1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu điều kiện trong tiếng việt (có so sánh với tiếng nhật)

232 96 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu điều kiện trong tiếng Việt (có so sánh với tiếng Nhật)
Tác giả Lê Thị Minh Hằng
Người hướng dẫn PGS.TSKH. Lý Toàn Thắng
Trường học Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh
Thể loại Luận án tiến sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 232
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên hai tiêu chí ngữ nghĩa cốt lõi của quan hệ điều kiện là quan hệ nhân quả và tính giả định, Luận án đưa ra một đề nghị phân loại câu điều kiện tiếng Việt 9 tiểu loại.. Việc nghiê

Trang 1

LÊ THỊ MINH HẰNG

CÂU ĐIỀU KIỆN TRONG TIẾNG VIỆT

(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG NHẬT)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh

Mã số: 02.50.47 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn: PGS.TSKH LÝ TOÀN THẮNG

Tp Hồ Chí Minh – 2005

Trang 2

LÊ THỊ MINH HẰNG

CÂU ĐIỀU KIỆN TRONG TIẾNG VIỆT

(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG NHẬT)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh

Mã số: 02.50.47 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn: PGS.TSKH LÝ TOÀN THẮNG

Tp Hồ Chí Minh – 2005

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

2 Mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

2.2 Phạm vi nghiên cứu

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2

2

2

2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Về mặt lý luận

4.2 Về mặt thực tiễn

5

1.1.1 Tổng quan về một số tác giả và công trình nghiên cứu ở

nước ngoài về câu điều kiện

9

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu câu điều kiện tiếng Việt 15 1.2 Những tiền đề lý luận liên quan đến đề tài 23 1.2.1 Xác định khái niệm “câu điều kiện” 23 1.2.2 Xác định hướng tiếp cận của đề tài 26 1.2.3 Quan hệ nhân quả trong câu điều kiện 27

1.2.6 Quan hệ giữa câu nguyên nhân (causals) và câu điều kiện

(conditionals)

33

1.2.7 Tính hiện thực từ góc nhìn của người nói 35 1.2.8 Quan điểm của Akatsuka đối với M1 là thông tin mới 37 1.2.9 Một số vấn đề nhận thức luận liên quan đến câu điều kiện 38

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ PHƯƠNG TIỆN HÌNH

THỨC BIỂU HIỆN CÂU ĐIỀU KIỆN TRONG TIẾNG VIỆT

45

Trang 4

2.1.2.1 Tiêu chí phân loại

2.1.2.2 Các bước phân loại câu điều kiện

2.1.2.3 Kết quả phân loại câu điều kiện

47

49

52 2.1.3 Về mối quan hệ giữa câu điều kiện và các phong cách chức năng 53 2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều kiện 55 2.2.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều kiện điển hình 55 2.2.1.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều kiện giả định phản thực 55 2.2.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều kiện giả định giả thiết 57 2.2.1.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều kiện giả định giả thiết

có điều kiện thật

59

2.2.1.4 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều kiện giả định phản

thực có điều kiện thật

61

2.2.1.5 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều kiện phi giả định: phi

giả định tất yếu và phi giả định tập quán

62

2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều kiện không điển hình 64 2.3 Phương tiện hình thức biểu hiện câu điều kiện trong tiếng Việt 70 2.3.1 Nhóm phương tiện biểu hiện riêng 71

CHƯƠNG 3: CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG VIỆT DƯỚI GÓC ĐỘ

NGỮ DỤNG

108

3.1 Câu điều kiện dưới góc độ lý thuyết hành động ngôn từ – hành

động ngôn từ gián tiếp

108

3.1.1 Một số hành động ngôn từ gián tiếp được biểu hiện qua

cấu trúc điều kiện

111

3.1.2 Nhận xét về các kiểu biểu hiện hành động ngôn từ gián

tiếp trong câu điều kiện

121

3.2 Câu điều kiện tiếng Việt dưới góc độ nguyên lý hội thoại 124 3.2.1 Cấu trúc điều kiện và nguyên lý cộng tác (co-operative principle) 125 3.2.2 Cấu trúc điều kiện và nguyên lý lịch sự (principle of politeness) 133 3.3 Câu điều kiện dưới góc độ cấu trúc thông báo – M1: cái cho sẵn 142

Trang 5

3.3.2.2 Cái cho sẵn là kiến thức chia sẻ 154 3.3.3 Một số trường hợp M1 không phải là cái cho sẵn 156

CHƯƠNG 4: SO SÁNH CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG VIỆT VÀ

4.3 Một số điểm khác biệt đáng chú ý giữa câu điều kiện tiếng Nhật

và tiếng Việt

Phụ lục 1: Bảng tóm tắt các phương tiện biểu hiện riêng 212 Phụ lục 2: Bảng tóm tắt các phương tiện biểu hiện chung 213 Phụ lục 3: Bảng tóm tắt các phương tiện biểu hiện câu điều kiện trong

mối tương quan với các loại câu khác

Trang 6

- Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh

- Mã số: 05.04.27

- Họ và tên NCS: Lê Thị Minh Hằng

- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH Lý Toàn Thắng

- Tên cơ sở đào tạo: Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN ÁN

Tiếp cận “Câu điều kiện tiếng Việt” từ góc độ ngữ nghĩa (hay logic ngữ nghĩa), nội dung chính của Luận án là đi sâu phân tích ngữ nghĩa điều kiện cùng những phương tiện hình thức biểu hiện điều kiện tiếng Việt

Dựa trên hai tiêu chí ngữ nghĩa cốt lõi của quan hệ điều kiện là quan hệ nhân quả và tính giả định, Luận án đưa ra một đề nghị phân loại câu điều kiện tiếng Việt (9 tiểu loại) Theo khả năng hành chức của các yếu tố trong các loại nghĩa điều kiện khác nhau, các phương tiện hình thức được tập hợp thành ba nhóm: (i) nhóm một hành chức trong phạm vi nhiều tiểu loại, (ii) nhóm hai chỉ hành chức trong phạm vi một tiểu loại, (iii) nhóm ba hành chức cả trong loại câu điều kiện lẫn các loại câu ngoài phạm vi điều kiện

Luận án cũng vận dụng các lý thuyết ngữ dụng học để khảo sát một số hiện tượng, biểu hiện của câu điều kiện tiếng Việt trong những tình huống giao tiếp hiện thực: lý thuyết hành động ngôn từ với hiệu lực tại lời gián tiếp; lý thuyết hội thoại với nguyên lý cộng tác và lịch sự; cấu trúc thông báo với vai trò “cái cho sẵn” của M1 Mục đích của phần này chỉ ra rằng ngữ nghĩa điều kiện như đã phân tích ở trên (là cái mà tự thân ý nghĩa các từ và các cú đoạn trong phát ngôn có thể có) có thể có ý nghĩa khác trong giao tiếp ngôn ngữ cụ thể

Bên cạnh việc khảo sát, miêu tả câu điều kiện tiếng Việt, Luận án cũng đã

so sánh cách diễn đạt điều kiện tiếng Việt với cách diễn đạt điều kiện tiếng Nhật Luận án chỉ ra rằng phương thức liên kết bằng trật tự trong câu điều kiện tiếng Việt là phương thức đối lập với phương thức liên kết hai mệnh đề điều kiện tiếng Nhật

Trang 7

Việt ở một phạm vi rộng hơn;

2 Luận án cũng đã thiết lập một bảng phân loại chi tiết về câu điều kiện trong tiếng Việt (9 tiểu loại so với trước chỉ 2 hoặc 3 loại);

3 Luận án đã xác định được danh sách những kết từ, vị từ tình thái dùng làm phương tiện biểu hiện câu điều kiện tiếng Việt, trong đó có phương tiện biểu hiện riêng, chung cho từng tiểu loại;

4 Làm sáng tỏ mối liên quan giữa câu điều kiện và câu nguyên nhân kết quả về mặt ý nghĩa lẫn hình thức biểu hiện;

5 Chỉ ra được những tương đồng và dị biệt trong phương thức biểu hiện điều kiện giữa tiếng Nhật và tiếng Việt

CÁC ỨNG DỤNG / KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG THỰC TIỄN HOẶC NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Những kết quả của Luận án có thể ứng dụng vào lĩnh vực giảng dạy ngữ nghĩa-cú pháp tiếng Việt và tiếng Nhật trong nhà trường

Luận án còn để ngỏ một số vấn đề sau:

- Câu điều kiện cần được phân tích trong mối tương quan về mặt ngữ nghĩa cũng như về mặt hình thức với các loại câu nguyên nhân, câu nhượng bộ, câu phản điều kiện Có như thế bản chất câu điều kiện sẽ được nhìn nhận thấu đáo hơn

- Vấn đề tương quan hình thức giữa chỉ tố đánh dấu Đề và chỉ tố đánh dấu

mệnh đề điều kiện, cụ thể là thì, là, mà với tư cách đánh dấu Đề so sánh với thì, là, mà với tư cách là chỉ tố điều kiện cần được xử lý trên một góc

nhìn triệt để hơn để có thể làm sáng tỏ những tồn nghi thuộc về chức năng và cấu trúc của chúng

-

Xác nhận của người hướng dẫn khoa học Nghiên cứu sinh

PGS.TSKH Lý Toàn Thắng Lê Thị Minh Hằng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Câu điều kiện là một loại câu mà các nhà Việt ngữ học ít nhiều đã có đề cập, đặc biệt là khi bàn về các tiểu loại câu ghép

Việc nghiên cứu câu điều kiện tiếng Việt về mặt hình thức biểu hiện đã có một số thành tựu, song việc khảo sát nó về mặt ngữ nghĩa, ngữ dụng chưa được chú ý đúng mức Điều đó dẫn đến một hệ quả là các vấn đề thuộc đặc trưng ngữ nghĩa điều kiện vẫn chưa được làm sáng rõ và vì thế quan hệ điều kiện, khái niệm câu điều kiện, câu điều kiện điển hình, cách dùng câu điều kiện v.v vẫn chưa được xác định minh bạch

Qua các sách ngữ pháp hiện có, có thể thấy rằng cách phân loại câu điều kiện vẫn còn sơ sài, các tác giả vẫn chưa đưa ra tiêu chí phân loại câu điều kiện cụ thể Về mặt hình thức, nhiều tác giả đã liệt kê một số phương tiện biểu hiện điều kiện (tiêu biểu là các kết từ) nhưng cũng chưa phân biệt rõ kết từ nào là đặc trưng của loại nghĩa điều kiện nào cũng như các cách dùng khác nhau của các kết từ ấy

Việc nghiên cứu câu điều kiện chắc chắn sẽ rất hữu ích vì nó sẽ góp phần làm sáng rõ thêm các đặc điểm ngữ nghĩa của câu ghép – một vấn đề rất quan trọng mà hiện nay vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu Việt ngữ, đặc biệt là trong mối tương quan với câu nguyên nhân và câu nhượng bộ (những loại câu thường được xem là có quan hệ chính phụ) trong tiếng Việt Riêng trong lĩnh vực so sánh đối chiếu ngôn ngữ, các công trình so sánh ở lĩnh vực cú pháp nói chung và câu điều kiện nói riêng hầu như chưa có, đặc biệt là khi xem xét chúng trong mối quan hệ với ngữ nghĩa

Trang 9

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn “Câu điều kiện trong tiếng Việt (có

so sánh với tiếng Nhật)” làm đề tài cho Luận án của mình

2 MỤC ĐÍCH, PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CÚU

2.1 Mục đích nghiên cứu

Với đối tượng nghiên cứu là câu điều kiện tiếng Việt, Luận án nhằm giải quyết các vấn đề sau:

– Xác định biểu hiện ngữ nghĩa chung của cấu trúc điều kiện (cả trên bình diện nhận thức luận);

– Dựa trên biểu hiện ngữ nghĩa chung đó, tiến hành phân loại câu điều kiện tiếng Việt, xác định loại câu điều kiện điển hình và loại câu không điển hình (ngoại vi) theo một tiêu chí ngữ nghĩa xác định và tìm kiếm những dấu hiệu hình thức đặc trưng cho mỗi loại điều kiện;

– Khảo sát một số vấn đề thuộc bình diện ngữ dụng để làm sáng tỏ cách dùng các phát ngôn điều kiện mà các công trình ngữ nghĩa và ngữ pháp chưa giải quyết thấu đáo

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng tiến hành so sánh câu điều kiện tiếng Việt với câu điều kiện tiếng Nhật Việc so sánh (câu điều kiện) tiếng Việt với một ngôn ngữ thuộc loại hình khác (tiếng Nhật thuộc loại hình chắp dính, đa âm tiết) sẽ giúp phát hiện những đặc điểm của (câu điều kiện) tiếng Việt cũng như những điểm khác biệt giữa hai ngôn ngữ Từ đó, câu điều kiện có thể được nhìn nhận dưới góc độ phổ quát ngôn ngữ học

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án này nghiên cứu câu điều kiện tiếng Việt về mặt đồng đại, trên cả

ba bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng Tuy vậy trong công trình này

Trang 10

chúng tôi dành cho vấn đề ngữ nghĩa của câu điều kiện một vị trí thích đáng,

vì ngữ nghĩa được xem là điểm xuất phát của quá trình khảo sát

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài của Luận án là “Câu điều kiện trong tiếng Việt (có so sánh với tiếng Nhật)”, vì vậy đối tượng nghiên cứu của chúng tôi sẽ là câu điều kiện của cả hai ngôn ngữ Việt, Nhật, nhưng chủ yếu tập trung vào tiếng Việt

Ở đây có một vấn đề đặt ra là việc xác định câu điều kiện về mặt hình

thức Có những tác giả xem những câu có các dấu hiệu hình thức như nếu, hễ, giá ở tiểu cú đi trước (các sách Việt ngữ học thường gọi là mệnh đề phụ điều kiện, ký hiệu là M1) hoặc thì ở tiểu cú đi sau (các sách Việt ngữ học thường

xem là mệnh đề chính, ký hiệu là M2) thì mới là câu điều kiện, còn những câu không có dấu hiệu hình thức (loại câu ghép không có từ nối) thì không thuộc phạm vi câu điều kiện Một số tác giả lại cho những câu không có yếu tố liên kết chẳng qua chỉ là kết quả của một sự tỉnh lược (yếu tố liên kết), do vậy nó vẫn thuộc phạm vi câu điều kiện

Luận án này đi từ ngữ nghĩa đến hình thức vì vậy đối tượng nghiên cứu của chúng tôi bao gồm cả những câu điều kiện có yếu tố liên kết lẫn không có yếu tố liên kết, miễn là nó thỏa ngữ nghĩa điều kiện theo quan điểm của Luận án Đối với tiếng Nhật, chúng tôi tiến hành phân tích hình thức và ngữ nghĩa của các tác tố điều kiện tiêu biểu theo quan điểm được đa số nhà Nhật ngữ học chia sẻ Theo đó, BA, TO, TARA, NARA được coi là những tác tố tiêu biểu cho cấu trúc điều kiện tiếng Nhật (Từ MOSHI thỉnh thoảng cũng xuất hiện ở đầu câu nhưng ít được sử dụng trong thực tế nên Luận án này chỉ nói đến một cách sơ lược)

Trang 11

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

Dựa vào những thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học thế giới về ngữ nghĩa điều kiện, chúng tôi tiến hành phân tích, phân loại các câu điều kiện tiếng Việt có đặc điểm tương đồng và miêu tả chúng về mặt ngữ nghĩa cũng như các phương tiện hình thức biểu hiện điều kiện Phương pháp miêu tả và phân loại giúp chúng tôi tiếp cận được ngôn liệu tốt hơn và hệ thống hơn Quá trình phân loại sẽ được tiến hành trên cơ sở một hệ thống quan điểm được giới thuyết trước, và đó sẽ là một cửa ngõ để đi sâu hơn vào đặc trưng đối tượng

Vì mục đích của Luận án này là làm sáng tỏ các bình diện ngôn ngữ học của câu điều kiện cho nên phương pháp phân tích ngữ nghĩa cú pháp được xem là phương pháp chủ đạo, xuyên suốt Ở mỗi dạng thức biểu hiện của loại câu đang nghiên cứu, chúng tôi cố gắng phân tích và lý giải những vấn đề ngữ nghĩa trong quan hệ tương ứng với hình thức ngữ pháp của nó Sự gắn bó hai mặt ngữ nghĩa và hình thức này sẽ giúp Luận án phát hiện được bản chất của các tiểu loại câu điều kiện Luận án cũng đồng thời sử dụng rộng rãi các thao tác cải biên, thay thế trong cấu trúc để xác định vai trò và chức năng của các phương tiện hình thức đánh dấu nghĩa điều kiện

Một phần của nội dung Luận án là so sánh đối chiếu các hiện tượng tương quan giữa câu điều kiện tiếng Việt và câu điều kiện tiếng Nhật cho nên phương pháp so sánh - đối chiếu cũng là một phương pháp nghiên cứu được đặc biệt chú ý Tất nhiên, những kết quả thu được từ việc phân tích so sánh chỉ có giá trị khi nó giúp phát hiện và lý giải những vấn đề có ý nghĩa lý thuyết và hệ thống đối với tiếng Việt khi đối chiếu với tiếng Nhật, và ngược lại Trong một số trường hợp, cái nhìn so sánh - đối chiếu có thể giúp người nghiên cứu thuận lợi hơn trong việc lựa chọn một giải thuyết hợp lý

Trang 12

Tất cả những phương pháp trên đều được thực hiện trên cơ sở tập hợp nguồn ngôn liệu từ các sách truyện đã được xuất bản công khai bằng hai thứ tiếng Việt, Nhật

Ngoài ra, các phương pháp thống kê, diễn dịch và quy nạp nói chung cũng được sử dụng trong suốt Luận án

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

4.1 Về mặt lý luận

Ngoài việc xác định rõ hơn các vấn đề thuộc về lý luận có liên quan đến câu điều kiện như: khái niệm câu điều kiện, cách thức nhận diện câu điều kiện điển hình và không điển hình về mặt ngữ nghĩa, chỉ ra các dấu hiệu hình thức của câu điều kiện tiếng Việt, Luận án còn cung cấp và ứng dụng cách tiếp cận câu điều kiện từ góc độ ngữ nghĩa-logic mang tính phổ quát mà các nhà ngữ học đã đúc kết trên nhiều thứ tiếng khác nhau Theo đó, đối với câu điều kiện điển hình, quan điểm xử lý và thao tác xử lý sẽ đi từ bình diện ngữ nghĩa đến bình diện hình thức; riêng đối với một nhóm câu điều kiện không điển hình sẽ được đặt trong diễn ngôn để cắt nghĩa từ bình diện ngữ dụng Cách tiếp cận câu điều kiện từ góc độ ngữ dụng của Luận án đã giúp lý giải sự hình thành và mô thức hóa các biểu thức ngôn ngữ mang hình thức điều kiện

Luận án đã xác lập một hệ thống câu điều kiện tiếng Việt với những tiêu chí rõ ràng, nhất quán và có tính thao tác Ngoài ra, cùng lúc với việc làm sáng tỏ bản chất ngữ nghĩa của câu điều kiện tiếng Việt, Luận án cũng đã làm sáng rõ về mặt ngữ nghĩa của các kết từ, các vị từ tình thái biểu hiện nghĩa điều kiện

Trong quá trình phân tích, Luận án cũng đã phần nào làm sáng tỏ mối liên quan giữa câu điều kiện và câu nguyên nhân-kết quả về mặt ý nghĩa lẫn hình

Trang 13

thức biểu hiện, và như vậy đã thiết lập được một số tiền đề (ít nhất về ngữ nghĩa) để có thể xử lý câu ghép tiếng Việt ở một phạm vi rộng hơn

Luận án cũng đã làm sáng tỏ đặc trưng của câu điều kiện tiếng Việt so với các ngôn ngữ khác, góp thêm tư liệu vào việc xây dựng phổ quát ngôn ngữ học ở loại câu này

4.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả khảo sát của Luận án có thể đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu câu

ghép nói chung, câu điều kiện nói riêng đồng thời có thể ứng dụng vào lĩnh vực giảng dạy ngữ nghĩa - cú pháp tiếng Việt và tiếng Nhật trong nhà trường Ngoài ra, quá trình so sánh đối chiếu với tiếng Nhật đã làm nổi rõ đặc điểm loại hình cú pháp tiếng Việt lẫn tiếng Nhật, điều này rất có ích trong lĩnh vực dịch thuật

5 CÁI MỚI CỦA LUẬN ÁN

Luận án này là một công trình khảo sát chuyên sâu câu điều kiện và quan hệ điều kiện tiếng Việt

Luận án cũng là công trình khảo sát câu điều kiện trong mối quan hệ nhân quả và trong mối quan hệ giả định - hiện thực một cách chặt chẽ và toàn diện

Trong khuôn khổ Luận án này, các lý thuyết ngữ dụng được vận dụng để khảo sát một cấu trúc câu: cấu trúc điều kiện

Ngoài ra đây cũng là một công trình đối chiếu đầu tiên được thực hiện trên cứ liệu câu ghép nói chung và câu điều kiện nói riêng giữa hai ngôn ngữ Việt – Nhật

Trang 14

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, kết cấu Luận án như sau:

Chương 1: Tổng quan

Chương này trình bày lịch sử nghiên cứu câu điều kiện của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước; trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài nhằm xác định khái niệm câu điều kiện, diễn giải về mối quan hệ nhân quả, về quan hệ giả định - hiện thực và phương cách xác định tính hiện thực: dựa vào thái độ người nói Trong chương này chúng tôi cũng phân tích một số vấn đề nhận thức luận chung quanh việc nghiên cứu câu điều kiện có ảnh hưởng đến quá trình làm việc của chúng tôi

Chương 2: Ngữ nghĩa và các phương tiện hình thức biểu hiện các loại câu điều kiện tiếng Việt

Trong chương này, ngoài một đề nghị phân loại câu điều kiện dựa vào tiêu chí quan hệ nhân quả, các đặc điểm ngữ nghĩa của từng loại điều kiện sẽ được Luận án phân tích cặn kẽ để tạo cơ sở cho việc nhận diện các phương tiện hình thức tương ứng Theo khả năng hành chức của các yếu tố trong các loại nghĩa điều kiện khác nhau, các phương tiện hình thức được tập hợp thành hai nhóm: một nhóm hành chức trong phạm vi nhiều tiểu loại, một nhóm chỉ hành chức trong phạm vi một tiểu loại Trong khi phân tích cách sử dụng các yếu tố này, chúng tôi cũng chú ý đến hoạt động của nó trong những câu không phải là câu điều kiện

Chương 3: Câu điều kiện – nhìn từ góc độ ngữ dụng

Trong chương này chúng tôi xem xét một số khía cạnh dụng học của câu điều kiện Ở phần 1, chúng tôi khảo sát tiểu cú M1 là “cái cho sẵn” trong cấu trúc thông báo, từ đó liên hệ đến quan điểm câu điều kiện là chủ đề của Haiman Ở phần 2, chúng tôi khảo sát các hành động ngôn từ gián tiếp được

Trang 15

biểu hiện qua cấu trúc điều kiện Ở phần 3, chúng tôi vận dụng lý thuyết về hội thoại của Grice để làm sáng rõ cách dùng của một số cấu trúc điều kiện Chương 4: So sánh các phương tiện hình thức biểu hiện điều kiện giữa tiếng Nhật và tiếng Việt

Trong chương này chúng tôi phân tích các phương tiện hình thức biểu hiện điều kiện trong câu tiếng Nhật, so sánh với tiếng Việt, và ngược lại

Ngoài ra Luận án còn có phần phụ lục và một bảng thống kê số lượng các chỉ tố điều kiện tiếng Việt được dịch giả Trần Nhật Quang dùng để chuyển dịch các từ BA, TO, TARA, NARA trong quyển “Tiếng đàn hạc Miến Điện”

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

1.1.1 Tổng quan một số nghiên cứu ở nước ngoài về câu điều kiện

Câu điều kiện (tương đương với thuật ngữ tiếng Anh Conditional sentences

hay Conditionals) phản ánh suy luận, lập luận, phản ánh cả khả năng hình

dung những tương quan có thể có giữa hai sự việc, tức là phản ánh logic tư duy của con người cho nên, từ rất sớm, nó đã là đối tượng quan tâm của rất nhiều ngành: triết học, logic học, tâm lý học, ngôn ngữ học

Những nghiên cứu sớm nhất về câu điều kiện là của các nhà triết học và logic học, được đúc kết qua bảng giá trị chân - ngụy (đúng - sai) hay còn gọi là phép kéo theo (material implication) mà ngày nay vẫn còn tiếp tục được khai thác Tất nhiên, các công trình triết học và logic học chỉ tập trung nghiên cứu câu điều kiện trên bình diện logic và ngữ nghĩa-logic, chứ không chú ý những vấn đề liên quan đến hình thức biểu hiện – mối quan tâm chính của ngôn ngữ

học Tiêu biểu cho hướng này là các công trình như Gedankengefuge (Frege G 1923), Method of logic (Quine W.V.O 1972) Counterfactuals and comparative possibility (Lewis D 1973), Relevance: Communication and Cognition

(Stalnaker R.C 1968)

Các công trình nghiên cứu ngữ học, đặc biệt là các nghiên cứu miêu tả và phổ quát, về sau này, tựu trung đi vào hai hướng chính: (i) kế thừa và vận dụng thành tựu của các nhà logic một cách có chọn lọc vào việc khảo sát các vấn đề cụ thể của câu điều kiện (chúng tôi gọi chung là khuynh hướng logic học); (ii) nghiên cứu câu điều kiện bằng con đường thuần túy ngôn ngữ học (không quan tâm đến logic), đưa ra các phản đề đối với thuyết giá trị chân ngụy (chúng tôi gọi là khuynh hướng phi logic học)

1.1.1.1 Khuynh hướng logic học

Đây là khuynh hướng mang tính chất kế thừa và vận dụng thành tựu của

Trang 17

các nhà triết học và logic học một cách có chọn lọc vào việc khảo sát những vấn đề của câu điều kiện Lý thuyết xưa nhất về câu điều kiện If…then chính là phép kéo theo (material implication) do Megarian Philo đưa ra vào thế kỷ thứ tư [42,684] Có thể tóm tắt lý thuyết này theo bảng giá trị chân lý sau:

Người ta thường thấy rằng, trong thực tế, ngôn ngữ tự nhiên sử dụng câu điều kiện không đồng nhất với quan hệ điều kiện được định nghĩa bởi các nhà logic Vì thế có không ít các lý thuyết đưa ra nhằm bổ sung cho bảng giá trị chân lý này để phù hợp với câu điều kiện trong ngôn ngữ tự nhiên

Trong bài Conditional, a typology [46], Comrie đã đưa ra những luận cứ có

sức thuyết phục về mối quan hệ nhân quả giữa hai mệnh đề trong câu điều kiện Luận điểm này của Comrie vẫn thường được sử dụng trong những công trình nghiên cứu câu điều kiện như là luận điểm có tính chất cơ sở Bên cạnh đó, Comrie cũng đã đưa ra những thông số liên quan đến cấu trúc điều kiện (trật tự mệnh đề, chỉ tố đánh dấu cú M1 và M2), và những thông số liên quan đến ngữ nghĩa điều kiện (các mức độ của tính giả định)

Ngoài lý thuyết của Comrie nhằm làm cho logic học phù hợp với ngôn ngữ tự nhiên như đã nói ở trên còn có lý thuyết về hàm ngôn hội thoại của Grice

(Grice, 1975, Logic and conversation) và lý thuyết quan yếu (relevance theory)

Trang 18

của Speber & Wilson Lý thuyết sau này xét lại ý kiến của Grice, rút gọn thành một nguyên tắc: nguyên tắc về tính quan yếu và đề nghị một cách giải thích hiển ngôn các quá trình suy luận liên quan đến việc hiểu phát ngôn Những tác giả áp dụng lý thuyết thích hợp vào việc nghiên cứu câu điều kiện

có: Smith N.V & Smith A (A relevance theoretic account of conditionals); Jacobsen Wesley (1990: “Về tính quan yếu ở câu điều kiện” (Zyoukenbun ni okeru “kanrensei”ni tsuite)); Eun Ju Noh (1996: A relevance theoretic account

of metarepresentative uses in conditionals); v.v Những tác giả này đều thừa

nhận rằng việc kết hợp giữa phép kéo theo của các nhà logic với cái được suy

ra từ ngữ cảnh là đủ để giải thích ý nghĩa của một phát ngôn điều kiện

Những công trình nghiên cứu ngữ nghĩa của câu điều kiện cũng chịu ảnh hưởng của các thành tựu của các nhà triết học cũng như logic học Trong những tác phẩm theo hướng này, sự tương ứng giữa ý nghĩa câu điều kiện và

hình thái động từ đã được chỉ ra, tiêu biểu: Lewis David (1975: Adverbs of quantification; 1976: Probabilities of conditionals and conditional probabilities; 1980: A subjectivist’s guide to objective chance); và Kratzer Angelika (1977: What “must” and “can” must and can mean; 1979: Conditional necessity and possibility; 1981: The notional category of modality; 1986: Conditional)

Để phân tích ngữ nghĩa điều kiện, các tác giả đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau liên quan đến tính giả định và các mức độ của tính giả định Có

thể kể một số thuật ngữ như hiện thực/phi hiện thực (realis/irrealis), thực/không thực (real/unreal), khả năng/bất khả (possible/impossible), tiềm năng/phản thực (potential/counter-factual), thức trần thuật/giả định

(indicative/subjunctive mood) Qua nghiên cứu đối chiếu, người ta cũng phát hiện một số ngôn ngữ có nhiều hình thức khác nhau để phân biệt các mức độ giả định, như tiếng Hy Lạp cổ điển; trái lại, một số ngôn ngữ có sự “nhập nhằng” giữa các mức độ đó, chẳng hạn tiếng Trung Quốc [79]

Trang 19

Cũng cần nhắc đến “truyền thống” miêu tả câu điều kiện theo ngữ pháp nhà trường trong đó tập trung vào việc phát hiện các hiện tượng biến đổi dạng

thức động từ ứng với các mức độ giả định Ở đây, khuôn hình thức và các quy tắc của nó mới là điều được quan tâm một cách đặc biệt

Gần với quan điểm truyền thống trên là một nghiên cứu về câu điều kiện

của Fillmore (1990: Epistemic stance and gramatical form in English conditional sentences); trong đó ông phân tích hình thức động từ trong câu

điều kiện như là sự chỉ định hai bình diện nghĩa của thời gian quy chiếu và thái độ nhận thức Bằng cách này, Fillmore giải thích sự đa dạng của các quan hệ điều kiện, chỉ ra quan hệ giữa hình thức và chức năng

1.1.1.2 Khuynh hướng phi logic học

Có hai tên tuổi đáng chú ý trong nghiên cứu câu điều kiện theo hướng này, đó là Haiman và Wierzbicka, và phần nào đó là Sweetser

Năm 1978 bài báo “Conditionals are topics?” của Haiman xuất hiện lần đầu trên tạp chí Language và được giới ngôn ngữ coi như là một cái mốc đánh dấu quan điểm mới trong cái nhìn về câu điều kiện – điều kiện là chủ đề Nhận

thấy trong một số ngôn ngữ mệnh đề điều kiện và chủ đề có cùng một chỉ tố đánh dấu, Haiman lập luận rằng nếu sự tương đồng về hình thức phản ánh sự tương đồng về ý nghĩa thì quả thật hai khái niệm trên có quan hệ với nhau Mặt khác, theo ông, những định nghĩa thỏa đáng nhất về câu điều kiện của ngôn ngữ thông thường của Ramsey, Stalnaker, Ducrot rất gần với những định nghĩa về chủ đề của Chafe Từ thực tế tiếng Hua, tiếng Thổ, tiếng Tagalor – những thứ tiếng có sự tương đồng hình thức ngữ pháp trên bề mặt giữa điều kiện và chủ đề – và kết hợp nhiều luận cứ khác, Haiman kết luận rằng điều kiện chính là chủ đề Ông đưa ra một định nghĩa khác lạ hơn so với các định nghĩa đã từng được biết đến trước đó: “Một mệnh đề điều kiện là một phần kiến thức được chia sẻ bởi người nói và người nghe Hiểu một cách chặt chẽ, nó thiết lập một cái khung được chọn lựa cho diễn ngôn theo sau” [56,583]

Trang 20

Ngoài việc phủ định quan hệ nhân quả vốn được xem là quan hệ cơ bản trong câu điều kiện theo khuynh hướng đối lập, Haiman còn phủ định đặc trưng giả định của câu điều kiện Ông chứng minh điều này qua một số hiện tượng có sự đồng nhất hình thái học giữa những phát ngôn diễn đạt điều kiện và những phát ngôn diễn đạt thời gian trong một số ngôn ngữ như tiếng Nhật, tiếng Đức Luận điểm này sau đó đã bị Akatsuka Noriko [38] phản bác, tác giả người Nhật này cho rằng Haiman dựa quá nhiều vào hình thái học tĩnh tại mà không có sự quan tâm cần thiết đến thái độ người nói Trong tiếng Nhật, nếu người nói chắc chắn về sự hiện thực hoá của M1 (tiểu cú đi trước) thì ngay lập tức phát ngôn sẽ mất đi cách hiểu điều kiện

Trong khi đó, Sweetser cho rằng nếu chấp nhận quan điểm “điều kiện là chủ đề” thì câu điều kiện sẽ được mô thức hóa một cách minh xác và đưa đến hệ quả là câu điều kiện sẽ thoát khỏi các mối liên hệ với logic hình thức vì, theo Haiman, điều mà các câu điều kiện có chung không phải là một cấu trúc logic mà là một cấu trúc thông tin Và Sweetser cho rằng đây thực sự là một cuộc “cách mạng” [76,125]

Tuy nhiên, theo Sweetser, Haiman chỉ chứng minh (luận điểm của mình) được một chiều, đó là sự tương quan giữa chỉ tố chủ đề và điều kiện, còn chiều ngược lại (tức là sự không tương quan giữa chỉ tố chủ đề và nguyên nhân) thì không đề cập Theo bà, nếu cho điều kiện là chủ đề (đặc biệt với điều kiện phản hiện thực) thì phải thừa nhận rằng chủ đề là một “thành tố” hay một

“đơn vị” ngôn ngữ học (linguistic unit) diễn đạt một bối cảnh quan hệ với điều được biểu hiện ở cú chính (như Haiman đã thừa nhận) [76,126]

Và nếu chấp nhận điều này thì không phải chỉ duy nhất cú điều kiện có khả năng làm chủ đề mà nhiều cấu trúc ngôn ngữ khác cũng có khả năng tương tự: một điều gì đó được trình bày như là bối cảnh cho một điều khác dựa

vào đó mà biểu hiện, chẳng hạn mệnh đề since (since-clauses)

Trang 21

(a) Well, if (as you say) he had lasagne for lunch, he won't want spaghetti for diner (Nếu

(như anh nói) nó đã ăn món lasagne bữa trưa, nó sẽ không thích món spaghetty cho bữa tối đâu) 1

(b) Well, since he had lasagne for lunch, he won't want spaghetti for diner (Bởi vì nó đã

ăn món lasagne bữa trưa, nó sẽ không thích món spaghetty cho bữa tối đâu)

Về cấu trúc, (a) và (b) tương tự nhau: trong cả hai câu, cú thứ nhất đều thiết lập cơ sở để cho cú thứ hai đúng [76,126], có nghĩa là cả hai đều làm bối cảnh cho thành phần đi sau nó

Quan điểm “điều kiện là chủ đề” đã tỏ ra có tính khái quát cao đến mức hầu như chưa có nhà ngôn ngữ nào thực sự bác bỏ được Tuy nhiên, hạn chế của nó đã bộc lộ chính ở chỗ nó không bao quát nổi tính nhân quả: quan điểm “điều kiện là chủ đề” vẫn không cắt nghĩa thỏa đáng sự chia sẻ ngữ nghĩa giữa điều kiện và nguyên nhân, hay nói đúng hơn, hạn chế của nó là đã tách bạch hai loại câu có cùng nội dung ngữ nghĩa thành hai loại cấu trúc đối lập nhau

Wierzbicka, với quan điểm IF là một nguyên sinh ngữ nghĩa, gần như đã

tránh đối mặt trực tiếp với những câu hỏi đặt ra với các quan điểm muốn tìm

cách giải thích cốt lõi của ngữ nghĩa điều kiện Trong tác phẩm Semantics Primes and Universals (1996) và Conditionals and Counterfactuals (1997), bà cho rằng khái niệm if là một khái niệm đơn giản và rõ ràng đến mức không

cần làm sáng rõ bằng cách phân tích nó thành những khái niệm đơn giản hơn nữa Bà lập luận rằng thuật ngữ tính giả thiết/giả định (hypothetical) không

hoàn toàn hữu ích vì khái niệm này về mặt ngữ nghĩa học phức tạp hơn là if Quan niệm xem if là một khái niệm nguyên sinh và mô tả if như là một

nguyên thể ngữ nghĩa của Wierzbicka thực chất là một phản đề đối với những tiếp cận theo thuyết giá trị chân ngụy của các nhà logic

Ngoài hai khuynh hướng nghiên cứu câu điều kiện như đã trình bày ở trên còn có những công trình nghiên cứu theo quan điểm nhận thức luận (thực chất

1 Những câu tiếng Việt nằm trong dấu ngoặc đơn sau các ví dụ bằng tiếng nước ngoài trong Luận án này đều là do chúng tôi tạm dịch

Trang 22

đây là cách tiếp cận câu điều kiện ở dạng động, trong diễn ngôn, nghĩa là có

tính dụng học)

Sweetser trong From Etymology to Pragmatics (1990) đã phát hiện nhiều

chiều kích của cách hiểu điều kiện Bà định nghĩa câu điều kiện theo từng lĩnh vực ngữ nghĩa khác nhau: nội dung (content), nhận thức (epistemic) và hành động ngôn từ (speech act) Lĩnh vực nội dung là lĩnh vực của những sự tình trong thế giới thực Lĩnh vực tri thức là lĩnh vực của thế giới nhận thức hay suy luận trong óc của người nói, thể hiện những hiểu biết của người nói và quá trình suy luận logic Lĩnh vực hành động ngôn từ là lĩnh vực mà tiểu cú đặt trước được sử dụng như những chú giải về hành động ngôn từ được thực hiện trong tiểu cú đặt sau Các lĩnh vực này tự nó được liên kết qua một sự ẩn dụ mở rộng ý nghĩa từ lĩnh vực vật chất đến lĩnh vực tinh thần và xã hội

Cách tiếp cận này không chỉ phát hiện những chiều kích hấp dẫn về cách nhận thức câu điều kiện mà còn cho thấy các ý nghĩa khác nhau có thể và nên được phân tích theo kiểu cái này nảy sinh từ cái kia

Trong nghiên cứu nhận thức luận câu điều kiện cũng có thể kể đến công trình của các tác giả theo lý thuyết không gian tinh thần (mental space) như

Mental spaces (Fauconnier, 1985), Mental spaces as a theory of representation and language understanding (Dinsmore, 1990)

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu câu điều kiện tiếng Việt

Từ trước đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào về câu điều kiện tiếng Việt Loại câu này hầu như chỉ được nhắc đến nhân khi các tác giả bàn đến khái niệm “câu” hay “câu ghép” nói chung mà thôi

Tuy nhiên, căn cứ vào các công trình ngữ pháp tiếng Việt đã công bố cũng có thể thấy có nhiều quan điểm tiếp cận câu nói chung và câu điều kiện nói riêng: quan điểm hình thức (thường gọi là quan điểm “truyền thống”), quan điểm logic-ngữ nghĩa, quan điểm ngữ nghĩa-cú pháp, quan điểm chức năng

Trang 23

1.1.2.1 Quan điểm truyền thống

Các sách ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm truyền thống đã:

– tiến hành xác định quan hệ cú pháp giữa hai cú M1 và M2;

– đưa ra mô hình tiêu biểu của câu điều kiện;

– xác định các chỉ tố hình thức đánh dấu quan hệ điều kiện

Về quan hệ cú pháp giữa hai cú điều kiện - kết quả, có sự không thống nhất trong các sách ngữ pháp trong việc xác định cương vị cú pháp của các bộ phận hợp thành câu điều kiện và trong việc xác định loại thể cho câu điều kiện Phần lớn các tác giả cho câu điều kiện là câu ghép (có người gọi là câu phức) nhưng cũng có tác giả cho nó là câu đơn hay câu ghép tùy vào cấu tạo ngữ pháp của M1

Đại biểu cho các tác giả xem câu điều kiện là câu phức là Hoàng Tuệ Ông định nghĩa “Câu điều kiện là một kết cấu phức hợp bao gồm hai mệnh đề: một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện” [18, 386] Trong “Văn phạm Việt Nam” [1], Bùi Đức Tịnh xử lý câu điều kiện như một loại câu có nhiều mệnh đề Mệnh đề phụ chỉ điều kiện là một tiểu loại trong mệnh đề phụ chỉ “trường hợp”, bên cạnh các tiểu loại khác như mệnh đề phụ chỉ thời gian, mệnh đề phụ chỉ duyên cớ, mệnh đề phụ chỉ mục đích

Trần Trọng Kim khi bàn về “phụ thuộc liên tự” đã cho rằng các liên tự chỉ

sự giả thiết (giá phỏng, giả sử, giá như, giá thể, phỏng như) và điều kiện (hễ, nếu, ví, ví dù, ví thử, nhược bằng) là những liên tự dùng để liên hợp những

mệnh đề phụ và mệnh đề chính [35] Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Kim Thản cũng xem câu điều kiện thuộc vào câu ghép qua lại [17][27]

Khuynh hướng cho câu điều kiện thuộc cả kết cấu câu đơn lẫn câu phức thường được thể hiện ở các sách giáo khoa tiếng Việt dùng trong trường phổ thông, tiêu biểu là tác giả Diệp Quang Ban Diệp Quang Ban [6] xếp vào câu ghép những trường hợp M1 là cụm chủ vị, xếp vào câu đơn mở rộng nòng cốt những trường hợp M1 không phải là cụm chủ vị và khi đó M1 được gọi là

Trang 24

trạng ngữ chỉ giả thiết; ông cũng chú ý đến loại câu không có từ liên kết và gọi là “câu ghép không kết từ” Trong một công trình gần đây, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp [28] xếp câu điều kiện vào loại câu song phần phức

hợp, nhưng khi xét riêng các trường hợp vắng mặt liên từ thì thì tác giả lại

xếp vào một loại khác: câu đơn song phần

Về mô hình tiêu biểu của câu điều kiện tiếng Việt, đa số các tác giả đều thống nhất với mô hình của Hoàng Tuệ: Nếu – M1 + thì – M2 hoặc mô hình của Hoàng Trọng Phiến: NẾU (C-V) thì (C-V) Đặc biệt, Hoàng Trọng Phiến đã đưa ra đến 83 mô hình câu điều kiện, chia làm 31 nhóm, hoàn toàn theo các tiêu chí hình thức [17,249-253] Qua đó, các chỉ tố điều kiện được liệt kê

khá rõ: nếu, nếu mà, hễ, giá, giả sử, nếu như, ngộ, nhỡ, ví bằng, mà thì , miễn là thì , ví thử, vô luận đều cũng, trừ phi mới (phải) , duy chỉ mới , và cả vị từ tình thái có thì mới

Về kết từ điều kiện, các tác giả gặp nhau ở nhiều điểm Hoàng Tuệ xem

nếu, hễ, như mà, nếu như mà, hễ mà, ví thử mà, giá mà, cho mà, thì và những từ như phải mới , có mới đều là những từ công cụ có tác dụng cụ thể hóa

mối quan hệ giữa M1 và M2 Ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của từ công cụ, nếu câu không có mặt các kết từ này, ông không cho đó là câu phức hợp có quan hệ phụ thuộc, ít nhất là về hình thức Diệp Quang Ban cũng đưa ra một

danh sách các chỉ tố điều kiện như nếu thì , hễ thì , miễn là thì , giả sử thì , giá mà Về sau, Nguyễn Anh Quế có mở rộng thêm danh sách này [22]; chẳng hạn như cứ biểu thị những hành động trạng thái có tương quan

với nhau về mặt thời gian điều kiện Nguyễn Anh Quế cũng chú ý vai trò của

sẽ trong câu điều kiện, đặc biệt là trong văn phong chính luận

Theo các tác giả của Ngữ pháp tiếng Việt [37], các kết từ trên giúp cho nội

dung suy lý của câu ghép được chặt chẽ Nhưng, không như Hoàng Tuệ đòi hỏi

phải có các từ công cụ mới cho là câu phức hợp, Ngữ pháp tiếng Việt cho quan

hệ thuyết tính trong câu ghép nói chung và câu điều kiện nói riêng vẫn được thể hiện mà không cần các từ nối Riêng Nguyễn Kim Thản đặc biệt nhấn

Trang 25

mạnh đến vai trò của từ thì trong câu điều kiện Ông cho rằng một mình thì

đặt ở đoạn câu chỉ kết quả đã đủ để biểu thị quan hệ điều kiện - kết quả: về ngữ pháp, nó làm cho đoạn câu đó không có khả năng vận dụng độc lập nữa và nói chung là dấu hiệu chỉ cho ta biết rằng đoạn câu này phải kết hợp với đoạn câu chỉ điều kiện giả thiết ở trước

Về mặt ngữ nghĩa, nhìn chung các phân tích ở các công trình trên còn khá

sơ sài Ngữ pháp tiếng Việt phân biệt hai loại điều kiện nằm trong tiền đề,

một là điều kiện có thể chưa có trong thực tế và một là điều kiện dựa trên một sự việc có thật trong thực tế Trước tài liệu này, Nguyễn Kim Thản và Hoàng Tuệ cũng đã chia ý nghĩa điều kiện - kết quả làm hai ý nghĩa nhỏ hơn là điều kiện và giả thiết, còn Diệp Quang Ban cho rằng nội dung mối quan hệ của câu ghép chính phụ nói chung thường là nội dung của phép kéo theo logic Tuy nhiên, có thể nói, ở tài liệu này lần đầu tiên xuất hiện khái niệm thật - giả trong việc nghiên cứu ý nghĩa của câu điều kiện tiếng Việt

1.1.2.2 Quan điểm ngữ nghĩa cú pháp

Phân tích ngữ pháp theo quan điểm ngữ nghĩa cú pháp có quyển Cú pháp tiếng Việt của Hồ Lê [14] Hồ Lê đã có một cái nhìn mới hơn các tác giả khác

trong việc phân tích câu điều kiện, trước hết là ngoại diên của thuật ngữ (câu điều kiện) Câu điều kiện - hệ quả của tác giả không bó hẹp trong phạm vi câu điều kiện của ngữ pháp truyền thống mà bao gồm cả nhóm câu thường được gọi là câu logic; cụ thể, gồm 4 tiểu loại câu ghép qua lại (hay còn gọi là câu ghép chính phụ) của ngữ pháp truyền thống như sau: (1) câu điều kiện hệ quả

có điều kiện giả định thuận với hệ quả: nếu1…thì…, hễ…thì…, giá mà…, phải chi…, giả sử , (2) câu điều kiện hệ quả có điều kiện giả định nghịch với hệ quả: dù cho…, cho dù…, dù…, dầu…; (3) câu điều kiện hệ quả có điều kiện thực thuận với hệ quả: vì…nên…, do…, tại…, hèn chi…, nếu 2 …thì ; (4) câu điều kiện hệ quả có điều kiện hiện thực nghịch với hệ quả: mặc dù…nhưng , tuy…nhưng…

Việc gộp các tiểu loại như thế chứng tỏ Hồ Lê đã lấy quan hệ nhân quả làm

cơ sở để phân định câu Thậm chí, một câu như “Vội vàng, ông Ba đánh đổ cả

Trang 26

lọ mực” ông cũng xem là câu điều kiện - hệ quả bởi vì “giữa hai thành phần

của câu, tồn tại quan hệ nhân quả” [14, 325]

Hơn nữa, việc tách 2 từ nếu (nếu1 trong tiểu loại 1 (cùng loại với hễ…thì…, giá mà…, phải chi…) và nếu 2 trong tiểu loại 3 (cùng loại với vì…nên…, do…, tại…, hèn chi…) cho thấy Hồ Lê đã nhìn nhận nếu (= nếu 2) cũng có khả năng biểu

thị nguyên nhân Và ông cho nếu 2 khác nếu1 ở tính giả định - hiện thực: “Sau

nếu là hiện thực đã xảy ra và là tiền đề hợp lý của cái hệ quả đặt sau thì”[14,

339]

Trong phạm vi câu điều kiện theo nghĩa rộng này, Hồ Lê dùng hai khái niệm đối lập “giả định - hiện thực” để phân làm 2 loại nhỏ: câu điều kiện hệ quả có điều kiện giả định (tương ứng với câu điều kiện và câu điều kiện nhượng bộ) và câu điều kiện hệ quả có điều kiện hiện thực (tương ứng với câu nguyên nhân và câu nhượng bộ) Cách nhìn này tương đối gần gũi với các phân tích ngữ nghĩa điều kiện của các công trình ngữ học thế giới, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học Nhật Bản và Trung Quốc

Về mặt cú pháp, Hồ Lê không khẳng định câu điều kiện là câu đơn hay ghép nhưng xếp nó tương ứng với câu đề ứng, câu cách thức hành động, như vậy cũng có thể hiểu tác giả xem nó là câu đơn Vả lại, ở một chỗ khác, ông lại cho một câu là câu ghép khi trong nội bộ của nó có hai hoặc trên hai kết cấu câu điều kiện ghép lại với nhau

Các chỉ tố điều kiện được Hồ Lê phân tích khá kỹ Ông cho nếu thì biểu

thị một khả năng xảy ra sự kiện ứng với nhiều sự chọn lựa điều kiện giả định,

trong khi đó hễ thì biểu thị điều kiện duy nhất ứng với điều kiện giả định,

vì vậy không thể so sánh hễ thì với những khả năng của những sự kiện khác ứng với những điều kiện giả định khác Ngộ thì , nhỡ thì (hoặc ngộ nhỡ thì ) và bằng thì (hoặc bằng như thì ) về cơ bản đồng nghĩa với nếu thì , ngộ thì , chỉ bổ sung ý điều kiện giả định là điều bất trắc, không thể đoan chắc là nó không xảy ra Bằng thì bổ sung ý điều kiện giả

định là điều kiện xấu hoặc xấu nhất có thể xảy ra mà cần phải và có thể dự

Trang 27

liệu Kết từ giá mà thì , phải chi Hồ Lê cho là biểu thị điều kiện giả định

và hệ quả đều ngược với hiện thực đã xảy ra, hoặc biết chắc sẽ không thể xảy

ra Ví như thì hoặc ví thử thì về cơ bản đồng nghĩa với giá mà thì , chỉ khác là không diễn đạt ước vọng Giả sử thì có ý nghĩa là người phát

ngôn biết trước đây là điều kiện giả định và hệ quả kéo theo là điều này chỉ có trong ước mơ chứ hiện tại chưa thể nào hoặc không thể nào xảy ra

1.1.2.3 Quan điểm logic ngữ nghĩa

Ngoài các công trình ngữ pháp trên, một số công trình về logic ngữ nghĩa của Nguyễn Đức Dân và Hoàng Phê cũng có đề cập câu điều kiện tiếng Việt Hoàng Phê [16,108-109] cho rằng có một logic của ngôn ngữ tự nhiên dùng trong giao tiếp mang những đặc trưng khác với những quy tắc suy lý trong logic học Áp dụng logic của ngôn ngữ tự nhiên để phân tích ngữ nghĩa của lời, ông dùng một số khái niệm như tiền giả định, hàm ngôn để phân tích một số câu điều kiện cụ thể

Có thể nói, so với các công trình miêu tả truyền thống, Hoàng Phê đã đưa

kiểu câu nếu thì nói riêng và câu điều kiện nói chung tiếp cận với một

khuynh hướng nghiên cứu hiện đại hơn Đặc biệt là trong phần bàn về toán tử logic tình thái, Hoàng Phê cũng có một nhận định xác đáng về sự khác nhau của sắc thái của các kết từ điều kiện: “Trong tiếng Việt tương ứng với P →

Q không phải chỉ có Nếu P thì Q mà còn có Nếu như P thì Q, Nếu quả P thì

Q, Giá như P thì Q, ( ), Q nếu quả P, P trừ khi Q v.v thường không phải là

hoàn toàn đồng nghĩa mà là có sự khác nhau, có khi rõ rệt, có khi tinh tế, hoặc về yếu tố tình thái hoặc về yếu tố logic-tình thái” [16,141] Ông cho kiểu câu Nếu P thì Q trong tiếng Việt khá phức tạp, cần được nghiên cứu riêng Nguyễn Đức Dân [24] cũng có nhiều đóng góp đáng chú ý trong việc nghiên cứu câu điều kiện tiếng Việt trên quan điểm này

Trước hết ông đã làm rõ sự khác nhau giữa phép kéo theo logic và phát

ngôn điều kiện Nếu A thì B Theo ông, phép kéo theo logic không đòi hỏi mối

Trang 28

liên hệ ý nghĩa giữa A và B Trái lại, phát ngôn điều kiện Nếu A thì B cần có

mối quan hệ ý nghĩa nào đó Ý nghĩa đó phải là ý nghĩa biểu trưng Chẳng hạn, câu “Nếu anh làm thì 2 > 3”, logic học có thể chấp nhận nhưng ngôn ngữ tự nhiên không chấp nhận vì giữa A và B không có mối quan hệ ý nghĩa Cũng theo ông, phép kéo theo logic có dạng phản đảo: (a → b) = [(~b) → (~a)] trong khi đó câu điều kiện - kết quả (dạng thuận) không tương đương với dạng phản đảo:

Nếu anh ấy làm lành thì cô ấy xin lỗi

*Nếu cô ấy không xin lỗi thì anh ấy không làm lành

Về mặt ngữ nghĩa câu điều kiện, ông phân tích rằng cấu trúc Nếu A thì B

có thể tạo ra một câu với ý nghĩa của một phép tuyển chặt:

Nếu 112 không làm xong nhiệm vụ thì lui xuống

(= Hoặc 112 làm xong nhiệm vụ, hoặc 112 lui xuống)

Ngoài ra, Nguyễn Đức Dân còn có một đóng góp đáng chú ý khi ông cho là giữa hai mệnh đề của câu điều kiện tồn tại mối quan hệ nhân quả

1.1.2.4 Quan điểm chức năng

Nếu Haiman (1978) mở ra một hướng mới nghiên cứu câu điều kiện theo

hướng điều kiện là chủ đề cho các công trình nghiên cứu về câu điều kiện

mang tính phổ quát (2) thì Cao Xuân Hạo là người đầu tiên cho tiểu cú điều kiện trong tiếng Việt là khung đề Câu “Nếu M1 thì M2” sẽ được ngữ pháp chức năng phân tích như là một nhận định với hai thành phần là khung đề và thuyết Như vậy, đối chiếu với ngữ pháp truyền thống thì khung đề là mệnh đề phụ chỉ điều kiện, thuyết là mệnh đề chính chỉ kết quả

Việc xem tiểu cú điều kiện là khung đề dẫn đến một hệ quả là câu điều kiện sẽ là một câu đơn – quan điểm này đối lập với quan điểm xem câu điều kiện

2 Xem phần tổng quan về các công trình ngữ học thế giới

Trang 29

là câu ghép của hầu hết các nhà Việt ngữ học khác (Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Hoàng Trọng Phiến) Sự khác nhau cơ bản đó xuất phát từ sự bất đồng trong việc nhìn nhận cương vị ngữ pháp của các thành phần câu

Sách Ngữ pháp tiếng Việt (1983), cũng như các sách ngữ pháp truyền thống

khác, xử lí theo hướng đồng nhất hóa câu điều kiện và câu nguyên nhân: ở cả hai loại câu, bộ phận đứng trước là tiền đề, bộ phận đứng sau là kết luận (1) Nếu N1 thì N2

(2) Vì N1 nên N2 [37,211]

Trong khi đó, Cao Xuân Hạo đã xử lí hai loại câu trên hoàn toàn khác: giới ngữ điều kiện ở (1) giữ chức năng khung đề bất kể vị trí trước sau, còn giới ngữ nguyên nhân ở (2) là trạng ngữ

Như vậy có thể thấy các nhà Việt ngữ học truyền thống xem cú pháp của câu điều kiện và câu nhân quả là như nhau, trong khi ngữ nghĩa của chúng thì biệt lập nhau (trên cái nền cú pháp ấy chỉ có Hồ Lê và Nguyễn Đức Dân thấy được quan hệ nhân quả trong ngữ nghĩa câu điều kiện) Với quan niệm chức năng, câu điều kiện và câu nhân quả đối lập nhau về cú pháp, còn quan hệ nhân quả trong ngữ nghĩa của câu điều kiện không được bàn luận

Nếu chúng ta xem câu điều kiện là những câu có quan hệ điều kiện giữa Đề và Thuyết theo ngữ pháp chức năng thì phạm vi câu điều kiện rộng hơn rất nhiều so với câu điều kiện của ngữ pháp truyền thống Khi đó nó bao gồm

những câu có M1 là danh ngữ thời gian khi, tiểu cú điều kiện dù (câu điều kiện nhượng bộ) và tiểu cú điều kiện nếu (câu điều kiện)

* *

* Qua những điều trình bày ở trên có thể nhận thấy, về mặt hình thức, các công trình nói trên đã nêu lên được cấu trúc mô hình cơ bản của câu điều kiện

Trang 30

tiếng Việt và đã đưa ra danh sách các kết từ biểu hiện nghĩa điều kiện Tuy nhiên, ở từng tác giả, danh sách này chưa đầy đủ và các nét nghĩa của từng kết từ chưa được phân tích thỏa đáng Hơn nữa, câu điều kiện được đề cập trong các công trình, phần nhiều chỉ mang tính chất ngữ pháp đại cương chứ chưa được phân tích sâu về mặt ngữ nghĩa, ngữ dụng Và trên bình diện so sánh đối chiếu nó cũng chưa được chú ý đúng mức

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.2.1 Xác định khái niệm “câu điều kiện”

Thuật ngữ “câu điều kiện” mà luận án sử dụng là một thuật ngữ tương đương với thuật ngữ “Conditionals” của tiếng Anh Trong “Từ điển bách khoa ngôn ngữ học” [42], “Conditionals” được định nghĩa như sau:

“Trong khi hoạch định những kế hoạch, đánh giá những hành động, biện hộ cho những niềm tin cũng như trong quá trình lý thuyết hóa (theorizing), người ta thường xét đến những tình huống giả định hoặc những khả năng giả định phản thực có chủ ý Câu điều kiện trực tiếp phản ánh khả năng này để lập luận về những tình huống lựa chọn Câu điều kiện bao gồm hai thành

phần: thành phần thứ nhất gọi là “cái đứng trước” (protasis hay antecedent) và thành phần thứ hai là “cái đứng sau” (apodosis hay consequent) Cái đứng

trước biểu thị điều được giả định; dựa trên điều kiện đó, cái đứng sau nhận định điều sẽ xảy ra

If Shakespeare hadn’t written Hamlet, someone else would have

(Nếu Shakespeare không viết Hamlet thì một người nào đó cũng sẽ viết)” [42,683]

Trong các sách ngữ pháp tiếng Việt, câu điều kiện như trên được xếp vào loại câu thuộc vào nhóm các câu ghép có quan hệ chính phụ (phân biệt với các câu ghép có quan hệ đẳng lập) và tùy vào từng tác giả, nó được đề cập đến với những tên gọi khác nhau: “câu phức hợp qua lại có quan hệ điều kiện - kết quả” (Nguyễn Kim Thản), “câu ghép chính phụ có quan hệ điều kiện/giả thiết -

Trang 31

hệ quả” và “câu đơn có trạng ngữ chỉ điều kiện” (Diệp Quang Ban), “câu điều kiện” (Hoàng Trọng Phiến), v.v Trên thực tế, tên gọi “Câu điều kiện” vẫn là tên gọi phổ biến mỗi khi nhắc đến loại câu này

Xét các ví dụ sau:

(1) Nếu trời mưa thì tôi sẽ ở nhà

(2) Nếu trời mưa, tôi sẽ ở nhà

(3) (Có một cái lớn hơn nhưng kiểu hơi khác một chút) Anh chịu thì tôi lấy

(4) (Cái áo này trông môđen quá) Anh mặc đi làm chắc không hợp

(5) Có thực mới vực được đạo

(6) Nếu mưa thì tôi sẽ ở nhà

(7) Cá này nếu rán thì ngon

(8) Cá này ngon, nếu rán kỹ

Gọi M1 (trời mưa) là bộ phận chỉ điều kiện, M2 (thì tôi sẽ ở nhà) là bộ phận chỉ kết quả, câu (1) có mặt đầy đủ cặp kết từ, một ở đầu M1 (nếu) và một ở đầu M2 (thì) theo công thức NẾU M1 THÌ M2 (Hoàng Tuệ đã đúc kết và được

nhiều nhà ngữ học chấp nhận) là mô hình tiêu biểu của câu điều kiện tiếng

Việt (Cũng cần phải nói rõ thêm là ở vị trí của nếu trong tiếng Việt còn có các kết từ điều kiện khác như hễ, giá, giả sử, nếu như, ngộ nhỡ, ví bằng, ở vị trí của thì có thể có từ là)

Câu (2) khác với câu (1) ở chỗ vắng kết từ thì trước M2 Tuy nhiên chúng ta

cũng không gặp một khó khăn nào khi xác định nghĩa câu, nội dung suy lý

của câu vẫn đủ rõ Đó là vì kết từ nếu, một mình nó cũng đủ khả năng đánh dấu nghĩa điều kiện mà không cần có thêm thì ở M2 Nói cách khác, sự vắng mặt của kết từ thì (hay là) không làm tổn hại việc xác định quan hệ nghĩa của

câu Vì vậy những câu có mẫu NẾU M1, M2 cũng được các tác giả nhất trí xem là câu có quan hệ điều kiện - kết quả

Câu (3) và (4) khó xác định nghĩa điều kiện hơn, câu (3) vắng kết từ ở M1,

Trang 32

câu (4) vắng cả hai kết từ Nghĩa điều kiện trong hai câu trên chỉ được xác định bằng ngữ cảnh Ở câu (5) quan hệ điều kiện - kết quả không được nối kết

bằng các kết từ mà được nối kết bởi cặp vị từ tình thái có mới Đây không

phải là cặp vị từ tình thái biểu hiện nghĩa điều kiện - kết quả duy nhất

Về mặt cấu tạo, M1 và M2 có thể chỉ là một động từ-vị ngữ như (6) và (7), nhưng cũng có thể là một tiểu cú như các ví dụ từ (1) đến (5)

Về mặt trật tự, các câu từ (1) đến (7) có M1 đứng trước, M2 đứng sau nhưng

ở câu (8) trật tự đó bị đảo ngược: M2 (cá này ngon) đứng trước M1 (nếu rán kỹ)

Tất cả các câu từ (1) đến (8) đều là “câu điều kiện” và là đối tượng khảo sát của Luận án Như vậy, Luận án xác định “câu điều kiện” là một thuật ngữ dùng để chỉ một tiểu loại của câu ghép qua lại có chứa mối quan hệ điều kiện - kết quả, một loại câu đơn có trạng ngữ điều kiện hay chính là “câu điều kiện” theo cách gọi của Hoàng Trọng Phiến Mô hình tiêu biểu của câu điều kiện được khảo sát sẽ là

(k1) C-V + (k2) C-V / C (t1) V + C (t2) V

khi k1 và k2 là kết từ điều kiện, t1 và t2 là cặp vị từ tình thái Trong trường hợp k1 là kết từ mà mô hình câu điều kiện thay đổi chút ít như sau:

C (k1) -V + (k2) C-V

Ghi chú: Như vậy “câu điều kiện” mà Luận án sử dụng trùng với loại câu ghép

có quan hệ điều kiện - kết quả theo quan điểm truyền thống, nghĩa của nó hẹp hơn thuật ngữ “câu điều kiện - hệ quả” và hẹp hơn loại câu có “quan hệ điều kiện” giữa Đề và Thuyết theo quan điểm của Ngữ pháp chức năng [2,120]

1.2.2 Xác định hướng tiếp cận của đề tài

Trong Luận án này, vì mục đích chính là khảo sát quan hệ ngữ nghĩa (và ngữ dụng), và cũng vì mục đích so sánh để tìm kiếm phổ quát ngôn ngữ học ở

Trang 33

loại câu này nên chúng tôi chọn cách nhìn nhận gần gũi với ngữ pháp truyền thống hơn là với các khuynh hướng khác Tuy nhiên, ở những chỗ cần thiết, các quan điểm khác cũng sẽ được tham chiếu

Trong các sách ngữ pháp tiếng Việt, câu điều kiện đã tiếp cận ở bình diện nghĩa: nghĩa được dùng để phân các loại câu ghép qua lại thành các nhóm (thời gian, nhân quả, điều kiện, nhượng bộ tăng tiến, mục đích, so sánh); nghĩa cũng được dùng ở công đoạn tiếp theo để chia câu điều kiện thành những loại nhỏ hơn

Kế thừa thành tựu của các nhà Việt ngữ học đồng thời kết hợp với những thành tựu nghiên cứu về câu điều kiện của các nhà ngữ học thế giới, Luận án cũng tiếp cận đề tài về phương diện ngữ nghĩa, xuất phát từ ngữ nghĩa để nhận diện các tiêu chí hình thức

Như đã thấy trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, câu điều kiện đã được tiếp cận theo hai hướng chính là hướng logic học và hướng phi logic học Trong Luận án này chúng tôi sẽ tiếp cận theo hướng logic học, có nghĩa là tiếp nhận thành tựu và quan điểm của các nhà triết học và logic học Cụ thể, chúng tôi đi theo lý thuyết về quan hệ nhân quả của Comrie (rất gần với quan điểm của Nguyễn Đức Dân và Hồ Lê trong Việt ngữ học) và sự phát triển lý thuyết này của Sweetser (1990), các quan điểm về tính giả định, các mức độ giả định và thái độ của người nói đối với hiện thực của Fillmore Về ngữ dụng học, chúng tôi vận dụng lý thuyết của Searle về hành động ngôn từ, của Grice về các nguyên lý hội thoại, của Chafe về cái cho sẵn, v.v

1.2.3 Quan hệ nhân quả trong câu điều kiện

Đã có không ít các công trình khảo sát mối quan hệ ngữ nghĩa giữa M1(mệnh đề điều kiện) và M2 (mệnh đề kết quả)(3) trong các công trình ngữ

3 Mệnh đề (proposition) là khái niệm thuộc về logic hơn là ngôn ngữ Tuy nhiên để tiện theo dõi chúng tôi tạm dùng chúng để chỉ 2 tiểu cú M1 và M2 thiết lập nên câu điều kiện

Trang 34

học gần đây Các mối quan hệ giữa M1 và M2 mà các công trình ấy đề cập có thể kể là quan hệ nhân quả (causal relation), quan hệ phụ thuộc, quan hệ hành động ngôn từ, quan hệ siêu ngôn ngữ, quan hệ nối tiếp (Dancygier [47]) Ngoài ra, nếu đứng dưới góc nhìn của cấu trúc thông báo (Haiman [56]) quan điểm chức năng (Cao Xuân Hạo [2]) giữa chúng còn có quan hệ Đề - Thuyết Trong các mối quan hệ trên, quan hệ nhân quả được các nhà ngữ học đề cập nhiều nhất Thậm chí, theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà logic học, quan hệ nhân quả gần như là một thứ quan hệ đặc trưng nhất, bản chất nhất của ngữ nghĩa điều kiện nói chung

Theo Kant, quan hệ nhân quả, giống như thời gian và không gian, tạo ra những phạm trù cơ bản trong nhận thức con người Quan hệ nhân quả không phải là một phạm trù được chúng ta nhận biết từ kinh nghiệm mà là một trong những phạm trù cơ sở (primitive) giúp cho chúng ta giải thích kinh nghiệm Dữ liệu ngôn ngữ tỏ ra phù hợp với quan điểm của Kant ở chỗ các ngôn ngữ đều có một số đơn vị từ vựng liên quan đến quan hệ nhân quả (Dẫn theo Wierzbicka [81,68]) Quan hệ nhân quả có thể thể hiện thông qua các cấu trúc ngôn ngữ như cấu trúc điều kiện, cấu trúc nguyên nhân hoặc cấu trúc gây khiến Thậm chí, mối quan hệ đó còn thể hiện trong những câu có chứa liên từ

and (và) or (hay) và dấu chấm

Riêng trong lĩnh vực câu điều kiện, đã từ lâu, các nhà nghiên cứu phát hiện

ra rằng câu điều kiện của ngôn ngữ tự nhiên có hàm chứa quan hệ nhân quả và đó là cái làm nên sự khác nhau giữa câu điều kiện trong ngôn ngữ tự nhiên và câu điều kiện trong logic học

Bởi vì, trong logic học, như chúng tôi đã trình bày ở trên, câu điều kiện (phép kéo theo) được xác định như là mối quan hệ giữa hai mệnh đề, mệnh đề đứng trước (protasis) (P) và mệnh đề đứng sau (apodosis) (Q) Phép kéo theo đó đúng trong mọi trường hợp, trừ trường hợp tiền đề P đúng và kết đề Q sai (X bảng phép kéo theo ở mục 1.1.1)

Nhưng trong thực tế dụng ngôn, ngôn ngữ tự nhiên sử dụng câu điều kiện

Trang 35

không đồng nhất với quan hệ điều kiện được định nghĩa bởi các nhà logic Hãy thử xem xét hai thí dụ sau:

(9) If Hitler was a military genius, London is in England (Nếu Hiller là một thiên tài quân sự thì Luân Đôn ở nước Anh) (Ví dụ của Church – dẫn theo Haiman)

(10) Nếu Paris là thủ đô nước Pháp thì 2 là một số chẵn

Câu (9) có tiền đề (Hitler là một thiên tài quân sự) sai, nhưng có kết đề (Luân Đôn ở nước Anh) đúng Căn cứ vào bảng giá trị chân lý, câu trên là một câu đúng Nhưng trong ngôn ngữ tự nhiên, một câu như vậy khó có thể được chấp nhận Cũng vậy, trong câu (10) cả P và Q đều là những nhận định đúng nhưng vẫn tạo ra một câu thiếu chuẩn tắc vì không có mối liên quan về mặt ngữ nghĩa nào giữa “Paris là thủ đô nước Pháp” với việc “2 là số chẵn”

Quả thật, ngôn ngữ tự nhiên đòi hỏi một sự liên kết chặt chẽ hơn giữa hai mệnh đề Theo Comrie, trong phần lớn trường hợp, liên kết này có tính nhân quả, nghĩa là nội dung của M1 có thể được diễn dịch như là nguyên nhân của nội dung của M2 Trong bài viết của mình, Comrie đã trình bày quan hệ nhân quả như là một bổ sung cho định nghĩa câu điều kiện trong ngôn ngữ tự nhiên kết hợp với phép kéo theo của các nhà logic và cho rằng hầu hết các câu điều kiện đều chứa quan hệ nhân quả Thậm chí, ông đề nghị bổ sung tiêu chí này như là một tiêu chí thứ hai(4) trong việc miêu tả đặc trưng của câu điều kiện trong ngôn ngữ tự nhiên: Câu điều kiện “là sự kết hợp phép kéo theo với tính quan yếu của một quan hệ nhân quả giữa mệnh đề trước và mệnh đề sau" [46,68-71]

Ngoài Comrie, cũng có nhiều tác giả khác nhắc đến mối quan hệ nhân quả trong câu điều kiện Dancygier cho rằng sẽ là thiếu sót nếu không có sự chú ý thích đáng đến xu hướng diễn đạt nguyên nhân trong câu điều kiện [47,80] Trong quyển sách đã dẫn, tác giả cũng thừa nhận quan điểm nhân quả của Comrie và lấy đó làm thông số để phân tích ngữ nghĩa điều kiện Thí dụ:

4 Tiêu chí thứ nhất là phép kéo theo trong logic

Trang 36

(11) Nếu anh thêm kem thì món salat này mùi vị sẽ ngon hơn

Giữa M1 (anh thêm kem) và M2 (món salat này mùi vị sẽ ngon hơn) rõ ràng có quan hệ nhân quả: việc thêm kem là một nhân tố làm cho hương vị salát ngon hơn Bacbara Dancygier cũng cho rằng ý nghĩa nhân quả là ý nghĩa bản chất nhất trong câu điều kiện nhưng bà giới hạn nhận định này trong phạm

vi những câu điều kiện nói về các sự kiện trong thế giới thực Van der Auwera, với quan niệm quan hệ điều kiện đủ (sufficient conditional), cũng ủng hộ tính nhân quả Quan hệ điều kiện đủ có thể tóm tắt như sau: sự kiện hay sự tình được miêu tả ở M1, nếu được hiện thực hóa, sẽ là đủ đối với sự hiện thực hóa sự tình ở M2 Nghĩa là nếu một sự kiện M1 (rơi cái ly) là điều kiện

đủ cho sự cho sự kiện M2 (cái ly vỡ) thì câu Nếu anh làm rơi cái ly này thì nó sẽ vỡ, có thể hiểu một cách tự nhiên là hành động làm rơi sẽ làm vỡ cái ly

[47,82]

Von Wright (1975) cũng lập luận rằng con người có khả năng can thiệp có chủ ý vào các sự kiện và do đó thay đổi quá trình mặc nhiên của nó Ông khẳng định: sự can thiệp nhân quả khả hữu là thực chất của quan hệ điều kiện

1.2.4 Về thuật ngữ “quan hệ nhân quả”

Các nhà nghiên cứu cho rằng không nên hiểu quan hệ nhân quả một cách cứng nhắc mà nên nhìn nhận nó trong cách hiểu phổ biến, thông thường của người bản ngữ Theo đó, quan hệ nhân quả có thể có các biểu hiện sau:

(i) Quan hệ nhân quả thường được biết đến như sự gây khiến (causation):

(12) If there is no water in your radiator, your engine will overheat immediately [43,65] (Nếu không có nước trong bộ tản nhiệt thì máy xe của anh sẽ lập tức nóng lên)

(Sự không có nước là nguyên nhân trực tiếp gây nên tình trạng nóng máy xe)

(ii) Quan hệ nhân quả thể hiện khi Nếu tương đương với “trong điều kiện là”:

Trang 37

(13) If the allowance is more favourable to a widow than the retirement pension, she will be paid that allowance [43,66]

(Nếu tiền trợ cấp có lợi hơn tiền hưu trí thì quả phụ sẽ được trả tiền trợ cấp)

(Quả phụ sẽ được hưởng tiền trợ cấp trong điều kiện là nó có lợi hơn (tiền hưu))

(iii) Quan hệ nhân quả cũng có mặt khi M2 là một phản ứng:

(14) If I go bald I’ll shoot myself [43,61]

(Nếu tôi bị hói thì tôi sẽ tự bắn vào đầu mình)

(Phản ứng đối với sự tình “giả định” là hói đầu)

So sánh (12) và (13) chúng ta thấy có những sự khác nhau khá rõ Ở câu

(12) việc “không có nước” trong bình tản nhiệt đã gây ra tình trạng nóng máy

Ở câu (13) sự “có lợi hơn’ không gây ra việc trả tiền trợ cấp mà tiền trợ cấp sẽ

được trả trong điều kiện nó có lợi hơn, ở câu (14) thì “hói đầu” không gây ra hành động bắn vào đầu mà chỉ là một phản ứng mang tính chất dự báo một khi điều giả định ở M1 trở thành sự thật

Athanasiadou [43] đã đưa ra một phép thử nhỏ bằng việc thay if bằng because Có thể thay thế trong cả 3 câu trên theo cùng một cách:

(12)’ Máy xe sẽ rất nóng vì không có nước trong bộ tản nhiệt

(13)’ Bà quả phụ sẽ được trả trợ cấp vì nó có lợi hơn tiền hưu trí

(14)’ Anh ấy sẽ bắn vào đầu mình vì anh ấy bị hói

Mặc dù có sự khác nhau giữa (12),(13),(14) nhưng because đã chỉ ra được

nghĩa chung của những câu này, đó là cái lý do khiến người nói liên kết hai mệnh đề bộ phận như trên lại với nhau

(iv) Quan hệ nhân quả, hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ liên quan đến nội dung của các mệnh đề (phần lớn có tính gây khiến) mà còn liên quan đến những lý do thúc đẩy người nói đưa ra các nhận định:

Trang 38

(15) John là một tên trộm vì tôi thấy anh ta ăn cắp

(Nếu tôi thấy John ăn cắp thì tôi có thể kết luận rằng anh ta là một tên trộm)

Câu trên được diễn giải như sau: không phải là việc tôi thấy John ăn cắp làm cho anh ta trở thành tên trộm mà việc tôi thấy John ăn cắp là lý do để tôi tin rằng John là một tên trộm

(v) Quan hệ nhân quả được nói ở đây, như Sweetser lưu ý, là quan hệ nhân quả theo nghĩa rộng trong logic học và trong ngôn ngữ học, trong đó sự “cho phép” (enable) cũng được xử lý như là sự gây khiến (causation) [78]:

(16) Nếu tôi là tổng thống tôi sẽ bán hết đồ sứ ở Nhà Trắng để tài trợ cho chương trình giáo dục song ngữ

Ở đây cương vị tổng thống cho phép thực hiện hành động mua bán, hai mệnh

đề trên vẫn được xem như có mối liên kết nhân quả

Trong công trình “Logic, ngữ nghĩa, cú pháp” và “Quan hệ nghịch nhân quả” [24][25], Nguyễn Đức Dân đã xác định khái niệm quan hệ nhân quả một cách khái quát hơn Ông viết: “Hai hiện tượng X và Y được xem là có quan hệ nhân quả khi xảy ra hiện tượng X thì sẽ xảy ra hiện tượng Y” [25,17] Quan hệ này, theo ông, được thể hiện ở các câu nguyên nhân - kết quả và điều kiện

- kết quả Chẳng hạn, hai câu sau đây:

(17) Vì chăm học nên nó học rất giỏi

(18) Nếu chăm học thì nó sẽ học rất giỏi

ông cho là tuy không đồng nhất với nhau nhưng chúng đều thể hiện quan hệ nhân quả

1.2.5 Tính giả định trong câu điều kiện

Trong khi giao tiếp, con người không thể không phân biệt giữa việc trần thuật các sự tình có diễn ra thực (nhất là những sự việc mà người nói có chứng kiến) với các sự tình giả định Vì vậy, trong các công trình triết học và

Trang 39

logic học, sự phân biệt các loại điều kiện cũng được đặt cơ sở trên tính giả định như một ý nghĩa phổ quát của câu điều kiện Truyền thống ngôn ngữ học

có một định nghĩa câu điều kiện có tính chất kinh điển như sau: “Câu điều kiện diễn đạt một sự phụ thuộc giữa hai sự việc giả định” (dẫn theo Haiman [56,585-595])

Palmer cũng thừa nhận vai trò của tính giả định trong câu điều kiện: Câu điều kiện không giống các câu khác ở chỗ cả hai mệnh đề M1 và M2 là không thực (non factual), cả hai không chỉ định sự tình nào xuất hiện (hoặc đang xuất hiện hoặc sẽ xuất hiện) Câu điều kiện thuần tuý chỉ sự phụ thuộc của giá trị đúng của một mệnh đề kéo theo giá trị đúng của mệnh đề kia [68,189] Tính giả định trong câu điều kiện cũng đã được khẳng định rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu như Jespersen, Comrie, Akatsuka, v.v., và nó quan trọng đến mức Jespersen đã gọi các câu điều kiện không có tính giả định là những câu “điều kiện giả” (pseudo-conditional)(5)

Theo Cao Xuân Hạo, nhờ đặc trưng giả định này mà câu điều kiện phân biệt được với câu có trạng ngữ thời gian hoặc câu nguyên nhân vốn là những câu có hàm thực [5,8-9]

Tính giả định có 2 mức độ: sự tình tiềm năng (potentiolist) mà chúng tôi

gọi là giả định giả thiết và sự tình phi thực (irrealis) mà chúng tôi gọi là giả định phản thực Nội dung ngữ nghĩa của các loại câu này sẽ được giải thích rõ

5 Ví dụ như câu “If I was a bad carpenter, I was a worse tailor” (Nếu tôi là thợ mộc tồi thì tôi là thợ may tồi hơn)

Trang 40

nhân là câu hiển thị quan hệ nhân quả rõ ràng nhất thông qua các biểu thức

ngôn ngữ học (linguistic expressions) khởi đầu bằng các dấu hiệu because, as, since trong tiếng Anh, và là vì, nên, bởi, do, tại, v.v trong tiếng Việt

Theo ngữ pháp truyền thống, câu điều kiện và câu nguyên nhân được xem là những cấu trúc giống nhau về hình thức ở chỗ cả hai được hình thành do sự kết hợp qua lại giữa hai mệnh đề; khác nhau ở chỗ một bên được đánh dấu

bằng nếu…thì…, một bên được đánh dấu bằng vì (nên)… Và nếu thừa nhận câu

điều kiện hàm chứa quan hệ nhân quả thì câu nguyên nhân và câu điều kiện là hai loại câu rất gần gũi về ý nghĩa, vì giữa hai mệnh đề trong từng loại câu cùng tồn tại mối quan hệ nhân quả Tuy vậy, cả hai không được xem là đồng

nhất vì có sự khác nhau cơ bản giữa if và các liên từ nhân quả (because, since, as): liên từ nhân quả dẫn nhập thông tin thực được khẳng định, còn if dẫn

nhập thông tin có tính giả định Cũng vậy, Akatsuka [39,29] cho rằng khi M1

di chuyển sang phạm vi hiện thực thì quan hệ điều kiện trở thành quan hệ nguyên nhân - kết quả:

(19) Nếu trời mưa thì tôi sẽ ở nhà

(20) Vì trời mưa nên tôi ở nhà

Ở (19), “trời mưa” là một việc chưa xảy ra trong thế giới thực, người nói chỉ thiết lập một giả thiết và đưa ra một kết quả tiên đoán trên giả thiết đó Ở (20) trời mưa là một sự việc đã xảy ra Trời đã mưa và tôi đã ở nhà Comrie và Ramsey dùng tiêu chuẩn giá trị đúng/sai (the truth) để phân biệt:

"If A, B" sẽ là một câu đồng nghĩa với “Because A, B” khi nó được biết là có giá trị đúng

Hai ví dụ tương tự sau đây của Comrie, trong đó cấu trúc nhân quả (causal construction) phân biệt với cấu trúc điều kiện (conditional construction) ở chỗ cấu trúc nhân quả liên quan đến sự khẳng định về cái đúng của hai mệnh đề: (21) Since you’re leaving now, I won’t go with you

(Vì anh đi bây giờ nên tôi sẽ không đi với anh)

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w