1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương thức liên kết thay thế trong văn bản tiếng việt (so sánh với văn bản tiếng anh)

150 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương thức liên kết thay thế trong văn bản tiếng việt (so sánh với văn bản tiếng anh)
Tác giả Trần Thanh Hằng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Thanh
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 0.1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu (6)
  • 0.2 Giới hạn đề tài – Phạm vi nghiên cứu (7)
  • 0.3 Lịch sử nghiên cứu đề tài (8)
  • 0.4 Phương pháp nghiên cứu – Nguồn ngữ liệu (13)
  • 0.5 Đóng góp của luận văn (13)
  • 0.6 Kết cấu của luận văn (15)
  • 1.1 Giới thuyết chung (15)
    • 1.1.1 Liên kết và mạch lạc (18)
    • 1.1.2 Phương thức liên kết (19)
    • 1.1.3 Phương thức liên kết thay thế (20)
  • 1.2 Vai trò và vị trí của phương thức liên kết thay thế trong hệ thống liên kết nói chung (15)
  • 1.3 Phương thức liên kết thay thế và phép quy chiếu (15)
    • 1.3.1 Vật quy chiếu (referent) (25)
    • 1.3.2 Quy chieáu (reference) (25)
    • 1.3.3 Phương thức liên kết thay thế và phép quy chiếu (26)
  • 1.4 Phương thức liên kết thay thế và phương thức Hồi chỉ – khứ chỉ (15)
  • 1.5 Quan niệm về liên kết thay thế của Halliday và Hasan (29)
  • 1.6 Quan niệm về liên kết thay thế của Trần Ngọc Thêm (33)
  • 1.7 Quan niệm về liên kết thay thế của luận văn (35)
  • 1.8 Tieồu keỏt (15)
  • 2.1 Giới thuyết chung (15)
    • 2.1.1 Trong Tieáng Anh (38)
    • 2.1.2 Trong Tieỏng Vieọt (40)
  • 2.2 Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ) trong tiếng Anh và (15)
    • 2.2.1 Thế bằng đại từ nhân xưng trong tiếng Anh và tiếng Việt (42)
    • 2.2.2 Thế bằng đại từ chỉ xuất trong tiếng Anh và tiếng Việt (53)
  • 2.3 Chức năng ngữ dụng của phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt (16)
    • 2.3.1 Chức năng liên kết văn bản (16)
    • 2.3.2 Chức năng rút gọn văn bản (16)
    • 2.3.3 Chức năng đa dạng hoá văn bản (16)
    • 2.4.1 Tương đồng (16)
    • 2.4.2 Khác biệt (16)
  • 2.5 Tieồu keỏt (16)
  • 3.1 Giới thuyết chung (16)
  • 3.2 Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng ngữ đoạn) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt (16)
    • 3.2.1 Thế bằng danh từ (hay danh ngữ) (16)
    • 3.2.2 Thế bằng động từ (hay động ngữ) (17)
  • 3.3 Chức năng ngữ dụng của phương thức liên kết thay thế ( kiểu thế bằng ngữ đoạn) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt (17)
    • 3.3.1 Chức năng đa dạng hoá văn bản (17)
    • 3.3.2 Chức năng cung cấp thông tin phụ (17)
  • 3.4 So sánh phương thức liên kết thay thế (111)
    • 3.4.1 Tương đồng (17)
    • 3.4.2 Khác biệt (17)
  • 3.5 Tieồu keỏt (17)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (125)

Nội dung

Việt cũng như qua so sánh, đối chiếu từ sự đồng nhất và khác biệt, chúng tôi hy vọng rằng, luận văn sẽ góp thêm phần nào vào việc làm rõ các đặc trưng của loại hình ngôn ngữ qua phương t

Giới hạn đề tài – Phạm vi nghiên cứu

Hiện nay, mặc dù được gọi chung là “Phương thức liên kết thay thế”, nhưng mỗi ngôn ngữ và tác giả lại có cách nhận diện và phân loại riêng Luận văn này sẽ tập trung vào hai kiểu thay thế cụ thể.

0.2.1 Thay thế bằng đại từ (bao gồm đại từ nhân xưng và đại từ chỉ xuaát)

Thay thế bằng các ngữ đoạn tương đương về nghĩa là một phương pháp quan trọng trong việc duy trì mối quan hệ giữa thượng danh và hạ danh Việc này giúp đảm bảo tính chính xác và sự liên kết trong ngữ nghĩa của văn bản.

Để hiểu rõ hơn về lý thuyết và ứng dụng cụ thể, luận văn sẽ liên hệ đến phương thức hồi chỉ và khứ chỉ trong một chừng mực nhất định.

Lịch sử nghiên cứu đề tài

Phương thức liên kết thay thế, mặc dù chỉ là một phần của liên kết văn bản, đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu từ lâu.

Trong nghiên cứu tiếng Anh, đặc biệt là trong phân tích diễn ngôn, phương thức liên kết thay thế đã được các tác giả Châu Âu chú ý từ sớm Dựa trên đơn vị cơ bản là Cú (Clause), phương thức này được coi là một trong bốn phương thức liên kết cơ bản Do đó, hầu hết các tài liệu phân tích diễn ngôn tiếng Anh đều đề cập đến phương thức liên kết thay thế, tùy thuộc vào yêu cầu của từng công trình.

Trong khuynh hướng ngữ pháp truyền thống có một số nhà ngữ pháp kết hợp với quan sát thực tế để miêu tả ngôn ngữ Trong cuốn A

Trong "Comprehensive Grammar of the English Language" (1985), các tác giả đã mô tả đại từ tiếng Anh như một tập hợp đa dạng và không thể phân định rõ ràng với các từ loại khác Họ đã thực hiện một số thay đổi trong cách phân loại, bao gồm việc kết hợp đại từ phản thân vào tiểu loại đại từ nhân xưng và phân loại các tập hợp con của đại từ phiếm định thành các nhóm như: nhân xưng, phản thân, sở hữu, tương hỗ, quan hệ, nghi vấn, chỉ định và phiếm định Phương pháp phân định này thể hiện sự rõ ràng, chi tiết và chú trọng đến yếu tố hình thái.

Dựa vào chức năng, Charles Fillmore phân loại đại từ nhân xưng thành hai tiểu loại: Đại từ chỉ xuất, bao gồm các đại từ nhân xưng ngôi 1 và ngôi 2.

Khi các từ được sử dụng để chỉ cá nhân trong ngữ cảnh, đại từ hồi chỉ có thể đồng quy chiếu với các đối tượng đã xuất hiện trong diễn ngôn Fillmore đã nhận ra vai trò quan trọng của đại từ trong chức năng chỉ xuất và quy chiếu, từ đó sử dụng nó làm tiêu chí phân loại Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục áp dụng cách phân định của ngữ pháp truyền thống cho các tiểu loại đại từ khác như đại từ chỉ định, nghi vấn, quan hệ, và phiếm chỉ.

Chomsky không trực tiếp phân định các tiểu loại đại từ, nhưng ông phân chia danh ngữ thành nhiều loại, bao gồm danh ngữ hồi chỉ, đại từ nhân xưng và các loại danh ngữ khác Từ góc độ hình thái, ông nhóm đại từ tương hỗ và phản thân lại với nhau vì cả hai đều xuất hiện cùng với tiền ngữ trong cùng một mệnh đề tối giản Đại từ nhân xưng, với chức năng quy chiếu và chỉ xuất, cũng đồng quy chiếu với tiền ngữ xuất hiện trước hoặc sau nó trong văn bản.

Theo quan điểm ngữ pháp chức năng của M A K Halliday, từ loại được phân định dựa vào chức năng như tác nhân và tiến trình Tuy nhiên, nhược điểm của cách phân định này là một từ có thể đảm nhận nhiều chức năng khác nhau, do đó việc xác định loại từ phụ thuộc vào ngữ cảnh Hiện tại, vai trò của đại từ trong hệ thống từ loại tiếng Anh vẫn còn thứ yếu.

Vào năm 1976, M.A.K Halliday và R.Hasan đã giới thiệu quan niệm về tính liên kết, trong đó đại từ được xem như một phương tiện liên kết trong văn bản thông qua hai phương thức: phép quy chiếu và phép thế Mặc dù họ không tập trung vào từ loại đại từ hay cách phân định từ loại, nhưng phát hiện này đã chỉ ra vai trò quan trọng của đại từ ở cấp độ trên câu và chức năng liên kết của nó, đóng góp đáng kể vào việc hiểu rõ hơn về vai trò của đại từ trong hệ thống từ loại.

Trên cứ liệu tiếng Việt, cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về vấn đề đang bàn ở trên

Năm 1940, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Gia Khiêm [24], và năm

Năm 1995, Phạm Tất Đắc định nghĩa đại từ là từ thay thế cho danh từ nhằm tránh sự lặp lại Ông cũng nhấn mạnh vai trò của đại từ trong việc làm chủ từ, túc từ của danh từ, túc từ của tính từ, và túc từ của đại từ Các nhà ngữ pháp đều đồng ý rằng đại từ chủ yếu có nhiệm vụ thay thế cho danh từ, do đó nó có giá trị tương đương với danh từ Đại từ không chỉ thực hiện tất cả các chức năng của danh từ mà còn có nhiệm vụ xưng hô và gọi.

Nguyễn Kim Thản xác định rằng đại từ thuộc nhóm thực từ, nhưng khác với các từ loại khác trong nhóm này, đại từ không gọi tên mà chỉ dùng để thay thế Ông phân loại đại từ thành ba tiểu loại: đại thể từ, bao gồm đại từ nhân xưng, đại từ qua lại, đại từ – số từ và đại từ chỉ định; đại vị từ; và đại từ nghi vấn.

Nguyễn Thiện Giáp và Đoàn Thiện Thuật xếp đại từ vào nhóm thực từ, cho rằng đại từ thay thế cho các thực từ và có bốn tiểu loại: đại danh từ (thay thế danh từ và tính từ), đại số từ (thay thế số từ), và đại vị từ (thay thế nhiều từ loại, bao gồm cả câu và chuỗi câu) Phân định này chủ yếu dựa vào chức năng thay thế của đại từ.

Diệp Quang Ban đã nêu ra một số vấn đề chung liên quan đến văn bản và ngôn ngữ học văn bản, trong đó giới thiệu hai hệ thống liên kết: một hệ thống phổ biến tại các trường học Việt Nam và một hệ thống được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới Đinh Văn Đức định nghĩa đại từ là loại từ có mối quan hệ chặt chẽ với thực từ nhưng không phải là thực từ, với chức năng thay thế, đại từ mang một chức năng ngữ pháp đặc biệt và không có ý nghĩa từ vựng.

Theo Trần Ngọc Thêm, đại từ được coi là công cụ liên kết chủ đề thông qua "phép thế đại từ" Về lý thuyết, đại từ được phân loại thành 28 nhóm nhỏ dựa trên hai tiêu chí.

(1) Đối tượng thay thế, (2) quan hệ với toạ độ gốc Theo Trần Ngọc Thêm

Đại từ có chức năng liên kết, thay thế cho từ, ngữ đoạn, phát ngôn hoặc chuỗi phát ngôn trong lời nói trước Với ngữ pháp văn bản, chức năng thay thế của đại từ đã vượt ra ngoài ranh giới câu mà ngữ pháp truyền thống đã xác định.

Nguyễn Đức Dân đã đề cập đến ngữ pháp logic trong tiếng Việt, trong đó ông nêu ra năm loại đại từ hồi, bao gồm: đại từ quy chiếu, đại từ đồng quy chiếu, đại từ biến buộc, đại từ kiểu E và đại từ lười.

Phương pháp nghiên cứu – Nguồn ngữ liệu

Luận văn áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm sưu tập, phân loại, miêu tả và thống kê theo cách quy nạp Đặc biệt, phương pháp so sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Anh – Việt được sử dụng để xác định những điểm tương đồng và khác biệt Mỗi phần sẽ áp dụng phân tích hệ thống cấu trúc ngữ pháp và chức năng ngữ dụng nhằm tìm ra các giải pháp cụ thể Dựa trên miêu tả và so sánh, nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu cụ thể sẽ giúp đưa ra kết luận và đề xuất cuối cùng.

Nguồn ngữ liệu của luận văn này bao gồm các văn bản tiếng Anh và tiếng Việt Chúng tôi đã chọn hai chuyện ngắn để phân tích, bao gồm "A Bond of Sympathy" của O Henry và "Kịch câm" của Phan Thị Vàng Anh, mỗi tác phẩm có độ dài khoảng 1400 từ Ngoài ra, chúng tôi cũng chú trọng đến ngôn ngữ trong sinh hoạt hàng ngày.

Đóng góp của luận văn

Thông qua cách miêu tả trong cứ liệu tiếng Anh và cứ liệu tiếng

Chúng tôi hy vọng luận văn này sẽ làm rõ các đặc trưng của loại hình ngôn ngữ thông qua việc so sánh và đối chiếu sự đồng nhất và khác biệt, đồng thời cung cấp tư liệu hữu ích cho các nhà ngôn ngữ học trong việc giải quyết các vấn đề lý luận liên quan đến từ loại đại từ.

Luận văn này sẽ giúp làm phong phú và hoàn thiện lý thuyết về hệ thống liên kết, đặc biệt là phương thức liên kết thay thế, bao gồm việc sử dụng đại từ và từ, ngữ tương đương về nghĩa trong ngữ pháp văn bản tiếng Anh và tiếng Việt.

Việc mô tả loại hình từ hai ngôn ngữ khác nhau sẽ giúp cải thiện quá trình giảng dạy và học tập tiếng Anh cho người Việt, đồng thời hỗ trợ người bản ngữ nói tiếng Anh trong việc học tiếng Việt.

Kiến thức về chức năng thay thế và liên kết của đại từ cùng các từ ngữ tương đương giúp người học tiếng đọc hiểu văn bản dễ dàng hơn và cải thiện khả năng viết mạch lạc khi tạo lập văn bản.

Hiểu biết về sự tương đồng và khác biệt giữa các phương tiện liên kết trong phương thức thay thế, bao gồm kiểu thế bằng đại từ và kiểu thế bằng ngữ đoạn, trong tiếng Anh và tiếng Việt, sẽ nâng cao hiệu quả dịch thuật Điều này giúp người dịch xác định và lựa chọn đại từ phù hợp, bao gồm đại từ nhân xưng và đại từ chỉ xuất, cũng như tìm ra các từ và ngữ đoạn tương đương về nghĩa trong từng ngữ cảnh cụ thể.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, nội dung chính của luận văn tập trung ở ba chương:

Chương một: Tổng quan về liên kết và phương thức liên kết thay thế

Giới thuyết chung

Liên kết và mạch lạc

Văn bản là một chỉnh thể thống nhất, trong đó các câu tạo nên mối quan hệ để hình thành tính thống nhất chủ đề Đặc trưng cơ bản của văn bản bao gồm tính hoàn chỉnh nội dung, cấu trúc và tính liên kết mạch lạc Cấu trúc văn bản xác định vị trí của mỗi câu và mối quan hệ của chúng, từ đó tạo ra tính liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence) cho toàn bộ văn bản.

Tính liên kết (cohesion) là yếu tố quan trọng trong văn bản, thể hiện qua các mối quan hệ hình thức trên bề mặt Trong khi đó, mạch lạc (coherence) liên quan đến các nghĩa ngầm và ngữ cảnh, giúp phân biệt giữa câu văn và không phải câu văn Mạch lạc có vai trò quyết định, cho thấy rằng liên kết và mạch lạc là điều kiện cần và đủ để hình thành một văn bản hoàn chỉnh.

Mạch lạc và liên kết trong văn bản có vai trò và chức năng khác nhau, nhưng trong thực tế giao tiếp, chúng thường được xem là có vai trò tương tự Mạch lạc có nhiều cách biểu hiện, trong đó không ít trường hợp được thể hiện qua các phương thức liên kết Vậy phương thức liên kết là gì?

Phương thức liên kết

Phương thức liên kết là các biện pháp giúp các câu trong văn bản gắn kết với nhau, tạo thành một mạng lưới quan hệ chặt chẽ Liên kết văn bản không chỉ làm cho nội dung trở nên hoàn chỉnh mà còn giúp từng câu trong chuỗi liên kết trở thành một chỉnh thể không thể tách rời.

Liên kết văn bản là một phần quan trọng trong cấu trúc quan hệ của hệ thống ngôn ngữ, bao gồm cả phương thức liên kết (hình thức) và mặt ý nghĩa (nội dung) Hai yếu tố này tạo thành một thể thống nhất, đó là văn bản Theo Trần Ngọc Thêm, có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ giữa liên kết nội dung và liên kết hình thức, trong đó liên kết nội dung được thể hiện qua các phương thức, còn liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung Trong số nhiều phương thức liên kết, bài viết này sẽ tập trung vào phương thức liên kết thay thế, bao gồm kiểu thay thế bằng đại từ và kiểu thay thế bằng ngữ đoạn.

Phương thức liên kết thay thế và phép quy chiếu

Vật quy chiếu (referent)

Vật quy chiếu, hay còn gọi là "vật sở chỉ", là yếu tố quan trọng trong việc tạo lập và tiếp nhận văn bản Người tham gia giao tiếp cần xác định chính xác vật quy chiếu của từ ngữ trong văn bản để tránh sự nhập nhằng và hiểu sai thông tin.

Quy chieáu (reference)

Về quy chiếu, có nhiều cách định nghĩa khác nhau Đỗ Hữu Châu (1993) cho rằng “sự chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn với sự vật hiện tượng đang được nói tới trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định.” Điều này cho thấy sự quan trọng của ngữ cảnh trong việc thể hiện mối quan hệ giữa diễn ngôn và hoàn cảnh giao tiếp.

Quy chiếu được định nghĩa là mối quan hệ giữa từ ngữ và các sự vật mà chúng thay thế, nhấn mạnh tầm quan trọng của mối liên hệ này trong giao tiếp Cả hai định nghĩa đều chỉ ra rằng từ ngữ không chỉ đơn thuần là ký hiệu mà còn có vai trò quan trọng trong việc biểu thị các đối tượng, đồng thời phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp để truyền đạt ý nghĩa một cách chính xác.

Phương thức liên kết thay thế và phương thức Hồi chỉ – khứ chỉ

1.5 Halliday và Hasan cho rằng phương thức liên kết thay thế là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra sự liên kết và mạch lạc trong văn bản 1.6 Trần Ngọc Thêm cũng nhấn mạnh vai trò của phương thức này trong việc duy trì sự liên kết giữa các ý tưởng và thông điệp trong văn bản 1.7 Luận văn đề cập đến phương thức liên kết thay thế như một công cụ hữu hiệu để tăng cường tính liên kết và sự rõ ràng trong giao tiếp.

Chương hai: Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

2.2 Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ ) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

2.2.1 Thế bằng đại từ nhân xưng trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

2.2.1.1 Trong tieáng Anh 2.2.1.2 Trong tieỏng Vieọt 2.2.2 Thế bằng đại từ chỉ xuất trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

2.2.2.1 Trong tieáng Anh 2.2.2.2 Trong tieỏng Vieọt

2.3 Chức năng ngữ dụng của phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

2.3.1 Chức năng liên kết văn bản

2.3.1.1 Trong tieáng Anh 2.3.1.2 Trong tieỏng Vieọt 2.3.2 Chức năng rút gọn văn bản

2.3.2.1 Trong tieáng Anh 2.3.2.2 Trong tieỏng Vieọt 2.3.3 Chức năng đa dạng hoá văn bản

2.3.3.1 Trong tieáng Anh 2.3.3.2 Trong tieỏng Vieọt 2.4 So sánh phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

Chương ba: Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng ngữ đoạn) trong tiếng Anh và tiếng Việt

3.2 Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng ngữ đoạn) trong tiếng Anh và tiếng Việt

3.2.1 Thế bằng danh từ (hay danh ngữ)

3.2.2 Thế bằng động từ (hay động ngữ)

3.3 Chức năng ngữ dụng của phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng ngữ đoạn) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

3.3.1 Chức năng đa dạng hoá văn bản

3.3.1.1 Trong tieáng Anh 3.3.1.2 Trong tieỏng Vieọt 3.3.2 Chức năng cung cấp thông tin phụ

3.3.2.1 Trong tieáng Anh 3.3.2.2 Trong tieỏng Vieọt 3.4 So sánh phương thức liên thay thế (kiểu thế bằng ngữ đoạn) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

TOÅNG QUAN VEÀ LIEÂN KEÁT VÀ PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT THAY THẾ

1.1.1 Liên kết và mạch lạc

Văn bản là một chỉnh thể thống nhất, trong đó các câu tạo nên mối quan hệ và tính thống nhất chủ đề Để trở thành văn bản, chuỗi câu cần có tính hoàn chỉnh nội dung, cấu trúc và tính liên kết mạch lạc Cấu trúc văn bản xác định vị trí của mỗi câu và mối quan hệ của nó trong toàn bộ văn bản, từ đó tạo ra tính liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence) cho nội dung.

Tính liên kết (cohesion) là yếu tố quan trọng trong văn bản, thể hiện qua các mối quan hệ hình thức trên bề mặt Trong khi đó, mạch lạc (coherence) liên quan đến các nghĩa ngầm và ngữ cảnh, giúp phân biệt giữa câu văn và những tập hợp không phải văn bản Mạch lạc có vai trò quyết định, và có thể nói rằng liên kết và mạch lạc là điều kiện cần và đủ để hình thành một văn bản hoàn chỉnh.

Mạch lạc và liên kết trong văn bản có vai trò và chức năng khác nhau, nhưng trong thực tế giao tiếp, chúng thường được xem là có vai trò tương tự Mạch lạc có nhiều cách biểu hiện, trong đó không ít trường hợp thể hiện qua các phương thức liên kết Vậy phương thức liên kết là gì?

Phương thức liên kết là các biện pháp giúp các câu trong văn bản gắn kết với nhau, tạo thành một mạng lưới quan hệ chặt chẽ Liên kết văn bản không chỉ làm cho nội dung trở nên hoàn chỉnh mà còn giúp từng câu trong chuỗi liên kết trở thành một chỉnh thể không thể tách rời.

Liên kết văn bản là một phần quan trọng trong cấu trúc quan hệ của hệ thống ngôn ngữ, bao gồm cả phương thức liên kết (hình thức) và ý nghĩa (nội dung) Hai yếu tố này tạo thành một thể thống nhất, đó là văn bản Theo Trần Ngọc Thêm, mối quan hệ giữa liên kết nội dung và liên kết hình thức là biện chứng và chặt chẽ, trong đó liên kết nội dung được thể hiện qua các phương thức, còn liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung Trong số nhiều phương thức liên kết, bài viết này sẽ tập trung vào phương thức liên kết thay thế, bao gồm kiểu thay thế bằng đại từ và kiểu thay thế bằng ngữ đoạn.

1.1.3 Phương thức liên kết thay thế

Phương thức liên kết thay thế là việc sử dụng đại từ hoặc từ đại từ hoá để thay thế cho một ngữ đoạn trong chủ ngôn, với các đại từ này được gọi là thế tố Phương thức này cũng có thể sử dụng những ngữ đoạn khác nhau có cùng nghĩa để kết nối, trong đó kết tố là thế tố Điều này cho thấy phương thức thay thế bao gồm hai yếu tố: yếu tố thay thế và yếu tố được thay thế Luận văn này chỉ tập trung vào kiểu thay thế bằng đại từ (đại từ nhân xưng và đại từ chỉ xuất) và kiểu thay thế bằng ngữ đoạn.

1.1.3.1 Kiểu thế bằng đại từ (bao gồm đại từ nhân xưng và đại từ chổ xuaỏt)

- Đại từ nhân xưng : Dùng để chỉ trỏ người hay động vật Nếu phân theo ý nghĩa từ vựng, những đại từ này có ba ngôi (ngôi 1, ngôi 2 và ngôi

3) Theo đặc điểm ngữ pháp, chúng có số ít và số nhiều

Đại từ chỉ xuất liên quan đến khái niệm chỉ xuất, là yếu tố giúp nhận diện khách thể, sự vật, vị trí và thời điểm thông qua mối quan hệ với hành động ngôn từ Đối tượng được thay thế của yếu tố này không thể được xác định nếu không có ngữ cảnh của hành động ngôn từ.

Trong phương thức liên kết thay thế, bên cạnh việc sử dụng đại từ, còn có kiểu thay thế bằng ngữ đoạn Ngữ đoạn được định nghĩa và phân loại dựa trên ba tiêu chí: hình thức, cấu trúc và nội dung Chúng ta sẽ áp dụng các tiêu chí này để xem xét các ngữ đoạn trong các văn bản điển hình.

1.1.3.2 Kiểu thế bằng ngữ đoạn

Trong một đoạn văn, việc tham gia liên kết được thực hiện thông qua những ngữ đoạn có hình thức hoàn chỉnh, với các dấu hiệu rõ ràng trong lời nói và văn tự Tất cả các mối liên kết trong văn bản đều bắt nguồn từ những ngữ đoạn hoàn chỉnh và hướng tới những ngữ đoạn tương tự Những ngữ đoạn này tương ứng với các khái niệm cụ thể.

Trong thực tiễn xử lý tư liệu, khái niệm “câu” có thể khác nhau giữa các quan niệm Tuy nhiên, theo lý thuyết, “câu” chỉ tương ứng với định nghĩa dựa trên mặt hình thức, điều này ít được phổ biến Do đó, việc sử dụng thuật ngữ “câu” không phải là lựa chọn thích hợp Thay vào đó, cần sử dụng thuật ngữ khác phù hợp hơn.

“Phát ngôn” có hai nghĩa chính Thứ nhất, nó được hiểu là một hành vi lời nói không có ranh giới xác định, có thể là lời của từng người trong đối thoại hoặc một từ, một câu, một chuỗi câu, thậm chí là cả một cuốn tiểu thuyết trong độc thoại Thứ hai, “phát ngôn” được coi là một “đơn vị của lời nói”.

Theo tiêu chí cấu trúc, phát ngôn được chia thành hai loại: hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh Các cụm từ hoàn chỉnh gọi là cú, trong khi các cụm không hoàn chỉnh được gọi là ngữ Trong ngữ, có thể tách ra yếu tố chính (chính tố) và yếu tố phụ (phụ tố) Dựa vào đặc điểm của chính tố, ngữ được phân loại thành danh ngữ, động ngữ, v.v Trong danh ngữ, phụ tố cạnh danh từ trung tâm được gọi là định tố; còn trong động ngữ, phụ tố chỉ trạng thái, hoàn cảnh, cách thức xung quanh động từ trung tâm được gọi là trạng toá.

Các phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc tương ứng với quan niệm câu xác định theo hai tiêu chí hình thức và cấu trúc Trên thực tế, chúng liên quan đến các “câu đúng”, “câu bình thường” và “câu” theo nghĩa hẹp Do đó, việc giữ thuật ngữ “câu” cho loại phát ngôn này là hợp lý.

Câu được định nghĩa là phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc, cho phép nhận diện nó từ cả hai phía: dưới, với sự hoàn chỉnh về hình thức, và trên, như một phần của đoạn văn Những phát ngôn chưa đủ tư cách là câu do cấu trúc chưa hoàn chỉnh được gọi là ngữ Tuy nhiên, nhờ hình thức hoàn chỉnh, ngữ có thể hoạt động như câu, tham gia liên kết với các câu khác trong đoạn văn, và được gọi là “ngữ trực thuộc” Ngữ trực thuộc không phải là “câu đặc biệt” hay “ngoại lệ”, mà là một loại phát ngôn riêng biệt với quy luật cấu tạo và sử dụng riêng Để phân biệt rõ ràng giữa chúng, cần tìm hiểu các phương thức liên kết của từng loại một cách cụ thể.

1.2 VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT THAY THẾ TRONG HỆ THỐNG LIÊN KẾT NÓI CHUNG

Quan niệm về liên kết thay thế của Halliday và Hasan

Trong nghiên cứu văn bản tiếng Anh, Halliday và Hasan cho rằng có ba thành tố chức năng ngữ nghĩa chính, trong đó chức năng văn bản (textual function) là thành tố thứ ba và mang tính phi cấu trúc Họ nhấn mạnh rằng liên kết là mối quan hệ về nghĩa trong văn bản, được tổ chức qua ba cấp độ: ngữ nghĩa, ngữ pháp – từ vựng, và ngữ âm – chữ viết Ý nghĩa được mã hoá bằng hình thức, và hình thức được giải mã qua các biểu thức Theo họ, liên kết là khái niệm ngữ nghĩa thể hiện qua ngữ pháp và từ vựng, và được chia thành hai loại: liên kết ngữ pháp và liên kết từ vựng.

- Liên kết ngữ pháp gồm phép quy chiếu, thế và tỉnh lược

- Liên kết từ vựng gồm phép lặp

Ngoài ra còn có liên kết trung gian: là phép nối nằm giữa ranh giới của liên kết ngữ pháp và liên kết từ vựng

Trong quyển An Introdution to Functional Grammar (Dẫn luận về

Theo Halliday trong Ngữ pháp chức năng, để tạo ra diễn ngôn, ngoài các quan hệ nghĩa trong câu, cần thiết phải thiết lập thêm các mối quan hệ giữa các thành phần nhỏ như từ hoặc lớn hơn như mệnh đề và đoạn văn Những thành phần này có thể liên kết với nhau, dù nằm trong cùng một mệnh đề hay không, bất chấp những yếu tố xen vào Cấu trúc ngữ pháp không thể thực hiện điều này mà cần đến một phương tiện phi cấu trúc, đó là liên kết Halliday đã kết hợp phép thế vào phép tỉnh lược, dẫn đến bốn phương thức liên kết trong tiếng Anh: Quy chiếu, thế – tỉnh lược, nối và liên kết từ vựng.

So với quan điểm của Halliday và Hasan về liên kết năm 1976, quan điểm năm 1985 có sự khác biệt khi Halliday không xác định rõ các loại liên kết ngữ pháp, mà chỉ đưa ra bốn phương thức liên kết Điểm khác biệt lớn là việc sáp nhập hai phương thức liên kết tỉnh lược và thế vào một nhóm chung gọi là ‘tỉnh lược’ hoặc ‘thế – tỉnh lược’ (ellipsis– substitute) Tuy nhiên, không có sự thay đổi trong cách phân định các tiểu loại của quy chiếu và thế – tỉnh lược, với ba tiểu loại: nhóm danh từ, nhóm động từ và mệnh đề.

Halliday phân biệt phép quy chiếu là mối quan hệ veà nghĩa

Mối quan hệ trong nghĩa được thể hiện qua phép thế, nơi một từ được sử dụng để hồi chỉ, tạo ra mối quan hệ ngữ nghĩa với nội dung trước đó Phép thế đóng vai trò như một phương tiện giữ chỗ, cho thấy có một phần đã bị lược bỏ và đồng thời chỉ ra chức năng ngữ pháp của nó Halliday cho rằng tỉnh lược cũng là một dạng hồi chỉ và là phương thức liên kết, góp phần vào cấu trúc nghĩa của diễn ngôn Ông lập luận rằng tỉnh lược và phép thế là hai biến thể của cùng một quan hệ liên kết, nhưng trong một số tình huống ngữ pháp, chỉ có thể xuất hiện một trong hai hoặc cả hai cùng tồn tại.

Halliday và Hasan [18, tr 105] phân xuất phép thế và tỉnh lược vào nhóm liên kết ngữ pháp, khẳng định tính cấu trúc của hai phương thức này ở cấp độ từ vựng – ngữ pháp Mặc dù hai tác giả xác định phép quy chiếu thuộc về cấp độ ngữ nghĩa, nhưng nó vẫn được đưa vào nhóm liên kết ngữ pháp cùng với phép thế và phép tỉnh lược Năm 1985, trong tác phẩm “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” (An Introduction to Functional Grammar), họ đã trình bày những quan điểm này một cách chi tiết.

Functional Grammar) của tác giả M.A.K Halliday, có điều chỉnh về mặt lý thuyết về phương thức này

Đôi khi, một sự thể hiện hiển ngôn có thể được sử dụng để chỉ một thành phần nào đó bị lược bỏ thông qua hình thức thay thế, chẳng hạn như việc sử dụng từ "one".

I’ve lost my voice Mình bị mất giọng

- Get a new one -Thế thì kiếm một cái khác đi

Có ba ngôn cảnh chính cho thay thế trong tiếng Anh Đó là, (1) cuù,

Cụm động từ và cụm danh từ có sự phân biệt rõ ràng với quy chiếu, khi khẳng định rằng phép thế liên quan đến từ ngữ hơn là nghĩa Phép thế là mối quan hệ ngữ pháp, do đó nó phải tuân theo quy tắc ngữ pháp, nghĩa là thế tố cần phải thuộc cùng một lớp ngữ pháp với chủ tố Ngược lại, quy chiếu không bị ràng buộc phải thuộc cùng lớp ngữ pháp với đơn vị ngôn ngữ mà nó quy chiếu Halliday (1985) đã đưa phép thế vào cùng với tỉnh lược và gọi sự kết hợp này là tỉnh lược hoặc thế-tỉnh lược.

Quan niệm về liên kết thay thế của Trần Ngọc Thêm

Trần Ngọc Thêm xem văn bản là một hệ thống các yếu tố và mối quan hệ giữa chúng Dựa trên lý thuyết này, ông đề xuất một phương pháp phân loại tổng hợp các phương thức liên kết, dựa trên ba tiêu chí: quan hệ với liên kết nội dung, các đơn vị liên kết và các mối quan hệ liên kết.

Văn bản được phân loại dựa trên cách thể hiện nội dung, tạo thành một hệ thống các yếu tố và mối quan hệ giữa chúng Mạng lưới quan hệ này chính là sự liên kết, bao gồm hai khía cạnh gắn bó chặt chẽ: liên kết nội dung và liên kết hình thức.

Liên kết nội dung trong văn bản được thể hiện qua hai loại chính: liên kết logic và liên kết chủ đề Liên kết logic bao gồm các phương thức như phép tuyến tính, nối lỏng và nối chặt Trong khi đó, liên kết chủ đề được chia thành hai loại: duy trì chủ đề và phát triển chủ đề Duy trì chủ đề sử dụng các phương thức như phép lặp từ vựng, thế đồng nghĩa, thế đại từ, tỉnh lược yếu và tỉnh lược mạnh Ngược lại, phát triển chủ đề áp dụng các phương thức như phép đối và liên tưởng Mỗi văn bản cần có sự kết hợp hài hòa giữa hai mặt liên kết này để đảm bảo tính mạch lạc và rõ ràng.

Phân loại các phương thức liên kết trong văn bản tiếng Việt dựa trên đơn vị liên kết liên quan đến khái niệm phát ngôn Trần Ngọc Thêm cho rằng thuật ngữ “phát ngôn” phù hợp hơn “câu” và coi phát ngôn là đơn vị của văn bản Theo cấu trúc, có hai loại phát ngôn: câu (phát ngôn hoàn chỉnh) và ngữ trực thuộc (phát ngôn không hoàn chỉnh) Về nội dung, có hai loại câu: câu tự nghĩa (đủ nghĩa mà không cần hỗ trợ) và câu hợp nghĩa (không hoàn chỉnh về nội dung, cần phối hợp với phát ngôn khác) Kết hợp cả hai tiêu chí, ta có ba loại phát ngôn cơ bản: câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc.

Câu tự nghĩa có độ độc lập cao nhất trong ba loại phát ngôn, trong khi câu hợp nghĩa có độ độc lập thấp hơn, và ngữ trực thuộc không thể tồn tại độc lập Sự khác biệt về độ độc lập này dẫn đến khả năng và nhu cầu liên kết của ba loại phát ngôn cũng khác nhau.

Trong văn bản, độ độc lập tỉ lệ nghịch với độ liên kết giữa chủ ngôn và kết ngôn Câu tự nghĩa có độ độc lập cao nhất, dẫn đến sự liên kết lỏng lẻo với các phát ngôn xung quanh Ngược lại, câu hợp nghĩa có độ độc lập kém hơn, do đó cần sự liên kết chặt chẽ hơn Cuối cùng, ngữ trực thuộc không có độ độc lập, yêu cầu sự liên kết rất mạnh.

Theo độ liên kết, các phương thức được phân thành ba nhóm chính: phương thức liên kết chung với độ liên kết yếu, phương thức liên kết hợp nghĩa với độ liên kết mạnh, và phương thức liên kết trực thuộc với độ liên kết cực mạnh.

Liên kết được phân loại thành hai loại chính: quan hệ đẳng lập và quan hệ phụ thuộc Quan hệ đẳng lập kết nối các phát ngôn có giá trị ngang nhau về ngữ pháp và có thể tồn tại độc lập Ngược lại, quan hệ phụ thuộc liên kết các phát ngôn không có giá trị ngang nhau, trong đó chủ ngôn có thể tồn tại độc lập, còn kết ngôn phụ thuộc vào chủ ngôn Mối quan hệ giữa quan hệ liên kết và phương thức liên kết thể hiện sự tương tác giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa.

Trong nghiên cứu văn bản tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra vai trò của đại từ như một phương tiện liên kết, thể hiện qua việc sử dụng đại từ để thay thế cho một ngữ đoạn trong chủ ngôn Trong hai phát ngôn liên kết, kết ngôn chứa dấu hiệu chỉ ra sự liên kết, trong khi chủ ngôn có vai trò độc lập Yếu tố liên kết ở kết ngôn được gọi là kết tố, còn ở chủ ngôn là chủ tố Phép thế đại từ khác với phép thế đồng nghĩa ở chỗ sử dụng đại từ làm thế tố Tác giả phân loại phương thức liên kết thay thế dựa trên ba loại câu: câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc, đồng thời mở rộng quan điểm đến các loại thế đồng nghĩa khác nhau như thế đồng nghĩa lâm thời, ngữ cảnh và phủ định.

Tieồu keỏt

Chương hai: Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

Giới thuyết chung

Trong Tieáng Anh

Trong hệ thống từ loại tiếng Anh, đại từ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo tính liên kết cho văn bản Khi nói đến liên kết thay thế, đại từ là phương tiện không thể thiếu Đại từ trong tiếng Anh có những đặc điểm khác nhau, với một số từ thay đổi hình thái để biểu hiện ngữ pháp như ngôi, giống, số và cách Tuy nhiên, một số tiểu loại không có đầy đủ ý nghĩa phạm trù, dẫn đến ít dạng thức khác nhau Đại từ có chức năng thay thế và chỉ trỏ, không mang nghĩa từ vựng, và có chức năng ngữ pháp linh hoạt tùy thuộc vào từ loại mà nó thay thế Các nhà ngữ pháp truyền thống cũng phân định tiểu loại đại từ theo nhiều cách khác nhau.

Nhưng dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa, đại từ tiếng Anh được phân định ra các loại chính sau:

Đại từ nhân xưng trong tiếng Anh bao gồm các từ như I, me, you, he, him, she, her, it, we, us, they, và them Những đại từ này được phân loại dựa trên các yếu tố ngữ pháp như ngôi, số, giống và cách Trong ngữ pháp tiếng Anh, chỉ có hai phạm trù số là số ít và số nhiều, và đại từ nhân xưng có ba giống: giống đực, giống cái và giống trung.

Đại từ sở hữu (Possessive pronoun) bao gồm các từ như mine, your, his, hers, its, ours, và theirs Một số nhà ngữ pháp hiện đại cho rằng đại từ sở hữu có hai dạng thức với hai chức năng: một dạng có vai trò đại từ, thay thế cho danh ngữ, và một dạng có vai trò định ngữ.

Reflexive pronouns in English include the words: myself, yourself, himself, herself, itself, ourselves, and themselves These pronouns consist of the suffixes -self (singular) or -selves (plural) combined with the possessive forms in the first and second person, as well as the objective form in the third person.

Đại từ nghi vấn (Interrogative pronoun) bao gồm các từ như Who, whom, which, what, và whose Những từ này thường bắt đầu bằng "Wh" và được sử dụng ở vị trí đầu câu hỏi; trong khi đó, nếu chúng được lồng trong cấu trúc chủ vị, chúng không còn được xem là đại từ nghi vấn.

Đại từ chỉ định bao gồm bốn từ: "this" và "that" dùng cho số ít, cùng với "these" và "those" cho số nhiều Chúng được phân biệt dựa trên số lượng và khái niệm khoảng cách, với "this" và "these" thể hiện sự gần gũi, trong khi "that" và "those" chỉ sự xa xôi.

Indefinite pronouns include words such as one, someone, somebody, something, anyone, anybody, anything, no one, nobody, nothing, everyone, everybody, everything, all, much, many, few, some, and any This category encompasses a diverse range of terms that do not carry the same grammatical nuances as personal pronouns Indefinite pronouns can be divided into two main subcategories based on their form and grammatical functions: compound pronouns, which consist of two elements like someone and anybody, and prepositional phrase pronouns, which include terms such as many (of) and someone (of).

Reciprocal pronouns, namely "each other" and "one another," are used to indicate mutual relationships "Each other" is employed when referring to two subjects, while "one another" is used for more than two subjects.

Đại từ quan hệ (Relative pronoun) bao gồm các từ như: who, whom, which, what, where, when, và why Chúng thường xuất hiện ở đầu một mệnh đề quan hệ và đóng vai trò làm định ngữ cho danh từ hoặc danh ngữ đứng trước đó trong câu Đại từ quan hệ tương tự như đại từ nhân xưng ở chỗ cả hai đều cần có tiền tố.

Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ) trong tiếng Anh và

Chức năng ngữ dụng của phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng đại từ) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

Phương thức liên kết thay thế (kiểu thế bằng ngữ đoạn) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

Chức năng ngữ dụng của phương thức liên kết thay thế ( kiểu thế bằng ngữ đoạn) trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

So sánh phương thức liên kết thay thế

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
2. Diệp Quang Ban (1998), Về mạch lạc trong văn bản, Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mạch lạc trong văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1998
3. Diệp Quang Ban (1984), Bàn về một kiểu câu mang ý nghĩa tồn tại trong tiếng Việt, Ngôn ngữ số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một kiểu câu mang ý nghĩa tồn tại trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1984
4. Nguyễn Trọng Báu – Nguyễn Quang Ninh – Trần Ngọc Thêm (1985), Về việc dạy làm văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc dạy làm văn
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1985
5. Brown Gillan – Yule Geore (2002), Phân tích diễn ngôn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Brown Gillan, Yule Geore
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2002
6. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1996
7. Đỗ Hữu Châu (1993,2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1-2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 1-2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993, 2001
8. Võ Văn Chương (2004), Liên kết hồi quy trong ngôn ngữ học văn bản, Vài kiến nghị về cách xác định và phân loại, Ngôn ngữ số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết hồi quy trong ngôn ngữ học văn bản, Vài kiến nghị về cách xác định và phân loại
Tác giả: Võ Văn Chương
Nhà XB: Ngôn ngữ số 7
Năm: 2004
9. Nguyễn Đức Dân (2000), Tiếng Việt (Dùng cho đại học đại cương), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt (Dùng cho đại học đại cương)
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
10. Nguyễn Đức Dân (1998), Lôgích và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgích và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
11. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
12. Nguyễn Đức Dân, Trần Thị Ngọc Lang (1992), Câu sai và câu mơ hồ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu sai và câu mơ hồ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân, Trần Thị Ngọc Lang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
13. Phạm Tất Đắc (1955), Phân tích tự loại, NXB ABC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tự loại
Tác giả: Phạm Tất Đắc
Nhà XB: NXB ABC
Năm: 1955
14. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại), NXB Đại học và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học và THCN
Năm: 1986
15. David Nunan (1998), Dẫn nhập phân tích diễn ngôn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn nhập phân tích diễn ngôn
Tác giả: David Nunan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
16. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (1998), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Nguyễn Thiện Giáp (2001), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. M.A.K Halliday (2001), Dẫn luận ngữ pháp chức năng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: M.A.K Halliday
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Hoàng Văn Hành (1977), “Về tính hệ thống của vốn từ tiếng Việt”, Ngôn ngữ số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính hệ thống của vốn từ tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1977
20. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng (quyển 1), NXB Khoa học và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng (quyển 1)
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học và Xã hội
Năm: 1991

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w