1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh

157 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố Hà Nội và vùng xung quanh
Tác giả Phạm Ngọc Đăng
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Hồng Kế
Trường học Trung tâm Bảo vệ Môi trường và Quy hoạch Phát triển Bền vững (CEPSD)
Chuyên ngành Quản lý môi trường đô thị
Thể loại Báo cáo tổng hợp đề tài nhánh
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 3,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo được chia thành 5 chương : Chương 1 : Diễn biến cấp thoát nước và môi trường nước trong quá trình đô thị hoá thành phố Hà Nội và giải pháp BVMT... Đối chiếu với lịch sử phát tri

Trang 1

Bé khoa häc vµ c«ng nghÖ UBND thµnh phè Hµ néi

ch−¬ng tr×nh nckh cÊp nhµ n−íc kx.09 -

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NHÁNH

DỰ BÁO NHỮNG DIỄN BIẾN VỀ MÔI

TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ

THỊ HOÁ TP HÀ NỘI VÀ VÙNG

XUNG QUANH

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI NHÁNH: GS.TSKH PHẠM NGỌC ĐĂNG

THUéC §Ò tµi NCKH cÊp nhµ n−íc:

“QÚA TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ THĂNG LONG – HÀ NỘI, KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TRONG THỜI KỲ

CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC”

m∙ sè kx.09.05

CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH: PGS.TS LÊ HỒNG KẾ

7058-5

07/01/2009

Hµ néi, th¸ng 11 n¨m 2008

Trang 2

Bộ khoa học và công nghệ UBND thành phố Hà nội

chương trình nckh cấp nhà nước kx.09 -

Cơ quan thực hiện đề tài:

Trung tâm bảo vệ môi trường

và quy hoạch phát triển bền vững Centre for Environmental Protection and Sustainable

Development planning (CEPSD)

Nhóm nghiên cứu đề tài:

Ban Chủ nhiệm đề tài: 1 PGS TS Lê Hồng Kế, Chủ nhiệm

Cùng nhiều cộng sự khác

Trang 3

Chương trình KX.09 Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, phục

vụ phát triển toàn diện Thủ đô

Đề tài KX 09.05 Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

và giá trị lịch sử - văn hoá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội,

phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô

Báo cáo tổng hợp

đề tài nhánh KX09.05.05

dự báo diễn biến môi trường trong quá trình đô thị hoá

hà nội và VùNG XUNG QUANH đề xuất các giải pháp bảo vệ

Hà Nội, 12/2006

Trang 4

Chữ viết tắt

AN, QP - An ninh, quốc phòng

BVMT - Bảo vệ môi trường

CEETIA - Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp

KHCNMT - Khoa học, Công nghệ và Môi trường

NCKH - Nghiên cứu khoa học

PM10 - Bụi mịn có đường kính ≤ 10 àm

SXCN - Sản xuất công nghiệp

TDTT - Thể dục thể thao

TCCP - Tiêu chuẩn cho phép

TCVN - Tiêu chuẩn Việt Nam

TNMTNĐ - Tài nguyên Môi trường và Nhà đất

TP - Thực phẩm hoặc thành phố

TSP - Tổng bụi lơ lửng

URENCO - Công ty Môi trường Đô thị

USEPA - Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ

VLXD - Vật liệu xây dựng

VSMT - Vệ sinh Môi trường

Trang 5

Mở đầu

Năm 1010 vua Lý Công Uẩn đọc chiếu dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) tới Thăng Long (Hà Nội) - Nơi hội tụ đầy đủ những yếu tố thiên địa nhân hoà của một kinh đô Chỉ còn 4 năm nữa, thủ đô Hà Nội tròn 1000 năm tuổi (1010-2010) Trải qua 10 thế

kỷ đô thị hoá, Thủ đô Hà Nội đã không ngừng phát triển về mọi mặt, cả diện tích, dân số và cơ sở hạ tầng đô thị (cơ sở HTXH và HT kỹ thuật)

- Về diện tích: Không gian đô thị được mở rộng nhanh chóng, từ một thủ đô nhỏ

bé chỉ gói gọn trong phạm vi 36 phố phường với diện tích 130km2 (kể cả nội ngoại thành năm 1942) Năm 1955, nội thành Hà Nội chỉ có 12km2 nhưng đến năm 1985 đã tăng lên 43km2 (tăng 3,5 lần), điạ giới ngoại thành cũng tăng lên rất nhiều (từ 140 km2

lên 2.088km2), nghĩa là tăng 15 lần nhưng do chiến tranh phá hoại, phương án mở rộng

Hà Nội quá lớn, như vậy là không phù hợp Chính phủ có quyết định trả một số huyện cho Hà Tây và Vĩnh Phúc Đến năm 1997 diện tích nội ngoại thành Hà Nội là 927,39km2 (kể cả nội ngoại thành) như hiện nay Như vậy Hà Nội đã rộng gấp 7 lần (so với năm 1942)

- Về dân số: Dân số của Thủ đô Hà Nội cũng tăng lên nhanh chóng: Từ 7 vạn dân

(năm 1918) tăng lên 13 vạn (năm 1928); 30 vạn (1942); 47 vạn (1954); 63,8 vạn (1960);

87 vạn (1985); 2,3 triệu trong đó nội thành 1,2 triệu (1995); 2,672 triệu, trong đó nội thành 1,380 triệu (1999); 2,847 triệu (2002) trong đó nội thành 1,521 triệu Năm 2004 dân số Hà Nội khoảng 3 triệu118 nghìn người, trong đó nội thành 1 triệu 950 nghìn người Như vậy, chỉ khoảng 10 năm (1995-2004) dân số nội thành tăng 570 nghìn người

- Về tốc độ và trình độ đô thị hoá: Trong gần 10 thế kỷ đô thị hoá, tốc độ đô thị

hoá của Hà Nội không đều và chậm so với nhiều thủ đô khác trong khu vực và thế giới Tuy nhiên, phải thấy rằng suốt một thời kỳ dài Hà Nội cùng với cả nước phải trải qua 2 cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ để chống giặc ngoại xâm nên rất khó khăn trong phát triển, tốc độ đô thị hoá chậm Hà Nội chỉ thực sự tăng tốc độ đô thị hoá nhanh nhất từ sau thời kỳ đổi mới (sau năm 1986) Đây là thuận lợi lớn để tạo đà phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng là thách thức không nhỏ đối với môi trường đô thị đặc biệt là vấn đề chất thải rắn, nước thải và khí thải, bởi Hà Nội phát triển nhanh trong điều kiện điểm xuất phát của nền kinh tế nhỏ và nghèo, cơ sở hạ tầng đô thị yếu kém, chắp vá, lạc hậu và luôn bị sức ép quá tải dẫn đến môi trường bị ô nhiễm và xuống cấp Đây là hệ quả tất yếu mà Hà Nội phải nhìn nhận để tìm giải pháp khắc phục, vượt qua

- Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm cả cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở hạ tầng kỹ thuật,

trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu nhất định Rất nhiều công trình xây dựng được mọc lên (đường xá, nhà ở, công trình công cộng, trường học, bệnh viện và các nơi vui chơi, giải trí, tạo ra điều kiện phát triển kinh tế, nhưng cũng chính các hoạt động này làm tăng chất thải nhiều hơn Tuy nhiên, so với yêu cầu đối với thủ đô của đất nước có trên 80 triệu dân và 1000 năm văn hiến thì còn khoảng cách khá xa

Trang 6

Mọi tiêu chí về cơ sở hạ tầng đều chưa đạt tới ngưỡng yêu cầu, trong đó phải kể đến hạ tầng kỹ thuật liên quan đến cấp thoát nước và xử lý ô nhiễm môi trường nước, quản lý CTR, hệ thống giao thông vận tải và kiểm soát ô nhiễm không khí và tiếng

ồn còn nhiều bất cập; càng gây khó khăn cho việc quản lý kiểm soát môi trường đô thị, đồng thời ảnh hưởng không nhỏ đến văn minh, mỹ quan đô thị

Đến năm 2010 Thành phố Hà Nội sẽ kỷ niệm 1000 năm hình thành xây dựng và phát triển Có thể nói tuy Hà Nội trải qua gần nghìn năm lịch sử, nhưng giai đoạn 20 năm trở lại đây và 20 năm trong thời gian tới là giai đoạn mà Hà Nội đô thị hoá nhanh nhất phát triển mạnh nhất cả về không gian đô thị, dân số, cả về phát triển kinh tế và xã hội Kinh tế – xã hội phát triển càng nhanh thì tốc độ khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên càng mạnh, nguồn thải gây ô nhiễm môi trường ngày càng lớn Trong điều kiện đó tài nguyên và môi trường Hà Nội có nguy cơ bị suy hoá và ô nhiễm trầm trọng, sẽ có tác động ngược lại làm cho phát triển kinh tế – xã hội sẽ không bền vững

Mục tiêu của nhánh đề tài này là nghiên cứu đánh giá diễn biến môi trường trong

quá trình đô thị hoá của Hà Nội trong thời gian qua, dự báo xu hướng biến đổi môi trường trong thời gian tới và đề xuất các giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm đạt được

sự phát tiển đô thị Hà Nội bền vững về mặt môi trường

Kết quả nghiên cứu của đề tài nhánh "Diễn biến và dự báo môi trường trong quá

trình đô thị hoá vùng Hà Nội và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường" thuộc Đề tài KX.09.05 "Quá trình đô thị hoá ở Thăng Long – Hà Nội, kinh nghiệm lịch sử và

định hướng quy hoạch phát triển đô thị trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" của chương trình KX.09, được trình bày chi tiết trên 4 báo cáo chuyên đề :

- Chuyên đề 1 : Về môi trường nước, do GS.TS Trần Hiếu Nhuệ (ĐHXD) Chủ trì

- Chuyên đề 4 : Về hệ sinh thái cây xanh đô thị, do CVCC Phùng Tửu Bôi (Hội

Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam) Chủ trì thực hiện;

Đây là Báo cáo tổng hợp của Đề tài nhánh KX.09.05.05 được hình thành dựa trên thu gọn nội dung chủ yếu của 4 chuyên đề trên

Báo cáo được chia thành 5 chương :

Chương 1 : Diễn biến cấp thoát nước và môi trường nước trong quá trình đô thị

hoá thành phố Hà Nội và giải pháp BVMT

Trang 7

Chương 2 : Diễn biến và dự báo môi trường không khí và tiếng ồn trong quá

trình đô thị hoá thành phố Hà Nội và giải pháp BVMT

Chương 3 : Diễn biến chất thải rắn trong quá trình đô thị hoá thành phố Hà Nội

và giải pháp quản lý

Chương 4 : Diễn biến môi trường đất trong quá trình đô thị hoá thành phố Hà

Nội và giải pháp BVMT

Chương 5 : Diễn biến về cây xanh – rừng, đa dạng sinh học trong quá trình đô thị

hoá thành phố Hà Nội và giải pháp phát triển, bảo tồn

Đề tài nhánh này đã được thực hiện trong thời gian từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 12 năm 2006

Trang 8

Chương 1 Diễn biến Cấp Thoát nước và môi trường nước trong quá trình đô thị hoá thành phố Hà Nội

và giảI pháp BVMT

1.1 Sự hình thành và phát triển hệ thống cấp nước Hà Nội

1.1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển

Trong tác phẩm “Vấn đề cấp nước Hà Nội từ 1875 đến 1931” các tác giả Bablet

J và Barder H /3/ đã cho thấy : năm 1886 rồi 1888 ở Hà Nội đã thành lập Hội đồng

Cố vấn Thành phố; Năm 1893 bắt đầu có ý định chuẩn bị và tới 8-10- 1895 thành lập Công ty Cấp nước Hà Nội Khi đó bắt tay vào thăm dò thiết kế xây dựng công trình thu nước ngầm ở Yên Phụ với 18 giếng khoan (đường kính mỗi giếng 200mm và sâu 21m, với công suất 5.000m3/ngđ Ngoài ra có xây hai đài nước và đường ống phân phối D 400mm

18 giếng khoan trên được đấu với một hành lang dài 100m để thu, tập trung nước rồi qua máy bơm nâng chuyển

Năm 1886 do thi công kém nên hành lang thu nước kém Ngoài ra do đường kính giếng khoan nhỏ nên không đạt công suất yêu cầu Ngày 13-12-1886 quyết định khoan thêm giếng đợt hai bổ sung với đường kính giếng lớn hơn Đợt này khoan 3 giếng với đường kính ống vách 0,6m Kết quả tháng 1-1900 thì hoàn thành việc xây lắp và phân phối nước Như vậy trong năm 1900 - 1901 có nước đến khu người Âu Sau một thời gian hoạt động, do nhiều nguyên nhân lưu lượng nước giảm dần,

đồng thời xuất hiện nhiều sắt, amoniăc và nhiều vi khuẩn, 18 giếng khoan ban đầu phải bỏ đi Qua nhiều thảo luận, xem xét các phương án về nguồn nước (là nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt từ sông Hồng) người ta chọn nguồn nước ngầm để cấp nước, giếng khoan phải sâu ít nhất 40- 50m

Như vậy từ 1908 vấn đề xử lý nước ngầm được đặt ra và nhà máy nước Yên Phụ

được mô tả như sau:

Nhà máy nằm ở phía Bắc thành phố chiếm khu đất 2-3 ha Có 9 giếng khoan hoạt động Nước từ giếng bơm lên qua làm thoáng sơ bộ đơn giản, lọc thô, lọc cát và khử trùng năm 1910 Giếng số 7, 8 khai thác vào năm 1925 - 1927, giếng số 9 năm

1930 Các giếng cách nhau 45 - 50m Có 2 bơm loại Woolf 50 mã lực hoạt động, lưu lượng mỗi bơm 6.000m3/ngđ Nước sau xử lý được qua ống gang 0,4m và dẫn sang

bể chứa 500m3 bằng bêtông cốt thép Ngoài ra có hai đài ở phía Bắc (vườn hoa Hàng

Đậu) và phía Nam thành phố (?) cao 13 - 15m so với mặt đường./ 3 /

Từ các khởi sắc đầu tiên về cấp nước Hà Nội trên đây và qua thống kê điều tra

sự phát triển hệ thống cấp nước Hà Nội từ năm 1900 đến nay, có thể tóm tắt lược sử của hệ thống cấp nước Hà Nội như sau:

Trang 9

Hà Nội từ đầu thế kỷ 20 đến nay đều dùng nguồn nước ngầm để cung cấp nước Nước ngầm chứa chủ yếu là sắt và mangan với hàm lượng khá cao (khoảng từ

5 đến 25mg/l sắt) Ngoài ra còn bị nhiễm bẩn bởi Nitơ amôn, nitrit, nitrat

Nhà máy nước đầu tiên của Hà Nội là nhà máy nước Yên Phụ với công suất thiết kế ban đầu 5.000m3/ngđ (1900 - 1901), chưa có xử lý và thực tế đạt được là 2.500 – 3.000m3/ngđ Tới 1905-1910 xây dựng các công trình xử lý và nâng công suất lên 12 - 15 ngàn m3/ngđ

- Tiếp theo là năm 1930 xây dựng nhà máy nước Bạch Mai với công suất ban

đầu 1.000m3/ngđ Muộn hơn nữa là các nhà máy nước Đồn Thuỷ , Ngọc Hà, Ngô Sỹ Liên, Lương Yên, Tương Mai, Hạ Đình (tổng cộng 22 trạm lớn nhỏ do Công ty cấp nước quản lý) phục vụ cho cấp nước Hà Nội Bảng 1.1 tóm tắt lượng nước sản xuất tại công ty cấp nước (nay là Công ty Kinh Doanh Nước Sạch) Hà Nội

Bảng 1.1. Lượng nước sản xuất tại các nhà máy nước Hà Nội

Năm 1900 2500m3/ngđ Năm 1910 12000 - 15000 m3/ngđ Năm 1930 12.000 - 15.000 m3/ngđ Năm 1938 15000 m3/ngđ

Năm 1954 25.000 m3/ngđ Năm 1960 52000 m3/ngđ

Năm 1974 150.000 m3/ngđ Năm 1986 235000 m3/ngđ

Năm 1988 324.000 m3/ngđ Năm 1991 375.000 m3/ngđ

Năm 1995 405000 m3/ngđ Năm 2000 405 000 m3/ngđ Năm 2005 465 000 m3/ngđ

(Thuộc Công ty Cấp nước Hà Nội quản lý; Không kể NMN Đông Anh và Sóc Sơn và các trạm nhỏ lẻ))

Bảng 1.2 Tóm tắt lược sử xây dựng các nhà máy nước Hà Nội

- Từ năm 1985 có chương trình cấp nước Hà Nội do Phần Lan giúp đỡ Nếu theo tiến trình thời gian, công suất các nhà máy nước lớn Hà Nội năm 1991 là 375.000

Công suất ban đầu

m 3 /ngđ

Công suất thiết kế, nâng cấp, m 3 /ngđ

Số liệu của CTKDNS năm 2004,

Trang 10

Ghi chú : *Công ty Kinh Doanh Nước sạch Hà Nội I còn quản lý một số trạm cấp nước

nhỏ khác như : Thành Công, Giảng Võ, Trung Tự, Thuỵ Khuê, Thuỷ Lợi, Linh

Đàm, Đại Kim, Văn Điển với tổng công suất khoảng 25 000 m 3 /ngày

**Công ty KDNS Hà Nội số 1, tới 2004 sản xuất 403 500 m 3 /ngđ, trong

đó có chuyển nước từ nhà máy nước Gia Lâm sang là 10 000 m 3 /ngđ, năm

2005 sản xuất là 440 500 m 3 /ngđ Bằng cách tăng công suất các nhà máy

nước Yên Phụ, Cáo Đỉnh, Nam Dư,

Trang 11

+ Ngoài ra ở một số không nhỏ các cơ quan, xí nghiệp công nghiệp và công trình công cộng có trạm xử lý nước riêng với tổng lưu lượng khoảng 60.000- 65.000

m3/ngđ Thí dụ: Dệt 8/3 : 8000 m3/ ngđ, Cao Xà Lá: 12.000 m3/ngđ, Bia Hà Nội 2.400 m3/ ngđ

+ Về hạng lưới: Toàn bộ mạng lưới truyền dẫn và phân phối nước khu vực phía Nam sông Hồng: Năm 1900 - 1930 có 55km, D = 40-50 mm; Năm 1931-1954 có 85km, D = 40 - 200 mm ; Tới 1985 có 210 km, D = 100 - 600 mm; năm 1991 có

400 km, D như trên; năm 2005 có 436 km, D = 100- 800 mm (Trong đó khoảng 100

- 105 km ống truyền dẫn, đường kính lớn hơn 300 mm và hơn 330 km ống phân phối, đường kính dưới 300 mm )

+ Khu vực phía Bắc sông Hồng tại Gia Lâm, Đông Anh hiện có 52 km , trong đó 50% là đường ống truyền dẫn đường kính lớn hơn 300 mm, 50% là đường ống phân phối đường kính 100-250 mm Năm 2001, toàn bộ nhu cầu cấp nước của huyện Gia Lâm (từ 2002 là Quận Long Biên) là 15.000 m3/ngđ Khu vực 3 phường ngoài đê sông Hồng vẫn chưa được cung cấp nước từ hệ thống tập trung Nhà máy nước Gia Lâm mới công suất 30.000 m3/ngđ, trong đó dẫn về hỗ trợ cho nội thành Hà Nội phía Nam sông Hồng là 10.000 m3/ngđ

Tổng chiều dài đường ống cấp nước toàn TP Hà Nội năm 2005 khoảng 1.022 km

1.1.2 Tình hình cấp nước ở Hà Nội hiện nay, 2005

- Tổng lượng nứôc khai thác của toàn Hà Nội tới 2004-2005 theo thiết kế khoảng 808.500 m3/ ngđ (nếu kể cả nhà máy nước mới khu đô thị Bắc sông Hồng 52.000m3/ngđ thì tổng lượng nước khai thác là 860 500m 3 /ngđ) Nguồn nước phục

vụ cấp nước lấy từ nguồn nước ngầm Con số khai thác thực tế khoảng 750.000 m 3 /ngđ

700.000 Công ty Kinh doanh Nước sạch Hà Nội số I quản lý 10 nhà máy nước lớn và khoảng 10 nhà máy nước nhỏ lẻ phục vụ cấp nước sạch cho khu vực nội thành Hà Nội phía hữu ngạn sông Hồng, Công ty Kinh doanh Nước sạch Hà Nội số II quản lý

2 nhà máy nước tại Đông Anh và 2 nhà máy nước tại Gia Lâm , phục vụ cấp nước sạch cho khu vực Gia Lâm và Đông Anh Hà Nội

- Ngoài ra tại một số cơ quan, đơn vị và xí nghiệp công nghiệp có một số nhà máy nước riêng như trên đây đã môt tả

- Năm 2002 khởi công xây dựng nhà máy nước khu đô thị Bắc Thăng Long công suất 52.000 m3/ngđ với 18 giếng khoan khai thác nước Cuối năm 2005 việc xây dựng nhà máy nước này đã hoàn thành nhưng chưa đưa vào sử dụng

1.1.2.1 Nhu cầu cấp nước

- Hà Nội đã có Quy hoạch tổng thể cấp nước đến năm 2010 do cơ quan phát triển Quốc tế Phần Lan ( FINIDA) thiết lập năm 1995 Quy hoạch cấp nước sẽ cấp nước phục vụ cho 993.417 người ( chiếm 76 % số dân cư trong khu vực đô thị Hà Nội)

Trang 12

Khu vực được cấp nước vào năm 2010 sẽ được mở rộng đến 90 km (chiếm 64 %

diện tích khu vực nghiên cứu )

Bảng 1.3. Nhu cầu cấp nước Hà Nội đến năm 2020

2000 2005 2010 2020 Khu

vực Dân số ngàn

người

Lượng nước tiêu thụ

m 3 /ngđ

Dân số ngàn người

Lượng nước tiêu thụ

M 3 /ngđ

Dân số ngàn người

Lượng nước tiêu thụ

m 3 /ngđ

Dân số ngàn người

Lượng nước tiêu thụ

Nguồn: Dự án cấp nước Hà Nội đến 2010- 2020 do FINIDA và JICA thiết lập /

Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt và tỷ lệ dân số đô thị Hà Nội được phục vụ, theo

quy hoạch tổng thể Hà Nội được tình như sau :

Tỷ lệ thất thoát nước lấy bằng 45 % tổng lượng nước vào năm 2000, 35% vào

năm 2010 và 2020

Các nhu cầu khác lấy bằng 10% tổng lượng nước

Tổng nhu cầu khai thác nước tập trung sẽ là :

Năm 2000 : 416 250 m3/ngày, Năm 2005 : 510.600 m3/ngày,

Năm 2010 : 630.000 - , Năm 2020 : 875.000 -

Trang 13

Đối chiếu với bảng 1.2 có thể thấy rằng tới 2005, tổng lượng nước khai thác của thành phố Hà Nội đã đạt tới mức dự báo tới năm 2010 và đã đạt mức tới hạn cho phép khai thác đối với trữ lượng nước ngầm Hà Nội

- Theo nghiên cứu của Đoàn JICA Nhật Bản/ Okaga Toshifumi/, nguồn nước cho

Hà Nội trong tương lai sau năm 2010 sẽ là nguồn nước mặt

1.1.2.2 Giới thiệu dự án cấp nước Hà Nội đến 2020

Cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản- JICA đã tiến hành nghiên cứu về các hệ thống cấp nước của Hà Nội từ tháng 2.1996 đến tháng 7.1997

Mục tiêu của Nghiên cứu là xây dựng Quy hoạch Chủ đạo cấp nước thành phố Hà Nội đến năm 2020 Khu vực nghiên cứu bao trùm toàn thành phố Hà Nội với mục tiêu thời gian là năm 2010 -2020 JICA cũng tiến hành nghiên cứu khả thi khu vực

dự án ưu tiên được xác định trong Quy hoạch Chủ đạo

Nguồn nước ngầm tại Hà Nội

Trong suốt quá trình nghiên cứu đã tiến hành các phân tích về nước phục vụ cho công tác cấp nước của Hà Nội Hà Nội vẫn sử dụng nguồn nước ngầm cho cấp nước công cộng Trên phương diện kỹ thuật và kinh tế, nước ngầm được ưu tiên làm nguồn cấp nước của thành phố chứ không phải là nước mặt

Tuy nhiên, trữ lượng nước ngầm rất hạn hẹp Cân đối, so sánh giữa khả năng

cung cấp từ nguồn nước ngầm và nhu cầu nước trong tương lai của Hà Nội cho thấy nguồn nước ngầm chỉ đáp ứng được tới năm 2010 Tổng trữ lượng nước ngầm của Hà Nội là 1.232.000 m3/ngày, trong đó ở phía Nam là 700.000 m3/ngày và ở phía Bắc sông Hồng là 532.000 m3/ngày

Mặt khác, nhu cầu nước của Hà Nội mỗi năm một tăng

Theo Quyết định số 50/2000/QĐ-TTg ngày 24-4-2000 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống cấp nước thành phố Hà Nội đến năm 2010 và

Định hướng đến 2020, nhu cầu dùng nước của thành phố Hà Nội năm 2010 sẽ là

1.1.2.3 Thực tế triển khai thực hiện cấp nước cho thủ đô Hà Nội

- Năm 1997-1998 Hà Nội đã hoàn thành giai đoạn III chương trình cấp nước do chính phủ Phần lan viện trợ, đã xây dựng xong nhà máy nước Gia lâm công suất 30.000 m3/ngày, xây dựng một số nhà máy nước tại các thị trấn

Bằng các biện pháp quản lý và kỹ thuật, tập trung xử lý giải quyết hạ tỷ lệ thất thoát nước từ 55% năm 1997 xuống còn 40% vào năm 2000 Số dân được cấp nước

Trang 14

sạch đến năm 2000 là 1,4 triệu người Tổ chức triển khai chương trình nước sạch nông thôn để 90 đến 100% hộ dân được dùng nước sạch

- Từ năm 1995 đến năm 2000 Hà Nội đã thực hiện dự án cấp nước 1A, trong đó xây dựng thêm hai nhà máy nước là Cáo Đỉnh và Nam Dư

Bảng 1.4. Lượng nước sản xuất của Công ty Kinh doanh Nước sạch Hà Nội số 1

m3/ngày

- Tổng cộng các giếng khoan khai thác nước do hai Công ty Kinh doanh Nước sạch Hà Nội quản lý khoảng 150 giếng

- Ngoài các nhà máy nước do hai Công ty Kinh doanh Nước sạch Hà Nội quản

lý, tại một số cơ quan, xí nghiệp cũng có một số trạm cấp nước như : Nguyễn ái Quốc, Văn công Mai Dịch, Cao su Sao vàng, Dệt 8/3, Bia Hà Nội, Bia HANIDA, với khoảng 500 giếng và tổng công suất khai thác 110.000 m3/ngày

- Chương trình cấp nước nông thôn UNICEF và ngoài chương trình này cũng triển khai thực hiện khoan giếng đường kính nhỏ, lắp bơm tay hay bơm điện với hàng ngàn giếng và tổng công suất khai thác 100.000 m3/ngày

Quy hoạch cấp nước mở rộng

- Từ năm 2002 đến nay Hà Nội đã thực hiện dự án cấp nước khu đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì với 18 giếng và công suất nước thô 52.000 m3/ngày, công suất nước sạch là 47.500 m3/ngày Cuối năm 2005 đã xây dựng xong

- Từ năm 2003, Công ty VINACONEX đã và đang thi công xây dựng dự án cấp nước chuỗi đô thị Sơn Tây - Hoà Lạc - Xuân Mai - Miếu Môn - Hà Nội - Hà Đông với công suất giai đoạn I là 300.000 m3/ngày, trong đó phục vụ cấp nước cho Hà Nội

sẽ khoảng 240.000 m3/ngày Như vậy, khoảng 60.000 m3/ngày có thể cung cấp cho các thành phố khác như thành phố mới tại tỉnh Hà Tây Công suất 60.000 m3/ngày tương đương với nhu cầu nước của 150.000 người Tới 2020, sẽ nâng công suất 600.000 m3/ngày,

Theo văn bản thỏa thuận số 2333/UB-XDDT ngày 01 tháng 8 năm 2003 giữa UBND Thành phố Hà Nội và Tổng Công ty VINACONEX, đến năm 2005 Tông Công ty VINACONEX sẽ cấp cho Thành phố Hà Nội từ 150.000 đến 200.000m3/ngđ

Trang 15

từ nhà máy nước mặt sông Đà Nhà máy nước sông Hồng 150.000m /ngđ cũng dang trong quá trình lập dự án

1.1.2.4 Chất lượng nước cung cấp

• Chất lượng nước trước xử lý

- Đặc điểm chất lượng nước ngầm Hà Nội trước khi xử lý là chứa sát, măng gan

và amôni Hàm lượng các chất này tuỳ thuộc vào vị trí của từng khu vực

- Hàm lượng sắt trong nước ngầm Hà Nội thường cao Nồng độ sắt cao nhất là các vùng Pháp Vân, Hạ Đình, Tương Mai (tới 25 – 30 mg/l) Càng về phía Bắc thành phố, hàm lượng sắt càng giảm Thấp nhất là tại nhà máy nước Ngọc Hà, hàm lượng sắt chỉ khoảng 1-3 mg/l

- Theo nồng độ Amôni chúng ta có thể phân thành 4 mức sau :

+ Mức rất nặng khi nồng độ NH4+ > 10mg/l Các vùng có nồng độ này là Kim Liên, Bách Khoa, Hạ Đình, Tương Mai, Pháp Vân

+ Mức nặng khi nồng độ NH4+ = 5 - 10mg/l Vùng có mức này là Quỳnh Mai + Mức trung bình khi nồng độ NH4+ = 1 - 5 mg/l Các vùng thuộc mức này là Lương Yên, Yên Phụ, Ngô Sỹ Liên, Đồn Thuỷ

+ Mức nhẹ khi nồng độ NH4+ < 1 mg/l Thuộc mức này là các vùng Ngọc Hà, Mai Dịch, ĐH Thuỷ Lợi

- Rải rác một số nơi thuộc vùng phía Nam Hà Nội và phụ cận đã phát hiện nhiễm bẩn arsen, tuy vẫn còn ở mức thấp hơn ngưỡng cho phép nhưng lại biến động theo thời gian và vị trí lấy mẫu

- Một số nơi, mức độ ô nhiễm hữu cơ mà dây chuyền công ngửng lý hiện dang sử dụng chưa giải quyết được Nước sau xử lý vẫn vượt quá mức cho phép theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Y Tế số 1329/2002/BYT/QĐ ngày 18-4-2002

• Công nghệ xử lý nước ngầm ở Hà Nội

Công nghệ xử lý nước ngầm ở Hà Nội hiện nay là:

Nước từ giếng khoan -> Giàn mưa làm thoáng -> Bể tiếp xúc > Bể lọc nhanh > Khử trùng bằng Clo > Bể chứa > Trạm bơm > Truyền dẫn và phân phối

Công nghệ này chủ yếu là loại bỏ sắt, măng gan, cặn lơ lửng không tan, diệt trùng Với công nghệ này hiệu quả loại bỏ amôni rất thấp, cao nhất chỉ đát 15 - 25% theo nitơ amôni

• Chất lượng nước sau xử lý

Đối chiếu với các giá trị các thông số quy định của tiêu chuẩn 1329/2002/BYT/QĐ thì nước sau xử lý đều đạt yêu cầu, ngoại trừ hàm lượng Nitơ amôni và chất hữu cơ tại một vài điểm/ trạm cấp nước nhỏ cục bộ

Trang 16

1.1.3 Một số vấn đề tồn tại chính đối với hệ thống cấp nước Hà Nội

- Mức phục vụ còn thấp, mới chỉ đảm bảo được cấp nước sạch cho khoảng 65- 70

% dân số Hà Nội

- Tỷ lệ lượng nước bị tổn thất còn lớn: khoảng 25% (rò rỉ tại nhà máy, trên tuyến truyền dẫn, trên mạng phân phối, trên các điểm đấu vào nhà), ngoài ra còn thất thu tiền do không đo đếm được khoảng 20 % Như vậy tổng lượng nước tổn thất và thất thu lên tới 40 – 45%

- Các giếng khoan nước bị suy thoái: hiện nay có khoảng 20% số giếng khoan bị giảm lưu lượng và cần cải tạo hoặc thay thế

- Khai thác nước ngầm đã gây hiện tượng sụt lún mặt đất tại Hà Nội, tuy chỉ có tính chất khu vực Khu vực có độ sụt lún < 10mm/năm có diện tích khoảng 140 km2, chiếm hầu hết phần phía Nam sông Hồng Khu vực có độ sụt lún lớn nhất (khoảng 30mm/năm) rộng khoảng 2 km2, bao quanh khu vực nhà máy nước Pháp Vân

- Nước ngầm trong tầng chứa nước QII-II đã bị nhiễm bẩn các hợp chất nitơ, đặc biệt là NH4+, khu vực bị nhiễm bẩn tập trung ở Tây Nam thành phố, bao gồm khu vực các nhà máy nước Hạ Đình-Tương Mai- Pháp Vân Ngoài ra còn có dấu hiệu nhiễm bẩn chất hữu cơ, arsen

Để giải quyết tồn tại này Sở GTCC và Sở Khoa học-Công nghệ Hà Nội đang phối hợp với Trung tâm Công nghệ Môi trường và Phát triển Bền vững (ĐHKHTN-ĐHQG HN) cùng Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu Công nghiệp (ĐHXD)

đang tiến hành nghiên cứu loại bỏ Nitơ amôni trong nước ngầm Hà Nội Tại nhà máy nước Nam Dư dũng đang xây dựng thêm công đoạn xử lý amôni băng phương pháp sinh học

- Một trong những vấn đề mới nảy sinh trong một số năm gần đây, đó là tác động của việc xây dựng các nhà cao tầng, dùng móng cọc khoan nhồi, cũng như việc khoan các giếng trong chương trình cấp nước nông thôn không được quản lý tốt, các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, là những nguồn gây ô nhiễm đối với nước ngầm Hà Nội Điều này đòi hỏi phải có các nghiên cứu, cũng như những quy chế để kiểm soát, khống chế gây ô nhiễm đối với nguồn nước ngầm quý giá của thủ đô Hà Nội

1.2 Sự hình thành và phát triển hệ thống thoát nước Hà Nội

Trang 17

Đối chiếu với lịch sử phát triển bộ mặt đô thị Hà Nội, cũng như việc xây dựng hệ thống cấp nước, đường sá, quy hoạch các đường phố và niên hiệu xây dựng các công trình quan trọng khác ta có thể kết luận rằng:

- Ba lưu vực thoát nước được xây dựng đầu tiên là: Phan Đình Phùng, Trần Phú

và Trúc Bạch Chắc chắn rằng ba lưu vực này phải bắt đầu chuẩn bị từ sau năm

1886-1894, tới khoảng đầu năm 1900 thì hoàn thành

- Tiếp theo sau là lưu vực Lò Đúc và Trần Bình Trọng- Bà Triệu Cần lưu ý rằng tới năm 1938 Ngõ Hàng Lọng ( gần phố Nguyễn Du bây giờ) vẫn còn là mương hở /4/

- Như vậy là 5 lưu vực thoát nước Hà Nội được xây dựng từ thời kỳ bình định khai thác thuộc địa lần thứ nhất và trong khoảng 1900-1918

1.2.2 Hệ thống thoát nước Hà Nội từ khi hình thành đến 1938 và 1954

- Đây là hệ thống thoát nước chung Nước mưa, nước thải sinh hoạt từ trong các khu nhà ở đều chảy và tập trung vào mạng lưới cống ngầm ngoài đường phố rồi tự chảy và xả vào các ao hồ, các khu vực trũng ven nội rồi xả vào sông Tô Lịch, sông

Lừ (lúc đó chưa có sông Sét), sông Kim Ngưu cũ Cần nói thêm rằng lúc đó sông Tô Lịch chưa nối với sông Nhuệ tại Thanh Liệt

- Đối với những khu vực người Âu thì xây dựng các bể "xí máy", nước từ các xí máy qua bể tự hoại (đa số là có ngăn lọc) rồi ra cống ngầm đường phố

- Đối với những khu vực người Việt thì phải dùng xí thùng hoặc hố xí công cộng Khi đó cứ 10000 nhà ở thì 8500 là dùng xí thùng, 1000 nhà có bể tự hoại và 500 nhà không có phương tiện vệ sinh (tới năm 1938)

5 lưu vực thoát nước chung từ khi xây dựng tới năm 1938 là:

* Lưu vực Hồ Trúc Bạch: Lưu vực này ở phía Bắc thành phố, có biên giới là

phố Thuỵ Khuê, Quán Thánh, Hàng Đậu Diện tích lưu vực là 77.6 ha Lưu vực này

có hai cống chính là Phạm Hồng Thái và Nguyễn Trường Tộ, nước mưa và nước thải sinh hoạt xả vào hồ Trúc Bạch Hồ Trúc Bạch nối với Hồ Tây bằng 2 cống 0.3 và 0.6

m từ Hồ Tây lại thông với sông Tô Lịch qua cống Đõ cách biên giới phía Tây thành phố 1.5 km

* Lưu vực Phan Đình Phùng:

Lưu vực này có diện tích 153.92 ha với biên giới là các phố Thuỵ Khuê, Quán Thánh, Hàng Đậu, Trần Nhật Duật, Chợ Gạo, Hàng Chiếu, Hàg Mã, cửa Đông, Bắc Sơn, Ngọc Hà và cắt qua Hoàng Hoa Thám, vườn ươm

Lưu vực này có tuyến cống chính là 2 cống song song trên phố Phan Đình Phùng, sau đó lại hợp nhất thành một cống đậy nắp đan qua phố Mai Xuân Thưởng qua vườn ươm( song song với phố Thuỵ Khuê)

* Lưu vực Trần Phú: Lưu vực này có diện tích 197,84 ha với biên giới là phố

Cửa Đông, Bắc Sơn ở phía Bắc, phía Tây là biên giới nội thành cũ- tức phố Ngọc Hà,

Trang 18

cắt qua đường Sơn Tây, phía đông là đường sắt, Phùng Hưng, Hàng Đồng, Hàng Bông, phía Nam là phố Quốc Tử Giám, Cát Linh

Lưu vực này được một tuyến gồm hai cống song song trên phố Trần Phú, đến phố Chu Văn An một nhánh lại tách ra rồi qua phố Nguyễn Thái Học tới phố Trịnh Hoài Đức Về mùa khô thời đó , nước thải sinh hoạt hầu như không tới được sông Nhuệ mà thực tế tù đọng ở những ao hồ, đầm lầy Đây là nhược điểm lớn nhất đối với cống Trần Phú

* Lưu vực của các cống : Yết Kiêu, Trần Bình Trọng, Quang Trung, Bà Triệu:

Lưu vực này có diện tích 226,8 ha với biên giới là đường Nam Bộ( Lê Duẩn), Đại

Cồ Việt, Huế, Trần Hưng Đạo, Thợ Nhuộm, Hàng Bông Trong lưu vực này có 4 cống chính là : Yết Kiêu, Trần Bình Trọng , Quang Trung

Cống phố Yết Kiêu khi đó còn đang dở dang do có nghĩa địa mà phải qua một rãnh hở tại phố- Ngõ Hàng Lọng và xả vào hồ Thiền Quang

Hai cống Trần Bình Trọng va Quang Trung xả trực tiếp nước ra hồ Thiền Quang Khi nước hồ Thiền Quang đầy thì xả sang hồ Bẩy Mẫu nhờ mương Kim Liên (Bến ô tô Kim Liên trước đây và khách sạn Nikko bây giờ) Nếu hồ Bảy Mẫu quá đầy thì nước lại tràn bờ phía Nam rồi sau cũng ra sông Tô Lịch và sông Nhuệ

Cống Bà Triệu xả trực tiếp ra mương cạnh đường Đại Cồ Việt tiết diện tròn Từ mương này nước thải lại qua ngã tư đường Giải Phóng- Lê Duẩn va theo mương đến xã Đàn và sông Lừ, sau tới sông Tô Lịch Khi đó những mương mà nước chảy qua có

cỏ mọc đầy gây cản trở dòng chảy

* Lưu vực cống Lò Đúc:

Lưu vực này có diện tích 351,84 ha, có biên giới là Hàng Mã, Hàng Đồng, Hàng Chiếu, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Nguyễn Khoái, Trần Khát Chân, phố Huế, Thợ Nhuộm, Hàng Bông, Hàng Đồng, Phùng Hưng Đây là lưu vực quan trọng nhất của thành phố

Khu này có cống chính 2 tuyến song song trên phố Lò Đúc Tới năm 1938 Hà Nội cũ với diện tích 1008 ha, có 52,23 km cống ngầm trong đó 13,05 km cống chính

và 39,18 km cống nhánh cấp I và cấp II ở đây quy ước cống chính có đường kính tương đương trên 1,25m, cống nhánh cấp II có đường kính tương đương từ 0,7 m đến 1,0 m; cống nhánh cấp I có đường kính tương đương từ 0,6 m trở xuống

Thực tế hệ thống cống ngầm Hà Nội bao gồm nhiều loại cống có tiết diện khác nhau: tròn, vuông, chữ nhật, hình thang, vòm, hình trứng ngược Cống đặt nông(

đỉnh cống cách mặt đường 0,2- 0,3 m Độ dốc đáy cống nhỏ I=0,0005- 0,001

Hình 1.1 biểu thị hiện trạng cống chính thoát nước Hà Nội từ khi xây dựng tới

1938 và thực tế cả đến 1990, mặc dầu sau đó có xây dựng thêm

Trang 19

1.2.3 Dự án thoát nước Hà Nội do L.Fayet đề xuất năm 1938-1939:

(Hoàn thành tháng 9- 1938 và công bố tháng 4 năm 1939 và được thể hiện ở các

hình 1.2, 1.3, 1.4.)

1.2.3.1.Mục tiêu và nội dung dự án

Tháng 9 năm 1938 kỹ sư L Fayet- người Pháp, là Giám đốc Sở công trình Thị Chính Hà Nội lúc đó, đã thiết lập và hoàn thành dự án thoát nước cho Hà Nội /4/

Dự án được đề ra với quy mô dân số từ 15 vạn người phát triển thành 24 vạn người trên diện tích giữ nguyên 1008 ha Tương ứng với nhu cầu dùng nước từ 15.000m3/ngđ lên 23.000 m3/ngđ sau 30 năm

Trước khi mô tả chi tiết dự án, cần lưu ý rằng, tên các đường phố đều được lấy theo hiện nay, ở thời điểm lập dự án năm 1938 có tên khác

Về thoát nước, trên cơ sở phân tích hiện trạng tại thời điểm 1938, tác giả L.Fayet

đi đến kết luận về đánh giá hiện trạng thoát nước Hà Nội thời kỳ đó như sau :

Tất cả các cống hiện có của Hà Nội lúc đó (1938) đều không đủ khả năng tiêu thoát

Từ kết quả phân tích đánh giá như trên, L Fayet kiến nghị chia nhỏ 5 khu vực hiện có thành 11 lưu vực

Bảng 1.5. Phân bố mật độ dân cư theo các khu vực

TT Khu vực

Diện tích khu vực ( ha)

Mật độ hiện có (ng/ha)

Dân số hịên có (ng)

Mật độ dự kiến (ng/ha)

Dân số Dự kiến (ng)

• Về thoát nước mưa: Thực chất đề án của L.Fayet là (hình 1.3):

+ Chia lưu vực Lò Đúc là lưu vực quan trọng nhất thành 4 lưu vực nhỏ 1, 2, 3, 4

Đồng thời xây dựng đặt thêm các cống chính bổ sung như sau:

- Kéo dài thêm 2 cống Lò Đúc đã có tới cửa xả mới

- Kéo dài thêm cống kép phố Trần Thánh Tông để gặp 2 cống Lò Đúc trên tại cửa xả mới, xả ra sông Kim Ngưu cũ Thêm cống mới Trần Khánh Dư- Làng Yên

- Đặt thêm hai cống chính song song trên phố Huế, nối thêm cống Trần Hưng

Đạo- Bà Triệu( Từ ngã tư Trần Hưng Đạo đến Lê Thái Tổ- Hàng Khay), thêm cống trên phố Lê

Trang 20

H×nh 1.1. HiÖn tr¹ng c¸c cèng chÝnh tho¸t n−íc Hµ Néi tr−íc n¨m 1938

theo Fayet

Trang 21

Thái Tổ song song cống cũ đã có, đặt 2 cống mới song song trên phố Hàng

Ngang, Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Giấy, Đồng Xuân

- Thêm cống Hai Bà Trưng( Từ ngã tư với cống Bà Triệu), Triệu Quốc Đạt, Phủ

Doãn, Đường Thành, Hàng Bông

Bảng 1.6. Tổng chiều dài đường cống thoát nước và đánh giá của L.Fayet về

khả năng thoát nước của 5 lưu vực thoát nước nội thành Hà Nội tới năm 1938

Chiều dài cống (m)

TT Tên lưu vực Diện

tích(ha) Nhánh Cấp II Chính

Yêu cầu thoát

Khả năng thoát

Ghi chú: - Lưu vực Phan Đình Phùng xả theo 3 cửa: môt cửa ra Hồ Tây tại vườn ươm và hai cửa ra

hồ Trúc Bạch theo phố Đặng Dung và Nguyễn Biểu

/s và đều chỉ có một cửa xả duy nhất tương ứng là ( Trừ 2 lưu vực môt và 2):

- Cống Trịnh Hoài Đức ra mương Thịnh Hào

- Trần Bình Trọng và Bà Triệu xả ra qua cửa cống Bà Triệu

- Cống Lò Đúc ra sông Kim Ngưu như ngày nay

Tổng cộng phải đặt thêm 13.158 km cống chính, 54.846 km cống nhánh cấp II

và I Tổng kinh phí cống chính là 1.3 triệu Francs và cống nhánh là 1.2 triệu Francs

thời đó

Kết quả chắc là sẽ tiêu thoát nước mưa một cách nhanh chóng khỏi phạm vi

thành phố và không gây úng ngập các khu phố như ngày nay!

Nếu dự án thoát nước mưa - xây dựng cống ngầm của L.Fayet được thực hiện

trọn vẹn thì tổng chiều dài cống ngầm trong nội thành cũ 1008 ha của Hà Nội sẽ là:

52,23+ 13,158 + 54,846= 120,234 km

B- Hệ thống thoát nước bẩn (hình 1.3):

- Cải thiện chế độ dòng chảy về mùa khô ở các đường ống thoát nước mưa bằng

cách đặt các thiết bị thu hẹp tức thời trên đường cống, hoặc các thiết bị tẩy rửa trên

đường cống về mùa khô để chống lắng cặn

- Xây dựng hệ thống thoát nước bẩn riêng ở những khu vực người Việt với mật

độ xây dựng đậm đặc trên diện tích 569 ha với số dân khoảng 16 vạn người

- Sau khi ra khỏi mạng lưới riêng ở các khu vực trên, nước thải sẽ được thu vào

một đường cống chính đặt ở biên giới từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam thành phố

Cống này có chức năng thu nước bẩn ở các khu người Việt, nước sau bể tự hoại từ

khu người Âu và nước mưa đợt đầu của toàn thành phố Chiều dài cống bao chung

này khoảng 7.3 km

Trang 22

- Với chiều sâu đặt ống khống chế không quá 4 m, với khu vực người Việt cần

đặt khoảng 45-50 km đường cống nước bẩn và 18 trạm bơm trung chuyển

- Sau khi ra cống bao chung nước bẩn và nước mưa đợt đầu được trạm bơm chính bơm lên trạm xử lý với đường ống có áp dài khoảng 2 km

Tất cả các hạng mục công trình về thoát nước bẩn đều không được thực hiện

* Về xử lý nước bẩn (nước thải sinh hoạt và nước mưa đợt đầu):

Nguồn nước, nơi tiếp nhận nước thải chủ yếu là sông Nhuệ, L.Fayet đề nghị thêm phương án thoát tiêu ra sông Hồng

ƒ Sông Hồng có lưu lượng lớn, mực nước dao động nhiều, khả năng pha loãng lớn cho nên chỉ cẩn xử lý cơ học sơ bộ rồi xả nước sau xử lý ra sông này

ƒ Sông Nhuệ hiện vẫn sử dụng làm nơi tiếp nhận nước thải Để đảm bảo vệ sinh thì mức độ xử lý phải cao hơn Lưu lượng min của nước sông Nhuệ là 26.2 m3/ s

ƒ Sau khi chọn các phương án công nghệ, tính toán so sánh kinh tế kỹ thuật, tác giả quyết định chọn phương án xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học và xả ra sông Hồng Có xử lý cặn

Lưu lượng nước thải và nước mưa đợt đầu ra trạm xử lý là 35.000 m3/ngđ, trong

đó nước mưa đợt đầu là 11.200 m3/ngđ được chọn và tính trên cơ sở là ứng với trận mưa 2 mm/h hay 3.3 l/s.ha

Như vậy thời gian và cao độ bơm nước ra sông Hồng là:

6 ngày phải bơm lên cao trên cốt : +11 m

12 ngày phải bơm lên cao trên cốt : +10 m

347 ngày phải bơm lên cao trên cốt : + 9 m

1.2.3.2 Nhận xét chung về đề án thoát nước của L.Fayet

Nhìn tổng thể với bối cảnh nội thành cũ của Hà Nội thời kỳ đó ta thấy đề án của L.Fayet đã được nghiên cứu một cách khá hoàn chỉnh và hợp lý:

Trang 23

H×nh 1.2. M¹ng l−íi tho¸t n−íc m−a theo kiÕn nghÞ cña L Fayet

Trang 24

H×nh 1,3. HÖ thèng tho¸t n−íc riªng- M¹ng l−íi tho¸t n−íc bÈn vµ xö lý n−íc bÈn

theo L.Fayet

Trang 25

Hinh 1.4. C¸c s«ng m−¬ng hiÖn cã vµ ®−îc thiÕt kÕ theo dù ¸n cña Fayet

Trang 26

- Cải thiện mạng lưới thoát nước mưa tự chảy hết ra sông Nhuệ, xây dựng thêm 13.15 km đường cống chính và 54-55 km cống nhánh Lý do phải xây dựng thêm là cống hiện có không đủ khả năng thoát nước mưa, gây úng ngập

- Xây dựng thêm mạng lưới thoát nước bẩn riêng trên phần lớn diện tích nội thành với khoảng 45-50 km cống ngầm, 18 trạm bơm trung chuyển, 1 trạm bơm chính thoát nước bẩn và nước mưa đợt đầu, một đường cống bao thoát nước nửa riêng để thu nước bẩn ở khu người Việt, nước sau bể tự hoại ở khu người Âu và nước mưa đợt đầu trên diện tích toàn nội thành cũ Xây dựng trạm xử lý nước bẩn với công suất 35000 m3/ngđ đặt ở làng Lương Yên gần đê ở cốt 9m và xả ra sông Hồng Công nghệ trạm xử lý là các công trình: lắng cát, lắng li tâm, xử lý cặn ở bể mêtan thu hồi khí đốt, làm khô cặn đóng bánh sử dụng làm phân bón

- Đề án phục vụ cho giai đoạn phát triển 30 năm của thành phố, từ 15 vạn người

đến 24 vạn trên diện tích 1008 ha Thời gian thực hiện thi công xây dựng là 6 năm

với tổng chi phí khoảng 7.23 triệu Francs thời đó

1.2.3.3 Đánh giá tình hình thực tế thực hiện theo đề án của L.Fayet

Như trên đã nói nếu đề án thoát nước của L.Fayet được thực hiện trọn vẹn, hoặc

ít ra thực hiện được phần xây dựng bổ sung thêm cống ngầm thoát nước mưa thì tình hình sẽ khả quan biết bao!Tiếc thay thực tế thực hiện còn quá ít so với yêu cầu

* Về mạng lưới cống ngầm thoát nước mưa:

- Nếu chỉ xét theo chiều dài thì cống chính có xây dựng được ở lưu vực 2 tức là lưu vực phố 336, 337 do ta xây dựng từ sau 1954, nhưng tiết diện lại không đạt yêu cầu Còn lại tất cả các cống chính rất quan trọng thì đều không được thực hiện một chút nào

- Các cống có thực hiện được một phần là: kéo dài cống Trần Bình Trọng, cống Quang Trung và một số cống Mai Hắc Đế, Bùi Thị Xuân, Triệu Việt Vương

- Một số cống nhánh phụ được xây dựng nhưng không đáng kể so với yêu cầu Nếu đơn thuần theo chiều dài thì thực hiện được khoảng hơn 13 km trong tổng số 68.004 km cần thêm, tức khoảng 19%

* Về kênh mương hở thoát nước: Cơ bản là thực hiện được , chỉ có một ít sai khác về vị trí một số mương Ngoài ra từ sau ngày giải phóng thủ đô 1954 ta còn khai thêm đoạn sông Kim Ngưu mới từ cửa cống Lò Đúc tới đền Lừ 2.84 km Năm 1988- 1990 ta đã đào sông mới từ Thanh Xuân Mễ Trì đến Mai Dịch theo đề án của Viện Thiết kế Quy hoạch Xây dựng Hà Nội /12/ dài 7.880m, theo đề án của L.Fayet cũng đã khai thông được đoạn nối sông Tô Lịch với sông Nhuệ tại Thanh Liệt dài 700 m

* Về mạng lưới thoát nước bẩn và xử lý nước thải, xây dựng cống bao:

Hoàn toàn không thực hiện, ngoài việc dần dần thay thế xí thùng bằng xí hai ngăn và bể tự hoại Ngày nay cả xí thùng lẫn xí hai ngăn đều dần dần được thay thế bằng bể tự hoại

Trang 27

1.2.4 Các đề án nghiên cứu về thoát nước Hà Nội từ sau 1954 đến 1990

- Đề án của chuyên gia Liên Xô Kirin S.I

Năm 1962 Kirin và Nađưxep trong đoàn chuyên gia Liên Xô sang Việt Nam giúp

về quy hoạch thành phố Hà Nội Các tác giả đã đề ra phương án cải tạo hệ thống thoát nước Hà Nội

- Đề án của viện nghiên cứu và thiết kế quy hoạch Lêningrat

Từ năm 1974 đến 1981 Rômanuc và Tikhônin đã nghiên cứu đề xuất các giải pháp về chuẩn bị đất đai, san nền thoát nước mưa, nước bẩn, chất thải rắn

Mặc dầu đề án quy hoạch tổng thể trong đó có thoát nước, đã được nhà nước ta duyệt chính thức năm 1981 nhưng qua nhiều năm thực tế không thể thực hiện được chủ yếu do khả năng đầu tư kinh tế của Hà Nội cũng như của nước ta

- Phương án điều chỉnh quy hoạch thoát nước của Việt Nam

Năm 1985 Viện thiết kế Quy hoạch xây dựng Hà Nội và Viện Quy hoạch xây dựng Tổng hợp Bộ Xây dựng, tiếp đó năm 1988, Viện Thiết kế Quy hoạch Xây dựng

Hà Nội đã nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch chung và quy hoạch thoát nước mưa của

Hà Nội cho phù hợp với điều kiện thực tế Hà Nội về kinh tế cũng như về Kỹ thuật Phương án này cũng không được thực thi Chỉ đào mới một số trục tiêu nước chính, một số hồ Nhưng sau đó lại bỏ đi như đoạn sông Mới nay thành đường Lê Văn Lương, Hồ Mễ Trì thành bãi chôn lấp Mễ Trì

1.2.5 Một số kết luận rút ra qua nghiên cứu các đề án

Mặc dụ có sự khác nhau về những chi tiết, không gian quy mô và thời gian qua các giai đoạn lịch sử, nhưng đều thống nhất một số vấn đề chủ yếu sau:

- Hệ thống thoát nước tương lai của Hà Nội là hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn

- Nguồn nước, nơi tiếp nhận nước mưa, nước thải về mùa mưa chủ yếu phải là sông Hồng Tuy nhiên vẫn phải xả nước mùa khô và một phần nước mưa với số lớn thời gian trong năm ra sông Nhuệ

- Cần phải có các hồ điều hoà và mạng lưới kênh mương hở trong thành phố để

điều hoà và tiêu nước Năm 1990-1991 đã đào sông mới từ Thanh Xuân- Mễ Trì đi Mai Dịch, một số hồ như hồ Nghĩa Đô, khai sâu hồ Đống Đa, Thanh Nhàn

- Cần xây dựng trạm xử lý nước thải, dù là xử lý sơ bộ bằng phương pháp cơ học phía Yên Duyên- Yên Sở và bơm nước ra sông Hồng

- Phải giải quyết úng ngập cục bộ cho thành phố, nhất là khu vực nội thành cũ và những khu vực quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hoá

- Phải dần dần thay thế xí thùng, xí hai ngăn bằng các bể tự hoại, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong các khu dân cư đông đúc nội thành

Trang 28

1.2.6 Tình hình úng ngập ở thành phố Hà Nội

Nhiều trận mưa, thậm chí với cường độ 50 mm/h đã gây ngập ở nhiều khu vực

Điển hình trong vòng hơn 20 năm lại đây, trận mưa ngày 20-21 tháng 11 năm 1984 với lượng mưa 614,4 mm gây úng ngập ở nhiều vùng, trong đó ở khu Kim Liên ngập 1m trong 3 ngày Năm 1985 ngành Khí tượng Thuỷ văn Trung ương và Hà Nội đã tập trung khảo sát phục hồi hiện trạng úng ngập ở 50 điểm nội thành và phân vùng

úng ngập thành 16 vùng Kết quả được thể hiện ở hình 1.5 là bản đồ ngập lụt năm

1.3.1.1 Sự phân chia các lưu vực thoát nước mưa

Khu vực nghiên cứu có diện tích 135,4 km2, nằm ở lưu vực thượng lưu phía Đông

sông Nhuệ Toàn bộ khu vực này được chia thành 2 lưu vực thoát nước chính :

a Lưu vực sông Tô lịch

Lưu vực sông Tô lịch diện tích 77,5 km2, bao gồm trung tâm Hà Nội và khu vực ngoại ô Nước thải chảy thẳng ra sông Nhuệ qua đập Thanh Liệt Lưu vực sông Tô Lịch được chia thành 7 tiểu lưu vực như sau:

1 Tiểu lưu vực Hồ Tây diện tích 9,3 km2;

2 Tiểu lưu vực thượng lưu sông Lừ diện tích 5,87 km2;

3 Tiểu ưu vực hạ lưu sông Lừ diện tích 4,33 km2;

4 Tiểu lưu vực sông Kim Ngưu diện tích 17,3 km2;

5 Tiểu lưu vực sông Sét diện tích 7,1 km2;

6 Lưu vực Hoàng Liệt diện tích 8,1 km2;

7 Lưu vực Yên Sở diện tích 5,5 km2

Trong các lưu vực thoát nước nhỏ này có các tiểu lưu vực, phần lớn được thoát nước theo hệ thống cống chung Một số khu vực độc lập có hệ thống thoát nước hỗn hợp với một phần thoát nước riêng và một phần thoát nước chung như khu Kim Liên, Bách Khoa

b Lưu vực sông Nhuệ

Lưu vực Sông Nhuệ có diện tích 57,9 km2 với 4 tiểu lưu vực là :

1 Tiểu lưu vực Cổ Nhuế diện tích 19,7 km2;

2 Tiểu lưu vực Mỹ Đình diện tích 13,6 km2;

3 Tiểu lưu vực Mễ Trì diện tích 14,7 km2;

4 Tiểu lưu vực Ba Xã diện tích 9,9 km2

Trang 29

Sơ đồ hệ thống sông mương hồ và phân chia lưu vực thoát nước Hà Nội nêu trên hình 1.6 và 1.7

1.3.1.2 Hệ thống truyền dẫn

Các sông mương nội thành và ngoại thành phía Nam, Tây Nam đóng vai trò chủ yếu là tiêu thoát nước mưa, nước thải cho nội thành Hà Nội Chiều sâu trung bình các kênh, mương hở là 1-2m, chiều rộng trung bình từ 6 đến 8 m Tổng chiều dài các kênh mương

hở là 29,7 km với sức chứa khoảng 423.000 m3 Những kênh mương hở này nối với hệ thống cống ngầm và ao hồ Trong lưu vực sông Tô lịch các kênh mương hở tạo nên 4 lưu vực nhánh theo 4 con sông thoát nước chính, đó là;

Hình 1.5. Bản đồ úng ngập năm 1989

Trang 30

- Sông Tô lịch dài 14,6 km, rộng trung bình 40 -45 m, sâu 3-4 m, bắt nguồn từ cống Phan Đình Phùng, chảy qua địa phận Từ Liêm, Thanh Trì qua đập Thanh Liệt

và đổ vào sông Nhuệ Đoạn cuối sông Tô Lịch đảm nhận toàn bộ nước thải của thành phố

- Sông Lừ (sông Nam Đồng) dài 5,6 km, rộng trung bình 30m, sâu 2-3m.nhận nước thải nước mưa từ các cống Trịnh Hoài Đức, cống Trắng (Khâm Thiên) chảy qua Trung Tự về đường Trường Chinh và đổ ra sông Tô Lịch

- Sông Sét dài 5,9 km rộng 10-30m, sâu 3-4 m bắt nguồn từ cống Bà Triệu, hồ

Bảy Mẫu rồi đổ ra sông Kim Ngưu ở Giáp Nhị

- Sông Kim Ngưu dài 11,8 km rộng 20 -30m , sâu 3-4m, bắt nguồn từ điểm xả cống Lò Đúc Sông Kim Ngưu gặp sông Tô Lịch tại Thanh Liệt

Lượng bùn lắng lại trên các con sông thoát nước hàng năm như sau :

- Sông Tô lịch : 46.000 m3, Sông Lừ : 18.000 m3, Sông Sét : 7.000 m3, Sông Kim Ngưu: 21.000 m3, tổng cộng : 92.000 m 3

1.3.1.3 Hệ thống tiêu và xả nước

Các loại nước thải và nước mưa Hà Nội chủ yếu xả ra sông Nhuệ, vào các cánh

đồng nông nghiệp hoặc nuôi cá ở các huyện Từ liêm và Thanh trì

Việc quản lý hệ thống tiêu xả nước còn gặp khó khăn do các mục đích sử dụng khác nhau và mâu thuẫn với nhau

Sông Nhuệ , nguồn tiếp nhận nước mưa, nước thải Hà Nội, là nguồn cấp nước và tiêu nước cho 107.000 ha đồng ruộng 3 tỉnh Hà Nội, Hà tây và Hà nam

1.3.1.4 Phân chia lưu vực thoát nước bẩn thành phố Hà Nội

Các lưu vực thoát nước hiện có sẽ được bảo tồn để giảm đến mực tối thiểu tác

động đối với môi trường do việc phát triển hệ thống thoát nước gây ra Hình 1.8 biểu thị sự phân chia các lưu vực thoát nước bẩn thành phố Hà Nội

- Do không có hệ thống xử lý nước thải nên gây ô nhiễm nặng về môi trường Các thông số BOD ở sông, mương, hồ ao đều từ 40 đến 100mg/l, vượt quá chỉ số cho phép 15mg/l

Những cống ngầm và nhất là những kênh mương hở bị ô nhiễm nặng Tổng

cộng có tới 150 - 160 ngàn m 3 bùn cặn lắng đọng hàng năm Về mùa khô vận tốc dòng chảy trong cống và kênh mương rất nhỏ khoảng 0,05 – 0,1 m/s

1.3.2 Dự án thoát nước do JICA thiết lập và được Chính phủ phê duyệt năm

1994

1.3.2.1 Dự án thoát nước Hà Nội (Phía hữu ngạn sông Hồng)

Mục tiêu chủ yếu của dự án là nhằm kiểm soát được tình hình úng ngập của thủ đô, làm sạch nước thải, cải thiện môi trường sống trong khu vực được nghiên cứu của Hà Nội

Trang 31

H×nh 1.6. HÖ thèng s«ng hå vµ ph©n chia c¸c lưu vùc tho¸t nưíc mưa

thµnh phè Hµ Néi

Trang 32

1.3.2.2 Nội dung chính của dự án

1 Phạm vi nghiên cứu của dự án : Bao gồm khu vực trung tâm đã được đô thị

hoá của Hà Nội được bao bọc bởi sông Hồng ở phía bắc và đông sông Nhuệ và Tô lịch cũ phía nam trên diện tích 135 km2

2 Nội dung các giải pháp của dự án

Các giải pháp được đưa ra trên cơ sở phân tích, tính toán lựa chọn các phương án tối ưu về kinh tế và kỹ thuật và các điều kiện khác Về nguyên tắc, hệ thống thoát nước được hia thành :

- Hệ thống thoát nước mưa (không qua xử lý, xả thẳng ra nguồn tiếp nhận)

- Hệ thống thoát nước thải (dẫn về trạm xử lý tập trung hay cục bộ trước khi xả ra nguồn)

- Hệ thống cống chung sử dụng các giếng tách nước (xử lý một phần)

* Quy hoạch thoát nước mưa

a) Lưu vực thoát nước Tô lịch

Toàn bộ hệ thống thoát nước của lưu vực sông Tô lịch sẽ phải đảm nhận việc tiêu thoát cho 4 quận nội thành và một phần của 2 huyện Từ liêm, Thanh trì Hệ thống này bao gồm mạng lưới cống thành phố, mạng lưới mương thoát nước đổ vào 4 con sông Tô lịch, Lừ, Sét, Kim ngưu

Để kiểm soát được úng ngập của lưu vực này đặt trạm bơm tại Yên Sở công suất 90m3/s theo tính toán Ngoài ra còn hệ thống hồ điều hoà, chủ yếu là hồ Yên Sở,

Định công, Linh đàm với sức chứa 5,19 triệu m3 Toàn bộ hệ thống sau này khi thi công xong sẽ đảm bảo việc tiêu thoát cho Hà Nội ứng với chu kỳ ngập lụt P=10 năm Các số liệu ghi cụ thể ở bảng 1.7

b) Lưu vực thoát nước sông Nhuệ

Chủ yếu nằm dọc theo bờ trái của sông Nhuệ và là khu vực mới, chia làm 4 lưu vực nhỏ Bình thường nước ở các lưu vực này tự chảy vào sông Nhuệ Khi có lũ, mực nước cao dùng bơm cưỡng bức đưa nước vào sông Nhuệ Hệ thống điều hoà trong khu vực này khống chế lượng nước xả vào sông Nhuệ không vượt quá 0,6 m3/s/km Trong 4 lưu vực nhỏ trên bố trí 4 hồ điều hoà và trạm bơm : Cổ nhuế, Mỹ đình, Mễ Trì và Ba Xã

Nội dung chủ yếu của lưu vực sông Nhuệ ghi ở bảng 1.8

Trang 33

Bảng 1.7. Các hạng mục công trình chủ yếu về quy hoạch thoát nước mưa

Hà Nội - Lưu vực sông Tô Lịch

TT Hạng mục công trình Đặc trưng kỹ thuật và quy định

2 Hồ điều hoà Yên Sở 3,87 triệu m3 , diện tích mặt nước

130 ha, diện tích chung 203 ha

Nạo vét Giảng Võ, Đống Đa, Thanh nhàn

1, Thanh nhàn 2,Thiền Quang, Thành

1.3.2.3 Ước toán kinh phí sau khi thực hiện toàn bộ dự án

Tổng kinh phí thực hiện toàn bộ dự án : 1,162 tỷ USD

Trong đó : quy hoạch thoát nước mưa : 524 triệu USD

quy hoạch thoát nước thải : 638 triệu USD

Trang 34

H×nh 1.7. C¸c lưu vùc tho¸t nưíc bÈn thµnh phè Hµ Néi

Trang 35

B¶ng 1.8. C¸c h¹ng môc c«ng tr×nh chñ yÕu vÒ quy ho¹ch tho¸t nưíc mưa

Hµ Néi - Lưu vùc s«ng NhuÖ

Lưu vùc T

Trong phÇn c¶i t¹o mư¬ng tho¸t nưíc gåm cã c¶i t¹o 92 cÇu cèng qua mư¬ng

B¶ng 1.9. §Æc trưng c¸c lưu vùc tho¸t nưíc th¶i vµ quy m« c¸c tr¹m xö lý

nưíc th¶i (xem h×nh 1.7)

TT Lưu vùc DiÖn tÝch

(ha) D©n sè 2010

Lưîng nưíc th¶i (m3/ngµy)

Quy m« tr¹m xö lý nưíc th¶i

cèng (km)

GiÕng t¸ch nưíc (c¸i)

Tr¹m b¬m (tr¹m)

DiÖn tÝch TXL (ha)

DtÝch s©n ph¬i bïn (ha)

Trang 36

1.3.3 Dự án ưu tiên thoát nước Hà Nội giai đoạn 1 (1995-2000)

1.3.3.1 Dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn 1 (1995-2000) là dự án ưu tiên thực

hiện trong dự án tổng thể đến năm 2010 Kinh phí giai đoạn này 200 triệu USD Do thủ tục chậm nên phải chuyển dịch thành 1996-2004)

1.3.3.2 Địa điểm xây dựng tại các quận Ba đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Hoàn

Kiếm, một phần quận Tây hồ, huyện Thanh trì, huyện Từ liêm thuộc lưu vực sông Tô

lịch với quy mô sử dụng đất khoảng 357 ha

1.3.3.3 Mục tiêu chính của dự án

+ Giải quyết tình trạng úng ngập do nước mưa với điều kiện chu kỳ bảo vệ hai năm, lượng mưa 172 mm/2 ngày

+ Cải thiện hệ thống thoát nước trong khu vực thành phố giảm bớt úng ngập và thiệt hại

+ Cải thiện môi trường sống của thành phố, đặc biệt vệ sinh môi trường

+ Thử nghiệm biện pháp xử lý nước thải ở khu vực Kim liên, Trúc bạch để thực hiện dự án xử lý nước thải toàn vùng trong giai đoạn sau năm 2000 với điều kiện phù hợp của Thành phố Hà Nội

+ Đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ, công nhân kỹ thuật, đổi mới quản lý tốt

hệ thống thoát nước Hà Nội

1.3.3.4 Xây dựng các hạng mục công trình thoát nước chủ yếu nhằm mục đích

giảm sự xuất hiện của úng ngập thành phố như mô tả ở bảng 1.7, 1.8

1.3.3.5 Tình hình thực thi dự án ưu tiên giai đoạn 1

Giai đoan 1 theo dự kiến thực thi từ năm 1995 - 2000 Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân về thủ tuc giữa hai quốc gia, việc giải phóng mặt bằng cho nên bị chậm Các hạng mục công trình đã cơ bản được thực hiện theo 14 gói thầu (CP) được tóm tắt ở bảng 3.11 Trạm xử lý nước thải Trúc Bạch công suất 2300 m3/ngđ, trạm

xử lý nước thải Kim liên công suất 3400 m3/ngđ Hai trạm này đã khánh thành, đưa vào hoạt động và bàn giao cho Công Ty Thoát nước Hà Nội quản lý vận hành từ 31-8-2005 nhân dịp kỹ niệm Quốc Khành 2-9-2005

Tới cuối năm 2005 thì hoàn tất Năm 2005-2006 Hà Nội đã thực hiện cống hóa mương Hoàng Cầu từ đường La Thành đến Gò Đống Đa và đoạn sông Sét từ công Nam Khang đến Đại La

1.4 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước mặt thành phố Hà Nội

1.4.1 Các nguồn ô nhiễm do nước thải

1.4.1.1 Nước thải sinh hoạt, công nghiệp và bệnh viện

Nước thải sinh hoạt chủ yếu từ các khu dân cư khu vực nội thành Hà Nội với số dân hiện nay khoảng gần 2 triệu người Tổng lượng nước thải sinh hoạt của khoảng 2.000.000 người dân nội thành Hà Nội năm 2005 là 300.000m3/ng.đ Nếu kể cả nước

Trang 37

thải sản xuất khoảng 90.000 -100.000 m/ngđ, thì lượng nước thải sẽ khoảng 400.000

m3/ngđ, trong đó bên hữu ngạn sông Hồng, trên lưu vực sông Tô Lịch sẽ khoảng 350.000 m3/ngđ Lượng nước thải này xả vào các con sông như sau:

Sông Tô lịch : 95.000 - 100.000 m3/ng.đ; Sông Sét : 60.000 - 65.000 m3/ng.đ Sông Kim ngưu: 75.000 - 80.000 m3/ng.đ; Sông Lừ : 45.000 - 50.000 m3/ng.đ

Nước thải sinh hoạt phần lớn được qua xử lý sơ bộ tại các bể tự hoại, sau đấy xả

vào các tuyến cống chung hoặc kênh mương, ao hồ

Bảng 1.11 thể hiện sự biến động về lưu lượng và tải lượng ô nhiễm do nước thải

sinh hoạt và công nghiệp của thành phố Hà Nội

Nước thải công nghiệp

Bảng 1.12 minh họa một số kết quả khảo sát về nước thải công nghiệp do Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu Công nghiệp thực hiện trong những năm

2001 - 2002 trong khuôn khổ dự án hợp tác với Nhật Bản

- Trên cơ sở các số liệu báo cáo của từng nhà máy, xí nghiệp, đồng thời kết hợp

điều tra thực địa tại một số nhà máy xí nghiệp điển hình Kết quả cho thấy :

- Trong số 31 xí nghiệp Thực phẩm chỏ có 4 cơ sở có trạm xử lý nước thải

(13%);

Trang 38

Hình 1.8. Các hạng mục công trình chính của Dự án Thoát nước Hà Nội

Ghi chú : Lưu vực 1 và 7 là các trạm xử lý cục bộ, kinh phí do các chủ bất động sản chịu, nước thải sau khi

làm sạch xả vào cống thoát nước mưa và sông mương nên trong lưu vực không có cống nước thải trong thành phố

Trang 39

Bảng 1.11. Hiện trạng và dự báo lượng nước thải và tải lượng ô nhiễm do nước

thải sinh hoạt và công nghiệp ở Hà Nội

Ghi chú: Đơn vị tính: Lượng nước thải :1000m3/ngđ; Chất lơ lửng và BOD : T/ngđ

Nguồn Quy hoạch môi trường đồng bằng sông Hồng

Bảng 1.12. Các chất gây ô nhiễm thải ra từ các doanh nghiệp chế biến thực

phẩm được khảo sát

Các chất gây ô nhiễm (kg/ngày)

Lưu lượng

*Kết quảkhảo sát các xí nghiệp công nghiệp Thực phẩm tại Hà Nội 2001-2002

Trong số 4 cơ sở này chỉ có 2 cở sở vận hành và đạt chất lượng theo yêu cầu

- Trong số 17 xí nghiệp dệt nhuộm, có 4 cơ sở có trạm xử lý nước thảo (24%) Trong số

4 cơ sở này cũng chỏ có 2 cơ sở vận hành đạt chất lượng yêu cầu

Đối với các khu công nghiệp mới

- Cho tới nay trong số 5 khu công nghiệp mới, chỉ 2 KCN có trạm xử lý nước thải tập

trung Đó là các trạm xử lý nước thải tại KCN Bắc Thăng Long, KCN Nội Bài 3KCN còn

lại vẫn chưa có trạm xử lý nước thải tập trung Tại KCN Sài Đồng chỉ có trạm xử lý nước

thải ở nhà máy bóng đèn hình công suất 800 m3/ngđ

Khu công nghiệp Bắc Thăng Long:

- Hệ thống thoát nước mưa : Nước mưa được thu gom vào mạng lưới cống và chảy ra

kênh Việt Thắng Trong KCN có hồ điều hoà để điều hoà nước mưa trước khi tiêu qua kênh

Việt Thắng

- Hệ thống thoát nước bẩn: Nước thải từ các nhà máy xí nghiệp được thu gom và dẫn

theo mạng lưới cống ngầm về trạm xử lý nước thải tập trung với công suất

2.000 m3/ngđ KCN dự kiến sẽ mở rộng trạm xử lý nước thải tăng công suất lên 7.550

m3/ngđ

Trang 40

Khu xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp được đặt tại khu vực phía Tây của khu công nghiệp, khối lượng nước thải được tính toán như sau:

Công suất của trạm xử lý: 2 000 m3/ngày

Tổng diện tích của trạm: 1,3 ha

Chất lượng của nước thải sau khi được xử lý như sau:

Hàm lượng chất lơ lửng: 40-80 mg/l, COD: 50-100 mg/l, BOD5: 20-50 mg/l

- Trạm xử lý nước thải tập trung của khu đô thị Bắc Thăng Long- Vân Trì đã xây dựng xong vào năm 2005 (dự án do JICA tài trợ) Công suất thiết kế của trạm xử lý này là 38.000 m3/ ngày đêm Trạm xử lý này giáp phía Tây mương trên trạm bơm Phương Trạch với diện tích 6 ha, tuyến ống chính có D300- 500mm

Tương lai, dự kiến toàn bộ nước thải của Khu công nghiệp Bắc Thăng Long sẽ

được dẫn từ hệ thống cống thải chung của Khu công nghiệp qua trạm bơm, công suất thiết kế là 12,5 m3/phút/ 1 bơm, với 3 bơm hoạt động luân phiên nhau đưa nước về trạm xử lý tập trung của khu đô thị

Khu công nghiệp Nội Bài

Hiện nay khu công nghiệp Nội Bài, tỷ lệ lấp đầy còn rất khiêm tốn, mới chỉ đạt khoảng 15-20% diện tích Tuy nhiên khu công nghiệp đã đầu tư xây dưng và vận hành trạm xử lý nước thải quy mô 1000-1500m3/ngđ Công nghệ xử lý nước thải gồm: Song chắn, bể lắng cát, bể lắng đứng đợt một, bể lọc sinh học với dàn phun, bể lắng hai và khử trùng trước khi xả ra mương tiếp nhận

Khu công nghiệp Sài đồng

Trong KCN Sài Đồng có khoảng 30 đơn vị, xí nghiệp, nhưng chỉ có trạm xử lý nước thải nhà máy bòng đèn hình Orrion Hanel công suất 800 m3/ngđ Công nghệ

xử lý nước thải là hóa học với loại bỏ kim loại nặng

Nhận xét chung về hiện trạng xử lý nước thải công nghiệp và mức độ ô nhiễm

- ở các khu công nghiệp cũ xây dựng trước khi có Luật Bảo vệ Môi trường, hầu hết các nhà máy đều sử dụng nước và thải trực tiếp vào các sông, hồ không qua xử

lý Nước thải sinh hoạt thành phố, đô thị cũng được xả trực tiếp vào hệ thống sông mương, dẫn đến tình trạng ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng môi trường nước tại những kênh mương, sông nội thành

- Trong số các doanh nghiệp đã khảo sát, tới 90% số doanh nghiệp không đạt yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng dòng xả nước thải xả ra môi trường

Đối với các KCN mới do có luật Bảo vệ Môi trường nên có tích cực hơn trong việc đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung

Nước thải bệnh viện

Khối lượng nước thải bệnh viện ở Hà Nội

Ngày đăng: 27/05/2014, 20:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6.000 17.000 Cụm đô thị Sóc Sơn, Xuân Hoà, Phúc Yên 1.500 7.500Đô thị vệ tình (Bắc Ninh, Từ Sơn, Nh− Quỳnh, Phố Nối, Th−ờng Tín, Phú X−yên)2.500 6.500- 12.000Nguồn “Điều chỉnh QH của Thủ Đô đến năm 2020” - Văn phòng KTST Thành phố –1998.Theo đồ án Điều chỉnh qui hoạch chung Thủ Đô Hà Nội đến năm 2020 đã đ−ợc Thủ tướng chính phủ phê duyệt thì nhu cầu đất đô thị của Hà Nội cần tới 25.000ha.Các đô thị khác trong chùm đô thị Hà Nội cần tới 56.000ha Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị vệ tình (Bắc Ninh, Từ Sơn, Nh− Quỳnh, Phố Nối, Th−ờng Tín, Phú X−yên) "2.500 6.500-12.000 "Nguồn “Điều chỉnh QH của Thủ Đô đến năm 2020” - Văn phòng KTST Thành phố –1998
5.3.3. Định hướng phát trỉên cây xanh Hà Nội đến năm 2010, tầm nhìn 2020. - Cây xanh đ−ờng phố : Trong khu hạn chế phát triển thì nâng cấp hệ thống cây xanh đ−ờng phố. Đối với các đ−ờng phố trong khu phát triển mở rộng và khu phát triển phải trồng bổ sung cây xanh hoặc trồng mới cây xanh theo qui chuẩn xây dùng.- Cây xanh vườn hoa, công viên : Loại hình này được phát triển theo định hướng dành mọi khả năng đất đai để xây dựng thêm nhiều vườn hoa, vườn dạo gắn với các trung tâm phục vụ hàng ngày. Chỉ tiêu định hướng cho Thủ đô về cây xanh vườn hoa, công viên đến năm 2010 là 7,0-7,5 m 2 cây xanh/ng−ời; năm 2020 kể cả khu vui chơi giải trí,TDTT là 14m 2 /ng−êi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát trỉên cây xanh Hà Nội đến năm 2010, tầm nhìn 2020
50.000đồng 1 ha/năm cho công khoán chăm sóc, bảo vệ rừng cần qui định mức độ h−ởng lợi trực tiếp sản phẩm từ rừng.• Cơ chế đầu t−Trong khu vực hạn chế phát triển: Đối với việc quản lý và phát triển diện tích cây xanh đ−ờng phố, cây xanh v−ờn hoa, v−ờn dạo nhỏ, cây xanh phòng hộ nguồn vốnđầu tư là vốn xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương, vốn vay hoặc tài trợ của n−ớc ngoài.Đối với việc quản lý và phát triển diện tích cây xanh công viên, vốn đầu t− banđầu có thể một phần vốn bao cấp từ ngân sách nhà n−ớc hoặc hoàn toàn là vốn vay của Nhà nước, hay vốn kinh doanh của một đơn vị được giao quản lý chuyên trách kết hợp với vốn liên doanh, liên kết theo ph−ơng thức khai thác, phân chia lợi nhuận.Đối với vịêc quản lý và phát triển diện tích cây xanh chức năng trong các khu nhà ở, công nghiệp, trường học, bệnh viện...vốn đầu tư là nguồn vốn huy động từ các cơ quan chủ quản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế đầu t−
6. Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi tr−ờng Việt Nam, " Việt Nam môi tr−ờng và cuộc sống", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam môi tr−ờng và cuộc sống
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
5.1. Diễn biến cây xanh trong quá trình đô thị hoá Thăng Long, trải qua 1000 năm, là một chặng thời gian dài quá trình phát triển Khác
5.1.2. Giai đoạn Hà Nội trong thời kỳ Pháp thuộc (1875 -1954) Trong thời kỳ 1875-1920, Hà Nội đ−ợc mở rộng, ng−ời Pháp bắt đầu quy hoạch Hà Nội theo h−ớng nh− một Paris thu nhỏ, hệ thống đ−ờng phố sắp xếp theoô bàn cờ và tiến hành trồng cây xanh, xây dựng một số công viên, tạo lập v−ờn nhà biệt thự ...Lúc này bộ mặt cây xanh Hà Nội có sự khác biệt so với tr−ớc cả về số l−ợng và chất lượng. Cây xanh trên đường phố, trong công viên chính thức đi vào đời sống xã hội, cây xanh mang nhiều nét văn hóa mới. Tr−ớc năm 1954, có khoảng 16.000 cây xanh thuộc 46 họ thực vật, trong đó có nhiều loài cây tuyển lựa từ rừng tự nhiên của Việt Nam và nhập từ n−ớc ngoài.Những dặng cây xanh đó mãi mãi vẫn là những hàng cây xanh đẹp, tạo bóng mát. Ngoài ra trong giai đoạn này có 34 ha công viên nh− V−ờn Bách Thảo. V−ờn hoa Chí Linh, Pasteur,… Cây xanh Hà Nội tiếp cận với nếp sống đô thị văn minh Khác
Những vấn đề tồn tại trên cần đ−ợc xem xét trong công tác quy hoạch đô thị và phát triển cây xanh Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn 2010-2020 Khác
5.3.2. Dự báo nhu cầu phát triển cây xanh ở Hà Nội đến năm 2020 Dự báo những ảnh hưởng đến môi trường sinh thái đô thị Khác
1. Khu công nghiệp: Mỗi khu công nghiệp có cảnh quan riêng, tổ chức mặt bằng riêng, với tiếng nói kiến trúc và thẩm mỹ kiến trúc riêng sẽ quyết định lựa chọn giải pháp không gian sinh thái theo đúng tiêu chuẩn đã ban hành.Dự báo phát triển các Khu công nghiệp, khu chế xuất Khác
3. Hệ thống giao thông là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh thái đô thị. Tốc độ phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đô thị thấp hơn rất nhiều so với tốc độ đô thị hoá và tốc độ gia tăng phương tiện giao thông cơ giới. Diện tích giao thông Hà Nội chỉ chiếm 7,8%. Hiện nay, ô nhiễm không khí và tiếng ồn cao hơn nhiều so với giới hạn cho phép. Trong khi đó cây xanh Hà Nội phát triển không theo kịp.Bên cạnh đó, Hà Nội với các khu phố cổ chật hẹp tồn tại giao thông cự ly gần, việc quy hoạch giao thông mang đặc thù riêng và có thể tạo ra các khu phố đi bộ rất có ý nghĩa đối với vấn đề sinh thái đô thị.• Một số căn cứ khác cho công tác dự báo không gian xanh Hà Nội 1. Quỹ đất Hà Nội- hiện trạng sử dụng đất và dự báo Khác
5.4. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật truyền thống kết hợp với công nghệ hiện đại để có một không gian xanh cho thủ đô Hà Nội, góp phần bảo vệ môi trường5.4.1. Một số giải pháp Khác
1. Về qui hoạch - Phân vùng sinh thái đô thị Phân vùng sinh thái đô thị là hệ thống các phương pháp nghiên cứu và hoạtđộng thực tiễn nhằm bố trí cây xanh phục vụ yêu cầu cân bằng sinh thái, góp phần giải quyết ô nhiễm và kiến trúc cảnh quan đô thị.- Vùng sinh thái đô thị nội thành, bao gồm nội thành và nội thành mở rộng.- Vùng sinh thái đệm ven đô, bao gồm các huyện ngoại thành, là vùng đệm giữa nông thôn và thành thị.- Vùng sinh thái rừng và nông nghiệp. Đây là vùng rừng Sóc Sơn, Ba vì và một số diện tích làm nông nghiệp, là khu vực còn giữ đ−ợc cảnh quan thiên nhiên, làđối t−ợng cần đ−ợc bảo vệ phát triển du lịch sinh thái.Trong quy hoạch sẽ hình thành mô hình không gian xanh, và chùm đô thị.Chùm đô thị bao gồm thành phố trung tâm Hà Nội và chuỗi đô thị Sơn Tây - Hoà Lạc - Phúc yên và các đô thị vệ tinh khác nằm trong lãnh thổ vùng Hà Nội và phần lãnh thổ thuộc Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, H−ng Yên với tổng dân số 2020 khoảng 4,5 - 5,0 triệu dân đô thị có nhiều công viên thành phố với nhiều chức năng và chuyên dụng Khác
5-7 m, tèi ®a 12-15 mTròn không đều, réng 5-10 m, cao 5 m, xanh, rụng lá toàn bộ về mùa đông10-12Bóng mát vừa phải, ít đổ. Già hay bị rỗng ruột. Ra hoa tháng 5-6, mầu đỏ. Trồng ở các đ−ờng lớn, đ−ờng phố có kiến trúc đẹp, dọc bờ hồ.4 Ngọclan t©y 15-20H×nh chãp nãn, réng 6-8 m, cao 5 m, xanh ve, rụng một loạt về mùa đông60-70Bóng mát th−a, ít đổ gẫy, rễăn sâu, 4 tuổi có hoa. Trồng xen ở đ−ờng phố ít xe cộ.5Bằng l¨ng n−ícTèi ®a 10-12mNhỏ, hơi tròn.Réng 3-5 m, cao 3 m, lá non:Hung đỏ, già:màu xanh thẫmLín hơn 50mRễ ăn sâu, ít rễ ngang, ít đổ, ít bị bệnh, tán lá hẹp, phân cành thấp. Mọc nhanh. Hoa đẹp.Trồng làm cây bóng mát và trang trí ở đ−ờng phố hẹp.6 Bàng 10 m tối®a 12-15mRộng 5-10 m, lábÇu dôc to xanh ve. Dày lá, mùađông rụng hết lá Khác
100- 200Mọc nhanh, cho nhiều bóng mát. Quả thu hút ruồi nhặng. Trồng ở các phố rộng, cao, có bóng mát ngay. Nên trồng điểm vào các chỗ rộng.7 Xà cừ 15-20mTròn đẹp, rộng 10-15 m, màu xanh thÉm, thay lá vào tháng 4-560-70Rễ to, ăn ngang, dễ đổ. Chú ý trồng sâu. Nhiều bóng mát, cao, tán đẹp. Trồng làm cây bóng mát ở các®−êng lín.8S÷a trắng (ThànMát)7-10mTrông khôngđều, rộng 5-7 m, cao 4 m. Láxanh ve, rông toàn bộ về mùađông.80-100Tán đẹp, dày lá, gỗ tốt.Trồng làm cây bóng mát.9 SÕn 15 m tèi®a 20-30Tròn, rộng 5-6m. Mùa đông 50-60 Phân cành 5 m. Dáng cây thẳng đẹp. Dùng làm cây Khác
2. Bùi Thị Hằng, Thực trạng quỹ đất phát triển cây xanh ở Hà Nội đến năm 2000, Báo cáo chuyên đề, 2001 Khác
3. Cục Bảo vệ Môi tr−ờng. Trần Hữu Tâm. Mùa xuân nói về màu xanh của Thủ đô Hà Nội. Tạp chí số 1+2 - 2003 Khác
4. Ch−ơng trình Bảo vệ Môi tr−ờng KT- 02 kết hợp với UBKHKT Hà Nội. Hiện trạng Ô nhiễm môi tr−ờng Hà Nội ( Atlas) 12-1993 Khác
5. Đỗ Hữu Th−, Lê Đồng Tấn, Chọn loài cây trồng theo yêu cầu môi tr−ờng cảnh quan Thủ đô Hà Nội, Báo cáo chuyên đề, Hà Nội 2001 Khác
7. Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt nam - Trung tâm Bảo vệ Môi tr−ờng và Quy hoạch Phát triển bền vững. Hội thảo khoa học về phát triển và quản lý vùng Thành phố Hà Nội, tháng 8-2005 Khác
8. Lê Hồng Kế, Thử tìm giải pháp để quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội phát triển bền vững, Đề tài KX.09.05, tháng 8-2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hiện trạng các cống chính thoát n−ớc Hà Nội tr−ớc năm 1938 - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 1.1. Hiện trạng các cống chính thoát n−ớc Hà Nội tr−ớc năm 1938 (Trang 20)
Hình 1.2. Mạng l−ới thoát n−ớc m−a theo kiến nghị của L Fayet - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 1.2. Mạng l−ới thoát n−ớc m−a theo kiến nghị của L Fayet (Trang 23)
Sơ đồ hệ thống sông mương hồ và phân chia lưu vực thoát nước Hà Nội nêu trên  hình 1.6 và 1.7 - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Sơ đồ h ệ thống sông mương hồ và phân chia lưu vực thoát nước Hà Nội nêu trên hình 1.6 và 1.7 (Trang 29)
Hình 1.6. Hệ thống sông hồ và phân chia các lưu vực thoát nước mưa - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 1.6. Hệ thống sông hồ và phân chia các lưu vực thoát nước mưa (Trang 31)
Hình 1.7.  Các lưu vực thoát nước bẩn thành phố Hà Nội - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 1.7. Các lưu vực thoát nước bẩn thành phố Hà Nội (Trang 34)
Hình 1.8. Các hạng mục công trình chính của Dự án Thoát n−ớc Hà Nội - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 1.8. Các hạng mục công trình chính của Dự án Thoát n−ớc Hà Nội (Trang 38)
Hình 2.3a. Diễn biến nồng độ các chất PM 10 , SO 2 , NO 2  và O 3  trung bình năm tại - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 2.3a. Diễn biến nồng độ các chất PM 10 , SO 2 , NO 2 và O 3 trung bình năm tại (Trang 54)
Hình 2.9a. Tình trạng ô nhiễm khí CO tại một số nút giao thông Hà Nội, 2003 - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 2.9a. Tình trạng ô nhiễm khí CO tại một số nút giao thông Hà Nội, 2003 (Trang 58)
Hình 2.9b. Tình trạng ô nhiễm khí NO 2  tại một số nút giao thông Hà Nội, 2003 - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 2.9b. Tình trạng ô nhiễm khí NO 2 tại một số nút giao thông Hà Nội, 2003 (Trang 59)
Hình 2.10b. Diễn biến nồng độ SO 2  (àg/m 3 ) trung bình theo giờ  trong không khí cạnh - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 2.10b. Diễn biến nồng độ SO 2 (àg/m 3 ) trung bình theo giờ trong không khí cạnh (Trang 60)
Bảng 2.5b. Các cơ sở công nghiệp và thủ công nghiệp phân tán - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Bảng 2.5b. Các cơ sở công nghiệp và thủ công nghiệp phân tán (Trang 65)
Hình 2.17. Diễn biến mức ồn tương đương trung bình ngày (dBA) và lưu lượng dòng xe ở - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 2.17. Diễn biến mức ồn tương đương trung bình ngày (dBA) và lưu lượng dòng xe ở (Trang 78)
Hình 2.20 : Diễn biến lưu lượng dòng xe trung bình theo giờ của 3 ngày đo tiếng ồn  tại - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 2.20 Diễn biến lưu lượng dòng xe trung bình theo giờ của 3 ngày đo tiếng ồn tại (Trang 80)
Hình 2.21 : So sánh diễn biến tiếng ồn trung bình LAeq (dB A ) theo từng giờ - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Hình 2.21 So sánh diễn biến tiếng ồn trung bình LAeq (dB A ) theo từng giờ (Trang 80)
Bảng 5.12. Đề xuất một số loài cây xanh trồng trong môi trường độc hại - Dự báo những diễn biến về môi trường trong quá trình đô thị hoá thành phố hà nội và vùng xung quanh
Bảng 5.12. Đề xuất một số loài cây xanh trồng trong môi trường độc hại (Trang 154)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w