1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh danh từ đồng nghĩa trong tiếng việt và tiếng anh

176 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh
Tác giả Đặng Hùng Phi
Người hướng dẫn Phĩ giáo sư – TS. Lê Trung Hoa
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUỒN TƯ LIỆU Chủ yếu chúng tôi tập trung vào nguồn tư liệu thành văn gồm những công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài luận văn từ nguồn sách, báo, tạp chí, internet,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

ĐẶNG HÙNG PHI

SO SÁNH DANH TỪ ĐỒNG NGHĨA TRONG

TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Trang 2

Mục Lục DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 3

3 Mục đích đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: 7

4 Phương pháp nghiên cứu: 7

5 Nguồn tư liệu: 8

6 Bố cục luận văn: 9-10 CHƯƠNG 1: Những tiền đề lý luận 1.1 Khái quát về danh từ trong tiếng Việt 11-26 1.2 Khái quát về danh từ trong tiếng Anh 26-46

1.3 Hiện tượng đồng nghĩa 46-47 1.4 Tương đồng ngữ nghĩa ở các ngôn ngữ 47-48 1.5 Hiện tượng đa nghĩa, từ đa nghĩa 48-49

Trang 3

1.7 Một số định nghĩa tiêu biểu của các nhà Việt ngữ học về từ đồng nghĩa

Trang 4

Một số ví dụ so sánh danh từ đồng nghĩa giữa hai ngôn ngữ 98-111 Tiểu kết 112-114

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt

Phụ lục 2: Danh từ đồng nghĩa trong tiếng Anh

Trang 5

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Ngơn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất đối với các thành viên trong một cộng đồng người Ngơn ngữ đồng thời là phương tiện phát triển tư duy truyền đạt truyền thống văn hố - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Nĩi đến ngơn ngữ tự nhiên cũng cần phân biệt ngơn ngữ với tư cách phương tiện giao tiếp nĩi chung của lồi người là khả năng chung của các dân tộc dùng ngơn ngữ làm phương tiện giao tiếp và các ngơn ngữ cụ thể của từng dân tộc Để biểu thị nghĩa thứ hai, tiếng Việt cịn dùng từ “tiếng” chẳng hạn tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh Ngơn ngữ học nghiên cứu cả ngơn ngữ nĩi chung lẫn ngơn ngữ cụ thể Việc học ngơn ngữ học

là quá trình nắm bắt những tri thức cĩ sẵn đã đạt được trong ngơn ngữ học, nĩ khác về chất với quá trình lĩnh hội các tri thức mới của các nhà khoa học trong khi nghiên cứu Nghiên cứu khoa học hướng vào cái chưa biết, chưa hiểu chưa được phát hiện, đĩ là quá trình biến cái chưa hiểu thành cái hiểu được, hai quá trình này gắn bĩ chặt chẽ với nhau Muốn nghiên cứu ngơn ngữ thì trước hết phải

cĩ tri thức tối thiểu về ngơn ngữ học mà vấn đề về từ trong bất kỳ một ngơn ngữ nào cũng hết sức cần thiết và quan trọng trong quá trình nghiên cứu một ngơn ngữ nào đĩ bất kỳ Dạy và học một thứ tiếng nào đĩ chưa phải là nghiên cứu ngơn ngữ học, thực ra học ngoại ngữ chỉ là quá trình nắm vững cách dung ngơn ngữ khác làm phương tiện giao tiếp bổ sung bên cạnh tiếng mẹ đẻ của mình Sự hiểu biết

về một ngơn ngữ nào đĩ khơng hồn tồn đồng nhất với khả năng sử dụng thành thạo thứ tiếng ấy Tuy nhiên, khả năng hiểu biết một ngơn ngữ nào đĩ với khả năng dùng ngơn ngữ ấy khơng tách rời nhau Nắm vững một ngơn ngữ nào đĩ là cơ sở để cĩ thể sử dụng tốt ngơn ngữ ấy Vấn đề này không thể thực hiện được nếu chúng ta không đi sâu nghiên cứu và học tập một cách thấu đáo các đặc điểm từ ngữ, ý nghĩa cũng như khả năng của từ ngữ tham gia kết

Trang 6

không nghiên cứu đầy đủ các kiểu loại cấu trúc của câu, các cách thức biểu hiện thành phần câu:không thấy được khả năng biểu cảm mỗi kiểu loại và cách thức diễn đạt ấy

Cho đến nay, rất nhiều vấn đề có liên quan đến từ và các đặc điểm của nó vẫn còn chưa được giải quyết triệt để, trong đó có vấn đề từ đồng nghĩa

Quan hệ đồng nghĩa có thể xuất hiện giữa các từ, giữa từ và ngữ , giữa các ngữ , hoặc giữa các kết cấu ngữ pháp

Chính những người Hi Lạp cổ đại là những người đầu tiên đã chú ý tới quan hệ đồng nghĩa giữa các từ Chính họ đã đặt tên gọi cho hiện tượng này Muộn hơn về sau , người ta cũng đã nhận thức được những quan hệ đồng nghĩa giữa các phương thức ngữ pháp biểu hiện cùng một nội dung nhất định

Các từ đồng nghĩa về từ vựng và đồng nghĩa về ngữ pháp có ý nghĩa rất to lớn Các phương tiện đồng nghĩa của ngôn ngữ giúp chúng ta biểu hiện được tư tưởng, tình cảm của mình mộtt cách chính xác hơn, có hình ảnh hơn, giàu sức biểu cảm hơn Khả năng sử dụng các từ đồng nghĩa thuộc những phong cách ngôn ngữ khác nhau là cực kì phong phú và đa dạng Nếu chúng ta chọn lựa được chính xác một từ nào đó trong một dãy đồng nghĩa hoặc chọn được đúng một kết cấu đồng nghĩa nào đó thì khi đó chúng ta sẽ giải quyết tốt được nhiệm vụ diễn đạt chính xác nội dung tư tưởng Có nhiều trường hợp các từ đồng nghĩa còn giúp giải quyết những nhiệm vụ thuần tuý có tính chất kĩ thuật trong diễn đạt ngôn ngữ Đó là khi nhờ có các từ đồng nghĩa mà chúng ta có` thể tránh được sự diễn đạt trùng lắp do chỉ sử dụng một từ nào đó cứ lặp đi lặp lại trong cùng

Trang 7

Trên đây là sự trình bày khái quát tầm quan trọng từ đồng nghĩa tiếng Việt và đó cũng chính là

lí do tôi chọn đề tài này và đi sâu khảo sát về danh từ đồng nghĩa ở tiếng Việt so với danh từ đồng nghĩa trong tiếng Anh

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU:

2.1 Lịch sử nghiên cứu trong tiếng Anh

Trong ngôn ngữ học, việc nghiên cứu các từ đồng nghĩa đã được bắt đầu từ rất lâu đời Cho đến nay đã có một khối lượng khá lớn các công trình khoa học, trong số đó có khá nhiều tác phẩm hàm chứa nhiều tư tường sâu sắc, chính những người Hi Lạp cổ đại là những người đầu tiên nghiên cứu các từ đồng nghĩa và họ đã rút ra kết luận rằng sự phong phú của ngôn ngữ, sự hàm súc của tư tưởng và sự đa dạng của cách diễn đạt chính là nằm ở trong các từ đồng nghĩa

Các nhà bác học La Mã cũng đã nhận thấy không những sự giống nhau của các từ đồng nghĩa

mà còn thấy cả những sự khác biệt giữa chúng Chẳng hạn, M Quintilianus, trong tác phẩm Institutio Oratorital Ed E Boneull, vol II, lipsial, 1896, p 149, đã viết rằng: “Nhưng bởi vì ở các sự vật khác nhau tên gọi là khác nhau, hoặc là chính xác hơn, hoặc là đẹp hơn, hoặc có tính biểu cảm hơn, hoặc là

Trang 8

có thể nói là hiện ra trước mắt, khi người nói cần đến thì có thể chọn lựa một cách nhanh chóng từ chúng tên gọi tốt nhất”

Đến thế kỉ XVIII, các nhà khoa học Pháp đã xác định được bản chất của từ đồng nghĩa Năm

1718, ở Pháp đã xuất bản tác phẩm có dung lượng lớn của Gira dưới dưới nhan đề “Tính chính xác của tiếng Pháp, hay là ý nghĩa khác nhau của các từ có thể là các từ đồng nghĩa” (La justice de la langue francaise ou les differentes significations des mots qui passent pour les synonymes)

Đến giữa thế kỉ XIX, ở Pháp đã xuất bản cuốn “Từ điển Từ đồng nghĩa cỡ lớn” của B Lafaye (1857) Cuốn từ điển này dày 1525 trang, tập hợp và giải thích được khá nhiều từ đồng nghĩa Các soạn giả tập hợp các từ đồng nghĩa hoàn toàn hoặc từ gần nghĩa rồi giải thích nghĩa từ trung tâm và các từ trong nhóm, đồng thời nêu sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa của chúng

Sang giữa thế kỉ XIX, ở Đức đã xuất bản những cuốn từ điển đồng nghĩa của J B Mayer (1841) và của D Saunde (1871) Đến thế kỉ XX cũng ở Đức đã có them một số cuốn từ điển khác như của J Eberhand (1910) và của Hoffman (1936) Cuốn từ điển đồng nghĩa của Hoffman cỡ nhỏ gồm 4000 từ được xếp theo thứ tự chữ cái Tác giả đã đưa vào cuốn tự điển này các từ đồng nghĩa được quan niệm khá rộng:

- Từ hoàn toàn trùng về nghĩa

- Từ về cơ bản là trùng nhau về nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái phong cách

- Từ có ý nghĩa gần nhau nhưng khác nhau về cách sử dụng

- Từ khác nhau về nghĩa và cách sử dụng nhưng được thống nhất theo cùng một chủ đề

Ở Anh cũng có nhiều từ điển từ đồng nghĩa đã được xuất bản Trong số các cuốn từ diển ấy thì những cuốn từ điển sau đây đã thông dụng và được phổ biến hơn cả Đó là “từ điển từ đồng nghĩa và cụm từ đồng nghĩa Anh” (Dictionary of English synonyms and synonymous expressions) của R

Trang 9

năm 1951 Trong số các cuốn từ điển này các soạn giả đều tập hợp các từ đồng nghĩa thành các nhóm

và nêu rõ sự khác nhau về cấu trúc ngữ nghĩa, cách sử dụng và đặc điểm phong cách của chúng, đồng thời có chỉ ra cả sự giống nhau về ý nghĩa của các từ trong mỗi nhóm

Tóm lại, tới nửa sau thế kỉ XIX, trong lĩnh vực đồng nghĩa học, các nhà nghiên cứu đã có được hàng loạt những quan sát đúng đắn và thú vị Các từ đồng nghĩa được định nghĩa là các từ gần gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa (trong số các từ đồng nghĩa người ta đã tách riêng ra các từ gọi tên cùng một sự vật) Các học giả cũng đã xác định các từ đồng nghĩa là chỉ tố về tính chất đã phát triển của một ngôn ngữ, là chỉ tố về sự phong phú, uyển chuyển của nó và các từ đồng nghĩa là để phục vụ cho sự đa dạng hoá trong cách biểu hiện tư tưởng

2.2 Lịch sử nghiên cứu trong tiếng Việt

Ở Việt Nam, có thể kể đến các nhà ngôn ngữ học sau đây đã bàn nhiều đến lí luận từ đồng nghĩa trong đó có những vấn đề như: khái niệm từ đồng nghĩa, phân loại và chỉ ra nguồn gốc của chúng, đồng thời đề xuất cách phân biệt từ đồng nghĩa tiếng Việt hoặc cách xác định từ trung tâm trong một nhóm từ đồng nghĩa, như:

- “Giáo trình Việt ngữ” Đỗ Hữu Châu [1962]; “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” Nguyễn Văn Tu [1968]; “Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa trái nghĩa” Đỗ Hữu Châu [1973]; “Từ và vốn từ trong tiếng Việt hiện đại” Nguyễn Văn Tu [1976]; “Từ điển đồng nghĩa tiếng Việt” Nguyễn Văn Tu [1980]; “Từ vững ngữ nghĩa tiếng Việt” Đỗ Hữu Châu [1981]; “Các nhóm từ đồng nghĩa trong tiếng Việt” Nguyễn Văn Tu [1982]; “Từ điển đồng nghĩa tiếng Việt” Nguyễn Văn Tu [1985]; “Từ vựng học tiếng Việt” Nguyễn Thiện Giáp [1985]; “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu [1990]; “Từ đồng nghĩa tiếng Việt” Nguyễn Đức Tồn [2006]

Trang 10

liệu thành văn, những lí thuyết quan trọng về từ đồng nghĩa của những người đi trước (trong cũng như ngoài nước) để có những cơ sở dữ liệu cần thiết cho đề tài

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh

Về phạm vi khảo sát,chúng tôi chỉ dừng lại so sánh xung quanh những vấn đề liên quan đến danh từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ Trong luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để khảo sát về vấn

đề này nhằm đưa ra những kết luận mang tính thực tiển cao dù đôi chổ trong luận văn này vượt ra khỏi khả năng của chúng tôi.Do đó trong luận văn này không thể tránh khỏi những sai sót nhất định

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Chúng tôi dựa trên những công trình nghiên cứu trước đây liên quan, đến đề tài luận văn từ nhiều nguồn sách, báo, tạp chí, internet, v.v

Trang 11

lí luận về ngữ pháp học - từ vựng tiếng Việt - từ vựng tiếng Anh - ngữ âm học có liên quan đến việc phân tích lí giải về từ trong tiếng Việt và tiếng Anh Sau đó dùng phương pháp đối chiếu so sánh để đưa ra những nhận xét và dựa trên phương pháp từ vựng học để nghiên cứu đơn vị cấu tạo và phương thức cấy tạo cũng như ý nghĩa của danh từ trong ngữ pháp, phương pháp này giúp nhận diện, nhận xét và phân loại danh từ trong ngữ pháp về mặt tư liệu

6 NGUỒN TƯ LIỆU

Chủ yếu chúng tôi tập trung vào nguồn tư liệu thành văn gồm những công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài luận văn từ nguồn sách, báo, tạp chí, internet, các tác phẩm, các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước, tập trung vào cuối thế kỉ 19, đầu thế

kỉ 20 cũng như là các sách nghiên cứu về ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học hiện đại ngày nay ở trong nước như: Diệp Quang Ban, Lê Cận - Phan Thiều, Nguyễn Tài Cẩn, Đỗ Hữu Châu, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Hữu Chương, Nguyễn Đức Dân, Dương Kì Đức, Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hạo, Lý Toàn Thắng, Lê Quang Thiêm…

Trong tiếng Anh chúng tôi khảo sát chủ yếu danh từ được dùng trong từ điển Oxford Advanced Learner ‘ s Dictionary, 2005, Từ điển Anh Việt Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1992, từ điển

Webster New Dictionary of Synonyms, 1984, và một số các văn bản khác sẽ được chúng tôi đề cập mục tài liệu tham khảo……

7.ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN;

Chúng tôi hy vọng luận văn này có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu các nhóm danh

từ đồng nghĩa,qua đó bạn đọc có được dữ liệu để tham khảo các cách sử dụng trong từng ngữ cảnh

Trang 12

giúp cho chính chúng tôi hiểu tường tận hơn về việc sử dụng từ đồng nghiã trong công việc hàng ngày của mình Đây chính là kiến thức rất cần cho những giáo viên dạy tiếng Anh

8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận, luận văn này được bố cục theo ba chương Chương đầu tập trung hoàn toàn về lý thuyết để giới thiệu về danh từ trong tiếng Việt và tiếng Anh cũng như những khái niệm về hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa, hai chương còn lại điều dựa vào lý thuyết và thực tiễn để so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 1: Những tiền đề lý luận

Trong chương này, chúng tôi giành trọn cho việc giới thiệu những quan niệm về danh từ trong tiếng Việt và tiếng Anh, nêu một số những quan niệm về từ đồng nghĩa nói chung và danh từ đồng nghĩa nói riêng

Chương 2: Khái quát về danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh

Ở chương này, chúng tôi nêu ra một số những khái niệm chung về danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh dựa trên những văn bản tài liệu có sẳn trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, song song đó chúng tôi có một số nhận xét khái quát về danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 3: So sánh danh từ đồng nghĩa tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 13

Phần cuối cùng là phần tài liệu tham khảo Trong phần phụ lục, chúng tôi có thu thập và sắp xếp một

số danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 15

Chương1 Những tiền đề lý luận

1.1 - Khái quát về danh từ trong Tiếng Việt

Xuất phát từ những tiêu chuẩn định loại, có thể định nghĩa danh từ là thực từ có ý nghĩa thực

thể Diệp Quang Ban [tr474] được dùng làm tên gọi các “vật” kết hợp được về phía trước với

loại từ - với mạo từ chỉ lượng như những, các về phía sau với các chỉ định từ như này, nọ và

thường làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu Đáng chú ý là danh từ tiếng Việt làm vị tố trong

câu, không cần trợ động từ

Từ loại danh từ là một lớp lớn và đa dạng về ý nghĩa, về khả năng kết hợp, về công dụng thực

tiễn nên thường được phân ra thành những lớp nhỏ theo những tiêu chuẩn khác nhau thích hợp ở từng bước phân loại

Sau đây lả những diện phân chia thường gặp:

Trang 16

- Danh từ đếm được

- Danh từ không đếm được

1.1.1 – Danh từ riêng và danh từ chung:

Sự phân biệt danh từ riêng với danh từ chung căn cứ vào cách gọi tên của chúng

Danh từ riêng là tên gọi cụ thể của từng cá thể, còn danh từ chung là tên gọi của từng lớp sự vật, đồng chất về một phương diện nào đó- đó là cách gọi khái quát cho nhiều vật cụ thể thuộc

cùng 1 lớp đồng chất ( danh từ chung chỉ vật đơn chất rất ít) Đó chính là tính chất trừu tượng

từ vựng của danh từ chung Đặc điểm định danh cá biệt sự vật tạo cho danh từ riêng những nét đặc thù về nghĩa

Về nghĩa, danh từ riêng không mang nghĩa, chúng là tên gọi của từng người, tên miền đất (địa danh), tên sách báo, tên thời đại, tên gọi những tổ chức cụ thể…về nguyên tắc đây là mối quan

hệ một - một giữa tên gọi và vật được gọi tên, do đó yêu cầu của việc đặt tên riêng là phân biệt được từng vật cụ thể Kiểu quan hệ trực tiếp giữa vật được gọi tên đơn nhất với tên gọi nó như

vậy được gọi là tự qui chiếu ( auto-reference) Trong sự phân tích nghỉa của câu, danh từ riêng thuộc về kiểu nghĩa kinh nghiệm

Danh từ riêng có loại thuần Việt và Hán Việt, có loại phiên từ tiếng nước ngoài Xu hướng chung của việc đọc tên riêng nước ngoài hiện nay là có phận biệt tên bằng tiếng Trung Quốc với tên không phải bằng tiếng Trung Quốc Tên riêng tiếng Trung Quốc được đọc theo âm Hán

Việt chứ không đọc theo âm Bắc Kinh; tên riêng các ngôn ngữ khác được phiên trực tiếp bằng tiếng gốc, không thông qua tiếng Hán như ở giai đoạn trước Chẳng hạn có thể so sánh: tên thủ

đô của nước Pháp trước kia đọc theo âm Hán Việt của cách phiên âm qua tiếng Trung Quốc là

Ba Lê nay phiên âm trực tiếp từ tiếng Pháp là Pa-ri (Paris); thủ đô nước Nga trước kia phiên

âm Hán Việt qua tiếng Trung Quốc là Mạc Tư Khoa nay phiên âm trực tiếp từ tiếng Nga là

Trang 17

Mát xcơ va (Mockva), chuyển tự la tinh hoá là Moskva Cũng vậy, tên riêng của một triết gia

mà nay phiên âm trực tiếp là Mác (Marx) đã từng được phiên qua tiếng Trung Quốc và đọc theo âm Hán Việt là Mã Khắc Tư Đáng bàn là những trường hợp âm đọc của một số con chữ

và tổ hợp con chữ ở tiếng gốc khác với ở tiếng Việt hoặc không có trong tiếng Việt, chẳng hạn:

Chữ viết ở Tiếng

gốc

Cách đọc ở tiếng gốc

Chuyển tự ra Tiếng Việt

Phiên âm ra Tiếng Việt

New York [niudooc] Niu-óoc [nuiooc]

Mockva [maxkva] Mat-xcơ-va [mat-cơ-va]

[Diệp Quang Ban, 2003, tr 476]

Nếu trung thành với bảng chữ cái tiếng Việt thì tất nhiên có không ít con chữ của các tiếng gốc

không phiên chuyển được (như chữ W trong New York ở trên) Do đó đã từng có đề nghị viết nguyên dạng tên riêng của các ngôn ngữ chử cái la tinh và phiên chuyển từ tên riêng các ngôn

ngữ không dung hộ chữ cái này sang bộ chữ cái la tinh theo qui ước quốc tế

Tuy nhiên mong muốn tôn trọng “nguyên chữ” này vấp phải khó khăn ngay cả với những

người có trình độ học vấn cao và khó khăn cả trong việc đọc lẫn trong việc viết tên riêng, bời vì không dễ viết lại những tên đã được 1 ngoại ngữ khác phiên chuyển chẳng hạn như tên thủ đô Nga Mockva đọc như trong bảng đối chiếu trên, được chuyển sang tiếng Anh thành Moscow

hay tiếng Pháp thành Moscou, người không biết tiếng Nga không thể chuyển thành La tinh hoá

từ tiếng Nga thành Moskva được

Đó là những lí do dễ thấy nhất khiến cho chủ truơng chuyển tự không đứng vững được và tạo

ưu thế cho quan điểm phiên âm, mặc dù quan điểm phiên âm cũng chất chứa những khó khăn

riêng của nó (nhưng sự vắng mặt trong Tiếng Việt một số âm hay một số cách kết hợp âm của

Trang 18

tiếng gốc làm cho những tên riêng bị đọc chệch đi quá xa hoặc có nguy cơ đồng âm những tên riêng vốn khác nhau rõ ràng ở ngôn ngữ gốc.)

Trong việc phiên tiếng nước ngoài, tiếng Việt có 1 biệt nhãn đối với tiếng Trung Quốc Tên riêng Trung Quốc được đọc theo chữ viết và được đọc bằng âm Hán Việt chứ không đọc theo

âm của tiếng Trung Quốc ngày nay

Chẳng hạn như: Trung Quốc - Bắc Kinh – Lý Bạch Cách viết tên riêng có xu thế trở thành

phổ biến hiện nay do sự giản tiện về chính tả của nó Đó là cách viết tên riêng bằng con chữ Hoa đứng đầu mỗi tiếng rời khi viết ( tức là những tiếng không dính liền với tiếng khác bằng dấu ngang nối Dấu ngang nối chỉ dùng cho tên họ nước ngoài chứa nhiều âm tiết khi chuyển sang

tiếng Việt

Ví dụ: Nguyễn Bỉnh Khiêm – Các Mác - Việt Nam – Lào – Campuchia (Cam-pu-chia)

Tuy nhiên không nên nêu việc viết hoa, tên họ tiếng nước ngoài thành nguyên tắc tuyệt đối và

bỏ dấu ngang nối ở những tên gồm nhiều âm tiết, vì có những tiếng đệm vốn không được viết hoa trong nguyên chữ như từ “de” của tiếng Pháp, từ “von” của tiếng Đức về việc kết hợp với

từ khác thì danh từ riêng không có khả năng kết hợp với từ chỉ lượng nói chung chỉ xảy ra khi

có một số danh từ riêng trùng nhau hoặc khi danh từ riêng được dùng theo phép chuyển nghĩa

để chỉ những câu tương tự, hoặc khi gặp nhiều danh từ riêng gộp lại thành khối riêng chẳng hạn: những Điện Biên Phủ, (để chỉ những chiến dịch lớn và thắng lợi như chiến dịch Điện Biên

Phủ); những Bạch Đằng, Đống Đa, Chi Lăng…

Danh từ riêng tên người thuờng đi sau danh từ chỉ chức vụ đồng vị tố hoặc đi sau loại từ hoặc

đi sau cả loại từ và danh từ chỉ chức vụ

Ví dụ : Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Hồ Chí Minh, cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh ( từ chỉ chức vụ và loại từ có thể viết hoa để tỏ sự kính trọng)

Trang 19

Danh từ chung là mảng từ lớn và đa dạng cần được xem xét ở một số diện khác nhau và ít nhiều có liên quan với nhau

1.1.2 - Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp:

Trong lớp lớn danh từ chung, việc tách ra lớp nhỏ danh từ tổng hợp là cấn thiết, không chỉ do ý

nghĩa mà còn bởi đặc điểm ngữ pháp của bản than lớp con này Những danh từ chung không mang các đặc điểm ý nghiã và ngữ pháp của danh từ tổng hợp làm thành lớp còn lại đối lập với

nó và được gọi là danh từ không tổng hợp Danh từ tổng hợp bắt nguồn từ ý nghĩa ngữ pháp chung của lớp con này – ý nghĩa “tổng hợp” Danh từ tổng hợp chỉ gộp chung nhiều sự vật đồng chất xét ở một phương diện nào đó và trong khối chung này đường ranh giới của các vật rời

thường được xoá nhoà, bị nhoè đi Còn danh từ không tổng hợp chỉ cả lớp sự vật đồng chất xét

ở một phương diện nào đó hoặc thông qua từng cá thể sự vật như là đại diện cho cả lớp, ở đây mỗi vật rời vẫn giữ nguyên đường ranh giới của mình như một dấu hiệu hiển nhiên hoặc tiềm

Hiện tượng đường ranh giới giữa các vật rời bị nhoè đi ở danh từ tổng hợp

giải thích khả năng dùng một danh từ tổng hợp gồm 2 tiếng chỉ vật khác nhau

Trang 20

để chỉ một số vật ừng với chỉ một tiếng trong nó thậm chí không ứng vớiý nghĩa của tiếng nào cả Chẳng hạn như từ quần áo có thể chỉ cả từ quần lẫn

áo, có thể chỉ một mớ toàn “quần” hoặc toàn “áo”, cũng có thể chỉ một mớ đồ

vải nào đó không được coi là áo

Hiện tượng này cũng giải thích tại sao danh từ tổng hợp không thể trực tiếp

đứng sau các số từ số đếm chính xác

Về mặt cấu tạo nghĩa, có thể chia danh từ tổng hợp thành các loại nhỏ

(*) loại gộp nghĩa: áo quần - báo chí - ruộng vườn

(**) loại lặp nghĩa: binh lính - cấp bậc – núi non

(***) loại đơn nghĩa: xe cộ - đường sá - vườn tược

Có thể kể vào đây kiểu từ láy mang ý nghĩa tổng hợp như mùa màng, máy móc

Xét ở phương diện ngữ pháp, danh từ tổng hợp cũng có nét riêng Trước hết tuyệt đại đa số danh từ tổng hợp là từ 2 tiếng (ít khi gồm 3 tiếng như: anh chị

em, hoặc bốn tiếng do 2 từ 2 tiếng ghép lại như: bà con cô bác, hàng xóm láng giềng)

Tiếp theo là danh từ tổng hợp không đứng trực tiếp sau từ số đếm chính xác, phải thông qua sự trung gian của danh từ đơn vị hoặc danh từ tập thể dùng làm đơn vị, ví dụ:

Không nói

- Hai thuốc men

- Hai quần áo

Có thể nói

- Hai tấn thuốc men

- Hai bộ quấn áo

Trang 21

Cả sau từ tổng hợp lẫn danh từ không tổng hợp có thể được xem xét ở các phưong diện sau đây

1.1.3 – Danh từ vật thể, danh từ chất thể, danh từ trừu tượng, danh từ tập thể

danh từ chỉ hiện tượng thời tiết:

Ý nghĩa chung của từ loại danh từ là ý nghĩa thực thể tức là ý nghĩa sự vật hiểu rộng như là sự vật làm đối tượng của tư duy Xét theo các biểu ý nghĩa

cụ thể hơn do danh từ diễn đạt và khả năng kết hợp với loại từ như dấu hiệu hình thức có thể chia từ loại danh từ ra thành 4 lớp nhỏ hơn (không kể loại từ

- hay danh từ chỉ loại)

a) Danh từ chỉ vật thể:

lớp danh từ chỉ vật thể gồm 4 lớp con

(*) Danh từ chỉ đồ vật: áo, chợ, nhà

(*) Danh từ chỉ thực vật: cỏ, lúa, cúc, mít

(*) Danh từ chỉ động vật: cá, chim, chó, mèo

(*) Danh từ chỉ người: học sinh, công nhân, thầy thuốc, thợ …

Các từ trong bốn nhóm con danh từ vật thể này có thể xuất hiện sau các loại

từ chuyên dụng cái, cây, con, người tương ứng với từng nhóm

b) Danh từ chất thể:

Danh từ chất thể chỉ các chất thuộc cả 3 thể là thể rắn, thể lỏng và thể khí như: đá, đường, sắt, dầu, mật, nước, hơi, khí, khói …

Dan từ thuộc các chất thể khác nhau có những kiểu kết hợp khác nhau với loại từ đứng trước Danh từ chỉ vật thuộc thể rắn có thể xuất hiện sau các loại

Trang 22

từ củ, cục, tỏi, viên … Danh từ chỉ vật thuộc thể lỏng có thể xuất hện sau các

loại từ vốn là danh từ chuyển nghĩa chỉ đơn vị đo lường dân gian như: hai chai nước, hai chén nước hoặc động từ chuyển nghĩa làm đơn vị đo lường dân

gian như: hai vốc nước, hai ngụm nước hoặc các danh từ đơn vị trừu tượng bác học như: hai lít nước Danh từ chỉ vật thuộc thể khí có thể xuất hiện sau

loại từ “cột, làn, luồng” như trong: cột khói, làn hơi, luồng không khí

c) Danh từ trừu tượng:

Danh từ trừu tượng gồm các danh từ chỉ vật thể tưởng tượng như: thánh, thần, ma, quỷ … và các danh từ chỉ các khái niệm trừu tượng như: tật, thói,

tính, lí luận, trí tuệ … Ngoài ra, các danh từ đơn vị khoa học như: lít, mét, độ

… Về thực chất cũng là những khái niệm trừu tượng chuyên dụng có căn cứ khoa học

Danh từ chỉ các vật thể tưởng tượng có thể đứng sau các loại từ tương ứng

thích hợp nhu trong: vị thần, ông thánh, con ma

Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng không cần có loại từ đứng trước, nếu cần thì có thể dùng tiếng các loại từ hoặc các danh từ có nội dung chỉ loại như:

thứ, loại … như trong cái ý tưởng ấy, thứ lí luận ấy

d) Danh từ tập thể:

Danh từ tập thể là danh từ chỉ các vật khác nhau về loại cụ thể nhưng thường

đi kèm với nhau thành một tập hợp hoàn chỉnh và mỗi tập hợp này làm thành một đơn vị rời đếm được, mặc dù đây không phải là những danh từ cá thể

như: bầy, bọn, đám, lủ, mớ … do đó danh từ tập thể cũng được dùng làm

danh từ đơn vị, kiểu đơn vị tự nhiên quy ước tính chất đếm được (khả năng

Trang 23

trực tiếp đứng sau số từ chính xác) là nét phân biệt danh từ tập thể với danh

từ tổng hợp (không chỉ với danh từ chung) là nét phân biệt tập thể với danh

từ ghép chính phụ (bộ bàn ghế, bộ yên cương, bầy gia súc)

e) Danh từ chỉ hiện tượng thời tiết:

Danh từ chỉ hiện tượng thời tiết là một nhóm khá ít ỏi Tuy nhiên, chúng có một đặc điểm ngữ pháp khác biệt là kết hợp với một số loại từ riêng và có

những trường hợp dùng khó phân biệt tư cách danh từ với tư cách động từ

Đó là các từ như: bão, chớp, lũ, lụt, gió mưa, sấm sét

Khả năng kết hợp của các danh từ này với loại từ thường gặp như sau:

- Ánh đi với chớp

- Cơn đi với bão, gió, mưa

- Làn đi với gió

- Tiếng đi với sấm, sét

- Trận đi với bão, lũ, lụt, gió, mưa

1.1.4 – Danh từ đơn vị:

Trong số các danh từ vật thể có thể tách ra những từsẵn chứa trong mình ý

nghĩa “đơn vị rời” có thể đo đếm được, chúng có thể tập hợp lại dưới các tên chung là danh từ đơn vị Đặc điểm chung của danh từ đơn vị là dễ dàng đứng trực tiếp sau số từ chính xác (một số danh từ tập thể cũng có được những đặc

điểm này)

Danh từ đơn vị đích thực gồm hai nhóm danh từ đơn vị quy ước sau đây:

Trang 24

a) Danh từ đơn vị khoa học, là những khái niệm trừu tượng chỉ đơn vị

đo lường do các nhà khoa học nghiên cứu và quy ước đặt ra như: mét, mét vuông, sào, mẫu, hecta, mét khối, lít, gam, kilôgam, volt,

watt, ampere, atmosphere, v.v

b) Danh từ đơn vị dân gian là tên gọi các vật chứa hay các hành động

tạo lượng do nhân dân quy ước lấy làm đơn vị theo phép chuyển

nghĩa như: thùng (thóc), bát (phở), thìa (đường), mâm (cổ), toa

(thuốc men), tàu (lương thực), ngụm (nước), hớp (nước), bó (rạ), gánh (đất), sãi (dây),xâu (cá) Các danh từ là tên gọi vật chứa đựng

được dùng làm danh từ đơn vị sẽ mất đi khả năng kết hợp với loại

từ cái xuất hiện thì đó là cái đặc chỉ như trong: cái bát cháo trước

ngon hơn cái bát cháo này (chẳng hạn hai lần múc cháo vào từ hai nồi cháo khác nhau)

Ngoài ra, loại từ, danh từ tập thể cũng mang tính chất của đơn vị rời và thuộc

vào kiểu đơn vị rời tự nhiên, nhưng chúng không phải là danh từ đơn vị đích thực Loại từ có chức năng chủ yếu là quy loại khái quát do danh từ chỉ vật đứng sau nó và kiêm chức năng chỉ đơn vị rời khi cần thiết như: cái cây, con

người , kể rộng ra còn có: cục, hòn, viên, tấm, bức, sợi, quyển, pho, cơn, trận,

v.v về các danh từ tập thể

1.1.5 - Danh từ đếm được và danh từ không đếm được

1.1.5.1 – Danh từ đếm được / Danh từ không đếm được / Danh từ đếm / Danh

từ khối

Trang 25

Ngữ pháp học truyền thống khi bàn đến danh từ có nêu hai thuật ngữ danh

từ đếm được và danh từ không đếm được Danh từ đếm được dựa trên cơ sở phạm trù nghĩa về tính gián đoạn (discrete – tính đơn vị rời, tính cá thể hoá)

Danh từ không đếm được có cơ sở ở phạm trù nghĩa về tính liên tục (continuous) Hai phạm trù này được hiện thực hoá trong diễn ngôn bằng hai

thuật ngữ danh từ đếm (count – noun) và danh từ khối (mass – noun) Hai đôi thuật ngữ thuộc về hai cách xem xét khác nhau với hai góc độ khác nhau

Danh từ đếm được và danh từ không đếm được, được xem xét bên trong hệ thống ngôn ngữ và trên cơ sở khả năng tiếp nhận việc đếm (do tính gián đoạn

của vật thể), theo đó các danh từ chỉ chất thể như thép, nước, khí được xếp

vào lớp danh từ không đếm được Các danh từ chỉ vật thể như tre,mèo, thợ…

trong ngôn ngữ Âu châu được xếp vào lớp danh từ đếm được Thế nhưng

trong tiếng Việt các từ chỉ vật thể vừa nêu không thể đứng sau các số từ chính

xác hay những từ ngữ pháp tính chỉ số như: những, các, một, mỗi, từng được

Với các danh từ chỉ vật thể vừa nêu khi cần đếm thường phải có loại từ đi kèm Ví dụ: hai cây tre

Danh từ đếm và danh từ khối được xem xét trong văn bản ( diễn ngôn) và có

cơ sở ở cách sử dụng cụ thể Ngôn ngữ học hiện đại quan tâm nhiều hơn đến

ngôn ngữ sử dụng và người ta nhận ra rằng sự đếm được hay không đếm được chỉ là khả năng tiềm tại của danh từ còn trong từng trường hợp sử dụng danh từ được dùng để đếm hay được dùng theo khối (không đếm) lại là

Trang 26

chuyện khác, có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai đôi thuật ngữ này qua việc phân tích một số cách dùng danh từ sau đây

Xét trong tiếng Việt danh từ “thép” và “mèo” đều là danh từ không đếm

được, nhưng chúng không phải bao giờ cũng là danh từ khối Thực tế dùng tiếng Việt cho thấy rằng có những trường hợp danh từ không đếm được vẫn

có thể dùng như danh từ đếm được tức là như danh từ đếm , ví dụ như mèo:

trong nhà ông ấy nuôi hai mèo hay kim trong đồng hồ này ba kim

Từ bò, gà trong “thịt bò”, phân biệt với “thịt gà” là danh từ khối nhưng bò trong “thịt con bò này” thì không phải là danh từ khối, còn mèo trong “mèo

nhà ai kia nhỉ” không thể là danh từ khối, nó không được dùng như tên gọi đại diện cho loài mèo mà vẫn là tên gọi của một hoặc những con mèo cụ thể Điều này có thể chứng minh bằng cách nói khác: nếu trên thực tế chỉ có một

con mèo thì sẽ dùng con mèo, nếu có nhiều hơn sẽ dùng hai con mèo hoặc mấy con mèo vào vị trí từ mèo trong câu trên

Không thể hiểu mèo ở đây là “loài mèo” như là danh từ khối được, chính danh từ dùng ở phạm trù “số chung” không có từ chỉ loại đứng trước là một

trong những cách dùng để đếm, nhưng không chỉ ra số đếm vì vậy nó vẫn thuộc phạm trù “số của danh từ” và thuộc về danh từ đếm Còn thép trong

“thép nhà ai để kia nhỉ?” là danh từ không đếm được và nó cũng là danh từ

khối

Tóm lại danh từ đếm được / không đếm được và danh từ đếm / danh từ khối

thuộc những phạm vi xem xét khác nhau, chúng không thể thay thế cho nhau, đôi gọi tên thứ nhất xét khả năng của danh từ trong hệ thống tĩnh tại Đôi gọi

Trang 27

tên thứ hai xét danh từ trong sử dụng tức là trong văn bản (diễn ngôn) và như trên kia đã dẫn danh từ không đếm được trong sử dụng vẫn có thể dùng như danh từ đếm được với cách khác thoát ra khỏi hệ thống để đi vào sử

dụng các phạm trù tĩnh tại để trở thành không tương thích hoàn toàn Điều này nói lên ưu thế của việc xem xét ngôn ngữ trong sử dụng về mặt khả năng

giải thích các hiện tượng cụ thể nhưng nó không thay thế được cho việc nắm

hệ thống ngôn ngữ một cách ổn định nhất là trong việc học ngoại ngữ ở giai đoạn đầu

1.1.5.2 – Danh từ không đếm được

Các danh từ không đếm được gồm 3 lớp con sau

a) Danh từ không đếm được là danh từ chất thể như muối, dầu, hơi,…

không có khả năng trực tiếp đứng sau số từ chính xác Chúng chỉ có thể đo, đếm được thông qua các loại đơn vị thích hợp biểu thị bằng

danh từ đơn vị qui ước (khoa học hay dân gian) và một số loại từ thích hợp

Ví dụ: - hai tấn sắt, hai xe sắt, hai đống sắt

- hai lít dầu, hai thùng dầu

- hai bình oxi, hai cột khói

b) Danh từ không đếm được là danh từ tổng hợp Các danh từ tổng hợp như: áo quần, binh lính, xe cộ, máy móc, … không có khả năng trực tiếp

đứng sau số từ chính xác, chúng chỉ có thể đo, đếm được thông qua các danh

từ đơn vị qui ước (khoa học và dân gian), một số danh từ tập thể thích hợp

dùng làm danh từ đơn vị

Trang 28

Ví dụ: - hai bộ quần áo, hai tấn quần áo

c) Danh từ không đếm được có điều kiện- các danh từ chỉ vật thể thuộc

nhóm thực vật (tre, mít), động vật (bò, mèo), thường dung như danh từ không

đếm được Chúng chỉ được dùng như danh từ đếm được trong những trường hợp nhất định

1.1.5.3 – Danh từ đếm được

Danh từ đếm được là những danh từ có khả năng xuất hiện trực tiếp sau số

từ chính xác Trong tiếng Việt lớp con danh từ đếm được có thể và cần chia thành hai nhóm: danh từ đếm được tuyệt đối và danh từ đếm được không tuyệt đối ( không kể loại từ được phân biệt với danh từ và loại từ bao giờ cũng có thể xuất hiện sau số từ chính xác

a) Danh từ đếm được tuyệt đối: danh từ đếm được tuyệt đối là danh từ

dễ dàng xuất hiện trực tiếp sau số từ chính xác Danh từ đếm được tuyệt đối là một số danh từ nằm trong số danh từ tập thể và những

danh từ chỉ khái niệm trừu tượng nằm trong lớp danh từ lượng thể Xét về ý nghĩa có thể thấy nhóm danh từ đếm được tuyệt đối gồm 8 nhóm con chính xác sau đây:

- Danh từ đơn vị đại lượng qui ước khoa học như mét, mét vuông, mẫu,

sào, lít

- Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức xã hội và đơn vị nghề nghiệp

như: nước, tỉnh, x ã, ban, hệ, tổ, đoàn, đội, ngành, nghề, môn

- Danh từ chỉ không gian như: chỗ, nơi, chốn, xứ, miền, khoảnh, miếng,

vùng, phía, bên, hướng, phương

Trang 29

- Danh từ chỉ đơn vị thời gian như: dạo, khi, hồi, lúc, chốc, giây, phút,

giờ, buổi, ngày, tháng, vụ mùa, năm

- Danh từ chỉ lần của sự việc như: lần, lượt, phen, chuyến, trận, đợt

- Danh từ chỉ màu sắc, mùi vị, âm thanh như: màu sắc, mùi vị, tiếng,

giọng

- Danh từ chỉ chức vị như: nhà văn, nghệ sĩ, giám đốc, chủ tịch, học trò,

kĩ sư, bác sĩ

- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng như: tính, thói, tật, nết, tài năng, trí

tuệ, lí lẽ và các khái niệm về các loại đơn vị trong khoa học nguyên tử,

phân tử tế bào

b) Danh từ đếm được không tuyệt đối:

là những danh từ vốn không đếm được nhưng trong một số trường hợp sử dụng khá quen thuộc, chúng có thể xuất hiện trực tiếp sau số

từ chính xác, không cần sự trung gian của loại từ

Sau đây là những trường hợp chúng được dùng sau số từ chính xác:

- Sử dụng trong chuỗi liệt kê chẳng hạn: làng này có năm ao, ba

giếng, nhà ấy có hai xe đạp…

- Sử dụng ở chức vụ ngữ pháp yếu tố phân loại (yếu tố mở rộng sau

của danh từ) như: mì hai tôm, đồng hồ ba kim, bàn bốn chân

Tóm lại khi nói về danh từ không thể không lưu ý một hiện tượng rất riêng của tiếng Việt:

Trang 30

Đó là trong tiếng Việt không có danh từ chỉ tính chất màu sắc, mùi vị và không có danh từ chỉ hành động Để lấp khoảng trống đó, tiếng Việt có thể

sử dụng một trong hai cách sau đây:

(*) Dùng những danh từ có khả năng tạo ra ý nghĩa tính chất hoặc ý nghĩa

hành động tương ứng như cái đẹp, cái n õn nường, tính vui, tính buồn, tính nóng nảy, sự nóng nảy, tính hiền lành, sự hiền lành, tính chất ôn hoà, tính chất phiêu lưu, điềm lành, điềm dữ, điềm xấu, niềm vui, nỗi khổ, màu đỏ, màu xanh da trời, vị đắng, vị cay, vị ngọt, sự giận dữ, việc

đi lại, việc chạy đua, những tiếng như: cái, nổi, niềm, sự, việc, cuộc… được thừa nhận rộng rãi như là những loại từ do ý nghĩa khá mơ hồ

của chúng

Còn những tiếng như: tính, tính chất, điều, điềm, màu,vị thường được

coi là danh từ, một vài từ trong số đó cũng được một số nhà nghiên cứu gọi là loại từ, cách dùng như trên thường được gọi là biện pháp “danh

1.2 – Khái quát về danh từ trong Tiếng Anh

Danh từ là một từ dùng để chỉ tên của mọi vật như bút chì, Luân Đôn (thủ đô nước Anh), Robert … mọi vật đều có tên và danh từ là tên của mọi vật

Trang 31

Một danh từ có thể là tên của:

a) Một người như John, Marry, Brown………

b) Một loài vật (con vật)như:chó, mèo,ngựa ,bò dê

c) Một loài chim như:con chim sẻ, con vịt ,con ngỗng, con gà trống, con gà mái…

d) một nơi chốn, một thị trấn, 1 thành phố, 1 đất nước như Luân

Đôn-Singapro, Malaysia, Japan, Asia, Europe

e) Một vật mà ta có thể trông thấy được như cây bút chì, cây bút mực , cái

cây, những bông hoa;dòng sông , quyển sách , cái ghế bức tranh

f) Một việc, một điều mà ta không thể thấy được nhưng ta có thể cảm nhận

được hay nghĩ tới được như hạnh phúc, sự giận dữ, niềm đau, cái tốt , điều tốt lành , tình yêu

g) Môt ý tưởng hay một sự suy nghĩ: tự do , bình đẳng, dân chủ , chủ nghĩa

tư bản ; chế độ quân chủ-chính tại thần quỳên……

1.2.1 Các loại danh từ trong tiếng Anh

Có 4 loại danh từ trong tiếng Anh

1.2.1.1 –Danh từ chung (common nouns)

1.2.1.2-Danh từ riêng (proper nouns)

1.2.1.3- Danh từ trừu tượng (abs tract nouns)

1.2.1.4-Danh từ tập hợp(collective nouns)

1.2.1.1- Danh từ chung (common nouns)

Trang 32

Danh từ chung là mà được dùng để chỉ tất cả các thứ, các vật, cùng loại hoặc hoặc cùng một giai cấp, một tầng lớp giống nhau

Thí du như từ “boy” dung để gọi bất kì hay tất cả các cậu con trai như đối với William, Samirc, Robert…… nó không phụ thuôc vào 1 cậu con trai nào đặt biệt cả Nó là tên chỉ chung đối với tất cả các cậu con trai Nó cũng

không phải là tên riêng của một câu con trai nào cả mà chúng ta đang nói đến, Từ “boy” do đó được gọi là danh từ chung Một số ví dụ khác của danh

từ chung như child, teacher, man, woman, town, school, house, pen ,girl, river, city, college, cuiverrity, will, sea…

1.2.1.2- Danh từ riêng (proper nouns)

Danh từ riêng là tên của một người hay của một thứ /1 vật cụ thể nào

đó Chẳng hạn như “Robert is a boy ’s ‘own specical name” Robert là tên riêng của một cậu con trai Từ Robert không phụ thuộc vào tất cả các cậu

trai Danh từ riêng là tên riêng của một con người nào đó, do đó tên

“Robert” được gọi là danh từ riêng

Cũng một cách lí giải như thế tên thành phố là một danh từ chung nhưng tên “Kuala Lumpur” là tên đặc biệt / riêng của một thành phố thì được gọi là danh từ riêng

Đến đây để cho rõ nghĩa hơn ta khảo sát một số danh từ chung và danh từ

Trang 33

1.2.1.3– Danh từ trừu tượng (Abstract Nouns)

Danh từ trừu tượng là tên của một phẩm chất, một hành động, một điều kiện, của cái gì đó mà ta không thể thấy hay chạm vào được Nó là tên

của một điều gì đó mà chúng ta có thể nghĩ đến hoặc cảm nhận mà thôi Ví dụ như: cái được gọi là âm nhạc là một thứ gì đó, một điều gí đó mà chúng ta không thể thấy hoặc chạm vào hay sờ nó được, đó chỉ là một thứ mà ta chỉ có

thể nghĩ đếnhoặc cảm nhận nó thôi Do đó từ âm nhạc được gọi là danh từ trừu tượng

Có một số danh từ trừu tượng khác như tình yêu (love), lòng tốt (kidness), sự trung thực (honesty), niềm hi vọng (hope), bóng tối (darkness),

Trang 34

Dựa vào bảng từ trên ta thấy một danh từ trừu tượng có thể được thành lập đôi khi từ một tính từ, đôi khi từ một danh từ chung, đôi khi từ một động từ

- wise - wisdom - broad - breath

- poor - poverty - true - truth

- young - youth

b) Từ một danh từ chung ( from common nouns)

Common Noun Abstract Noun Common Noun Abstract Noun

- man - manhood - father - fatherhood

- child - childhodd - rascal - rascality

- friend - friendship - slave - slavery

- gero - heroism - infant - infancy

c) Từ một động từ (from a verb)

Verb Abstract Noun Verb Abstract Noun

- live - life - relieve - relief

Trang 35

- advise - advice - defend - defence

- hate - hatred - conceal - concealment

Ngoài ra trong tiếng Anh, tất cả các danh động từ mà tận cùng bằng “ING” đều là danh từ trừu tượng

Ví dụ: “ The reading of books is good for your mind ”

 Việc đọc sách thì tốt cho tâm trí của bạn

d) Có một số danh từ trừu tượng có hình thức giống như là động từ

Ta hãy khảo sát một số động từ và danh từ trừu tượng sau:

Verb Abstract Noun Verb Abstract Noun

(động từ) (danh từ trừu tượng) (động từ) (danh từ trừu tượng)

- cry - cry - laugh - laugh

- stay - stay - taste - taste

- study - study - touch - touch

- love - love - sob - sob

- run - run - fear - fear

Chúng ta hãy xem bảng bên dưới

Danh từ chung Danh từ riêng Danh từ trừu tượng

(common noun) (proper noun) (abstract noun)

- boy - Jonh - boyhood

- girl - Mary - girlhood

- man - Mr.Thomson - manhood

Trang 36

1.2.1.4 – Danh từ tập hợp (collective noun)

Danh từ tập hợp là tên của một số hay sư tập của một người - hoặc một điều gì /một thứ gì/ một

cái gì được mang lại / tập hợp lại cùng với nhau như một thứ gì/ mõt cái gì/ một điều gì như gia đình, đám đông, đội nhóm, lớp học, quân đội …

Danh từ tập hợp trong tiếng Anh được thành lập từ định nghĩa trên và chia làm các loại sau:

a) Được thành lập từ một nhóm hay một tập thể người như: (Agroup or collection of people)

- family = having the same parents

- band = a group of musician

- class = a group of scholar

b) Được thành lập từ một nhóm hay một tập thể loài vật (a group or collection of animals)

- herd = a group of cattle

- litter = a group of newly born puppies

- pack = a group of wolves; dogs

-

c) Được thành lập từ một nhóm, một tập hợp các loài

- brood (lứa, ổ) = a group of chicken

- gagle (đàn, bầy) = a group of geese

- flight (đàn, bầy) = a group of bird

d) Được thành lập từ tập hợp các loài cá (collection of fish)

Trang 37

- school (đàn cá) = a group of whales

e) được thành lập từ một tập hợp các loài côn trùng

- hive (tổ ong) = a group of bees (living together)

- swarm (đàn, bầy) = a group of bees, insects ants

f) Được thành lập từ một tập hợp các loại trái cây (a collection of fruits)

- bunck (chùm bó cụm) = a collection of grapes / bananas

- cluster ( chum bó cụm) = a collection of grapes / bananas

- comb (chum, nải) = a collection of bananas

- crate (thùng chứa) = a crate of fruits

g) Được thành lập từ một tập hợp các đồ vật (a collection of things)

- fleet (đội) = a collection of motor - cars - ships

- flight (chuyến bay) = a collection of aeroplane steps

- sheaf (bó) = a collection of arrows / corn

1.3 - Giống của danh từ trong tiếng Anh

Một đứa con trai hoặc một người đàn ông là giống (male) đực, một cô gái hay 1 người phụ nữ là

(female) giống cái - Từ “giống” bảo cho chúng ta biết xem một người , một con vật … là giống đực hay giống cái- Nó chỉ ra giới tính (sex) của 1 người hoặc 1 con vật

Danh từ trong tiếng Anh có 4 giống

1.3.1 - Giống đực (the masculine gender) được sử dụng cho tất cả các con đực/ giống đực như

boy (con trai), man (đàn ông), brother (anh/em trai), uncle (chú,bác)

1.3.2 - Giống cái ( the feminine gender) được dung cho tất cả các con cái (giống cái) như girl

(con gái), mother (mẹ), woman (phụ nữ), sister (chị em gái), aunt (dì, thiếm, cô)

Trang 38

1.3.3 - Giống trung tính (the common gender) dung để chỉ các danh từ có thể vừa là giống đực

vừa là giống cái như con người (person), child (con cái), friend (bạn), student (sinh viên, học

sinh)

1.3.4 - Giống vô tính (the neuter gender) dung để chỉ những thứ không thuộc về giống nào cả và

cũng không có cuộc sống cũng như khọng có giới tính như box (cái hộp), book ( quyển sách),

table (cái bàn), chair (cái ghế), pencil (viết chì)

Bây giờ chúng ta hãy xem qua bảng bên dưới

a) Danh từ chỉ người theo giống (nouns naming people)

Masculine Feminine Masculine Feminice

- boy - girl - hunter - huntress

- man - woman - actor - actress

- brother - sister - master - misstress

- father - mother (ông chủ) (bà chủ)

- son - daughter - emperor - empress

- uncle - aunt (hoàng đế) (nữ hoàng)

- nephew - niece - god - godless

- hero - heroin(nữ anh hùng) (thượng đế) (nữ thần)

- lord - lady - sir - madam

- bachelor - maid - gentlemeat - dady

(người chưa vợ) (phụ nữ chưa chồng) - king - queen

b) Danh từ chỉ các loài vật và loài chim theo giống

Trang 39

- tiger (cọp) - tigeress (cọp cái) - fox (cáo đực) - vixen (cáo cái)

- bull (bò rừng) - cow (bò cái) - peacock (công đực) - peahen

- cock (chim trống) - hen (gà mái) - he-goat (dê đực) - she- goat

- dog (chó) - duck (vịt mái) - bull-calf (bò đực con) - cow calf(bò cái)

- drake (vịt đực) - bitch (chó cái) - buck deer (nai đực) - hind (nai cái)

- boar (lợn đực) - sow (lợn cái)

c) Giống trung tính (common gender)

(*) people (người): friend, child, baby, neighbour, adult, person, student, pupil, musician (nhạc sĩ), clerk (người thư kí), guest (người khách), artist (hoạ sĩ), traveler (khách du lịch), companion (bạn), relation (bà con), scholar (học giả - nhà nghiên cứu), tourist (khách du lịch)

(*) các loài vật (creatures): bird (chim), deer (nai), frog (cóc nhái), kitten (mèo con), cat (mèo),

fish (cá), fly (ruồi), butterfly (bướm), bee (ong), caterpillar (con sâu), caterpillar (con sâu), moth (bướm đêm), shark (cá mập), tadpole (nòng nọc), wasp (ong bắp cày)

1.3.5 – Danh từ số nhiều, số ít (plural nouns, singular nouns)

Singular number: số ít

Plural number: số nhiều

1.3.6 – Danh từ số ít là danh từ chỉ một người, một con vật, một vật, một nơi, một thứ như: một

đứa con trai, một quyển sách, một con chó, một cây viết (a baby, a book, a dog, a pen)

1.3.7 – Danh từ số nhiều trong tiếng Anh là danh từ chỉ hơn một người, vật, thứ, nơi chốn như:

các cậu trai, nhiều quyển sách, nhiều con chó, nhiều cây viết (boys, books, dogs, pens)

1.3.8 – Trong tiếng Anh ta không được dùng từ “a” (một) trong số nhiều (In English we do not

use “a” in the plural number)

Trang 40

1.3.9 – Danh từ số nhiều trong tiếng Anh được thành lập như sau:

1.3.9.1 - Bằng cách them “s” ở danh từ số ít (by adding “s” to the singular)

Singular Plural

Boy Boys

Girl Girls

Day Days

1.3.9.2 - Bằng cách them “es” đối với các danh từ tận cùng bằng âm gió (khi phát âm phát ra

tiếng kêu xì xì) như: x, sh, ch, s (By adding “es” to nouns ending in a hissing sound that is ending in x, sh, ch, s)

- church (nhà thờ) - churches

- inch (đơn vị đo lường) - inches

- glass (ly uống nước) - glasses

1.3.9.3 - Bằng cách thêm “es” đối với các danh từ tận cùng bằng từ “o”(By adding“es” to nouns ending in “o”)

Singular Plural

- potato (trái cây) - potatoes

- mosquito (con muỗi) - mosquitoes

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w