1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống nghệ thuật của sử thi anh hùng tây nguyên

216 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống nghệ thuật của sử thi anh hùng Tây Nguyên
Tác giả Phạm Nhân Thành
Người hướng dẫn G.sư Nguyễn Tấn Đắc
Trường học Trường đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý thuyết và lịch sử văn học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2001
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

gian các dân tộc chưa được sưu tầm, công bố nhiều như hiện nay nhưng những gì ông nghiên cứu được riêng về Sử thi không thôi trong tác phẩm đồ sộ “Mỹ học” cũng đã là một công trình khoa

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài luận án do chúng tôi tự chọn và được Hội đồng chấm đề cương luận án (của kỳ thi nghiên cứu sinh khoá 5, năm 1995) góp ý để hoàn thiện hơn về từ ngữ và tên gọi đề tài

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi đã làm việc một cách nghiêm túc và độc lập Luận án không trùng lặp, sao chép bất kỳ tài liệu, công trình khoa học nào có liên quan từ cách diễn đạt đến cấu trúc Tuyệt đối không có tình trạng nhờ sự giúp đỡ hoặc thuê mướn bất kỳ cá nhân hay tập thể nào biên soạn như một vài trường hợp mà báo chí từng phản ánh Cấu trúc luận án hoàn toàn mới và khác biệt so với các công trình khoa học cùng chuyên ngành Luận án hoàn toàn do chính cá nhân tôi biên soạn trên cơ sở học tập, nghiên cứu có kế thừa những thành tựu đi trước Chúng tôi chịu trách nhiệm với mọi ý kiến khiếu kiện nếu có về nội dung luận án

Chúng tôi xin trân trọng cám ơn G.sư Nguyễn Tấn Đắc đã tận tâm hướng dẫn, G.sư Chu Xuân Diên, TSKH Bùi Mạnh Nhị và các Giáo sư khác trong Hội đồng đánh giá luận án ở bộ môn đã rất nhiệt tình góp ý để luận án được hoàn chỉnh

T.phố Hồ Chí Minh ngày

10-03-2002

Người cam đoan

Phạm Nhân Thành

Trang 4

3.1 Biện pháp nghệ thuật lặp lại

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài:

1.1 Sau khi đất nước thống nhất, việc sưu tầm, giới thiệu và phổ biến văn học dân gian các dân tộc

ít người càng có điều kiện phát triển Đây là một trong những công việc cần thiết để “làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em” [4,57] Riêng trong lĩnh vực Văn học đã có nhiều sáng tác được sưu tầm, biên tập và xuất bản thành những tác phẩm dày dặn, công phu Nhưng để hiểu biết và phát huy cái hay, cái đẹp trong Văn học truyền miệng các dân tộc anh em, ngoài việc sưu tầm, giới thiệu các tác phẩm cụ thể thì vấn đề nghiên cứu chúng là rất cần thiết Chính quá trình nghiên cứu mới phát hiện được giá trị nội dung và nghệ thuật, quan niệm và tư tưởng, cội nguồn và bản sắc dân tộc tiềm ẩn trong mọi sáng tác Thế nhưng cho đến hiện nay, các công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, có tính hệ thống các thể loại văn học dân tộc thiểu số còn khá ít Đã đến lúc phải có những công trình khoa học công phu, dày dặn nghiên cứu về các thể loại văn học dân gian các dân tộc Đề tài luận án không nằm ngoài mục đích nêu trên

1.2 Trong những thể loại văn học các dân tộc ít người được sưu tầm, giới thiệu từ trước đến nay có một thể loại mà trong nền văn học dân gian người Kinh (Việt) chưa tìm thấy đó là thể loại Sử thi anh hùng (STAH) Trước hết, qua STAH có thể tìm hiểu một giai đoạn sớm trong tiến trình lịch sử của một dân tộc, những đặc điểm cơ bản của một xã hội vào thời

kỳ nhất định nào đó, góp phần to lớn thúc đẩy quá trình hiểu biết và hoà hợp giữa các dân tộc anh em Mặt khác, nghiên cứu STAH còn là cách chủ yếu để tìm hiểu, phát hiện hệ thống quan niệm nghệ thuật của các dân tộc thể hiện qua thể loại độc đáo này Những phát hiện sẽ cho thấy sự đóng góp rất riêng, rất quan trọng của thể loại STAH vào kho tàng văn học

Trang 6

trạng tài liệu nghiên cứu về STAH còn khá ít như hiện nay, đề tài luận án mong đề xuất một hướng khảo sát mới (cấu trúc trần thuật của thể loại STAH Tây Nguyên), kế thừa và phát triển thêm các kết quả nghiên cứu về hệ thống nghệ thuật của STAH đã có trước đây Những thành quả đạt được có thể giúp ích thiết thực vào công tác nghiên cứu và giảng dạy thể loại STAH ở các trường học nói chung

2 Mục đích nghiên cứu:

Hầu hết STAH được sưu tầm và ghi chép lại là của một số dân tộc ít người cư trú ở vùng đất Tây Nguyên Trong đó, trường ca Đăm San (do Léopold Sabatier sưu tầm và xuất bản ở Pari năm 1929) xuất hiện sớm nhất, phổ biến rộng rãi nhất và được đưa vào chương trình giảng dạy ở các cấp, các bậc học

Số STAH còn lại ít được phổ biến và do đó quá trình nghiên cứu về chúng cũng còn nhiều hạn chế

2.1 Có thực tế là tài liệu nghiên cứu về STAH

từ trước đến nay chủ yếu là những bài viết nhằm nghiên cứu, tìm hiểu một số đặc điểm, các biểu hiện hoặc những khía cạnh thuộc các vấn đề về nguồn gốc, nội dung, nghệ thuật hay chế độ xã hội của một tác phẩm (mà thường là tác phẩm Đăm San) Vì trước hết, Đăm San là Sử thi được phổ biến từ lâu trong giới nghiên cứu và giảng dạy mà theo thời gian, một

số vấn đề trong tác phẩm cần được nhìn nhận lại, đánh giá lại cho chính xác hơn Thứ hai, Đăm San là

Sử thi tiêu biểu trong nhiều STAH khác nên thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều bình diện và góc độ khác nhau Tuy vậy cho đến hiện nay, cũng còn rất ít công trình nào nghiên cứu một cách trọn vẹn, hoàn chỉnh về một STAH cụ thể hoặc về thể loại STAH Tây Nguyên nói chung Đề tài luận án nhằm giải quyết một phần nào thực tế thiếu vắng nêu trên 2.2 Gần như tất cả STAH Tây Nguyên sưu tầm được là của các dân tộc ít người sống gần gũi nhau trong một địa bàn có chung những đặc điểm về địa lý, môi trường, hệ sinh thái Các dân tộc ít nhiều có sự giống nhau về điều kiện kinh tế và xã hội, truyền

Trang 7

thống văn hóa và quá trình ảnh hưởng qua lại của chúng lẫn nhau nên STAH của họ cũng chứa đựng nhiều yếu tố, nhiều tiết truyện trùng khớp nhau Nhận định như vậy, luận án xác định mục đích nghiên cứu là khảo sát, phân tích các biểu hiện nghệ thuật

cơ bản của STAH trong tính hệ thống của nó Luận án không nghiên cứu riêng lẻ, cá biệt một STAH nào mà khảo sát chung các STAH theo đặc điểm thể loại Với đối tượng xác định, luận án cố gắng cung cấp một sự nhìn nhận, đánh giá về hệ thống nghệ thuật của thể loại STAH Tây Nguyên

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Khoảng ba mươi năm gần đây, Sử thi mới được phân chia thành nhiều thể loại Chẳng hạn nhà Folklore học V.Guxep chia Sử thi theo loại hình thì có Sử thi tôn giáo-thần thoại, Sử thi hoang đường-kỳ ảo, Sử thi anh hùng, Sử thi lịch sử, Sử thi sinh hoạt xã hội, Sử thi giáo huấn, Sử thi khôi hài Còn ở Việt Nam, theo nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật thì có các loại Sử thi như Sử thi-khan, Sử thi-hơmon, Sử thi-khắp, Sử thi thần thoại v.v Mặc dù sự phân chia chưa phải đã được hoàn toàn thống nhất nhưng cũng chứng minh rằng ngày càng có thêm nhiều thể loại Sử thi xuất hiện Chúng đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà Folklore học trên thế giới Đó là tình hình hiện nay, còn trước kia khi đề cập đến Sử thi thì chủ yếu là các bộ Sử thi cổ điển của Hy Lạp như Iliade, Odyssée; của Ấn Độ như Mahabharata, Ramayana

3.1 Khi bi kịch đang còn là một loại hình nghệ thuật tối ưu, rất được tôn vinh vào thời Hy Lạp cổ đại, Aristote đã có những nhận xét tinh tế, tuy còn

sơ lược, về nghệ thuật Sử thi Nhà bác học cho rằng:

“Trong Sử thi và cả bi kịch đều cần mô tả cái kỳ lạ, nhưng riêng Sử thi lại có khả năng biểu hiện những điều phi lý Đó là nguồn gốc của cái kỳ lạ Mà sự

kỳ lạ là rất thú vị” [3,97] Mặc dù chỉ giới hạn sự khảo sát ở hai bộ Sử thi Iliade và Odyssée của Homère nhưng Aristote đã rất chú ý đến “cái kỳ lạ”

Trang 8

của riêng Sử thi Có lẽ từ ý kiến ban đầu của nhà bác học cổ đại, các nhà nghiên cứu Sử thi về sau đã phát triển “cái kỳ lạ” thành cái kỳ vĩ - một thuộc tính nghệ thuật quan trọng, đặc thù của Sử thi dân gian nói chung Chắc chắn nhà bác học còn nhiều kiến giải quan trọng và bổ ích về thể loại Sử thi vì “căn

cứ vào những loại thư mục sớm nhất thì số lượng tác phẩm của ông có đến 1000 quyển (hoặc bài) nhưng còn lại đến nay không được bao nhiêu” [3,11] Trong khối lượng to lớn tư liệu mất mát ấy có thể có cả những

tư liệu quí giá về thể loại Sử thi anh hùng

Sau Aristote, nhà mỹ học Hegel có lẽ là người sớm có những nghiên cứu công phu và sâu sắc về nguồn gốc, nội dung, đặc điểm nghệ thuật của Sử thi Ngoài các bộ Sử thi cổ điển của Hy Lạp và Âún Độ, Hegel mở rộng sự khảo sát đến các bộ Sử thi dân gian của Phần Lan, Nga, Đức, cả đến Viêcgin, Đantê, Kinh Cựu ước v.v nên tư liệu nghiên cứu của ông phong phú về

số lượng, đa dạng về chủng loại hơn thời Aristote Chắc chắn đây là điều kiện đầu tiên cần có để Hegel

sử dụng phương pháp loại hình - lịch sử nhằm lý giải khá triệt để và rất bản chất về Sử thi Ông đã tiến hành sắp xếp Sử thi theo diễn biến lịch sử và khảo sát chúng trên nhiều phương diện Có thể nói, ông đã vận dụng các quan điểm lịch đại và đồng đại một cách hợp lý, hài hoà để lý giải rất nhiều vấn đề của Sử thi như nguồn gốc, thể loại, loại hình, nội dung v.v Với một trí tuệ uyên bác, ở vấn đề nào Hegel cũng có nhiều nhận định, phát hiện sâu sắc và cơ bản Ông nhận xét: “Nội dung và hình thức của tính

Sử thi thực sự là toàn bộ quan niệm về thế giới và cuộc sống của một dân tộc, được trình bày dưới nhiều hình thức khách quan của những biến cố thực tại”[33,II,573] Cho đến gần đây, ý kiến của Hegel vẫn còn được xem là một phát kiến quan trọng về phương pháp phản ánh đặc điểm dân tộc, tính chất cộng đồng, qui mô hoành tráng, qui luật chiến tranh của Sử thi dân gian Những nhận định của Hegel, từ lâu đã trở thành cơ sở lý luận đóng vai trò định hướng cho việc nghiên cứu Sử thi của nhiều nhà khoa học Tuy vào thời đại Hegel, Sử thi dân

Trang 9

gian các dân tộc chưa được sưu tầm, công bố nhiều như hiện nay nhưng những gì ông nghiên cứu được riêng về Sử thi không thôi trong tác phẩm đồ sộ “Mỹ học” cũng đã là một công trình khoa học giá trị Trong đó ông đã lần lượt khảo sát và xác định thời

kỳ xuất hiện của Sử thi, nghiên cứu các đặc điểm về tác giả của Sử thi, phân tích các biểu hiện trong thời đại anh hùng Cuối cùng là sự lý giải các giai đoạn phát triển của Sử thi Vận dụng sáng tạo các luận điểm của Hegel về Sử thi có thể nghiên cứu một cách hiệu quả nhiều thể loại Sử thi của nhiều dân tộc khác nhau Tuy nhiên, trong khi phân loại, Hegel

đã thể hiện một quan niệm rất rộng về Sử thi Ông đã gộp các thể thơ đề trên bia mộ, thơ cách ngôn; các trường ca về giáo huấn và triết học, các trường ca

về vũ trụ và thần linh; cả tác phẩm “Thần khúc” của Đantê vào cùng loại Sử thi nói chung Một cách khái quát, Hegel xem xét Sử thi như là một “thể loại thơ” Quan niệm về Sử thi của nhà bác học rõ ràng là khác xa với những quan niệm về Sử thi nói chung, sự phân loại Sử thi nói riêng của nhiều nhà nghiên cứu

đó có thể nói cả Aristote lẫn Hegel đều coi các bộ

Sử thi cổ điển là đối tượng nghiên cứu chủ yếu về Sử thi Trong khi đó, các bộ Sử thi Hy Lạp và Âún Độ tuy có nguồn gốc dân gian nhưng đã trải qua quá trình xử lý nghệ thuật của cá nhân nhà nghệ sĩ tài

ba Vì vậy mà từ lâu, chúng đã trở thành những kiệt tác bác học, mẫu mực khác xa với STAH các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, Việt Nam

3.2 Với vốn tư liệu dồi dào về văn học dân gian nói chung, Sử thi nói riêng của các dân tộc Liên Xô

cũ, các nhà Folklore học Xô Viết đã:

Trang 10

Trên cơ sở phê phán những thiếu sót của trường phái lịch sử và trường phái thần thoại, đồng thời trên cơ sở khắc phục những luận điểm xuyên tạc trong việc lý giải Sử thi trước đây (một số tác phẩm Sử thi bị coi là phản động hoặc ngược lại, một số tác phẩm khác được đề cao quá mức và được hiện đại hoá v.v ), các nhà khoa học Xô Viết đã đạt được, nhất là thời gian gần đây, những thành tựu đáng kể trong việc nghiên cứu nhiều tác phẩm Sử thi của các dân tộc trong Liên Bang

Xô Viết [59,119]

Phát biểu của nhà Folklore học E.M.Mêlêtinxki thể hiện quan điểm khác biệt và phương pháp nghiên cứu mới mẻ của ông và các đồng nghiệp về Sử thi Trên cơ sở những luận điểm khoa học và khách quan, E.M.Mêlêtinxki, V.Ia.Prôpp, V.N.Putilôp rồi V.Guxep

và rất nhiều nhà khoa học Xô Viết khác tập trung sự nghiên cứu vào việc xác định nguồn gốc Sử thi và tiến hành phân loại chúng theo phương pháp lịch sử

so sánh Kết quả nghiên cứu của nhiều nhà Folklore học Xô Viết có ý nghĩa quan trọng và có giá trị định hướng cho những công trình nghiên cứu về nhiều vấn

đề khác nhau của Sử thi E.M.Mêlêtinxki nhận xét:

“Sử thi anh hùng bao hàm một bức tranh hoàn chỉnh của cuộc sống nhân dân dưới hình thức kể chuyện anh hùng về quá khứ Thế giới Sử thi lý tưởng và nhân vật dũng sĩ trong sự thống nhất hài hoà của chúng -

đó là những nhân tố chủ yếu của nội dung Sử thi anh hùng” [59,122] Nội dung STAH được xác định như vậy

là rất gần gũi với nội dung STAH các dân tộc ít người Tây Nguyên Hơn nữa, nhận định của E.M.Mêlêtinxki cũng trở thành một luận cứ quan trọng

để khai thác, tìm hiểu các STAH khác Mặc dù những đặc điểm của STAH các dân tộc trong Liên Bang Xô Viết mà các nhà Folklore học đã phân loại và phân tích không hoàn toàn trùng khớp với STAH Tây Nguyên, nhưng chúng là những căn cứ khoa học để nhận diện thể loại STAH trong mối quan hệ với các thể loại Sử thi gần gũi khác

Trang 11

3.3 Cũng theo hướng nghiên cứu của E.M.Mêlêtinxki, ở Việt Nam, cố Phó Giáo sư Võ Quang Nhơn đã có những kiến giải tương đối thoả đáng qua luận án Phó Tiến sĩ “Về thể loại Sử thi anh hùng của các dân tộc Tây Nguyên” bảo vệ năm 1981 Tuy cùng

là STAH của các dân tộc nhưng các dân tộc thuộc Liên Bang Xô Viết cũ là những dân tộc đại đa số, dân tộc của một quốc gia thành viên của Liên Bang Còn ở Việt Nam, các dân tộc lại là dân tộc ít người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Qui mô dân số và tính chất cộng đồng, bản sắc dân tộc và truyền thống văn hoá, trình độ phát triển về kinh tế và xã hội v.v

là khác nhau khá xa Chính vì vậy cho dù sự phân loại Sử thi và khái niệm “Sử thi anh hùng” đã được xác định trong nhiều công trình của các nhà khoa học

Xô Viết nhưng việc tiếp tục nghiên cứu nội hàm khái niệm “Sử thi anh hùng” thuần túy Việt Nam của cố Phó Giáo sư Võ Quang Nhơn là hoàn toàn cần thiết Còn nhiều chuyên luận, công trình, tài liệu khác của ông

về STAH nhưng nhìn chung luận án Phó Tiến sĩ là công trình nghiên cứu khá tiêu biểu về thể loại này Trong luận án, để đi đến xác định nội dung khái niệm

“Sử thi anh hùng”, ông đã lần lượt khảo sát đời sống vật chất và văn hoá của các dân tộc Tây Nguyên Ông phân tích những mặt hạn chế, những kiến giải chưa thoả đáng trong việc sử dụng các khái niệm Trường

ca, Anh hùng ca, Sử thi anh hùng ca v.v để từ đó đưa ra những căn cứ, tiêu chí xác định thể loại mà ông gọi là STAH Trong luận án cũng như trong công trình “Văn học dân gian Việt Nam” viết chung với Giáo sư Đinh Gia Khánh và Giáo sư Chu Xuân Diên, ông

Võ Quang Nhơn cũng đã phân tích một số vấn đề về nội dung và nghệ thuật của những STAH quen thuộc Do mục đích yêu cầu của các công trình, việc phân tích chỉ mới dừng lại ở phạm vi đại cương Tuy vậy cũng chứa đựng ít nhiều sự gợi mở để những người đi sau ông tiếp tục nghiên cứu, khảo sát một cách chi tiết và đầy đủ hơn về các biểu hiện nghệ thuật của thể loại STAH Tây Nguyên

Cùng với cố Phó Giáo sư Võ Quang Nhơn, Phó Giáo sư,TSKH Phan Đăng Nhật là một nhà nghiên cứu có

Trang 12

nhiều thành tựu về Sử thi nói chung, STAH các dân tộc Tây Nguyên nói riêng Khác với nhà khoa học Võ Quang Nhơn, mục đích nghiên cứu của Phó G.sư Phan Đăng Nhật đã được ông xác định cụ thể là: “ Mở ra một hướng mới Hướng tìm Sử thi Việt Nam bắt đầu từ các dân tộc thiểu số rồi quay về dân tộc Việt” [60,5] Với mục đích xác định, ông Phan Đăng Nhật không dừng lại ở việc nghiên cứu STAH mà mở rộng phạm vi nghiên cứu ra nhiều thể loại khác nhau như

Sử thi-hơmon, Sử thi-khắp, Sử thi-mo, Sử thi-hơri

(chữ dùng của ông Phan Đăng Nhật) của nhiều dân tộc

ít người Việt Nam Ở mỗi thể loại Sử thi, ông Phan Đăng Nhật đều có những chuyên luận dày dặn, súc tích Trong số đó, có liên quan đến đề tài luận án của chúng tôi là công trình “Sử thi Ê đê” xuất bản năm 1991 Đây là công trình khoa học nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống về loại hình Sử thi-khan của dân tộc Ê đê - một dân tộc trong nhiều dân tộc thiểu số Tây Nguyên Trong 5 chương của công trình

có 3 chương khảo sát chi tiết cấu trúc, hệ thống và đặc điểm của Sử thi-khan Khác với ông Võ Quang Nhơn

và một số nhà nghiên cứu khác, nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật đã sử dụng một cách hiệu quả các phương pháp so sánh, thống kê để tìm hiểu các giá trị nội dung và nghệ thuật của Sử thi-khan Ông đã đối chiếu các tác phẩm Sử thi-khan theo trục ngang để khảo sát

và phân tích hệ thống đề tài của chúng Trong nhiều

đề tài mà Phó G.sư, TSKH Phan Đăng Nhật đã nghiên cứu, đề tài về chiến tranh chứa đựng những nhận định, luận điểm rất bổ ích cho luận án Từ nội dung công trình “Sử thi Ê đê”, phần khảo sát Sử thi trong sách “Lịch sử Văn học Việt Nam” đến “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam” rồi chuyên luận

“Những đặc điểm cơ bản của Sử thi-khan ở Việt Nam” cùng nhiều bài viết khác của nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật, có thể rút ra mấy nhận xét:

Thứ nhất, nhà Folklore học Phan Đăng Nhật có nhiều cơ sở lý luận và thực tiễn để tin tưởng rằng Việt Nam có Sử thi Nhưng ông không khôi phục lại diện mạo Sử thi Việt Nam bằng con đường đi tìm trong thể loại thần thoại, truyền thuyết của dân tộc Việt

Trang 13

như một số học giả đi trước ông từng làm Ông “tìm

Sử thi Việt Nam” bắt đầu từ việc nghiên cứu tất cả

Sử thi của các dân tộc thiểu số Vì theo ông “các dân tộc Việt Nam có một mối quan hệ gắn bó với nhau đặc biệt sâu sắc và lâu dài” [60,5] Do đó mà “quan

hệ giao lưu văn hoá giữa các dân tộc miền ngược và miền xuôi, vùng Thượng và vùng Kinh nói chung mạnh mẽ” [60,5] Chính từ mối quan hệ nội tại có tính chất bản địa mà các dân tộc “có chung một gia tài văn hoá từ thời bình minh của lịch sử Người cất giữ được nhiều gia tài văn hoá chung đó là các dân tộc thiểu số vì họ ở những nơi xa xôi, hẻo lánh ít bị biến động Và việc đi đến họ để tìm những kiểu mẫu, những mô hình chung về văn hoá thời cội nguồn là có căn cứ” [60,5] Trên quan điểm đúng đắn, ông Phan Đăng Nhật không nghiên cứu Sử thi theo thể loại độc lập nào mà xem xét chúng trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau của nhiều thể loại để tìm kiếm dấu vết của một Sử thi chung nhất, phổ quát nhất: Sử thi Việt Nam Mục đích và đối tượng nghiên cứu của Phó G.sư Phan Đăng Nhật, do đó, hoàn toàn khác với mục đích, đối tượng của luận án

Thứ hai, cũng theo ông, công trình “Sử thi Ê đê”

là công trình “có nhiệm vụ nghiên cứu sâu Sử thi của người Ê đê: Sử thi-khan Và nó là một bộ phận trong công trình nghiên cứu chung: đi tìm Sử thi các dân tộc Việt Nam”[60,6] Nhiệm vụ nghiên cứu qui định cách tiếp cận đối tượng, phương pháp nghiên cứu, hướng khai thác nội dung của mỗi một tác giả Nhiệm

vụ nghiên cứu khác nhau thì phương pháp và kết quả nghiên cứu cũng khác nhau Trong công trình “Sử thi

Ê đê”, Phó G.sư Phan Đăng Nhật đã khảo sát, mô tả khá toàn diện lịch sử xã hội, đời sống của Sử thi-khan, cấu trúc và hệ thống đề tài , cả tư liệu điền dã cũng được sử dụng thích hợp Phạm vi nghiên cứu của công trình là khá rộng, khác xa phạm vi nghiên cứu của luận án mặc dù công trình đã cung cấp khá nhiều tư liệu cũng như phương pháp nghiên cứu rất bổ ích

Qua hai nhận xét trên có thể tóm lại là mục

Trang 14

học Phan Đăng Nhật về Sử thi nói chung không trùng hợp với luận án của chúng tôi Nói khác, nhiệm vụ mà luận án giải quyết theo một định hướng, một ý đồ riêng Nó khác biệt, không lặp lại, không giống bất

cứ công trình nào của Phó G.sư, TSKH Phan Đăng Nhật cũng như của nhiều người khác

Ngoài hai nhà Folklore học chuyên nghiên cứu Sử thi nêu trên, rất nhiều nhà Folklore học khác của Việt Nam cũng đã dành những mối quan tâm nhất định đến thể loại Sử thi nói chung, STAH nói riêng Đó là các nhà nghiên cứu Hoàng Thiếu Sơn, Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Chu Xuân Diên, Nông Quốc Chấn, Đào Tử Chí, Nguyễn Tấn Đắc, Đặng Nghiêm Vạn, Hoàng Ngọc Hiến v.v Tuy các nhà khoa học chưa có những công trình nghiên cứu chuyên biệt, dày dặn về STAH nhưng những bài viết, những ý kiến của họ đã đề cập đến nhiều vấn đề thuộc về nguồn gốc thể loại, cơ sở xã hội, thể chế và luật tục, nội dung và nghệ thuật, tâm lý và hành trạng của nhân vật v.v trong STAH

Sự mở rộng ra nhiều góc độ quan sát, nhiều phương diện nghiên cứu, nhiều phương pháp tiếp cận chứng tỏ STAH đang còn lắm vấn đề cần xác định lại, cần nghiên cứu một cách khoa học hơn Tất cả các bài viết, tư liệu, ý kiến của những học giả, vì thế, có giá trị về nhiều mặt cho những ai quan tâm đến thể loại Sử thi nói chung, cho luận án nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án gồm 13 STAH Tây Nguyên Đó là các Sử thi Đăm San, Đăm Noi, Hơbia Đơrang, Đăm Di, Đăm Di đi săn, Xing Nhã, Xing chơ Niếp (trong cuốn “Tuyển tập Văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam”, quyển thứ tư), Khinh Dú, Đăm Đơ roăn, YPơrao (trong cuốn “Trường ca Tây Nguyên”), Chàng Lêng (trong “Sử thi cổ sơ M’nông”), chàng Dông Tư dũng cảm và Dhăm Ta Yoong Riêng Sử thi Dhăm Ta Yoong của dân tộc Hrê là do tác giả luận án sưu tầm, dịch thuật và nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản năm 1994 Ngoài 13 STAH đó, các

Sử thi khác sẽ là tài liệu để so sánh, đối chiếu

Trang 15

gồm: Bông Rong vă Tiăng (Sử thi cổ sơ M’nông), Y Ban, H’Điíu, Đăm Kteh Mlan, Prah Ngun, Hơ Bia Hơ long, Y Prao Hvư, Mơ Hiíng Sở dĩ câc Sử thi đê níu không đưa văo đối tượng khảo sât chính thức vì chúng

ít có dấu hiệu tiíu biểu cho thể loại STAH Hoặc vì chúng xuất hiện muộn (văo thời kỳ đấu tranh giai cấp gay gắt) Hoặc vì chúng thiín về trữ tình Hay vì việc dịch thuật vă biín tập còn sơ săi, thiếu sót khâ nhiều(1) Ngoăi ra, luận ân cũng mở rộng phạm

vi so sânh, đối chiếu đến câc bộ Sử thi cổ điển như Iliade, Odyssĩe (Hy Lạp); Mahabharata, Ramayana (Đún Độ); Kalívala (Phần Lan); Riím Kí (Campuchia) ở những vấn đề cần thiết Mặt khâc, một số thần thoại, truyện cổ của câc dđn tộc ít người Việt Nam vă một

số nước trong khu vực như Inđônísia, Malaysia, Mianma, Thâi Lan, Campuchia cũng lă nguồn tăi liệu tham khảo ở những phần thích hợp

4.2 Về nội dung, luận ân không có tham vọng nghiín cứu STAH một câch toăn diện Do đó câc vấn đề thuộc về nguồn gốc, thể loại sẽ không thuộc phạm vi khảo sât của luận ân Cụ thể lă về nguồn gốc, chúng tôi sử dụng luận điểm của E.M.Mílítinxki trong công trình “Nguồn gốc Sử thi anh hùng” vă của V.Guxep trong công trình “Mỹ học Folklor” như những cơ sở lý luận để nhận thức, lý giải câc hiện tượng khâc có liín quan đến vấn đề nguồn gốc STAH Về thể loại vă nội hăm khâi niệm “Sử thi anh hùng”, chúng tôi coi vấn đề đê được giải quyết thoả đâng trong công trình

“Sử thi anh hùng Tđy Nguyín” của cố Phó G.sư Võ Quang Nhơn Để luận ân không lan man, dăi dòng, chúng tôi hoăn toăn chấp nhận sử dụng khâi niệm “Sử thi anh hùng” với những biểu hiện nội dung như ông

Võ Quang Nhơn đê phđn tích, chứng minh Đồng thời, câc đặc điểm về đời sống vật chất vă văn hoâ nói chung của câc dđn tộc Tđy Nguyín cũng không phải lă đối tượng nghiín cứu của luận ân Vì những vấn đề đó

đê được trình băy, mô tả khâ chi tiết trong những công trình như “Đại cương về câc dđn tộc Í đí,

(1) Chẳng hạn Sử thi H’Điêu, ngoài việc biên tập có quá nhiều

lỗi, Sử thi không ghi năm xuất bản, không ghi tên dịch giả, số

Trang 16

M’nông ở Đắc Lắc” (Bế Viết Đẳng và các tác giả),

“Tây Nguyên” (Hoàng Văn Huyên) hay trong các công trình của các ông Võ Quang Nhơn, Phan Đăng Nhật và ở nhiều bài viết chuyên đề của không ít học giả khác đăng rải rác trên một số tạp chí “Dân tộc học”, “Văn hoá dân gian”, “Văn hoá các dân tộc”, “Văn học” v.v Tuy nhiên không phải vì thế mà luận án hoàn toàn không khảo sát, phân tích đời sống vật chất và văn hoá của các dân tộc Tây Nguyên Bởi vì nguồn gốc

và đời sống thực của văn học truyền miệng nói chung, STAH nói riêng không thể được nhận thức một cách tách rời với bối cảnh xã hội, môi trường và điều kiện sống của quần chúng Chỉ có điều trong luận án, chúng không trở thành một chương hay một mục nghiên cứu riêng mà được vận dụng thích hợp trong quá trình khảo sát, miêu tả và giải thích các đặc điểm nghệ thuật của STAH Phạm vi nghiên cứu của luận án là cấu trúc trần thuật của thể loại STAH, các thủ pháp nghệ thuật, các vấn đề về thi pháp nhân vật Qua mỗi phần, luận án sẽ nhấn mạnh vào các đặc điểm riêng, độc đáo của STAH nhằm khu biệt thể loại này với các thể loại khác trong kho tàng văn học truyền miệng nói chung Tóm lại, luận án nghiên cứu các biểu hiện đặc thù về quan niệm nghệ thuật, cách thức nhận thức

tự nhiên và xã hội, các mối quan hệ nội tại tạo thành một chỉnh thể của hệ thống STAH

5 Phương pháp nghiên cứu:

Xuất phát từ mục đích và đối tượng nghiên cứu của luận án, chúng tôi vận dụng một hệ thống phương pháp vừa có những phương pháp cơ bản, chung nhất cho quá trình nhận thức và nghiên cứu vừa có những phương pháp riêng có tính chất chuyên môn để giải quyết một các hợp lý, khoa học những vấn đề thuộc phạm vi khảo sát của luận án

5.1 Trước hết, chúng tôi vận dụng phương pháp luận khoa học, biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin thành một phương pháp chung, cơ bản, xuyên suốt quá trình tìm hiểu, điều tra thực tế cho đến việc khảo sát, xử lý văn bản nghệ thuật Đó là điều kiện cần

Trang 17

thiết nhằm thể hiện sự nhất quán trong nhận thức khoa học, lập trường và quan điểm của người nghiên cứu Đồng thời, luận án cũng sử dụng phương pháp loại hình-lịch sử để xem xét hệ thống STAH trong mối quan hệ lịch đại và đồng đại của chúng

5.2 Hệ phương pháp có tính chuyên môn trước hết

là vận dụng phương pháp cấu trúc-hệ thống để khảo sát STAH trên bình diện là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm các thành tố có mối quan hệ logic lẫn nhau Các thành tố được xem xét, phân tích không chỉ giới hạn trong phạm vi nội tại một tác phẩm riêng lẻ mà

cả trong tương quan của hệ thống tác phẩm Thứ hai

là sử dụng phương pháp thống kê-so sánh để tiến hành tách lẩy, sắp xếp các thông tin về nội dung, nghệ thuật dưới dạng số liệu Đối chiếu, so sánh các thông tin trong cùng hệ thống để phát hiện, nhận thức chính xác ý nghĩa và bản chất đặc thù của chúng Với việc sử dụng phối hợp hai phương pháp thì việc phân tích, tổng hợp chỉ là các thao tác mà thôi

5.3 Vì STAH là một thể loại của nghệ thuật nguyên hợp nên ngoài việc tiếp cận trực tiếp với văn bản thì quá trình thâm nhập thực tế là cần thiết Sử dụng phương pháp điều tra, chúng tôi đã tìm hiểu tổ chức cộng đồng làng xã, phong tục tập quán, phương pháp canh tác, đời sống kinh tế và sinh hoạt văn hoá của một số dân tộc Bahna, Giarai, Cor, Cadong, Hrê Với vốn tiếng địa phương có được (của các dân tộc Cor, Cadong, Hrê) chúng tôi đã trực tiếp nghe, ghi chép diễn xướng Sử thi và nhiều truyện cổ khác Có thể nói quá trình thâm nhập thực tế đã trở thành quá trình nhận thức thêm, phát hiện thêm những giá trị mới của STAH mà trên văn bản thuần túy không thể hiện được

Tóm lại, nếu sử dụng thành công các phương pháp nghiên cứu tương ứng và phù hợp với đối tượng nghiên cứu thì chắc chắn kết quả nghiên cứu sẽ hoàn thiện hơn Đó cũng chính là mong ước mà luận án cố gắng đạt đến

Trang 18

6 Những đóng góp mới của luận án:

Cùng là tác phẩm văn học, nhưng tất nhiên tác phẩm văn học viết do cá nhân nghệ sĩ sáng tác khác với tác phẩm văn học truyền miệng ở nhiều phương diện Cho nên không thể áp dụng máy móc, rập khuôn các phương pháp nghiên cứu văn học viết để nghiên cứu văn học truyền miệng Hơn nữa, cũng là văn học truyền miệng nhưng ở những dân tộc khác nhau thì chúng cũng có những biểu hiện khác nhau Và như vậy,

ở chừng mực nhất định nào đó cũng không thể đơn giản nghiên cứu văn học các dân tộc ít người bằng hệ thống công cụ của thi pháp văn học dân gian một cách chung chung Tất nhiên là không sao có được sự đối ứng một với một kiểu đối tượng nghiên cứu nào thì có phương pháp nghiên cứu ấy Bởi vì đối tượng nhiều khi là vô hạn còn phương pháp lại rất hữu hạn Nhưng với khả năng có thể có được, luận án cố gắng thể hiện một cách tiếp cận, khai thác nghệ thuật STAH Tây Nguyên có khác ít nhiều so với những công trình cùng loại trước đây

6.1 Bằng việc mô tả chi tiết cấu trúc trần thuật của thể loại STAH và phân tích hệ thống nghệ thuật của chúng, luận án sẽ nêu ra một số đặc điểm nhằm:

- Cho phép dựa vào các đặc điểm nghệ thuật để khu biệt được thể loại STAH Tây Nguyên với các thể loại khác của văn học truyền miệng

- Sử dụng các đặc điểm ấy như một loạt dấu hiệu hoặc tiêu chí để nhận dạng tác phẩm nào thuộc thể loại STAH, tác phẩm nào không phải hoặc không hoàn toàn thuộc thể loại đang nghiên cứu Phân tích rõ những đặc điểm mang tính chất “hạn chế sự tự do tạo tác” STAH dưới bất kỳ hình thức nào Kết quả nghiên cứu sẽ cho phép đoán định trước rằng cho dù có sưu tầm thêm được nhiều STAH khác ngoài số lượng hiện có thì chắc chắn chúng cũng có chung những đặc điểm cơ bản mà luận án khảo sát Sự xuất hiện thêm của các STAH khác, nếu có, cũng không phương hại gì đến nội dung tổng quát của luận án

Trang 19

6.2 Trước đây có thực tế là khi phân tích nội dung nghệ thuật một tác phẩm STAH hay phân tích nhân vật anh hùng thì có không ít tài liệu đã phân tích chúng như phân tích một tác phẩm văn học viết Hoặc nêu ra một số nét sơ lược, chung chung về “tính cộng đồng”, “ngôn ngữ diễn cảm”, “người anh hùng tài năng

và đức độ” v.v Khắc phục xu hướng trên, luận án

cố gắng “bằng con đường đi sâu vào tư liệu chứ không phải bằng con đường trừu tượng hóa” [117,234] để phân tích STAH theo cấu trúc của loại hình diễn kể chứ không phải là loại hình văn bản viết Luận án sẽ nghiên cứu STAH qua một hệ thống tiết truyện ổn định

và xuyên suốt nhiều tác phẩm chứ không phải bằng các chi tiết nghệ thuật đơn lẻ xuất hiện trong phạm vi nội tại một tác phẩm nào Các biểu hiện của nghệ thuật, các đặc điểm của nhân vật cũng được xem xét dưới góc độ chúng là những thành tố trong một chỉnh thể nghệ thuật: hệ thống STAH Bởi vì “cái làm thành nội dung một tác phẩm Sử thi không phải là một hành động rời rạc và võ đoán; cũng không phải là một biến

cố ngẫu nhiên và tình cờ mà là một hành động trong

đó các chi nhánh của nó gắn liền với toàn thể của thời đại và của đời sống dân tộc” [33,II,583]

Tóm lại, với hướng tiếp cận ngữ văn học và hướng tiếp cận nhân học văn hoá đối với STAH Tây Nguyên, luận án cố gắng thể hiện các hiệu quả của một số phương pháp khai thác hệ thống nghệ thuật STAH khác

ít nhiều so với cách khai thác truyền thống của thi pháp văn học dân gian quen thuộc Đồng thời trên cơ

sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của nhiều nhà Folklore học đi trước, luận án sẽ phân tích kỹ hơn, chi tiết hơn một số vấn đề có tính chất cơ bản, đặc thù của thể loại STAH Tây Nguyên Ngoài những giá trị khác có thể có được, những đóng góp mới của luận

án cũng hy vọng rằng sẽ góp phần khẳng định sức sống lâu bền của thể loại STAH trong kho tàng văn học chung của dân tộc Việt Nam

W X

Trang 20

CHƯƠNG 1 CẤU TRÚC TRẦN THUẬT CỦA THỂ LOẠI

SỬ THI ANH HÙNG TÂY NGUYÊN

Một mặt STAH Tây Nguyên cũng như các thể loại khác trong văn học truyền miệng, trước khi được sưu tầm, ghi chép thành văn bản thì phương thức tồn tại của chúng là kể hoặc ngâm bằng lời của một bộ phận dân chúng Nhưng đồng thời STAH Tây Nguyên lại còn

có điểm khác các thể loại là chúng không phải chỉ được nghệ nhân diễn kể thông thường mà trong lời kể còn xen kẻ ngâm và đặc biệt là thêm một số diễn xuất bằng cử chỉ, hành động, nét mặt và cả ngôn ngữ của nghệ nhân diễn kể Cũng như một số thể loại khác, STAH cũng có dị bản ở nhiều cấp độ: ngôn bản, nội dung, motif v.v Chi phối bởi những đặc điểm đã nêu nên không thể phân tích cấu trúc của thể loại STAH như loại hình văn học viết do cá nhân nghệ sĩ sáng tác Văn học viết tồn tại chính thức và duy nhất bằng văn bản Do đó chẳng hạn người nghiên cứu hoàn toàn có cơ sở khoa học để căn cứ vào văn bản mà nghiên cứu về thi pháp lời văn nghệ thuật (hay còn gọi là thi pháp ngôn từ) Nhưng với STAH thì không thể thực hiện như thế Tác phẩm STAH, xét thực chất,

là sự diễn dịch và ghi chép lại nội dung lời diễn kể của nghệ nhân Nội dung của STAH khi tồn tại bằng văn bản rõ ràng không sống động và gây cảm xúc như lúc chúng tồn tại trong thực tế diễn kể Chính vì vậy, nghiên cứu cấu trúc của thể loại đặc thù này không thể không xuất phát từ thực tế lời diễn kể Vẫn biết khi STAH tồn tại như một tác phẩm trên văn bản cụ thể nào đó không phải chúng không tạo ra được những hiệu quả thẩm mỹ cao đối với người đọc Nhưng STAH có những giá trị đặc biệt khác nằm ngoài nội dung của chúng mà nếu không trực tiếp hoà nhập vào thực tế diễn kể thì khó cảm nhận được một cách trọn vẹn Đời sống thực của STAH không phải trên tác phẩm

mà là một thực tế sống động cùng sự giao cảm giữa người diễn kể với người nghe trong một bối cảnh đặc biệt Tác phẩm STAH thể hiện trên văn bản như một sự khúc xạ đời sống thực của chúng mà thôi Chính vì

Trang 21

những quan niệm ấy, luận án nghiên cứu cấu trúc thể loại không chỉ dựa vào lời dịch thuật của tác phẩm STAH mà còn dựa chủ yếu vào lời diễn kể trong thực

tế Tuy nhiên việc làm này không phải lúc nào, chỗ nào cũng được thực hiện triệt để vì mấy nguyên nhân: Một là còn khá nhiều dân tộc ít người có STAH nhưng chưa có chữ viết riêng nên không thể dẫn chứng lời diễn kể trong thực tế bằng ngôn ngữ viết Hai là bản thân chúng tôi cũng chỉ thành thạo tiếng dân tộc Hrê, Xê đăng và nghe còn hạn chế tiếng Bahna Trong khi đó hầu hết STAH được khảo sát trong luận án là của các dân tộc như Ê đê, Gia rai Trong những chuyến thâm nhập thực tế, chúng tôi nghe diễn kể các STAH của họ thông qua người phiên dịch Do đó việc phiên âm lại lời diễn kể để so sánh chúng với lời văn phiên dịch là việc làm khó khăn

Từ những nguyên nhân đã trình bày, chúng tôi chọn cách phiên âm lời diễn kể (không dẫn theo lời văn dịch thuật) đối với các STAH của các dân tộc mà chúng tôi biết tiếng nói của họ Với những STAH còn lại, chúng tôi sẽ dựa vào các bản dịch khác nhau để

so sánh, đối chiếu Tất nhiên là để tránh hiện tượng chủ quan, ở những chỗ cần thiết chúng tôi cũng buộc phải dẫn chứng lời văn dịch (là loại lời đông dảo người đọc tác phẩm STAH đã quen thuộc) thay cho lời diễn kể thực tế mà chúng tôi đã nghe chính người địa phương dịch (là loại lời chỉ có cá nhân nghe hiểu chưa thể khẳng định là dẫn chứng đáng tin cậy) Nói chung, luận án mô tả cấu trúc lời diễn kể thông qua việc tái hiện lại bối cảnh, không khí diễn kể STAH trong thực tế chứ không phải mô tả chúng bằng sự phân tích ngôn ngữ Thành thử dù có trích nguyên văn một số câu trong văn bản dịch thì đó chỉ là những dẫn chứng cho quá trình mô tả cấu trúc chứ không phải là những ngữ liệu để phân tích văn bản

1.1 Cấu trúc lời diễn kể:

Khó dịch sang tiếng Việt (Kinh) một cách chính xác nghĩa các từ Klay khan (dân tộc Êđê), Hơri (dân

Trang 22

Hrê, Xơ đăng) Nói Klay khan Đăm San, hơ mon Dông Tư hay mon Dhăm Ta Yoong v.v thì nói chung đó là câu chuyện hát - diễn - kể về người anh hùng Đăm San, Dông Tư hay Dhăm Ta Yoong Nếu gọi chung các thao tác hát- diễn- kể bằng khái niệm “lời diễn kể” thì cấu trúc của nó gồm các lời dẫn, lời miêu tả và lời thoại Thử xét một số ví dụ:

Y ĐHING: Ơ này chàng chồng em gái của chúng tôi ơi! Để chúng tôi đứng đầu ngọn, bạn đứng đầu gốc <b> [112,IV,20]

Ví dụ 2:

BƠRATANG: Ché Ê-ba được gìn giữ hàng đời mẹ của tôi bị bể rồi, ngăn ché túc gởi bán hàng thuở của cha tôi bị nứt rồi Voi đực, voi cái, gái trai nô lệ của tôi bị chết

vì con quay của anh, anh không biết sao? <b> Rồi Bơratang lấy con quay trong ché Kơ-băn đưa cho Xing Nhã, nói: <c>

BƠRATANG: Đây có phải con quay của anh không? <b>

XING NHÃ: Ơ đúng rồi! Đúng con quay của tôi đây! Ché túc của chị bị vỡ, tôi đổi cho ché túc, vỡ ché Pô tôi đền lại ché

Pô Chết voi đực, tôi đền cho voi đực bằng ngà Chết voi cái, rồi tôi bù cho voi cái đọ bằng lưng <b>[112,IV,350]

Ví dụ 3:

Trang 23

Sét đã nổ Gió bão đã thổi mạnh

làm nứt ổ mối ra, thì mối lại tung lên mà bay

theo gió Những tôi tớ và dân làng của Mơ Tao

cũng đã ngã về Đăm Đơ Roăn <c>

ĐĂM ĐƠ ROĂN: Ơ dân làng! Mơ Tao có

bao nhiêu con voi <b>

DÂN LÀNG: Chỉ có một con voi quí

nhất <b> [120,378]

Nếu qui ước những lời có kí hiệu <a> là lời dẫn,

lời có kí hiệu <b> là lời thoại và lời có kí hiệu

<c> là lời miêu tả thì bảng 1.1 là bảng thống kê số

lượng lời của chúng

TÊN SỬ THI LỜI

DẪN

LỜI MIÊU TẢ

LỜI THOẠI

TỔNG SỐ LỜI

TỈ LỆ (3/4) (A) (1) (2) (3) (4) (5)

Dù tồn tại trong thực tế diễn kể hay được ghi chép lại thành văn bản thì

tất cả STAH các dân tộc Tây Nguyên cũng chỉ được cấu tạo từ ba kiểu lời đã

Trang 24

tác phẩm, người sưu tầm có một vài phụ chú được đóng trong ngoặc để tường minh thêm cho chi tiết nào đó Ví dụ:

“BIA RĂK (kêu lên sung sướng): May mắn quá, con tôi về rồi! Xét ơi, con ta đã về rồi!” [112,IV,151]

Trong thực tế diễn kể thì việc “kêu lên sung sướng” không thể hiện bằng lời cụ thể mà được nghệ nhân diễn tả bằng nét mặt và lời kể trở nên hồ hởi khác thường Căn cứ vào nét mặt và giọng điệu mà người nghe có thể cảm nhận đầy đủ tính chất biểu cảm trong lời thoại Nhưng trong văn bản viết muốn thể hiện được tình cảm vui mừng, sự ngạc nhiên của nhân vật đối thoại thì người dịch buộc phải nhấn mạnh trạng thái đặc biệt ấy bằng lời phụ chú

Để phân loại được các lời dẫn, lời miêu tả, lời thoại, luận án đã căn cứ vào các tiêu chí thuộc về nội dung biểu đạt, hình thức thể hiện và giọng điệu diễn kể của các kiểu lời Sau đây là những mô tả chi tiết

1.1.1 Lời dẫn:

Trong cấu trúc của lời diễn kể thì lời dẫn có số lượng ít nhất Nếu không chú ý thống kê, người đọc rất dễ bỏ qua vì chúng có cấu tạo câu ngắn, xuất hiện mờ nhạt bên cạnh vô số lời thoại, lời miêu tả Tiêu chí để nhận biết kiểu lời dẫn sẽ được phân tích ở đoạn sau nhưng trước hết cần xem xét nguyên nhân nào dẫn đến sự tồn tại hiển nhiên của lời dẫn trong hệ thống STAH Trong thực tế diễn kể STAH, nghệ nhân phải ngừng diễn kể vì nhiều lý do: nghỉ ngơi để ăn trầu, hút thuốc , hết đêm diễn kể hoặc sức khỏe yếu phải dừng lại v.v Đến khi tiếp tục trở lại câu chuyện, nghệ nhân thường có một lời dẫn đóng vai trò lời mở đầu cho khúc hoặc đoạn tiếp theo Trong những trường hợp đã nêu, lời dẫn tuy ngắn nhưng cần thiết vì nó chuẩn bị tâm lý cho người nghe hoà nhập vào không khí Sử thi Để cho câu chuyện tiếp diễn, nghệ nhân thường sử dụng cấu trúc câu “nghỉ một ngày, ngơi một đêm” hoặc “bây giờ nói về ” hay “giữa lúc đó thì ” Sau đó, câu chuyện tiếp tục và người nghe như được “sống” lại trong thế giới Sử thi hào hùng

Đặc điểm của lời dẫn thể hiện trong ngôn bản là nghệ nhân diễn kể thường hạ thấp giọng và tốc độ diễn đạt nhanh hơn Nó khác với giọng điệu của lời miêu tả thường là vần vè, say sưa hoặc đôi khi là ngâm, hát; khác với lời thoại là dõng dạc, hào hùng Lời dẫn trong ngôn ngữ diễn kể chỉ là lời lướt qua có tính chất nối kết các khúc, các đoạn hoặc lưu ý thêm, mở rộng thêm hay nhấn mạnh một chi tiết nào đó trong quá trình câu chuyện phát triển Bản thân lời dẫn không hoàn toàn là một chi tiết thuộc nội dung cốt truyện nhưng rất cần thiết trong chức năng dẫn dắt câu chuyện phát triển mạch lạc hơn,

Trang 25

logic hơn và do đó dễ theo dõi hơn Ngoài đặc điểm chung, mỗi tiểu loại có những đặc điểm riêng

1.1.1.1 Lời dẫn nối kết:

Về mặt hình thức, lời dẫn nối kết có cấu trúc câu ngắn gọn và xuất hiện ở

đầu các khúc, các đoạn Sử thi Đăm San có 7 đoạn thì đã có 6 đoạn đều mở đầu bằng câu: “Đăm San nghỉ một ngày, ngơi một đêm, ở không thêm một chiều một sáng” Sau lời dẫn, hành động Sử thi phát triển ngay Tương tự, trong tổng số 8 đoạn của Sử thi Khinh Dú thì có 6 đoạn được mở đầu: “Ở một ngày, nghỉ một đêm và đến một buổi sáng hôm sau” Thực chất, nếu không có những lời dẫn thì cốt truyện vẫn không ảnh hưởng gì Bởi thế giới STAH là thế giới của hành động nối tiếp hành động Các chi tiết tĩnh lặng, do đó, không phải là các chi tiết làm nên tính chất STAH Chúng nằm ngoài nội dung cơ bản của STAH và trở thành yếu tố phụ dẫn dắt, nối kết để cốt truyện phát triển liền mạch Cùng một kiểu mở đầu các phân khúc, phân đoạn như đã dẫn chứng còn có các cách mở đầu theo mô hình “giữa lúc đó, danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi” hay “trong khi đó, ở nhà thì ” thường gặp ở các STAH khác

Tóm lại, tùy vào STAH dài hay ngắn, số lượng nhân vật và khối lượng chi tiết nhiều hay ít v.v mà số lượng các phân đoạn, phân khúc của chúng khác nhau Nhưng bản thân mỗi STAH là một chỉnh thể và các phân đoạn, phân khúc nếu có, là những thành tố cấu thành chỉnh thể Để cho chỉnh thể thống nhất, trọn vẹn, lời dẫn nối kết làm nhiệm vụ tạo ra một quan hệ logic giữa các phân khúc, phân đoạn với nhau

Tạm dừng câu chuyện Bông và Rong Bây giờ ta kể đến chuyện Tiăng [52,31]

Tạm dừng câu chuyện Tiăng ở đây Tiếp tục nói đến Bông và Rong [52,46]

Tạm dừng chuyện Bông-Rong ở đây

Trang 26

Trong dẫn chứng trín, lời dẫn phât triển lăm nhiệm vụ kết thúc một sự kiện đồng thời tiếp diễn một sự kiện khâc nhưng câc sự kiện lại có liín quan

về nội dung Như vậy không nhất thiết khi giữa hai hay nhiều sự kiện khâc nhau hoăn toăn về nội dung, tính chất, trạng thâi hoặc câch diễn đạt v.v thì cđu dẫn mới xuất hiện Lời dẫn phât triển, thực chất, như một sự lưu ý, đânh dấu hay nhấn mạnh mối quan hệ giữa câc sự kiện lă mối quan hệ tăng tiến về những biểu hiện năo đó

Thâng Bảy năm 1987, lần đầu tiín nghe cụ Đinh Krí (dđn tộc Hrí ở xê Sơn Nham, huyện Sơn Hă) kể Sử thi Dhăm Ta Yoong, chúng tôi đê không chú ý lắm đến những lời dẫn của cụ vì chúng được diễn đạt khâ tùy tiện mặc

dù nội dung câc lời dẫn gần gũi nhau vă thường được lặp lại Chẳng hạn khi ngđm câc lời ca líu của câc nhđn vật tham gia đối thoại nhưng để phđn biệt

từng nhđn vật khâc nhau cụ thường nói nhanh: “Bồì núi cô Dhăm Ta Yoong

hây ca líu…” (1)(Bđy giờ đđy Dhăm Ta Yoong nó ca líu) hoặc ngắn hơn:

“Mă cô trủ Ykron quết…” (Còn đđy thì tới Ykon nói) Nhưng sau nhiều lần

khâc nghe lại vă đặc biệt lă khi đối chiếu bản kể của cụ Đinh Krí với bản kể của cụ Hồ Nhếch (dđn tộc Xí đăng ở xê Tră Niíu, huyện Tră Bồng), chúng tôi thấy rằng câc lời dẫn không phải lă lời nói ngẫu nhiín hay tùy tiện của người diễn kể mă chúng trở nín cần thiết để người nghe Sử thi (hầu hết lă bă con dđn tộc có trình độ văn hóa thấp hoặc không biết chữ) theo dõi được cđu chuyện phât triển một câch mạch lạc Rất tiếc khi Sử thi năy được in ra thì bị

bỏ hoăn toăn câc lời dẫn ấy lăm cho Sử thi Dhăm Ta Yoong không khâc bao nhiíu một tâc phẩm văn học viết Chúng tôi chứng kiến nhiều lần thâi độ của người nghe không thích nhđn vật năo đó trong Sử thi thì khi nghe lời của người kể dẫn đến nhđn vật ấy họ thường nói chuyện riíng hoặc cười đùa Nhưng với câc nhđn vật mă họ yíu mến thì sau lời dẫn đến nhđn vật ấy họ rất chăm chú vă thường cùng ngđm lín với nghệ nhđn diễn kể những băi ca hay Chắc chắn đđy lă điều không có được khi chỉ đọc STAH trín bình diện văn bản

Bảng phđn loại 1.2 tóm tắt hình thức, vị trí vă chức năng của hai tiểu loại lời dẫn

1.1.2 Lời miíu tả:

Tuy không đóng vai trò quan trọng, cốt lõi như lời thoại nhưng lời miíu

tả cũng trở thănh một biện phâp hănh động hoâ Sử thi Không có lời miíu tả chắc chắn STAH sẽ mất đi sự hoănh trâng, vẻ trâng lệ - câi lăm nín tính chất

Sử thi để khu biệt nó với những thể loại truyền miệng khâc Nhưng do bị chế

(1) Vì người Hrê chưa có chữ viết riêng nên chúng tôi chỉ ghi âm bằng chữ Việt

Trang 27

TIỂU LOẠI LỜI

DẪN

HÌNH THỨC, VỊ TRÍ CHỨC NĂNG

Lời dẫn nối kết Cấu trúc ngắn gọn Đứng đầu

các phân khúc, phân đoạn

Nối kết các phân khúc, phân đoạn

Lời dẫn phát triển

Cấu trúc ngắn gọn Đứng giữa các đoạn Xen lẫn với các hành động, chi tiết hoặc sự kiện

- Kết thúc một sự kiện để tiếp diễn một sự kiện mới

- Gia tăng kịch tính của hoạt động, thay đổi mọi biểu hiện của sự việc

Bảng 1.2

định bởi những đặc điểm của thể loại, lời miêu tả trong STAH không dài dòng, miên man như trong các bộ Sử thi cổ điển hoặc trong các tác phẩm của văn học viết Lời miêu tả của STAH mang tính chất ngợi ca, phát hoạ hơn là phân tích chi tiết, miêu tả cụ thể một sự vật hiện tượng nào Trong Odyssée, riêng đoạn miêu tả chiếc khiên của Achille đã dài tới 130 câu hay đoạn kể lai lịch vết sẹo ở chân Uylisse cũng dài đến 75 câu Với STAH, nếu chỉ xét trên bình diện văn bản không thôi cũng hiếm gặp được đoạn miêu tả nào dài trên

15 câu cho một chi tiết, một hành động (mỗi câu xê dịch trong khoảng 11-14 tiếng) Điều đó có nguyên nhân của nó Với phương thức tồn tại chính là truyền miệng, cấu trúc lời phải ngắn gọn, mang tính công thức thì nghệ nhân mới dễ nhớ, dễ diễn kể Mặt khác, với vốn ngôn ngữ cổ còn nhiều hạn chế về ngữ nghĩa, từ vựng, sắc thái biểu cảm v.v , STAH không đủ điều kiện diễn tả một chi tiết, khắc hoạ một hành động bằng khối lượng từ phong phú dài đến hàng trăm câu Lời miêu tả trong STAH thường có cấu trúc ngắn gọn, lặp lại

Y Đhing phóng tầm mắt ngắm làng Đăm San: nơi dựng nhà như cái mai rùa, rẫy giăng khắp núi, trâu bò nhi nhúc như mối như kiến, đường đi bên phải rộng một với giáo, đường đi bên trái rộng một với chà gạc, dấu chân ngựa chân voi như bện thừng, nô lệ trai ngực đụng ngực, nô lệ gái vú đụng vú Cảnh làng chàng Đăm San quả thật là đẹp, là vui! Dấu chân ngựa như chân rết, dấu chân voi như

Trang 28

trôn cối giã gạo, nồi bung nồi bảy như ốc sên rừng, nhà dài cả một hơi chiêng

Y Đhing, Y Linh đi cột ngựa Ngựa cột rồi họ lên cầu thang, hai lần cầu thang lún xuống Họ dậm chân trên sàn hiên, hai lần sàn hiên như vỗ cánh, bảy vì cột nhà đung đưa sang Đông, đung đưa sang Tây Họ gác chà gạc lên xà nhà, dựng giáo ở góc nhà rồi đến ngồi ở cái ghế đánh la, nhũn nhặn như cái mồi sáp, mềm mại như con cúi bông, trông sao mà dễ thương dễ mến vậy [112,IV,8]

Nội dung chính của đoạn thứ nhất là cảnh rộng lớn, giàu sang của buôn làng tù trưởng Đăm San qua sự cảm nhận, chứng kiến của Y Đhing Mặc dù

có chi tiết “nô lệ trai ngực đụng ngực, nô lệ gái vú đụng vú” nhưng đó không phải là hành động theo đúng nghĩa của nó mà chỉ là cách miêu tả sự tấp nập, đông đúc của cư dân trong buôn làng Đăm San

Trong khi đó, đoạn thứ hai lại chú trọng miêu tả chi tiết mọi cử chỉ, tư thế, dáng dấp của anh em Y Đhing từ lúc đi cột ngựa cho đến khi lên nhà Đăm San Nội dung của đoạn không phải là những miêu tả về diện mạo, trang phục, tâm lý, tính cách của nhân vật mà chú ý đến mọi hành động của nhân vật (đi cột ngựa, lên cầu thang, dậm chân, gác chà gạc, dựng giáo v.v ).Với cách miêu tả chú trọng vào các hoạt động có chủ định của nhân vật, đoạn thứ hai có thể xếp vào tiểu loại miêu tả hành động của nhân vật

Trở lên là một vài đặc điểm chung để phân biệt tiểu loại tả quang cảnh

và tả hành động Sau đây là những phân tích chi tiết hơn các đặc điểm loại biệt

1.1.2.1 Miêu tả nhân vật:

Nhân vật trong STAH thường được miêu tả theo cảm hứng ngợi ca Nhân vật nam thì tài năng, dũng cảm Nhân vật nữ thì xinh đẹp từ dáng đi, cách ngồi cho đến trang phục, làm lụng Hình tượng nhân vật được xây dựng một cách tuyệt đối hoá về mọi phương diện Nhân vật không những đẹp đẽ về ngoại hình mà tài năng, phong cách cũng khác xa người thường Đây là đặc điểm cho thấy nhân vật STAH có nhiều sự tương đồng với nhân vật trong các

bộ Sử thi cổ điển

Họ trông thấy rẽ qua đám đông đang nép sang hai bên một cách kính cẩn, một trang thanh niên diện mạo như thần, toàn thân toả sáng và quyền uy Chàng kiêu hãnh nhìn quanh mình, lơ đãng chào Đrôna và Kripa rồi phóng thẳng ngựa tới trước mặt Acgiuna [23,77]

Trang 29

Sử thi Mahabharata đã xây dựng chân dung Kacna đầy chất ngợi ca Người anh hùng xuất hiện trong dáng dấp oai hùng, lẫm liệt cũng là đặc điểm thường thấy trong cách miêu tả nhân vật của STAH Tây Nguyên

Cả miền Ê đê, Ê ga ca ngợi Đăm San là một dũng tướng chắc chết mười mươi cũng không lùi bước Ngực quấn chéo một chiếc mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm, đôi mắt long lanh như mắt chim

“ghếch” ăn hoa tre Chàng Đăm San hiện ra là một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy [112,IV,51]

So với người anh hùng Kácna, Đăm San cũng lẫm liệt, đường bệ không kém Từ trang phục đẹp đẽ đến tư thế hiên ngang, từ trang bị vũ khí đến thái

độ tự tin, lời miêu tả đã khắc hoạ Đăm San thành một nhân vật anh hùng có sức mạnh tinh thần và thể chất khác thường

Tuy cùng một âm hưởng ngợi ca nhưng nếu phân tích kỹ thì giữa STAH với Sử thi cổ điển có biện pháp miêu tả nhân vật cũng khác nhau trong một số chi tiết Nhân vật trong các bộ Sử thi cổ điển thường được mô tả kỹ về phẩm chất, tính cách, phong thái Nhưng nhân vật của STAH lại thiên về miêu tả ngoại hình, dáng dấp, tư thế Sự khác biệt này là điều dễ nhận ra vì đặc trưng của STAH Tây Nguyên thuộc dòng Văn học dân gian Chúng khác với Sử thi

cổ điển thuộc dòng Văn học bác học STAH chủ yếu khắc hoạ nhân vật qua một loạt các biểu hiện của hành động Người nghe STAH chỉ có thể căn cứ vào các hành động để cảm nhận những trạng thái tâm lý của nhân vật (sẽ phân tích chi tiết hơn ở chương 3)

Ngôn ngữ miêu tả nhân vật trong Sử thi cổ điển là thứ ngôn ngữ phát triển của nhà nghệ sĩ tái tạo nên nó trau chuốt hơn, cầu kỳ và linh hoạt hơn Ngôn ngữ đó phù hợp cho việc ca tụng, đề cao kiểu nhân vật đặc biệt: nhân vật hoá thân của các vị thần hoặc rất gần gũi với thánh, thần oai linh, tối thượng Ví như Rama là hoá thân của thần Visnu, Bhisma là con nữ thần Găng-ga (Mahabharata) Sắc đẹp của nàng Hêlen được mô tả, ca ngợi không kém gì sắc đẹp của nữ thần Aphơrôđitơ - vị nữ thần được coi là “dường như trên thế gian này người phụ nữ có bao nhiêu vẻ đẹp thì đều tập trung vào nữ thần Aphơrôđitơ” [42,9] Còn sắc đẹp của các nữ nhân vật trong STAH lại dung dị, chân chất hơn:

Hơ Nhị tay trái đeo xuyến bạc, tay phải đeo vòng kép, cả người nàng lấp lánh như đĩa khiên đồng Búi tóc thấp, búi như người M’nông Búi tóc cao, búi giống như người Êđê Một đuôi gà dài để lòi ra ngoài búi tóc Nàng bước khoan thai, tay đánh xa mềm mại Búi tóc chải mượt, nàng giữ thật mượt Búi tóc chải gọn, nàng giữ

Trang 30

thật gọn Cả búi tóc to bằng một chiíng mong Khi năng cất bước năng lại giống như một con bồ chao đang vỗ cânh [112,IV,14] Mặc dù Hơ Nhị cũng “đeo xuyến bạc”, “đeo vòng kĩp”, “cả người lấp lânh như đĩa khiín đồng” nhưng vẻ đẹp vẫn không lộng lẫy, rực rỡ như năng Ainô trong Sử thi Kalívala:

Năng lấy ra sâu thắt lưng văng bảy vây xanh gấu viền sặc sỡ từng chiếc một năng ướm văo người thắt dải dđy lưng văng óng ả

Trân trắng mịn có băng văng nhỏ chuông bạc xinh từng bím tóc dầy năng buộc lụa xanh ngang tầm mắt căi chiếc nơ đăo giữ tóc tơ [36,67]

Không chỉ riíng dẫn chứng trín mă ở câc Sử thi cổ điển nói chung, cấu trúc lời miíu tả nhđn vật rất linh hoạt, tự do, không bị cđu thúc văo qui tắc hay mô hình diễn đạt cố định năo Ở STAH Tđy Nguyín, cấu trúc lại mang tính đăng đối rõ rệt: “Búi tóc thấp, búi như người M’nông Búi tóc cao, búi giống người Íđí” Ở những đoạn diễn kể tương tự, nghệ nhđn thường kể chậm rêi, giọng kể rề ră, có khi thím bớt hoặc thường xuyín lặp lại tùy văo ngẫu hứng vă bối cảnh diễn kể Cũng một nội dung miíu tả nhđn vật Ykron (Sử thi Dhăm Ta Yoong), trong nhiều lần diễn kể có rất đông phụ nữ cùng nghe, cụ Đinh Krí kể rất chậm do thường lặp lại nội dung cđu “tóc dăi hơn con nước, tay trắng hơn ngă voi”(1) Nhưng cũng với đoạn đó văo những lần diễn kể khâc (có ít hoặc không có phụ nữ) cụ chỉ diễn kể một đoạn ngắn Ở mức độ năo đó cũng có thể xem đđy lă một hiện tượng sâng tạo tùy theo môi trường diễn kể mă trín văn bản thuần túy không thể hiện được Cấu trúc miíu

tả thường ổn định vă lặp lại cho việc miíu tả nhiều nhđn vật khâc nhau chứ không riíng nhđn vật năo Lời miíu tả nhđn vật chứa câc cặp từ đối lập kiểu

đê tả ở “trín” thì phải có tả “dưới”, “trâi” kĩo theo “phải”, “trước” thì có

“sau”, “xa” đi với “gần”, “cao” đối ứng “thấp” v.v Ví dụ: “Năng Bơra Etang

không phải con của mẹ đẻ, cha sinh mă lă con đúc trong khuôn, nặn bằng tay Nhìn xa cũng đẹp, trông gần căng đẹp” [120,204] Ngoăi tính chất đăng đối,

(1) Trong thực tế diễn kể, đoạn này khá dài: “…một người xinh nhất, tóc dài hơn con nước, tay trắng hơn ngà voi, ca lêu hay hơn chim hót Một người xinh lắm, con nước lớn không dài hơn đầu tóc, ngà voi không trắng hơn hai tay, chim hót không hay bằng giọng

ca lêu Một người xinh nhất, tóc dài…chim hót v.v…”.Trong văn bản

in chỉ giữ lại một đoạn đầu

Trang 31

lời miêu tả nhân vật còn sử dụng biện pháp tăng tiến đồng dạng Tức là khi miêu tả một bộ phận nào đó trong chỉnh thể thì đồng thời cũng miêu tả các bộ phận khác liên quan với mức độ tăng tiến dần về sắc thái biểu cảm:

Tiếng thở Dhăm Ta Yoong ào ào như con nước lớn Tay to như cây lớn trong rừng Chân to như chân voi Chạy mạnh hơn ông Gió Chạy mạnh hơn lũ trâu [97,1]

Các bộ phận đó là “tay”, “chân” (tiếng Hrê là “ty”, “dền”) trong chỉnh thể “con người” Đó còn có thể là bộ phận cá thể “voi”, “trâu” (“h’roi”,“bơ”) trong chỉnh thể “loài động vật” Cũng như vậy, Sử thi ca ngợi sắc đẹp nàng Hơbia Đơrang: “Bước chân của nàng đi êm như sóng nước Tóc nàng uốn xuống trán, tóc xõa dài quá gót Con mắt nàng nhìn óng ánh như mắt chim

“Ghếch” Ngực phía trước nở tựa mặt trời Lưng đằng sau cong dịu dàng như

lá mía” [112,IV,163]

Số lượng các biện pháp miêu tả là hạn chế chứ không đa dạng như Sử thi

cổ điển Ngôn ngữ sử dụng cũng không cầu kỳ, hoa mỹ mà mộc mạc, gần gũi Với nhân vật đàn ông thì bất luận là nhân vật anh hùng hay nhân vật đối địch đều được miêu tả cùng một công thức: sức mạnh thể chất, vẻ đẹp trang phục, khẩu khí ngôn ngữ, tài năng, sự giàu có Với nhân vật phụ nữ thì họ là chị em hay vợ của ai cũng được khắc hoạ giống nhau ở một số đặc điểm chủ yếu về sắc đẹp (dung nhan, quần áo, dáng đi, tiếng nói) và tài năng (nấu nướng, thêu thùa, dệt vải) Khó có thể tìm thấy công thức miêu tả tương tự trong các thể loại gần gũi

Cũng cần nói thêm rằng không phải tất cả nhân vật trong hệ thống STAH đều được xây dựng chân dung rõ nét Ở Sử thi Đăm San thì chỉ có Đăm San

và Hơ Nhị là được miêu tả khá chi tiết Sử thi Xing Chơ Niếp có 29 nhân vật nhưng chỉ có 3 nhân vật được mô tả khá kỹ Có thể nói, kể cả số nhân vật được miêu tả chi tiết với số nhân vật chỉ phát thảo đôi ba nét thì hệ thống nhân vật được miêu tả nói chung chiếm chưa đến 10% trong tổng số nhân vật của STAH

Tóm lại, lời miêu tả nhân vật STAH không tự do như một số thể loại khác mà chúng trở thành một công thức miêu tả cố định Tính chất công thức, một mặt, “hạn chế sự tự do tạo tác” trong quá trình lưu truyền lâu dài của chúng Mặt khác, tính chất công thức cho phép nghệ nhân diễn kể dễ nhớ, dễ phổ biến Rõ ràng đây cũng là một trong những nguyên nhân giải thích vấn đề

vì sao một thể loại hình thành cách nay hàng mấy thế kỷ vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn mặc dù nó không tồn tại trên những văn bản viết như các bộ

Sử thi cổ điển của các nước khác

1.1.2.2 Miêu tả quang cảnh:

Trang 32

Quang cảnh trong STAH không hoàn toàn như một tấm phông để làm nền cho mọi hoạt động diễn ra trên đó Quang cảnh - đó là sự sống, là hơi thở của thế giới STAH Không thể tìm thấy một STAH nào mà trong đó chỉ hoàn toàn là chiến trận triền miên với tất cả dục vọng cướp đoạt, chém giết Bên cạnh những cảnh chiến trận quyết liệt, chết chóc là những cảnh hội hè náo nhiệt “ăn năm, uống tháng”, cảnh buôn làng giàu có, cư dân đông đúc, cuộc sống tự do, dư thừa lương thực, thực phẩm

a) Cảnh làng buôn: Trong STAH thường thì vị tù trưởng nào càng giàu

mạnh, làng buôn của họ càng trù phú, đông đúc Buôn làng càng to lớn, bề thế càng chứng tỏ uy quyền và sức mạnh của vị tù trưởng càng cao, tiềm lực kinh

tế và quân sự càng phát triển

Đàn voi đi được một hơi, hai hơi thì bên tay trái của họ đã là một màu lúa vàng, bên phải là một làng dựng trên đồi cao Trâu bò trên bãi cỏ xanh đông nhi nhúc như bầy kiến, đàn mối Con đường vào làng bên trái sâu bằng một cán chà gạc, bên phải bằng một cán mác dài Dấu chân ngựa, chân voi chằng chịt như đánh dây Trai gái

đi lại đầy cả buôn làng Nhà ở dài bằng một hơi tiếng chiêng, hiên nhà vừa mỏi cánh chim phí bay lượn Đó là làng của Khinh Dú [120,182]

Cho đến hiện nay khi nghe những đoạn miêu tả như thế, người nghe vẫn còn rất ao ước buôn làng của họ cũng giàu có, đông vui như truyện kể Còn với nghệ nhân diễn kể thì họ như được sống lại trong một không khí tưng bừng, tấp nập của thời kỳ chưa xa lắm với ngày nay Đó là thời kỳ của “kinh

tế tự nhiên”; canh tác nông nghiệp chủ yếu là trồng tỉa, săn bắn; đời sống cư dân còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường Nhà ở nào cũng phải “dài bằng một hơi tiếng chiêng” Vì đây là nhà ở cho cơ chế đại gia đình (bao gồm các thế hệ nối tiếp nhau) với nhiều bếp nấu khác nhau cho mỗi gia đình nhưng có chung một nơi sinh hoạt (hội họp gia đình, tiếp khách, lễ tiệc v.v…) mà tiếng Cor và Hrê gọi là “đ’ngã” Hiện nay kiểu nhà ở này vẫn còn tồn tại trong những buôn làng hẻo lánh, ít người hoặc đối với nhiều gia đình nghèo chưa có điều kiện chia tách riêng Tất cả mọi người đều làm lụng cùng trên một cái rẫy to Mọi thu nhập về luơng thực, thực phẩm cũng được cất giữ chung trong một cái chòi làm gần nhà ở Ngoài các trường hợp đã nêu, thực tế còn rất nhiều nhà to và dài trên hàng chục mét nhưng chỉ có một gia đình (tức là theo

cơ chế tiểu gia đình phổ biến hiện nay) Đây thường là gia đình giàu có vì ngôi nhà còn là nơi cất giữ mọi tài sản như nồi bung, nồi bảy, chiêng ché… cùng nhiều thứ vật dụng quý hiếm khác Cho nên không ngạc nhiên gì với công thức miêu tả được lặp đi, lặp lại ở bất kỳ buôn làng giàu có nào: “Trâu

bò như kiến như mối, nồi bung nồi bảy như ốc sên rừng, dấu chân ngựa, chân voi như bện thừng” v.v

Trang 33

Làng Mtao Mxây khum khum, rẫy cũng khum khum, đường đi lại thoai thoải lên, thoai thoải xuống Trâu đen như cà xanh, bò đỏ như cà chín nhi nhúc như kiến như mối Trong làng nhà nhiều như sỏi rải Ở giếng làng, các tảng đá bàn đều phẳng lì Thật không lời nào tả xiết cái đẹp của làng một tù trưởng nhà giàu! Bờ rào bên dưới trổ cổng đồng, bên trên trổ cổng sắt, phía bắc trồng gai êpang, phía nam trồng gai kđriêng Cổng làng chi chít những chông lớn chông nhỏ, quả cà ném xuống cũng không lọt Chông lớn nhiều như sỏi cát, chông nhỏ nhiều như lông chó Con sóc nhảy vào cũng khó

mà thoát thân Bờ tre rào một lớp hai lớp Bờ rào, rào lồ ô một hàng hai hàng Cổng làng đóng ba hàng trụ dày kiên cố [112,IV,45] Trong Sử thi Đăm San thì Đăm San là nhân vật chính - nhân vật anh hùng Mtao Mxây là nhân vật đối địch với Đăm San Do đó lời miêu tả cảnh buôn làng của hai kiểu nhân vật có khác nhau:

Y Đơhing phóng tầm mắt ngắm làng Đăm San: nơi dựng nhà như cái mai rùa, rẫy giăng khắp núi, trâu bò nhi nhúc như mối như kiến, đường đi bên phải rộng một với giáo, đường đi bên trái rộng một với chà gạc, dấu chân ngựa chân voi như bện thừng, nô lệ trai ngực đụng ngực, nô lệ gái vú đụng vú Cảnh làng chàng Đăm San quả thật là đẹp, là vui [112,IV,8]

Đó là làng buôn làng hai tù trưởng khi chưa đối địch nhau Nhưng buôn làng Mtao Mxây được miêu tả không khác gì cảnh buôn làng thời chiến hoàn toàn đối lập với cảnh làng Đăm San là cảnh làng thời bình Ngoài sự giàu có

và đẹp đẽ, làng Mtao Mxây còn được phòng thủ kiên cố: cổng đồng, cổng sắt, trồng gai, cắm chông, rào tre hai ba lớp Trong làng không có cảnh sinh hoạt bình thường của mọi cư dân mà dường như tất cả đều sẵn sàng trong tư thế chiến đấu Ngược lại, cảnh làng Đăm San ngoài sự giàu đẹp còn có cả những cảnh cư dân đông đúc, sinh hoạt tấp nập, hối hả Mọi người sống bình yên, vui vẻ Không một dấu hiệu nào cho thấy họ là một cộng đồng lo sợ chiến tranh hay có tính chất hiếu chiến

Còn cảnh làng Mtao Mxây thì có khác Bên cạnh việc sử dụng công thức miêu tả quen thuộc đối với sự giàu có của buôn làng ở phần đầu thì phần sau (bắt đầu từ “Bờ rào bên dưới trổ cổng đồng ) đặc tả thêm cách phòng thủ kiên cố của tù trưởng Mtao Mxây Nếu như âm hưởng trong lời miêu tả làng buôn của kiểu nhân vật anh hùng là ngợi ca, thán phục thì âm hưởng trong lời miêu tả làng buôn của kiểu nhân vật đối địch lại chú ý đến tính cảnh giác, đề phòng các thế lực khác tấn công Sự khác nhau về âm hưởng trong lời miêu tả không phải không có chủ định Xét về mặt nghệ thuật, STAH đã sử dụng biện pháp so sánh ngầm để tạo ra một hiệu ứng tăng tiến các giá trị biểu nghĩa và

Trang 34

biểu cảm Đó là việc càng phòng thủ kiên cố, chu đáo “vòng ngoài bảy lớp rào, vòng trong ba lớp ngăn” chăng nữa mà đối phương vẫn chiến thắng được thì ý nghĩa và tầm vóc chiến công càng trở nên lẫy lừng, vang dội hơn Kẻ bại trận càng giàu có, càng trang bị nhiều biện pháp tự vệ thì người thắng trận càng tự hào Thu phục được những buôn làng càng to lớn, vững chắc thì nhân vật chiến thắng càng có quyền lực, tài sản càng dồi dào, nô lệ càng đông đúc

Có như thế họ mới trở thành những tù trưởng giàu mạnh “danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi”

Như đã phân tích, mặc dù giá trị biểu nghĩa và sắc thái biểu cảm trong lời miêu tả các buôn làng có khác nhau ít nhiều giữa những nhân vật khác nhau nhưng nhìn chung khi miêu tả sự giàu có thì đều tuân theo một công thức miêu tả nhất định Nói về súc vật đông đúc thì “chân bò, chân trâu, chân voi chi chít như bện thừng” Về cư dân tấp nập thì “nô lệ trai ngực đụng ngực,

nô lệ gái vú đụng vú” Về nhà cửa to lớn thì “nhà dài một hơi chiêng , nhà cao chim mỏi cánh” Về tài sản thì “chiêng, ché, nồi bảy, nồi ba đen đặc như kiến, như mối” Chỉ cần căn cứ vào đặc điểm miêu tả này cũng dễ dàng nhận ra được tính chất dân gian, truyền miệng của một thể loại văn học đặc thù khác rất rõ với thể loại văn học bác học

b) Cảnh hội hè: Ngoài cảnh buôn làng to lớn, giàu có được miêu tả với

tất cả sự say sưa, tự hào thì STAH còn tưng bừng không khí hội hè “ăn năm, uống tháng” để mừng chiến thắng, mừng được mùa, mừng lập làng mới, đón khách đến nhà, làm lễ thổi tai cho con trai v.v Những lễ hội đó thể hiện một đời sống vật chất dồi dào, đời sống tinh thần tự do, bình đẳng và mến khách của cư dân Trong một lần tổ chức lễ đâm trâu tại xã Sơn Tinh (huyện Sơn

Hà) tổ chức vào tháng Bảy hằng năm, dân làng có mời hai Pô khan (tiếng Ê

đê gọi nghệ nhân kể “khan”) và một Pàdàu (tiếng Hrê và Xê đăng có nghĩa là

“thầy” để chỉ chung thầy cúng, thầy chữa bệnh, nghệ nhân kể chuyện) đến dự

lễ Chúng tôi rất ngạc nhiên khi vị Pàdàu người Hrê trong một bài cúng mời

kiếc chác có cả những đoạn trùng lặp với Sử thi Dhăm Ta Yoong:

Vế cô, mối bầy kiếc oi ta hoang! (Một lũ ma ở trên rừng)

Vái bầy chác oi ta rôm! (Hai lũ quỷ ở trên núi)

Lỏ ta cô, vật bầy cà ri (Xuống ngay đây nhiều lũ con gái)

Lỏ ta cô, vật bầy cà lô (Xuống ngay đây nhiều lũ con trai)

Tía bầy cà rá, bầy (ơ) giỏ (Cùng lũ người già, lũ người trẻ)

Oi tó lùa canh, calêu cachoi (Ở quanh đống lửa lớn, ca lêu ca choi)

Ố riếc Nók ta chí vuya (Uống nước Nók trong ché gỗ quí)

Bầy cà lô nhố ố vật (Lũ đàn ông uống phải nhiều)

Bầy cà ri ố châm chí Tpê (Lũ đàn bà uống trong ché Tpê)

Trang 35

Oi hoang hay, oi hoang cáy (Ở núi cao, ở núi lớn)

Lời bài cúng không khác gì đoạn miêu tả cảnh hội hè trong Sử thi Dhăm

Ta Yoong mà chúng tôi đã sưu tầm và dịch trước đó mấy năm:

Nhiều lũ con gái, nhiều lũ con trai, người già, người trẻ nhảy quanh đống lửa lớn Vừa nhảy vừa ca lêu, ca choi vang lừng Lũ họ hàng uống nước Nók trong ché tròn bằng gỗ qúi Lũ đàn ông uống nhiều Lũ đàn bà uống nước Nók trong ché gỗ Tpê linh thiêng trên núi cao, núi lớn [97,2]

Chưa có điều kiện để tìm hiểu lời cúng hay lời miêu tả trong STAH ra đời trước nhưng rõ ràng chúng có hiện tượng giao thoa nhau, tiếp thu và cải biến lại ứng với những trường hợp nhất định Tình hình này cũng giống như PGS,TSKH Phan Đăng Nhật phát hiện một đoạn đối thoại của nhân vật Đăm

San là “có sẵn trong lời riu yang (khấn khan) được đọc khi cúng cầu bình yên

và mạnh khỏe” Ở ví dụ khác ông cho rằng lời kể lể của Bơra Tang trước thi hài Xing Nhã là “lấy trong bài hát chốc dùng khi khóc người chết” Hiện tượng vay mượn lẫn nhau giữa lời cúng bình thường với lời miêu tả như dẫn trên chắc còn cần được tìm hiểu cặn kẻ và thuyết phục hơn Nhưng ở một bình diện nào đó, chúng tôi tạm đồng ý với nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật khi ông kết luận: “Sự di chuyển và lặp lại là một hiện tượng thường thấy trong phônclor mà không bị chê là vay mượn và trùng lặp”[60,48]

Lời miêu tả cảnh hội hè nói chung vẫn giữ tính chất đăng đối thường gặp như “hàng trăm người đi khiêng nước, hàng chục người đi lấy cần” hoặc

“uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán” Tuy nhiên chúng linh hoạt, tự do hơn lời tả cảnh làng buôn và không lập thành công thức miêu tả một cách rõ ràng như những lời khác Nhưng không phải vì thế mà có thể tự do thêm bớt, sửa đổi thế nào cũng được Bởi vì phương tiện, sản vật dùng cho lễ lạc, hội hè lớn hay nhỏ đều xoay quanh mấy thứ quen thuộc: cồng chiêng, rượu ché, thịt trâu bò Vấn đề còn lại là tùy vào qui mô lớn hay nhỏ của lễ hội mà cư dân tham dự đông đúc hay ít ỏi, số lượng huy động nhiều hay ít

Trong các lễ hội lớn nhỏ thường không thể thiếu vắng tiếng cồng chiêng Ngay việc tổ chức diễn kể STAH nhân dịp lễ lạc nào đó tiếng chiêng bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng Trước khi nghệ nhân diễn kể, tiếng chiêng đã

rền vang, thúc giục mọi người tụ tập nghe kể Khan (tiếng Ê đê), Mon (tiếng

Hrê) Hay khi nghệ nhân ngừng diển kể vì lý do nào đó, mọi người lại sôi nổi uống rượu cần bàn luận về câu chuyện kể trong tiếng chiêng càng về khuya càng vang vọng Nhiều lúc cao hứng, cả nghệ nhân diễn kể lẫn số người nghe

đã ít nhiều nhớ câu chuyện cùng ngâm lên những đoạn hào hứng Lúc bấy giờ không thể phân biệt là một buổi kể chuyện hay một đêm sinh hoạt văn hoá có

Trang 36

cả đồ ăn, thức uống và nhạc cụ hỗ trợ Chính trong những trường hợp như thế mọi người có ngâm khác đi chút ít (thậm chí sai lệch) một khúc, một đoạn nào

đó đã từng quen thuộc thì cũng là điều hiển nhiên Phải chăng đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân làm cho các bản dịch cùng một STAH của nhiều nhà sưu tầm không hoàn toàn giống nhau:

Đánh lên! Cho tiếng chiêng lan ra khắp xứ

Đánh lên! Cho tiếng chiêng lan qua sàn nhà xuống tận đất đen

Đánh lên! Cho tiếng chiêng vượt qua mái nhà vang lên tận trời xanh

Đánh lên! Cho khỉ quên ôm chặt vào cành cây

Cho ma quỷ cũng quên làm hại người

Đánh cho chuột, sóc quên đào lỗ, cho rắn nằm quay lơ

Cho hươu nai đứng quên ăn cỏ…[120,33]

Cũng nội dung trên nhưng trong bản dịch khác đăng ở “Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam” (quyển thứ tư) thì các tác giả lại dịch thành văn xuôi:

Hãy đánh lên những tiếng chiêng có tiếng ngân vang, những chiêng có tiếng đồng tiếng bạc, đánh nhè nhẹ cũng vang vọng khắp núi non, hễ đánh lên là ở dưới rung lên các cây đòn ngạch, là ở trên rung lên các cây xà ngang, là khỉ vượn quên đu cây, ma quỷ quên làm hại người Sóc chuột quên đào hang, rắn hổ rắn mai đều chui lên nằm dài trên mặt đất, là hoẵng đứng ngẫn, thỏ ngồi ngơ, hươu nai đứng sững sờ…[112,IV,7]

Không đặt vấn đề phân tích ngôn ngữ bản dịch nào hay hơn hoặc sát với lời diễn kể hơn vì như trên đã nêu: tùy vào bối cảnh, không khí và cả cảm hứng của người kể lẫn người nghe mà việc diễn kể STAH có thể có sự sai lệch trong nhiều lần diễn kể khác nhau Vả chăng không riêng đối với STAH

mà đây cũng là tình hình chung của văn học truyền miệng Lời miêu tả của nghệ nhân trong thực tế diễn kể không bao giờ cố định hoá như lời văn trong bản dịch mà chúng có thể biến đổi, thêm bớt ứng với môi trưòng diễn kể Đó cũng là điều làm cho mọi lời diễn kể dường như có “linh hồn” hơn, sống động hơn rất nhiều so với lúc chúng tồn tại trên văn bản

1.1.2.3 Miêu tả hành động:

Nói hoạt động hay hành động thì cũng đều có tính mục đích riêng của chúng Nhưng khái niệm “hoạt động” thiên về ý nghĩa vận động còn “hành động” là một loạt những việc làm cụ thể của con người làm chuyển biến hoặc thay đổi tính chất hay kết quả sự vật, hiện tượng Mặc dù hành động có thể

Trang 37

thành công hoặc thất bại tùy thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau nhưng đó không phải là quá trình của sự vận động bình thường và quen thuộc mà là những việc làm có ý đồ chủ quan và xác định nhằm đạt đến một hiệu quả nào đó Theo ý nghiã này, luận án sử dụng khái niệm “hành động” cho một số công việc cụ thể của nhân vật trong hệ thống STAH tuy không phải lúc nào cũng tuyệt đối chính xác

Hành động như là đơn vị tế bào của STAH Do đó trong cấu trúc lời miêu tả thì số lượng lời miêu tả hành động là nhiều nhất, đóng vai trò chủ yếu nhất

a) Hành động chiến trận: Trong STAH, chiến trận nối tiếp chiến trận

Hành động chiến trận là hành động thường trực Kiểu nhân vật anh hùng cũng như nhiều kiểu nhân vật khác đều phải thường xuyên đối mặt với mọi thế lực tấn công khác nhau Họ phải sẵn sàng tổ chức chiến đấu trước mọi nguy cơ đe doạ để bảo vệ quyền lợi và danh dự cộng đồng Tùy theo qui mô lớn nhỏ của từng trận đánh mà cấu trúc lời miêu tả hành động chiến trận dài ngắn khác nhau Song nói chung, lời miêu tả không miên man, dài dòng như sự miêu tả vừa rất chi tiết, vừa rất hoành tráng trong các bộ Sử thi cổ điển

Lũ họ Kon Kơ Nei nhảy lên cao Lũ họ Dhăm Ta Yoong chạy dưới đất Lũ họ Kon Kơ Nei đánh Lũ họ Dhăm Ta Yoong đâm Thôi thì bên kia ném, bên này đâm Lũ trẻ nhỏ khóc Lũ người già kêu Lũ con gái rống Lũ đàn ông la Lũ họ hàng Kon Kơ Nei như con nước lớn Lũ họ hàng Dhăm Ta Yoong như suối nước to [97,33]

Thật ra tiếng Hrê cổ không có sự phân biệt chi tiết giữa người phụ nữ với

con gái (chỉ dùng cụm danh từ “bầy cà ri” để chỉ chung lũ phụ nữ) Cho nên

nếu chỉ nghe diễn kể không thôi thì rất khó hiểu mặc dù chúng liên tục được lặp đi lặp lại Để dịch cho đúng ý, chúng tôi phải nghe nhiều lần và đối chiếu với tiếng Hrê hiện nay mới có một sự phân biệt cụ thể Tuy vậy mổi khi diễn

kể đến hành động chiến trận thì nghệ nhân có lối diễn kể rất hào hứng Đây cũng là tình hình chung vì ngay với cả những STAH mà chúng tôi chỉ nghe được qua người dịch cũng như thế Trừ người kể là phụ nữ già cả, nói chung nghệ nhân là đàn ông quen diễn kể thì mỗi khi đến các hành động chiến trận

họ không những say sưa mà còn thể hiện bằng cả cử chỉ Cũng có khi đối với người nghe lần đầu, nghệ nhân dừng mạch chuyện lại để mô tả cụ thể thêm vũ khí đôi bên sử dụng theo tưởng tượng của họ Hiệu quả của các lời miêu tả hành động chiến trận chính ở chỗ chúng tạo ra một sự cộng hưởng hoàn toàn giũa thái độ người nghe và người kể Cho dù có bao nhiêu người nghe khác nhau về giới tính, tuổi tác, vai trò… thì cũng đều có điểm chung là rất thích thú, say mê ngân nga lên mọi lời miêu tả chiến trận:

Trang 38

Đăm Đơroăn đã đứng trên đồi cao Mình quấn một cái khố màu đen viền chỉ đỏ, mặc một cái áo sắt Trên đầu đội khăn đỏ Nước da đồng Một tay múa khiên, một tay múa mộc, chiếc mộc tròn như đầu con cú Tiếng khiên, lưỡi đao vút về phía đông thì nước đằng đông lớn, vút về phía tây thì nước đằng tây ngập Đôi chân chàng dẫm xuống đất thì đất kêu “ục ịch” rung rinh như núi

đổ Lưỡi kiếm quay trên trời thì bỗng như có gió bão, sấm rền, sét chớp, sét bay loang loáng trên đầu làm tối mày, tối mặt Mơ tao”[120,375-376]

Lời miêu tả không phải là lời của nhân vật trong câu chuyện nên cả người nghe lẫn người kể đều có thể tự mình ngâm ngợi lên tùy vào khả năng nhớ và sự hứng thú Do đó không loại trừ khả năng ứng tác tại chỗ của mọi người tham gia nghe diễn kể Thực tế cho thấy trong hầu hết bối cảnh diễn kể STAH, mọi người lúc nào cũng đặc biệt hào hứng với không khí chiến trận Nhưng đó không phải là hiếu chiến mà vì họ cảm thấy đời sống và con người thời kỳ STAH ra đời vẫn rất gần gũi với họ Mặc dù ngày nay cuộc sống đã phát triển nhưng người dân tộc thiểu số vẫn còn duy trì được những truyền thống, những thói quen cũ Mọi người vẫn thích thú săn bắt, hái lượm nhưng không đơn giản do thiếu thốn thức ăn mà chủ yếu vì công việc ấy thoả mãn được nhu cầu, cách sống có nguồn gốc xa xưa Nhiều khi để bảo vệ gia súc, hoa màu họ thường tổ chức những cuộc săn thú dữ dài ngày Trong những trường hợp đó, khát khao chiến thắng thú dữ của mọi người không khác gì nỗi đam mê lập chiến công thần kỳ của nhân vật anh hùng trong các STAH Thật vậy, STAH ra đời trên mảnh đất Tây Nguyên ngày trước cũng còn chưa khác quá xa so với điều kiện, môi trường Tây Nguyên ngày nay Hứng thú của mọi người về chiến trận nói riêng, về nội dung STAH nói chung không phải là hứng thú về một thời kỳ “một đi không trở lại” Nó thể hiện sự gặp gỡ, sự đồng cảm sâu sắc và niềm tin của họ về một thế hệ cha ông gian khổ nhưng oanh liệt trên chính mảnh đất họ đang sống Tuy mỗi thời kỳ có khác nhau nhưng sự khai phá mảnh đất ấy để phục vụ đời sống của bao thế hệ nối tiếp nhau chưa quá khác biệt Chính điều đó tạo cho người nghe STAH ngày nay

và có lẽ còn về sau nữa cảm giác những lời ngợi ca các thế hệ đi trước cũng chính là đang hát về bao chiến công của chính họ trong thời điểm hiện tại

So với các lời miêu tả khác, lời miêu tả hành động chiến trận có số lượng lời lớn hơn và số lượng câu trong lời cũng nhiều hơn, dài hơn; cấu trúc câu cũng tự do hơn Song nhìn chung, nội dung lời miêu tả khá ổn định ở nhiều yếu tố Đó là khi nói về vũ khí sử dụng thì thường là khiên, giáo, cung tên Khiên càng to và nặng “bảy người xách không lên, chín người nhấc không nổi” và lúc múa thì “quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung” càng chứng tỏ sức khoẻ phi thường của người sử dụng Cá biệt có sự xuất hiện của

Trang 39

thứ vũ khí lạ “bể phun lửa” trong Sử thi M’nông, phương tiện di chuyển lă

“con tău nước” trong Sử thi Đăm Di Phải chăng đđy có thể lă hình ảnh phóng đại của loại tín lửa hoặc ống phun lửa (mă Sử thi gọi lă “bể phun lửa”) vă chiếc thuyền chở được nhiều người (mă Sử thi gọi lă “con tău nước”) Cấu trúc cđu tuy có tự do, linh hoạt hơn nhưng nhiều đoạn vẫn giữ được sự đăng đối chung thường gặp ở nhiều kiểu lời diễn kể khâc nhau Vẫn lă câch sử dụng câc cặp từ quen thuộc trâi-phải, trước-sau, cao-thấp, trín-dưới đi kỉm với câc hănh động trong quâ trình miíu tả(1) Lời miíu tả thường tăng cường tính cường điệu để nhấn mạnh mức độ dữ dội, âc liệt của cuộc chiến đấu:

Nhiều mũi giâo nhằm YLíng đđm tới Nhiều lưỡi gươm chĩm ngang đầu, sât vai chăng YLíng dùng khiín chống đỡ Lúc thì chăng tiến lín phía trước, khi thì lùi về phía sau Lúc quay sang phía trâi mă trânh, khi quay sang phía phải gạt giâo Lúc thì nđng khiín che đầu YLíng múa khiín tạo ra luồng gió xoây ù ù, người của phía Y Rôch bay dạt ra hai bín, bay lín phía trước [52,324] Trong câc bộ Sử thi cổ điển, nhiều trận đânh được mô tả chi tiết từ trang phục, phương tiện, vũ khí cho đến công việc chuẩn bị chiến đấu của câc nhđn vật tham chiến Địa điểm xảy ra trận chiến, mức độ thiệt hại về con người vă của cải cũng được xâc định một câch cụ thể Nhưng trong STAH Tđy Nguyín thì câc đặc điểm thể loại đê hạn chế sự miíu tả chi tiết, dăi dòng của câc hănh động chiến trận Vũ khí đôi bín sử dụng chỉ được phât hoạ sơ lược về kích thước, trọng lượng Địa điểm cuộc chiến thường lă ở trong hoặc ngoăi buôn lăng của nhđn vật năo đó mă địa danh không được xâc định Thời gian mỗi trận đânh xảy ra dăi ngắn rất khâc nhau Sự tăn phâ sau chiến trận cũng không quâ to lớn Ít thấy cảnh người chết ngổn ngang, đầu rơi mâu chảy ngập đồng, nhă cửa hoăn toăn bị thiíu rụi Có thể nói với vốn ngôn ngữ cổ hạn chế, với phương thức diễn kể chủ yếu lă tâi hiện bằng vă qua trí nhớ, với bản chất dđn tộc yíu chuộng hòa bình lời miíu tả hănh động chiến trận trong hệ thống

(1) Ví dụ về tính chất đăng đối trong các lời diễn kể khác nhau: “Lũ họ hàng: Đúng hung rồi! Giỏi hung rồi! Họ hàng ta sẽ nghe theo Dhăm Ta Yoong khỏe mạnh thôi Dhăm Ta Yoong biết nhiều cái hay, thấy nhiều cái lạ Cái miệng biết nói đúng Cái tay biết làm giỏi Cái chân biết đi xa Lũ họ hàng ta nghe theo Dhăm Ta

Yoong thôi Giá Rỉa à!” (Sử thi Dhăm Ta Yoong) <Lời thoại>

“Đường đi bên phải rộng một với giáo, đường đi bên trái rộng một với chà gạc, dấu chân ngựa chân voi như bện thừng, nô lệ trai ngực đụng ngực, nô lệ gái vú đụng vú” (Sử thi Đăm San)

<Lời miêu tả cảnh làng buôn>

“Búi tóc thấp, búi như người M’nông Búi tóc cao, búi

giống như người Êđê… Búi tóc chải mượt, nàng giữ thật mượt Búi tóc chải gọn, nàng giữ thật gọn Cả búi tóc to bằng một

chiêng mong” (Sử thi Dăm Di) <Lời miêu tả nhân vật>

“Nghỉ một ngày, ngơi một đêm, ở không thêm một chiều một

Trang 40

STAH không thể dung chứa được khối chi tiết quá đồ sộ, lối diễn đạt chậm và dai dẳng như Sử thi cổ điển

b) Hành động lao động: Ngoài hành động chiến trận chiếm vị trí cốt lõi

trong hệ thống STAH thì các hành động đồng thời như săn bắt, sản xuất, mua bán, đổi chác để tăng cường cơ sở vật chất cho cư dân buôn làng dưới sự dẫn dắt của những tù trưởng năng động, dũng cảm cũng thổi những luồng không khí náo nức, sôi động vào nội dung STAH:

Chim tu hú gọi bắc nồi, chim tó kêu vo gạo, chim chiền chiện bảo gói cơm, chim chèo bẻo giục mở cổng và bầy chim mơ-lang hối thúc dân làng đi lại Họ bắt voi đuôi dài, ngà rộng, những loại voi biết kêu và có ngà dài chạm đất Voi đực họ bắt bành hoa Voi cái thắng bành mây Voi tơ bắt bành tre Đấy là đàn voi của các người gan dạ đi săn bắn

Chàng Đăm Di gọi dân làng ra đi Họ đi theo đường cong, ngoằn ngoèo Giáo mác giơ lên như bông lau lách, cung nỏ như nhánh cây, ống tên như trái mướp trên giàn và râu cằm của họ mọc dài như râu ngô Người đông như kiến như mối Một trăm người đi trước Một nghìn người đi sau Kẻ trước người sau rộn ràng như ong chuyển tổ [112,IV,211]

Không phải đoạn miêu tả nào trong cùng một STAH và không phải ở STAH nào cũng có những hoạt động rộn ràng với lời miêu tả khá dài như vậy Trong một số STAH, lời miêu tả các hành động săn bắt, sản xuất đôi khi chỉ như là những phác thảo giản lược Để tiện theo dõi thử lấy văn bản Sử thi Đăm San làm dẫn chứng Ngoài nội dung chính là các hành động chiến trận,

Sử thi Đăm San còn có một số hành động chặt cây Smuk, bắt voi, bắt cá, đi hỏi vợ là Nữ Thần Mặt Trời Trong số đó chỉ có hành động đi hỏi vợ là được miêu tả khá kỹ Còn các hành động khác chủ yếu được khắc hoạ, phát triển thông qua lời thoại

Đoạn miêu tả hành động chặt cây Smuk của Đăm San từ lúc tôi tớ và Đăm San ra đi cho đến khi cây đổ gồm 3 trang, 21 lời, dài 74 câu Trong đó lời thoại chiếm 15 lời, lời dẫn là 1 lời, lời miêu tả có 5 lời Trong 5 lời miêu tả

có 3 lời miêu tả hành động:

- Hành động ra đi của Đăm San và tôi tớ: “Thế là họ ra đi Một trăm

người mở đường đi trước, một nghìn người cất bước theo sau Kẻ cầm đuốc, người vác chà gạc Họ đi hết chiều kia đến sáng nọ, sục hết rú rậm đến rừng thưa” [112,IV,52]

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phương Anh (1999), “Bản sắc Tây Nguyên”, Văn hóa các dân tộc, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc Tây Nguyên
Tác giả: Phương Anh
Nhà XB: Văn hóa các dân tộc
Năm: 1999
2. Ngọc Anh, Đỗ Thiện, Đinh Văn Thành (1961), Truyện cổ Tây Nguyên, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Tây Nguyên
Tác giả: Ngọc Anh, Đỗ Thiện, Đinh Văn Thành
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1961
3. Aristote, Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, Hà Nội. (Bản dịch của Lê Văn Bảng, Phan Ngọc và tập thể) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote, Lưu Hiệp, Lê Văn Bảng, Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
4. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
5. Bakhtin,M.(1980), “Một số khía cạnh phương pháp luận cần lưu ý khi nghiên cứu văn học quá khứ”, Văn học, (4) (Vương Trí Nhàn dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khía cạnh phương pháp luận cần lưu ý khi nghiên cứu văn học quá khứ
Tác giả: Bakhtin, M
Nhà XB: Văn học
Năm: 1980
6. Trường Chinh (1949), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, Hội văn nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Hội văn nghệ Việt Nam
Năm: 1949
7. Đào Tử Chí (1959), Bài ca chàng Đăm San, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài ca chàng Đăm San
Tác giả: Đào Tử Chí
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1959
8. Nguyễn Văn Chiến (1997)“Già làng ở Kon tum”, Văn hóa các dân tộc, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già làng ở Kon tum
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Văn hóa các dân tộc
Năm: 1997
9. Chu Xuân Diên (1995), Văn hóa dân gian (Folklore) và phương pháp nghiên cứu liên ngành, Tủ sách Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian (Folklore) và phương pháp nghiên cứu liên ngành
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Tủ sách Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
10. Chu Xuân Diên (1960), “Tìm hiểu giá trị bài ca chàng Đam San”, Nghiên cứu văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giá trị bài ca chàng Đam San
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 1960
11. Ngô Văn Doanh (1995), Truyện cổ Mianma, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Mianma
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
12. Ngô Văn Doanh (1995), Truyện cổ Thái Lan, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Thái Lan
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
13. Ngô Văn Doanh (1995), Truyện cổ Campuchia, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Campuchia
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
14. Ngô Văn Doanh (1995), Truyện cổ Malaysia, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Malaysia
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
15. Ngô Văn Doanh (1995), Truyện cổ Inđônêxia, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Inđônêxia
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
16. Trần Đỗ Dũng (1967), Luận lý và tư tưởng trong huyền thoại, Nxb Trình bày, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận lý và tư tưởng trong huyền thoại
Tác giả: Trần Đỗ Dũng
Nhà XB: Nxb Trình bày
Năm: 1967
17. Nguyễn Tấn Đắc (1983), Văn học các nước Đông Nam Á,Viện Đông Nam Á xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các nước Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Viện Đông Nam Á
Năm: 1983
18. Nguyễn Tấn Đắc (1984) “Về các nền văn học dân tộc ở Đông Nam Á”,Văn hóa, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các nền văn học dân tộc ở Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Văn hóa
Năm: 1984
19. Nguyễn Tấn Đắc (1998), “Đọc lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh”, Văn hóa dân gian, (3,4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Văn hóa dân gian
Năm: 1998
20. Bế Viết Đẳng và các tác giả (1982), Đại cương về các dân tộc Ê đê, M’nông ở Đắc Lắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về các dân tộc Ê đê, M’nông ở Đắc Lắc
Tác giả: Bế Viết Đẳng, các tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1982

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w