Đề tài : “Quan niệm triết học về con người trong tác phẩm Chu Dịch, Khổng học đăng và hình tượng nhà Nho trong văn học trung đại Việt Nam” là sự cố gắng tìm hiểu, học hỏi của học viên
Trang 1MỞ ĐẦU
1/ Lý do lựa chọn đề tài
- Văn học trung đại là một gia sản to lớn và quí giá, đó là kết tinh của 10 thế kỷ sáng tác của tổ tiên ta Nhưng ngày nay, gia sản đó đang đứng trước nguy cơ bị tiêu trầm với thời gian vì thế hệ hôm nay đã quá cách xa với tổ tiên về mặt ngôn ngữ và tư tưởng Ngày xưa cha ông ta sáng tác văn học bằng chữ Hán, chữ Nôm, suy tưởng và cảm xúc dựa trên tinh thần của Tam giáo : Nho, Phật, Lão Thế nhưng chữ Hán, chữ Nôm ngày nay không còn được thông dụng, thế hệ trẻ không còn được học để có thể đọc và hiểu được thứ chữ đó; và do những biến động về xã hội, văn hóa và chính trị mà tư tưởng của Nho, Lão không còn được truyền bá rộng rãi, đó là không nói đến những sự hiểu không thấu đáo, hiểu lầm hay sai lạc những tư tưởng đó vì nhiều lý do
- Có thể nói rằng cụ Phan Bội Châu là lớp nhà trí thức uyên bác và đức độ cuối cùng của nền Nho học Ngoài những tác phẩm văn học của cụ
để lại, hai tác phẩm Chu Dịch và Khổng học đăng là những tác phẩm triết
học quan trọng trình bày, giảng giải về tư tưởng Nho giáo Cụ Phan là nhà khoa bảng Nho học, đồng thời cụ cũng là người tiếp thu những tư tưởng mới của thời đại giao lưu Đông - Tây, vì thế những luận giải của cụ về Nho giáo vừa giữ được những giá trị chính truyền vừa thêm vào những giá trị canh tân
- Với lòng yêu quý di sản văn học của tổ tiên, chúng tôi đã học chữ Hán và tìm hiểu về triết học Nho giáo để có thể hiểu được cội nguồn mỹ
cảm trong các tác phẩm văn học trung đại Đề tài : “Quan niệm triết học về
con người trong tác phẩm Chu Dịch, Khổng học đăng và hình tượng nhà
Nho trong văn học trung đại Việt Nam” là sự cố gắng tìm hiểu, học hỏi của
học viên về tư tưởng Nho giáo thông qua những giảng giải đáng tin cậy của cụ Phan Bội Châu để nghiên cứu cái mạch ngầm mỹ cảm của văn học trung đại
2/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 2- Vấn đề tư tưởng triết học Nho giáo đã ảnh hưởng như thế nào đối với nền văn học trung đại Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu văn học để tâm nghiên cứu từ những năm đầu thế kỷ XX và công bố trong những công trình nghiên cứu về văn học đầu tiên của Việt Nam Dương Quảng
Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu đã trình bày các yếu tố Nho giáo ảnh
hưởng đến văn học Việt Nam Ông trình bày sơ lược nội dung của Tứ thư và Ngũ kinh (riêng kinh Thi được ông trình bày kỹ và chi tiết hơn), sau đó khái quát một số đặc trưng của văn học Trung Đại, đó là tính cách chú trọng đến luân lý và đạo nghĩa của văn chương Các giáo trình lịch sử văn học sau này của Nguyễn Lộc, Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương đề cập đến các yếu tố tư tưởng Nho-Phật-Lão trong các tác phẩm văn học Trung Đại như là một trong những yếu tố của nội dung Nói về một trong những cảm hứng sáng tác của nho sĩ, Nguyễn Lộc viết : “Theo quan niệm Nho giáo, cái mẫu mực thuộc về quá khứ, và cái trong sạch chủ yếu lại ở trong thiên nhiên Các nhà nho theo quan niệm xuất xử của Nho giáo, gặp thời thịnh thì ra làm việc, phò vua giúp nước, gặp thời loạn thì lui về ở ẩn, lấy thiên nhiên để di dưỡng tính tình Họ tìm thấy trong thiên nhiên những phẩm chất đạo đức cao quí của con người Họ làm thơ vịnh thiên nhiên là vì vậy” [46, tr 60] Nói về tính cách đạo lý trong văn chương
của các nho sĩ ẩn dật, các tác giả của Văn học Việt Nam thế kỷ 10 - nửa đầu
thế kỷ 18 viết : “Là những người lánh đục về trong, nhưng lại không hoàn
toàn quên đời, nho sĩ ẩn dật đành hy vọng giảm bớt những tệ lậu của chế độ phong kiến đang suy thoái bằng cách nêu cao đạo lý thánh hiền, hy vọng chấn chỉnh lại kỷ cương, xây dựng lại chế độ thông qua việc cải thiện phẩm chất con người Và đạo lý trở thành một trong những nội dung chủ yếu trong tác phẩm của họ” [34, tr 88]
- Phương Lựu trong tác phẩm Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam và Đỗ Văn Hỷ trong tác phẩm Người xưa bàn về văn chương đã có những
đóng góp về mặt lý luận trong việc tìm hiểu văn học Trung Đại Trong tác
phẩm Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, Phương Lựu đã tổng kết tình
hình nghiên cứu về quan niệm văn chương cổ Việt Nam trong 25 năm từ thập niên 1960 đến thập niên 1980 và phân chia thành 3 lãnh vực nghiên cứu :
Trang 3a Những vấn đề có tính chất chung : Quan niệm văn dĩ tải đạo, quan niệm thi ngôn chí, lý luận văn học cổ
b Các giai đoạn văn học sử : Quan niệm văn học thời Lý - Trần, thời mạt kỳ phong kiến
c Về tác giả văn học : Quan niệm văn học của Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đình Chiểu
Như vậy, vấn đề nghiên cứu quan niệm văn học cổ là toàn diện và có căn cơ
Sau đó, ông đã trình bày các quan niệm văn chương trong các giai đoạn phát triển khác nhau của chế độ phong kiến Việt Nam, phân tích sự hình thành và thể hiện của những quan niệm đó trong những bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể : thời kỳ hình thành và bước đầu xây dựng, thời kỳ hưng thịnh, thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam Về sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học cổ Việt Nam ông nhận xét : “Văn chương phong kiến chính thống từ thế kỷ X - XV ở nước ta chỉ hấp thu quan niệm văn chương Nho giáo trong thời kỳ đầu là chủ yếu, đồng thời có sáng tạo thêm những nét đặc sắc phản ánh thực tiễn dựng nước và giữ nước cũng như thực tiễn sáng tác văn chương trong xã hội ta” [47, tr 74]
-Trần Đình Hựu trong tác phẩm Nho giáo và văn học Việt Nam trung
cận đại đã nghiên cứu mối liên hệ giữa Nho giáo và văn học nghệ thuật
qua các bài viết : “Nho giáo và văn học nghệ thuật”, “Về ảnh hưởng nhiều
mặt của Nho giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại”
Theo ông, Nho giáo là một học thuyết giàu chất văn hóa và rất đề cao văn học đã ảnh hưởng đến nền văn học trung đại Việt Nam trên nhiều mặt : khích lệ sự phát triển của văn học, tạo ra và giữ ổn định một hệ thống thể loại văn học, ảnh hưởng trực tiếp đến thế giới quan của người viết và hạn chế sự phát triển của văn học phi Nho giáo Ông cho rằng Nho giáo không những ảnh hưởng đến văn học ở bình diện hình thức mà còn ở bình diện quan niệm thẩm mỹ : “ Chứng tích ảnh hưởng của Nho giáo trong văn học không chỉ ở mô típ nội dung, hình ảnh, từ ngữ mà sâu xa hơn là ở quan niệm văn học, ở quan niệm cái đẹp” [29, tr 54] Cũng trong tác phẩm này, ông đã chia nhà Nho thành ba loại hình tác giả : hành đạo, ẩn dật và tài tử,
Trang 4trên cơ sở loại hình đó ông đã nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến v.v
Như vậy, với Trần Đình Hựu sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học không những được chú ý ở khía cạnh học thuyết về luân lý, đạo đức, chính trị -xã hội của nó mà còn được chú ý ở góc độ quan niệm thẩm mỹ Nho giáo được thể hiện ra trong những loại hình tác giả với những đặc điểm khác nhau về đời sống và tâm lý Hướng nghiên cứu này được ông thể hiện qua các
bài viết như : “Nguyễn Trãi và Nho giáo”, “Vấn đề xuất xử của nhà Nho và sự
phát triển trong thơ Tam nguyên Yên Đỗ” v.v
- Lê Trí Viễn trong tác phẩm Đặc trưng văn học Trung Đại đã khái
quát văn học Trung Đại qua ba đặc trưng : Cao nhã, vô ngã - hữu ngã, quy phạm và bất quy phạm dựa trên những nghiên cứu về cảm thức của con người trung đại và đặc điểm thẩm mỹ của con người Việt Nam Đây là một hướng mới trong nghiên cứu văn học : Không dựa vào tiêu chí nội dung để xác định đặc trưng văn học mà dựa vào các tiêu chí thẩm mỹ để xác định các đặc trưng đó
- Hướng nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam theo loại hình tác giả trên được Trần Ngọc Vương, Lê Giang tiếp nối thực hiện Lê Giang
trong luận án Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam đã phân chia nhà Nho
thành các loại hình : nhà Nho ẩn sĩ (Ngô Thế Lân), nhà Nho - chính trị gia (Ngô Thì Nhậm), nhà Nho - học giả (Lê Qúi Đôn), nhà Nho tài tử - nghệ sĩ (Nguyễn Du), nhà Nho tài tử - hào kiệt (Nguyễn Công Trứ), nhà Nho tài tử
- du hiệp (Cao Bá Quát) Luận án trên đã trình bày sự vận động và phát triển của ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam thông qua hoạt động sáng tác văn học của các loại hình tác giả đó
3/ Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đề tài “Quan niệm triết học về con người trong tác phẩm Chu Dịch, Khổng học đăng và hình tượng nhà Nho trong văn học trung đại Việt Nam”
là nằm trong hướng nghiên cứu về mối liên hệ giữa học thuyết Nho giáo với nền văn học trung đại Việt Nam Luận văn tiếp tục và kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước Tuy nhiên, chúng tôi nhận xét rằng các tác giả trên trong các tác phẩm của mình đã trình bày hết sức tóm tắt học thuyết của Nho giáo mà chú trọng nhiều hơn đến các vấn đề
Trang 5lịch sử, xã hội Vì thế, trong luận văn chúng tôi chú trọng trình bày về học thuyết của Nho giáo để từ đó tìm hiểu về vấn đề : Nền tảng triết lý cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật của nhà Nho hay triết lý nghệ thuật của Nho giáo là gì? Và bằng con đường nào triết lý đó được thể hiện trong văn học
?
Tuy nhiên, với sự học còn rất hạn hẹp của mình chúng tôi chưa thể nắm vững toàn bộ học thuyết của Nho giáo được trình bày trong những tác
phẩm được coi là kinh điển của Nho giáo : Tứ thư (Đại học, Trung dung,
Luận ngữ, Mạnh Tử), Ngũ kinh (Dịch, Thi, Thư, Xuân thu, Lễ) Sự bao quát
toàn bộ kinh điển Nho giáo đòi hỏi sự học tập nghiêm túc trong thời gian lâu dài Do đó, trong luận văn học viên giới hạn sự nghiên cứu về Nho
giáo qua Tứ thư và Kinh Dịch, tìm hiểu quan niệm về con người của Nho giáo theo sự chú giải của cụ Phan Bội Châu trong các tác phẩm Chu Dịch,
Khổng học đăng, để từ đó phác họa một vài đặc điểm trong tâm lý nghệ
thuật của tác giả nhà Nho Luận văn mới là bước khởi đầu của chúng tôi trong ý hướng nghiên cứu nền tảng triết lý làm nên mạch ngầm mỹ cảm trong hoạt động sáng tác văn học của nhà Nho Hy vọng trong chặng đường học hỏi tiếp theo, chúng tôi sẽ nghiên cứu đầy đủ các tác phẩm kinh điển Nho giáo cùng sự chú giải kinh điển của các bậc tiên nho để có thể trình bày một cách có hệ thống triết lý nghệ thuật Nho giáo và mối liên hệ giữa triết lý đó với lý luận văn học hay ý thức văn học của nền văn học trung đại Việt Nam
4/ Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống :
Theo phương pháp hệ thống, chúng tôi xem xét hai tác phẩm Chu
Dịch, Khổng học đăng của cụ Phan Bội Châu trong tổng thể các kinh điển
của Nho giáo là kinh Dịch và Tứ thư (vì do giới hạn phạm vi nghiên cứu
của luận văn nên các kinh Thi, Thư, Xuân thu, Lễ không được trình bày trong luận văn) Đồng thời, Nho giáo được xem xét trong mối tương quan hỗn dung với Phật giáo và Lão giáo là hai học thuyết - cùng với Nho giáo - ảnh hưởng rất sâu đậm đến nền văn học trung đại Việt Nam Luận văn trình bày sự hòa đồng tư tưởng của ba học thuyết trên trong đời sống xã hội và trong sáng tác văn học của các Nho sĩ
Trang 6- Phương pháp lịch sử :
Luận văn xem xét hai tác phẩm Chu Dịch, Khổng học đăng trong
truyền thống học hỏi và nghiên cứu về kinh điển Nho giáo của các tiên nho Việt Nam để thấy rằng tư tưởng Nho giáo có nền tảng vững chắc trong đời sống văn hóa và tư tưởng Việt Nam
Luận văn trình bày sự hỗn dung của tư tưởng Tam giáo trong sáng tác văn học theo lịch đại để thấy rõ sự hòa hợp giữa Nho - Phật - Lão là một truyền thống của văn học trung đại Việt Nam
- Phương pháp so sánh :
Luận văn nghiên cứu học thuyết Nho giáo trong sự so sánh với học thuyết của Lão - Trang, Phật giáo, và của triết học phương Tây để thấy được những chỗ tương đồng, những chỗ khác biệt trong cảm thức thẩm mỹ của mỗi học thuyết
5/ Những đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp một cách tiếp nhận văn học trung đại từ điểm nhìn của triết lý Nho giáo, lấy đó làm điểm qui chiếu để phác họa một đôi nét về tâm lý nghệ thuật của tác giả nhà Nho Vấn đề tu thân của Nho sĩ được xem xét trong mối liên hệ ảnh hưởng đến hoạt động sáng tạo nghệ thuật của Nho gia; tu thân được coi như là nền tảng triết lý và văn hóa cho khả năng biểu hiện cái đẹp
Luận văn trình bày một vài phân tích và cảm nhận văn học riêng tư của chúng tôi cùng với việc dẫn chứng kinh điển để bắt được mạch ngầm mỹ cảm chảy bên trong các tác phẩm văn học trung đại Luận văn phác họa một đôi nét chính về đặc tính nghệ thuật của hình tượng nhà Nho trong văn học trung đại, bước đầu tìm hiểu về tâm thức nghệ thuật và tâm lý sáng tác của họ
6/ Cấu trúc của luận văn
Luận văn được cấu trúc gồm hai phần :
- Phần Mở đầu
- Phần chính văn gồm các chương :
Trang 7Chương I : Từ kinh Dịch, Tứ thư những tác phẩm kinh điển của Nho
giáo đến Chu Dịch, Khổng học đăng của Phan Bội Châu
Chương II : Quan niệm về con người trong Chu Dịch và Khổng học đăng Chương III : Hình tượng nhà Nho trong văn học trung đại
Kết luận
Trang 81CHƯƠNG I
TỪ KINH DỊCH, TỨ THƯ NHỮNG TÁC PHẨM KINH ĐIỂN CỦA NHO GIÁO ĐẾN CHU DỊCH, KHỔNG HỌC ĐĂNG
CỦA PHAN BỘI CHÂU
I GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ KINH DỊCH VÀ TỨ THƯ
I.1 Kinh Dịch
I.1.1 Nguồn gốc kinh Dịch
Kinh Dịch là tác phẩm triết học có nguồn gốc rất xa xưa và quá trình
hình thành trải dài trong nhiều thế kỷ Theo truyền thuyết thì vua Phục Hy
(4477-4363 BC) là người khai thủy ra Kinh Dịch, ông quan sát con Long
mã xuất hiện ở sông Hoàng Hà thấy trên lưng nó có những nét tượng như số phối hợp với nhau như bức đồ, đó là Hà đồ Phỏng theo bức đồ đó Phục
Hy lập ra bát quái Phục Hy lấy vạch thẳng dài ( _) tượng trưng cho số lẻ,
biểu thị cho nguyên lý dương và hai vạch thẳng ngắn (_ _) tượng trưng cho số chẵn, biểu thị cho nguyên lý âm Ông phối hợp hai biểu tượng âm
- dương đó lại với nhau mà tạo ra tám quẻ gọi là tiên thiên bát quái Mỗi
quẻ gồm có ba vạch, các vạch tạo nên quẻ gọi là hào Tám quẻ đó là :
đơn, lấy một quẻ đơn đó chồng lên một quẻ khác thì được một quẻ đôi gọi
1
Trang 9là trùng quái Phối hợp tám quẻ đơn theo cách trên sẽ tạo ra 64 quẻ đôi và
có tổng cộng 64 × 6 = 384 hào
Sau vua Phục Hy, vua Hạ Vũ lại thấy có con rùa thiêng xuất hiện trên sông Lạc, trên lưng rùa cũng có những biểu tượng âm dương nhưng phối hợp theo một trật tự khác với Hà đồ, đó là Lạc thư Hà đồ và Lạc thư
chính là nguồn gốc tối sơ của Kinh Dịch, những biểu tượng âm dương của Hà đồ và Lạc thư là những tượng sơ nguyên của Kinh Dịch hình thành từ
thời kỳ chưa có chữ viết
Cũng theo truyền thuyết, vua Văn Vương nhà Chu, khi bị giam ở ngục Dữu Lý (1144-1142) đã suy nghiệm về các quẻ, theo hình tượng của
quẻ mà đặt lời giải thích ý nghĩa của toàn quẻ, gọi là thoán từ (cũng đọc là
soán từ) Con của Văn Vương là Chu Công Đán mới giải nghĩa của từng
hào trong quẻ, gọi là hào từ Đến bấy giờ, Kinh Dịch mới trở thành một
bản sách có văn từ, nhưng chủ yếu chỉ là sách dùng để bói xem điềm lành dữ, cát hung Khoảng hơn 500 năm sau, Khổng Tử mới theo thoán từ và hào từ mà giải nghĩa thiên trọng về đạo lý, lời giải nghĩa thoán từ và hào
từ của Khổng Tử gọi là Thoán truyện và Tượng truyện (lời giải nghĩa tượng
của cả quẻ gọi là Đại tượng truyện, lời giải nghĩa tượng cho từng hào gọi
là Tiểu tượng truyện) Khổng Tử lại viết thêm các thiên : Hệ từ thượng
truyện, Hệ từ hạ truyện, Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện (gồm hai thiên thượng, hạ) Phần viết thêm của Khổng tử gồm có 10
truyện nên được gọi là Thập dực Gồm biểu tượng quẻ, thoán từ, hào từ cộng với phần Thập dực, Kinh Dịch trở thành một cuốn sách hoàn chỉnh
Theo bài tựa của Tham nghị Nguyễn Hạo viết cho sách Chu dịch
quốc âm giải nghĩa, (2 quyển) của lão nho ở huyện Nghi Xuân thuộc Hoan
Châu là Đặng Thái Phương soạn thì : “Trong Ngũ kinh không có kinh nào nghĩa sâu kín bằng Kinh Dịch Quẻ và nét vạch mới có ở Phục Hy, chồng quẻ là ở Văn Vương ; lời quẻ [quái từ] là do Văn Vương phụ vào, lời hào [hào từ] là do Chu Công phụ vào, đến Khổng Tử mới hoàn thành, mà lời thoán lời tượng mới đủ cả Tiếp về sau thì có họ Trình họ Chu, mà tinh nghĩa được chú thích kỹ…” [4, T3, tr 77] Theo Nguyễn Hiến Lê thì bản
kinh Dịch ngày nay là bản Chu Dịch : “Xét trong sách Chu lễ thì đời nhà
Chu có quan thái bốc coi ba loại dịch : Liên sơn dịch, tức dịch của nhà Hạ,
Trang 10lấy quẻ Cấn làm đầu ; Quy tàng dịch, tức dịch của nhà Thương, lấy quẻ Khôn làm đầu, và Chu dịch, tức dịch của nhà Chu, lấy quẻ Càn làm đầu Về sau Liên sơn dịch và Quy tàng dịch đều mất, chỉ còn lại Chu dịch tức là
kinh Dịch ngày nay” [42, q2, tr 238]
Tuy nhiên, sự trình bày nguồn gốc như trên của kinh Dịch là theo
truyền thuyết và truyền thống, nhiều nhà nghiên cứu đã tỏ ra hoài nghi về
nguồn gốc đó Nguyễn Hiến Lê trong Đại cương triết học Trung Quốc cho biết : Theo các tác giả như Âu Dương Tu trong Dịch đồng từ vấn, Thôi Đông Bích trong Thù tứ khảo tín lục, Cố Hiệt Cương trong Cổ sử biện, Phùng Hữu Lan trong Khổng Tử tại Trung Quốc lịch sử trung chi địa vị thì
từ đời Thương trở về trước chưa có bát quái, người đời Thương chỉ biết bói
theo những vết hiện ra khi hơ mai rùa trên lửa Những vết đó gọi là triệu, lời đoán ý nghĩa của triệu gọi là diêu ; và vì triệu hiện ra không theo quy luật nào nên phải đặt ra các diêu mới nên việc bói rùa phức tạp và khó
khăn Để khắc phục khó khăn đó, người đời Chu mới đặt ra phép bói cỏ thi với những quẻ và hào có hạn định, khi bói được quẻ nào, hào nào thì theo lời giải có sẵn mà suy đoán Do đó, “Tám quẻ của Dịch là do người đời Chu đặt ra chứ không phải do vua Phục Hi vạch” [42, q2, tr 239] Về tác
giả của kinh Dịch, Nguyễn Hiến Lê cũng cho biết có ba thuyết không nhận
tác giả của Dịch là Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, đó là
thuyết của Hán thư, Sử ký và của Đông Điều Nhất Đường, một học giả
người Nhật Các thuyết trên đều cho rằng Dịch được viết bởi những người
sống sau thời Mạnh Tử, có thể là vào đời nhà Tần hay nhà Hán Nhận định
tổng quát về nguồn gốc và tác giả kinh Dịch, Nguyễn Hiến Lê viết : “Tóm
lại, Dịch là tác phẩm của một học phái Có lẽ Khổng Tử chỉ phát huy
những giáo lý cốt yếu (chứ không viết những thiên Dịch truyện hay Thập
dực), rồi trong ba trăm năm sau, mỗi nhà thêm một chút, tới đời Hán mới
hoàn thành Nếu kể từ thời Chu Công thì nó là một tác phẩm cấu tạo lần lần trong mười thế kỷ nên gom được rất nhiều kinh nghiệm của dân tộc Trung Quốc và nhiều tinh hoa của Khổng, Lão Mới đầu là sách bói, sau mới thành sách triết lý, chứa đựng nhiều tư tưởng sâu sắc về vũ trụ và nhân sinh” [42, q2, tr 241]
Trang 111.1.2 Nội dung kinh Dịch
Hệ từ hạ truyện, chương 8, tiết 1 viết : “Dịch chi vi thư dã bất khả viễn; vi đạo lũ thiên; biến động bất cư, chu lưu lục hư ; thượng hạ vô thường, cương nhu tương dịch; bất khả vi điển yếu, duy biến sở thích” [ 2, tr
921], nghĩa là : “Dịch là sách không thể rời xa Dịch biến động luôn không khi nào dừng, sáu hào xoay vòng đắp đổi, âm dương thăng giáng vô thường, cứng mềm hoán đổi Dịch không là mẫu khế ước định sẵn cứ vậy
viết theo, mà tùy thời biến hóa”* Tiếp theo, chương 10, tiết 1 viết : “Dịch
chi vi thư dã, quảng đại tất bị; hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên” , nghĩa là : “Dịch là sách rất phổ quát và hoàn bị, trong Dịch
gồm cả Thiên đạo, Nhân đạo, Địa đạo” [ 2, tr 923] Hai tiết trên đã khái
quát toàn bộ nội dung của kinh Dịch
Kinh Dịch gồm có 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 hào Kinh Dịch chia làm hai
phần : Thượng kinh và Hạ kinh Thượng kinh gồm 30 quẻ, mở đầu bằng hai
quẻ Thuần Càn và Thuần Khôn, kết thúc bằng quẻ Thuần Ly Nội dung
của Thượng kinh là luận về vũ trụ Hạ kinh gồm có 34 quẻ, mở đầu bằng
hai quẻ Hàm và Hằng, kết thúc bằng quẻ Vị Tế Nội dung của Hạ kinh là luận về nhân sự Theo sự trình bày của cụ Phan Bội Châu, hai quẻ Thuần
Càn và Thuần Khôn gồm có : Soán từ (lời giải nghĩa của toàn quẻ do Văn Vương đặt), Soán truyện (lời thích nghĩa soán từ do Khổng Tử đặt), Đại
tượng truyện (lời giải nghĩa tượng của quẻ do Khổng Tử đặt), Hào từ ( lời
giải nghĩa của từng hào trong một quẻ do Chu Công đặt) và Tiểu tượng
truyện (lời thích nghĩa hào từ do Khổng Tử đặt), Văn ngôn (lời Khổng Tử
viết tiếp thêm phần Soán truyện để giải thích soán từ cho rõ và kỹ hơn, phần này chỉ có ở hai quẻ Thuần Càn và Thuần Khôn) ; Các quẻ khác của
Kinh Dịch cũng gồm các phần như trên (không có phần Văn ngôn) nhưng có thêm phần Tự quái để giải thích ý nghĩa tên quẻ và sự nối tiếp nhau của
Trang 12Giao dịch : Là sự liên hợp, nối kết, giao thoa, trao đổi lẫn nhau giữa
các sự vật
Biến dịch : Là sự thay đổi, biến hóa của sự vật Sự vật không bao giờ
ngưng trệ mà luôn luôn biến hóa bất tận [ 2, tr 18 - 19]
Trên nền tảng ba ý nghĩa đó của chữ dịch, kinh Dịch bàn thống quát tất cả thiên lý và nhân sự, lấy nguyên lý của vũ trụ làm mô hình để đưa ra những quan niệm nhân sinh
Về vũ trụ, Dịch phô diễn hai nguyên lý lớn : Nguyên lý động và nguyên lý phản phục Về nhân sự, Dịch chỉ cách ứng thời xử thế, đưa ra chín đức tính căn bản mà quy lại thành hai đức quý nhất là chính và trung, chính trung lại gồm trong chữ thời
• Nguyên lý động :
Trong nhãn quan của Dịch, vũ trụ luôn luôn vận động biến hóa, sáu mươi tư quẻ của Dịch quảng diễn sự biến đổi không ngừng của âm - dương
Hệ từ thượng truyện, chương 1, tiết 2 viết : “Cương nhu tương ma, bát quái tương dạng”[2, tr 871], nghĩa là : “Âm dương cùng chà xát, cùng giao nhau
nên tạo ra tám quẻ, tám quẻ cùng luân chuyển mà tạo thành sáu mươi tư quẻ"* Sáu mươi tư quẻ Dịch khái quát bao hàm hết thảy các hiện tượng, sự vật trong vũ trụ : nhật nguyệt, sấm sét, mưa gió, nóng lạnh là âm dương, chấn, tốn, ly khảm ở trong Dịch v.v nên Dịch chính là sự quảng diễn sự vận động biến đổi không ngừng của mọi hiện tượng, sự vật Tiếp theo tiết
2 ở trên, tiết 3 viết : “Cổ chi dĩ lôi đình, nhuận chi dĩ phong vũ, nhật nguyệt
vận hành nhất hàn nhất thử”[2,tr 872], nghĩa là : “Lấy sấm sét để cổ động,
lấy mưa gió để thấm nhuận cho muôn vật ; mặt trời, mặt trăng vận hành khiến cho nóng lạnh đắp đổi”* Sự vận hành của mặt trời mặt trăng, sự đắp đổi giữa nóng lạnh đó chính là tượng biểu thị cho sự vận hành của âm
- dương Hệ từ thượng truyện, chương 5, tiết 1 viết : “Nhất âm nhất dương vị
chi đạo”, giảng giải về tiết này cụ Phan Bội Châu viết : “Bao quát hết
trong vũ trụ, tất thảy cả không gian cho đến thì gian, không một chốn nào là không âm dương, lại không phút nào là không âm dương, chỉ thấy nhất âm nhất dương đắp đổi nhau mà thôi” [2, tr 889] Sự vận hành, biến hóa của âm - dương là vi diệu : trong dương có âm, trong âm có dương, âm tiêu dương trưởng, âm trưởng dương tiêu diễn ra âm ngầm kín đáo, vô phương
Trang 13vô sở không thể đo lường được Vì thế, Hệ từ thượng truyện, chương 5, tiết
8 viết : “Âm dương bất trắc vị chi thần” Chữ “thần” ở đây không có nghĩa
là “thần thánh” mà có nghĩa là kín đáo và thâm sâu Sự vận động của âm - dương, của vũ trụ được Dịch diễn tả như sự khép mở của cánh cửa : đóng
lại là Khôn, mở ra là Càn Càn Khôn đóng mở mà thành tượng thành hình,
tức là khai lộ ra thế giới ; trong thế giới đó con người sống và mô phỏng
theo hình để chế tạo các đồ dùng và như thế là cái “thần” được tỏ lộ Hệ từ
thượng truyện, chương 11 tiết 4 viết : “Cáp hộ vị chi khôn, tịch hộ vị chi càn
; nhất cáp nhất tịch vị chi biến ; vãng lai bất cùng vị chi thông; hiện nãi vị chi tượng ; hình nãi vị chi khí; chế nhi dụng chi vị chi pháp, lợi dụng xuất nhập, dân hàm dụng chi, vị chi thần”[2, tr 903], nghĩa là : “Cửa đóng gọi là
khôn, cửa mở gọi là càn ; một đóng một mở gọi là biến ; tới lui không dừng gọi là thông Lẽ biến thông đó hiện ra nơi sự vật gọi là tượng, theo tượng mà làm ra hình gọi là khí, chế ra khí cụ để dùng gọi là pháp Trong đời
sống mọi người đều dùng được, như thế gọi là thần” *
Như vậy, nguyên lý động của Dịch là nguyên lý chi phối cả vũ trụ và rất thâm thiết với đời sống của con người
• Nguyên lý phản phục :
Hệ từ thượng truyện, chương 8, tiết 3 viết : “Ngôn thiên hạ chi chí trách, nhi bất khả ố dã; ngôn thiên hạ chi chí động nhi bất khả loạn dã”
Giảng về tiết này, cụ Phan Bội Châu viết : “Trong từ Dịch vẫn nói hết thảy những việc rất tạp loạn ở trong thiên hạ, nhưng những việc tạp loạn đó, thảy thâu nạp vào trong Dịch lý, Dịch không thể ghét bỏ mà không nói Và lại quái từ, hào từ ở trong Dịch, nói hết thảy những việc biến động ở trong thiên hạ, cái việc biến động đó vẫn mỗi việc có mỗi đạo lý rất rõ ràng.” [2, tr 896]
Vậy theo Dịch, sự vận động của vũ trụ tuy phồn tạp mà không rối
loạn, nó tuân theo qui luật Đó là qui luật phản phục Phản phục là sự vận
hành tuần hoàn của âm dương theo qui trình thịnh suy, tiêu trưởng đắp đổi, qui trình này thể hiện thông qua 12 quẻ : Phục > Lâm > Thái
> Đại tráng > Quải > Càn > Cấu > Độn > Bỉ > Quán > Bác
> Khôn Ở thời Phục là thời dương bắt đầu nảy sinh, nên quẻ Phục có
một hào dương ở dưới năm hào âm ; dương lần lần trưởng và âm lần lần
Trang 14tiêu, đến thời Quải thì dương đã trưởng được năm nét còn âm thì bị tiêu hao chỉ còn một nét Sang thời Càn thì dương trưởng âm tiêu đến cực độ nên quẻ Càn gồm sáu nét dương ; dương trưởng đến cực độ nên bắt đầu
quá trình suy giảm, âm tiêu đến cực độ nên bắt đầu quá trình tăng trưởng,
do đó, sang thời Cấu thì một nét âm sinh ở dưới năm nét dương Quá trình dương tiêu âm trưởng này tiếp diễn cho đến thời Khôn thì dương tiêu hết nên quẻ Khôn gồm sáu nét âm Từ Khôn chuyển sang Phục một nét dương
lại sinh, cứ thế quá trình thịnh suy xoay vòng bất tận Theo qui luật phản phục đó, Tự quái giải thích sự kế tiếp nhau giữa các quẻ : Tự quái quẻ Bỉ :
“Thái giả thông dã, vật bất khả dĩ chung thông, cố thụ chi dĩ Bỉ”, nghĩa là :
“Thái nghĩa là thông, Vật không thể mãi mãi thông nên sau thời Thái là đến thời Bỉ” ; tiếp theo quẻ Bỉ là quẻ Đồng nhân, Tự quái quẻ Đồng nhân
viết : “Vật bất khả dĩ chung Bỉ, cố thụ chi dĩ Đồng nhân”, nghĩa là : “Vật
không thể mãi mãi Bỉ nên sau thời Bỉ là thời Đồng nhân”
Dịch diễn tả sự tuần hoàn bất tận của vũ trụ nên Dịch mở đầu bằng hai quẻ Càn, Khôn tượng trưng cho sự bao quát mọi hiện tượng, sự vật trong vũ trụ ; kết thúc Thượng kinh bằng hai quẻ Khảm, Ly tượng trưng cho công dụng lớn lao của tạo hóa ; và kết thúc toàn sách bằng hai quẻ Ký tế, Vị tế là hai quẻ do hai thể Ly, Khảm hợp lại Quẻ Ký tế được cấu tạo bởi Khảm thượng, Ly hạ lấy nghĩa là cuộc đại diễn của vũ trụ đã đến hồi chung cuộc, hoàn tất ; nhưng tiếp liền theo Ký tế là Vị tế, Vị tế được cấu tạo bởi Ly thượng, Khảm hạ lấy nghĩa là bất chung cuộc Như thế, thời Vị tế là thời mở ra cuộc đại diễn mới của Càn Khôn Cụ Phan Bội Châu viết :
“Vị tế, nghĩa là chưa cùng được Dịch đến sáu mươi tư quẻ, tuy nói rằng Dịch hết rồi, nhưng cái hết đó, chẳng qua là Dịch thuộc về phần hữu hình, tức là Quái hào văn tự, chứ như thuộc về phần vô hình, tức là lý Giao dịch, Biến dịch, Bất dịch, thời tuyệt đối không bao giờ cùng Vậy nên, ở cuối cùng Kinh, phải đặt quẻ Vị tế” [2, tr 857]
• Cách ứng thời xử thế :
Mỗi hào, mỗi quẻ của Dịch là một thời, trong mỗi thời đó Dịch đưa
ra các phương châm, các lời khuyên để giúp con người ứng thời xử thế Ví như, quẻ Lữ là phương cách xử thế trong hoàn cảnh phải bỏ quê nhà ra đi ở
đậu nơi đất khách quê người, Soán từ quẻ Lữ viết : “Lữ tiểu hanh ; Lữ
Trang 15trinh cát”, nghĩa là : “Thời Lữ chỉ hanh thông trong những việc nhỏ ; xử
thời Lữ mà giữ lòng trinh chính thì được tốt đẹp”, đây chính là lời khuyên hành xử cho cả thời Lữ ; trong thời Lữ cũng có những giai đoạn, những hoàn cảnh khác nhau, lúc vừa mới bước chân lâm vào cảnh Lữ, hào từ sơ
lục khuyên : “Lữ tỏa tỏa, tư kỳ sở thủ tai”, nghĩa là : “Thời Lữ mà xử trí
hẹp hòi thì thân mình tự chuốc lấy họa” [2, tr 764, 767] Nhưng tựu trung, Dịch đưa ra chín quẻ làm căn bản cho chín đức của sự tu thân, xử thế trong
mọi cảnh huống, lấy cái bất biến ứng với vạn biến Hệ từ hạ truyện, chương 7, tiết 2 viết : “Lý, đức chi cơ dã Khiêm, đức chi bính dã Phục, đức
chi bản dã Hằng, đức chi cố dã Tổn, đức chi tu dã Ích, đức chi dũ dã Khốn, đức chi biện dã Tỉnh, đức chi địa dã Tốn, đức chi chế dã”, nghĩa là :
“Quẻ Lý là cái nền của đức ; quẻ Khiêm là cái cán của đức ; quẻ Phục là gốc của đức ; quẻ Hằng là cái bền vững của đức ; quẻ Tổn là sự trau dồi đức ; quẻ Ích là sự nẩy nở đầy đủ của đức ; quẻ Khốn là nghiệm xem đức cao hay thấp ; quẻ Tỉnh là sự đầy đặn của đức ; quẻ Tốn là sự chế ngự đức (cho nó thuần thục, linh hoạt)” [43, tr 491] Quẻ Lý nói về lễ nên quẻ Lý là cái nền của đức, quẻ Khiêm trọng sự khiêm nhu nên là cán của đức, quẻ Phục tượng trưng cho sự hồi tâm tĩnh trí để quay về với lẽ phải, để phục thiện nên là gốc của đức, quẻ Hằng nói về sự trường cửu của đạo vợ chồng, sự bất dịch của đạo lý làm nên sự bền vững của đức, quẻ Tổn khuyên phải nghiêm khắc với bản thân, trừ bỏ bớt dục vọng, đó là điều căn bản để trau dồi đức hạnh, quẻ Ích khuyên chấp nhận lẽ phải để cải sửa sai lầm nên làm đức mỗi ngày một nảy nở, quẻ Khốn là sự hành xử trong nghịch cảnh nên là cái thước để xem đức cao hay thấp, quẻ Tỉnh lấy hình ảnh không bao giờ vơi cạn của giếng để nói về sự đầy đặn, sự thấm nhuần rộng khắp của đức, quẻ Tốn thủ nghĩa là thuận theo sự trung chính, tức là đức phải có sự chế ngự rèn luyện Chín đức đó tổng hòa lại thành sự trung chính là cái bất biến để ứng với cái vạn biến của thời gian, cảnh ngộ Trung là cái gốc, cái cốt tủy, cái làm nên bản thể ; chính là sự xứng hợp với vị thế Trong Dịch các hào nhị, ngũ là những hào đắc trung ; các hào dương ở các vị sơ, tam, ngũ, các hào âm ở vị nhị, tứ, thượng là những hào chính vị Các hào đắc trung, đắc chính thường có lời giải tốt, ngược lại hào
bất trung bất chính lời giải thường xấu Nói về trung chính, Soán truyện quẻ Quán viết : “Đại quán tại thượng, thuận nhi tốn, trung chính dĩ quán
Trang 16thiên hạ Quán, quán nhi bất tiến, hữu phu, ngung nhược, hạ quan nhi hóa dã Quan thiên chi thần đạo, nhi tứ thì bất thắc, thánh nhân dĩ thần đạo thiết giáo, nhi thiên hạ phục hỷ”[2, tr 325], nghĩa là : “Bậc đại ở trên có đức
thuận hòa, lấy đức trung chính để biểu thị cho thiên hạ, đó là nghĩa của thời Quán Thời Quán tế lễ mà không dùng lễ vật, giữ lòng chí thành, chí kính để người dưới trông lên mà cảm hóa Quan sát đạo trời thần diệu, bốn mùa luân chuyển không sai, thánh nhân theo đạo đó mà lập giáo nên thu phục được thiên hạ”* (1)
Lời Soán truyện trên đã đặt sự trung chính của con người lên bình
diện vũ trụ : Bốn mùa luân chuyển không sai đó là sự trung chính của trời đất, trời đất hàm dưỡng vạn vật thuận theo bản tính tự nhiên của chúng; thánh nhân lấy đức trung chính, giữ lòng chí thành chí kính mà xử thế, ấy
là thánh nhân đã xử thế theo thời Quán vậy Chữ thời thường được hiểu
theo hai nghĩa là thời gian và thời thế, theo cách hiểu này thì sự ứng thời xử thế là một hành động khôn ngoan, tức là hành động ở bình diện luân lý, đạo đức(2) Chữ thời hiểu theo cách trên chỉ mới tiếp cận được vòng nghĩa bên ngoài của nó, chữ thời theo nghĩa vòng trong là thiên lý, là lẽ tự nhiên của vũ trụ Soán từ quẻ Vô vọng viết : “Vô vọng, nguyên hanh, lợi trinh, kỳ
phỉ chính hữu sảnh, bất lợi hữu du vãng”, nghĩa là : “Không sai lẽ tự nhiên
thì hanh thông ; phải luôn chính, bất chính thì phá vỡ mối liên hệ tự nhiên
mà trật tự vũ trụ đổ vỡ” Giải thích câu trên Soán truyện viết : “Vô vọng,
cương tự ngoại lai, nhi vi chủ ư nội ; động nhi kiện, cương trung nhi ứng, đại hanh dĩ chính, thiên chi mệnh dã ; kỳ phỉ chính hữu sảnh, bất lợi hữu du vãng, vô vọng chi vãng, hà chi hỷ, thiên mệnh bất hựu, hành hỹ tai"[2, tr
382-384], nghĩa là : Không sai lẽ tự nhiên, hào dương ở ngoài đến mà làm chủ cho nội quái Chấn tính động, Càn tính kiện ; cửu ngũ, lục nhị đắc trung mà đối đãi, lại chính vị nên rất hanh thông, đó là chân lý tự nhiên Bất chính thì phá vỡ mối liên hệ tự nhiên mà trật tự vũ trụ đổ vỡ, hành
(1) Quẻ Quán được cấu tạo gồm quẻ Tốn ở trên, quẻ Khôn ở dưới, các hào sơ, nhị, tam, tứ là
những hào âm, các hào ngũ, thượng là hào dương Hào cửu ngũ đắc trung, đắc chính nên được gọi là Đại Khôn ở nội quái làm thể cho quẻ, Khôn có tính thuận ; ngoại quái Tốn có tính nhu hòa
(2) Thánh Kinh nói rằng sự khôn ngoan của người đời trước mắt Thượng Đế chỉ là sự ngu
dại, Lão tử thì bảo : Trí tuệ xuất hữu đại ngụy
Trang 17động sai lẽ tự nhiên thì bất đạt Đã sai với tự nhiên thì đạt sao được ?”* (3) Giảng chữ Vô vọng, cụ Phan Bội Châu viết : “Nghĩa hai chữ Vô vọng giải thích cho đến nơi, thời chỉ duy thiên đạo với thánh nhân mới đúng được hết Nguyên lai, ở trong vũ trụ, sẵn có lý tự nhiên, theo ở lý tự nhiên, không cần phải tạo tác, đó là Vô vọng thuộc về Thiên đạo Đến như các sự vật, thời có lý đang nhiên, không pha vào tư ngụy Đó là Vô vọng thuộc về Thánh đức Nhưng mà, vì có tự nhiên mới đẻ ra đang nhiên, lại lấy đang nhiên hợp với tự nhiên, ấy là thánh tức thiên, thiên tức thánh, mà tổng chi gọi bằng Vô vọng” [2, tr 382] Vậy, trong Dịch trung chính tổng hợp lại
thành chữ thời theo nghĩa thời là lẽ tự nhiên của vũ trụ, và thánh nhân dữ
thời giai hành là thánh nhân hành động theo lẽ tự nhiên của trời đất, nên
hành động của thánh nhân gọi là Thuận hành Thuận hành của Dịch và Vô
vi của Đạo đức kinh là cùng một nghĩa Đây là nhận xét quan trọng để
chúng ta khám phá hình tượng nhà Nho trong văn học trung đại ở những
chương sau
I.2 Tứ thư
Tứ thư là bộ sách gồm bốn cuốn Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử
I.2.1 Đại học
Sách Đại học nguyên là một chương trong Kinh Lễ, Chu Hy
(1130-1200) tách ra làm một cuốn sách riêng và ra công thu thập các ý kiến bình giải của các nhà Nho trước đó mà chủ yếu là của Trình Hạo và Trình Di
soạn thành cuốn Đại học chương cú Theo đó, sách Đại học gồm 1 chương
kinh văn là lời của Khổng Tử và 10 chương truyện văn là lời của Tăng Tử giải thích kinh văn (4) Theo cụ Phan Bội Châu, Tăng Tử là một trong hai cao đệ của Khổng Tử, có đạo đức, học vấn thâm sâu, thuần thục, là người đã phát huy giáo lý của Khổng môn đến thập phần viên mãn Nội dung
của sách Đại học là trình bày chân lý, đường lối và phương pháp tu thân
của người Nho sĩ, ba điều này được Khổng Tử nêu lên ở kinh văn và Tăng
(3) Quẻ Vô vọng được cấu tạo bởi nội quái Chấn, ngoại quái Càn, hào sơ cửu là bởi hào âm
của quẻ Khôn biến mà thành nên gọi là cương tự ngoại lai ; lục nhị, cửu ngũ là hai hào
đắc trung đắc chính
Trang 18Tử giải thích ở truyện văn Chân lý của sự tu thân gồm ba điều là : Minh
minh đức - thân dân - chỉ ư chí thiện Đường lối của sự tu thân là : Định - tĩnh - an - lự Phương pháp tu thân là : Chánh tâm - thành ý - cách vật - trí tri Chân lý, đường lối, phương pháp đó được Vương Dương Minh luận giải
trong thiên Đại học vấn [37, tr 265-272] như sau : Theo Vương Dương Minh, minh minh đức chính là : “ bỏ cái che lấp của tư dục, để tự sáng lấy
cái đức sáng, phục lại cái gốc “thiên địa vạn vật nhất thể” mà không phải
là ở ngoài cái bản thể ấy có thể bù thêm được cái gì khác vậy” ; thân dân
không chỉ có nghĩa là thân với con người mà còn mở rộng ra đối với vạn vật để sự minh đức được viên mãn : “Vua tôi, vợ chồng, bạn hữu cho đến núi sông, quỷ thần, chim muông, cỏ cây, không đâu là không có một cách thân, để đạt cái nhân “nhất thể” của ta Nhiên hậu cái minh đức của ta mới không có chỗ nào là không sáng, mà mới thật là thấy được trời đất muôn
vật là nhất thể vậy” ; chỉ ư chí thiện là căn cứ vào cái lương tri sáng suốt
của bản tâm ta mà hành xử, đây chính là cái gốc của sự minh đức và thân
dân ; Định - tĩnh - an - lự chính là sự quay về với cái tâm của ta để làm cho nó trở nên sáng suốt và không vọng động ; Chánh tâm - thành ý - cách
vật - trí tri là phương pháp để đưa đến cái lương tri sáng suốt tự khắc biết
phân biệt phải trái, thiện ác, tự nhiên có lòng yêu mến điều phải, điều thiện và ghét bỏ điều trái, điều ác Vương Dương Minh hiểu trí tri là phát huy lương tri : “Nghĩa chữ trí tri không phải như hậu nho cho là mở rộng cái tri thức ra đâu, mà chính là trí cái lương tri của tâm ta vậy”, và cách vật là sử đổi để làm điều chính : “Vật là việc vậy, hễ ý phát ra tất có việc, việc mà ý ở đó gọi là vật, cách là chính vậy Chính những cái không chính để đem nó về chỗ chính ; chính những cái không chính là bỏ điều ác vậy, đem về chỗ chính là làm điều thiện vậy ; như thế gọi là cách”
I.2.2 Trung dung
Trung dung cũng là một chương trong Kinh Lễ và được Chu Hy tách
ra, chú giải làm thành một cuốn riêng là Trung dung chương cú Theo đó, sách Trung dung gồm có phần kinh văn 20 chương chép lời của Khổng Tử
và phần truyện văn 13 chương là lời diễn giải kinh văn của Tử Tư Tử Tư (483 - 402 BC) là môn đệ của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử
Trang 19Cụ Phan Bội Châu nhận xét về sách Trung dung như sau : “Bản sách
này ở trong Khổng học là một bản sách rất cao, bàn đạo lý rất thâm thúy, góp cả thiên đạo và nhân sự, đủ cả lý luận và sự thực Xem ở trên mặt chữ
và chương cú, không được dễ hiểu như Đại học và Luận ngữ” [3, tr 389] Đạo lý sách Trung dung bàn đến được tóm lược trong chương 1 của sách :
“Thiên mệnh chi vị tính, suất tính vị chi đạo, tu đạo chi vị giáo Đạo dã giả
bất khả tu du ly dã, khả ly phi đạo dã Thị cố quân tử giới thận hồ kỳ sở bất đổ, khủng cụ hồ kỳ sở bất văn Mạc hiện hồ ẩn, mạc hiển hồ vi Cố quân tử thận kỳ độc dã Hỉ nộ ai lạc chi vị phát vị chi trung Phát nhi giai trúng tiết
vị chi hòa Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã; hòa dã giả, thiên hạ chi đạt đạo giả Trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên” Nghĩa là :
“Mệnh trời ban cho gọi là tính, noi theo tính gọi là đạo, tu đạo gọi là giáo Đã gọi là đạo thì không thể rời xa trong giây phút, nếu có thể rời xa, chẳng phải là đạo Vì thế người quân tử răn trừng cẩn thận về những điều không
ai thấy, e sợ những việc không ai nghe Không gì hiển hiện bằng điều kín đáo, không gì hiện rõ bằng điều nhỏ nhặt Vì thế người quân tử phải thận trọng lúc ở một mình Vui mừng, giận dữ, đau buồn, vui sướng, lúc chưa phát ra gọi là trung Phát ra mà đều trúng tiết gọi là hòa Trung là gốc lớn của thiên hạ, hòa là đạo thông suốt của thiên hạ Trung hòa mà đến mức cùng tột thì trời đất yên vị, vạn vật sinh sôi nẩy nở” [31, tr 84-85]
Những khái niệm lớn của Trung dung được thể hiện trong chương 1
trên là Tính mệnh, Đạo, Giáo, Trung, Hòa Các khái niệm này được cụ
Phan Bội Châu giảng giải trong Khổng học đăng như sau :
- Tính mệnh : Lý tự nhiên là thiên mệnh, con người thụ bẩm cái lý tự
nhiên đó thì gọi là tính; mệnh với tính chỉ là một lẽ
- Đạo : Là y theo tính mình mà không trái với tự nhiên; đã phù hợp
với mệnh trời mà lại hoàn thiện được tính người thời gọi bằng đạo
- Giáo : Là sự sự chỉnh lý của nhân sự để giúp cho phần tự nhiên
thêm hoàn thiện
- Trung : Trung là cái chân lý thiên nhiên lúc chưa phát lộ, vì thế,
Trung là gốc ở chân tính của người mà làm cội gốc cho vạn sự, vạn vật
Trang 20- Hòa : Là sự biểu lộ ra theo đúng với lẽ tự nhiên của cái Trung, tức là cái tính mệnh của con người được biểu lộ trong mối tương thông giao hòa với vạn vật [3, tr 390 - 402]
I.2.3 Luận ngữ
Luận ngữ là sách ghi chép những lời giảng dạy của Khổng Tử
(551-479 BC) và những sinh hoạt của ông cùng các đệ tử, vì thế, Luận ngữ là tài
liệu quan trọng để nghiên cứu về học thuyết và đời sống của Khổng Tử Khổng Tử là một nhà hiền triết, một người thầy được đời sau tôn xưng là Thánh, là “Vạn thế sư biểu” Tư tưởng và học thuyết của ông có một ảnh hưởng rộng lớn và sâu đậm ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên Sách Luận ngữ được hình thành vào thời Xuân thu chiến quốc, theo
Ban Cố trong sách Hán thư nghệ văn chí thì lúc đương thời Khổng Tử giảng
dạy, các đệ tử của ông đã ghi chép những lời dạy đó Sau khi Khổng Tử
mất các đệ tử của ông mới sưu tập biên soạn lại thành bộ Luận ngữ Vào thời Hán có ba ba bộ Luận ngữ được lưu hành là : Lỗ Luận ngữ có 20 thiên,
Tề Luận ngữ có 22 thiên và Cổ văn Luận ngữ có 21 thiên Cuối đời Hán,
Trịnh Huyền căn cứ vào Lỗ Luận ngữ, tham khảo Tề Luận ngữ và Cổ văn
Luận ngữ để chú giải, về sau chỉ còn bản chú giải của Trịnh Huyền được
lưu truyền, hai bản kia bị thất truyền Đời Tống, Chu Hy viết Luận ngữ tập
chú, ông chia Luận ngữ thành mười quyển gồm 20 thiên (mỗi quyển 2
thiên), ông lấy ý chính của thiên hoặc lấy những chữ đầu tiên của thiên mà
đặt tên thiên Bản Luận ngữ được sử dụng hiện nay là bản của Chu Hy
Học thuyết nền tảng của Luận ngữ là chữ nhân Nhân được Khổng Tử định nghĩa : “Nhân giả nhân dã”(Trung Dung, chương ), nghĩa là :
“Nhân là cái lý sở dĩ nhiên để làm con người” Để thực hiện Nhân, con
người phải giữ lễ : “khắc kỷ phục lễ vi nhân”(Luận Ngữ, Nhan Uyên); và sống theo đạo Trung thứ, Trung thứ có nghĩa là “kỷ sở bất dục vật thi ư
nhân” Nhân là một cảnh giới tối cao nên Khổng Tử bảo rằng : “Ngô đạo nhất dĩ quán chi”(Luận Ngữ, Lý nhân) Cụ Phan Bội Châu giảng chữ Nhất
đó chính là chữ Nhân [ 3, tr 42-52] Trên nền tảng của chữ Nhân, Khổng Tử đề cao ba đức tính nhân - trí - dũng, lấy sự học hỏi và tu thân làm điều kiện tiên quyết cho sự tiến đức
Trang 21Về chính trị, xã hội, Khổng Tử đưa ra học thuyết Chính danh :
“Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”(Luận Ngữ, Nhan Uyên) nhằm tổ
chức một hệ thống chính trị, xã hội lành mạnh, người nào cũng hoàn thành chức phận của mình để xã hội có trật tự, ổn định, và hạnh phúc Ông nhấn
mạnh vào tâm đức và tinh thần phục vụ của người giữ quyền hành : “Vi
chính dĩ đức”(Luận Ngữ, Vi chính) và “Tiên chi lao chi vô quyện”(Luận
Ngữ, Tử Lộ), khuyên nhà cầm quyền phải giữ sự trung tín với dân, trong ba
điều quan trọng đối với nhà cầm quyền : Túc thực, túc binh, dân tín thì ông bảo có thể khử thực, khử binh nhưng nhất định phải giữ dân tín, vì “dân vô
tín bất lập”(Luận Ngữ, Nhan Uyên) Khổng Tử mong ước một xã hội công
bằng, tài vật được phân phối rộng khắp cho mọi người cùng thụ hưởng, ông
không lo sự thiếu hụt nhưng lo sự phân phối không công bằng : “Bất hoạn
quả nhi hoạn bất quân” Khổng Tử đặc biệt quan tâm đến sự giáo dục dân
chúng, ông tin tưởng sự giáo dục có thể cải hóa và thăng tiến con người nên ông chủ trương “hữu giáo vô loài”, và vì thế, trong sự quản trị xã hội ông đề cao lễ nhạc là cái có khả năng cảm hóa con người hơn là dùng hình
ngục : “Lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng, hình phạt bất trúng tắc
dân vô sở thố thủ túc”(Luận Ngữ, Tử Lộ), nghĩa là: “Trong nước không có
giáo dục và văn hóa thì hình phạt không đúng theo công lý, hình phạt không có công lý thì người dân bị đàn áp không chỗ dung thân” [ 3, tr 95-136]
I.2.4 Mạnh Tử
Mạnh Tử là sách ghi chép lại học thuyết của Mạnh Tử Mạnh Tử
(372 - 289 BC) tên là Mạnh Kha, tên chữ là Tử Dư, người huyện Trâu nước Lỗ, học trò của Tử Tư Ông được coi là người đã kế thừa và phát huy tư tưởng của Khổng Tử, được tôn xưng là Á thánh, xếp sau Khổng Tử
Sách Mạnh Tử do chính ông cùng với học trò là Vạn Chương, Công
Tôn Sửu biên soạn gồm có bảy thiên Sau khi ông mất học trò chỉnh lý lại thành sách có thêm bốn thiên gọi là “Ngoại thư”, những thiên ngoại thư này sớm thất truyền Về sau Chu Hy lại chia mỗi thiên thành hai thiên
thượng hạ nên ngày nay sách Mạnh Tử có 14 thiên (chương) Theo cụ Phan
Bội Châu, học thuyết của Mạnh Tử có hai chủ điểm lớn là tâm tính luận và triết lý chính trị
Trang 22- Tâm tính luận : Mạnh Tử cho rằng tính con người sinh ra vốn thiện,
với điều thiện (ái thân kính huynh) ta không cần học cũng làm được, không suy tư cũng biết được, đó là cái lương năng, lương tri của con người Ông ví tính thiện của con người như nước, tính chất của nước là luôn luôn chảy
xuống chỗ thấp, cũng vậy, tính người ai ai cũng hướng thiện : “Nhân tính
chi thiện dã, do thủy chi tựu hạ dã; nhân vô hữu bất thiện, thủy vô hữu bất hạ” Tính thiện là bản tính đồng nhiên, qui kết trong cái tâm trắc ẩn, tu ố,
từ nhượng, thị phi là bốn mối lớn của nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Mạnh Tử đưa
ra phương pháp tồn tâm, dưỡng khí để giữ cho tính thiện của con người y nhiên, sung mãn Tồn tâm là luôn luôn nuôi dưỡng cái tâm trong sáng không bị vật dục làm cho mờ tối, là giữ lấy cái tâm hồn nhiên như con trẻ
(bất thất kỳ xích tử chi tâm) ; dưỡng khí là lấy sự ngay thẳng, lấy điều
chính nghĩa để hằng giờ, hằng ngày nuôi dưỡng tâm mình, không lúc nào quên, nhưng phải luôn kiên trì, không được nôn nóng để cái khí của ta trở nên hoằng đại như trời đất
- Triết lý chính trị : Triết lý chính trị của Mạnh Tử được cụ Phan Bội
Châu phân làm bốn mục lớn :
Chú trọng về công lợi chung mà rất ghét công lợi riêng
Chú trọng về hòa bình mà rất ghét về chinh chiến
Ở trong chính trị mà làm nhân nghĩa, chẳng bao giờ rẽ chính trị nhân nghĩa ra làm hai đường
Chú trọng quyền dân và tôn trọng ý dân
Để thực hiện triết lý chính trị đó, Mạnh Tử chú trọng đến vấn đề giáo dục và kinh tế Về giáo dục ông coi việc giáo dục tâm tính và nhân cách con người là đầu mối gây nên sự thái hòa trong xã hội ; Về kinh tế ông chủ trương chính sách chế sản và phân điền để hạn chế sự chênh lệch quá đáng về giàu nghèo và để cho ai cũng có phương tiện sinh sống Ông quan niệm con người phải có hằng sản thì mới có hằng tâm, và đó là điều kiện thiết yếu cho xã hội ổn định và hạnh phúc
Trang 23II SỰ HỌC HỎI VÀ NGHIÊN CỨU VỀ KINH DỊCH, TỨ THƯ CỦA CÁC TIÊN NHO VIỆT NAM
II.1 Việc tổ chức học hỏi kinh điển Nho giáo
Vào hai triều Lý, Trần nước ta đã tổ chức các kỳ thi Tam giáo để kén chọn nhân tài, nhưng do là bước khởi đầu nên việc học và tổ chức thi cử chưa có qui củ chặt chẻ Triều đại Lý, Trần là thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo nên những người xuất thân từ các cuộc thi Tam giáo là các nhà
sư có tham chiếu học hỏi thêm về Nho và Lão Những người chuyên học về Nho đã xuất hiện và có người rất giỏi như Trương Hán Siêu, người đạt đến sự uyên thâm như Chu Văn An Lực lượng Nho sĩ ngày càng đông đảo, đến triều Lê họ trở thành một lực lượng chính yếu trong kiến trúc thượng tầng của xã hội
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào triều Lê Thánh Tông, năm Quang
Thuận thứ 8 (1467) bắt đầu đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, mỗi người chuyên
nghiên cứu một kinh trong các kinh : kinh Thi, kinh Thư, Lễ ký, Chu Dịch,
Xuân Thu để dạy học trò ở Quốc tử giám Bí thư giám học sĩ Vũ Vĩnh Trinh
đã tâu xin vua ban cấp bản in sách Ngũ kinh cho Quốc tử giám [78, T 2, tr
418 - 419] Đến năm Hồng Đức thứ 3 (1472), định phép thi : “Kỳ thứ nhất
ra 8 đề về Tứ thư, người thi tự chọn lấy 4 đề, làm bốn bài văn, Luận ngữ 4 đề, Mạnh Tử 4 đề, Ngũ kinh 3 đề, người thi tự chọn một đề mà làm Duy kinh Xuân Thu thì hai đề gộp làm một mà làm Kỳ thứ hai thi chế, chiếu, biểu ; mỗi loại 3 đề Kỳ thứ ba, thơ, phú mỗi loại 2 đề ; phú dùng thể Lý Bạch Kỳ thứ tư, 1 bài văn sách, hỏi về chỗ dị đồng trong nghĩa lý của kinh truyện, điều hay dở trong chính sự của các đời” ĐVSKTT, T2, p459) Sau đó, cơ cấu đề thi có thay đổi nhưng kinh điển Nho giáo vẫn là một nội dung chính yếu của các khoa thi, như năm Hồng Đức thứ 6 (1475) : Luận ngữ 3 đề, Mạnh Tử 4 đề, Trung dung 1 đề, Ngũ kinh, mỗi kinh 3 đề, Xuân
Thu 2 đề [78 , T2, tr 465] Lịch triều hiến chương loại chí nhận xét về việc
thi cử để tuyển chọn nhân tài đời Hồng Đức : “Xét : Khoa cử các đời, thịnh nhất là đời Hồng Đức Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp Vì bấy ra đề thi vụ hồn ham đại thể, không trộ bằng những câu hiểm sách lạ, chọn người cốt lấy học rộng thực tài, không hạn định ở khuôn khổ mực thước, cho nên kẻ sĩ bấy giờ học được rộng rãi mà không cần phải tìm tòi tỉ mỉ, tài được đem ra ứng dụng
Trang 24mà không bị bỏ rơi Trong nước không để sót nhân tài, triều đình không dùng lầm người kém Bởi thế điển chương được đầy đủ, chính trị ngày càng hưng thịnh” [ 4, T 2, tr 160] Như vậy từ đời Hồng Đức, việc học tập và thi cử đã được tổ chức hoàn bị, đào tạo được nhiều nhân tài là những người thông suốt kinh điển Nho giáo và phép trị nước Sau thời thịnh trị Hồng Đức, nhà Lê bắt đầu suy yếu, việc triều chính nhiễu nhương, đất nước lao loạn, sự học hành thi cử cũng có điều tệ hại Tuy nhiên, trong hoàn cảnh suy vi đó sự học hỏi Nho giáo cũng vẫn đào tạo ra cho đất nước những con người chân chính và tài giỏi như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhậm v.v
Gia Long thống nhất đất nước, lên ngôi năm 1802, đến năm1807 đã
ra chiếu chỉ về việc thi cử Quy định vào năm Đinh mão mở khoa thi Hương, năm Mậu thìn thi hội, lệ 6 năm thi Hương 1 lần và cách thức ra đầu bài được qui định : “Về việc ra đầu bài thi Hương và thi Hội : tràng thứ nhất dùng hai đầu bài về tứ truyện, 1 bài Đại học hay Trung dung, 1 bài Luận ngữ hay Mạnh Tử, Ngũ kinh đều 1 bài ” [52, T 7, tr 280] Quy định này cũng được nhắc lại vào thời Tự Đức năm thứ tư (1851) : “Thi Hương, thi Hội đầu bài đều ra ở năm kinh, mỗi kinh 1 bài, Tứ thư : 1 bài Đại học hoặc Trung dung, 1 bài ở Luận ngữ hoặc Mạnh Tử” (Kỳ thi thứ 1) [52, T7,
tr 292] Cùng với sự phục hưng của triều Nguyễn, việc học tập và thi cử
được chấn chỉnh, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ mục Khoa cử cho biết
triều Nguyễn có nhiều phép tắc, quy định để việc thi cử được chặt chẽ, nghiêm minh Việc học hỏi về Nho giáo được cổ vũ, vừa lên ngôi năm
1820 Minh Mạng đã ban chiếu : “Thánh nhân để phúc, không gì lớn bằng gây dựng con người, vương giả gia ân, tất trọng về việc tuyển lấy kẻ sĩ Bởi thế không câu nệ gì thể lệ thường chỉ cầu lấy người thực tài Lớn lao thay ! Nhà nước ta chính trị, giáo hóa sáng tỏ, phong trào Nho học chấn hưng ” [52, T 7, tr 199] Việc học hỏi Nho giáo ở triều Nguyễn căn bản là theo Tống Nho, Minh Mạng năm thứ 13 (1832) ban dụ : “Còn về người chấm phê quyển thi những ý nghĩa Ngũ kinh, về Kinh Dịch chủ yếu theo ông Trình tử và Chu tử, Kinh Thư chủ yếu theo nghĩa “Soán truyện”, kinh Thi chủ yếu theo tập truyện Chu Tử, kinh Xuân Thu thì chủ yếu theo bản sử Tả Thị, tham khảo Công Dương, Cốc Lượng hoặc lời nói “Hồ truyện”
Trang 25Lễ ký chủ yếu theo tập thuyết của họ Trần Ý nghĩa Tứ thư chủ yếu theo tập chú của Chu Tử" [52, T 7, tr 287 ]
Nhìn chung, việc học tập và thi cử trải qua các triều đại đều có sự canh cải, thay đổi nhưng Nho giáo vẫn luôn là một nội dung chính yếu và luôn luôn được tổ chức ở kỳ thi thứ nhất của mỗi khoa thi Qua đó, tư tưởng Nho giáo trở thành nền tảng cốt lõi trong đời sống văn hóa và tinh thần của dân tộc ta Đất nước trải qua nhiều vận thịnh suy, nhưng trong hoàn cảnh nào Nho giáo cũng đào tạo được cho đất nước những con người có tài năng và nhân cách
II.2 Sự nghiên cứu về kinh điển Nho giáo
Phương châm học tập của Nho giáo là : Bác học, quảng vấn, thận tư, minh biện, đốc hành Phương châm đó cho thấy sự học của Nho giáo luôn vươn đến thấu triệt vấn đề, đạt đến minh triết và thực hành trong đời sống Trình bày sự nghiên cứu về Nho giáo của các tiên nho Việt Nam, chúng tôi muốn nói rằng các tiên nho Việt Nam là những người thấu triệt tinh lý của Nho giáo và thể hiện ra trong đời sống xã hội cũng như trong nghệ thuật ;
và tác phẩm Chu Dịch, Khổng học đăng của cụ Phan Bội Châu là nằm
trong truyền thống học hỏi và nghiên cứu đó
Chúng tôi tra tìm trong các sách Tìm hiểu kho sách Hán - Nôm của
Trần Văn Giáp và Di sản Hán - Nôm Việt Nam thư mục đề yếu của Trần
Nghĩa và Gros thấy một thư mục khá lớn, nhưng do nhiều nguyên nhân về lịch sử, chính trị, địa lý v.v những trước tác nghiên cứu về Nho giáo của các danh nho Việt Nam bị thất truyền, nhiều tác phẩm chỉ còn lưu lại cái tên trong sử sách Tuy nhiên, với những sách còn lại thì việc khảo cứu nội dung của nó cũng đòi hỏi một công việc to lớn.Vì thế, với mục đích chỉ
cung cấp một cái nhìn khái quát, chúng tôi dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư,
Lịch triều hiến chương loại chí, dẫn lại những lời bàn của Ngô Sĩ Liên dựa
vào kinh Dịch để nói về các vấn đề hưng suy, trị loạn, về đạo vợ chồng, sự
cát hung, cách ứng xử tùy thời ; và trưng dẫn những tác phẩm được ghi nhận
Nói về vận thịnh suy, nhận định về việc Đinh Tiên Hoàng dẹp yên loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước Ngô Sĩ Liên đã đặt vận mệnh của đất nước trong sự vận hành phản phục của vũ trụ quan Dịch : “Vận trời đất, bĩ rồi ắt thái, Bắc Nam đều cùng một lẽ ấy Thời Ngũ đại bên Bắc triều
Trang 26[Trung Quốc] suy loạn rồi Tống Thái Tổ nổi lên Ở Nam triều [nước ta], 12 sứ quân phân chia quấy nhiễu, rồi Đinh Tiên Hoàng nổi lên Không phải là ngẫu nhiên mà do vận trời vậy” [78, T 1, tr 200] Về đạo vợ chồng, Ngô Sĩ
Liên lấy ý răn dạy của Soán từ quẻ Hàm : “ Hàm, hanh, lợi trinh, thú nữ
cát”, nghĩa là : “Trai gái cảm nhau thân thiết tất hanh thông nhưng phải
chính đáng thì lấy nhau mới tốt” [ 2, tr 454] để phê phán việc Lê Đại
Hành lấy vợ của Đinh Tiên Hoàng là thái hậu Dương Vân Nga : “Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, dây mối của vương hóa Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sao ?” [78, T 1, tr 222] Về việc cát hung, nhân việc vua Trần Thái Tông chiêm đoán đúng ngày chết, Ngô Sĩ Liên đã lấy chữ
“thành” để lý giải và khẳng định Dịch học không phải là cái học sấm ký thuật số : “Điềm lành hay tai họa, chỉ có người thành tâm mới có thể biết
trước được Vì thế, Đại truyện trong kinh Dịch có nói : “Hình dung sự vật
thì biết được vật thực, chiêm đoán sự vật thì biết được tương lai” Nhưng tất là sau khi đã suy xét ở trong lòng, nghiền ngẫm trong óc Thái Tông biết được việc tương lai là chiêm đoán sự vật đấy Nhưng nếu không phải là người lý sáng lòng thành, mà cứ thấy việc là phỏng đoán mò để rồi khẳng định, thì chưa bao giờ không chuốc lấy tai họa về sau Đó là cái chỗ khác nhau giữa cái học sấm ký thuật số với cái học thánh hiền chăng ?”
[78, T2, tr 41] Sau này, ta thấy cách lý giải cát hung trong Chu Dịch cũng
nằm trong truyền thống đó Về việc ứng thời xử thế, nhận xét về việc Trần Quốc Tuấn vì sự sống còn của xã tắc mà bỏ mối thù riêng, Ngô Sĩ Liên đã
dùng hào cửu tứ quẻ Tùy : “Tùy hữu hoạch, trinh hung, hữu phu, tại đạo, dĩ
minh hà cựu”[2, tr 295-296], nghĩa là : “Thời Tùy, bậc đại tài được nhiều
người tin theo, lập được công lớn nên nếu cố giữ thế mình thì bị hiềm nghi mà mắc nạn Giữ lòng thành tín, hành động theo đạo lý, lấy đức minh triết mà ứng phó với cuộc đời như thế sẽ tránh được nạn”* để khen ngợi : “Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử, như hào cửu tứ quẻ Tùy thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa
Trang 27Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy” [ 78, T2, tr 54] Giảng về hào từ này, cụ Phan Bội Châu cũng nêu cao tấm giương nhân, trí, tín của Trần Quốc Tuấn : “Xem sử nước ta, như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mới đáng được hào này ( ) nước đã nguy, nhờ đại vương mà được an, vua đã bỏ ngôi, nhờ đại vương mà được phục Đến khi công cao hơn bốn bể, uy chấn trong một đời, mà Ngài thủy chung giữ phận nhân thần, dầu vương phụ khuyên ngài lấy nước, mà Ngài không nghe lời, dầu vua Trần cho Ngài được quyền phong tước, mà Ngài chung thân vẫn chẳng cho ai một đạo bằng Như thế là hữu phu, tại đạo, dĩ minh.” [2 , tr 296]
Về các tác phẩm nghiên cứu Nho giáo, chúng tôi thấy Đại Việt sử ký
toàn thư có ghi nhận 2 tên sách của Hồ Quý Ly cùng với lời nhận xét :
“Quý Ly soạn sách Minh đạo gồm 14 thiên dâng lên Đại lược cho Chu
Công là tiên thánh, Khổng Tử là tiên sư Văn miếu đặt tượng Chu Công ở chính giữa, nhìn về phương Nam, Khổng Tử ở phía bên, nhìn về phương
Tây Cho sách Luận ngữ có bốn chỗ đáng ngờ, như Khổng Tử ra mắt nàng
Nam Tử, Khổng Tử bị hết lương ở nước Trần, Công Sơn, Phật Hất cho gọi, mà Khổng Tử đều muốn tới giúp Cho Hàn Dũ là “đạo nho” ; cho bọn Chu Mậu Thúc, Trình Di, Dương Thì, La Trọng Tố, Lý Diên Bình, Chu Tử, tuy học rộng nhưng ít tài, không sát với sự việc, chỉ thạo cóp nhặt [văn chương người xưa] Thượng hoàng ban chiếu dụ khen.” [78, T2, tr 184 -
185) ; và “Quý Ly làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa và bài tựa, sai nữ sư dạy
hậu phi và cung nhân học tập Bài tựa phần nhiều theo ý mình, không theo
tập truyện của Chu Tử” [78, T2, tr 190] Lịch triều hiến chương loại chí,
mục Văn tịch chí, loại Kinh sử liệt kê một số tác phẩm về Nho giáo như
sau :
- Tứ thư thuyết ước, 10 quyển
Văn Trinh tiên sinh Chu An đời Trần soạn, nay không còn [4, T3, tr 68]
- Chu dịch quốc âm giải nghĩa, 2 quyển
Do lão nho ở huyện Nghi Xuân thuộc Hoan Châu là Đặng Thái Phương soạn Sách được Tham nghị Nguyễn Hạo và Bồi tụng Vũ Di Trai viết tựa Bài tựa của Bồi tụng Vũ Di Trai có đoạn nhận xét về sách : “Tôi
Trang 28xem một lượt thì thấy được ý nghĩa lớn sâu, phân minh như các sao chầu về Bắc cực, nghĩa diệu lời tinh, rõ ràng cho người thường dễ hiểu Người đời
ai muốn học nghĩa lý, có thể nhân đó mà thâu tóm được cả nguyên lý và công dụng, hợp được ý nghĩa tinh vi để xét rõ các lẽ về đạo đức và tính mệnh…” [4, T3, tr 79]
- Dịch kinh phu thuyết, 6 quyển
Bảng nhãn Lê Quí Đôn soạn Trong bài tựa ông nhận xét về nghĩa lý của Dịch : “…Chỉ một câu, nửa lời, mà dùng không thể xiết, đức cao nghiệp rộng thực là ở đó Huống chi thông suốt các quẻ, nghiền ngẫm các hào, trên thì suy đến đạo trời, dưới thì xét đến tình vật, giữa thì tham khảo sự tích của cổ nhân, lời nói việc làm đều trung chính, khi động khi tĩnh rất kính thành, để cho giữ được tốt lành, khỏi được hung dữ, đó chẳng phải là
sơ ý lập giáo của thánh nhân ru ?” ; cho biết cách viết của ông và cách học
Dịch của người quân tử : Cách viết : “Kính đọc lời dạy của thánh nhân,
nghiên cứu truyện nghĩa của họ Trình họ Chu, xét thêm những lời chú thích của tiên nho, có khi xúc động mà phát minh ra, nói thêm mấy lời”,
Cách học : “Các sĩ quân tử học kinh Dịch thì không những là chỉ xem
tượng mà học thuộc lấy lời, xem biến mà học thuộc câu bói, còn cần phải cẩn thận đức hạnh để hiểu ngầm ý của thánh nhân ở ngoài lời sách mới được” [4,T3, 80]
- Thư kinh diễn nghĩa, 3 quyển
Bảng nhãn Lê Quí Đôn soạn Trong bài tựa ông nhận xét về kinh Thư như sau : “ Từ Nghiêu thuấn đến đời Doanh Tần trải hai nghìn năm, từ Tần đến nay lại một nghìn chín trăm năm, các thành cũ của đất Ký, đất Bạc, đất Phong, đất Cảo, đất Giáp Nhục dấu xưa mờ mịt không hỏi vào đâu được, chỉ còn có vài chục thiên sách mà thôi Nhưng mở ra xem thì tâm tính của thánh nhân rành rành như mới ; những lời dạy kính cung, tinh nhất, những việc làm chăm thường chế dụng, cùng là pháp điển để lại, kỷ cương sửa sang, những chính lệnh kính trời thương dân, sáng đức thận hình, dựng nước đặt đô, phong tước chia đất, còn truyền xuống muôn đời” ; và cho biết cách ông viết sách : “Tôi thật ngu lậu, nghiền ngẫm lâu năm, hiểu qua nghĩa lớn, mỗi khi đọc cảm thấy ý vị dào dạt, lý thú vô cùng, chỗ nào xúc động mà phát minh thì tùy bút chép ra, trưng dẫn các truyện ký, bàn
Trang 29bạc việc xưa nay, đều là muốn làm ấn chứng cho sách của thánh nhân”, và
“Đến như những lời truyện chú của tiên nho, hoặc có chỗ giống nhau khác nhau và có chỗ đáng ngờ thì đều có biện chính sơ qua, vì rằng văn tự là của công thiên hạ, tôi không dám nhất định theo một nhà chú giải nào mà không tìm xét cho đúng ý nghĩa của sách, cũng không sính làm lời bàn mới lạ để trái với lời bàn trước của Y Xuyên [Trình Di] và Khảo Đình [Chu Hy]” [4,T3, tr 81]
- Tứ thư ngũ kinh toản yếu, 15 quyển
Thám hoa Nguyễn Huy Oánh soạn Lượm lặt tất cả các độc bản của các danh gia, soạn chép những điều cốt yếu Nhưng tựu trung sửa chữa thay đổi rất nhiều thành ra xuyên tạc [4, T3, tr 83]
- Xuân thu quản kiến, 12 quyển
Tiến sĩ Thanh Oai là Ngô Thì Nhậm soạn Dung hội những chỗ khác nhau giống nhau trong ngũ truyện, bàn luận rõ ràng thú vị [4, T 3, tr 83]
III GIỚI THIỆU VỀ CHU DỊCH VÀ KHỔNG HỌC ĐĂNG.
3.1 Hoàn cảnh sáng tác
Khổng học đăng được viết vào năm Kỷ tỵ (1929), Chu Dịch không rõ
được viết vào năm nào, nhưng chắn chắn là trước năm 1944 là năm cụ Phan mất
Vào đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã dập tắt tất cả các phong trào kháng chiến của nhân dân ta và ra sức kiện toàn bộ máy thống trị của họ để tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất Trong chương trình khai thác này, người Pháp tiến hành chiếm đoạt đất đai thiết lập nên các đồn điền trồng cao su rộng lớn ở miền Nam và cao nguyên miền Trung
; khai thác khoáng sản ở miền Bắc, miền Trung ; thực hiện các chính sách độc quyền về sản xuất, buôn bán trong nước và ngoại thương ; đặt ra nhiều thứ thuế để đánh vào dân ta Người Pháp ra sức thâu tóm mọi nguồn lợi kinh tế của nước ta, biến nước ta vốn là một nước nghèo nàn và lạc hậu về kinh tế ngày càng trở nên kiệt quệ Những người không có ruộng đất trở thành những phu đồn điền cao su và công nhân khai thác mỏ Họ bị bóc lộc sức lao động và đối xử tệ hại Đời sống của người nông dân cũng lâm vào
Trang 30tình cảnh bi đát, các thứ thuế và nghĩa vụ phu dịch khác đè nặng lên đời sống của họ
Mặc khác, vào thời gian này bộ mặt văn hóa, giáo dục của nước ta cũng có nhiều thay đổi Việc học tập và thi cử dần dần được cải cách theo hướng hiện đại, các khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn đã đưa vào thi các môn học thực dụng và ngoài phần thi viết bằng chữ Hán còn có phần thi viết bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp Đến năm 1918, là năm tổ chức khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn, việc học tập và thi cử theo lối cũ hoàn toàn chấm dứt Từ đây, chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hành chánh, giáo dục, văn học.v.v Đối với chữ Quốc ngữ, các nhà trí thức nước ta đã nhìn thấy khả năng to lớn của nó trong việc nâng cao dân trí, phổ biến tri thức và học thuật nên đã ra sức cổ xúy cho việc học tập và sử dụng chữ Quốc ngữ Nổi bật trong nổ lực cổ xúy đó là
sự ra đời và hoạt động tích cực của các tờ báo bằng chữ Quốc ngữ như :
Lục tỉnh tân văn (1907), Nữ giới chung (1918), Trung Bắc tân văn (1922), Tân thế kỷ (1927).v.v Báo chí đã đóng một vai trò quan trọng trong việc
nâng cao trình độ dân trí của nước ta, phổ biến khoa học, tư tưởng triết học, chính trị, văn hóa xã hội của phương Tây Nhờ đó nước ta dần dần thoát khỏi sự bưng bít tù hãm, cô lập để hòa nhập với thế giới bên ngoài Một hoạt động quan trọng khác là phong trào Đông kinh nghĩa thục do nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng cùng một số đồng chí khác của ông tổ chức Phong trào này lập trường dạy học bằng chữ Quốc ngữ để phổ biến kiến thức, thức tỉnh và khuyến khích tinh thần tự lực tự cường của dân ta Lo ngại trước ảnh hưởng ngày một lan rộng của phong trào, người Pháp đã đóng cửa trường học, bắt đưa đi tù đày các nhà tổ chức của phong trào
Tuy các phong trào kháng chiến đều thất bại, nhưng sự chống đối của nhân dân ta đối với sự xâm lược và cai trị của thực dân Pháp vẫn như một ngọn lửa cháy âm ỉ trong lòng xã hội chỉ chờ dịp là bùng lên thành những phong trào đấu tranh rộng lớn Vì thế, thực dân Pháp trong khi tiến hành khai thác và bóc lột thuộc địa đã thi hành một chính sách đàn áp, kiểm soát gắt gao để đè nén, kìm hãm mọi sự phản kháng của nhân dân ta, ngăn ngừa không cho những phản kháng đó bộc phát thành những phong trào rộng lớn Những nhà hoạt động cách mạng bị bắt, bị tù đày, bị giết chết Mặc dù bị đàn áp nhưng tinh thần quật khởi của nhân dân ta vẫn
Trang 31không ngừng bộc phát, liên tiếp nhau nhiều phong trào đấu tranh nổ ra để đòi phá bỏ ách thống trị của thực dân Pháp đem lại độc lập tự do cho đất nước Phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh lãnh đạo và phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo là hai phong trào thu hút được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, trí thức và nhất là của thanh niên Hai phong trào này cũng bị thực dân Pháp đàn áp, bản thân cụ Phan Bội châu
bị kết án tử hình vắng mặt và khi bắt được cụ người Pháp giam lỏng cụ tại Huế cho đến ngày cụ mất (1944)
3.2 Những đặc điểm nổi bật của Chu Dịch và Khổng học đăng
Chu Dịch và Khổng học đăng là hai tác phẩm triết học quan trọng
chú giải các tác phẩm kinh điển của Nho giáo Chúng tôi dựa vào các chú giải đó để tìm hiểu triết lý Nho giáo, trong những phần đã viết ở trên, qua các trích dẫn, học viên đã phần nào giới thiệu nội dung của hai tác phẩm đó, trong các phần tiếp theo của luận văn chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cụ thể và sâu rộng hơn, vì thế, trong phần này chúng tôi chỉ nêu lên một số đặc điểm của hai tác phẩm trên
3.2.1 Sự am hiểu sâu sắc tinh thần triết lý Nho giáo
Cuốn Chu Dịch được giới học giả đánh giá rất cao vì tính chất thâm thúy và lịch lãm trong các chú giải ý nghĩa kinh điển của cụ Phan Bội Châu Giới thiệu về Chu Dịch, cụ Huỳnh Thúc Kháng viết : “Thuở nay nhiều người xem bộ Chu Dịch như một thứ sách chỉ dùng về việc bói, việc số, đã không có ích cho đời, mà lại dẫn người đời vào cõi mê tín Nay có bản sách này, không khác gì dọn gai gốc mà thấy đường bằng, vẹt mây mù mà thấy mặt trời, làm cho chân tướng triết học của thánh hiền Đông phương bị che lấp mấy trăm đời, nay được bày tỏ một cách sáng suốt, giá trị của bản sách này không phải là ít” [2, tr 8] Cách đọc và chú giải kinh điển của cụ Phan là lấy cái tâm, cái trực giác cùng những kinh nghiệm từng trải trong cuộc đời để đọc cái ý nghĩa hàm chứa, ẩn dấu bên dưới bề mặt chữ nghĩa của kinh văn, cụ thường viết : “Người vận dụng được hào không phải hào vận dụng được người Xin học giả chớ nệ văn mà không biết lý” [2, tr 495], và “Chúng ta nhận rõ ý nghĩa chữ Vị tế, mới biết được thì vận vẫn là vô cùng Nhận được ý nghĩa hai chữ Tri tiết, lại biết được thiên thì cũng cần có nhân sự Thì, là tạo hóa tự nhiên, chung tắc hữu thỉ ; Tiết là
Trang 32đạo lý đang nhiên, tri mới năng hành Ý nghĩa Dịch dạy người thâm thiết như thế, chúng ta khi mở quyển mà xem, cũng nên ư khi xếp quyển mà nghĩ, chứ không phải đọc quẻ xem hào mà xong” [2, tr 868] Vì thế, khi giảng giải cụ thường nhấn mạnh vào những điều cốt yếu, những điểm then chốt, làm nổi bật lên ý nghĩa sâu sắc và bao quát nhất của kinh văn, giảng
câu : “Như ố ác xú, như hiếu hảo sắc, thử chi vị tự khiểm, cố quân tử tất
thận kỳ độc dã” cụ viết : “Bốn câu này nên chú ý vào hai chữ “tự khiểm”,
mà hai chữ “thận độc” lại càng nên chú ý lắm Tinh thần tuyền chương, quí trọng nhất là bốn chữ ấy” [3, tr 342]
3.2.2 Tấm lòng và tình cảm sâu nặng đối với đời sống và đạo lý
Trong phần Phàm lệ cuốn Khổng học đăng cụ Phan đã viết những
câu như rút từ trong gan ruột của mình ra, đó là lời thề của cụ trước những hạng người vô đạo lý mà cụ cho là không xứng đáng trước cái học của thánh hiền: “Cái danh từ học cũ chẳng phải là cái đồ để đánh cắp áo mũ cân đai đâu ! Cái danh từ học mới chẳng phải là cái mồi để hót gạt mề đay kim khánh đâu ! Vậy nên tác giả xin thề trước với ba hạng người :
a Hạng người chỉ tranh ngôi thứ xôi thịt trong đình làng
b Hạng người muốn lòe loẹt khoe khoang, lấy om cơm túi bạc làm mồi hạnh phúc
c Hạng người xu quyền phụ thế, lấy đồng bào chủng tộc làm mồi vinh thân
Ba hạng người ấy, tác giả xin chớ đọc đến quyển sách này ; mà tác giả cũng chắc trước rằng họ nhất định không thèm đọc” [3, tr 14]
Trong phần phụ chú cuốn Chu Dịch, cụ Phan thường viết những lời
cảm thán tràn đầy tâm huyết với đời sống : “Chúng ta đọc Dịch từ lúc có Càn, Khôn, Trải qua trung gian, nào Truân mà kinh luân ; nào Mông mà giáo dục, nào Nhu mà sinh tụ ; nào Tụng nào Sư mà sắp đặt việc hình việc binh, nào Súc, nào Lý mà chỉnh đốn việc kinh tế, việc lễ chế ; hao tổn biết bao nhiêu tâm huyết, chứa trữ biết bao nhiêu thì giờ Kể về phần khảm hiểm trải qua đến sáu lần :
1 Truân, Khảm thượng 2 Mông, Khảm hạ
3 Nhu, Khảm thượng 4.Tụng, Khảm hạ
Trang 335 Sư, Khảm hạ 6 Tỷ, Khảm thượng
Thoát khỏi sáu lần nguy hiểm rồi Vậy sau trong có chốn nuôi, trữ là Tiểu Súc, ngoài có chốn bằng tạ là Lý Bây giờ mới làm nên Thái Thái vừa đến cuối cùng tức khắc ra bỉ Ghê gớm thiệt ! Làm nên tốn vô số công phu, mà làm hư chỉ trong chốc lát Vun đắp biết bao nền tảng, mà đánh đổ chỉ trong nháy mắt Chúng ta đọc Dịch, thử xem từ Càn, Khôn trải qua tám quẻ mới đến Thái VừaThái xong tức khắc tới Bỉ Than ôi ! Thành sao khó thế, bại sao dễ rư ? Phúc sao chậm thế, họa sao chóng rư ? Những người có trách nhiệm vơí quốc gia xã hội, há chẳng nên lưu tâm vào chốn ấy hay sao
?” [2, tr 223 - 224]
3.2.3 Văn phong giản dị, trong sáng, dễ hiểu
Giảng một triết lý thâm thúy nhưng cụ Phan luôn luôn dùng những lời lẽ giản dị dễ hiểu, dùng từ đặt câu rất mạch lạc nên khi giảng về những
vấn đề có tính cách hình nhi thượng hay những vấn đề mà xưa nay có nhiều
hiểu lầm, sự trình bày của cụ vẫn rất cụ thể và rõ ràng Như khi giảng ý nghĩa thực sự của hai chữ “quỷ, thần”, cụ viết : “Nguyên chân lý trong vũ trụ đã có dương thời có âm ; đã có minh thời có u ; đã có sinh thời có hóa ; bản thể của chân lý vẫn như thế Nhưng đến lúc tác dụng của chân lý thời âm với dương, u với minh, hóa với sinh, thường tiếp tục mà bổ trợ cho nhau; theo về mặt “dương, minh, sinh” mà nói, thời gọi bằng “thần” ; theo về mặt “âm, u, hóa” mà nói thời gọi bằng “quỷ” Quỷ vẫn là thần ở trong bản thể, mà thần lại là quỷ ở nơi tác dụng Vì bản thể có thực tướng, nên nói “thần” phải kềm với chữ “quỷ”, vì công dụng không phạm vi, nên nói
“quỷ” phải cặp với “thần” Nhưng mà quỷ thần là thuộc về triết lý, nếu chúng ta không thông thấu triết học, thời khó hiểu cho tới nơi” [3, tr 426]
Trang 34Điểm quy chiếu của mọi kinh nghiệm, mọi sự từng trải trong đời sống là quan niệm về con người, bởi thế, người minh triết là người có ánh mắt nhìn thấu suốt thân phận, vận mệnh của con người Quan niệm về con người có một âm vang rất lớn trong nghệ thuật Có thể nói rằng nghệ thuật chính là sự thông hiểu về con người được trình bày thông qua những hình thức biểu hiện của cái đẹp Nguyễn Đăng Thục khi khảo sát thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du đã thấy rằng nghệ thuật đó là tấm gương : “Phản chiếu bản tính con người tới điểm sâu xa, nó là tiếng vọng của đáy lòng, của những tầng lớp tâm lý mà ý thức chưa biết đến” [60, tr 96] Vậy, để hiểu được nghệ thuật thì điều quan trọng là phải hiểu được quan niệm về con người là cái tạo nên nền tảng thâm sâu của những biểu hiện nghệ thuật
Trong triết học Trung Quốc quan niệm về bản tính con người cũng có nhiều trường phái, theo Nguyễn Hiến Lê thì có tới 6 thuyết :
- Thuyết tính thiện của Mạnh Tử
- Thuyết tính không thiện không ác của Cáo Tử
- Thuyết tính vừa thiện vừa ác (không biết của ai)
- Thuyết tính có thiện có ác (cũng không biết của ai)
Trang 35- Thuyết tính siêu thiện ác của Trang Tử
- Thuyết tính ác của Tuân Tử
Trong sáu thuyết trên thì thuyết tính thiện của Mạnh Tử và thuyết tính ác của Tuân Tử là hai thuyết trái nhau do hai cao đệ của cùng học phái Nho giáo đề xướng
I.1 Quan niệm tính thiện của Mạnh Tử
Theo Mạnh Tử, bản tính con người vốn thiện nhưng vì do những hoàn cảnh khác nhau nên sinh ra người thiện kẻ ác Ông cho rằng cái lương năng, lương tri là bẩm tính tiên thiên, phổ quát nơi con người Ông
viết : “Nhân chi sở bất học nhi năng giả, kỳ lương năng dã; sở bất lự nhi tri
giả, kỳ lương tri dã Hài đề chi đồng, vô bất tri ái kỳ thân giả, cập kỳ trưởng dã vô bất kính kỳ huynh dã Thân thân nhân dã, kính trưởng nghĩa dã; vô tha, đạt chi thiên hạ dã”[3, tr 516], nghĩa là : “Người ta có những điều
không cần học mà vẫn làm được, cái (khả năng) đó gọi là lương năng ; có những điều không cần suy nghĩ mà vẫn biết được, cái (khả năng) đó gọi là lương tri Trẻ nhỏ không đứa nào là không biết yêu cha mẹ nó, khi lớn lên không đứa nào là không biết kính trọng anh nó Thương yêu cha mẹ là lương năng thuộc về tính nhân, kính trọng anh là lương năng thuộc về tính nghĩa Cái đó chẳng có chi khác là lương năng, lương tri phổ quát của con người”* Mạnh Tử còn lấy hình ảnh nước luôn luôn chảy xuống chỗ thấp
để ví với bản tính của con người là luôn luôn thiện : “Nhân tính chi thiện
dã, do thủy chi tựu hạ dã; nhân vô hữu bất thiện, thủy vô hữu bất hạ”, nghĩa
là : “Tính thiện của con người cũng như nước chảy xuống chỗ thấp vậy ; Người không ai là không thiện (cũng như) nước không bao giờ lại không chảy xuống chỗ thấp” Để luận chứng cho tính thiện của con người, Mạnh
Tử đưa ra thuyết “tứ đoan” : “Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm; sở dĩ vị
nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm giả, kim nhân sạ kiến nhụ tử tương nhập ư tỉnh, giai hữu truật dịch trắc ẩn chi tâm, phi sở dĩ nạp giao ư nhụ tử chi phụ mẫu dã, phi sở dĩ yếu dự ư hương đãng bằng hữu dã, phi ố kỳ thanh nhi nhiên dã ! Do thị quan chi, vô trắc ẩn chi tâm phi nhân dã, vô tu ố chi tâm phi nhân dã, vô từ nhượng chi tâm phi nhân dã, vô thị phi chi tâm phi nhân dã Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã; tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan
Trang 36dã; từ nhượng chi tâm, lễ chi đoan dã; thị phi chi tâm, trí chi đoan dã Nhân chi hữu thị tứ đoan dã, do kỳ hữu tứ thể dã; hữu thị tứ đoan nhi tự vị bất năng giả, tự tặc dã” [ 3, tr 525 - 528], nghĩa là : “Con người ai cũng có lòng
nhân ái, sở dĩ nói như vậy là vì nếu có người chợt thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng thì đều động lòng thương xót Thương xót chẳng phải vì muốn kết giao cùng cha mẹ đứa trẻ, chẳng phải vì muốn được tiếng khen nơi chòm xóm, cũng chẳng phải vì sợ tiếng xấu Từ đó mà xét, không có lòng trắc ẩn không phải là người, không có lòng xấu thẹn không phải là người, không có lòng từ nhượng không phải là người, không có lòng phân biệt phải trái không phải là người Trắc ẩn là đầu mối của lòng nhân, xấu thẹn là đầu mối của nghĩa, từ nhượng là đầu mối của lễ, phân biệt phải trái là đầu mối của trí Con người có bốn mối đó như cơ thể có tay và chân vậy, có bốn mối đó mà tự bảo mình không có lương năng lương tri là tự hại mình vậy”* Nhân, nghĩa, lễ, trí là những bản tính thiện hảo của con người, mà đã là người thì ai cũng có cái lòng trắc ẩn, tu ố,từ nhượng, thị phị làm đầu mối để khêu gợi lên cái bản tính thiện hảo đó Mạnh Tử bảo đó là bản tính “đồng nhiên” của con người, mà thánh nhân là người “nhi nhiên” đạt
được cái tính “đồng nhiên” đó : “Tâm chi sở đồng nhiên giả, hà dã ? Vị lý
dã, nghĩa dã ; thánh nhân tiên đắc ngã tâm chi sở đồng nhiên nhĩ Cố lý nghĩa chi duyệt ngã tâm, do sô hoạn chi duyệt ngã khẩu”[3, tr 520], nghĩa là
: “Cái đồng nhiên của con tâm là gì ? Là lý và nghĩa vậy Thánh nhân là người “nhi nhiên” đạt được cái đồng nhiên của tâm ta Vì thế, lý nghĩa làm vui tâm ta cũng giống như thức ăn làm miệng ta thích”* (Hai chữ “tiên đắc” rất khó dịch, chúng tôi dùng chữ “nhi nhiên” để dịch lại, đó chỉ là cách dịch thể hiện một cảm nhận mà thôi) Còn đối với phàm nhân, Mạnh Tử giải thích sở dĩ mà có người bất thiện là do hoàn cảnh sống gây nên,
ông viết : “Phú tuế tử đệ đa lại, hung tuế tử đệ đa bạo Phi thiên chi giáng
tài nhĩ thù da Kỳ sở dĩ hãm nịch kỳ tâm giả, nhiên dã Kim phù mâu mạch, bá chủng nhi ưu chi, kỳ địa đồng, thụ chi thời hựu đồng, bột nhiên nhi sinh, chí ư nhật chí chi thời giai thục hỹ Tuy hữu bất đồng tắc địa hữu phì nhiêu, vũ lộ chi dưỡng, nhân sự chi bất tề dã”, nghĩa là : “Những năm no đủ, bọn
con em phần lớn hiền lành, những năm đói kém, bọn con em phần lớn hung bạo Chẳng phải tại trời phú cho tính chất khác nhau như thế Chỉ tại hoàn cảnh nhận chìm con tim mới ra như vậy Nay như lúa mâu, lúa mạch,
Trang 37đem gieo hạt rồi lấp đất lên Đất như nhau, thời gian gieo trồng như nhau, những cây lúa vụt mọc lên, đúng ngày đúng tháng đều chín cả Tuy vậy, thu hoạch có khác nhau, là vì đất màu mỡ hoặc chai phèn, vì mưa và sương bồi dưỡng không đều nhau, vì người chăm sóc không đều nhau vậy” [31, tr
1207 - 1210]
Chủ trương tính thiện nên Mạnh Tử chú trọng vào việc giáo dục và
tu dưỡng để khuếch sung cái bản tính thiện của con người như dưỡng một ngọn lửa mới nhen, mạch nước mới chảy Ông đứa ra phương pháp “tồn
tâm, dưỡng khí, quả dục” để tu dưỡng, giữ gìn cái “bình đán chi khí", cái
“dạ khí” tức là cái tâm tưởng tốt đẹp của con người cho nó thuần hậu, khi
đó cái tính thiện của ta tự nhiên thể hiện ra mà ta không tự biết
I.2 Quan niệm tính ác của Tuân Tử
Mạnh Tử cho rằng nhân nghĩa lễ trí là bản tính của con người, ngược lại, Tuân Tử bảo ham lợi, ghen ghét, sắc dục là bản tính con người sinh ra
là đã có và thuận theo tính thì sinh ra mọi điều bất thiện Ông viết : “Kim
nhân chi tính sinh nhi hiếu lợi yên, thuận thị cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên ; sinh nhi hữu tật ố yên, thuận thị cố tàn tặc sinh nhi trung tín vong yên ; sinh nhi hữu nhĩ mục chi dục, hữu hiếu thanh sắc yên, thuận thị cố dâm loạn sinh, nhi lễ nghĩa văn lý vong yên Nhiên tắc tòng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tất xuất vu tranh đoạt hợp vu phạm phận, loạn lý nhi quy vu bạo Cố tất tương hữu sư pháp chi hóa, lễ nghĩa chi đạo, nhiên hậu xuất từ nhượng, hợp vu văn lý nhi quy vu trị Dụng thử quan chi, nhiên tắc nhân chi tính ác minh hỹ, kỳ thiện giả ngụy dã”, nghĩa là : “Tính con
người sinh ra là hiếu lợi, thuận theo tính đó thì thành ra tranh đoạt lẫn nhau mà sự từ nhượng không có; sinh ra là đố kỵ, thuận theo tính đó thì thành ra tàn tặc, mà lòng trung tín không có; sinh ra là có lòng muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc, thuận theo tính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa văn lý không có Như thế thì theo cái tính của người ta, thuận cái tình của người ta, tất sinh ra tranh đoạt, phạm vào cái phận (tức quyền lợi của nhau), làm loạn cái lý mà mắc lỗi tàn bạo Cho nên phải có thầy, có phép để cải hóa (cái tính) đi, có lễ nghĩa để dắt dẫn nó, rồi sau mới có từ nhượng, hợp văn lý và thành ra trị Xét vậy cái tính của người ta ác là rõ lắm, mà cái thiện của tính người là người ta gây ra vậy” [42, q2, tr 76-77]
Trang 38Tuy nhiên, Tuân Tử cũng mặc nhiên nhìn nhận cái tính thiện nơi con người, và theo ông, nếu lấy nhân, nghĩa, pháp, chính mà giáo hóa thì bất
kỳ ai cũng trở thành người như vua Vũ Ông viết : “Đồ chi nhân khả dĩ vi
Vũ, hạt vị dã ? Viết : Phàm Vũ chi sở dĩ vi Vũ giả, dĩ kỳ nhân, nghĩa, pháp, chính dã Nhiên tắc nhân, nghĩa, pháp, chính, hữu khả tri khả năng chi lý; nhiên nhi đồ chi nhân dã, giai khả dĩ tri nhân, nghĩa, pháp, chính chi chất, giai hữu khả dĩ năng nhân, nghĩa, pháp, chính chi cụ, tại đồ chi nhân minh hĩ", nghĩa là : “Người ngoài đường - tức bất kỳ người thường nào - cũng có
thể thành vua Vũ được, là nghĩa làm sao ? Đáp : Vua Vũ sở dĩ thành vua Vũ là nhờ nhân, nghĩa, pháp, chính Nhân, nghĩa, pháp, chính có cái lẽ biết được làm được ; mà người đi ở ngoài đường kia đều có cái tài chất để có thể hiểu được nhân, nghĩa, pháp, chính, đều có cái tài chất để có thể làm được điều nhân, nghĩa, pháp, chính, vậy họ có thể thành vua Vũ, lẽ đó rõ ràng Cái tài chất để có thể biết được, cái tài chất để có thể làm được đều có ở trong con người ngoài đường, lẽ đó rõ ràng.” [42, q2, tr 79] Vì tin con
người vốn có cái khả dĩ năng, khả dĩ tri (tức là cái lương năng, lương tri như
Mạnh Tử) nên Tuân Tử cũng đưa ra phương pháp dưỡng tâm, thận độc để
tu dưỡng : “Quân tử dưỡng tâm mạc thiện ư thành; quân tử chi chí đức mặc
nhiên nhi dụ, dĩ thận kỳ độc dã”, nghĩa là : “Người quân tử nuôi lấy tâm
mình, chẳng gì hơn đức thành Đức rất tốt của người quân tử, im lặng vậy mà tự mình hiểu lấy , cốt kính cẩn ở chốn một mình mình biết đó vậy” [3,
tr 814]
Nhận xét về hai thuyết tính thiện và tính ác, cụ Phan Bội Châu viết :
“Học giả nhận rõ được nghĩa chữ “tính” của thầy Tuân và nghĩa chữ
“ngụy” của người đời xưa thời biết được học thuyết “tính ác” của thầy Tuân, chẳng những không phản đối với thuyết “tính thiện” của thầy Mạnh, mà có lẽ bổ túc cho thầy Mạnh Bởi vì trong lời tính thiện của thầy Mạnh, chuyên chú trọng về mặt lương tâm mà bỏ sót về phía tình dục Nói cho đúng, tính chỉ là một cái máy hoạt động, vẫn chứa sẵn lương tâm mà cũng chẳng phải không tình dục Chúng ta tóm góp cả học thuyết hai nhà thời hữu ích với công học vấn càng nhiều lắm.” [3, tr 805] Nguyễn Hiến Lê
trong Đại cương triết học Trung Quốc cũng đưa ra một nhận xét tương tự :
“Tuy nhiên hai nhà khác nhau ở khởi điểm mà quy kết thì như nhau Hai thuyết bổ túc lẫn nhau Mạnh Tử chú trọng về lương tâm mà bỏ sót tình
Trang 39dục, cho nên Tuân Tử phải nhắc đến tình dục, để ta đề phòng nó Mạnh Tử đưa ra thuyết tính thiện để ta theo tính mà làm điều thiện, Tuân Tử đưa ra thuyết tính ác để ta sửa tính mà chẳng làm điều ác Cả hai đều tin rằng sự giáo hóa có hiệu quả, hoàn cảnh có ảnh hưởng đến tính con người” [42, q2,
Chữ "Hiếu " trở thành một nền tảng của đạo đức : "Hiếu giả đạo chi bản
dã" Theo đó, Nho giáo là một học thuyết thực dụng về luân lý và đạo đức
nhằm đưa ra những mô hình ứng xử trong các quan hệ xã hội ; là một học thuyết quản lý xã hội Tuy nhiên, quan niệm về huyết thống chỉ là một bộ phận trong cái tổng thể quan miệm về con người rất thâm trầm sâu sắc của Nho gia ; những chỉ dẫn về hành vi luân lý, đạo đức là những mô hình được thiết lập dựa trên những suy tư về con người ở tầm mức vũ trụ Cụ Phan Bội Châu viết : “Nhân là người, ai cũng biết cả, nhưng trong ý nghĩa chữ
nhân, phải bao bọc cả thiên, địa, vật, ngã Vì có tham hợp với trời đất mà
làm tam tài mới thành được nhân ; mà trong phạm vi chữ nhân phải bao bọc cả vật với ngã ” [3, tr 648]
Từ đây ta thử tìm hiểu quan niệm về con người đó được phát biểu như thế nào qua sự chú giải của Phan Bội Châu trong hai tác phẩm triết
học quan trọng của ông là Chu Dịch và Khổng học đăng
II.1 Chí Thành - chí trung - hòa : Con người ở bình diện Thái cực
- Lưỡng nghi
Sách Trung Dung, chương 26 viết : "Thiên địa chi đạo, khả dĩ nhất
ngôn nhi năng tận dã, kỳ vi vật bất nhị, tắc kỳ sinh vật bất trắc", nghĩa là :
“Đạo của Trời đất có thể thâu tóm vào trong một chữ ; vật "thuần thành chuyên nhất"(chữ dùng của cụ Phan Bội Châu trong Khổng học đăng, trang
Trang 40480) nên sinh hóa vô biên” Một chữ ở đây chính là chữ thành Vậy thành là gì ? Thành là cái chân lý bản nhiên của vật, là sự hiện hữu cùng cực thâm sâu Ở tầng nấc hiện hữu cùng cực thâm sâu đó, vật hiện hữu trong tính cách độc lập, tức nó là chính nó, nó là tự nó Vật có đủ túc lý cho sự
hiện hữu của nó, nó không cần đưa thêm vào bất kỳ điều kiện hay yếu tố
ngoại tại nào (Kỳ vi vật bất nhị) Trong tư thế hiện hữu đó, sự sinh hóa của
vật là vô biên (Tắc kỳ sinh vật bất trắc) Điều này được diễn tả trong kinh Dịch qua câu : "Dịch hữu thái cực thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái" Quá trình sinh hóa từ Thái cực > Lưỡng
nghi > Tứ tượng > Bát quái đó được thể hiện qua mô hình Thái cực đồ :
( Vì lý do kỹ thuật hình vẽ này chưa hoàn chỉnh, xin vui lòng xem hình vẽ hoàn chỉnh ở trang đã in)
Nhìn vào Thái cực đồ, ta thấy tâm điểm Thái cực là một vòng tròn
“thuần thành chuyên nhất", từ đó, lan tỏa ra các vòng tròn khác mà càng ra bên ngoài thì càng lớn và càng phồn tạp Điều này diễn tả năng lượng nội sinh to lớn của vòng tròn trung tâm (của Thái cực) Do vậy sách Trung
Dung, chương 26 viết : “Cố chí thành vô tức Bất tức tắc cửu ; cửu tắc trưng
; trưng tắc du viễn, du viễn tắc bác hậu ; bác hậu tắc cao minh Bác hậu sở
dĩ tái vật dã; cao minh sở dĩ phú vật dã ; du cửu sở dĩ thành vật dã Bác hậu phối địa cao minh phối thiên ; du viễn vô cương", nghĩa là : “Chí thành
không ngơi nghỉ Không ngơi nghỉ thì tất lâu dài, lâu dài thì tất có chứng nghiệm rõ ràng, có chứng nghiệm rõ ràng thì tất ảnh hưởng xa rộng, ảnh hưởng xa rộng thì tất rộng dày, rộng dày thì tất sáng tỏ Rộng dày nên chở được vật, sáng tỏ nên che được vật, lâu dài nên tác thành vật Rộng dày sánh với đất, sáng tỏ sánh với trời, lâu dài vô hạn” [3, tr 478] Khái niệm