Mỗi quốc gia, dân tộc khi tham gia quá trình giao lưu văn hóa, không những quảng bá, phát huy được những nét đặc sắc riêng trong nền văn hóa của mình, mà còn làm quen với những yếu tố vă
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ MAY
SỰ TÁC ĐỘNG GIỮA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
PHẬT GIÁO VỚI PHONG TỤC
TẬP QUÁN NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ MAY
SỰ TÁC ĐỘNG GIỮA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
PHẬT GIÁO VỚI PHONG TỤC
TẬP QUÁN NAM BỘ
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN HOÀNG HẢO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1 PHẦN NỘI DUNG……… 8
Chương 1: NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN NAM BỘ……… 8
1.1 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA PHẬTGIÁO……… 8
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của Phật giáo…………8 1.1.2 Tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo ……… 9 1.1.3 Học thuyết đạo đức Phật giáo và những giá trị phổ quát
của nó……… 22
1.2 PHONG TỤC TẬP QUÁN NAM BỘ……… 39
1.2.1 Khái niệm phong tục tập quán và vai trò của nó trong đời sống
xã hội……… 39 1.2.2 Lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ……….46 1.2.3 Đặc điểm phong tục tập quán Nam Bộ ……….52
Chương 2: QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN NAM BỘ……… 59
2.1 SỰ DU NHẬP VÀ DUNG HỢP CỦA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN NAM BỘ……… 59
2.1.1 Khái quát lịch sử du nhập Phật giáo vào Việt Nam……… 59 2.1.2 Sự du nhập của Phật giáo vào Nam Bộ……….62 2.1.3 Sự dung hợp của phong tục tập quán Nam Bộ với giá trị đạo đức
Trang 42.2.2 Ảnh hưởng của phong tục tập quán Nam Bộ đối với các giá trị đạo đức Phật giáo………95 2.2.3 Những giải pháp chủ yếu để định hướng cho việc phát huy những giá trị đạo đức Phật giáo trong mối quan hệ với phong tục tập quán Nam Bộ……… 103 KẾT LUẬN……… 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO………118
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
ĐOÀN THỊ MAY
Trang 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các nền văn minh đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới, và sự tác động đó diễn ra theo hướng đa chiều Một mặt, trong quá trình giao lưu sẽ có sự trao đổi, tiếp nhận các mặt tốt gọi là tiếp thu tinh hoa văn hóa Mỗi quốc gia, dân tộc khi tham gia quá trình giao lưu văn hóa, không những quảng bá, phát huy được những nét đặc sắc riêng trong nền văn hóa của mình, mà còn làm quen với những yếu tố văn hóa nước ngoài và nhận biết những yếu tố đó trong ứng xử, quan hệ, hợp tác…Mặt khác, chính
sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đã kéo theo nhiều hệ lụy làm biến động đời sống của con người trong xã hội đương đại Đạo đức của con người trở nên suy đồi, con người chìm đắm trong cuộc sống trụy lạc, hưởng thụ để rồi dần
sa đọa vào đau khổ Trước những diễn biến phức tạp trong đời sống xã hội như: chiến tranh, thiên tai, bệnh tật…làm cho con người cảm thấy mình nhỏ
bé, hụt hẫng, lo sợ trong chính thế giới mà mình đang sống Lúc này, những giá trị đạo đức của các tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần hoàn thiện đạo đức và nhân cách của con người trong xã hội Trong đó, giáo
lý của Phật giáo đã thể hiện rõ quan điểm về triết học nhân sinh quan, thế giới quan và giải thoát luận
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên Trong khoảng 2000 năm, Phật giáo đã thích ứng theo văn hóa và phong tục tập quán của Việt Nam Trải qua nhiều thế kỷ sau, Phật giáo theo sự lan tỏa của việc gia tăng dân số và mở rộng đất đai, đi dần vào miền Trung và Nam
Bộ, đã để lại ở mỗi vùng đất một sắc thái riêng biệt Nét riêng đó chính là bản
Trang 7sắc văn hóa Phật giáo của mỗi vùng miền, đồng thời cũng thể hiện sự hội nhập và phát triển của mình, đặc biệt là những giá trị đạo đức của Phật giáo Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa giá trị đạo đức Phật giáo và phong tục tập quán truyền thống Nam Bộ là góp phần tìm hiểu quá trình phát triển của Phật giáo tại vùng đất mới, sự tác động của Phật giáo lên đời sống của người dân nơi đây thông qua các lễ hội, các nghi thức thờ cúng…và sự dung dưỡng giá trị đạo đức Phật giáo của miền đất Nam Bộ, làm cho Phật giáo trở thành Phật giáo mang bản sắc riêng của Nam Bộ Việt Nam
Làm rõ được giá trị đạo đức Phật giáo, đặc điểm của vùng đất Nam Bộ qua phong tục tập quán truyền thống, sự tác động và ảnh hưởng qua lại của giá trị đạo đức Phật giáo với phong tục tập quán truyền thống Nam Bộ cũng là góp phần vào việc giáo dục đạo đức cho giới trẻ ngày nay, góp phần nâng cao lòng yêu nước, tinh thần tự hào về văn hóa truyền thống, phong tục tập quán truyền thống của dân tộc ta Vì trong đời sống của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc thì đạo đức và phong tục tập quán là những vấn đề cốt lỗi Một quốc gia ổn định, phát triển hay không thường có quan hệ trực tiếp đến vấn đề đạo đức, lối sống, phong tục tập quán Một chuẩn mực đạo đức, một lối sống đẹp, một thuần phong mỹ tục phải trải qua một giai đoạn rất dài để hình thành nhưng để phá vỡ nó thì chỉ trong thời gian ngắn vì đạo đức là kết quả lâu dài của quá trình giáo dục và tự giáo dục của mỗi người, là quá trình con người tự vượt lên chính mình
Hiện nay, sự suy thoái về đạo đức đang trở thành hiện tượng có tính toàn cầu thì Việt Nam cũng không ngoại lệ Điều này đã tạo sự bất an, lo ngại cho toàn Đảng và toàn xã hội Do đó, nhiệm vụ cụ thể đề ra là phải đẩy lùi và khắc phục sự suy thoái đạo đức đang trở nên cấp thiết
Xây dựng đạo đức, lối sống là một quá trình, do đó đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại của mỗi cá nhân và của toàn xã hội Việc xây dựng đạo đức và lối
Trang 8sống có văn hóa hiện nay không thể không bắt đầu bằng sự nhận diện các giá trị đạo đức lối sống, phong tục tập quán của dân tộc, “lịch sử dạy chúng ta rằng, để giải quyết tốt những vấn đề hiện tại của đời sống xã hội, không thể không trở về với những bài học của quá khứ mà cha ông để lại”[10, tr 309] Bên cạnh đó, trong xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường như hiện nay, mỗi người chúng ta phải nhận biết chúng ta là ai, chúng ta từ đâu đến, như vậy mới có thể xác định đích đến của chúng ta là đâu Xuất phát từ nhu cầu đó,
tác giả chọn đề tài “Sự tác động giữa giá trị đạo đức Phật giáo với phong tục tập quán Nam Bộ” làm luận văn thạc sĩ Triết học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Trên phương diện đạo đức học đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, có thể kể một số công trình tiêu biểu sau đây:
Đạo đức học phương Đông cổ đại của Vũ Tình (Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1998); Đạo đức học Phật giáo của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam (Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1995); Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con
người của Hòa thượng Minh Châu (Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2002); Các nguyên tắc đạo đức của người Phật tử tại gia của Thích Nhật Từ (Thành hội
Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, 1994); Đạo đức người xuất gia của đại sư Liên Trì (Thích Nguyên Hùng dịch, An Lạc tịnh thất, 2001); Đạo đức Phật giáo
cho đời sống hàng ngày của Hòa thượng Tinh Vân (Thành hội Phật giáo Tp
Hồ Chí Minh, 1997); Tìm hiểu tư tưởng đạo đức Phật giáo qua kinh Pháp cú
của Phạm Thị Thu Thủy (luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn Tp Hồ Chí Minh, 2005); Vị trí tư tưởng đạo đức Phật giáo trong
hệ tư tưởng đạo Phật của Tạ Chí Hồng (Tạp chí Nghiên cứu Phật học, 2004,
trang 31-34)…Đây là những công trình nghiên cứu làm sáng tỏ triết thuyết đạo đức của Phật giáo, khẳng định những giá trị của nó đối với cuộc sống cá nhân cũng như cuộc sống xã hội Giúp con người nhận thức được chính mình,
Trang 9loại bỏ các ác pháp, thực hiện theo thiện pháp, mưu cầu giải thoát mọi phiền trược, ái dục tầm thường, tiến đến nếp sống vô ngã, vị tha
Cơ sở học thuyết đạo đức của Phật giáo là tư tưởng triết học Phật giáo, nghiên cứu trên phương diện này đáng chú ý có một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước như:
Tinh hoa triết học Phật giáo của Junjiro Takakusu (Tuệ sỹ dịch, Nxb
Phương Đông, 2007); Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo của Thích Tâm Thiện (Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, 1995); Tư tưởng Phật giáo Việt
Nam của Nguyễn Duy Hinh (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999); Phật giáo truyền thống Đại thừa của Geshe Kelsang Gyatso (Thích Nữ Trí Hải dịch,
Nxb Hồng Đức, 2012); Lời dạy của Đức Phật về sự thành tựu trong gia đình,
nơi công sở, ngoài xã hội của Basnagoda Rahula (người dịch: Diệu Liên Lý
Thu Linh, Diệu Ngộ Mỹ Thanh, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2011); Lời Phật dạy
trong kinh tạng Nikàya tập I, II, III (Phạm Tánh biên soạn, Nxb Tổng hợp Tp
Hồ Chí Minh); Giải thoát luận Phật giáo của TS Nguyễn Thị Toan (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010)…Các công trình trên đi sâu nghiên cứu những giáo lý căn bản của Phật giáo như: tứ diệu đế, bát chính đạo, ngũ uẫn, nghiệp báo, luân hồi, duyên khởi, thuyết vô ngã, niệm xứ Qua đó các tác giả
lý giải về ý nghĩa và mục tiêu cuộc sống, về cách thức khiến cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa và đạt giá trị lớn lao, mục tiêu là giác ngộ thông qua sự học hỏi, chiêm nghiệm và thực hành Phật pháp
Liên quan đến mảng đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo với đời sống xã hội có một số tác phẩm tiêu biểu như:
Phật giáo trong văn hóa Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh
(Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2011); Tìm hiểu chức năng xã hội của
Phật giáo Việt Nam của Trần Hồng Liên (Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh,
2010); Phong tục dân gian Nam Bộ và Phật giáo của Thích Đồng Bổn (Nxb
Trang 10Văn hóa Sài Gòn, 2007); Chữ hiếu trong đạo Phật của Hòa thượng Thích
Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Minh Châu (Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh,
2000); Con đường giáo dục Phật giáo của Thích Trừng Sỹ (Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2009); Phật giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy (Nxb Hà Nội, 1999); Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam của Nguyễn Hồng Dương (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004); Đạo Phật trong
cộng đồng người Việt ở Nam Bộ - Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975 của Trần
Hồng Liên (Nxb Khoa học xã hội, 1995); Phật giáo với văn hóa Việt Nam và
Nhật Bản qua một cách tham chiếu của Nguyễn Thanh Tuấn (Nxb Từ điển
Bách khoa & Viện văn hóa, Hà Nội, 2009), Ảnh hưởng của Phật giáo đối với
đạo đức, lối sống của người Việt ở tỉnh Long An hiện nay của Nguyễn Thị
Cẩm Chi (Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp
Hồ Chí Minh, 2011); Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh của Thân Ngọc Anh (Luận án
tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh, 2012)…Đây là những công trình khoa học nghiên cứu vai trò của Phật giáo, đặc biệt là dưới góc độ đạo đức xã hội trong quan hệ xã hội Việt Nam nói chung và vùng đất Nam Bộ nói riêng trên ba lĩnh vực cơ bản: kinh tế, văn hóa,
xã hội Đáng chú ý có một số công trình nêu trên nghiên cứu sự đóng góp của văn hóa Phật giáo vào xã hội trên lĩnh vực đời sống đạo đức xã hội, trên lĩnh vực gắn với tín ngưỡng, tập tục dân gian Nam Bộ
Các công trình nghiên cứu trên tuy đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của đạo đức Phật giáo trong quan hệ với xã hội song do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, các công trình nêu trên chưa tập trung sâu vào đề tài mà tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã trân trọng tiếp thu kế thừa các công trình trên phục vụ cho việc
Trang 11nghiên cứu tìm hiểu sự tác động qua lại lẫn nhau giữa giá trị đạo đức Phật giáo và phong tục tập quán Nam Bộ
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích khi nghiên cứu đề tài:
Làm rõ mối quan hệ qua lại giữa giá trị đạo đức Phật giáo với phong tục tập quán Nam Bộ Từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng cho việc phát huy những giá trị đạo đức Phật giáo trong mối quan hệ với phong tục tập quán Nam Bộ
- Với mục đích đặt ra như trên, đề tài cần hoàn thành những nhiệm vụ sau: Tìm hiểu khái quát lịch sử ra đời, phát triển và tư tưởng triết học nền tảng giá trị đạo đức của Phật giáo
Tìm hiểu lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ, những đặc điểm về phong tục tập quán truyền thống của vùng đất này
Tìm hiểu quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam nói chung và vào Nam Bộ nói riêng, qua đó thể hiện sự tác động giữa giá trị đạo đức Phật giáo với phong tục tập quán truyền thống Nam Bộ
Đề xuất các giải pháp mang tính định hướng để phát huy những giá trị đạo đức Phật giáo trong mối quan hệ với phong tục tập quán Nam Bộ
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với những thành tựu công trình nghiên cứu của các tác giả đã công bố về vấn đề tôn giáo nói chung và đạo đức, nhân sinh quan Phật giáo nói riêng
Đồng thời đề tài cũng áp dụng một số phương pháp: phương pháp lịch sử
và logic, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, tính toàn diện
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu đề tài: sự tác động biện chứng giữa giá trị đạo đức
Trang 12Phật giáo với phong tục tập quán truyền thống của người Việt ở Nam Bộ Việt Nam
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn cố gắng hệ thống những vấn đề cơ bản của giá trị đạo đức Phật giáo, làm rõ phong tục tập quán truyền thống Nam Bộ và phạm vi, cũng như mức độ tác động qua lại giữa giá trị đạo đức Phật giáo và phong tục tập quán truyền thống của Nam Bộ, góp phần giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, qua đó góp phần hoàn thiện nhân cách đạo đức, lối sống cá nhân
Kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo: đạo đức học, lịch sử triết học phương Đông, tư tưởng Việt Nam, văn hóa học
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài gồm hai chương, bốn tiết
Trang 13PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
VÀ PHONG TỤC TẬP QUÁN NAM BỘ
1.1 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA PHẬT GIÁO
1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của Phật Giáo
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế
kỷ VI trước Công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ Ra đời trong làn sóng phản đối của giai cấp thống trị Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, đạo Phật với triết lý nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ tiên phong của phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội ở Ấn Độ đương thời
Với chế độ đẳng cấp xã hội, Ấn Độ bấy giờ được chia làm bốn đẳng cấp khác nhau:
Đẳng cấp thứ nhất: Brahman (Bà-la-môn) Đẳng cấp này bao gồm toàn
bộ đội ngũ tăng lữ, được coi là những người có khả năng và có quyền thay mặt xã hội giao tiếp với các đầng thần linh Đây là đẳng cấp cao nhất, được tôn vinh nhất của xã hội Ấn Độ cổ đại
Đẳng cấp thứ hai: Kshatriya (Sát-đế-lị) Đẳng cấp này bao gồm những
người nắm quyền lực chính trị mà đứng đầu là nhà vua Một số cự tộc có tiềm lực kinh tế mạnh cũng được xếp vào đẳng cấp này
Đẳng cấp thứ ba: Vaisya (Phệ-xá), chủ yếu là đội ngũ thương gia, các
Trang 14cấp nào, bị coi là sống ngoài lề xã hội, họ là những tiện dân, hạ đẳng hay còn gọi là Paria
Sự phân chia đẳng cấp xã hội như trên không chỉ thể hiện về mặt quyền lợi địa vị kinh tế - chính trị - xã hội mà còn thể hiện trong quan hệ giao tiếp,
ăn mặc, đi lại, sinh hoạt tôn giáo, thậm chí cả việc đặt tên cho con hoặc sử dụng màu sắc, trang trí trong sinh hoạt đời sống thường ngày
Chính trong hoàn cảnh xã hội như vậy, khát vọng được giải thoát, ước
mơ về cuộc sống công bằng, bình đẳng, bác ái trong mối quan hệ giữa người với người trong xã hội đã trở thành nhu cầu chính đáng và cấp bách được đặt ra Phật giáo ra đời trong điều kiện xã hội như vậy và nó cũng là sự phản ánh quá trình tiến hóa của xã hội lúc đó
Phật giáo khởi nguồn từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên
với người sáng lập là Sĩ Đạt Ta (Siddhārtha) Vào thời kỳ thống trị của vương triều vua A Dục (Asoka) khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên, ở Ấn Độ
Phật giáo trở thành quốc giáo và bắt đầu phát triển lan rộng ra khỏi biên giới quốc gia Ấn Độ và từng bước phát triển thành một tôn giáo mang tầm thế giới như hiện nay
Đến thế kỷ XIII sau Công nguyên, Phật giáo ở Ấn Độ về cơ bản đã bị hạn chế, nhưng lại được phát triển tại các nước khác trên thế giới
1.1.2 Tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo
Sau khi Phật tịch diệt, để lưu truyền Phật pháp, các đệ tử của Phật đã tập kết để viết lại những điều đức Phật đã giảng giải và tạo thành khối lượng kinh điển đồ sộ gồm: Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận
Nội dung của triết lý Phật giáo được thể hiện cơ bản trong quan điểm về thế giới và con người, trong triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc của Phật giáo
Thế giới quan Phật giáo
Trong quan điểm thế giới và con người Trái với quan điểm của đạo
Trang 15Bàlamôn, của Upanishad và một số trường phái triết học tôn giáo đương thời đều thừa nhận thần hay phạm thiên là đấng tối cao sáng tạo nên vũ trụ và vạn vật Thì đạo Phật cho rằng vạn vật trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất - vạn pháp không do ai sáng tạo ra, mà tự nó luôn trong quá trình sinh diệt, biến đổi không ngừng, không nghỉ Sự biến hóa đó có thể theo một chu trình kéo dài mà chúng ta nhìn thấy như một đời người, một thân cây, chu trình vận động của tự nhiên như ngày và đêm…Nhưng cũng có sự biến đổi rất nhanh mà chúng ta không quan sát được, đó gọi là “Niệm” (Sátma) Tất cả
mọi sự biến đổi đó diễn ra theo quá trình sinh - trụ - dị - diệt Nguyên nhân của sự biến đổi này được Phật giáo giải thích bằng quy luật nhân - quả
Thuyết nhân - quả
Khi khẳng định thế giới vật chất luôn luôn vận động biến đổi không ngừng, không có điểm khởi đầu và không có điểm kết thúc thì Phật giáo cho rằng, vạn pháp tồn tại đều do các nhân duyên hòa hợp: “Nhân duyên hòa hợp,
hư vọng hữu sinh/ Nhân duyên tan rã, hư vọng hữu diệt” [83, tr.10] nghĩa là: nhân - duyên hòa hợp thì vạn vật sinh; nhân - duyên tan rã thì vạn vật diệt Tùy vào nhân - duyên kết hợp mà thành các sự vật, hiện tượng khác nhau
Trong thuyết nhân - duyên, Phật giáo quan niệm sinh - diệt là hai quá
trình của tồn tại, chúng xảy ra đồng thời Đây chính là quy luật tự vận động
của thế giới Như vậy, theo Đức Phật, thế giới này là thế giới của nhân -
duyên Trong đó, nhân là yếu tố quyết định, duyên là điều kiện hỗ trợ, tác
động làm cho nhân sinh Trong suốt quá trình vận động, nhân duyên liên tục kết hợp, liên tục tan rã, vạn vật cũng theo đó mà liên tục sinh, liên tục diệt Mặt khác, vạn pháp tồn tại không chỉ do một duyên kết hợp mà còn do nhiều nhân duyên tác động, chi phối nhau hợp thành, làm cho vạn vật trong vũ trụ
cứ thế vận động tuân theo quy luật: “Cái này có, thì cái kia có/ Cái này sinh, thì cái kia sinh/ Cái này không có, thì cái kia không có/ Cái này diệt, thì cái
Trang 16kia diệt”[92, tr.119]
Tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp báo trong kinh Upanishad, Phật
giáo cho rằng: mọi vật mất đi chỗ này sẽ được tái sinh chỗ khác Quá trình
này do nghiệp chi phối theo quy luật nhân - duyên - quả Nhân thì được duyên
trợ giúp biến thành quả Quả mới được duyên trợ giúp biến thành nhân mới Nhân mới lại được duyên trợ giúp…Cứ như thế, tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ này do quy luật nhân quả hay nhân duyên tác động nên cứ biến đổi nối tiếp nhau vô cùng vô tận và thế giới vạn vật cứ sinh hóa mãi – biến đổi vô thường
Thuyết vô thường
Theo Phật giáo, vô thường là “Tất cả những gì có hình tướng trong thế gian luôn biến đổi, hư hoại”[83, tr.10] Do đó, vô thường không cố định, không đứng yên mà luôn vận động, biến đổi theo chu trình bất tận: sinh - trụ -
dị - diệt Vô thường “Như một làn sóng, khi mới nhô lên thì gọi là sinh, khi
nhô lên cao nhất thì gọi là trụ; khi hạ dần xuống thì gọi là dị, khi tan rã thì gọi
là diệt Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt cát, đến lớn như trăng sao đều phải tuân theo bốn giai đoạn ấy cả…”[59, tr.244]
Vô thường có ở khắp mọi nơi trong con người và vạn vật, như: thân vô
thường, tâm vô thường, hoàn cảnh vô thường
Thân vô thường, Đức Phật khẳng định “Muôn loài không ai tránh khỏi
sinh, lão, bệnh, tử”[83, tr.11] Do đó, nên lúc còn làm thái tử, Ngài đã than với vợ mình rằng: “Chúng ta sẽ già yếu và xấu đi Thời gian sẽ phủ lên đầu chúng ta những lớp tro bạc…Ta nghe trong ta, trong em và trong cả mọi người, mỗi ngày mỗi đổ vỡ dưới sức tàn phá của búa thời gian, tất cả những
gì quý giá của đời người…”[59, tr 247 – 248] Như vậy, thân là vô thường nhưng vì lòng tham, vì vô minh mà con người không nhận rõ sự vô thường về thân xác nên mới làm điều xấu, điều ác
Trang 17Tâm vô thường: ngay cả trong tâm của con người cũng tồn tại vô thường
Tâm niệm của con người cũng thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh Vì “Tâm niệm ta sinh diệt trong từng Sátna, và chính vì nó sinh diệt mau lẹ như thế nên
ta có cảm tưởng như nó không thay đổi gì cả”[59, tr 250]
Hoàn cảnh vô thường: không chỉ có sinh vật là biến đổi, mà những vật
vô tri vô giác như núi, sông, đất, đá…cũng vận động biến đổi không ngừng: sông có thể cạn, núi đá có thể mòn…
Vô thường là định luật chi phối tất cả vạn vật Nếu không có vô thường
thì không có sự phát triển Nếu sự vật không vô thường thì lịch sử tiến hóa của nhân loại cũng sẽ không bao giờ có
Hiểu được thuyết vô thường, con người sẽ đoạn trừ nghiệp chướng, tiến tới sự an tịnh nơi tâm hồn: “Biết được vô thường, con người dễ giữ được bình tĩnh thản nhiên trước cảnh đổi thay bất ngờ và có thể lạnh lùng trước cảnh ân
ái chia ly Biết vô thường, con người dám hy sinh tài sản, sinh mạng để làm việc nghĩa Biết vô thường con người mới chán ngán với những thú vui tạm
bợ, giả trá và sáng suốt đi tìm những cái vui chân thật, thường còn”[59, tr 256] Như vậy, bản chất sự tồn tại của thế giới này là dòng biến chuyển liên tục, không có nguyên nhân đầu tiên và cũng không có sự kết thúc, không có
gì là vĩnh hằng tuyệt đối, cũng không một thế lực nào có thể dùng ý muốn của mình chi phối sự vận hành của vũ trụ Vì vạn vật biến đổi vô thường nên Phật giáo khái quát nên luận đề thứ hai - vạn pháp vô ngã (không có cái tôi cái ta nào cố định)
Thuyết vô ngã
Theo Phật giáo, ngã là một phạm trù dùng để chỉ một thực thể vĩnh hằng, độc lập và bất biến Ngã bất sinh, bất diệt, vô hình, không thể nhìn thấy, nắm bắt hay sờ được Ngã là chủ thể độc lập, không bị phụ thuộc hay chịu ảnh hưởng của bất cứ vật gì và ở đâu cũng có ngã, vạn vật nhờ có ngã mới có thể
Trang 18sinh thành được
Với chủ trương vô thần, Phật giáo cho rằng, vạn pháp - vạn vật trong vũ trụ tồn tại chỉ là sự giả hợp do hội đủ các nhân duyên Hay, vạn pháp là không
có thực, là ảo giả và là sự cấu thành của hai yếu tố: “Sắc” và “Danh” Trong
đó, Sắc là cái tôi sinh lý, tức thể xác, hình chất Danh là cái tôi tâm lý, tinh thần tức là tâm, chỉ có tên gọi mà không có hình chất Sắc và Danh kết hợp lại thành năm yếu tố gọi là Ngũ uẩn hay Ngũ ấm, gồm:
Sắc uẩn: là những yếu tố vật thể tạo nên thân xác người và cũng là
những yếu tố tạo nên vạn vật vô sinh, hữu sinh khác
Thụ uẩn: là những cảm giác, cảm thụ về sự khổ hay sướng đưa đến sự
xúc cảm, lãnh hội với thân và tâm
Tưởng uẩn: là suy nghĩ, tư tưởng
Hành uẩn: do ý muốn thúc đẩy hành động, hành động tạo tác
Thức uẩn: nhận thức, ý thức về ta
Năm uẩn này tương tác với nhau tạo nên vạn vật và con người Nhưng Sắc và Danh chỉ hội tụ nhau trong thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác Do vậy, không có sự vật, hiện tượng riêng biệt nào tồn tại mãi mãi, không có cái tôi hay cái ta nào cố định
Như vậy, từ thế giới quan Phật giáo, ta thấy rằng với chủ trương vô thần, Phật giáo hoàn toàn bác bỏ sự tồn tại của Brahman (Đấng sáng tạo ra thế giới)
và Atman (cái tôi) mà Veda và Upanishad chủ trương Phật giáo khẳng định vạn pháp đều nương tựa vào nhau để sinh thành, hiện hữu hay hoại diệt Phật giáo khẳng định vạn pháp không phải sinh ra từ hư vô và mất đi hoàn toàn mà chúng chỉ chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác Khi quan niệm con người là hợp thể của danh và sắc, của ngũ uẩn, thì mục đích cuối cùng trong quan niệm về thế giới và con người của Phật giáo là tìm ra con đường giải thoát Như vậy, Phật giáo đã lấy con người làm trung tâm cho toàn bộ tư
Trang 19tưởng hình thành hệ thống triết lý triết lý nhân sinh của mình
Nhân sinh quan Phật giáo
Nhân sinh quan của Phật giáo được khởi đầu từ quan niệm về bản thân con người Phật giáo cho rằng, con người (cái Ta) là sự hòa hợp của nhân duyên, là nơi hội tụ của ngũ uẩn trong thế giới vô thường, vô ngã Nhưng vì
vô minh, không hiểu được điều đó mà con người cho rằng cái Ta thực và tồn tại mãi mãi nên ôm giữ nó, tìm mọi cách để tranh giành, chiếm đoạt nó để thõa mãn dục vọng của mình Do đó, con người đã tạo ra quả, gây nên nghiệp, đưa con người vào nỗi khổ triền miên trong vòng luân hồi bất tận
Nghiệp, theo tiếng Sanscrit là Karma và tiếng Pali là Kamma, theo đúng
nghĩa của danh từ này là hành động hay việc làm Nghiệp còn là tác ý, mọi tư
tưởng, lời nói, việc làm đều xuất phát từ ý muốn Phật giáo gọi ý muốn hay ý
chí ấy là tác ý Vậy Nghiệp là cái do hành động thiện hay bất thiện, cố ý hay
không cố ý, qua thân, khẩu, ý của ta để thõa mãn những ham muốn của ta mà
thành Những hoạt động của ta gồm: Thân nghiệp là hậu quả do việc làm, hành động của thân thể ta gây nên; khẩu nghiệp là hậu quả do lời nói của ta gây ra; ý nghiệp là vô minh, không nhận thức được thực tướng của vạn pháp
và chân bản tính của mình Đức Phật từng dạy: “tất cả chúng sanh đều mang
theo cái Nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí nhân, như chỗ nương tựa Chính vì cái Nghiệp riêng của mỗi người mỗi
khác nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sanh”[101, tr 305]
Như vậy, Nghiệp là tất cả những gì con người tạo ra trong một kiếp, là
cái do những hành vi của thân - khẩu - ý như hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ…của ta gây ra Do đó, trong cuộc sống, con người luôn phải chịu hậu quả do hành vi của mình gây ra trong quá khứ hay hiện tại, đó gọi là nghiệp báo Tùy thuộc vào nghiệp báo do con người tạo ra trong đời sống mà dòng nghiệp thức sẽ quyết định con người tái sinh vào một trong sáu cảnh giới: địa
Trang 20ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Atula (là hạng chúng sanh tuy có thần lực nhưng hình thể không được đoan chánh như chư thiên các cõi trời), loài người hay cõi trời Đức Phật từng dạy: “do sự khác biệt giữa cái nghiệp của mỗi chúng sanh nên có sự chênh lệch trong cõi tái sanh Người sanh ra sang cả, kẻ thì đê hèn Người sanh ra trong sự khinh khi nguyền rủa, kẻ thì được tôn kính vì Người được hạnh phúc an vui từ lúc lọt lòng mẹ, kẻ lại khổ sở khốn cùng”[101, tr 308].
Nghiệp của quá khứ là điều kiện để hình thành đời sống hiện tại Nghiệp
được hình thành trong đời sống hiện tại sẽ qui định đời sống tương lai Tuy vậy, nghiệp trong quá khứ không hoàn toàn quyết định đời sống con người ở hiện tại, vì vậy, con người có thể tự quyết định vận mệnh thay đổi đời mình bằng các hành động trong đời sống hiện tại
Nghiệp là điều kiện cơ bản dẫn dắt con người tái sinh trong vòng luân
hồi sinh tử
Luân hồi (luân là bánh xe, hồi là lặp lại), nghĩa là vạn vật trong vũ trụ
vận hành lặp đi lặp lại như bánh xe quay tròn Luân hồi là thuyết rất quan trọng của Phật giáo nói về sự sinh - tử, tử - sinh của con người, đó là vòng luân hồi của cuộc đời Đối với đời sống của con người, Phật giáo có hai khái
niệm về sự sinh - tử Đó là chu kỳ sinh tử của từng satna tức quá trình sinh
sinh diệt diệt xảy ra trong khoảng khắc, nháy mắt và chu kỳ sinh tử của một đời sống qua bốn giai đoạn: sinh - lão - bệnh - tử Theo triết lý Phật giáo, khi con người chưa nhận thức được sự luân hồi ấy nghĩa là con người chưa nhận thấy được sự giải thoát
Từ thế giới quan theo thuyết nhân – quả, Phật giáo đã vạch ra nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường dẫn dến sự diệt khổ, nhằm giải thoát chúng sinh thoát khỏi bể khổ cuộc đời, thoát khỏi nghiệp báo, vòng luân hồi sinh tử bằng Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên và Bát chánh đạo Đây là tư
Trang 21tưởng triết lý đạo đức nhân sinh căn bản nhất của đạo Phật Trong kinh Pháp
cú viết: “Con đường cao thượng là Bát chánh đạo Chân lý cao thượng nhất là
Tứ đế Không luyến ái là trạng thái cao thượng nhất”[67, tr 61]
Tứ diệu đế là bốn chân lý hiển nhiên, đúng đắn, chắc chắn gồm: Khổ đế,
Tập đế, Diệt đế, Đạo đế
Khổ đế là chân lý chỉ ra nỗi khổ của chúng sinh Theo triết lý Phật giáo,
tất cả loài vật, dù hữu tình hay vô tình trong thế giới đều ở trong khổ não Đức Phật đem khổ chia thành tám loại, đó là: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán hận hội khổ, biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ uẩn khổ (mọi đau khổ của thân và tâm)
Nhưng nguyên nhân của nỗi khổ mà chúng sinh phải gánh chịu đó là gì?
Để lý giải điều đó, Đức Phật đã đưa ra chân lý lớn thứ hai, Tập đế
Tập đế biểu thị những nguyên nhân và căn cứ tạo thành mọi nỗi đau khổ
“Tập” nghĩa là “tích tập”, “tập hợp”, “góp chứa” Theo Phật giáo, nguyên nhân dẫn đến đau khổ triền miên của con người nằm ngay chính trong bản
thân mỗi người Có mười hai nguyên nhân căn bản còn gọi là Thập nhị nhân
duyên đưa đến mọi khổ đau cho con người
Thập nhị nhân duyên gồm:
Duyên vô minh là trạng thái tâm thức bị mê hoặc, nghĩa là u tối, ít hiểu
biết, không sáng suốt Không nhận thức được thế giới này là ảo giả mà cứ nghĩ là thật Không nhận thấy được cuộc sống tràn đầy khổ ải, do đó cũng không tìm ra nguyên nhân và con đường thoát khổ Trong mười hai nhân duyên thì duyên vô minh là căn bản nhất
Duyên hành là hành động tạo tác theo ý muốn của mình và cũng do hành
động ấy tạo nghiệp
Trang 22Duyên thức là khả năng hiểu biết, khả năng phân biệt, là tri giác của con người về thế giới thông qua các cơ quan chức năng như mắt (nhãn thức), tai (nhĩ thức), mũi (tỉ thức), lưỡi (thiệt thức), thân (thân thức) và ý (ý thức).
Duyên danh sắc là sự hội tụ của những yếu tố Danh (vật chất) và Sắc
(tinh thần) Đối với loài hữu tình, sự hội tụ của Danh và Sắc sinh ra lục căn
tức là các cơ quan cảm giác: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức
Duyên lục nhập là sự tương tác giữa sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và
ý) và đối tượng của chúng là sáu trần (hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng - pháp)
Duyên thụ là sự tiếp xúc của lục căn với thế giới xung quanh, với lục
trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) sinh ra cảm giác
Duyên thụ là sự nhận thức, cảm thụ khi lục căn tiếp xúc với thế giới bên
ngoài sinh ra cảm giác
Duyên ái là sự yêu thích dẫn đến nảy sinh lòng ham muốn, dục vọng
trước sự tác động của thế giới bên ngoài
Duyên thủ là sự quyến luyến, muốn giữ lấy, chiếm lấy, không chịu rời xa
cái yêu thích
đời sau quyết định phải có quả khổ hay vui mà mình phải thọ nhận
hiện tại tạo ra các nghiệp, cho nên qua đời sau, phải sinh ra đời để thọ quả báo
Duyên lão - tử là thân xác con người, vạn vật khi sinh ra đều phải trải
qua trẻ, già, ốm đau rồi chết đi
Mười hai nhân duyên có quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên một chu trình khép kín, dẫn dắt con người đi vào vòng luân hồi sinh tử của cuộc đời Vậy nỗi khổ con người có, theo triết lý Phật giáo là do lòng tham, sân, si
và dục vọng, tất cả có căn nguyên sâu xa từ sự vô minh Vô minh là nỗi bất
Trang 23hạnh lớn nhất của con người “Vô minh là lớp ảo kiến mịt mù dày đặt trong ấy chúng sanh quây quần quanh lộn”[101, tr 385] Do vô minh mà con người không hiểu được vì nhân duyên chi phối khiến cho “chư hành đều vô thường”,
“vạn pháp đều vô ngã”, nên người ta lầm tưởng cái gì cũng thường định, cái
gì cũng của ta, có ta, chấp ngã, vị kỷ, tham dục, hành động chiếm đoạt, tạo ra những nỗi khổ triền miên từ kiếp này sang kiếp khác Cội nguồn đau khổ là ái dục, luyến ái, bám víu và vô minh Do đó, muốn thoát khỏi khổ não, phải tận diệt dục, xóa vô minh Đó là chân lý lớn thứ ba mà Đức Phật đưa ra - Diệt đế
Diệt đế là giải thoát luận và cũng là lý tưởng luận của Phật giáo, nó là
phương pháp diệt từ gốc đến ngọn nỗi khổ, giải thoát con người khỏi nghiệp chướng luân hồi Theo triết lý Phật giáo, muốn đạt tới cảnh giới Niết bàn phải tận diệt mọi ái dục, dứt bỏ được vô minh, đạt tới sự sáng tỏ bản nhiên trong tâm con người Trong kinh Pháp cú Đức Phật dạy: “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm, chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho
ta Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta, không ai có thể làm người khác trở nên trong sạch” Bởi, “trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác Nếu nói và hành động với tâm ô nhiễm, sự khổ theo nghiệp kéo đến như bánh
xe lăn theo chân con thú kéo xe, trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác Nếu nói năng hoặc hành động với tâm thanh tịnh, sự vui vẻ sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”[67, tr 15]
Để diệt khổ, đạt tới Niết Bàn, Đức Phật đã đưa ra con đường, cách thức
và phương pháp tu tập, đó là Đạo đế
Đạo đế là nói đến phương pháp và con đường phải tuân theo để thực
hiện lý tưởng của đạo Phật Con đường đó không phải là cách tu luyện khổ hạnh ép xác, cũng không phải là chìm đắm trong dục lạc, thấp hèn Đó là hai thái cực không thể đưa đến giải thoát Con đường để diệt dục vọng, xóa vô minh, giác ngộ và giải thoát, theo Đức Phật là con đường trung đạo, không
Trang 24được sa vào hai thái cực kia, là con đường tu luyện đạo đức theo giới luật và
tu luyện tri thức, trí tuệ “bằng thực nghiệm tâm linh”, “trực giác” Con đường
để thực hiện có tám loại và trong kinh Chuyển Pháp luân đức Phật nói: “Bây giờ, hỡi này các Tỳ khưu, đây là chân lý cao thượng về con đường dẫn đến sự diệt khổ (đạo diệt khổ thánh đế) Đó chính là Bát chính đạo: chính kiến, chánh
tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm và chính định”[121, tr 618]
Bát chính đạo là tám con đường chân chính đưa con người tới chỗ giác
ngộ và giải thoát, là nền tảng đạo đức Phật giáo gồm:
Chính kiến: nhận thức đúng, nhìn nhận rõ phải trái, không để những điều
phải trái che lấp sự sáng suốt của mình
Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn để đạt tới chân lý và giác ngộ
Chính nghiệp: hành động, làm việc đúng đắn, không làm những điều tàn
bạo, gian ác, giả dối
Chính ngữ: chỉ nói những điều đúng đắn, điều phải, điều hay, không
được nói những điều gian dối, điều ác, điều xấu
Chính mệnh: sống đúng đắn, trung thực, không tham lam, gian tà, vụ lợi Chính tinh tiến: nỗ lực, sáng suốt, vươn lên một cách đúng đắn
Chính niệm: phải luôn tâm niệm và suy nghĩ đến đạo lý chân chính, đến
điều tốt, không được nghĩ đến điều xấu xa, bạo ngược và tà đạo
Chính định: kiên định, tập trung tư tưởng tâm lý vào con đường, đạo lý
chân chính, không để bất cứ điều gì làm lay chuyển tâm trí, đạt tới giác ngộ Trong tám cách thức tu học để đạt tới giác ngộ và giải thoát thì chính kiến, chính tư duy thuộc về môn tu luyện trí tuệ; chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh thuộc về môn tu học đạo đức theo giới luật; còn chính tinh tiến,
chính niệm, chính định thuộc về môn thiền định Triết học Phật giáo khái quát
ba phương pháp tu luyện đó, gọi là Tam học: giới, định, tuệ
Trang 25Giới là giới luật mà tín đồ phải tuân theo để không vi phạm lỗi lầm do
thân, khẩu, ý tạo ra Giới là nền tảng đầu tiên người tu hành phải vượt qua trên con đường giải thoát
Định là phương pháp giúp cho người tu hành không tán loạn thân tâm
tạo điều kiện cho trí tuệ bừng sáng Định sẽ làm cho tâm tĩnh lại Cách tốt nhất làm cho tâm tĩnh lại là thiền định Thiền định tức là gạt bỏ mọi sự phân tán của tâm ý tạo trạng thái vắng lặng, tập trung lại trong tâm để tâm được an trụ suy nghĩ, quan sát hay suy nghiệm…
Tuệ là khả năng hiểu hết một cách sâu sắc về bản chất của con người và
thế giới, biết rõ nguyên lý của chính - tà, thiện - ác, thấy rõ sự vô thường, vô ngã trong vạn vật Tuệ là nền tảng của mọi đức tính, giúp người tu hành diệt trừ được vô minh, dục vọng chứng ngộ chân lý của Đức Phật
Theo Phật giáo, trong Tam học, giới là quan trọng nhất Vì có giữ giới thì tâm mới định, tâm có định thì tuệ mới phát sinh diệt trừ vô minh, phiền
não và đạt tới cảnh giới Niết Bàn
Như vậy, tư tưởng về Bát chánh đạo chính là đạo đức nhân sinh của Phật giáo Để thực hành Bát chánh đạo con người phải ngăn chặn việc gây ra
những điều ác, thi hành những điều thiện, điều tốt cho người và cho mình Ngoài ra, Phật giáo còn đưa ra phép tu tổng quát cho tất cả các hàng Phật tử,
đó là Ngũ giới cấm và Lục độ Đây được xem là những việc thực hành đạo
đức cụ thể
Ngũ giới cấm gồm: nhất cấm sát sinh, nhị cấm vô đạo, tam cấm tà dâm,
tứ cấm vọng ngữ, ngũ cấm ẩm tửu Phật giáo đề ra Ngũ giới cấm vì Phật giáo
tôn trọng sự công bằng, nuôi dưỡng lòng từ bi, tránh nhân quả báo ứng, bảo
vệ hạnh phúc gia đình, bảo tồn sự trung tín xã hội, ngăn ngừa những nguyên nhân sinh ra tội lỗi
Từ chế Ngũ giới cấm, Phật giáo đề ra phép tu Thập thiện, bao gồm mười
Trang 26nghiệp thiện ở thân, khẩu, ý và chia làm ba nhóm:
Về thân nghiệp có ba điều: Không sát sinh mà phóng sinh; Không trộm
cắp mà bố thí; Không tà dâm mà sống trong sạch
Về khẩu nghiệp có bốn điều: Không nói lời dối trá mà nói lời trung thực;
Không nói lời độc ác, xúc xiểm gây chia rẽ mà nói lời dịu hiền, đoàn kết; Không nói lời thêu dệt, vô nghĩa, nói lời hai lưỡi mà nói lời có ích
Về ý nghiệp có ba điều: Không tham mà biết từ bỏ, hoặc bố thí; không
sân mà có lòng từ bi; Không si mà sáng suốt, có trí tuệ, tỉnh giác
Tất cả những điều ấy nằm trong mặt đối lập, tức là vừa "chế" chúng, vừa
gương mẫu và khuyến cáo người khác làm theo Chẳng hạn, không sát sinh
mà dưỡng sinh, không tham mà bố thí…
Lục độ (sáu phép tu) gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định,
bát nhã
Bố thí là tự đem công sức, của cải của mình ra giúp đỡ người khác với
lòng từ bi, bác ái, tuyệt đối không phải vì cầu lợi Bố thí có hai loại: tài thí và pháp thí Tài thí là đem của cải của mình ra giúp đỡ người khác, ít hay nhiều tùy theo khả năng Pháp thí là đem công sức, tâm tư của mình ra giúp đỡ người khác một cách vô tư, trong sáng, không toan tính, vụ lợi
Trì giới là giữ nguyên giới luật, tích cực bỏ điều ác, nhiếp trừ mọi thiện căn Nhẫn nhục là sự kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng trong hành động, lời
nói, ý nghĩ, không oán hại, không nóng nảy, giận dữ, không tâm phục thù, gọi
là sinh nhẫn và pháp nhẫn
Tịnh tiến là sự cố gắng, nỗ lực vươn lên, học tập, tu luyện đạo pháp ngày
càng tốt hơn, chuyên tâm làm điều thiện, tránh điều ác
vào một vấn đề gì để suy xét cho thấu lý tức là chấm dứt những suy tư rời rạc nối đuôi nhau
Trang 27Bát nhã là trí tuệ do thiền định phát sinh để thấu triệt chân lý, là trí năng
để đạt đến cứu cánh giải thoát
Về sau những phương pháp tu luyện của Phật giáo còn được bổ sung khá phong phú, nhất là khi Phật giáo chia thành các môn phái khác nhau Song
phương pháp tu luyện chủ yếu vẫn là Bát chính đạo, Ngũ giới cấm, Lục độ Trong đó Ngũ giới là phép tu bước đầu của người xuất gia đi tu; Lục độ là
phép tu của các bậc tu hành đắc pháp
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên, với quan niệm về thế giới và con người, triết lý Phật giáo đã bao hàm những yếu tố duy vật chất phát và tư tưởng biện chứng tự phát Đó là ưu điểm nổi bật của Phật giáo
Sự ra đời của Phật giáo cũng có những đóng góp tích cực về ý nghĩa chính trị xã hội Nó là tiếng nói toàn bộ trong làn sóng phủ nhận uy thế có tính truyền thống của Veda, Upanishad và giáo lý đạo Bàlamôn, lên án chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội hết sức khắc nghiệt, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội Phật giáo đưa ra những tư tưởng và phương pháp cải cách xã hội, giáo hóa đạo đức con người, khuyên con người nên sống từ, bi, hỷ, xả, bác ái…Do đó, triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo mang tinh thần nhân văn sâu sắc
1.1.3 Học thuyết đạo đức của Phật giáo và những giá trị phổ quát của nó Học thuyết đạo đức của Phật giáo
Đạo đức là một trong những hiện tượng xã hội có nhiệm vụ điều hòa hành vi của con người ở tất cả các lĩnh vực của hoạt động xã hội
Ở phương Tây, đạo đức có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Mos, có nghĩa là
lề thói Moralis có nghĩa là thói quen Ngoài ra trong tiếng Hy Lạp còn có
khái niệm ethicos cũng có nghĩa là tập tục gắn với thói quen Cả hai từ này đều chỉ đạo đức của xã hội, tức là nói về tập quán, tập tục, nếp sống trong các quan hệ giao tiếp giữa con người với con người [24; tr 9 - 10]
Trang 28Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các nguyên tắc chuẩn mực, đánh giá và điều chỉnh cách ứng xử của của con người trong mối quan
hệ với nhau và với xã hội
Do đó, nói đến đạo đức là phải nói đến vấn đề con người Chủ nghĩa duy tâm quan niệm, con người là một thực thể tinh thần có ý chí tự do tuyệt đối Trái lại chủ nghĩa duy vật siêu hình lại cho rằng, con người là một sinh vật thụ động Thật ra, như Mác đã khẳng định, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Con người ở đây là con người xã hội, gắn liền với một xã hội nhất định
Theo quan niệm duy vật lịch sử, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội,
ý thức xã hội phản án tồn tại xã hội Do đó, cần tìm hiểu nguồn gốc, bản chất
và quy luật của đạo đức từ tồn tại xã hội, mà trước hết là căn cứ vào sự biến đổi và phát triển của phương thức sản xuất, nhân tố quyết định mọi quan hệ
xã hội của con người Ănghen nhận xét: “…người ta đều lấy những quan điểm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tế đã tạo thành cơ sở cho địa vị giai cấp của mình, tức là từ những mối quan hệ kinh tế trong đó người ta tiến hành sản xuất và trao đổi” và “…chung quy lại thì mọi thuyết đạo đức đã có
từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”[6, tr 162 - 163]
Cụ thể là chính nhu cầu sinh hoạt vật chất của xã hội đã quyết định sự ra đời và biến đổi của các giá trị đạo đức, cũng như tạo cho chúng chức năng điều chỉnh hành vi của con người sao cho phù hợp với đòi hỏi trong mối quan
hệ giữa con người với nhau và với xã hội
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại xuất hiện sớm, được biểu hiện trong quan niệm về đạo và đức của họ Đạo
đức nếu tách ra từng chữ thì đạo là con đường, tức là những nguyên tắc tự
nhiên có tác dụng dẫn đường; đức là được, tức là xâm nhập vào lòng người
Trang 29Nhập chung lại thì đạo đức là những nguyên tắc, chuẩn mực có tính chất
mệnh lệnh mà con người nêu theo trong quan hệ giữa người với người trong
xã hội[60, tr 6]
Và đạo đức học Phật giáo ra đời trên cở sở xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ có
sự phân biệt đẳng cấp gay gắt Theo Phật giáo, đạo đức được hiểu như sau:
“Đạo là chánh pháp, đức là đắc đạo, là không làm sai lệch nền chánh pháp”, hay “Các chân tính, các nguyên lý tự nhiên là đạo; vào được lòng người, cảm ứng với người là đức Đạo đức là nền pháp giáo mà người ta nên theo” [23, tr 524] Như vậy, nếu chánh pháp của Phật giáo là chánh pháp về giải thoát thì mọi giá trị đạo đức Phật giáo gắn liền với quá trình giải thoát Những giáo pháp giúp con người đạt đến cảnh giới Niết Bàn trở thành những nguyên tắc đạo đức căn bản của xã hội, do đó, học thuyết đạo đức của Phật giáo được thể hiện qua các phạm trù phổ biến như: thiện – ác, tứ vô lượng tâm, bình đẳng, hiếu đạo…
Cái thiện, cái ác
Những gì giúp con người tìm được chân như (Niết Bàn) sẽ được coi là
thiện và những hành vi, tư tưởng nào cản trở hay có hại cho việc làm này đều
bị coi là ác Thiện và ác được thể hiện qua hành vi của con người Thiện chính
là làm những việc có lợi cho mình mà không gây hại cho người khác Ác là
những việc làm có hại cho chính mình và cho cả người khác Trong việc xác định giá trị đạo đức, quan trọng là thuộc về cái tâm, không thể dừng lại ở việc làm hay thuần túy căn cứ vào kết quả để kết luận về thiện hay ác Cho nên làm việc thiện phải xuất phát từ tâm của mình chứ không vì mục đích gì khác
Và tiêu chí đầu tiên của thiện là bất sát Vì thế, giới luật đầu tiên trong Ngũ
giới mà Phật giáo quy định là bất sát sanh Có thể nói đó là những tiêu chuẩn
tối hậu về những giá trị đạo đức của xã hội
Để giúp con người hướng tới việc thiện, Phật giáo đã đề ra thuyết Tứ vô
Trang 30lượng tâm
Tứ vô lượng tâm là nền tảng đạo đức của Phật giáo, bao gồm bốn yếu tố
là từ, bi, hỷ, xả
Từ là lòng từ ái vô lượng vô biên, là “lòng thương rộng lớn muốn đem
niềm vui lại cho tất cả chúng sinh”[14, tr 734] Như vậy, từ là cái nghịch nghĩa với sân Nếu sân là biểu hiện của sự không thõa mãn, sự thù hận thì ngược lại, từ không có sự phân biệt giữa mình với chúng sinh nên nhìn tất cả
đều là bạn
Bi là thương xót vô lượng vô biên nhưng không bi lụy, là “lòng thương
xót đối với nỗi đau của chúng sinh”[14, tr 90], đó cũng là lòng bác ái, một đức độ của tâm hồn cao thượng
Hỷ là không đau khổ với những thất bại của mình và vui vẻ với thành
công của người khác, là “Hoan hỷ, hỷ lạc Vui mừng sung sướng khi nghe được việc vừa ý, gặp được việc tốt lành Hỷ còn là vui vẻ đối với phước, lợi của chúng sanh, đối với sự thành công của chúng sanh về tài vật nhất là về đạo lý”[23, tr 16 -17]
Xả là vô chấp vô biên, là vô tư trong nhận định, tâm hồn luôn thanh thản,
không yêu, không ghét Xả là sự bình thản nhưng không có nghĩa là lạnh lùng trước thế sự
Nhìn chung, trong hầu hết các tư tưởng đạo đức xã hội đều có tư tưởng
từ, bi, hỷ, xả nhưng nét đặc trưng của Phật giáo là ở cái tâm rộng lớn, bao la,
bao phủ tất cả các chúng sinh Do đó mà khi nhắc đến mẫu người đạo đức
trong Phật giáo người ta hay nói đến Tứ vô lượng tâm là từ, bi, hỷ, xả, thể
hiện là con người luôn vui vẻ, không ganh tỵ trước hạnh phúc của người khác, lấy niềm vui, hạnh phúc của người đời làm niềm vui, hạnh phúc của mình Vì
thế, Tứ vô lượng tâm được xem là đức thiện hoàn chỉnh
Xuất phát từ tâm từ, tâm bi mà làm việc thiện, Đức Phật khuyên mọi
Trang 31người nên hành thiện tích đức bằng cách bố thí
Bố thí: Bố là cùng khắp, thí là cho Bố thí là cho cùng khắp, cho tất cả
mọi người Người ta có thể bố thí, có thể cho tất cả mọi người với nhiều mục đích khác nhau nhưng khác với những hành động bố thí khác Bố thí
“Cũng như mặt trời rọi chiếu vạn vật vì bản tính của mặt trời là phát sinh
sự sáng…không riêng cho ai cả…Cái đức bố thí của Bồ Tát không phải còn của bản ngã nữa mà là của Phật tính…”[13, tr 250 - 251] Bố thí có
ba cách: Tài thí, Pháp thí, Vô úy thí
Tài thí: tài ở đây là tài trong lục độ, là tất cả những cái thuộc về
mình, bao gồm một phần của thân thể, là sinh mạng sống của chính bản thân với tiền bạc, xe cộ, nhà cửa…tức là những vật dụng mà mình có quyền sử dụng đem cho người khác trong lúc khó khăn
Pháp thí: là làm cho người khác hiểu về giáo lý của Đức Phật bởi
những giáo lý của Người là chân lý bằng nhiều phương pháp khác nhau
Vô úy thí: Vô là không, úy là sợ Vô úy thí là giúp để người khác
yên tâm, bình tĩnh trước mọi khó khăn, thử thách Hay động viên an ủi giúp người khác vơi buồn, bớt khổ có thêm niềm tin và nghị lực sống Người tu hạnh thí Vô úy “sẵn sàng nhảy xuống nước vớt người sắp chết chìm, nhảy vào lửa cứu người sắp chết cháy, xông vào đám cướp cứu người lương thiện, đến gõ cửa công để minh oan cho người vô tội… người ta tu hạnh thí vô úy đi đến đâu thì đem đến đó sự bình tâm, yên
Bố thí là việc làm xuất phát từ lòng từ bi, từ tình thương người, cho
nên dù bất kỳ hình thức nào cũng là hành vi đạo đức cao thượng, có ý nghĩa tốt đẹp Nó có tác dụng tích cực, khuyến khích mọi người làm điều thiện Hạnh bố thí là thiện nghiệp nên sẽ cho quả báo tốt, giúp hình thành nhân cách đạo đức cao đẹp, củng cố niềm tin hướng thiện trong
Trang 32mỗi cá nhân, là lối sống đạo đức có ảnh hưởng đến việc xây dựng nền tảng đạo đức cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội
Từ ý nghĩa đó, đức Phật đã đưa ra những điều cấm nhằm ngăn chặn các
ác pháp nảy sinh và tăng trưởng thiện pháp, gọi là giới luật Giữ nghiêm giới
luật gọi là Trì giới
Trì giới: Giới có nghĩa là “sự ngăn cấm không được làm việc gì trái với
sự thật, trái với điều thiện, trái với sự giải thoát, là phương pháp trị những tội lỗi do thân, miệng, ý gây ra; hầu mang lại lợi ích cho mình và người”[16, tr 184] Người giữ giới là người có đức hạnh, Phật ví mọi hương thơm các loài hoa hiện hữu trên thế gian này không bằng hương thơm của người giới đức Người có đạo đức bay ngược chiều gió, tỏa ra khắp mọi nơi
Trì giới là phương tiện ngăn chặn những hành động sai lầm, ngưng làm
cái điều ác và năng làm điều thiện Chính nhờ trì giới thật đúng đắn mà hành giả được thanh tịnh ba nghiệp và được sự vô úy: “Lấy giới hàng phục tâm, giữ
ý luôn chánh định, trong tu tập chỉ quán, chánh trí thường hiệu tiền Sáng suốt giữ gìn giới, trong chính trí tư duy Hành đạo thiếu tương ứng, tự thanh tịnh hết khổ”[90, tr 67 - 68] Nhưng cũng tùy vào sự hiểu biết và hành của chúng
ta mà nó sẽ đem lại một sự giải thoát tương ứng trong cuộc sống: “Người nào thành tựu các giới hạnh, hàng ngày không buông lung, an trụ trong chánh tín
và giải thoát”[35, tr 24]
Trì giới là giai đoạn sơ khởi và là nền tảng để xây dựng đạo đức Trì giới
là ta không để mình bị sa vào các giới cấm hoặc mê tín dị đoan, luôn giữ cho thân, khẩu, ý thanh tịnh, tức là thân phải tránh xa những điều xấu ác như sát sanh, nối dối, tham, sân si, tà kiến…
Như vậy, để trì giới, giữ nghiêm giới luật, theo Phật giáo phải nhẫn nhịn,
chịu đựng mọi việc làm ta đau khổ Đó là nhẫn nhục
Nhẫn nhục là sự chịu đựng, sự nhường nhịn những việc làm ta đau khổ
Trang 33Nhẫn nhục có khi không còn là sự chịu đựng hay nhường nhịn nữa, vì nó đã đạt đến mức xóa được vô minh, hiểu tất cả đều là vô ngã nên không còn thấy ranh giới giữa vinh và nhục, giữa khen và chê…để nhìn tất cả với cặp mắt thản nhiên, với tâm hồn điềm đạm
Từ sự nhẫn nhục, đạt đến xóa bỏ vô minh, hiểu vạn pháp vô ngã nên theo Phật giáo, vạn pháp đều bình đẳng
Bình đẳng là ngang nhau về quyền lợi và địa vị, Phật giáo đã thể hiện
bình đẳng bằng việc không phân biệt nam nữ, sang hèn, truyền trao chân lý Phật giáo cho mọi người để phá bỏ trước hết sự bất công đang ngự trị trong xã hội Ấn Độ bấy giờ Phật giáo cho rằng: “Không ai sinh ra đã thành Bàlamôn/ Không ai sinh ra đã thành tiện dân/ Chỉ do hành động mà thành Bàlamôn/ Chỉ
do hành động mà thành tiện dân”[9, tr 49]
Đức Phật không chỉ đề cao tính bình đẳng giữa người và người, mà còn
đề cao tính bình đẳng giữa con người và con vật, bình đẳng giữa muôn loài Phật giáo quan niệm về sự bình đẳng là tất cả mọi vật đều bằng nhau, ngang nhau, như nhau
Tuy nhiên, trong các loài hữu tình của dục giới, đạo Phật coi con người
là trung tâm Sở dĩ như vậy là vì con người có những điều kiện hết sức thuận lợi để giác ngộ đạo Phật và khi con người giác ngộ được đạo Phật rồi thì không chỉ được riêng cho mình mà còn là lợi lạc cho các vật hữu tình khác Hay nói cách khác, một người có thiện tâm, có bình đẳng tâm thì những người xung quanh họ đều được lợi lạc Xã hội loài người hướng thiện và bình đẳng thì các loài hữu tình khác cũng được yên vui; chim bay trên trời, cá lội dưới nước, cây cối trong rừng…tất cả đều sẽ tránh được sự đe dọa Như vậy, đạt được sự giải thoát không chỉ đem lại lợi lạc cho riêng ta mà là cho tất cả mọi loài Đó cũng chính là biểu hiện của sự bình đẳng
Tư tưởng bình đẳng của đạo Phật không những chỉ ra cho con người
Trang 34rằng đạo giải thoát là của tất cả chúng sinh mà còn khẳng định rằng chính chúng sinh có khả năng kỳ diệu tự giải thoát chính mình Về điều này, trong
Lục tổ đàn kinh, sư tổ Huệ Năng đã nói rằng: mọi pháp đều do tự tính mà có
Tự tính là tự tâm Tự tâm có thể bất ngờ giác ngộ và chúng sinh có thể lúc ấy tức thì thành Phật, không cần phải dần dần tiến lên từng bậc
Bên cạnh tư tưởng bình đẳng, học thuyết đạo đức Phật giáo cũng không thể bỏ qua phẩm chất hiếu đạo của con người, lòng yêu thương giữa con người với con người
Hiếu đạo là một trong những phẩm chất đạo đức cao quý mà mỗi người
đều phải có Hiếu được thể hiện ở việc kính trọng bề trên, con cái hiếu với cha
mẹ, trò hiếu với thầy…
Hiếu đạo với cha mẹ là đức tính tốt đẹp của con người, là nền tản cho mọi đức hạnh, là nhân tố quan trọng để xây dựng đời sống hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội Trong kinh Tăng Chi Bộ 1, phẩm Tâm thăng bằng, phần Đất, đức Phật dạy: “Có hai hạng người, này các Tỳ kheo, Ta nói không thể trả ơn được Thế nào là hai? Mẹ và cha Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ kheo, nếu một bên vai cõng cha; làm vậy suốt trăm năm cho đến 100 tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dầu tại đấy, mẹ và cha có vãi tiện đại tiện, như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha… Vì cớ gì? Vì rằng, này các Tỳ kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này”[31, tr 119] Đức Phật dạy có năm cách để người con thể hiện hiếu kính với cha mẹ,
đó là “Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ giữ gìn gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ gia sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”[111, tr 262] Theo Đức Phật, con cái hiếu đạo chẳng những báo đáp cho cha mẹ ở đời này mà còn phải báo đáp công ơn ấy trong hết thảy sáu nẻo bốn loài chúng sinh từ vô lượng kiếp cho
Trang 35đến nay Và những ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng, dâng cúng tiền bạc, của cải vật chất thì không bao giờ đủ, mà điều hơn hết là phận làm con phải khuyến hóa cha mẹ hướng thiện những điều như: “ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với cha mẹ theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào
bố thí; đối với cha mẹ theo ác tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào trí tuệ Như vậy là làm đủ và trả đủ cho mẹ cha”[31, tr 119 – 120]
Đặc biệt, Đức Phật còn khuyên những vật phẩm người con phụng dưỡng, kính thờ cha mẹ phải trong sạch, phải là thành quả do chính sức lao động của
Đức Phật rằng: “Thưa tôn giả Gotamam, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, sau đó tôi nuôi dưỡng mẹ cha Thưa tôn giả Gotama, tôi làm như vậy có đúng trách nhiệm không? Đức Phật đáp, “Này Bàlamôn, ông làm như vậy là đúng trách nhiệm Này Bàlamôn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp sau đó nuôi dưỡng cha mẹ thì người ấy được nhiều công đức”[99, tr 172] Hiếu đạo với cha mẹ, bên cạnh việc chăm sóc, kính thờ cha mẹ, con cái nên thực hành thiện pháp như giữ gìn nếp sống đạo đức, mở rộng lòng bố thí, tích cực làm nhiều điều thiện cho người khác và cho xã hội vì “Cha mẹ được thoát ly sinh tử, thì đạo làm con mới hình thành”[32, tr 6] Do đó, Đức Phật dạy điều thiện tối cao là chí hiếu “Nếu hay khuyến khích cha mẹ niệm Phật cầu sinh Tây Phương cực lạc thế giới, tức là Đại hiếu”[32, tr 6]
Hiếu đạo còn thể hiện trong mối quan hệ của trò đối với thầy, đức Phật dạy có năm cách mà đệ tử phải phụng dưỡng các bậc sư trưởng là: “Đứng dậy, hầu hạ sư trưởng, hăng hái học tập, tự phục vụ sư trưởng, chú tâm học hỏi nghề nghiệp”[111, tr 263] Đại đức Narada Thera đã giải thích những phẩm hạnh này như sau: “Học trò đối với thầy có bổn phận: Luôn tỏ ra cung kính
Trang 36thầy; trông nom, săn sóc thầy; chăm chỉ nghe lời thầy dạy; khi cần thầy phải hết lòng giúp đỡ; kính cẩn thọ nhận lời thầy dạy bảo”[101, tr 562] Trái lại, thầy cũng có những bổn phận đối với trò của mình “dạy dỗ có phương pháp; dạy những điều chưa biết; giới thiệu bạn lành cho đệ tử; làm sáng tỏ điều hiểu biết của đệ tử; đem hết sự hiểu biết của mình truyền dạy, không lẫn tiếc”[31, tr 568] Ngoài hiếu đạo của con cái đối với cha mẹ, của trò đối với thầy, trong Phật giáo, hiếu đạo còn thể hiện trong mối quan hệ vợ chồng, quan hệ anh em, bạn bè
Trong đạo nghĩa vợ chồng, Đức Phật khuyên dạy: “có năm cách để người chồng đối xử với người vợ là: kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ, trung thành với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ…Được chồng đối xử như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: thi hành tốt bổn phận của mình, khéo tiếp đón bà con, trung thành với chồng, khéo giữ gìn tài sản của chồng, khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc”[99, tr 496] Nếu người vợ được chồng đối xử theo năm cách và người vợ tỏ lòng thương tưởng chồng theo năm cách như vậy, biết chung sống với đầy đủ trách nhiệm và bổn phận như đã nói trên thì gia đình sẽ an ổn, hạnh phúc
Quan hệ anh em và rộng hơn là họ hàng, thân tộc là điều cao cả, thiêng liêng Tính thiêng liêng đó đã khẳng định nét đạo đức riêng có của con người
và xã hội loài người Quan hệ thân tộc, anh em xuất hiện rất sớm Khi một cộng đồng dân cư được hình thành thì cùng lúc ấy, mối quan hệ anh em thân tộc được xuất hiện, định hình Tùy theo không gian sống và bối cảnh văn hóa
mà tính chất của quan hệ anh em, thân tộc, thay đổi Với Phật giáo, để quan
hệ anh em, thân tộc được giữ gìn và phát triển thì đòi hỏi phải hoàn thiện một
số đức tính sau: tinh thần đoàn kết, tương kính, nhường nhịn và sẻ chia, giữ
vững nếp nhà, thái độ tự chủ và không ỷ lại
Trong quan hệ bạn bè, theo Phật giáo thì đối với bạn bè phải giúp đỡ lẫn
Trang 37nhau, chung thủy với bạn, khuyên bạn làm điều thiện, chặn điều ác, phải vui cùng niềm vui của bạn, buồn cùng với nỗi buồn của bạn…Đức Phật dạy:
“…bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn luôn giúp đỡ… người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui…người bạn khuyên lời lợi ích…người bạn có lòng thương tưởng…”[101, tr 562]
Từ các phạm trù phổ biến trong học thuyết đạo đức của Phật giáo như: thiện – ác, tứ vô lượng tâm, bình đẳng, hiếu đạo…Phật giáo mang trong mình giá trị phổ quát và Phật giáo có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội
Những giá trị phổ quát của đạo đức Phật giáo
Có thể khái quát thành ba vấn đề cơ bản là tính nhân bản, tính công bằng
và lòng khoan dung
Tính nhân bản
Nhân là người, bản là gốc Vậy tính nhân bản có nghĩa là con người là
gốc Theo tinh thần khoa học có thể xem bất cứ một nền đạo đức nào quan tâm tới chân, thiện, mỹ của con người đều được gọi là nền đạo đức nhân bản Đạo đức Phật giáo cũng mang giá trị nhân bản vì Phật giáo quan tâm đến cái khổ của con người và chỉ đường giải thoát cho con người Nếu các tôn giáo khác giải thoát cho cái khổ của linh hồn thì Phật giáo giải thoát cho cái khổ của con người Nếu như nhiều tư tưởng triết học mong cầu giải thoát con người thoát khỏi cái khổ do sự bất công của xã hội thì Phật giáo nêu ra tư tưởng giải thoát cho con người khỏi cái khổ vì vô minh, tham, sân, si
Điểm quan trọng nhất mà chúng ta nhận thấy được ở chân lý Phật giáo là
vị giáo chủ không phải là một vị thần linh, không phải là một thượng đế đầy quyền uy, mà cũng là một con người bằng xương bằng thịt như bao con người khác Ngài cũng được sinh ra, lớn lên, đi học, có vợ con Sống trong xã hội
Ấn Độ thời bấy giờ, Ngài đã chứng kiến cảnh lầm than cơ cực của dân chúng trước những bất công của xã hội, Ngài thấy rõ nỗi thống khổ của sinh, lão,
Trang 38bệnh, tử Do đó, Ngài đã một mình ra đi tìm phương pháp giải quyết những vấn đề trên Sau những tháng năm học đạo với các đạo sĩ nổi tiếng nhưng kết quả vẫn không làm Ngài giải quyết được những vấn đề bức xúc trong lòng Cuối cùng Ngài quyết định tự mình tham cứu, Ngài đã giác ngộ và tự tìm thấy con đường của giải thoát
Như vậy, khái niệm về tính nhân bản của Phật giáo đã hình thành Đạo Phật quan niệm, con người là trung tâm điểm, hay nói cách khác, không có nhân loại thì không có chân lý Phật giáo hiện hữu trên cõi đời này
Trong thế giới quan Phật giáo, chủng loại chúng sinh được chia thành sáu bậc: Thiên, Nhân, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh Trong sáu giới ấy, con người được coi là hội đủ điều kiện tốt nhất để đạt đến các quả vị tu chứng trí tuệ trong Phật giáo Chân lý của Đạo Phật giải thích rằng, ở cõi Thiên thì khó nhận thức được khổ đau vì cuộc sống của họ quá ư sung sướng Trái lại, các cõi Atula, Địa ngục, Súc sinh, Ngạ Quỷ thì chúng sanh quá u mê, ngu dốt nên cũng không dễ nắm bắt được chân lý Phật đà Mà chỉ có cõi nhân, bản thân con người mới có hoàn cảnh nhận thức được khổ đau của cuộc sống và
có khả năng khai sáng được ngọn đèn trí tuệ
Chân lý Phật giáo quan niệm, con người là chủ nhân của mọi hành vi của chính bản thân mình ở cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai Con người là thượng đế duy nhất có quyền thưởng phạt cho chính cuộc đời mình, ngoài mình ra thì không ai hay bất cứ thần linh nào có khả năng đưa mình lên thiên đàng hay ném mình xuống địa ngục
Phật giáo cũng luôn đề cao nỗ lực và ý chí của bản thân con người Tinh tấn là một trong những đức tính quyết định việc thành tựu đạo quả Bồ Đề Những kẻ lười biếng, bạc nhược không bao giờ có thể đến bờ giác ngộ Với những tâm hồn khao khát tự do và giải thoát tuyệt đối, dốc hết sức mình cùng với sự hiểu biết chân lý của đạo Phật thì chắc chắn sẽ đạt được kết quả tốt đẹp
Trang 39trên các bước đường tu học và nhập thế Ngược lại, cho dù ngàn vị Phật giang tay tế độ cũng không thể đưa chúng ta thoát khỏi biển trần lao đầy thống khổ này Tính nhân bản là điểm ưu việt của Phật giáo mà chúng ta khó có thể tìm thấy ở tôn giáo khác: một vị giáo chủ lại đề cao khả năng của con người một cách khách quan hiện thực như vậy Xuất phát từ tính nhân bản, nhân cách con người được tôn trọng triệt để trong đạo Phật: quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng đều có một giá trị đích thực
Như vậy, có thể thấy rằng, tính nhân bản của Phật giáo là đề cao tính nhân văn (phẩm chất tốt đẹp, đạo đức, sáng tạo) của con người Phật giáo là đạo của con người, xuất phát từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài là một đấng giác ngộ nhưng ngài chính là một con người, vì con người mà Ngài khai thị chân lý, hướng dẫn con người đi đến cuộc sống thực sự an vui, hạnh phúc Với tinh thần nhân bản lớn như trên, Phật giáo còn đóng góp cho nền hòa bình của nhân loại Theo Phật, tất cả những cuộc chiến tranh, tất cả những điều nhiễu nhương…trong xã hội, suy cho cùng đều do cái tâm hữu ngã của người từ tham, sân, si mà ra, đồng thời không bao giờ hận thù có thể xóa được hận thù Nếu con người hữu minh từ bỏ Tam độc đó bằng cách bỏ tâm ác, tinh tấn tâm thiện, tâm vô ngã thì sẽ góp phần đem lại hòa bình trên trái đất Từ lẽ
đó cũng thấy rằng: cái tâm của con người bẩn và loạn là tác nhân cho xã hội bẩn và loạn, cái tâm của con người trụ và trong sạch thì xã hội sẽ yên bình, lành mạnh và trong sáng Do vậy, con đường đạo đức của Phật giáo là xây dựng cái tâm ổn định, bất hại, an lạc, từ bi cho từng loại người nói riêng và chúng sinh nói chung, cho nên tự thân giáo lý Phật giáo nổi bật sắc thái của từ
bi, bất hại, bất sát, bất loạn động Đó cũng là sắc thái của giáo lý hòa bình, an lạc và điều này được gói gọn trong lời dạy của Phật: từ bỏ mọi điều ác, làm mọi điều lành, giữ tâm ý trong sạch
Ngoài sự quan tâm, cứu khổ, cứu nạn cho con người, đạo đức Phật giáo
Trang 40còn quan tâm cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh Đạo đức Phật giáo đề cao tư tưởng bất sát sanh với tâm từ, bi, hỉ, xả và không tham, sân, si là tư tưởng hòa bình của Phật giáo Do đó, Phật giáo bên cạnh tính nhân bản còn có tính công bằng và lòng khoan dung
Tính công bằng và lòng khoan dung
Phật giáo xuất phát từ sự bình đẳng để xây dựng lẽ công bằng Không giống các trào lưu triết học và tôn giáo khác, thường chỉ chú trọng đề cao đến
sự bình đẳng giữa người và người Phật giáo bên cạnh việc xây dựng hệ thống giáo lý của mình trên cái nền bình đẳng giữa người và người, còn mở rộng sự bình đẳng giữa Phật, người, chúng sinh nói chung Chính điều này, sự bình đẳng đã được đẩy đến lẽ tột cùng của nó
Từ quan niệm về bình đẳng như trên, trước tiên lẽ công bằng của Phật giáo là từng cá nhân làm đến đâu, trách nhiệm đến đâu thì hưởng đến đó, sau
đó mới là việc phân phối lại thành quả của mình theo tinh thần tùy hỷ công đức Tiếp theo, trong hệ thống đạo đức Phật giáo, tính công bằng bao giờ cũng có quan hệ hai chiều sòng phẳng giữa người và người, giữa cá nhân và
xã hội, thậm chí một người cũng phải chịu chi phối sòng phẳng của luật nhân quả Tinh thần bình đẳng của Phật giáo còn kéo theo cả trách nhiệm, nghĩa vụ
và lương tâm của con người trong mối quan hệ ứng xử với người khác và với
xã hội Vấn đề này, nếu chúng ta sống trong xã hội luôn bị áp bức, bất công, bất bình đẳng thì mới thấy giá trị to lớn của sự bình đẳng Cũng giống như người nào đã trải qua nhiều cay đắng thì mới biết thế nào là hạnh phúc, tự do Cũng từ bình đẳng rộng lớn nên trong tư tưởng bất sát của Phật giáo còn mang một ý nghĩa nữa Đó là không được đày đọa, sát hại người ta nhất là những người vô tội cả về mặt tinh thần và tình cảm Con người sống là đáng quý nhưng đáng quý hơn là quyền được sống Nếu con người mất quyền sống thì sống cũng như chết Do đó, những tư tưởng như trù dập, áp bức người