tả ngữ pháp của một ngôn ngữ Một hướng nghiên cứu xem ngữ pháp như một tập hợp các qui tắc tiêu biểu cho tất cả các kết cấu ngữ pháp có thể có của ngôn ngữ Khuynh hướng này thường phân biệt rõ ràng giữa câu có tính ngữ pháp (còn được gọi là câu chuẩn về hình thức) với câu không có tính ngữ pháp Câu có tính ngữ pháp thì liên quan đến hình thức của cấu trúc ngữ pháp và mối quan hệ giữa nó với các cấu trúc khác chứ không phải với nghĩa của nó hoặc cách sử dụng nó trong các ngữ cảnh khác nhau Nhà ngữ pháp ở khuynh hướng này thường phân tích câu để minh họa cho các quy tắc ngữ pháp khác nhau chứ không mấy quan tâm đến việc phân tích câu được rút ra từ thực tế giao tiếp

Một khuynh hướng khác coi ngôn ngữ trước hết và trên hết là một hệ thống giao tiếp, coi mục đích của việc phân tích ngữ pháp là để tìm xem một ngôn ngữ được tổ chức như thế nào mà lại có thể cho phép người nói / người viết tạo ra và thay đổi ý nghĩa của câu như vậy Khuynh hướng này thấy không nhất thiết phải phân biệt dứt khoát giữa hình thức ngữ pháp và không ngữ pháp, cái quan trọng là sự tương thích của một hình thức cho mỗi mục đích giao tiếp cụ thể trong từng văn cảnh cụ thể Nghĩa là, khuynh hướng ngữ pháp đang xét quan tâm nhiều đến chức năng của cấu trúc câu cùng các thành tố và ý nghĩa của cấu trúc ấy trong ngữ cảnh Nhà ngữ pháp ở khuynh hướng này thường sử dụng và xử lý các dữ liệu từ những văn bản hay văn cảnh tiêu biểu trong thực tế giao tiếp Khuynh hướng thứ nhất là khuynh hướng Ngữ pháp cấu trúc

Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng Ngữ pháp chức năng

Trang 2

Sự khác nhau giữa Ngữ pháp cấu trúc và Ngữ pháp chức năng có thể được minh hoạ một cách ngắn gọn và đơn giản bằng ví dụ dưới đây :

(1)

a This teapot was given her by the duke

“Cái ấm trà này là do ngài công tước tặng cho bà ấy đấy.”

b She was given this teapot by the duke

“Bà ấy được ngài công tước tặng cái ấm trà này.”

Ở sự phân tích “thái” của câu, cả hai khuynh hướng gặp nhau và nhất trí

gọi những câu trên là câu ở thái bị động Tuy nhiên Ngữ pháp cấu trúc thì quan tâm trước hết tới việc tìm ra cái cấu trúc câu đã được ngữ pháp hoá, mô hình hoá

ra sao và các câu trên liên quan như thế nào đến cấu trúc câu ở thái chủ động dưới đây:

c The duke gave her that teapot

“Ngài công tước tặng bà ấy cái ấm trà kia đấy.”

Chẳng hạn như quan tâm tới các quy tắc sau đây để câu (1a, 1b) có thể được suy ra (derived from) từ câu (1c):

1 Sự chuyển dịch yếu tố bổ ngữ trực tiếp this teapot hoặc bổ ngữ gián tiếp her từ phía sau lên vị trí đầu câu và thay đổi hình thái : từ her ở (1c) Ỉ she ở (1b)

2 Sự chuyển dịch yếu tố giữ cương vị chủ ngữ : the duke ra phía cuối câu sau giới từ by (hoặc thể hiện bằng zero)

3 Việc thay đổi từ gave (một hình thái chủ động của động từ) sang

was given (một hình thái bị động của động từ)

Ngữ pháp chức năng thì cũng quan tâm đến sự khác nhau ấy về hình thái giữa cấu trúc bị động và chủ động ở các câu (1a, 1b) và (1c) Có điều, họ quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề như :

Trang 3

1 Mục đích giao tiếp, hiệu quả giao tiếp của thông điệp trong các

câu trên khác nhau như thế nào khi câu bắt đầu bằng this teapot, bằng she hay bằng the duke ?

2 The duke được thể hiện bằng zero hay được đặt ở cuối câu sau giới từ by nhằm mục đích gì ?

3 Đặc trưng nào của ngữ cảnh hướng người nói / viết chọn “thái bị động” mà không chọn “thái chủ động” ?

Trong chừng mực có thể, luận án cố gắng thử đưa ra một cách trả lời các câu hỏi vừa nêu và trình bày những vấn đề có liên quan

1.2 Việc áp đặït cho tiếng Việt cách xử lý cấu trúc câu của tiếng Âu châu đưa đến một hậu quả tai hại hiển nhiên Sự khác biệt về cấu trúc cú pháp cơ bản của câu ở hai loại ngôn ngữ này không được chú ý đúng mức hay bị xoá nhoà gây khó khăn không nhỏ cho việc dạy và học tiếng Việt trong nhà trường Chẳng hạn, học sinh phổ thông của ta ngay từ nhỏ đã phải đinh ninh câu tiếng Việt có chủ ngữ và vị ngữ Xét ví dụ sau :

(2)

a Bà sinh ra toàn là “quí tử”

b Bà sinh ra nơi đồng chua nước mặn

Trong hai câu trên, việc xác định chủ ngữ bà trong (5a) có lẽ không có

vấn đề gì đáng kể với một học sinh đầu cấp phổ thông Cơ sở, thậm chí cuối Tiểu học, bởi cấu trúc của câu trên hoàn toàn giống với cấu trúc của một câu tiếng Âu châu tương ứng (chủ – vị – bổ) Nhưng vấn đề sẽ không hoàn toàn đơn giản với chính các em học sinh nói trên, thậm chí cả với những học sinh cấp lớn hơn

hay cả sinh viên Đại học trong việc xác định chủ ngữ cho câu (5b) Bà trong (5b)

Trang 4

có phải là chủ ngữ không ? Nếu không thì nó là thành phần gì trong câu ? Nếu phải

thì nó khác gì với bàø trong (5a), và đâu là dấu hiệu hình thức (tức một phương tiện ngữ pháp) đánh dấu sự khác nhau giữa nó với bà trong (5a) khi cả hai đều đứng trước vị từ ngoại động “sinh ra”? Rất khó tìm thấy một lời giải đáp thoả

đáng trong các sách giáo khoa tiếng Việt trong nhà trường hiện nay

1.3 Tương đương với quan niệm trên là việc cho rằng tiếng Việt cũng có “thì” (quá khứ, hiện tại, tương lai) giống như các thứ tiếng châu Âu, được đánh dấu

bằng sự có mặt của đã chỉ quá khứ, đang chỉ hiện tại và sẽ chỉ tương lai Ta xét

tiếp các ví dụ sau :

(3)

a Nếu biết rằng em đã có chồng

Trời ơi người ấy có buồn không ? ( T T K H)

b Năm ngoái nó đậu ba trường Đại học

Câu (3a) cho thấy người thiếu phụ rõ ràng “đang” ở trong trạng thái “có chồng” và vì thế, khi nghĩ đến “người xưa” (người ấy), cô muốn biết rõ tình cảm

của chàng và cũng là nói hộ tình cảm của cả hai khi phải thừa nhận cái thực tế

quá phũ phàng : em đã có chồng = em đang có chồng Điều ấy đồng thời có nghĩa

là cái ước mơ được lấy nhau của đôi ta thế là hết

Còn theo cách phân tích đã chỉ quá khứ, ứng với “thì quá khứ” (past tense) trong tiếng Anh “If he knows I was married […] ” ‘Nếu biết rằng em đã có

chồng […]’ thì việc em “có chồng” chỉ xảy ra trong quá khứ (trước thời điểm

phát ngôn) mà hoàn toàn không còn tồn tại ở hiện tại (ngay thời điểm phát ngôn) Và nếu như vậy thì những lời đau đớn kia của người thiếu phụ trở nên quá vô duyên, nếu không nói là vô lý

Trang 5

Còn ở (3b), mặc dù không hề có mặt đã, cái vốn được nhiều nhà Việt ngữ

học coi là một phương tiện ngữ pháp đánh dấu quá khứ, mà câu vẫn cho thấy ý

nghĩa chỉ quá khứ rất rõ nhờ phương tiện từ vựng năm ngoái

Như vậy, có thể thấy rất rõ rằng đã trong tiếng Việt không phải là phương

tiện ngữ pháp đánh dấu thì quá khứ; ngược lại ý nghĩa quá khứ trong tiếng Việt

được thể hiện không phải khi nào cũng bằng một phương tiện ngữ pháp “đã”

(theo quan niệm xưa nay), mà bằng một loại phương tiện khác, phương tiện từ vựng chẳng hạn

Thế nhưng, quan niệm rằng đã chỉ quá khứ, đang chỉ hiện tại, sẽ chỉ tương

lai, sự phi lý ấy vẫn đang tồn tại trong nhiều công trình về Việt ngữ, không loại trừ cả sách giáo khoa tiếng Việt, loại sách có tính chất pháp qui, pháp lệnh

Tất cả những điều trình bày trên phản ánh một bức tranh đáng buồn của việc dạy và học tiếng Việt trong nhà trường hiện nay Là người có tham gia giảng dạy môn Tiếng Việt thực hành ở năm đầu của chương trình đại học, có dịp tìm hiểu kỹ năng nói và viết tiếng mẹ đẻ của những người bản ngữ đã qua 12 năm “vật lộn” với chính thứ tiếng ấy, người viết không khỏi bức xúc và day dứt trước một thực tế hiển nhiên : sinh viên Việt Nam, kể cả sinh viên học các khoa thuộc Khoa học Xã hội, và nghề nghiệp sau này của họ chắc chắn liên quan khá nhiều đến “chữ nghĩa” như Văn, Báo chí, Sử, Địa, Giáo dục Chính trị, Tâm lý v.v… mà sử dụng tiếng Việt chưa thành thạo

Thực tế trên cho thấy cần thiết phải tôn trọng một nguyên tắc đối với việc biên soạn sách giáo khoa tiếng Việt: phải xuất phát từ thực tiễn tiếng Việt, giải thích và xử lý các hiện tượng tiếng Việt đúng với tinh thần và đặc trưng của tiếng Việt, chứ không xuất phát từ một mô hình nghiên cứu mang tính chất tiên nghiệm nào, tuy rằng về phương pháp luận, việc xây dựng một mô hình nghiên cứu có giá trị khái quát vẫn là một điều hoàn toàn cần thiết

Trang 6

Luận án thử góp thêm một tiếng nói

1.4 Thực tế cho thấy việc áp đặt một thứ cấu trúc vốn xa lạ của tiếng Âu châu cho cấu trúc cú pháp tiếng Việt, bỏ qua việc xem xét tiếng Việt xuất phát từ những đặc trưng loại hình của nó, đã làm nảy sinh nhiều khó khăn cho cả việc học tiếng Anh của người Việt Dưới đây luận văn chỉ xin đề cập đến một vài trong số rất nhiều vấn đề bất cập trong lĩnh vực này

Người viết đã tiến hành khảo sát trên 869 học sinh trung học phổ thông với nội dung như sau: trên mỗi phiếu của các em là 2 dạng bài tập, mỗi dạng gồm 5 cặp câu giống nhau về ý nghĩa:

ý nghĩa bị động 5(ở bài tập A)

ý nghĩa quá khứ (ở bài tập B)

nhưng khác nhau về cách diễn đạt ở chỗ:

Bài tập A : một câu có được, một câu không có được, chẳng hạn như:

1) Bàn được lau rồi

2) Bàn lau rồi

Bài tập B : một câu có đã, một câu không có đã, chẳng hạn như:

1) Hè năm ngoái tôi đã đi Hà Nội

2) Hè năm ngoái tôi đi Hà Nội

Các em có nhiệm vụ dịch 10 cặp câu trên từ tiếng Việt ra tiếng Anh và sau đó trả lời 2 câu hỏi trắc nghiệm sau:

A B

a) Câu trên có ý nghĩa bị động a) Câu trên có ý nghĩa quá khứ b) Câu dưới không có ý nghĩa bị động b) Câu dưới không có ý nghĩa quá khứ

Trang 7

Đáp án cho cả 2 dạng bài tập này là: a) + b) –

SAI (TỶ LỆ %)

CÂU TRẮC NGHIỆM

CHỌN ĐÚNG

CHỌN SAI

SAI (TỶ LỆ %)

động từ to be hoàn toàn không mang nghĩa thì trong tiếng Việt cũng phải có kết

cấu bị động được đánh dấu bằng hư từ (hay từ mất nghĩa từ vựng, đang trên

đường ngữ pháp hoá) bị, được tương ứng, vì thế, câu “Bàn lau rồi.” đã được tới

49% học sinh nếu không coi là câu chủ động thì cũng không coi là câu có ý

nghĩa bị động Và tình hình cũng tương tự trong việc coi đã trong tiếng Việt là

tương ứng với thì quá khứ của tiếng Anh, do đó, tới 24% số học sinh PTTH coi

câu “Hè năm ngoái tôi đi Hà Nội.” (không có đã) là câu không có ý nghĩa chỉ

quá khứ

Khuynh hướng Ngữ pháp chức năng đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Nó cho rằng cần phải tập trung vào việc phát triển giao tiếp hơn là chỉ dạy

Trang 8

cho người học cách nắm vững các cấu trúc Như vậy, ý nghĩa của thông điệp trong giao tiếp nhiều khi quan trọng hơn hình thức biểu đạt Và sự chính xác được đánh giá theo ngữ cảnh chứ không theo lý thuyết Mục đích cuối cùng là tạo ra được một sản phẩm hữu dụng : người nói / viết thứ tiếng mà họ thụ đắc phải nói / viết giống như hoặc theo kiểu diễn đạt, theo lối nói của người bản ngữ

Luận án tán thành và góp phần làm sáng tỏ quan điểm của khuynh hướng vừa đề cập trên

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Cấu trúc chủ – vị

“Câu là mệnh đề được diễn đạt bằng ngôn từ“[135 : 35] Ngày nay, mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và lôgic học theo quan niệm của Sapir đã trở thành một điều hết sức hiển nhiên Thế nhưng cái cấu trúc cú pháp duy nhất của câu, kể từ Aristote trở đi, ít ra là cho đến những năm 70 (của thế kỷ XX), vẫn được cho là cấu trúc chủ – vị, trong đó chủ ngữ biểu thị Sở đề và vị ngữ biểu thị Sở thuyết của mệnh đề Trong một thời gian kéo dài hơn 20 thế kỷ, các nhà ngôn ngữ học và các nhà lôgic học yên trí rằng sự phân chia này có hiệu lực trên cả hai bình diện : tư duy và ngôn ngữ Cách suy nghĩ đó là khá hợp lý và tự nhiên,

vì việc ngôn ngữ sinh ra là để diễn đạt tư duy là một chân lý mà xưa nay chưa có

ai hồ nghi Hơn thế nữa người ta cũng tin tưởng tuyệt đối rằng cái cấu trúc câu trùng với cấu trúc mệnh đề nói trên, cấu trúc chủ – vị, có tính phổ quát cho ngôn ngữ toàn nhân loại Tuy vậy, trong các ngôn ngữ chuyên dùng những phương tiện hình thái học để biểu hiện các quan hệ cú pháp như các thứ tiếng Âu châu , sự trọn vẹn về nội dung này được thể hiện bằng sự có mặt của một ngữ vị từ biểu thị Sở thuyết của mệnh đề mà trung tâm là một vị từ (Verb) ở một hình thái

Trang 9

hữu tận (finite) mang những dấu hiệu cho thấy sự phù ứng (agreement) về một vài đặc trưng về nghĩa đã được ngữ pháp hoá như “ngôi”, “số” và đôi khi là

“giống” giữa nó với một danh ngữ biểu thị chủ đề của mệnh đề mang một hình thức “cách” nhất định, thường là hình thức cách “không đánh dấu”, biểu thị tính độc lập của nó và phân biệt nó với các danh ngữ phụ thuộc vào vị từ, vốn mang những hình thức cách “có đánh dấu” [33: 20 – 21]

Đến tận cuối thế kỷ XIX, các nhà ngôn ngữ học bắt đầu nhận thấy rằng cấu trúc câu không tương ứng với cấu trúc của mệnh đề, chủ ngữ trong câu không phải bao giờ cũng trùng với chủ ngữ trong mệnh đề, và từ đấy họ thấy cần phân biệt chủ ngữ ngữ pháp với chủ ngữ lôgic Và từ đây xuất hiện hàng loạt các

ý kiến nhằm xác định lại nội dung của hai thuật ngữ chủ ngữ và vị ngữ cổ truyền, và kế đến là những sáng kiến đề ra những khái niệm mới

R Quirk và S Greenbaum cho chủ ngữ “là một danh ngữ hay một cú ở danh cách, đứng trước động từ trong câu trần thuật và đứng ngay sau tác tử trong câu hỏi, phù hợp về số và ngôi với động từ” [135 : 170]

M A K Halliday quan niệm chủ ngữ ngữ pháp là “cái mà một điều gì đó được khẳng định về nó” [115 : 31] Ông cho kết cấu chủ – vị vẫn được coi là một quan hệ ngữ pháp thuần tuý hình thức, nó kiểm định những đặc trưng ngữ pháp khác, chẳng hạn như hình thái cách của danh từ hay đại từ làm chủ ngữ, sự phù hợp về số và giống giữa chủ ngữ với động từ và nó không biểu hiện một nghĩa đặc thù nào [115 : 33 – 34]

A Martinet đã căn cứ vào dấu hiệu hình thái học những đặc trưng cú pháp, coi chủ ngữ gồm những thuộc tính sau đây: không thể lược bỏ, vị trí trước

vị ngữ, sự phù ứng với động từ trong câu, tính không phổ quát Ngoài ra, tác giả còn quan tâm tới thái bị động và coi nó là một đặc trưng tiêu biểu của cấu trúc chủ – vị [143 : 459 – 489]

Trang 10

Như vậy, nhìn chung các quan niệm về chủ ngữ như trên đều nhìn nhận chủ ngữ ở dấu hiệu thuần tuý hình thức, được coi là chủ ngữ ngữ pháp Và theo cách phân tích của Halliday [115], nó được phân biệt với chủ ngữ logic ở chỗ nó chỉ được nhận biết bằng dấu hiệu hình thái (Subject), còn chủ ngữ logic là chủ thể của hành động (Actor) Ví dụ:

tặng dì tôi cái ấm trà này

được ngài công tước tặng cái ấm trà này

Đề

Biểu đồ 4

Như vậy, ngài công tước, chủ ngữ ngữ pháp và dì tôi, chủ ngữ logic trong

câu tiếng Anh, nhất loạt phải được coi là Đề trong câu tiếng Việt

Trang 11

Thế nhưng, trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu về tiếng Việt vẫn quan niệm tiếng Việt có cấu trúc chủ – vị Thực ra, các tác giả này chưa đưa ra được một định nghĩa thật thoả đáng về chủ ngữ, bởi không thể tìm thấy những thuộc tính thuần tuý hình thức của nó như trong các ngôn ngữ châu Âu Do đó, quan niệm về chủ ngữ của các tác giả Việt ngữ học thường thiên về quan điểm logic

Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm sử dụng khái niệm của logic học để gọi tên thành phần đang xét là chủ từ Theo các tác giả “chủ từ là tiếng đứng làm chủ trong mệnh đề” [42 : 21 – 22] Ví dụ:

(6)

a Cái hoa đẹp

b Ông lão bổ củi

Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê cho rằng “Chủ từ là tiếng trỏ sự vật làm chủ việc diễn tả trong câu … tức chủ từ là tiếng đứng chủ trong câu” [20 :

495 – 596] Ví dụ:

(7)

a Chim bay

b Giáp gửi thư cho Ất

Thế nhưng, chính vì dựa vào quan điểm logic, nên các tác giả trên đôi khi tỏ ra thiếu nhất quán trong việc xử lý Ví dụ, các danh ngữ và giới ngữ đứng đầu câu sau đây được coi là chủ từ:

(8)

a Hôm qua mưa suốt ngày

c Ở trong nhà trang hoàng đẹp lắm

Trang 12

Nhưng giới ngữ trong những câu sau đây lại được coi là bổ từ (chứ không phải chủ từ):

(9)

a Trên tường treo một bức ảnh

b Trong tháng trước chết mười người

Dùng một thuật ngữ khác: chủ ngữ, nhưng cách hiểu về thành phần này của Nguyễn Kim Thản [67], Hoàng Trọng Phiến [56], Diệp Quang Ban [5] không khác là bao so với các tác giả nói trên

Qua những điều vừa trình bày có thể rút ra một nhận xét như sau: Trong tiếng Việt thật khó đưa ra được một định nghĩa hiển ngôn và thoả đáng về cái thành phần gọi là chủ ngữ với vai trò là một yếu tố ngữ pháp thuần tuý

2.2 Cấu trúc thông báo và hai phần Đề – Thuyết của câu

Chủ ngữ xưa nay thường được hiểu là biểu hiện vai chủ thể gây ra hành động được nói đến trong phần vị ngữ của câu Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, trong đó chủ thể không giữ cương vị chủ ngữ, hay nói khác đi, chủ ngữ không biểu hiện vai chủ thể Ví dụ:

(10)

Biểu đồ 5

Các nhà ngôn ngữ học nhận thấy rằng như vậy cấu trúc câu không phải bao giờ cũng tương ứng với cấu trúc của mệnh đề như lẽ ra phải như vậy Và từ đây xuất hiện hàng loạt các ý kiến nhằm xác định lại nội dung của hai thuật ngữ chủ ngữ, vị ngữ cổ truyền và đề ra những khái niệm mới Tuy thế, đa số các tác giả đều vẫn có xu hướng nhìn nhận cấu trúc câu dưới góc độ tâm lý, logic

Trang 13

Nhà tâm lý học G F Stout cho chủ ngữ là cái đề tài chung được câu xác định bằng những thuộc tính mới do vị ngữ đem lại Nó là sản phẩm của cách suy nghĩ trước đó, làm thành cái cơ sở và cái xuất phát điểm cho sự phát triển tiếp theo [139 : 213]

O Jespersen xác định chủ ngữ là “cái được nói đến” và vị ngữ là “ điều nói về chủ ngữ” [120 : 150]

Cả đến L Bloomfield, một trong những người sáng lập nền Ngôn ngữ học miêu tả, cũng không đưa ra được một định nghĩa sáng sủa hơn Theo tác giả, chủ ngữ là “cái thành phần có vẻ giống đồ vật hơn (more object-like)” [96 :173]

Tới năm 1939, V Mathesius, một nhà ngôn ngữ học của trường Prague nhận thấy rằng bên cạnh cách phân đoạn câu thuần tuý hình thức thành chủ ngữ ngữ pháp và vị ngữ, còn có một cách phân đoạn thực tại hơn nhiều : cách phân đoạn thành Đề (Theme) và Thuyết (Rheme) mà nội dung là “cấu trúc thông báo” của câu, phân biệt cái biết sẵn (given) và cái mới (new) Ý tưởng này đã nhận được khá nhiều ý kiến ủng hộ mà đại biểu là M.A.K Halliday trong [114], khi ông cho rằng Đề là một loại “chủ ngữ” gọi là “chủ ngữ tâm lý” Có thể xem Đề như một cái móc để thông báo được treo vào, Đề là cái cốt lõi của thông báo Các khái niệm chức năng “cái biết sẵn” và “cái mới” thường được gắn kết với thuật ngữ “Đề” và “Thuyết” Và chính ông trong [115] lại một lần nữa nhắc đến khái niệm Đề, coi nó là thành tố khởi đầu cho một thông báo, là cái mà câu sắp sửa nói đến

Quan điểm này có sức ảnh hưởng khá mạnh, cho mãi tới những năm gần đây còn thấy trong lý thuyết của nhiều nhà ngôn ngữ học khác như : L Chafe [97], L Keenan [121], W I Lehmann [125], Firbas [110], Lyons [130], v.v…

Cấu trúc thông báo có thể có những ảnh hưởng quan trọng đối với cấu trúc của câu, nhưng nó không phải là cấu trúc Đề – Thuyết, thứ cấu trúc nằm

Trang 14

trên bình diện lôgic ngôn từ (logico – discursive) và trong những ngôn ngữ không dùng phương tiện hình thái học như tiếng Việt, cấu trúc Đề – Thuyết được phản ánh trực tiếp trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu

Tesnière [145] còn tỏ ra dứt khoát và triệt để chống lại logic luận Ông cho rằng việc chia câu ra thành chủ ngữ và vị ngữ là hoàn toàn sai lạc vì đó là kết quả của sự lẫn lộn cấu trúc của câu với cấu trúc của mệnh đề Trong công trình của mình, Tesnière dành hẳn một chương để bác bỏ sự tồn tại của các khái niệm này bằng cách liệt kê ra một loạt nhược điểm của ngữ pháp truyền thống

Quan điểm này của L Tesnière được Ch J Fillmore ủng hộ Fillmore [109] cho rằng sự phân chia chủ ngữ và vị ngữ là một sự “nhập cảng” vào lý thuyết ngôn ngữ học từ cái lôgic hình thức một khái niệm không được thực tiễn của ngôn ngữ ủng hộ Và theo ông, chính sự phân chia đó đã làm mờ đi nhiều cái song song về kết cấu giữa “chủ ngữ” và “bổ ngữ”

Sự phê phán gay gắt quan niệm lôgic luận của L Tesnière và Ch.J Fillmore phản ánh quan niệm của họ về cấu trúc và ngữ nghĩa của câu khác hẳn với quan niệm truyền thống Theo L Tesnière, cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh động từ và các diễn tố (actants) làm bổ ngữ cho nó Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đó

Như vậy, không chấp nhận cái nội dung của tên gọi “chủ ngữ” trong quan điểm lôgic luận, L Tesnière vẫn dùng khái niệm này nhưng đã gán cho nó cái chức năng nghĩa học hoàn toàn khác và được các tác giả sau ông gọi là Đề

Cùng quan điểm và bổ sung thêm cho quan điểm của L Tesnière, Ch J Fillmore cho rằng câu gồm có hai thành tố là tình thái (modus) và mệnh đề Mệnh đề bao gồm một động từ và một hoặc nhiều phạm trù cách Trong công

trình nổi tiếng của ông năm 1968 “The case for case” “Tác dụng của cách”, ông

Trang 15

cho rằng có thể xác định một “bộ sậu” ( chữ dịch của Cao Xuân Hạo) hữu hạn và phổ quát của những mối quan hệ giữa một vị ngữ và các tham tố của nó, có những vai trò nhất định mà lý thuyết ngữ pháp có thể xác định được

Lý thuyết của Fillmore đã dần được chỉnh lý và bổ sung cho hoàn thiện hơn nhờ các tác giả đã dùng nó để miêu tả các ngôn ngữ khác nhau trong những công trình “ngữ pháp cách” Và cho đến hôm nay có thể nói đã có được một danh sách khá phong phú những mối quan hệ nghĩa học của các vai mà hầu như ngôn ngữ nào cũng có cách thể hiện

Các nhà ngôn ngữ học Prague là những người đầu tiên chú ý đến cấu trúc Đề – Thuyết của câu Nhưng lý thuyết của họ (ít nhất là vào những năm 1939 – 1960) chưa được đem ứng dụng vào việc nghiên cứu nhiều thứ tiếng không thuộc loại hình Ấn – Âu Trong khi đó, năm 1958, nhà Hán học người Mỹ Ch F Hockett đã khởi đầu cho việc xây dựng một lý thuyết về câu được ông coi là có tầm hiệu lực cho tất cả các ngôn ngữ Ông chia câu thành Đề (Topic) và Thuyết (Comment), đồng thời đưa ra một công thức cực kỳ đơn giản và đúng : “Khi nói, người ta đưa ra một cái Đề, rồi nói một điều gì đó về cái Đề ấy” [118 : 201] Và từ đấy, hai khái niệm này trở thành quen thuộc đối với giới ngôn ngữ học

Triệu Nguyên Nhậm xem xét cấu trúc Đề – Thuyết trong tiếng Trung Quốc quan thoại và theo tác giả thì “Nghĩa ngữ pháp của chủ ngữ và vị ngữ trong câu tiếng Trung Quốc quan thoại là Đề và Thuyết chứ không hẳn là người hành động và hành động” [98 : 69] Xét ví dụ sau:

(11)

chủ ngữ chính chủ ngữ thứ

Biểu đồ 6

Trang 16

Triệu Nguyên Nhậm không tán thành ý kiến cho cái xe này trong ví dụ

trên là bổ ngữ đảo hay khởi ngữ như nhiều người quan niệm dựa trên khái niệm

chủ ngữ truyền thống Tác giả coi cái xe này là chủ ngữ chính (và tôi là chủ ngữ thứ) và sau này trong Mandarin Chinese A Functional Reference Grammar (1981) “Ngữ pháp tham chiếu chức năng tiếng Trung Quốc quan thoại”, Ch N Li

và S A Thompson dịch là Đề và định nghĩa đó là “ cái được nói tới” [128]

J Firbas coi Đề là một yếu tố được suy ra từ ngữ cảnh và đóng góp cái tối cần thiết cho việc phát triển giao tiếp [110]

R Quirk và S Greenbaum cho Đề là đơn vị đứng đầu trong câu và xét trên cách nhìn tuyến tính hoá thông điệp thì Đề là bộ phận quan trọng nhất của câu [135] Halliday cũng có cách nhìn tương tự: “Đề là điểm xuất phát của thông điệp : là cái mà câu sắp sửa nói đến” [115 : 39]

Năm 1976 với sự ra đời của cuốn Subject and Topic: A Typology of

Language “Chủ ngữ và Chủ đề: Một cách phân loại hình mới trong ngôn ngữ học”, Li và Thompson đã thực sự đặt nền móng cho một môn khoa học loại hình

học dựa trên mối quan hệ ngữ pháp chủ – vị và Đề – Thuyết Tinh thần của cuốn sách này về cơ bản chỉ ra rằng có những ngôn ngữ như tiếng Hán, Lahu, Lisu, Malagasy.v.v… khó lòng có thể phân tích theo mô hình chủ – vị : Câu của các ngôn ngữ này cần được phân tích theo mô hình khác : mô hình Đề (Theme) – Thuyết (Rheme) mà khá nhiều tác giả trước đó cũng như hiện thời đồng nhất với cấu trúc thông báo Các tác giả này, mà trước hết là Li và Thompson đã quả quyết rằng : “cấu trúc Đề – Thuyết có trong tất cả các ngôn ngữ trong khi không phải ngôn ngữ nào cũng có cấu trúc chủ – vị” [126 : 459]

2.3 Cấu trúc Đề – Thuyết trong tiếng Việt

Trang 17

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, đã có những tác giả tuy chưa vận dụng cấu trúc Đề – Thuyết nhưng đã thấy rõ rằng trong tiếng Việt, dù có gò ép bao nhiêu cũng không thể tìm ra một cái gì giống với chủ ngữ và vị ngữ Và từ đây, các nhà Việt ngữ học tìm hướng xử lý cái thành phần đứng đầu câu mà trong khá nhiều trường hợp không thể xem nó là chủ ngữ

Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê cho rằng trong tiếng Việt, ngoài chủ từ (chủ ngữ) và thuật từ (vị ngữ) còn có một thành phần gọi là Chủ đề Và

do đó các tác giả thừa nhận kiểu câu gồm hai Chủ đề: chính và thứ [20] Ví dụ:

(12)

Chủ đề chính Chủ đề thứ

Biểu đồ 7

Hoàng Trọng Phiến làm rõ khái niệm từ-chủ đề: “Từ-chủ đề nêu lên nội dung chính của thông báo được nói bằng nòng cốt của câu Thường thường nó ở đầu câu, và không liên hệ trực tiếp với một từ nào trong câu cả Tuy nhiên cái ý mà nó nêu ở đầu câu trùng với thành phần mang ý ấy trong nòng cốt” [56 : 151 – 152] Ví dụ:

(13) Bộ đội, họ gan lắm

Trong ví dụ trên, bộ đội được coi là từ – chủ đề

Như vậy, các tác giả trên tuy chưa đưa ra được một định nghĩa thoả đáng về Đề nhưng đã thừa nhận cái thành phần biểu thị Sở đề của mệnh đề, cái làm đề tài thông báo cho cả câu và gọi bằng những cái tên: Chủ đề, từ – chủ đề

Trang 18

Nguyễn Kim Thản có lẽ là người đầu tiên thấy được và xử lý các danh ngữ ở đầu câu trong ví dụ sau là chủ ngữ [ 68 : 30 – 33]:

(14)

a Sách để trên bàn

b Ghế này ngồi được ba người

c Làng tôi chết mất hai con bò

Nhưng cũng chính ông cảm thấy có một cái gì không thật ổn trong cách

phân tích câu tiếng Việt theo mô hình chủ – vị Trong “Cơ sở ngữ pháp tiếng

Việt” xuất bản năm 1981, Nguyễn Kim Thản đồng nhất cấu trúc Đề – Thuyết

với sự phân chia “cái cũ”, “cái mới” Ông khẳng định “chủ ngữ là phần nêu lên cái gì đó, vị ngữ là phần nói về chủ ngữ” và “đáng ra nên gọi chủ ngữ là phần nêu, vị

ngữ là phần báo” [68 : 29] Xem xét thành phần đứng đầu câu như ở ví dụ dưới đây:

(15)

a Thằng ấy, mình phải tống đi mới được

b Giàu, tôi cũng giàu rồi

c Tôi thì tôi xin chịu

Tác giả coi chúng là thành phần phụ của câu, gọi là khởi ngữ Ông chỉ rõ

“Khởi ngữ là thành phần thứ yếu của câu, thường xuyên đứng ở vị trí 1 trong câu song phần … Khởi ngữ biểu thị chủ đề logic của câu nói” [68 : 208]

Lưu Vân Lăng trong “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm ngữ

đoạn tầng bậc có hạt nhân”, trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân, đã

phát biểu : “Khi hai ngữ kết hợp thành một thông báo, trong đó có bộ phận chỉ cái được đề ra và bộ phận chỉ cái thuyết minh rõ thì kết hợp này gọi là cú”, “ngữ

Trang 19

chỉ cái được đề ra là Đề ngữ, ngữ chỉ cái thuyết minh rõ là Thuyết ngữ Đây là hai bộ phận quan trọng nhất” [44 : 49 – 62] Khái niệm Đề ngữ, Thuyết ngữ của Lưu Vân Lăng không thuộc phân đoạn thực tại mà thuộc phân tích cú pháp Theo ông, Đề là phần được nêu lên để nhận định trong câu, Thuyết là phần mang nội dung thuyết minh rõ về Đề Tuy nhiên, Đề theo quan niệm của Lưu Vân Lăng gồm Chủ đề và Trạng đề, Bổ đề Xét ví dụ sau:

Thực ra, cây này ở (16a) và cái xe này ở (16b), xét cả về cấu tạo cũng như

về chức năng cú pháp, chúng hoàn toàn đồng nhất, đều chỉ cái đối tượng được

nói đến trong phần sau, đều là chủ thể của sự nhận định: lá vàng đối với cây

này; tôi không lái được với cái xe này Thế nhưng, như đã chỉ trong biểu đồ trên,

Lưu Vân Lăng lại coi cái xe này là Bổ đề, trong khi thừa nhận cây này là Chủ

đề Như vậy, Chủ đề, theo cách phân tích của tác giả, chỉ giới hạn trong phạm vi các vai nghĩa chỉ chủ thể của hành động, quá trình hay trạng thái Và như vậy, Chủ đề thực chất chỉ là một cách gọi tên khác của khái niệm mà xưa nay vẫn được gọi là chủ ngữ mà thôi

Trang 20

Vào những năm 80 đã có những tác giả như Lý Toàn Thắng giới thiệu lý thuyết “Phân đoạn thực tại” của trường Prague một cách minh xác trong nhiều bài báo Tác giả khẳng định “Sự phân đoạn thực tại của câu chia thành hai phần là Chủ đề (theme, topic) và Thuật đề (Rheme, comment), trong đó Thuật đề là thành phần luôn luôn phải có mặt, còn Chủ đề có thể có, có thể không”[71 : 47]

Theo cách phân tích của Hoàng Trọng Phiến cùng các tác giả trong Ngữ

pháp tiếng Việt [56 : 197] thành phần khởi ý là thành phần nằm ngoài nòng cốt

câu Tác giả định nghĩa: “Thành phần khởi ý giống như Chủ đề Nó nêu lên nội dung chính của thông báo được nói bằng nòng cốt của câu Thường thường nó ở đầu câu, và không liên hệ trực tiếp với một từ nào trong câu cả Tuy nhiên cái ý mà nó nêu ở đầu câu trùng với thành phần mang ý ấy trong nòng cốt.” [56 :150 – 152] Ví dụ:

(17) Quê ta, nơi nào cũng đẹp

Trong “Ngữ pháp tiếng Việt” của UB KHXH VN (1983), các tác giả lại tỏ

ra thiếu nhất quán khi vận dụng khái niệm Đề – Thuyết; khi thì coi Đề – Thuyết tương ứng với “cái cũ”, “cái mới”, khi thì coi Đề – Thuyết như một cách gọi khác của khái niệm chủ – vị trong ngữ pháp truyền thống [93 : 169]

Trần Ngọc Thêm thì phân tích câu theo sự phân đoạn thực tại thành phần nêu và phần báo, theo sự phân đoạn cấu trúc thành phần Đề và phần Thuyết, trong đó có trường hợp cấu trúc nòng cốt là chủ ngữ – vị ngữ [76 : 56 – 60]

Diệp Quang Ban chủ trương câu tiếng Việt có cấu trúc Đề ngữ – Thuyết ngữ và Đề ngữ được coi là “loại thành phần phụ của câu đứng trước nòng cốt câu (thường đứng ở đầu câu), ít khi đứng sau chủ ngữ và trước vị ngữ, được dùng để nêu lên một vật, một đối tượng, một nội dung cần bàn bạc, với tư cách Chủ

đề của câu chứa nó” [6 :182] Ví dụ, cái khăn vuông trong câu sau đây là Đề

ngữ

Trang 21

(18) Cái khăn vuông thì chắc đã phải soi gương mà sửa đi sửa lại … (NC)

Còn “nếu trong câu chứa hai Đề ngữ có vai trò khác nhau, thì có thể phân biệt Đề ngữ chính với Đề ngữ thứ” [6 : 194] Ví dụ:

(19)

Đề ngữ chính Đề ngữ thứ Đề ngữ thứ

Như vậy, các tác giả trên nhìn chung đã phát hiện ra hai thành phần cơ bản của câu tiếng Việt, phân đoạn câu xuất phát từ sự phân tích nội dung thông báo được chứa đựng trong câu đó, ở một ngữ cảnh cụ thể nào đó Và mặc dù họ đã rất có ý thức khắc phục những hạn chế của cấu trúc cú pháp chủ – vị, nhưng nếu nói như Lê Xuân Thại “sự thay đổi này thực chất chỉ thuần tuý là sự thay đổi thuật ngữ chứ không phải là sự thay đổi quan niệm” [63 : 16] cũng là chưa công bằng Thực ra chỉ là “họ chưa vận dụng một cách có hệ thống những luận điểm hiện thời về cấu trúc Đề – Thuyết của câu và vẫn bị chi phối vì những định kiến gắn liền với cấu trúc cú pháp của những ngôn ngữ chủ vị”, nói như Cao Xuân Hạo [33 : 145] có lẽ thoả đáng hơn Cái đáng lưu ý là ở chỗ:

Trang 22

– Có tác giả đồng nhất cấu trúc chủ – vị với cấu trúc Đề – Thuyết trong đó chủ ngữ là Đề, vị ngữ là Thuyết như Trần Ngọc Thêm, Hồ Lê, Diệp Quang

Ban và các tác giả Ngữ pháp tiếng Việt (1983)

– Có tác giả đồng nhất sự phân chia Đề – Thuyết với sự phân chia cũ –

mới như Lý Toàn Thắng, Diệp Quang Ban, và các tác giả Ngữ pháp tiếng Việt

(1983)

– Có tác giả cho Chủ đề là bổ ngữ được đưa lên phía trước (Phan Thiều) Còn nếu có khác đi một chút thì nói chung quan niệm của các tác giả cũng khá gần nhau: Chủ đề chính của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, khởi ngữ của Nguyễn Kim Thản, Đề ngữ của Diệp Quang Ban, thành phần khởi ý của

Hoàng Trọng Phiến và các tác giả trong Ngữ pháp tiếng Việt (2000)

L.C Thompson, ngay từ năm 1965, trong cuốn A Vietnamese Grammar

“Ngữ pháp tiếng Việt” đã có những nhận định đúng đắn về những điều cơ bản

nhất của cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt Theo ông, “cấu trúc câu đơn

tiếng Việt được miêu tả như một ngữ đoạn có tiêu điểm, mà trung tâm là một vị ngữ, có kèm theo một bổ ngữ tiêu điểm (focal complement) đặt trước vị ngữ có tác dụng nêu rõ những điểm quy chiếu về không gian, thời gian, phương thức, người, vật, khái niệm cho vị ngữ” [141 : 239] Ví dụ:

(20)

a Nhà cháy rồi

b Cơm đưa lên

c Cái này tôi ăn được

Tác giả cho rằng có thể dùng những câu chủ – vị của tiếng Anh để dịch những câu này Tuy nhiên ông cũng thấy “mối quan hệ giữa bổ ngữ tiêu điểm với vị ngữ của các câu trên trong tiếng Việt khác về cơ bản với mối quan hệ

Trang 23

giữa chủ ngữ và vị ngữ trong câu tiếng Anh” [141 : 255] Theo Thompson, trong tiếng Việt không thể tìm thấy một cái gì gọi là “chủ ngữ” Và cũng chính ông là người đầu tiên xác nhận vai trò và chức năng tối quan trọng của chữ THÌ với tư cách tác tử đánh dấu biên giới Đề – Thuyết mà chính nhờ đó, ông đã xác định được các thành phần của cái gọi là Đề ngữ (“bổ ngữ tiêu điểm”)

Bên cạnh L.C Thompson còn có Helge J J Dyvik (nhà ngôn ngữ học người Na-uy) (1984) cũng thảo luận về cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt Ông cho rằng “câu tiếng Việt không có chủ ngữ, vì trong mọi trường hợp đều thấy câu chỉ

có Chủ đề” [104 : 47] Theo ông, nhận định trên có lẽ là cái hệ quả suy ra từ

“câu tiếng Việt chỉ có Chủ đề chứ không có chủ ngữ là đã hoàn toàn loại trừ cái khả năng có thái bị động” [104 : 48] Đây là một vấn đề mà luận án dành nhiều sự quan tâm Tác giả nói tiếp, “thật khó lòng có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về thái bị động mà lại không đề cập ( một cách trực tiếp hay gián tiếp) đến việc phân vai nghĩa cho chủ ngữ mà việc này lại không thể dung hoà với khái niệm Chủ đề” [104 : 48] Như vậy, sự hiện diện hay không hiện diện của thái bị động

trở thành một tiêu chí rất quan trọng để nhận diện ngôn ngữ có chủ ngữ hay Chủ đề Tiếng Việt, như luận án sẽ chứng minh ở chương 4, là loại ngôn ngữ không có “thái bị động” và đó cũng là một tiêu chí đánh dấu cấu trúc Đề – Thuyết chứ không phải chủ – vị của câu tiếng Việt Dyvik cũng là người thừa nhận THÌ với

tư cách yếu tố phân giới Đề – Thuyết: “hoàn toàn có thể chêm THÌ ngay sau Chủ đề mà không làm biến đổi cái nội dung hiện thực của câu” [104 : 41 – 63]

Cùng lúc ấy còn có tác giả khác như Cao Xuân Hạo đã xây dựng một hệ

thống cú pháp dựa trên cơ sở cấu trúc Đề – Thuyết và Tiếng Việt Sơ thảo ngữ

pháp chức năng (1991) của ông đánh dấu một giai đoạn mới trong quá trình phát

Trang 24

triển của việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt Đứng ở góc độ mà luận án đang quan tâm, có thể điểm qua một vài đóng góp của công trình này như sau:

1) Khẳng định tiếng Việt và các thứ tiếng đơn lập khác không có cái gì gọi là chủ ngữ mà chỉ có Đề bằng một hệ thống lý luận xác đáng được xây dựng trên những cứ liệu thực tiễn nói, viết của tiếng Việt, của người Việt

2) Sự khác biệt giữa cấu trúc Đề – Thuyết với cấu trúc chủ – vị hoàn toàn không phải là sự thay đổi về thuật ngữ, tên gọi, một thứ “bình mới rượu cũ” Đề – Thuyết theo lý thuyết Ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo được khẳng định là một cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt (cũng như chủ – vị là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Anh), được đánh dấu bằng những phương tiện ngữ pháp như: a) trật tự từ ngữ : vị trí đầu câu;

b) tác tử thì, là (hoặc mà) được chêm vào giữa Đề và Thuyết

Ngay cả điểm này cũng cho thấy sự khác biệt rất rõ với cấu trúc thông báo vốn sử dụng phương tiện đánh dấu chủ yếu là cách phân bố trọng âm cường điệu của câu

c) trọng âm

Việc xác nhận cấu trúc Đề – Thuyết là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt thực sự giúp ta phân tích được gần như tuyệt đại đa số câu tiếng Việt, kể cả những câu có cấu trúc cô đúc như tục ngữ, hay thơ ca cổ (1)

Sau Cao Xuân Hạo là một số tác giả đi theo hướng phân tích câu theo quan điểm của ông :

• Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm, Cao

Xuân Hạo (chủ biên) với Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển

Trang 25

1 Câu trong tiếng Việt cấu trúc – nghĩa – công dụng (1992)

Đây là công trình nghiên cứu cơ bản dựa trên Tiếng Việt Sơ

thảo ngữ pháp chức năng (1991) nhưng dưới dạng ngắn gọn, dễ

hiểu hơn, có tính sư phạm hơn nhằm phục vụ công chúng độc giả rộng rãi đúng như lời đề dẫn của các tác giả

Hoàng Xuân Tâm, Hoàng Diệu Minh, trong Nên và có thể giảng

dạy ngữ pháp chức năng trong nhà trường (1992)

• Bùi Tất Tươm (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn

Bằng, Cao Xuân Hạo (cố vấn), Ứng dụng Ngữ pháp chức năng

vào việc xây dựng một hệ thống ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường (1994)

Hai công trình sau bàn về việc ứng dụng thành quả nghiên cứu Ngữ pháp chức năng trong nhà trường

Các kết quả nghiên cứu về đề tài này trước luận án:

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thượng Hùng Đối chiếu phần Đề câu tiếng

Anh với phần Đề câu tiếng Việt (1994) đặt vấn đề góp phần làm sáng tỏ thêm

những nét phổ quát trong ngôn ngữ cũng như những đặc trưng về cấu trúc, cấu tạo

và vị trí của Đề trong câu tiếng Anh và câu tiếng Việt Luận án khẳng định rằng các ngôn ngữ dù có khác nhau (về hình thái, cấu trúc …) đến mức nào thì giữa chúng vẫn có những nét chung trong mô hình cú pháp

Đây là một công trình nghiên cứu mà đề tài rất gần với vấn đề mà chúng tôi quan tâm Tuy nhiên, bên cạnh những điều chúng tôi được thừa hưởng, có những vấn đề rất khác với quan niệm của chúng tôi, cần thảo luận thêm như sau:

Trang 26

Trước hết, khi xem xét Đề trong câu tiếng Anh, tác giả luận án trên đã đồng nhất Đề (Chủ đề) với chủ ngữ một cách giản đơn Và vì thế, luận án chỉ chú ý đến loại Đề này mà bỏ qua việc khảo sát cái đối tượng mà luận án của chúng tôi dành nhiều sự quan tâm: loại Đề không trùng với chủ ngữ, mặc dầu cũng nhằm cùng một mục đích khẳng định tính phổ quát của Đề Còn khi Đề trong câu tiếng Anh trùng với chủ ngữ, chúng tôi đối chiếu với Đề của câu tiếng Việt để chứng minh một điều ngược lại: nếu trong tiếng Anh, cấu trúc cơ bản của câu là cấu trúc chủ – vị thì trong tiếng Việt, cấu trúc cơ bản của câu là cấu trúc Đề – Thuyết, là cái mà luận án của Nguyễn Thượng Hùng không hề quan tâm

Vả lại, Đề trong quan niệm của tác giả, theo chúng tôi, chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của khái niệm chủ ngữ truyền thống Tác giả chia Đề thành Chủ đề, Trạng đề và Bổ đề, trong đó “Chủ đề được giới hạn trong các vai ‘kẻ hành động’, ‘kẻ thể nghiệm’, ‘kẻ hay vật mang trạng thái hay tính chất’, nghĩa là chủ thể của hành động, của quá trình hay trạng thái, chứ không phải là đối thể” [41 : 46] Nhận định như trên về Đề chẳng khác là bao nếu không nói là trùng với quan niệm về chủ ngữ của ngữ pháp truyền thống Và tương tự, Trạng đề và Bổ đề theo tác giả cũng chẳng có gì khác lắm so với khái niệm trạng ngữ và bổ ngữ truyền thống

Ngoài ra, một luận điểm rất cơ bản nếu không nói là cơ bản nhất của tác giả, chúng tôi không hoàn toàn tán thành và dĩ nhiên, vì thế cách triển khai và cách xử lý dữ liệu trong hai luận án cũng rất khác nhau Tác giả cho rằng “Các ngôn ngữ dù có khác nhau (về hình thái, cấu trúc …) đến mức nào thì giữa chúng vẫn có những nét chung trong mô hình cú pháp” Chúng tôi lại cho rằng tư duy của nhân loại thì có nhiều nét tương đồng (tất nhiên, và chính vì vậy mới có thể phiên dịch từ ngôn ngữ nọ sang ngôn ngữ kia), nhưng sự biểu đạt, bên cạnh nét

Trang 27

chung, mỗi ngôn ngữ hay mỗi loại hình ngôn ngữ, chọn cách biểu đạt riêng làm thành cái đặc trưng tiêu biểu cho mỗi loại hình ngôn ngữ Chẳng hạn, thái bị động, hay “mô hình câu bị động” như cách gọi của tác giả, có tính phổ biến trong tiếng Anh mà không sao tìm thấy trong tiếng Việt Cách biểu đạt cùng một loại ý nghĩa cũng có thể rất khác nhau đối với mỗi ngôn ngữ, chẳng hạn, ý nghĩa quá khứ, trong tiếng Anh được biểu đạt bằng phương tiện hình thái học (thì quá khứ), còn trong tiếng Việt, nó lại được thể hiện bằng phương tiện từ vựng (chương 3)

Luận án thứ hai gần đề tài với luận án của chúng tôi là Chủ ngữ trong

câu tiếng Việt và trong câu tiếng Pháp (2001) của Nguyễn Văn Bằng

Bằng việc đối chiếu chủ ngữ trong tiếng Pháp với cái thành phần câu mà xưa nay vẫn được xem là chủ ngữ trong tiếng Việt, Luận án này nhằm tới kết luận tiếng Việt không có chủ ngữ, mà chỉ có Đề

Thừa hưởng thành tựu và phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học nói chung, của lý luận Ngữ pháp chức năng nói riêng, tiếp thu thành quả và kế tục những công trình đi trước, luận án xin góp thêm một gam màu minh họa cho bức tranh nhiều hứa hẹn của khuynh hướng nghiên cứu này

3 NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Nhiệm vụ của luận án này là đối chiếu cấu trúc Đề – Thuyết trong câu tiếng Việt với cấu trúc ấy trong câu tiếng Anh Tuy nhiên, như sẽ được chứng minh trong luận án, cấu trúc Đề – Thuyết là cấu trúc cú pháp cơ bản trong câu tiếng Việt, còn trong câu tiếng Anh, cấu trúc cú pháp cơ bản là cấu trúc chủ – vị Cấu trúc Đề – Thuyết hiện diện trong ngôn ngữ này chỉ là cấu trúc có quan hệ logic – ngữ nghĩa Khi đối chiếu, luận án đứng trên bình diện này để xem xét sự tương đồng và khác biệt về cách thức và phương tiện biểu đạt của cấu trúc ấy giữa hai

Trang 28

ngôn ngữ đang xét Thế nhưng, ngay cả ở bình diện này, sự khác biệt, cái làm nên nhu cầu đối chiếu, được thể hiện chủ yếu ở sự khác biệt của phần Đề Với phần Thuyết, sự khác biệt dường như không đáng kể Xem biểu đồ sau:

đã xem bộ phim ấy rồi

tôi đọc rồi

TIẾNG

ANH

I The book

have seen that film

người ta thường mời uống cô nhắc

đuôi mới lọt

TIẾNG

ANH

In Switzerland,

If the beginning is good,

they give you a cognac

the end must be perfect

Biểu đồ 12

Nhìn vào hai biểu đồ trên ta thấy phần Thuyết của câu tiếng Anh và tiếng Việt gần như không có gì khác biệt nhau, kể cả khi nó là một tiểu cú Như vậy, nếu có chăng, sựï khác nhau chỉ thấy xảy ra giữa Thuyết với vị ngữ trong câu tiếng Anh Chẳng hạn: vị ngữ bao giờ cũng là một ngữ vị từ trong khi Thuyết còn có thể là một tiểu cú (xem ví dụ 21.a và 21.b), điều không bao giờ xảy ra với vị ngữ Thế nhưng, đây lại không phải là phạm vi mà đề tài luận án quan tâm

Trang 29

Vì những lý do vừa nêu trên, luận án bỏ qua việc thảo luận về phần Thuyết và xem việc đối chiếu cấu trúc Đề – Thuyết trong câu tiếng Việt và câu tiếng Anh dựa trên việc khảo sát và kết quả đối chiếu phần Đề

3.2 Xác định nhiệm vụ chính là đối chiếu phần Đề, luận án đã dành toàn bộ chương 2 để đối chiếu sự thể hiện của Đề trong câu tiếng Việt và Đề trong câu tiếng Anh (khi Đề không trùng với chủ ngữ ngữ pháp) Luận án cũng dành một chương riêng (chương 3) để xem xét sự tương đồng và dị biệt về các thuộc tính ngữ pháp của Đề trong câu tiếng Việt với Đề trong câu tiếng Anh khi Đề trùng với chủ ngữ và hành chức với tư cách là một chủ ngữ ngữ pháp

Ngoài ra, việc tiến hành đối chiếu như trên vừa để thấy được đặc trưng loại hình học của tiếng Việt (ngôn ngữ thiên Chủ đề) và tiếng Anh (ngôn ngữ thiên chủ ngữ), vừa đồng thời thuyết minh cho tính phổ quát của cấu trúc Đề – Thuyết Cấu trúc này không chỉ có mặt trong ngôn ngữ thiên Chủ đề như tiếng Việt mà còn có tầm hiệu lực trong các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, chẳng hạn như tiếng Anh Để làm rõ tính phổ quát của cấu trúc Đề – Thuyết, trong quá trình miêu tả, so sánh, luận án cũng đôi lúc đề cập đến các ngôn ngữ khác khi cần thiết như tiếng Nhật, tiếng Lisu, tiếng Indonesia, tiếng Malagasy, tiếng Trung Quốc v.v… (với tư cách là những tư liệu)

Luận án nhiều lần nhắc tới những công trình hoặc những quan điểm nghiên cứu tiếng Việt về những vấn đề mà luận án đang quan tâm Chỉ có điều,

vì mục đích thực tiễn, người viết không chú trọng trình bày những thành tựu mà luận án đã được thừa hưởng mà chủ yếu chỉ nêu lên và cố gắng phân tích một vài điểm cần lưu ý, cần thảo luận thêm để biện minh cho những ý kiến có liên quan của mình đang hoặc sắp được trình bày

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 30

Luận án vừa kế thừa những thành quả nghiên cứu của Ngữ pháp truyền

thống vừa thừa hưởng lý thuyết của Ngữ pháp chức năng trong việc phân biệt ba

bình diện : cú pháp, ngữ nghĩa và dụng pháp, bởi vì “ một trong những yêu cầu

có tính chất kỹ thuật của Ngữ pháp chức năng là phân giới một cách minh xác

giữa mặt biểu thị và mặt được biểu thị, cũng như giữa các bình diện của từng

mặt, vì có như thế mới tránh được những sự lẫn lộn tiêu chuẩn trong khi xác định

cương vị của các đơn vị và phạm trù trên từng bình diện, và do đó, có thể nhận

định được một cách chính xác về những mối quan hệ chức năng giữa các bình

diện” [33 : 6]

Phương pháp đối chiếu: đề tài này đối chiếu sự thể hiện của Đề trong hai

ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Anh để thấy được sự tương đồng và sự dị biệt về

cách diễn đạt cùng một ý nghĩa trong những tình huống cụ thể Sự đối chiếu

được tiến hành trên quan điểm đồng đại

Phương pháp miêu tả: Trên cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học, luận án tiến

hành miêu tả kết cấu Đề – Thuyết (mà chủ yếu là phần Đề) trong tiếng Việt và

tiếng Anh, chủ ngữ trong tiếng Anh, lấy căn cứ cho sự đối chiếu, so sánh Khi

miêu tả phần Đề trong tiếng Anh, người viết đôi khi phải nghe băng hoặc nhờ

đến sự giúp đỡ của những người bản ngữ nói tiếng Anh (như khi cần biết những

sắc thái về ngữ điệu chẳng hạn) Sự miêu tả và đối chiếu cố gắng bảo đảm tính

khách quan và tính nhất quán

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

5.1 Ý nghĩa khoa học

– Về phương diện lý luận, luận án thảo luận và đưa ra một cách lý giải một số

vấn đề còn chưa có được sự thống nhất trong việc nghiên cứu tiếng Việt như:

Trang 31

+ Tiếng Việt là ngôn ngữ có cấu trúc Đề – Thuyết, còn tiếng Anh là ngôn ngữ có cấu trúc chủ – vị Tuy nhiên cấu trúc Đề – Thuyết mang tính phổ quát nên nó có mặt trong cả tiếng Anh

+ Tiếng Việt là ngôn ngữ “vô thì” (trong khi tiếng Anh có “thì”) + Tiếng Việt là ngôn ngữ không có “thái bị động” (trong khi tiếng Anh là ngôn ngữ có “thái bị động”)

+ Khẳng định Chủ đề chứ không phải bổ ngữ được đưa lên đầu câu

+ Phân biệt Khung đề với trạng ngữ trong tiếng Việt và khẳng định Khung đề chứ không phải trạng ngữ được đưa lên đầu câu

– Từ những vấn đề nêu trên, luận án minh hoạ để góp phần xác định tính loại hình của hai loại ngôn ngữ đã được Ch.N Li và S.A Thompson phát hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX : thiên Chủ đề (đối với tiếng Việt) và thiên chủ ngữ (đối với tiếng Anh)

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

– Kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp ích cho việc biên soạn sách giáo khoa tiếng Việt cho nhà trường phổ thông theo hướng chú ý thích đáng và tôn trọng đặc trưng loại hình của tiếng Việt

– Đồng thời, kết quả đối chiếu để tìm ra sự tương đồng và sự khác biệt về cách biểu đạt cùng một ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ khác loại hình: tiếng Anh và tiếng Việt có thể giúp ích cho việc xây dựng những nguyên tắc dạy và học tiếng Anh sao cho có hiệu quả, xây dựng lý luận phiên dịch Anh – Việt, Việt – Anh

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm 200 trang chính văn, ngoài phần Mở đầu (32 trang) và Kết luận (7 trang), phần Chú thích (10 trang), luận án gồm 4 chương như sau:

Trang 32

Chương 1 (28 trang): Trình bày về các yếu tố làm nên cái sự tình được

phản ánh trong câu Từ đó luận án tiến hành đối chiếu sự biểu hiện các vai nghĩa (các chức năng nghĩa học) của Đề trong câu tiếng Việt và chủ ngữ trong câu tiếng Anh và thấy rằng trong khi chủ ngữ chỉ được giới hạn trong một số vai nghĩa liên quan đến chủ thể hành động, quá trình hay trạng thái thì Đề, ngoài các chức năng nghĩa học nói trên, còn có thể biểu hiện các chức năng nghĩa học khác mà chủ ngữ không thể đảm nhiệm Vì thế, trên bình diện nghĩa học, không thể đồng nhất hai khái niệm này (Chủ đề và chủ ngữ) với nhau

Chương 2ø (42 trang): Tiến hành khảo sát sự thể hiện của Đề trong câu

tiếng Việt và trong câu tiếng Anh Mục đích của việc làm trên là thuyết minh cho sự hiện diện của Đề trong hai ngôn ngữ rất khác nhau về mặt loại hình Sự thể hiện của Đề trong tiếng Anh (khi không trùng với chủ ngữ) thì giống và khác Đề trong câu tiếng Việt Luận án chỉ ra các phương cách để Đề hiện diện trong câu tiếng Anh: khi thì bằng trật tự từ ngữ (di chuyển yếu tố cần làm Đề lên vị trí đầu câu), khi thì bằng trọng âm, ngữ điệu (để xác nhận tư cách Đề của thành tố vốn được coi là trạng ngữ đứng cuối câu), và cũng có khi bằng một hình thái ngữ pháp (Khung đề được đánh dấu bằng “thì quá khứ” chẳng hạn) v.v…Kết luận mà chương 2 rút ra được làlàm sáng tỏ: “mọi ngôn ngữ đều có cấu trúc Đề – Thuyết trong khi không phải ngôn ngữ nào cũng có cấu trúc chủ – vị” [126: 458]

Còn loại Đề trùng với chủ ngữõ trong tiếng Anh, sẽ được tách riêng khi đối chiếu với Đề trong câu tiếng Việt (chương 3)

Chương 3 (41 trang): Tiến hành đối chiếu Đề trong câu tiếng Việt và Đề

(khi trùng với chủ ngữ) trong câu tiếng Anh, luận án nhằm tìm ra sự giống và khác nhau về các thuộc tính cũng như các đặc trưng ngữ pháp giữa chúng Qua việc đối chiếu ấy, luận án thuyết minh cho cách phân loại hình của Li và Thompson: tiếng Việt là ngôn ngữ “thiên Chủ đề” (Topic-prominent ) tức Đề

Trang 33

được nhấn mạnh, còn tiếng Anh là một ngôn ngữ “thiên chủ ngữ” prominent) tức chủ ngữ được nhấn mạnh

(Subject-Chương 4 (39 trang): Tiến hành khảo sát kiểu câu xưa nay thường được

coi là câu / kết cấu bị động trong tiếng Việt, tương đương với câu / kết cấu bị động trong tiếng Âu châu Qua việc tiếp cận và xử lý hàng loạt dữ liệu từ thực tế nói / viết của tiếng Việt, rồi đối chiếu với tiếng Anh và một vài ngôn ngữ có liên quan khác, người viết nhận thấy rằng trong tiếng Anh, ý nghĩa bị động bao giờ cũng được ngữ pháp hoá(2) thành một phạm trù, mang tính bắt buộc Còn trong tiếng Việt, ý nghĩa bị động được nhận diện nhờ ngôn cảnh chứ không phải bằng một phương tiện ngữ pháp được thể chế hoá, buộc phải diễn đạt trong mọi trường hợp Đồng nghĩa với việc xem sự hiện diện của thái bị động như một tiêu chí đánh dấu chủ ngữ là việc thừa nhận trong câu tiếng Việt không có cái gì gọi là chủ ngữ, mà chỉ có Đề

Trang 34

CHƯƠNG 1

LÝ THUYẾT ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂU

1 CÂU VÀ NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU

Trong ngôn ngữ học truyền thống, khi nói đến nghĩa người ta thường chỉ nghĩ đến nghĩa của từ (nếu có “để ý” đến nghĩa của câu thì có lẽ đó chẳng qua chỉ là nghĩa của các từ kết hợp lại mà thành) Thực ra “một văn bản / ngôn bản truyền đạt một nội dung được xây dựng bằng một loạt những sự tình tương đối giản đơn được diễn đạt bằng câu, chứ không phải truyền đạt những khái niệm” [33 : 231] Để nhận thức thế giới, tư duy của con người thực hiện liên tục những hành động phán đoán bằng mệnh đề và “Câu là mệnh đề được diễn đạt bằng ngôn từ” [136 : 35]

S C Dik [103] cho rằng sự tình (state of affairs) được phản ánh trong câu được chỉ ra nhờ một cấu trúc chủ vị hạt nhân (nuclear predication) Cấu trúc này hình thành trên cơ sở một cái khung ngữ vị từ (3) (predicate frame)

Khung vị ngữ, theo ông, chỉ ra các loại thông tin sau đây:

(i) hình thức của vị từ

(ii) phạm trù cú pháp của vị từ (trong phạm vi yêu cầu đối với việc tạo ra các

loại quy tắc ngữ pháp khác nhau) Phạm trù cú pháp này được chỉ ra nhờ một

cái nhãn (V(erbal) ‘Động từ’;(A (djectival) ‘Tính từ’ ; (N (ominal) ‘Danh từ’

trên vị từ

(iii) số lượng các tham tố mà vị từ yêu cầu Các tham tố này được ký hiệu

bằng các biến tố ghi theo thứ tự X1, X2 … , đánh dấu các loại tham tố

(iv) sự tuyển lựa hạn chế có liên quan đến các ngữ đoạn đảm đương các loại

tham tố Những sự tuyển lựa hạn chế được chỉ ra nhờ khung ngữ vị từ thêm

Trang 35

vào các biến tố chỉ các tham tố Những sự tuyển lựa hạn chế này xác định các điều kiện cần về các ngữ đoạn làm đầy các tham tố (dt [11])

Như vậy có thể coi câu được dùng để phản ánh một sự tình (là những thông báo về một sự thể) được hình dung như một “màn kịch” nhỏ (cách gọi của Tesnière) trong đó trung tâm là: 1) nội dung của sự tình do ngữ vị từ biểu hiện

2) các tham tố (arguments) gồm các nhân / vật tham gia vào sự tình ấy

1.1 Ngữ vị từ thể hiện nội dung sự tình

Theo S.C Dik [103], một cấu trúc chủ vị hạt nhân biểu thị một sự tình được xác định bởi cái thuộc tính hay mối quan hệ do ngữ vị từ biểu thị, liên kết các thực thể do các danh ngữ biểu thị Có thể dùng hai loại thông số cơ bản: tính động (± Dynamic) và tính chủ ý (± Control) để phân loại các sự tình được biểu diễn bằng biểu đồ sau:

Động Chủ ý

+ Động (Biến cố)

– Động (Tình trạng) + Chủ ý Hành động Tư thế

– Chủ ý Quá trình Trạng thái

Biểu đồ 13

Theo hai thông số [± Động ] và [± Chủ ý ], ta có bốn loại sự tình cơ bản được gọi tên bằng các thuật ngữ sau:

i Sự tình Trạng thái = [– Động ] [– Chủ ý ]

ii Sự tình Quá trình = [+ Động ] [– Chủ ý ] iii Sự tình Tư thế = [– Động ] [+ Chủ ý ]

iv Sự tình Hành động = [+ Động] [+ Chủ ý]

Trang 36

Cách phân loại sự tình trên đây của Dik được coi là một trong những cách phân loại có hiệu lực cho mọi ngôn ngữ Ứng dụng cho tiếng Việt, ta thấy

vị từ tiếng Việt cũng được phân biệt rõ cả trên bình diện ngữ nghĩa cũng như bình diện ngữ pháp theo các tiêu chí (các chiều) đã nói, trong đó sự phân biệt giữa [+ Động] > < [– Động] được đánh dấu rõ nét nhất

Trong câu, nghĩa của các vị từ có tác dụng quyết định đối với ngữ pháp của câu, tức quyết định cách thức tổ chức và mối quan hệ giữa các tham tố trong sự tình ấy, chẳng hạn:

i) một vị từ như “cho” quyết định khung ngữ vị từ sau đây:

vị từ: “cho”

• các tham tố : X1 = người hành động : Nam

X2 = vật được cho: quyển sách

X3 = người tiếp nhận : An

quyết định cách thức tổ chức của câu như sau:

(1)

a Nam cho An quyển sách này Hoặc:

b An được Nam cho quyển sách này

c Quyển sách này Nam cho An

d Quyển sách này An được Nam cho

ii) một vị từ như “treo” vừa quyết định số lượng tham tố (nhân / vật) tham gia

vai diễn trong cái “màn kịch” đã nói ở trên: phải có hai tham tố – người làm động tác treo và người / vật được treo; vừa quyết định mối quan hệ giữa hai tham tố đang xét: một ở vai Tác thể và một ở vai Đối thể Ngược lại, các tham tố và vị trí của nó trong câu lại có tác dụng quyết định nghĩa biểu hiện của nội dung sự tình:

(2)

Trang 37

a Tôi treo bức tranh trên tường

b Bức tranh treo trên tường

c Trên tường treo một bức tranh

Ở ví dụ (2a), vai Đối thể bức tranh đứng sau vị từ, tư cách diễn tố 2, cho nên vị từ treo được nhận biết là một vị từ hành động Còn ở (2b), khi vai Đối thể

bức tranh được đứng đầu câu, trước vị từ (tư cách diễn tố 1) thì treo lại được xem

là một vị từ trạng thái Và ở (2c), khi ngữ danh từ bức tranh ở vai đối thể nhưng lại là diễn tố duy nhất trong sự tình (tức không có vai tác thể) thì vị từ treo phản

ánh một sự tình tồn tại Tình hình cũng vậy trong ví dụ tiếp theo:

(3)

a Trời có mây

b Trên trời có mây

Trong (3a) trời có chức năng nghĩa học Đương thể (của trạng thái); còn ở

(3b), vì nằm trong giới ngữ trên trời nên trời mang vai nghĩa Địa điểm / Vị trí Điều đó quy định nghĩa biểu hiện của nội dung sự tình: có mây trong (3a) là ngữ đoạn chỉ sự sở hữu; còn có mây trong (3b) là ngữ đoạn chỉ sự tồn tại

Các tham tố có ảnh hưởng lớn đến nghĩa biểu hiện của câu Đây là một hướng quan tâm của luận án: xác lập hệ thống chức năng nghĩa học của các tham tố, nhằm xác định cương vị ngữ pháp của loại tham tố “quan trọng nhất có mặt ở tất cả các động từ không phải là vô trị”(4), loại tham tố giữ cương vị chủ ngữ trong câu tiếng Anh và Chủ đề trong câu tiếng Việt

1.2 Các loại tham tố của sự tình

Trước S C Dik gần 20 năm, L Tesnière [145] đã cho rằng việc chia câu

ra thành chủ ngữ và vị ngữ là hoàn toàn sai lạc vì đó là kết quả của sự lẫn lộn cấu trúc của câu với cấu trúc của mệnh đề Theo ông, cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh một động từ và các diễn tố làm bổ ngữ cho nó, “chủ ngữ” chẳng qua

Trang 38

cũng là một bổ ngữ trong số đó Ông biểu diễn mối quan hệ giữa động từ và các diễn tố của nó bằng một lược đồ trong đó động từ chiếm vị trí cao nhất Chẳng

hạn câu : “Nam quyết định cho An quyển sách” sẽ được biểu diễn như sau:

1.2.1 Tham tố

Tham tố (arguments) là các nhân / vật liên quan đến sự tình, gồm:

– Diễn tố (actants) là các vai nghĩa liên quan trực tiếp đến vị từ, “là

những vai tất yếu được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ” [33 : 8]

Chẳng hạn một vị từ như đánh tất nhiên phải giả định một chủ thể của hành động đánh và một đối thể là người / vật chịu tác động của hành động đánh

– Chu tố (circonstants “những kẻ đứng xung quanh”) làm thành cái cảnh trí

ở xung quanh các tham tố; nó không được giả định một cách tất nhiên trong khung vị ngữ Đó là những khung cảnh về Điều kiện, về Thời gian, về Không gian, về Cách thức, về Phương tiện hoặc những nhân / vật có liên quan v.v…[33 : 8] Chẳng hạn:

(4)

a The bells rang

Trang 39

“Chuông reo.”

a’ Chúng nó đi rồi

b The dog bit the postman

“Con chó cắn người đưa thư.”

b’ Gió mở tung cửa sổ

c I have sent them an invitation

“Tôi đã gửi họ tấm thiệp mời.”

c’ Chàng trao cho nàng chiếc nhẫn cưới

d Last night we had a farewell class party

“Tối qua bọn em đã tổ chức một bữa tiệc chia tay của lớp.”

d’ Trên trời mây trắng như bông

Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây. (CD)

Trong (4a), (4a’), động từ đơn trị rang và vị từ đơn trị đi chỉ sự tình hành động Sự tình này đòi hỏi một diễn tố là the bells (giữ chức năng nghĩa học Lực) và chúng nó (giữ chức năng nghĩa học Người hành động)

Trong (4b), (4b’), bit , mở là hai vị từ song trị chỉ sự tình hành động Sự tình này yêu cầu hai diễn tố: một diễn tố diễn đạt vai Hành thể: the dog hoặc Lực : gió, và một diễn tố mang vai nghĩa Đối thể : the postman, cửa sổ

Trong (4c), (4c’), các vị từ tam trị sent , trao đòi hỏi ba diễn tố trong đó: 1) một diễn tố mang vai nghĩa Hành thể : I , chàng; 2) một diễn tố mang vai nghĩa Đối thể : an invitation, chiếc nhẫn cưới và 3) một diễn tố mang vai nghĩa Tiếp thể: them, nàng

Còn trong (4d), (4d’), ngoài hạt nhân do vị từ và các diễn tố tạo nên, còn có các chu tố (không có số lượng nhất định như các diễn tố) chỉ các khung cảnh

Trang 40

về : Thời gian : last night; Không gian : trên trời Có thể miêu tả cấu trúc nghĩa biểu hiện của các câu trên qua biểu đồ sau đây (5):

1.2.2 Cấu trúc tham tố

Trong The case for case “Tác dụng của cách”(1968), Ch J Fillmore chủ

trương rằng có thể xác định được một tập hợp hữu hạn và phổ quát của những mối quan hệ giữa một vị ngữ / ngữ vị từ và các tham tố mà ông gọi là quan hệ cách (case relationships), được ông và một số người kế tục liệt kê như sau:

– Agentive, chỉ chủ thể (agent) của hành động mà vị từ biểu thị

– Instrumental, chỉ công cụ của hành động mà vị từ biểu thị

– Dative, chỉ người / con vật chịu ảnh hưởng (recipient) của trạng thái hay hành động mà vị từ biểu thị

– Factitive, chỉ vai đồ vật sinh ra do kết qủa của trạng thái hay hành động mà vị từ biểu thị

– Locative, chỉ vị trí (location) của trạng thái hay hành động mà vị từ biểu thị – Objective, chỉ bất kỳ vật gì được biểu thị bằng một danh từ mà vai trò của nó trong hành động hay trong trạng thái do vị từ biểu thị được chính cách thuyết minh ngữ nghĩa của vị từ quy định

– Benefactive, chỉ người hưởng lợi (beneficiary) trong hành động mà vị từ biểu thị

– Comitative, chỉ người hay vật có liên đới với chủ thể của trạng thái hay của hành động mà vị từ biểu thị

– Time, chỉ thời điểm hoặc thời đoạn của trạng thái hay hành động mà vị từ biểu thị

– Source, chỉ xuất phát điểm của sự chuyển động hoặc là thực thể gây nên một trạng thái mà vị từ hành động hoặc vị từ trạng thái biểu thị

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w