Đề tài nghiên cứu học cấp nhà nước : Quá trình đô thị hoá ở Thăng Long-Hà Nội, kinh nghiệm lịch sử và định hướng quy hoạch phát triển đô thị Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 1Bé khoa häc vµ c«ng nghÖ UBND thµnh phè Hµ néi
ch−¬ng tr×nh nckh cÊp nhµ n−íc kx.09 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NHÁNH
DỰ BÁO QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ
VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT
TRIỂN TP HÀ NỘI THỜI KỲ ĐẨY
MẠNH CNH-HĐH 2010-2020
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI NHÁNH: PGS.TS LÊ HỒNG KẾ
THUéC §Ò tµi NCKH cÊp nhµ n−íc:
“QÚA TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ THĂNG LONG – HÀ NỘI, KINH NGHIỆM LỊCH SỬ
VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC”
m∙ sè kx.09.05
CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH: PGS.TS LÊ HỒNG KẾ
7058-4
07/01/2009
Hµ néi, th¸ng 11 n¨m 2008
Trang 2Bộ khoa học và công nghệ UBND thành phố Hà nội
chương trình nckh cấp nhà nước kx.09 -
Cơ quan thực hiện đề tài:
Trung tâm bảo vệ môi trường
và quy hoạch phát triển bền vững Centre for Environmental Protection and Sustainable
Development planning (CEPSD)
Nhóm nghiên cứu đề tài:
Ban Chủ nhiệm đề tài: 1 PGS TS Lê Hồng Kế, Chủ nhiệm
Cùng nhiều cộng sự khác
Trang 3
Vấn đề 4:
Dự báo quá trình đô thị hoá
và định hướng chiến lược Phát triển thành phố Hà nội thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH 2010-2020
4.1 Dự báo về đô thị hoá, chiến lược phát triển trên thế giới , khu vực châu á, quốc gia, vùng ĐBSH, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc tác động đến quá trình đô thị hoá, CNH và HĐH Việt nam và Hà nội trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế thời kỳ 2010-2020
4.1.1 Dự báo về đô thị hoá, chiến lược phát triển trên thế giới và khu vực liên quan đến Việt nam và Hà nội trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới
Do đặc điểm lịch sử, phải trải qua một giai đoạn dài của hai cuộc chiến tranh giữ nước giữa thể kỷ XX, trình độ phát triển kinh tế xã hội của nước ta bị tụt hậu rất nhiều
so với tình hình phát triển chung trên thế giới cũng như trong khu vực
Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, khi bắt đầu chính sách đổi mới, sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước đã đạt được một bước ngoặt quan trọng, chuyển hướng
nề kinh tế sang cơ chế thị trường Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng với nhịp độ cao hơn
so với giai đoạn dài trước đó Mặc dù vậy, khoảng cách về mức độ phát triển so với thế giới và khu vực vẫn còn khá lớn
Là yếu tố gắn liền với tình hình phát triển kinh tế xã hội, mức độ đô thị hóa của nước ta trong một giai đoạn dài đã qua vẫn thuộc vào số các nước phát triển chậm (như
số liệu thống kê trong bảng 1, bảng 2)
Trang 4Bảng 4.1.1 : Tỷ lệ dân c− đô thị của VN so với các khu vực trên thế giới (%)
khuvực
Năm
Việt nam
Thế giới
Châu
Á
Châu Phi
Trang 5Với những đánh giá trên cơ sở quan sát những chuyển biến trong bước đầu đổi mới, từ gần hai năm trước đây, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã có những dự đoán về nhịp độ đô thị hóa và phát triển đô thị của nước ta trong tương lai, trong tương quan với các nước trên thế giới và trong khu vực được nêu ra trong mấy năm đầu của thế kỷ XXI (như trong các bảng 4, 5, 6)
Bảng 4.1.4 Dự báo tỷ lệ dân cư đô thị của vn so với các khu vực trên thế giới (%)
khuvực
Năm
Việt nam
Thế giới
Châu
Á
Châu Phi
Trang 6Bảng 4.1.5 Dự báo dân c− đô thị của Việt Nam so với khu vực Châu á (%)
Trang 7Để có đủ căn cứ cho những dự báo về nhịp độ phát triển đô thị hóa trong giai
đoạn đầu hội nhập, được đánh dấu bằng sự kiện Việt nam gia nhập WTO, chúng ta còn phụ thuộc vào các dự báo cũng như về chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước, nói chung, và của Thủ đô Hà nội, nói riêng Đây là vấn đề còn quá mới, chắc rằng Nhà nước và các cơ quan hữu trách của Thủ đô còn cần thêm thời gian cũng như những kinh nghiệm thực tế của ít nhất là một vài năm, mới có thể đưa ra những đánh giá, nhận định
và dự báo bước đầu Trên cơ sở đó, chúng ta mới có thể đưa ra những ý kiến, những quan điểm cụ thể về nhịp điệu đô thị hóa của Hà nội trong giai đoạn đầu của thời kỳ hội nhập
Trước mắt, với chủ trương hợp tác giữa Việt nam và Trung quốc trong chiến lược phát triển hành lang kinh tế từ Côn Minh, dọc theo sông Hồng tới Hà nội và ra cửa biển Quảng ninh, chúng ta có cơ sở để dự báo một hành lang phát triển kinh tế mang tầm khu vực sẽ là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội của cả miền Bắc nước ta, trong đó, Hà nội với vị trí đô thị hạt nhân của toàn vùng, sẽ có bước phát triển mạnh mẽ Xu thế này cũng phù hợp với định hướng chiến lược của Hà nội phát triển vươn về phía biển (sẽ được đề cập ở phần sau), tạo nên những thuận lợi cho xu thế phát triển chung của toàn vùng
4.1.2 Những dự báo về đô thị hoá, chiến lược phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Hồng có tác động đến quá trình đô thị hoá và phát triển thủ đô Hà nội
Là thủ đô của cả nước, đồng thời, Hà nội là đô thị hạt nhân số một của cả miền Bắc đất nước, đương nhiên nó có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với cả khu vực Miền Bắc, nói chung, và vùng đồng bằng sông Hồng, khu vực trọng tâm phát triển nông nghiệp và
đang từng bước đa dạng hóa trong phát triển kinh tế xã hội, nói chung
Mối liên hệ gắn kết giữa Hà nội với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, một mạt, nhằm đảm bảo về an toàn lương thực cho thủ đô, là nguồn cung cấp nhân lực quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của thủ đô; mặt khác, đây lại là đô thị hạt nhân, có ảnh hưởng mạnh mẽ cả về khoa học kỹ thuật, về văn hóa xã hội đối với sự phát triển mạng lưới đô thị trong vùng đồng bằng sông Hồng cũng như đối với cả miền Bắc
Đây là mối liên kết hai chiều, đòi hỏi sự phối hợp hài hòa từ hai phía: thủ đô Hà nội và các đơn vị hành chính trong vùng Châu thổ sông Hồng, nói riêng, và cả miền Bắc, nói chung
4.1.3 Các dự báo chủ yếu về Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội quốc gia và Vùng kinh tế trọng điểm có tác động đến đô thị hoá và phát triển thủ đô Hà nội
Trang 8Để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế xã hội ở từng vùng trong cả nước, trong mấy thập kỷ vừa qua, kể từ sau khi đổi mới, chúng ta đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm làm nòng cốt cho sự phát triển của mỗi vùng Trong đó, Bắc bộ được coi là một vùng kinh tế được quan tâm phát triển (như đã phân tích ở phần trên)
Chiến lược hình thành tam giác tăng trưởng trọng điểm phía bắc: Hà nội - Hải phòng - Quảng ninh trở thành một động lực phát triển mạnh mẽ cho các đô thị trong vùng Trong đó, Hà nội là đô thị hạt nhân số một của “Tam giác tăng trưởng” này Ngoài ra, với vị thế là thủ đô của cả nước, chiến lược phát triển mạnh quan hệ kinh tế với Trung quốc, đặc biệt là các tỉnh phía nam Trung quốc, đang tạo nên sự phát triển của trục quốc lộ số 1 từ Hà nội lên biên giới phía bắc (Hà nội - Lạng sơn) Định hướng này sẽ tạo động lực phát triển của các đô thị trên dọc tuyến quốc lộ này Trong
Hà nội và “tam giác tăng trưởng” phía Bắc như những phân tích nêu trên, chính là tiền
đề, làm căn cứ cho thủ đô Hà nội hình thành định hướng phát triển thủ đô hướng ra biển Chiến lược này đang từng bước hiện thực hóa thông qua việc nâng cấp quốc lộ số
5, quốc lộ số 18; kế hoạch triển khai đường cao tốc Hà nội - Hải phòng
4.3 Dự báo xu thế phát triển không gian kinh tế, không gian đô thị hoá, các loại mô hình không gian chức năng đô thị chủ đạo, trong quá trình đô thị hoá, đẩy mạnh CNH-HĐH thành phố Hà nội, 2010-2020
4.3.1 Dự báo xu thế phát triển các loại mô hình không gian đô thị hoá vùng kinh
tế trọng điểm phía Bắc và vùng lân cận
Với vị thế là thủ đô của cả nước, với vị trí trung tâm của miền Bắc đất nước, là
đầu mối quan trọng về giao thông đường sắt, đường bộ của khu vực miền Bắc, đã từ lâu, Hà nội được coi như một đô thị Trung tâm của khu vực phía Bắc của đất nước ta
Quá trình đô thị hóa của vùng đất Thăng long xưa, trước hết được hình thành
Trang 9Từ khi vị trí thủ đô được xác định tại đây, quá trình đô thị hóa được đẩy mạnh thêm một bước Điểm dân cư đô thị Thăng long, do đó mà có thêm một nội dung mới: nơi tọa lạc của cơ quan quyền lực điều hành xã hội phong kiến tập quyền của nước Đại Việt xưa, nội dung của "đô" trong từ "đô thị"
Bắt đầu từ thời điểm này, điểm dân cư đô thị Thăng long được hình thành bởi hai bộ phận: "đô" và "thị" Hình thái không gian như vậy khá phổ biến đối với các
điểm dân cư đô thị quan trọng dưới chế độ phong kiến ở nước ta cũng như nhiều nước khác Hình thái không gian của phần "đô" của Thăng long chịu ảnh hưởng tư tưởng xây dựng đô thị của phong kiến Trung hoa, mà chúng ta còn thấy khá đầy đủ cả dấu vết và nhiều công trình xây dựng
4.3.2 Dự báo xu thế phát triển các loại mô hình không gian đô thị hoá vùng xung quanh thủ đô Hà nội
Nhìn lại lịch sử phát triển đô thị của hà nội, có thể thấy rằng đến thời kỳ thuộc Pháp, phần "đô" không còn mang nặng ý nghĩa về phòng thủ như trước đây, trong khi phần "thị" vẫn giữ nguyên truyền thống vốn có (khu phố cổ của Hà nội hiện nay) Bên cạnh đó, về phía nam của phần „thị“, để đáp ứng yêu cầu đô hộ, người Pháp tiếp tục xây dựng khu vực mới theo lý luận quy hoạch đô thị hiện đại thời kỳ công nghiệp (khu phố cũ của Hà nội hiện nay) Đây có thể coi như một bước ngoặt về sự phát triển hình thái không gian và hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị của Hà nội
Do đó, có thể thấy rằng hình thái không gian đô thị của Hà nội trong giai đoạn này đã có một bước phát triển đột biến đầu tiên do tác động của ngoại lực
Tiếp đó là một quá trình kéo dài mấy thập kỷ khoảng giữa thế kỷ XX, sự phát triển của Hà nội bị chững lại bởi hai cuộc chiến tranh giữ nước
Trong giai đoạn chiến tranh chống Pháp, cũng như hầu hết các đô thị khác trong cả nước, Hà nội dưới sự kiểm soát của người Pháp, song điều kiện có chiến tranh cũng trở ngại nhiều cho sự phát triển đô thị
Từ sau ngày Thủ đô được giải phóng (cuối năm 1954), mặc dù trong điều kiện
đất nước còn bị chia cắt, song Hà nội vẫn giữ vai trò đô thị hạt nhân về phát triển kinh
tế xã hội của miền Bắc Với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên xô trước đây, lần đầu tiên chúng ta đã có một số khu vực được xây dựng theo quy hoạch, như các khu nhà ở Kim liên, Trung tự, khu công nghiệp Thượng đình Mặc dù quy mô còn rất khiêm tốn, song đây được coi như một dấu ấn trong lịch sử phát triển đô thị Hà nội, nói riêng,
và của cả nước, nói chung
Trang 10Sau ngày thống nhất đất nước, từ trong thực tế xây dựng trong điều kiện hòa bình, chúng ta đã từng bước nhận ra những bất cập của cơ chế bao cấp Từ đó, đòi hỏi phải có những thay đổi để đáp ứng yêu cầu phát triển
Chính sách đổi mới, chuyển hướng nền kinh tế theo cơ chế thị trường, đã tạo nên một bước ngoặt cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta Sự "bung ra" một cách
tự phát của các thành phần kinh tế đã làm đa dạng hóa mọi hoạt động kinh tế xã hội trong khắp mọi miền đất nước, trong đó, Hà nội là một điển hình
Trong những năm đầu thực hiện chính sách đổi mới, cơ chế thị trường phát triển
tự phát một cách đột biến đã tạo nên tình trạng lộn xộn không kiểm soát được trong hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội Hà nội cũng là một đô thị điển hình của tình trạng nêu trên
Thực trạng nêu trên đã tác động mạnh mẽ, tạo nên một sự "bùng nổ" về đô thị hóa ở hầu khắp các đô thị trong cả nước Điển hình là hiện tượng triển khai các hoạt
động thương mại, dịch vụ dưới mọi hình thức dọc theo các tuyến giao thông lớn nhỏ Hiện tượng này đã tạo nên tình trạng lộn xộn trong xây dựng, cơi nới dọc theo các tuyến đường ở mọi nơi trong đô thị Hà nội cũng là một thí dụ cụ thể
Trước thực tế nêu trên, chúng ta từ chỗ lúng túng, bị động, đã tiếp cận với các chuyên gia từ các nước phát triển, học hỏi kinh nghiệm quy hoạch xây dựng đô thị trong điều kiện phát triển của cơ chế thị trường, liên hệ với điều kiện cụ thể của đất nước, để từng bước tháo gỡ những bất cập, tạo tiền đề cho công tác quy hoạch xây dựng đô thị trong những năm tiếp theo
Hà nội có thể coi là một đô thị thuộc loại hàng đầu trong hoạt động này
Để có thể dự báo xu thế phát triển các loại mô hình không gian đô thị hoá vùng xung quanh thủ đô Hà nội, trước hết chúng ta cần phân tích những biến đổi đối với các loại hình không gian này trong lòng Hà nội trước tác động của cơ chế thị trường trong
điều kiện phát triển hiện nay của Thủ đô
Từ khi Nhà nước ta chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường, Hà nội cũng
đã xây dựng một số khu chung cư cao tầng khang trang hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân đô thị trong giai đoạn phát triển mới Đối với các khu chung cư
Trang 11Đối với các khu chung cư nhiều tầng xây dựng trong nửa cuối thế kỷ trước, những bất cập nẩy sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau
Về mặt kinh tế – xã hội, tại thời điểm hình thành các khu chung cư này, do trình
độ phát triển kinh tế xã hội nước ta còn quá thấp, tiềm lực kinh tế còn quá nghèo nàn, chúng ta đã buộc phải xây dựng những căn hộ với tiêu chuẩn diện tích ở chỉ có
6M2/người; mà khi phân phối vẫn còn nhiều trường hợp hai gia đình phải ở chung một căn hộ Tình trạng cơi nới chủ yếu cũng do nguyên nhân này Thêm vào đó, sự yếu kém trong cơ chế quản lý cũng làm cho các khu chung cư loại này càng thêm lộn xộn,
ảnh hưởng xấu đến cảnh quan và môi trường của khu chung cư
Về công tác quy hoạch, đây là những khu chung cư được hình thành trong giai
đoạn nền kinh tế của chúng ta còn theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ, xã hội tổ chức theo hình thức bao cấp Cơ cấu quy hoạch các khu chung cư này được tổ chức theo mô hình "Tiểu khu nhà ở" trong lý thuyết quy hoạch của Liên xô trước đây (hình 1) Theo đó, mỗi nhóm nhà có một nhà trẻ, cả tiểu khu có trường tiểu học và các công trình công cộng khác như thương mại, dịch vụ, bảo vệ sức khỏe phục vụ yêu cầu sinh hoạt hằng ngày Các công trình công cộng này đều được tập trung vào một khu vực gọi là "Trung tâm tiểu khu", cũng chính là trung tâm hình học của tiểu khu nhà ở, với bán kính phục vụ phù hợp với yêu cầu đi bộ
Hình 4.1.1: Mô hình cơ cấu tiểu khu nhà ở trong lý thuyết quy hoạch
của Liên Xô trước đây.
Khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường, quy luật vận động của nó đã tác động mạnh vào đời sống xã hội Dọc theo các tuyến đường giao thông thuận lợi, các công trình xây dựng một tầng mọc lên và các nhà dân ở tầng một của nhà
ở nhiều tầng đã tự phát hình thành những cửa hàng buôn bán theo kiểu như khu vực phố phường trước đây Sự hình thành các công trình thương mại dịch vụ tự phát theo cơ
Trang 12chế thị trường như vậy dọc theo đoạn đường Lương Đình Của, Hoàng Tích Trí trong khu Kim Liên có thể coi là một thí dụ điển hình
Từ thực tế nêu trên có thể thấy, với quy luật hoạt động của cơ chế thị trường, tác
động của các luồng giao thông đối với các công trình mang tính thương mại dịch vụ là hết sức rõ nét Đối với các công trình công cộng mang tính phúc lợi xã hội, như nhà trẻ, trường học, bảo vệ sức khỏe chịu tác động ít hơn
Do đó, các khu chung cư được quy hoạch xây dựng trong thời kỳ bao cấp trước
đây, do không tính đến tác động của yếu tố kinh tế thị trường, nên khi nền kinh tế chuyển
đổi sang cơ chế thị trường, cơ cấu quy hoạch theo mô thức như vậy đều bị phá vỡ
Từ sau ngày đổi mới, tiếp cận với lý luận và thực tiễn quy hoạch các khu ở tại
đô thị các nước phát triển kinh tế xã hội theo cơ chế thị trường lâu đời, như mô hình
đơn vị ở láng giềng (Neighbourhood unit) của Clarence Perry, với trường tiểu học làm hạt nhân (hình 2), chúng ta có thể thấy điểm khác nhau cơ bản của mô hình này so với
"Tiểu khu nhà ở" trước đây chủ yếu là ở cách bố trí các loại công trình công cộng mang tính thương mại dịch vụ trong cơ cấu khu chung cư
Hình 4.1.2: Đơn vị ở láng giềng (Neighbourhood unit) của Clarence Perry
với trường tiểu học làm hạt nhân
Mấy năm gần đây, để thích ứng với những tác động nêu trên của cơ chế thị trường, dọc theo các tuyến giao thông chủ yếu tại một số khu chung cư nhiều tầng
Trang 13Do đó, để cải tạo cơ cấu của các khu chung cư nhiều tầng trước đây, cần có những nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề bất cập cả về mặt kinh tế xã hội cũng như về quy hoạch và quản lý Trên cơ sở đó mới có thể có được những đánh giá
đồng bộ về mặt kiến trúc công trình, về cơ cấu quy hoạch, về hạ tầng kỹ thuật để việc cải tạo đạt hiệu quả cao cả về lý luận chuyên môn cũng như về kinh tế xã hội; tránh tình trạng chắp vá, chạy theo yêu cầu trước mắt, nhưng rất có thể sẽ lại lạc hậu trong giai đoạn tiếp theo
Đồng thời với việc cải tạo trong lòng thành phố, để đáp ứng yêu cầu phát triển của thủ đô trong thời kỳ đổi mới, phần nổi trội hơn về khu ở cho thành phố là việc hình
thành một số khu chung cư cao tầng tại các khu vực mở rộng của thành phố Các khu
chung cư cao tầng này thường được gọi là các "khu đô thị mới"
Hình thái không gian của các khu đô thị mới này được thực hiện sau khi các nhà nghiên cứu, thiết kế đã ít nhiều trải nghiệm những tác động thực tế của cơ chế thị trường ở nước ta; đồng thời cũng đã có điều kiện tiếp cận với các lý luận cũng như thực
tế xây dựng của nhiều đô thị thuộc các nước phát triển, nơi mà nền kinh tế thị trường
đã phát triển một cách có truyền thống Cách bố trí quy hoạch của các khu đô thị mới này thường bao gồm một số lượng tương đối lớn các công trình nhà ở cao tầng dọc theo các đường phố, với thiết kế không gian công cộng mang tính dịch vụ thương mại ở tầng một (tầng trệt) Bên trong ô phố thường được bố trí những nhà ở thấp tầng hơn, dạng biệt thự hay nhà ở dạng liền kề (hình 4.1.3)
Hình 4.1.3:Khu đô thị mới Định Công
Trang 14Hình 4.1.4.Phối cảnh Khu đô thị mới Định Công 2 -Hà nội
Trang 15Mặt khác, cho tới nay, các cơ quan thiết kế cũng như các tác giả của các đồ án
đã được thực thi cũng chưa đưa ra những mô hình mang tính phổ quát cho các cơ cấu của các khu đô thị mới này
Quan sát dưới góc độ chuyên ngành quy hoạch, chúng ta có thể thấy, trong các khu đô thị mới, vai trò của các nhà chung cư cao tầng chiếm một vị trí quan trọng cả trong sử dụng cũng như trong hiệu quả về cảnh quan dọc theo các tuyến phố mới hình thành Phần không gian bên trong của ô phố với mật độ xây dựng thấp hơn, tỷ lệ cây xanh lớn hơn đã góp phần tạo lập được điều kiện môi trường vi khí hậu của các khu vực này tốt hơn Những yêu cầu mới nẩy sinh (như chỗ đỗ xe) cũng đã được chú ý
đúng mức ngay từ khâu thiết kế quy hoạch và được thựchiện trong quá trình xây dựng
Mặc dù vậy, để có thể có được những mô thức hợp lý cho cơ cấu các khu chung cư nhiều tầng và cao tầng trong đô thị, đáp ứng được yêu cầu thực tế về sử dụng và tập quán của người dân, thiết nghĩ, chúng ta nên thông qua tổ chức của các hội chuyên ngành, triển khai trao đổi theo những từng chủ đề có liên quan Trên cơ sở đó đúc kết
để có thể đưa ra những ý kiến phân tích đánh giá một cách thực tế, khách quan, tạo lập những định hướng mang tính lý luận, làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch xây dựng các khu chung cư nhiều tầng và cao tầng cho các đô thị ở nước ta
Hình thái không gian của các khu đô thị mới như đã phân tích trên, thuộc phần
đất đai phát triển mở rộng của nội thành Hà nội Bước phát triển về hình thái không gian trong giai đoạn này có thể được xem như một bước chuyển biến về hình thái không gian
đô thị, trước hiệu quả của sự phát triển kinh tế xã hội theo hướng thị trường
Ngoài sự phát triển mở rộng về mặt không gian đô thị ra phía ngoại thành như đã nêu trên, sự phát triển của Hà nội đã có một tác động khá mạnh mẽ về việc hình thành các không gian đô thị, vươn ra phía bên ngoài, vượt ra ngoài phạm vi hành chính đô thị
Hà nội Đây là một hiện tượng mới xuất hiện đối với Hà nội và vùng xung quanh
Hiện tượng nêu trên có thể nhận biết khá rõ ràng, trước hết dọc theo các tuyến giao thông đối ngoại, như phát triển về phía Hà đông (dọc theo đường số 6), về phía Yên viên – Từ sơn – Bắc ninh (dọc theo đường số 1), về phía Trâu quỳ – Như quỳnh (dọc theo đường số 5) Đây là một quy luật trong quá trình phát triển mở rộng đô thị;
Trang 16bởi lẽ giao thông là một yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nói chung,
và phát triển đô thị, nói riêng
Với nhịp độ phát triển mạnh trong những năm gần đây, cho tới nay, dọc theo
đường Hà nội – Hà đông đã trở thành đường phố liên tục, không còn cánh đồng ngăn cách Tiếp đó là Gia lâm – Yên viên được nối liền và đang có xu hướng phát triển dọc theo quốc lộ số một về phía Bắc ninh Các khu vực xây dựng từ Gia lâm vươn dài theo quốc lộ số 5 về phía Trâu quỳ, Phố Nối
Hiện tượng nêu trên đang có xu hướng tiếp tục phát triển Về mặt hình thái không gian, với vai trò là đô thị hạt nhân trong vùng, Hà nội đang có xu thế phát triển
mở rộng nối liền với một số đô thị lân cận trong vùng, như Hà đông, Yên viên Xu thế này sẽ tạo nên sự gắn kết không gian đô thị của Hà nội với các đô thị phụ cận, vốn trước đây phát triển độc lập Nó sẽ tạo nên một phạm vi địa lý đô thị hóa rộng lớn xung quanh Hà nội, vượt ra ngoài ranh giới hành chính hiện có của thủ đô, mà Hà nội giữ vai trò là đô thị hạt nhân
Hiện tượng như vậy đã từng xuất hiện tại một số nước có nền kinh tế thị trường
phát triển, được các nhà chuyên môn gọi là Metropolitan Area, tạm gọi bằng tiếng Việt là "vùng siêu đô thị"(*) Sự xuất hiện vùng siêu đô thị tại thủ đô trong giai đoạn
hiện nay có thể được coi như một sự phát triển đột biến lần thứ hai của hình thái không gian đô thị trong lịch sử phát triển đô thị của Hà nội
Sự xuất hiện của vùng siêu đô thị, mà Hà nội là đô thị hạt nhân, có nguyên nhân ban đầu từ sự bùng nổ về đô thị hóa do chính sách chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường, trong bối cảnh thế giới đang bước sang giai đoạn toàn cầu hóa Nó đã tạo
điều kiện cho sự thu hút đầu tư nước ngoài Đầu tư nước ngoài đã tạo nên một nhịp độ
đô thị hóa mạnh hơn đối với Hà nội trong hơn một thập kỷ vừa qua Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng tạo nên bước ngoặt trong phát triển kinh tế của thủ đô
Vì vậy, có thể thấy rằng nội lực và ngoại lực đều là những yếu tố quan trọng tác
động đến sự phát triển đột biến của hình thái không gian đô thị Hà nội trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, vai trò của ngoại lực đã
Trang 17thuật ngữ chuyên môn có tên gọi là Megalopolis, tạm gọi bằng tiếng Việt là "giải siêu
đô thị"(**) Trong đó, các đô thị hạt nhân sẽ là Hà nội và Hải phòng
Nét đặc thù lớn nhất của các hiện tượng nêu trên là sự hình thành một phạm vi lãnh thổ đô thị hóa liên tục dưới ảnh hưởng của đô thị hạt nhân, vượt ra ngoài địa giới hành chính của từng đô thị thành phần, để nối các đô thị này với nhau Với quy mô cực lớn của vùng siêu đô thị và giải siêu đô thị, các hoạt động đô thị sẽ hết sức phức tạp
Mặt khác, việc quản lý điều hành các hoạt động kinh tế xã hội cũng như các hoạt động đô thị cũng gặp nhiều khó khăn Bởi lẽ các hoạt động quản lý điều hành đối với từng đô thị thành phần lại thuộc các đơn vị chính quyền ngang cấp khác nhau
Chú thích:
(*)Trước giai đoạn công nghiệp hóa, nhịp độ đô thị hóa thấp, các đô thị đã phát triển
độc lập với nhau Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa cao, những khu vực có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp cũng là nơi thuận lợi về giao thông Những khu vực như vậy cũng lại chính là nơi có mật độ đô thị dày đặc hơn Các đô thị trong khu vực này tiếp tục phát triển mở rộng dọc theo các tuyến giao thông đối ngoại trọng yếu Kết quả là sau một thời gian nhất định, chỳng nối liền với nhau và hình thành một vùng đô thị rất lớn mà các nhà chuyên môn gọi là Metropolitan Area, tạm gọi bằng tiếng Việt là "vùng siêu đô thị" Khi đó, những phần đất nông thôn nếu còn xen kẽ tồn tại, cũng chỉ còn mang chức năng như những mảng cây xanh tập trung cho một khu vực của vùng siêu đô thị mà thôi
Sự hình thành các vùng siêu đô thị nêu trên được mô tả như một sự phát triển gắn kết với nhau của các đô thị liền kề trong một khu vực có mật độ cao các điểm dân cư đô thị, trong điều kiện phát triển đặc biệt của những vùng công nghiệp hóa cao độ
(**)Trong một số trường hợp, các vùng siêu đô thị có những tuyến giao thông quan trọng liên hệ với nhau tiếp tục phát triển mở rộng và nối liền lại thành những giải liên tục với một khoảng cách rất lớn, như: Tokyo – Nagoya – Osaka ở Nhật bản, Boston – Washington ở Mỹ, từ những năm 50 của thế kỷ trước Hình thái đô thị này được nhà địa lý học người Pháp Jean Gottmann (1915-1994) nghiên cứu trong những năm 50 của thế kỷ trước và gọi tên bằng thuật ngữ "Megalopolis", tạm gọi bằng tiếng Việt là "Giải siêu đô thị"
The term Megalopolis has even come to define something much more broadly found
than just the northeastern United States The Oxford Dictionary of Geography defines the
term as "any many-centered, multi-city, urban area of more than 10 million inhabitants, generally dominated by low-density settlement and complex networks of economic specialization."
Trang 18Source: Gottmann, Jean Megalopolis: The Urbanized Northeastern Seaboard of the United States New York: The Twentieth Century Fund, 1961
* Để khắc phục tình trạng nêu trên, chúng ta cần
Trong điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn hiện nay, do những bất cập về các cơ chế chính sách, nhiều vấn đề trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, trong phát triển đô thị, nói riêng, còn có những khó khăn đối với việc giải quyết những mối liên hệ hữu cơ về hoạt động đô thị giữa các đơn vị hành chính liền kề
Việc dự báo cho những công việc có liên quan đến xây dựng và phát triển không gian đô thị trong cả khu vực, bao gồm một số đô thị hiện có, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng bị động, khi hiện tượng này đang từng bước trở thành hiện thực
Vì vậy, ở tầm vĩ mô, vấn đề cần được nêu lên như một dự báo mang tính chiến lược, để những người làm công tác quy hoạch xây dựng đô thị có những quan tâm đúng mức, có sự phối hợp nghiên cứu giải quyết những vấn đề có liên quan Về mặt chuyên ngành quy hoạch và thiết kế đô thị, việc xuất hiện hình thái “vùng siêu đô thị„ đòi hỏi chung ta phải quan tâm đúng mức tới hệ thống kết cấu hạ tầng trong đô thị
Mặt khác cũng cần tư vấn cho các cơ quan quản lý, điều hành xã hội hữu quan,
để có thể có những thể chế thích hợp, những biện pháp liên kết cần thiết, để hình thành một cơ chế phối hợp giữa các đơn vị hành chính có liên quan, nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị được triển khai thuận lợi
Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng, với vị trí của một đô thị
có lịch sử lâu đời, gắn bó mật thiết với quá trình đô thị hóa của cả nước, tình hình đô thị hóa và phát triển của Hà nội qua các thời kỳ lịch sử, luôn luôn gắn liền với quá trình
đô thị hóa và phát triển của đất nước Sự phát triển của điểm dân cư đô thị Hà nội và nhịp độ đô thị hóa của vùng Hà nội qua các thời kỳ lịch sử cũng gắn liền với những thăng trầm lịch sử của cả nước
Để có thể phát triển ổn định, trong giai đoạn hiện nay cần có những biến đổi về chất lượng cả trong phát triển kinh tế xã hội cũng như trong xây dựng phát triển đô thị
Trang 19Chuyên đề 4.2
Dự báo chiến lược phát triển kinh tế x∙ hội, đánh giá
và khai thác các nguồn lực, dự báo phát triển dân số,
lao động, các dòng dịch cư và kiểm soát, đề xuất các
tiêu chí trong quá trình đô thị hóa và phát triển
thành phố hà nội thời kỳ 2010 - 2020
4.2.1 Đề xuất các dự báo chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2020
Hà Nội phải thể hiện rõ được vị trí, vai trò đi đầu, làm động lực thúc đẩy, lôi kéo
các tỉnh, thành phố trong vùng và cả nước phát triển Trên cơ sở dự báo những yếu tố
thuận lợi, khó khăn của Thủ đô, sau khi tính toán các phương án thể hiện quan điểm,
mục đí#ch, yêu cầu phát triển, có thể dự báo phát triển kinh tế Thành phố theo 3
phương án tương ứng với 3 trạng thái thách thức lớn; vừa thuận lợi vừa khó khăn; thuận
lợi lớn
Phương án 1: Trong điều kiện có nhiều yếu tố không thuận lợi (bất ổn định về
chính trị, kinh tế, xã hội khu vực và thế giới, hoặc xảy ra dịch bệnh, thiên tai, xung đột
khu vực); giá một số mặt hàng thế giới diễn biến phức tạp, giá dầu ở mức cao, ảnh
hưởng tiêu cực đến các ngành sản xuất; cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu xã
hội, hiệu quả của #á# cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp chưa cao; thu hút các
nguồn lực cho phát triển kinh tế gặp khó khăn, đầu tư nước ngoài không đạt mục tiêu,
huy động vốn đầu tư xã hội dưới 40% GDP Thành phố; sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp chưa chuyển biến mạnh; ngành dịch vụ, đặc biệt các ngành trình đô cao, chẩt
lượng cao, chưa phát triển bứt phá để trở thành ngành mũi nhọn Dự kiến tăng trưởng
GDP Thủ đô giai đoạn 2011-2020 là 12,0%/năm; trong đó# dịch vụ tăng
Trang 20Theo phương án này, giai đoạn 2011-2015 nhu cầu vốn đầu tư trung bình
khoảng 110 nghìn tỷ đồng/năm (gấp 1,9 lần so với năm 2005); giai đoạn tiếp theo
2006-2010 là 220 nghìn tỷ đồng/năm (bằng 3 lần năm 2005) Nguồn vốn chủ động
trong nước đạt mức trên 70% Đây là phương án "an toàn" trong điều kiện nền kinh tế
thế giới và khu vực còn nhiều biến động; khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài thấp
dưới 30% tổng vốn đầu tư xã hội
Theo phương án này thì vị trí, vai trò của Hà Nội được duy trì, nhưng không thể
hiện rõ vai trò đầu tầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước; GDP
đầu người của Hà Nội năm 2015 tăng 2,3 lần, năm 2020 tăng 4 lần so với năm 2005;
khoảng cách chênh lệch với thành phố Hồ Chí Minh có khả năng nới rộng
- Phương án 2: Trong điều kiện môi trường thế giới không có biến động lớn về
chính trị, kinh tế, xã hội, không xảy ra dịch bệnh, thiên tai lớn; Việt Nam tiếp tục phát
triển ổn định, đối phó khá tốt với các tác động tiêu cực trên thế giới; cải cách hành
chính, môi trường đầu tư có tiến bộ; các cơ chế chính sách phát triển doanh nghiệp
đồng bộ, minh bạch, phát huy hiệu quả Thành phố có các biện pháp tăng cường huy
động các nguồn lực xã hội, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài chuyển biến tốt;
tổng đầu tư xã hội đạt trên 40% GDP Thành phố Dự kiến tăng trưởng GDP Thủ đô giai
đoạn 2011-2020 đạt 11,5-12,5%/năm; trong đó dịch vụ tăng 11,5-12,5%/năm, công
Phát triển theo phương án 2 xây dựng trên giả thiết bối cảnh quốc tế và khu vực
tương đối ổn định; kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển thuận lợi Tổng nhu cầu vốn
đầu tư giai đoạn 2011-2015 khoảng 120 nghìn tỷ đồng/năm (gấp 2,3 lần năm 2005),
giai đoạn 2016-2020 là 250 nghìn tỷ đồng/năm (gấp 3,6 lần năm 2005); khả năng thu
Trang 21và thế giới, không xảy ra dịch bệnh, thiên tai lớn, an ninh khu vực và thế giới được tăng
cường; giá nhiên liệu trên thế giới ổn định ở mức giá hợp lý; nhiên liệu thay thế dầu lửa
được sử dụng phổ biến ) Hà Nội huy động tốt và sử dụng hợp lý các nguồn lực xã hội
cho đầu tư phát triển (môi trường đầu tư được cải thiện rõ rệt; cơ chế, chính sách đồng
bộ, rõ ràng, minh bạch và tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế; cải cách hành chính
đạt kết quả tốt ); hoạt động xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước được tăng cường, đảm
bảo thu hút và sử dụng hiệu quả, đạt khoảng 45% GDP; đồng thời các địa phương trong
vùng có sự phát triển nhanh, hợp tác vùng đạt hiệu quả cao Dự kiến tăng trưởng GDP
Thủ đô giai đoạn 2011-2020 đạt 12,0-13,0%/năm; trong đó# dịch vụ tăng
Để thực hiện được phương án này, nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 5 năm
2011-2015 trung bình khoảng 135 nghìn tỷ đồng/năm (gấp 2,4 lần năm 2005) và 285 nghìn
tỷ đồng/năm (gấp 4,0 lần năm 2005); khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên
35% GDP đầu người của Hà Nội năm 2015 tăng 2,4 lần, năm 2020 tăng 4,4 lần so với
năm 2005 Phát triển theo phương án này giúp Hà Nội đuổi kịp và ngang bằng với Thủ
đô của một số nước phát triển trong khu vực, nâng cao vị trí, vai trò của Thủ đô trong
tổng thể nền kinh tế của cả nước, kéo sự phát triển chung của các tỉnh, thành phố trong
vùng Bắc bộ và cả nước
Trang 22Lựa chọn phương án phát triển
Phương án phát triển vừa đảm bảo tính khả thi về khả năng cung cấp nguồn lực (lao động, vốn đầu tư, công nghê ), vừa thể hiện mục tiêu để Thủ đô thể hiện ngày càng rõ vị trí, vai trò trong cả nước, xứng tầm trong khu vực
Các phương án trên đều giả thiết tình hình khu vực và thế giới tuy còn chứa
đựng các yếu tổ chưa ổn định, nhưng sẽ không xảy ra những khủng hoảng kinh tế lớn, chiến tranh trên qui mô rộng Các nền kinh tế lớn trên thế giới phát triển ổn định, các nước khu vực châu á – Thái Bình Dương tăng trưởng khá
Nỗ lực cải cách mạnh mẽ nền kinh tế trong nước nói chung và Hà Nội nói riêng
sẽ quyết định đến khả năng tăng trưởng kinh tế của Hà Nội Những cải cách về hành chính, quản lý, cơ chế kinh tế sẽ tạo điều kiện khai thác tốt hơn tiềm năng phát triển:
Theo các nghiên cứu của UNESCAP (2005), việc giá dầu tăng mạnh thời gian qua do
ảnh hưởng của tăng cầu đã tác động tiêu cực ở mức độ thấp hơn và ngắn hơn so với trường hợp khủng hoảng dầu lửa, giảm cung trong những năm 1970-1980 Các nước trên thế giới., đặc biệt ở các nước phát triển, hay các quốc gia tiêu thụ dầu lớn (Trung Quốc, ấn Độ) đã chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tập trung đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng Một số nước phát triển đã triển khai nghiên cứu tìm nguồn năng lượng thay thế Đây là một trong những cơ sở để có thể dự báo mức độ phụ thuộc của tăng trưởng kinh tế vào dầu lửa trong 15-20 năm tới sẽ giảm dần
Đối với Việt Nam “xăng dầu” hiện vẫn là một mặt hàng chiến lược và nhạy cảm đối với kinh tế xã hội cả nước Tuy nhiên, vừa là một nước nhập khẩu xăng dầu, vừa là một nước xuất khẩu dầu thô, việc tăng giá dầu thời gian qua có ảnh hưởng tích cực đối với ngân sách nhà nước; mức tăng ngân sách dưới tác động của giá dầu tăng là khoảng 8%/năm; xuất khẩu dầu thô tăng từ 9,7% (2003) lên 15,3% GDP1 Tác động tiêu cực của việc tăng giá dầu đối với các chỉ tiêu kinh tế khác không lớn Với trọng số của xăng dầu trong rổ hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở Việt Nam là khoảng 3,3%, tác
động trực tiếp của việc tăng giá xăng dầu lên CPI thời gian qua là nhỏ Theo nghiên cứu của Lee ngay cả khi tính chung tác động trực tiếp và gián tiếp, do có những can thiệp của Chính phủ trong điều tiết giá dầu lửa, ảnh hưởng của việc tăng giá dầu đối với mặt bằng giá chung là tương đối nhỏ 2
Tuy nhiên, trong tương lai, Chính phủ sẽ không thể tiếp tục can thiệp vào thị trường xăng dầu như hiện nay, các cú sốc giá dầu thế giới sẽ có thể là nguyên nhân gây vòng xóay chi phí đẩy, dẫn đến lạm phát cao, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Do vậy Việt nam cần có chiến lược nghiên cứu, chuyển dần sang nguồn nhiên liệu mới, tập trung vào các ngành sử dụng tiết kiệm năng lượng để bảo đảm tốc độ tăng trưởng và phát triển bền vững
Nguồn: (1) Võ Trí Thành (2006) Tác động của biến đổi giá dầu và thị trường xăng dầu Việt Nam; (2) Lee, I.H (2005) Impact of Oil Price Increase in Vietnam and Policy Response.
Trang 23và chuyển giao công nghệ, tư vấn, viễn thông, điện tử tin học và dịch vụ phần mềm, cơ khí chế tạo, thiết kế và công nghiệp khuôn mẫu… Vị trí, vai trò của kinh tế Thủ đô trong cả nước tiếp tục được nâng lên; dự báo năm 2020 kinh tế Thủ đô đóng góp 13-14% trong GDP cả nước
Trong trường hợp xuất hiện những thời cơ và khả năng đột phá lớn, Hà Nội có thể phát triển theo phương án 3 Phương án này có thể thực hiện khi yếu tố quốc tế có lợi cho Việt Nam, trong nước có những cơ chế, chính sách đặc thù, ưu tiên cho phát triển Thủ đô; khả năng kêu gọi đầu tư trong nước và ngoài nước, phát huy vai trò của các ngành dịch vụ, công nghiệp sử dụng công nghệ cao, thông tin hiện đại ngang tầm với các thành phố lớn khác trong khu vực Tuy nhiên, đảm bảo tốc độ tăng trưởng liên tục 13% trong 10 năm là một thách thức lớn, đặc biệt khi vấn đề phát triển bền vững, giảm khoảng cách chênh lệch giàu-nghèo, bảo vệ môi trường được đặt ra như một mục tiêu chiến lược của Thành phố
Vấn đề Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô dự báo sẽ diễn ra theo hướng tăng độ mở của nền kinh tế, tăng cường liên kết, gắn kết chặt chẽ với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Thủ đô và cả nước, phát huy vai trò tiên phong,
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy trong thời kỳ đầu thực hiện công nghiệp hóa tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các thành phố lớn, các vùng duyên hải cao hơn mức chung của cả nước; (điều này khác so với cấp quốc gia, khi những nền kinh tế lớn, phát triển thường có tốc độ tăng thấp hơn so với các nền kinh tế đang phát triển) Kết quả là khoảng cách mức sống giữa các thành phố lớn, các vùng duyên hải và các tỉnh khác có xu hướng tăng lên Trong giai đoạn 1978-1998 vùng duyên hải Trung Quốc tăng bình quân 10,3%, các thành phố lớn (Bắc kinh, Thượng Hải, Tianjin) tăng 7,9%, còn vùng Đông Tây tăng 7,4%, Tây Bắc tăng 7,7%, Đông Bắc tăng 7,3% Những năm gần đây Bắc kinh có tốc độ tăng cao hơn (năm 2004 tăng 13,2%)
Nghiên cứu cho thấy, việc gia tăng cách biệt trong tăng trưởng xuất phát từ điều kiện thuận lợi hơn trong thương mại, đầu tư với thế giới đã được các tỉnh, thành phố này phát huy mạnh trong thời gian đầu công nghiệp hóa (khoảng cách chênh lệch tốc
độ phát triển giữa nhóm có tốc độ tăng cao nhất và thấp nhất thời kỳ 1953-1978 là 2,3, thời kỳ 1979-1998 tăng lên 3,0.) Độ mở được đo bằng tổng thương mại trao đổi
so với GRP của các tỉnh, thành này đều khá cao
Nguồn: Kanbur, R and X Zhang, 2001: Fifty Years of Regional Inequality in China: A Journey Through Revolution, Reform and Openness, Working Paper 2001-
04, Department of Applied Economics and Management, Cornell University, available at the website: <aem.cornell.edu/research/researchpdf/wp0104.pdf>; Can
Wang , China’s GDP: Examining Provincial Disparity.
Trang 24"hướng dẫn" và tạo động lực lôi kéo sự phát triển chung của toàn vùng và cả nước Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô sẽ phát huy tốt tiềm năng, lợi thế so sánh, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức; tập trung trọng tâm vào chuyển dịch cơ cấu nội ngành và cơ cấu công nghệ để nhanh chóng nâng cao chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của kinh tế Thủ đô trong nước và quốc tế
Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô phải kết hợp hài hoà với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường, giữ cân bằng sinh thái và phát triển bền vững
Từ thực tế phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô thời gian qua, từ dự báo bối cảnh quốc tế và trong nước thời gian tới; từ vai trò, vị thế Thủ đô và khả năng phát triển, tăng trưởng kinh tế - xã hội Hà Nội; dự báo cơ cấu kinh tế của Hà Nội sẽ phát triển ở trình độ tiên tiến của khu vực: Nông nghiệp chiếm khoảng 1,0%, Công nghiệp chiếm 39,5-40,5%, Dịch vụ chiếm 58,5-59,5% Ngành dịch vụ chất lượng cao và trình
độ cao đóng vai trò trọng yếu trong cơ cấu kinh tế Thủ đô; hình thành rõ nét các yếu tố của kinh tế tri thức Các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất công nghiệp Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng đô thị được cải tạo và xây dựng đồng bộ, hiện đại, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người Thủ đô tăng gấp khoảng 4,2 lần hiện nay (đạt khoảng 6.000 USD/người)
Hình 4.3.1.Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô
0,5 1,0 1,5 2,0 2,5 3,0 3,5
-Dịch vụ Cụng nghiệp Nụng lõm thuỷ sản
Trang 25Bước vào thập kỷ 10 của thế kỷ XXI, Thủ đô Hà Nội với lịch sử 1.000 năm sẽ khẳng định và nâng cao hơn nữa vai trò là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, giáo dục và y tế không chỉ ở trong nước mà còn ở khu vực Hà Nội có những điều kiện, yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội một cách toàn diện:
Quốc tế: Dự báo trên thế giới, khu vực châu á – Thái Bình Dương nói chung và
Đông Nam á nói riêng, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng1 Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phát triển, dự báo sẽ không có những khủng hoảng qui mô lớn toàn cầu Các nước khu vực châu á – Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng cao Trung Quốc và ấn Độ sẽ trở thành cường quốc kinh tế lớn trên thế giới, ảnh hưởng mạnh tới kinh tế các nước trong khu vực
Toàn cầu hóa kinh tế sẽ tạo nhiều cơ hội phát triển Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực, thế giới sẽ được nâng lên ở tầng cao mới Sự tham gia tích cực, chủ động, linh hoạt trong khuôn khổ WTO, trong cộng đồng kinh tế ASEAN-AEC, Diễn đàn APEC sẽ tạo điều kiện tăng nhanh qui mô trao đổi thương mại, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh
Trong nước: Những thành tựu phát triển của 25 năm đổi mới (1986-2010) làm cho thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước Việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình tạo thêm nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội Kinh tế Việt Nam dự báo sẽ tiếp tục phát triển nhanh trong thập kỷ 10 của thế
kỷ 21 Sự phát triển chung của cả nền kinh tế cùng những cải cách về thể chế và khuôn khổ pháp lý, sự tham gia hội nhập kinh tế thế giới sẽ tạo ra những cơ hội tốt để Hà Nội phát triển, nâng cao sức cạnh tranh
Đặc biệt sau khi vào WTO, các doanh nghiệp sẽ cải thiện khả năng tiếp cận thị trường, được hưởng các qui chế, điều kiện thương mại ưu đãi của các nước phát triển,
được đối xử bình đẳng trong giải quyết các tranh chấp thương mại Cùng với hội nhập, hợp tác phát triển toàn diện giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận trong Vùng kinh tế trọng
điểm Bắc bộ, Vùng Thủ đô và trong cả nước sẽ tạo ra sự phân công lao động, sản xuất hợp lý và hiệu quả Các doanh nghiệp Hà Nội với những lợi thế so sánh về lao động, vốn, công nghệ có triển vọng tăng nhanh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh
Trong giai đoạn 1989-2003 kinh tế các nước thành viên APEC tăng trưởng cao, đạt tốc độ 46%, trong đó các nước thành viên có thu nhập thấp tăng 77% (các nước ngoài APEC chỉ tăng 36%) Nhờ tăng trưởng cao thu nhập đầu người của các nước APEC tăng 26%, cao hơn 3 lần so với các nước ngoài APEC (tăng 8%)
Nguồn: Kiểm điểm giữa kỳ tình hình thực hiện các mục tiêu Bô-go - Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á – Thái Bình Dương
Trang 26- Sự ổn định về chính trị ?dân chủ và cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô, sự mở rộng hơn nữa cho các doanh nghịêp nước ngoài tham gia đầu tư vào Việt Nam (như mở rộng tỷ lệ tham gia cả trực tiếp và gián tiếp của đối tác nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam; thu hẹp đối tượng ngành nghề Nhà nước nắm giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối), đóng góp của khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong nền kinh
tế Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh
Vốn FDI?
Ngoài nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) sẽ là kênh thu hút vốn đầu tư quan trọng, thúc đẩy thị trường tài chính mở rộng qui mô, nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển
Đặc biệt số lượng, qui mô các nhà đầu tư có tổ chức, các Quỹ đầu tư sẽ tăng nhanh, góp phần tăng “cầu” và tính thanh khoản cho thị trường Các tổ chức sẽ định hướng và xác lập một cách chuyên nghiệp giá trị cổ phiếu, giảm thiểu những dao động
“phi thị trường” tạo ra bởi những giao dịch mang tính đầu cơ, tăng tính ổn định cho thị trường Với vai trò là các cổ đông có kinh nghiệm, các nhà đầu tư tổ chức còn góp phần cải thiện thực tiễn quản trị công ty, ảnh hưởng tích cực tới lợi nhuận kinh doanh, kết quả hoạt động của doanh nghiệp
- Hệ thống ngân hàng sẽ được “mở cửa” cho các nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình BTA Các ngân hàng quốc tế sẽ trở thành các cổ đông chiến lược của các ngân hàng cổ phần trong nước, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả quản lý, đa dạng hóa các dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
Hệ thống cơ sở pháp lý liên quan đến lĩnh vực đầu tư và chứng khoán được ban hành đầy đủ và đồng bộ là cơ sở bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, tự do hoá nguồn vốn
đầu tư trực tiếp và gián tiếp, thực hiện minh bạch, công khai thông tin đối với các nhà
đầu tư, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư Các công ty định mức tín nhiệm có uy tín như Standard & Poor’s, Moody sẽ tham gia thị trường Việt Nam Thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt các doanh nghiệp Nhà nước có qui mô lớn và hấp dẫn, như Vinamilk, Sacombank, Tái bảo hiểm Việt Nam, Bảo Minh, Petrolimex , là cơ hội lớn để thu hút các nhà đầu tư trong nước, ngoài nước Những yếu tố trên là cơ sở
để dự báo thị trường chứng khoán tập trung, thị trường chứng khoán phi tập trung đều
sẽ phát triển với tốc độ và quy mô lớn
- Hà Nội tiếp tục là nơi tập trung tiềm lực khoa học kỹ thuật lớn mạnh nhất
Trang 27Hà Nội sẽ phát triển theo hướng tiếp nhận chuyển giao các công nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất, tranh thủ đi nhanh vào các công nghệ mũi nhọn, như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hóa
- Hà Nội sẽ là một trong những thành phố có chất lượng lao động khá nhất trong cả nước Tiềm năng khoa học, giáo dục đào tạo với nhiều nghề tinh sảo ở đỉnh cao của nước ta Đội ngũ cán bộ quản lý, doanh nhân, chuyên gia giỏi đã được hình thành ở giai đoạn đầu
- Lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội sẽ quảng bá mạnh mẽ hình ảnh
Hà Nội trên thế giới, tạo sự hấp dẫn cao cho các du khách trong nước và ngoài nước, tạo đà phát triển ngành du lịch Thành phố
4.2.2.2 Những thách thức
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn,
đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp Kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc, khó lường Cạnh tranh kinh tế, thương mại, thị trường , nguồn vốn, công nghệ sẽ ngày càng gay gắt Nguy cơ chiến tranh cục bộ, khủng bố quốc tế diễn ra với tính chất ngày càng phức tạp Tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại, khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp, các dịch bệnh lớn có chiều hướng tăng2 Tác động của việc giá dầu vẫn ở mức cao, những biến động trong nền kinh tế Mỹ do giá nguyên nhiên liệu trên thế giới trong năm 2006 dự báo sẽ tiếp tục ở mức cao
2 Văn kiện Đại hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ X NXB Chính trị quốc gia, 2006; tr 75
Sau giai đoạn tăng mạnh vào năm 1973-1979, giá dầu đã đứng ở mức ổn định 20 USD/thùng cho đến cuối những năm 1990 Bắt đầu từ năm 2003 đến nay giá dầu bắt đầu tăng mạnh trở lại: tăng lên 35 USD/thùng năm 2005 và đạt mức 74 USD/thùng đầu năm
Nguồn: (1) Lee Houng Giá dầu tăng và những phản hồi chính sách; (2) Cung – cầu dầu mỏ thế giới và chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam (http://www.moi.gov.vn/BForum/detail.asp?Cat=15&id=1864)
Trang 28- Cả nước, vùng Bắc bộ đòi hỏi Hà Nội phát triển nhanh mạnh nhưng phải bền vững, ổn định
- Không thể tiếp tục tụt hậu so với Thủ đô của các nước trong khu vực
- Mở cửa và hội nhập quốc tế sẽ đặt áp lực cạnh tranh từ quốc tế sẽ là thách thức lớn đối với các nhà sản xuất trong nước Hà Nội trước sức ép cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế và ngay tại Hà Nội Dự báo sẽ có nhiều doanh nghiệp phá sản, kéo theo những vấn đề xã hội: thất nghịêp, đào tạo việc, phân cấp giàu nghèo
- sức ép về tăng dân số (đặc biệt dòng di cư tự nhiên) sẽ kéo theo nhiều vấn đề (nhà ổ chuột trong đô thị, tệ nạn xã hội, phân cấp giàu nghèo gia tăng ): quy mô dân
số hợp lý, từng bước nâng cao chất lượng dân số, chống lại tình trạng đói nghèo; gắn liền công tác dân số với quá trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững
- Kết cấu hạ tầng còn hạn chế Phần lớn trang bị kỹ thuật của các doanh nghiệp rất lạc hậu, cần hiện đại hoá
- Khả năng xuất khẩu còn hạn chế, manh mún; chưa có mặt hàng chủ lực, chất lượng hàng xuất khẩu còn thấp, sức cạnh tranh còn hạn chế
- Nguy cơ thiên tai (hạn hán, lũ lụt…), các dịch bệnh của con người và trên gia súc, nguy cơ thiếu điện sẽ là những thách thức
- Trữ lượng dầu thế giới không còn nhiều; giải pháp tìm nhiên liệu thay thế; khả năng giá dầu thế giới dao động ở mức cao sẽ tiếp tục có những ảnh hưởng không thuận
Đặc biệt trong tương lai các doanh nghiệp sẽ phải học cách tự đối phó và điều chỉnh linh hoạt hơn vì sẽ không còn trợ giá Nhà nước nhiều như hiện nay
- Tình hình khó có thể được cải thiện đánh kể trong năm tới khi giá đất đang bị các hoạt động đầu cơ đẩy lên quá cao so với khả ngăng của đại bộ phận dân chúng
- Vấn đề đình công và mâu thuẫn chủ - thợ tại các khu công nghiệp
Trang 29Đất đai sẽ là yếu tố quan trọng để Hà Nội huy động vốn đầu tư, kinh doanh và phát triển kinh tế Theo kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển, nếu khai thác hiệu quả đất đai, biến đất đai thành vốn kinh doanh và sử dụng hiệu quả, thì nguồn vốn huy động từ đất đai là rất lớn
Khả năng phát hành Trái phiếu của Thành phố tại thị trường trong nước và ngoài nước để thu hút vốn đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng là khá lớn
Trên cơ sở đó, dự báo trong 5 năm 2011-2015 nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Thành phố sẽ chiếm khoảng 17% tổng vốn đầu tư xã hội, trung bình đạt 20.000 tỷ
đồng/năm (nếu tính theo giá 2005 số vốn đầu tư từ ngân sách sẽ gấp 1,2 lần năm 2005) Giai đoạn tiếp theo (2016-2020) vốn đầu tư từ ngân sách dự kiến sẽ là 35.000 tỷ
đồng/năm (gấp 1,5 lần năm 2005)
+ Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghịêp trong nước và người dân
Việc tham gia khá sâu vào thương mại thế giới thông qua WTO, cải thiện môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh, tăng cường, mở rộng xã hội hóa, cơ sở pháp lý
đầy đủ cho phép đầu tư dưới nhiều hình thức (BOT, BTO, BO ) sẽ là những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến huy động các nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước: vốn trong nước và vốn ngoài nước Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, huy động vốn từ dân dự báo sẽ tăng mạnh
Hà Nội là nơi tập trung nhiều Tổng công ty lớn của cả nước Sau khi cổ phần hóa, các Tổng công ty sẽ có nhiều thuận lợi trong việc liên kết, hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp, các công ty nước ngoài, đặc biệt các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn quốc tế Các Tổng công ty sẽ phát triển thành những tập đoàn tài chính, các doanh nghiệp mẹ-con kinh doanh đa lĩnh vực Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp dự báo
sẽ tăng nhanh
Khu vực kinh tế tư nhân của Hà Nội cũng sẽ phát triển mạnh Dự báo số lượng doanh nghiệp ở Hà Nội sẽ đạt mức trung bình của các nước trong khu vực (Tỷ lệ số doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trên 100 dân ở Đài loan (2003) là 5,1 SME/100 dân; Singapore (2005) là 2,5 SME/100 dân); dự báo sẽ đạt khoảng 12-14 vạn SME năm
2015 và 16-18 vạn vào năm 2020
Việt nam đang tích cực tham gia vào các tổ chức, diễn đàn kinh tế quốc tế, và khu vực Các hàng rào thương mại (thuế quan và phi thuế quan) đang được dần dần giảm hoặc dỡ bỏ, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập dễ hơn vào thị trường quốc
tế Mức thuế quan trung bình được các nền kinh tế APEC áp dụng đã giảm từ 16,9% năm 1989 xuống 5,5% năm 2004 1 Đây là cơ hội để Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có thể phát huy được lợi thế so sánh, sức cạnh tranh thông qua trao đổi thương mại thế giới, giúp tăng trưởng kinh tế cao, ổn định
Nguồn: (1) Kiểm điểm giữa kỳ tình hình thực hiện các mục tiêu Bô-go - Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á – Thái Bình Dương
Trang 30Ngoài ra, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư là rất lớn Tính đến cuối năm 2005 riêng số dư tiết kiệm tại các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội là khoảng trên 12 tỷ USD, cao hơn thành phố Hồ Chí Minh Phát triển hệ thống ngân hàng, các quĩ đầu tư, các trung tâm chứng khoán, đa dạng hóa các dịch vụ sẽ cho phép Hà Nội huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này
Trên cơ sở đó, dự báo trong 5 năm 2011-2015 nguồn vốn đầu tư trong nước từ các doanh nghiệp và người dân sẽ chiếm khoảng 53% tổng vốn đầu tư xã hội, trung bình đạt 64.000 tỷ đồng/năm (bằng 2,3 lần năm 2005) Giai đoạn tiếp theo (2016-2020) vốn đầu tư từ ngân sách dự kiến sẽ là 127.000 tỷ đồng/năm (gấp 3,4 lần năm 2005)
4.2.3.2 Nguồn vốn ngoài nước
+ Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả vốn đầu tư trực tiếp FDI và gián tiếp FII
Các vụ chuyển nhượng, sáp nhập công ty, sự phát triển nhanh chóng của các tập
đoàn xuyên quốc gia là những yếu tố thúc đẩy dòng lưu chuyển vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới (trung bình từ 94 tỷ USD những năm 80, 390 tỷ USD trong đầu những năm 90 và tăng lên 540 tỷ USD trong nửa cuối những năm 90, tỷ những năm
đầu thế kỷ 21) Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin tiếp tục sẽ góp phần gia tăng mạnh các dòng lưu chuyển vốn trên thế giới Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, châu á – Thái Bình Dương sẽ tiếp tục là nơi có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và năng động nhất trong 20 năm tới, là khu vực hấp dẫn, thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư nước ngoài Trung Quốc sẽ không chỉ là nhập khẩu vốn đầu tư mà sẽ là quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư lớn trong khu vực
Tham gia vào WTO, mở rộng các điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong những lĩnh vực mà nhà nước hiện đang nắm giữ, sẽ tạo sức hấp dẫn lớn cho các nhà đầu tư Trong bối cảnh đó, tuy có những khó khăn thách thức, nhưng Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có những cơ hội thuận lợi để tăng cường nguồn vốn đầu tư nước ngoài Dự báo khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm cả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp (FII) trong giai đoạn 2011-2015 sẽ
đáp ứng được 27%, giai đoạn tiếp theo sẽ đáp ứng 32% tổng vốn đầu tư xã hội Trung bình mỗi năm vốn đầu tư nước ngoài sẽ đạt 32.000 tỷ đồng trong 5 năm đầu (2011-2015) (gấp 3,5 lần vốn FDI trung bình một năm giai đoạn 2001-2005) và tăng lên
Trang 31Trung Quốc sau năm 2010 là nền kinh tế có qui mô rất lớn, có khả năng sẽ tăng cường viện trợ ODA như một biện pháp để gia tăng ảnh hưởng Các tổ chức tài chính quốc tế (WB, IMF, ADB ) vẫn sẽ là nguồn cung cấp vốn ODA quan trọng cho các dự án lớn ở Việt Nam
Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng dự báo sẽ nhận được ODA chủ yếu từ các nước truyền thống, như Nhật, Pháp, Australia, một số nước NIC’s trong vùng như
Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và một số tổ chức tài chính quốc tế Mức
độ thu hút vốn ODA phụ thuộc nhiều vào khả năng tranh thủ nguồn vốn của các tổ chức quốc tế và các nước có truyền thống tài trợ lớn cho Việt Nam
Dự báo giai đoạn 2011-2020 Hà Nội sẽ huy động vốn ODA khoảng 500-700 triệu USD Nếu tranh thủ được nhiều hơn nguồn ODA, đặc biệt của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, Hà Nội có thể sẽ đạt 1 tỷ USD vốn cam kết Các kết quả từ hoạt
động đơn giản hóa thủ tục sẽ giúp giải ngân, nâng tỷ lệ giải ngân nguồn vốn ODA
Tổng hợp khả năng huy động các nguồn vốn của Hà Nội, dự báo kế hoạch vốn trong thời gian 2011-2020 của Thành phố như sau:
Bảng 4.2.4 Dự kiến huy động các nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2011 - 2020
4.2.3 Dự báo phát triển dân số, lao động, việc làm giai đoạn 2011-2020
Trong khoảng 15-20 năm tới, xu hướng đô thị hóa Hà Nội tiếp tục diễn ra trên qui mô lớn hơn với tốc độ cao Hiện nay quá trình đô thị hoá nhanh một cách tự phát, dân số tăng nhanh (chủ yếu là tăng cơ học) trong điều kiện chưa đảm bảo về kết cấu hạ tầng đã dẫn đến nhiều bất cập trong xã hội (giao thông, đường xá, cấp điện nước, việc làm…) Theo kinh nghiệm của các nước, phát triển dân số ổn định ở mức hợp lý là nhân
tố quan trọng có ý nghĩa hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội Việc quản lý tốt, kiểm soát được quá trình đô thị hóa là một trong những điều kiện quan trọng để bảo
đảm Thủ đô phát triển một cách bền vững
Theo dự báo dân số Hà Nội sẽ tiếp tục tăng cùng với quá trình đô thị hóa và mở rộng Thành phố Tuy nhiên, tốc độ tăng, qui mô dân số sẽ phụ thuộc vào chiến lược
Trang 32phát triển Thành phố, vào hiệu quả cơ chế quản lý dân cư trong tổng thể Vùng Thủ đô, cũng như hệ thống điều phối giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận
Trên giả thiết mức độ hiệu quả quản lý dân cư khác nhau, có thể dự báo dân số
Hà Nội phát triển theo 3 phương áni:
Phương án cao: giả thiết mức sinh được giữ nguyên TFR bằng 1,95 con/phụ nữ, mức chết thông qua tuổi thọ bình quân giảm, tỷ suất di dân thuần tuý , dân số Hà Nội
sẽ đạt 4,2 triệu năm 2015 và 4,8 triệu năm 2020
Phương án trung bình: giả thiết mức sinh sẽ giảm dần, trung bình 5 năm
2011-2015 TFR bằng 1,9 con/phụ nữ, 5 năm tiếp theo 1,85 con/phụ nữ, tỷ suất di dân thuần tuý được khống chế ở mức cho phép, dân số Hà Nội sẽ đạt 4,15 triệu năm 2015 và 4,65 triệu năm 2020
Phương án thấp: giả thiết mức sinh sẽ giảm dần, trung bình 5 năm 2011-2015 TFR bằng 1,85 con/phụ nữ, 5 năm tiếp theo 1,75 con/phụ nữ, tỷ suất di dân thuần tuý thấp, dân số Hà Nội sẽ đạt 4,1 triệu năm 2015 và 4,6 triệu năm 2020
4.2.3.1 Dân số - lao động
Phát triển dân số của Hà Nội đến năm 2011-2020 cần đảm bảo mục tiêu giải quyết hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, giữa vấn đề phát triển nguồn nhân lực và phát triển hạ tầng xã hội Trên cơ sở giả thiết Thành phố sẽ thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình, khống chế tốt mức tăng dân số tự nhiên, cơ chế phối hợp quản lý dân cư giữa Hà Nội và các tỉnh thực hiện hiệu quả dự báo dân số Thành phố sẽ phát triển theo phương án trung bình, ổn định mức tăng tự nhiên dân số xấp xỉ mức sinh thay thế, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,05%; tăng cơ học dưới 1% Dân số Hà Nội năm
2015 sẽ đạt khoảng … triệu dân, năm 2020 tăng lên … triệu dân; tốc độ tăng dân số trung bình giai đoạn 2011-2020 là …%/năm Tỷ lệ dân số thành thị của Hà Nội chiếm 80-90% số dân
Với cơ cấu dân số trẻ, số lượng người trong độ tuổi lao động sẽ chiếm khoảng
…% dân số, hay … triệu người
Hà Nội tiếp tục dẫn đầu và là Trung tâm giáo dục đào tạo lớn nhất cả nước Hệ thống đào tạo được điều chỉnh đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của xã hội Kết quả của việc thực hiện xã hội hóa, kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư đã giúp phát triển mạnh hệ thống đào tạo với nhiều hình thức đa dạng (bao gồm tại các trường và doanh nghiệp)
Trang 332020 (dự báo)
77,0 74,9
76,0 74,9
75,0 73,5
4.2.3.2 Việc làm
Giai đoạn 2011-2015 vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp dự kiến là 9.000 tỷ đồng,
5 năm tiếp theo là 28.000 tỷ đồng; vốn đầu tư cho ngành công nghịêp tương ứng 236.000
tỷ đồng và 712.000 tỷ đồng; ngành dịch vụ là 368.000 tỷ đồng và 1.140 tỷ đồng
Trên cơ sở dự kiến mức vốn đầu tư tạo một việc làm mới, giai đoạn 2011-2015
sẽ tạo ra 125.000 việc làm mới trong ngành công nghiệp và 400.000 việc làm mới
trong ngành dịch vụ Trung bình trong 5 năm 2011-2015 sẽ tạo được việc làm mới
mỗi năm
Số việc làm mới trong ngành nông nghiệp được tạo ra sẽ giúp giải quyết việc
làm cho lực lượng lao động mới, tăng tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng Số việc
làm mới thuần nông sẽ không tăng mà giảm đi Lao động mới được tạo ra từ các làng
nghề thủ công, sản xuất ra các sản phẩm mỹ nghệ truyền thống phục vụ xuất khẩu hay
du lịch Dự kiến số lao động mới này sẽ là người giai đoạn 5 năm đầu và lao động
5 năm tiếp theo
Tỷ lệ lao động trình độ cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là lao
động mới, sẽ liên tục tăng và tăng nhanh trong 5 năm 2015-2020 sau khi Hà Nội đã
thực hiện cơ bản công nghiệp hóa
Giai đoạn 2011-2015 giải quyết việc làm cho người lao động bình quân mỗi
năm 75.000-80.000 người và giai đoạn 2016-2020 mỗi năm 70.000-75.000 người Tỷ
lệ thất nghiệp khu vực thành thị trên địa bàn Hà Nội khoảng 4,0-6,0% số người trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động và nhu cầu việc làm
Bảng 4.2.6 Dự báo cơ cấu việc làm
Trang 344.2.4 Dự báo các dòng dịch cư nông thôn – đô thị và các giải pháp hỗ trợ, kiểm soát và quản lý
4.2.4.1 Dự báo các dòng dịch cư nông thôn – đô thị
Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa sẽ sắp xếp, cơ cấu lại lực lượng lao động xã hội, chuyển dần lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch vụ Qui luật này sẽ chi phối sự phát triển kinh tế, phân công lao động giữa các tỉnh, khu vực và quốc gia
Sự chuyển dịch lao động theo không gian đồng thời cũng diễn ra, sẽ kéo theo luồng di dân nông thôn vào đô thị, như là một hệ quả tất yếu Hà Nội tiếp tục là nơi có sức hút mạnh mẽ đối với lao động ở những tỉnh lân cận trong Vùng Thủ đô và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ do chênh lệch về hạ tầng đô thị, hạ tầng xã hội, việc làm
Sự chênh lệch về mức sống giữa Hà Nội và các tỉnh, thành lân cận cũng là yếu tố quan trọng tác động đến hiện tượng di dân về Hà Nội Một bộ phận dân cư, đặc biệt là thanh niên hy vọng tìm được ở Hà Nội những cơ hội tốt hơn để phát triển cũng như các dịch
vụ giáo dục, y tế
Lực lượng lao động “mới” từ nông thôn, từ các tỉnh sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu lao động của thành phố, khỏa lấp những chỗ (segment) trống của thị trường lao
động Hà Nội, khi người dân nội thành không sẵn sàng cho một số lao động giản đơn,
có thu nhập thấp Ngòai ra, lực lượng lao động “di cư” có trình độ vừa là nguồn bổ sung quan trọng cho nhu cầu lao động trình độ cao, vừa là yếu tố cân bằng chi phí lao
động ở mức hợp lý Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, việc di cư lao động tự phát
đặt ra nhiều vấn đề cho Thành phố Phần lớn lao động từ các địa phương về Hà Nội không có nghề chuyên môn, không có nơi lưu trú ổn định Việc di chuyển thường xuyên để tìm việc làm là nguyên nhân gây ra những lộn xộn, khó khăn trong bảo vệ trật tự an toàn xã hội, tạo ra những khu nhà “ổ chuột” Số lao động này, đặc biệt trẻ
em dễ mắc vào các tệ nạn xã hội và tội phạm
4.2.4.2 Các giải pháp hỗ trợ, kiểm soát và quản lý dòng dịch cư
Thành phố cần phối hợp chặt chẽ với các tỉnh trong Vùng Thủ đô, Vùng kinh tế trọng điểm thực hiện tốt các biện pháp nhằm hạn chế việc di cư lao động tự phát, kiểm soát được số lượng lao động tự do tại Hà Nội Trong giai đoạn tới để định hướng dòng
di chuyển lao động và dân cư phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đô thị cần không chỉ và không thể đơn thuần là các biện pháp hành chính, mà phải có hệ thống giải pháp, kết hợp kinh tế với hành chính, có sự phối hợp nhịp nhàng
Trang 35nơi thuận tiện cho người lao động ngoại tỉnh (gần bến xe, gần các khu, cụm công nghiệp ), hoàn toàn miễn phí và đơn giản Tại đây sẽ là nơi giới thiệu việc làm, chủ yếu việc làm thời vụ cho người lao động Cần xây dựng hệ thống cơ chế để ràng buộc những người chủ thuê lao động chỉ được thuê lao động ngoại tỉnh đã có thẻ Các cơ quan quản lý lao động, cơ quan công an qua đó sẽ kiểm soát, theo dõi được số lao động
tự do
- Phối hợp với các địa phương trong Vùng xây dựng hệ thống trường đào tạo nghề hợp lý Hà Nội không thể chỉ quan tâm đến việc đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn Hà Nội, mà còn phải có trách nhiệm đến đào tạo nghề cho lao động trong Vùng Biện pháp này vừa nâng cao vai trò của Thủ đô trong Vùng, giúp các tỉnh có cơ hội phát triển kinh tế nhanh, mà còn giúp Hà Nội định hướng một cơ cấu lao động hợp
lý tòan Vùng và hạn chế những vấn đề xã hội phát sinh do chênh lệch phát triển giữa
Hà Nội và các địa phương Kinh phí đào tạo nghề sẽ do nguồn ngân sách của các tỉnh,
Hà Nội và người lao động đóng góp
- Tạo sức hút lao động, dân cư ngay tại địa bàn nông thôn Đây là một hệ thống các biện pháp kinh tế không chỉ đối với khu vực ngoại thành mà ngay đối với các tỉnh trong phạm vi cả nước Cần đặc biệt chú ý tới các tỉnh mà hiện nay trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp kém, hiện đang có lực lượng lao động tự do tại Thủ đô khá
đông (Thanh Hoá, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam ) Cần xây dựng, phát triển các Khu, Cụm công nghiệp theo qui hoạch trên địa bàn các tỉnh Khuyến khích các doanh nghiệp Hà Nội chuyển dần những ngành nghề sản xuất không phù hợp, sử dụng nhiều lao động trình độ thấp sang các địa phương lân cận
Ngoài việc thúc đẩy quá trình thâm canh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, cần đặc biệt chú ý tới việc tìm kiếm, khôi phục, duy trì và mở rộng các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp Phát huy ưu thế của doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn ngoại thành để phát triển công nghiệp nông thôn, phục vụ cho sản xuất tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, phát triển các nghề mới Phát triển các điểm vệ tinh công nghiệp vừa để dãn bớt lao động ở khu vực nội thành, vừa tạo việc làm khu vực ngoại thành
Những biện pháp này sẽ tạo thêm nhiều việc làm, thu hút lao động nông nghiệp
"dôi dư", tạo sự phân công lại lao động ở ngay địa bàn nông thôn, nhằm phát triển kinh
tế nông thôn, tăng thu nhập ngay tại chỗ sẽ là biện pháp hữu hiệu, lâu dài để hạn chế và khắc phục sự "bùng nổ" dân cư tại các đô thị lớn trong cả nước đặc biệt Thủ đô Hà Nội
- Xúc tiến thành lập quỹ hỗ trợ phát triển vùng để thực hiện chính sách liên vùng nhằm tạo sức hút lao động dân cư ngay tại địa bàn nông thôn, trước hết tại các tỉnh có số lao động thời vụ cao ở Thủ đô Đồng thời khẩn trương xây dựng cơ chế tiếp nhận có tổ chức một bộ phận lao động phù hợp với nhu cầu phát triển và bảo đảm trật
Trang 36tự an toàn xã hội Hà Nội cần có kế hoạch xây dựng nhà ở, nhà trọ, giới thiệu việc làm, quản lý và đảm bảo phúc lợi tối thiểu cho bộ phận lao động nhập cư
4.2.5 Dự báo các tiêu chí phát triển trong quá trình đô thị hóa và phát triển Thủ
11,5 Đến cuối năm 2015, GDP bình quân đầu người của Hà Nội cao gấp lần so với năm 2005; năm 2010 gấp lần so với 2005
- Giai đoạn 2011-2020 đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân là 20%/năm Tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu đã qua chế biến chiếm phần lớn trong các mặt hàng xuất khẩu của Hà Nội Các doanh nghiệp của Hà Nội ngày càng mở rộng thị trường trong nước và trên thế giới, khẳng định được uy tín thương hiệu
18 Tỷ lệ tích luỹ đầu tư từ GDP thời kỳ 201118 2020 đạt % Hà Nội tự đảm bảo
được trên % tổng nhu cầu vốn đầu tư cả thời kỳ
- Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 10-11%/năm
- Ngành du lịch tăng mạnh, trở thành ngành mũi nhọn của kinh tế Thủ đô Dự kiến năm 2015 khách nước ngoài đạt 3 triệu lượt, khách trong nước trên 4 triệu lượt; năm 2020 đạt 4 triệu lượt khách nước ngoài và trên 5 triệu lượt khách trong nước
Về phát triển nguồn nhân lực:
- Giai đoạn 2011-2020 mỗi năm tăng thêm 2% lao động qua đào tạo
- Tăng nhanh nguồn nhân lực có chất lượng cao, đặc biệt coi trọng phát hiện và trọng dụng nhân tài trên mọi lĩnh vực
- Giai đoạn 2011-2015 giải quyết việc làm cho người lao động bình quân mỗi năm 75.000-80.000 người và giai đoạn 2016-2020 mỗi năm 70.000-75.000 người Đảm bảo tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị trên địa bàn Hà Nội khoảng 4,0-6,0% số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và nhu cầu việc làm
Trang 37- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn dưới 10% vào năm 2010
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn của khu vực còn dưới % vào năm 2015 và % năm 2020
- Phát triển hệ thống cấp nước, đảm bảo tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt đến năm 2015
là lít/người/ngày, năm 2020 là lít/người/ngày và 100% hộ dân có nước sạch sinh hoạt
- Phát triển mạng lưới vườn hoa, cây xanh, công viên; diện tích cây xanh đạt 8,0-9,0
m2/người vào năm 2015 và 9,5-10 m2/người vào năm 2020
- Chất lượng môi trường Thủ đô được xếp loại tốt trong khu vực Xử lý 100% rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp và bệnh viện; áp dụng phổ biến hệ thống phân loại rác tại nguồn
- Khu vực Bắc sông Hồng, Tây Nam Thành phố phát triển thành trung tâm đô thương mại lớn của Thủ đô; khu vực ven sông Hồng trở thành khu đô thị hiện đại kết hợp sinh thái Bình quân diện tích nhà ở đạt 9,0-9,5 m2/người vào năm 2015 và 10,5-11,5
thị-m2/người vào năm 2020
Trang 38là một thực tiễn vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính lý thuyết trên phạm vi quốc gia
và toàn cầu Theo tính toán của nhiều nhà nghiên cứ về kinh tế tại khu vực đô thị cho
Trang 39Theo “Báo cáo về tình hình phát triển kinh tế thế giới 1990-2000” của Ngân
hàng Thế giới ( WB ) đã chứng minh điều đó trên phạm vi toàn cầu Chẵng hạn như các nước có nền công nghiệp phát triển như Hoa kỳ, Canađa (Châu Mỹ), Thuỵ sĩ, Thuỵ
điển, Anh, Hà lan, Đan mạch, Nauy, Đức, Pháp (Châu Âu), úc, Nhật bản ( Châu A và Thái bình dương ) với thu nhập bình quân rất cao, từ 9.000 USD/người trở lên Trong khi các nước có nền công nghiệp còn lạc hậu, mức thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp, mới chỉ khoảng trên dưới 700 USD/người Điều đáng lưu ý là thu nhập trên phần lớn đều từ sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ tại khu vực đô thị Quá trình đó diễn ra là nhờ thành tựu của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tăng trong khu vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi khu vực nông lâm ngư nghiệp ngày càng giảm Thực tế này cũng được chứng minh rất rõ ràng trong các thập kỹ 80-90:
ư Khu vực công nghiệp tăng từ 0.60% lên 2,20%
ư Khu vực thương mại dịch vụ tăng từ 2,10 lên 3,60%
ư Khu vực Nông nghiệp giảm từ 5,50% xuống còn 1,70%
Điều này cũng đồng nghĩa với việc phân bố cơ cấu lao động một cách tương tự : Lao động khu vực Nông Lâm Ngư nghiệp ngày càng giảm xuống đến mức thấp nhất và lao động 2 khu vực Công nghiệp, Thương mại-Dịch vụ ngày càng tăng lên nhanh chóng rõ rệt
a) Mô hình:
Có 3 loại hình đô thị trong thời kì này, không gian và tính chất các điểm đô thị
được mô tả bao gồm như sau:
- Đô thị cực lớn và lớn: Các thành phố công nghiệp lớn, khu nhà ở tập trung, các
hoạt động kinh tế-xã hội và dân cư có xu hướng cụm trong trung tâm
- Các hợp khối đô thị lớn và trung bình: trước kia đây là các trung tâm khai mỏ,
khai thác nhiên liệu, loại này cùng rất có mật độ xây dựng cao và lúc đầu có liên kết khá lỏng lẻo với nhau
- Các đô thị vừa và nhỏ: có chức năng là trung tâm các vùng nông nghiệp
b) Các giai đoạn phát triển đô thị ở Châu âu:
Quá trình đô thị hoá là biểu hiện qua quá trình phát triển đô thị, được đánh giá phân loại qua sự thay đổi cấu trúc dân cư trong các vùng chức năng đô thị: Trung tâm -
Vành đai - Vùng đô thị chức năng (funtional urban region) Quá trình này được khái
quát theo 4 giai đoạn chủ yếu:
- Đô thị hoá (urbanisation): tập trung phát triển trong lõi trung tâm cùng với
việc các vùng vệ tinh và vành đai đang phát triển
- Ngoại vi hoá đô thị (suburbanisation): tập trung phát triển trong khu vực vành
đai và các vùng vệ tinh vẫn tiếp tục phát triển
Trang 40- Suy thoái đô thị hoá (desurbanisation): giảm dân cư trong vùng lõi trung tâm
và dẫn dến giảm mạnh dân cư trong vùng vệ tinh
- Tái đô thị hoá (re-urbanisation): Khi dân cư tăng trở lại trong khu vực lõi và
đồng thời tăng nhanh trong cả vùng đô thị chức năng Giai đoạn này được coi là tương lai của một xu thế phát triển đô thị
4.3.1.2.2 Trong khu vực châu á
Khu vực các nứơc Đông Nam Châu á trong vài ba thập kỹ trở lại đây đã phát triển bằng gấp hàng chục lần so với các thập kỹ trước đó Theo đánh giá của nhiều nhà kinh tế học, đô thị học đã cho rằng, trong nhiều nguyên nhân thành công có nguyên nhân chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá nhanh, nhất là khu vực công nghiệp và thương mại dịch vụ Còn nhớ, đã có hàng trăm khu chế xuất ( Industrial Processing Zones ), hàng chục các tam giác tăng trưởng ( Growing Triangles) đã hình thành và phát triển trong giai đoạn này Chính những hiện tượng này đã tạo nên một cơ cấu kinh tế ngày càng tăng cho khu vực phi nông nghiệp, tăng GDP quốc gai rất lớn Và cũng chính những thành công đó đã tạo thành những động lực rất mạnh mẽ về phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và toàn khu vực Bốn “ Con Rồng “ châu A cũng là kết quả của quá trình này Và, như một hệ quả tất yếu, quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị của các nước trong khu vực như Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài loan, Malaysia, Indonesia, Philipine, lên một tầm cao mới về chất lượng cũng như quy mô tầm cở của chúng
Hình 4.3.1 Hệ thống đô thị các nước trong khu vực Đông Nam á