Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân đi đôi với việc phát huy vai trò của người dân, của cộng đồng với tư cách là chủ thể trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của TS PHAN QUỐC KHÁNH Kết quả nghiên cứu công trình khoa học này là trung thực và chưa từng được công bố
Tp Hồ Chí Minh, ngày…….tháng………năm 2013
Tác giả
Trần Thị Huệ Hồng
Trang 3Trang
CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM
1.1 Văn hóa, vai trò và bản sắc văn hóa Việt Nam 9 1.1.1 Khái niệm văn hóa và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội 9 1.1.1.1 Khái niệm văn hóa 9 1.1.1.2 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội 15 1.1.2 Bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam 22 1.1.2.1 Bản sắc văn hóa 22 1.1.2.2 Bản sắc văn hóa Việt Nam 25 1.2 Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam 28 1.3 Những biểu hiện chủ yếu của bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre 33 1.3.1 Bản sắc văn hóa Việt Nam Biểu hiện trong nhân cách
con người Bến Tre 34 1.232 Bản sắc văn hóa Việt Nam biểu hiện ở di sản văn hóa 46
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM Ở BẾN TRE HIỆN NAY 64
2.1 Thực trạng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre
2.1.1 Những thành tựu đạt được trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre trong những năm qua 64 2.1.2 Những hạn chế trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre trong những năm qua 75 2.1.3 Những yếu tố tác động đến việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam
ở Bến Tre hiện nay 81
Trang 4Bến Tre hiện nay 83
2.3 Một số giải pháp cơ bản trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam
ở Bến Tre hiện nay 84
2.3.1 Tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của cán bộ lãnh đạo và nhân
dân Bến Tre, đặc biệt là thế hệ trẻ trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Việt
Nam ở Bến Tre và ý thức chủ động trong việc tiếp thu các giá trị văn hóa tinh hoa
của nhân loại 85 2.3.2 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre 87
2.2.3 Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân đi đôi với việc phát huy vai trò
của người dân, của cộng đồng với tư cách là chủ thể trong việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre 88
2.3.4 Tạo môi trường xã hội lành mạnh, thuận lợi cho việc giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa truyền thống 90
2.3.5 Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ công chức chuyên ngành văn
KẾT LUẬN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi quốc gia, dân tộc đều có một nền văn hóa riêng tạo nên diện mạo đặc thù của dân tộc mình Muốn tìm hiểu một dân tộc nào thì cách tốt nhất là tìm hiểu nền văn hóa của họ, vì nó là nét đặc trưng căn bản để phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác
Việt Nam là một dân tộc có nền văn hóa lâu đời Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam xây đắp nên một nền văn hóa in đậm dấu ấn bản sắc của dân tộc Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII đã khẳng định: “Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hóa ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ, dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình chẳng những không bị đồng hóa, mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc, lấy sức ta mà giải phóng cho ta… Công cuộc đổi mới toàn diện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh của cơ chế thị trường
có mặt tích cức là đẩy mạnh sự phát triển kinh tế và xã hội tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam, nhưng đồng thời cũng nảy sinh những mặt tiêu cực và phức tạp Mặt khác, các thế lực thù địch tiến hành âm mưu diễn biến hóa bình, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng, chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Bởi vậy, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trở thành một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách, góp phần tạo ra thế đứng vững chắc của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 6Cùng với sự giao lưu khu vực và quốc tế, hiện nay trên thế giới đang diễn ra
xu hướng toàn cầu hoá về kinh tế Toàn cầu hoá không chỉ phát huy ảnh hưởng trong lĩnh vực kinh tế mà còn tác động mạnh mẽ tới các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, đặt các dân tộc, các quốc gia trước những cơ hội và thách thức lớn Toàn cầu hoá một mặt tạo cho các quốc gia học tập lẫn nhau, vận dụng các tiến bộ của khoa học, công nghệ để thúc đẩy kinh tế, mặt khác quá trình toàn cầu hoá có thể làm triệt tiêu sự khác biệt về văn hoá các dân tộc, đồng nhất các giá trị truyền thống của mỗi quốc gia, làm xói mòn ý thức dân tộc, dẫn đến nguy cơ bị đồng hoá Không phải ngẫu nhiên mà ở nơi này, nơi khác trên thế giới, người ta đã lớn tiếng cảnh báo “sự xâm lăng về văn hoá là sự xâm lăng cuối cùng và triệt để nhất” Vì lẽ đó vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá có ý nghĩa sống còn đối với các quốc gia, dân tộc Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, không chỉ ở thành thị mà cả những vùng nông thôn, lối sống đã và đang có sự thay đổi lớn Sự thay đổi đó không chỉ trong đời sống vật chất mà ngay cả trong đời sống tinh thần và cách suy nghĩ của con người Nhiều hiện tượng trước đây hoàn toàn xa lạ thì nay không ít người xem là chuyện bình thường như: bạo lực, kích dâm, xem trọng đồng tiền …
Trong xu thế chung đó, Bến Tre là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long cũng không tránh khỏi những nguy cơ trên Hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội thì hàng loạt những giá trị đạo đức tinh thần tốt đẹp của dân tộc đang có những dấu hiệu rạn vỡ dần Đặc biệt là lối sông ích kỷ, cá nhân, chạy theo vật chất, quay lưng với tình người, với quá khứ, tâm lý vọng ngoại một cách mù quáng khá phổ biến và hình như ngày càng có khuynh hướng lan rộng hơn trong xã hội Trước đây, những vấn đề trên xảy ra chủ yếu ở những thành phố lớn, nơi có kinh tế phát triển cao Còn hiện nay, nó đã len lỏi đến tận những vùng sâu, vùng xa của cả nước Thật đáng buồn khi nhan nhãn trên các báo ta thấy những hiện tượng đau lòng như con giết cha chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, cháu giết ông vì xin tiền chơi game mà ông không cho, rồi hàng xóm láng giềng bao năm tối lửa tắt đèn có nhau chỉ vì bênh
Trang 7vực con cháu mà trở mặt nhau, rồi vì ranh đất mà kéo nhau ra tòa… Mặt khác, khi
mở rộng giao lưu văn hóa, thì những sản phẩm “văn hóa” xấu, độc hại từ bên ngoài cũng tràn vào nước ta Nạn sách đen, video đen, băng đĩa kích thích bạo lực, kích dục len lỏi đến tận ngõ xóm, làng quê Chúng ta đã mất nhiều công sức truy quét
mà vẫn chưa xóa bỏ được Những sản phẩm văn hóa xấu, độc hại này rất nguy hại, làm vẩn đục môi trường văn hóa, ảnh hưởng tới lối sống, đạo đức của mọi người, nhất là lớp trẻ Bên cạnh đó thì nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang bị xâm hại rất nghiêm trọng… Tình hình đó là một thách thức lớn đối với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam hiện nay
Làm thế nào để hội nhập mà vẫn giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa Việt Nam? Đó là vấn đề bức xúc đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp cụ thể trong quá trình hội nhập
mà vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre - một tỉnh vốn được mệnh danh là đất địa linh, nhân kiệt, vùng đất không chỉ nuôi dưỡng mà còn sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước, có nền văn hóa đa dạng và phong phú - có
ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
Từ những nhận thức trên tác giả chọn vấn đề “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Vịêt Nam ở tỉnh Bến Tre hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đã có nhiều công trình, bài báo của nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu:
- Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc – Vai trò của nghiên cứu và giáo dục (1999), Nxb TPHCM - công trình này tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả
nêu quan điểm của mình về vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 8- Bản sắc dân tộc trong văn hóa - văn nghệ (2001), Nxb Văn hóa Ở công trình
này các tác giả tập trung về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong giao lưu quốc tế; nêu một số suy nghĩ về vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc,…
- Phạm Minh Hạc, Phát triển văn hóa giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại (1996), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Ở đây tác giả tập
trung vào vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chống diễn biến hòa bình
- Hồ Bá Thâm với công trình: Bản sắc văn hóa dân tộc (2003), Nxb Văn hóa Tác
giả đã trình bày một số vấn đề về văn hóa như: khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam cũng như một số đặc trưng, giá trị và hạn chế của nền văn hóa Việt Nam
- PGS TS Thành Duy (chủ biên), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trong quyển sách này tác giả làm rõ quan niệm bản sắc văn hóa với dân tộc và mối quan hệ giữa bản sắc dân tộc với hiện đại hóa văn hóa Việt Nam, các tác giả đã trình bày vai trò của phát triển văn hóa đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
- Phạm Vũ Dũng, Nhận diện mấy vấn đề văn hóa (1999), Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội Ở đây tác giả bàn về những vấn đề văn hóa truyền thống và những vấn đề văn hóa đương đại trong đó tác giả đề cấp vấn đề bản lĩnh và bản sắc văn hóa dân tộc, phương thức kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc…
- GS, TS Nguyễn Văn Huyên, Văn hóa mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội (2006), Nxb CTQG, Hà Nội Ở đây tác giả bàn về vai trò của văn hóa đối với
sự phát triển xã hội, văn hóa định hướng cho sự phát triển bền vững
Trang 9Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình của các tác giả khác cũng nghiên cứu
về văn hóa như: GS, TS Huỳnh Khái Vinh, GS, TS Nguyễn Duy Bắc, TS Đỗ Thị Minh Thúy, Nguyễn Bá Thành, GS, VS Hoàng Trinh, Trần Ngọc Thêm, Lê Như Hoa…
Ở Bến Tre cũng có khá nhiều công trình, bài viết mà tác giả đã tham khảo để hoàn thành luận văn của mình như:
- Thạch Phương – Đoàn Tú - chủ biên (2001), Địa chí Bến Tre, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội Đây là quyển sách nghiên cứu đầy đủ về quá trình hình thành, phát triển của Bến Tre trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa đến chính trị, xã hội
Tác giả Lư Hội với các tác phẩm: Các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre (2005), Nxb Văn hóa dân tộc Ở đây tác giả giới thiệu các hình thức diễn xướng như: hò, vè, hát ru, hát lý Di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bến Tre (2009),
Nxb Văn hóa dân tộc Tác giả tập trung giới thiệu về văn hóa phi vật thể với việc bảo tổn và phát huy Trong đó tác giả còn đề cập đến tín ngưỡng dân gian và phong
tục của người Bến Tre Múa bóng - Rỗi bà trong tín ngưỡng thờ mẫu ở Bến Tre
(2010), Nxb Văn hóa dân tộc Quyển sách này tác giả khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và mô tả tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bến Tre nói riêng
- Di tích lịch sử văn hóa Bến Tre, Nxb Văn hóa dân tộc Đây là quyển sách nghiên
cứu về tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng tôn giáo và các lễ hội cũng như các di tích lịch sử của tỉnh nhà
- Sở Giáo dục – Đào tạo Bến Tre (2002), Lịch sử tỉnh Bến Tre, tập 1,2 Nxb.Văn
hóa thông tin Bộ sách này nhằm cung cấp tài liệu chính thức và thống nhất cho việc dạy và học lịch sử địa phương ở các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học trong tỉnh
Trang 10- Bến Tre Đồng khởi và đội quân tóc dài (2010), Nxb Phụ nữ Quyển sách này tập
hợp bài viết của nhiều tác giả mô tả về phong trào Đồng khởi ở Bến Tre và kể một
số tấm gương của đội quân tóc dài đã “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Ngoài ra
còn một số công trình khác như: Nhất Vũ – Lê Giang (chủ biên), Dân ca Bến tre
(2000), Sở Văn hóa thông tin Bến Tre Nguyễn Phương Thảo – Hoàng Thị Bạch
Liên (1998), Văn học dân gian Bến Tre, Nxb KHXH, Hà Nội Nguyễn Chí Bền, Tìm hiểu một số hiện tượng văn hóa dân gian Bến Tre (1997), Nxb KHXH, Hà
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện hai nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, Khái luận chung về bản sắc văn hóa Việt Nam và những biểu hiện
của nó ở tỉnh Bến Tre
Thứ hai, phân tích làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở tỉnh Bến Tre từ đó đưa ra những giải pháp cơ bản
Trang 113.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa Việt Nam ở tỉnh Bến Tre hiện nay”
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, theo quan điểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển
Để trình bày nội dung nghiên cứu, đề tài chủ yếu sử dụng kết hợp giữa phương pháp logích và phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, hệ thống và cấu trúc…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Đề tài làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về văn hóa và
bản sắc văn hóa Việt Nam, những giá trị văn hóa cần được giữ gìn và phát huy mà nhân dân Bến Tre đã tạo nên từ buổi sơ khai cho đến nay
Về mặt thực tiễn: Đề tài giúp cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
Việt Nam ở Bến Tre ngày càng tốt hơn Từ đó nêu lên một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre hiện nay Mặt khác, đề tài còn
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu của sinh viên về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở tỉnh Bến Tre hiện nay
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 12Chương 1: Khái luận chung về bản sắc văn hóa Việt Nam và những biểu
hiện của nó ở tỉnh Bến Tre
Chương 2: Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam ở tỉnh Bến Tre hiện
Trang 13CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM
VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NÓ Ở TỈNH BẾN TRE
1.1.Văn hóa, vai trò và bản sắc văn hóa Việt Nam
1.1.1 Khái niệm văn hóa và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một phạm trù rộng, bao quát nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau Mỗi lĩnh vực nghiên cứu tiếp cận văn hóa theo cách thức đặc thù của nó Hai nhà nhân học người Mỹ là A L Kreber và K.Klaxon đã thu thập được 164 cách định
nghĩa khác nhau về thuật ngữ văn hoá (năm 1952) Trong cuốn “Triết học văn hoá” M.S.Kagan thu thập được hơn 70 cách định nghĩa khác nhau Tại Hội nghị về văn hoá UNESCO tại Mêhicô năm 1982, người ta cũng đã đưa ra 200 định nghĩa về văn
hoá Cho đến nay, chỉ riêng ở phương Tây đã lên đến 400 định nghĩa về văn hóa Hiện nay thì số lượng khái niệm về văn hoá ngày càng tăng thêm đến vô vàn, khó
mà thống kê hết được Thật khó để đưa ra một định nghĩa sau cùng về văn hóa
Danh từ “Văn hóa” được người Nhật vay mượn từ trong kho từ vựng của người Trung Hoa, dùng để chuyển dịch một thuật ngữ của người phương Tây
là danh từ “Culture” trong tiếng Pháp và tiếng Anh, “Kulttur” trong tiếng Đức… các danh từ này đều bắt nguồn từ danh từ “Cultus” trong tiếng La-tinh,
có nghĩa là sự trồng trọt Danh từ “Cultus” trong tiếng La-tinh lại được hiểu theo hai sắc độ ngữ nghĩa khác nhau: “Cultus agri” là trồng trọt ngoài đồng (trồng cây)
và “Cultus animi” là trồng trọt tinh thần (trồng người) Vậy “Cultus” có nghĩa là một hoạt động làm cho sự vật hiện tượng gì đó sinh sôi, nảy nở, phát triển theo chiều hướng tốt đẹp
Ở Trung Quốc từ “Văn hóa” là một danh từ kép do hai từ “văn” và “hóa” hợp thành Trong đó “Văn” là nét vẽ, là dáng dấp bên ngoài, là vẻ đẹp do màu sắc
Trang 14tạo ra Từ đó “văn” có nghĩa là hình thức đẹp đẽ biểu hiện trước hết ở lễ, nhạc, cách cai trị và đặc biệt là trong ngôn ngữ, giao tiếp Còn “hóa” nghĩa là biến hóa, biến đổi, cảm hóa, hóa thành
Văn hóa là một danh từ được sử dụng khá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, song là một thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau giữa các
nhà khoa học Tổng Giám Đốc UNESCO Federico Mayor, trong bài “Ban đầu và cuối cùng là văn hóa”, đọc trong buổi lễ phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn
hóa” (1988-1997) của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 41, đã thừa nhận: Việc vạch ra bản chất khái niệm của văn hóa “không phải là một nhiệm vụ dễ dàng Ai nấy đều biết, rất khó định nghĩa văn hóa, có lẽ vì văn hóa định nghĩa chúng ta nhiều hơn chúng ta định nghĩa văn hóa”
Vào năm 1952, trên cơ sở thống kê các định nghĩa về văn hóa, hai nhà nhân học người Mỹ là A Kroeber và C Kluckhohn đã chia chúng thành các loại cơ bản sau:
Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao
hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917)
đã định nghĩa: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học “là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”
Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền
thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa Một trong những định nghĩa
đó là của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ:
“văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử
và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”
Trang 15Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi “văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào” (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử, )
Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi
trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Một trong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840 - 1910),
viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: “Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng
kế thừa”[55, tr.11-12]
Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa,
ví dụ Ralph Linton(1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa: “Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa” [56, tr.12]
Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó,
ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học
người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: “Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau” [55, tr.12]
Năm 1871, Edward Burnett Tylor (người Anh), trong tác phẩm Primitive
Culture (Văn hóa nguyên thủy), đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật,
Trang 16phong tục và cả những khả năng và thói quen khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội”
Trong Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại
Venise, ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”
Quan điểm này càng được khẳng định tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO Cuối cùng Hội nghị chấp nhận một định nghĩa như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”
Văn hóa theo nghĩa hẹp gồm những khái niệm gắn từ “văn hóa” với một chuyên ngành nào đó Ví dụ: văn hóa dân gian, văn hóa bác học, văn hóa tôn giáo, văn hóa giao tiếp, văn hóa xã hội, văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử (giao tiếp), văn hóa nghệ thuật, văn hóa giáo dục (học vấn), văn hóa kinh doanh, dân tộc học văn hóa, nhân học văn hóa, sử văn hóa, triết học văn hóa, xã hội học văn hóa …
Khái niệm văn hóa theo nghĩa hẹp, những từ được gắn với từ “văn hóa” sẽ chiếm vị trí chính yếu trong khái niệm đó Ví dụ khái niệm “văn hóa nghệ thuật” là khái niệm văn hóa gắn với việc sáng tạo, hưởng thụ và phê bình các chuyên ngành văn hóa nghệ thuật như âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Khái niệm “văn hóa tư tưởng” là khái niệm gắn với thể chế chính trị và công tác lý luận; Khái niệm
Trang 17“văn hóa giao tiếp” nói đến mối quan hệ ứng xử giữa người với người; Khái niệm
“sử văn hóa” nói đến quá trình hình thành và phát triển của một nền văn hóa theo trục thời gian và trong không gian…
Ở Việt Nam vấn đề văn hóa cũng được quan tâm rất nhiều, theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998,
thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”
Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và NXB
Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: “Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo
của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi
đó có văn hóa”
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [48, tr.431]
Mặc dù khoa học nghiên cứu văn hoá đã hình thành từ vài trăm năm nay
và ngày càng phát triển, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm văn hoá
chung nhất, được thống nhất cao nhất Thậm chí có ý kiến cho rằng: “Có lẽ không
Trang 18thể tìm ra được một định nghĩa duy nhất, tuyệt đối chính xác cho văn hóa, bởi vì văn hóa mang những tính chất và những khía cạnh của một hiện tượng cực kỳ phức tạp, đó là xã hội trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên”.UNESCO đã
nhiều lần đưa ra những khái niệm về văn hoá (như khái niệm năm 1982) nhưng cũng chưa phải là khái niệm được toàn thế giới chấp nhận Với tính chất vừa phong phú, vừa phức tạp của văn hoá, để tìm ra một khái niệm văn hoá chung cho tất cả các nhà nghiên cứu khoa học văn hoá là điều khó có thể có được Theo quan điểm
cá nhân tôi, khái niệm vừa có tính kế thừa, vừa có tính khái quát cao đó là khái
niệm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng:“Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực
vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên
mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [89, tr.22] Theo
khái niệm này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc Văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau
Như vậy, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra, phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các
Trang 19kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra
1.1.1.2 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội
Văn hóa có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của mỗi người cũng như của toàn xã hội Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, từng quốc gia, dân tộc cũng như toàn nhân loại không chỉ đứng trước những vấn đề kinh
tế gay gắt mà còn phải giải quyết những vấn đề văn hóa hết sức cấp bách Đứng trước những nguy cơ và thách thức đó, nhiều quốc gia, dân tộc đã tìm thấy trong vốn văn hóa truyền thống của mình và tinh hoa văn hóa nhân loại những sức mạnh tiềm tàng vô cùng to lớn có thể giúp cho sự phát triển kinh tế xã hội Trong quá trình giải quyết những vấn đề gay gắt và phức tạp ấy, một lần nữa văn hóa lại thể hiện rõ vai trò to lớn của mình, với tư cách vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1993) đã xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) tiếp tục khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Xây dựng và phát triển kinh
tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng văn minh, con người phát triển toàn diện Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển” Như vậy, chúng ta chỉ có thể làm rõ vai trò của văn hóa nếu xem xét nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội
Trang 20Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển xã hội, văn hóa do con người sáng tạo
ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện, xa rời trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật phát triển thành con người Con người tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần Con người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người và
xã hội
Lấy văn hóa làm mục tiêu, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX
đề ra một nội dung có tầm chiến lược là phát triển kinh tế phải giữ vững đời sống đạo đức và bản sắc văn hóa dân tộc Chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế là hướng tới một cuộc sống văn hóa cao, tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao trình độ thẩm mỹ, trở thành chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là người hưởng thụ ngày càng nhiều các thành quả văn hóa
Trên ý nghĩa đó, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu của sự phát triển Vì xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ; điều đó nghĩa là ngày một xa rời trạng thái nguyên sơ, mông muội để tiến tới một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và văn minh Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng được bồi dưỡng, phát huy trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn xã hội Mục tiêu này phù hợp với khát vọng lâu đời của nhân loại và là mục đích phát triển bền vững, tiến bộ của các quốc gia, dân tộc Đây là một nội dung quan trọng của Chủ nghĩa xã hội mà chúng
ta đang xây dựng
Trang 21Văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do
con người quyết định chi phối Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển xã hội
Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu
tố lao động của con người cho sự phát triển Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng như của toàn xã hội
Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiều hay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở chỗ có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay không? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa
là trong ý chí tự lực, tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng
Đời sống của mỗi con người cũng như đời sống của xã hội có hai mặt vật chất và tinh thần Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của xã hội, đáp ứng nhu cầu vật chất của con người và xã hội thì văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người và xã hội Là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa biểu hiện sự hiểu biết, tài năng và trí tuệ, đạo đức, lối sống, tâm hồn, tình cảm, thẩm mỹ của con người và của cộng đồng dân tộc trong mối quan hệ hài hòa với
xã hội, với tự nhiên Vì vậy khả năng phát triển của một dân tộc không chỉ dựa vào nền tảng vật chất (kinh tế) của xã hội mà còn cần phải dựa vào nền tảng tinh thần (văn hóa) của xã hội
Trang 22Với tính cách và vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Sự phát triển của quốc gia, dân tộc không chỉ dựa vào nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vốn mà còn ở khả năng phát huy tối đa nguồn lực con người, là làm cho văn hóa thấm sâu vào trong các lĩnh vực và hoạt động xã hội, thấm sâu vào mọi lĩnh vực sinh hoạt của con người biến thành “nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển”
Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F.Mayor cũng nhấn mạnh: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển
là hai mặt gắn liền với nhau Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ
bị suy yếu rất nhiều Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối
ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng Vì vậy phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hóa Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội ” [82, tr.23]
Coi nhẹ nhân tố văn hoá, xã hội, con người và môi trường trong phát triển, chạy theo tăng trưởng kinh tế thuần túy là ngõ cụt của phát triển Vì vậy, Đảng ta
và nhân loại tiến bộ mạnh mẽ phê phán việc coi nhẹ nhân tố văn hoá trong phát triển Nước ta và nhiều quốc gia khác trên thế giới đã và đang nhấn mạnh vai trò của văn hóa đối với phát triển, đó là một vấn đề trung tâm của dân tộc và của thời đại
Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng luôn khẳng định vị trí và vai trò to lớn của văn hóa trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Theo yêu cầu và nhiệm vụ
Trang 23cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta chủ trương phát huy đến mức cao nhất vai trò và tác dụng của văn hóa, của đội ngũ những người hoạt động văn hóa Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cùng với sự đổi mới trong tư duy kinh
tế và chính trị, Đảng ta đã có những đổi mới quan trọng trong tư duy về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khoá VI (1987) về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới đã xác định: “Văn hóa là bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng
và văn hóa, là một động lực mạnh mẽ, đồng thời là mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” Đảng và Nhà nước ta đã có những nhận thức mới về vai trò của văn hóa: “kinh tế và văn hóa gắn bó với nhau hết sức chặt chẽ: kinh tế không tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa và văn hóa không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế Phát triển trên cơ sở kết hợp hài hòa kinh tế và văn hóa
là sự phát triển năng động, có hiệu quả và vững chắc nhất” [3]
Nghị quyết 05 cũng chỉ rõ: văn hóa là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại,
là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hóa, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người Văn hóa là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng văn hóa, là một động lực mạnh mẽ đồng thời là mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương khoá IX (2004)
và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đã xác lập vị trí của văn hoá là một trong ba bộ phận hợp thành sự phát triển bền vững và toàn diện của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là sự nhận thức sâu sắc của Đảng về mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển, là bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng về vai trò to lớn, sâu sắc của văn hoá trong phát triển bền vững và toàn diện
Trang 24của đất nước Đây là sự năng động của nhận thức trong việc nắm bắt các vấn đề thời đại, cũng là sự xác định chính xác định hướng phát triển văn hoá, kinh tế, chính trị và xã hội ở Việt Nam theo học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo đó, văn hóa không đứng ngoài phát triển Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội gắn kết chặt chẽ, đồng bộ và tương xứng với nhiệm vụ phát triển kinh tế (là trung tâm); xây dựng chỉnh đốn Đảng (là then chốt) chính là điều kiện quyết định sự phát triển bền vững và toàn diện của đất nước vì “xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
Để phát huy vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cần phải tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng
tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết
là trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng, các đơn vị, tổ chức cơ sở, các gia đình, trong từng cán bộ đảng viên, công chức, viên chức, hội viên, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo Vì vậy, Nghị quyết Đại hội
XI của Đảng đã nhấn mạnh phải: “Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức” [24, tr.39]
Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người rất quan tâm đến vai trò của
văn hóa Ông khẳng định: “Cách mạng là đổi mới, một quá trình đổi mới cho đến đích cuối cùng cho nên cách mạng càng cần văn hóa…Văn hóa là cội nguồn sức mạnh và tài năng làm nên chiến thắng”[21]
Trang 25Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhấn mạnh: Văn hoá không chỉ là kết quả của phát triển nhanh, bền vững mà còn là yếu tố tạo nên sự phát triển nhanh, bền vững Phải đặt yêu cầu phát triển văn hóa ngang tầm và hài hòa với phát triển kinh
tế [93]
Khi phát động “Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa”, UNESCO đã nhấn mạnh: “Khi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra mà tách rời môi trường văn hóa thì kết quả thu được sẽ rất khập khiễng, mất cân đối cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa, đồng thời tiềm năng sáng tạo của mỗi dân tộc sẽ bị suy yếu đi rất nhiều” [82, tr.19-22] “Văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau” và “Phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội” [82, tr 5] Kinh tế và văn hóa phải hòa quyện vào nhau, lồng vào nhau trong đó văn hóa đóng vai trò là nền tảng tinh thần, nghĩa là kinh tế phải bắt rễ trong văn hóa để phát triển UNESCO khẳng định: “Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, chúng ta cần vượt lên trên cách tiếp cận kinh tế học thuần túy và tìm ra hàng trăm phương thức có thể được để cho tính công nghiệp và tính sáng tạo có thể gắn bó móc nối với nhau và để kinh tế có thể bắt rễ trong văn hóa”
Càng ngày chúng ta càng nhận thức đầy đủ hơn vai trò của văn hóa đối với các hoạt động của đời sống xã hội Tuy nhiên khi chúng ta nhấn mạnh yếu tố văn hóa thì điều đó không có nghĩa là đặt yếu tố văn hóa lên hàng đầu Những thành tựu hoặc vấp váp trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nhiều nước trên thế giới đều chứng minh tầm quan trọng của nhân tố văn hóa, trước hết là ở việc
có bảo vệ, phát triển được hay không những tiềm năng phong phú và đặc sắc của văn hóa dân tộc đối với sự phát triển của đất nước Sự đúng đắn hay sai lạc trong định hướng phát triển văn hóa đều đưa đến thành công hay thất bại không chỉ riêng cho văn hóa, mà cả cho kinh tế và các mặt khác của đời sống xã hội, đặc biệt
là về tư tưởng, đạo đức, lối sống Những hậu quả của sự sai lầm chính sách văn hóa thường kéo dài và khó sửa hơn những hậu quả về kinh tế
Trang 26Chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, kích thích tính sáng tạo, năng động nhưng trong môi trường đó văn hóa cũng có thể bị nhiễm phải những căn bệnh của kinh tế thị trường: chủ nghĩa cá nhân phát triển, lối sông tiêu thụ, thực dụng… Những vấn đề đó ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, vì vậy cần phải kiên quyết bài trừ, khắc phục
Trong quá trình giao lưu văn hóa, chúng ta mạnh dạn hội nhập, tiếp thu nhưng không đánh mất, không hòa tan bản sắc của mình Trái lại chúng ta có trách nhiệm bổ sung, đóng góp cho nhân loại những gì đặc sắc của chúng ta và tiếp nhận,
bổ sung những tinh hoa nhân loại để bản sắc văn hóa Việt Nam ngày càng giàu đẹp Làm được như vậy, văn hóa mới thật sự là động lực của sự phát triển, là nhân
tố quan trọng đưa nước ta tiến nhanh tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
1.1.2 Bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam
1.1.2.1 Bản sắc văn hóa
Lâu nay, văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề được rất nhiều ngành khoa học quan tâm, nghiên cứu, nó đã và đang có những tác động rất rõ đến sự phát triển ở mỗi quốc gia, bởi vì văn hóa và con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tạo ra động lực phát triển xã hội Vì thế việc nghiên cứu và giữ gìn bản sắc văn hóa đang là nhiệm vụ trọng tâm của mọi quốc gia, dân tộc
Bản là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật Sắc là hiển hiện ra ngoài Bản sắc có thể hiểu là những nét cơ bản nhất, tiêu biểu nhất của văn hóa, nhưng không phải về phương diện cấu trúc mà là chất lượng, phong cách của một nền văn hóa Nhiều dân tộc có văn hóa nhưng không phải nền văn hóa nào cũng có bản sắc Như vậy, bản sắc văn hóa là cái cốt lõi, cái đặc thù, cái định hình làm nên tính riêng biệt, độc đáo của văn hóa mỗi dân tộc Bản sắc văn hóa của mỗi
Trang 27dân tộc được hình thành, bảo tồn và phát huy trong quá trình phát triển của dân tộc mình Bản sắc văn hóa dân tộc làm nên cốt lõi vững chắc giúp cho nền văn hóa luôn giữ được tính duy nhất, tính nhất quán trong quá trình phát triển
Giaoaháclan Nêru, nhà văn hóa lớn của Ấn Độ đã viết: “Một cá nhân con người, một chủng tộc hay một dân tộc tất yếu có một chiều sâu lịch sử nhất định
và một cội rễ nhất định Họ được đánh giá cao bởi có một nguồn gốc trong quá khứ Điều cơ bản là phải có cái đó, nếu không người ta chỉ là bản sao nhợt nhạt của một cái gì đó không có ý nghĩa tiêu biểu cho một cá nhân hay một nhóm Mặt khác, người ta không thể sống với một mình cội rễ Thậm chí cội rễ đó cũng sẽ khô héo nếu nó không vươn lên dưới mặt trời và không khí tự do” [26]
Tổng giám đốc UNESCO đã quan niệm: “Đối với một số người, văn hóa bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất, cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được Hội nghị liên chính phủ
về các chính sách văn hóa họp và thông qua năm 1970 tại Venise” Như vậy, theo quan niệm này thì bản sắc văn hóa của dân tộc không phải là tất cả mọi thứ sản phẩm tinh thần và vật chất mà một dân tộc đã sáng tạo ra mà chỉ là những nét riêng của nền văn hóa đó mà thôi
Về mặt chữ nghĩa, hiện nay chúng ta thấy có các thuật ngữ sau đây sử dụng gần như nhau: Bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc của văn
hóa Qua một số công trình, bài viết của một số tác giả như: Trần Ngọc Định (Bản sắc văn hóa dân tộc), Thu Trang (Một số suy nghĩ về vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc), Trần Kim Dung (Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong giao lưu quốc tế), Kim Ửng (Một góc nhìn về bản sắc văn hóa dân tộc trong Mỹ thuật),…
thì hầu như các tác giả đều cho rằng bản sắc dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc là
Trang 28như nhau Họ bàn về bản sắc dân tộc chính cũng là bàn về bản sắc văn hóa dân tộc Những cái đặc trưng cho dân tộc cũng chính là đặc trưng cho văn hóa dân tộc, và ngược lại, những cái đặc trưng cho văn hóa dân tộc cũng là đặc trưng cho dân tộc
Bản sắc văn hoá dân tộc gần đây được các nhà nghiên cứu phân tích dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung tất cả các ý kiến đều cho rằng bản sắc văn hoá dân tộc chính là những tính chất độc đáo từ lối sống, nhân cách đến hoạt động tinh thần của dân tộc Do vậy, bản sắc văn hoá dân tộc là nội lực của một dân tộc Dân tộc nào đánh mất bản sắc văn hoá của mình thì dân tộc ấy đã tự đánh mất chính mình và trở thành cái bóng của dân tộc khác
Nói đến bản sắc văn hoá dân tộc cũng chính là nói đến những nét độc đáo của truyền thống Bản sắc văn hoá dân tộc tuy mang tính ổn định nhưng không phải
là bất biến Bản sắc văn hoá dân tộc chỉ thực sự là của dân tộc khi nó vừa phát huy được những giá trị nội tại, vừa kế thừa có chọn lọc những yếu tố văn hoá ngoại sinh
và đó cũng là sự phản ánh tính ổn định nhưng không bất biến của văn hoá Do nhiều nguyên nhân, trong đó có tính lạc hậu của ý thức xã hội mà sự thay đổi các giá trị văn hoá truyền thống diễn ra khá chậm chạp, khó nhận thấy Điều đó dẫn đến
sự ngộ nhận cho là truyền thống thì không thể thay đổi, và nếu có sự thay đổi thì đã làm mất bản sắc dân tộc của văn hoá
Khi nói tới bản sắc văn hoá dân tộc cần tránh những khuynh hướng không đúng Đó là: “đóng cửa, thu mình”, chỉ “khư khư” giữ bản sắc truyền thống, không sáng tạo mới, không mở cửa giao lưu, tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới trở thành dân tộc hẹp hòi, cực đoan, kiêu ngạo Hoặc “mở toang cửa” không chọn lọc, bản sắc dân tộc bị chèn ép, lu mờ, trở thành nền văn hoá thiếu bản sắc Hoặc phục hồi tất cả, kể cả những cái lạc hậu, lỗi thời trong quá khứ, không còn thích hợp trong xã hội mới
Trang 291.1.2.2 Bản sắc văn hóa Việt Nam
Trong số hơn 200 quốc gia, dân tộc hiện nay có nền văn hóa riêng thì chỉ có trên 30 nền văn hóa tiêu biểu, có thể nói đó là những nền văn hóa có bản sắc được thế giới công nhận trong đó có Việt Nam Như vậy không phải dân tộc nào cũng đạt đến nền văn hóa có bản sắc riêng Đảng ta khẳng định: “Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường, nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc của dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam” [23, tr.6]
Ở nước ta, từ thời kỳ đổi mới (1986), vấn đề bản sắc văn hóa Việt Nam được nghiên cứu nhiều hơn Tuy nhiên, thuật ngữ bản sắc văn hóa Việt Nam không phải đến thời kỳ đổi mới mới xuất hiện, mà đã xuất hiện rất lâu
Mỗi quốc gia, dân tộc đều có điều kiện địa lý, tự nhiên, bối cảnh lịch
sử riêng của mình Chính điều đó đã tạo nên nền văn hóa mang bản sắc riêng của từng dân tộc Có thể nói, bản sắc văn hóa Việt Nam được hình thành từ hai yếu tố
cơ bản sau:
Thứ nhất, là một quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc) và mỗi dân tộc lại có
những nét văn hóa riêng của mình đã tạo nên một nền văn hóa Việt Nam vô cùng
đa dạng, phong phú như: Chợ tình Sapa của người Dao, Cồng Chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc cung đình Huế, đờn ca tài tử Tây Nam Bộ… Mặt khác, Việt Nam nằm ở
vị thế rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, xã hội đặc biệt là văn hóa nên dân tộc Việt Nam đã sớm biết mở rộng, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để “làm sinh
nở, phát triển hoặc lắng đọng những chất lượng tinh thần mới, bồi bổ cho chất lượng tinh thần vốn có tự bao giờ” như nhận xét của GS Trần Văn Giàu Người Việt Nam tạo nên bản sắc văn hóa của mình không phải chỉ bằng những gì họ vốn
có, sẵn có, mà bằng tất cả những gì mà họ thu nhận được, tái tạo và sáng tạo được
từ các nền văn hóa khác Chẳng hạn trong văn hóa Việt Nam không chỉ có ngô,
Trang 30khoai, lạc, dê, gà của nền sản xuất nông nghiệp nhiệt đới của người Việt mà còn có tùng, bách, trúc mai, long, ly, quy, phượng có nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa
Thứ hai, quốc gia, dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm với nền
nông nghiệp lúa nước phát triển Điều đó đã tạo cho con người Việt Nam gắn bó mật thiết với quê hương, Tổ quốc Lũ lụt, hạn hán, rồi thú dữ, giặc ngoại xâm…là những hiểm họa mà nhân dân ta phải chống chọi, chính điều đó đã tạo nên tính cộng đồng cao và sớm hình thành ý thức về quốc gia, dân tộc, sự đoàn kết, lòng yêu nước… của con người Việt Nam Yếu tố quan trọng để hình thành nên bản sắc văn hóa Việt Nam đó chính là chiều dài lịch sự của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam không được tìm thấy trong các loại văn bản, mà như nhận xét của GS Trần Văn Giàu: “toát ra từ toàn bộ lịch sử đất nước, qua phong hóa cổ truyền biểu hiện ở xóm làng…qua những sự kiện có tư cách đại diện cho lương tâm của toàn dân, đại diện cho danh dự của dân tộc” Như vậy, bản sắc văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo
ra trong quá trình dựng nước và giữ nước Trên cơ sở đó, Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc, tinh hoa cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, là đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, là sự tế nhị trong cư
xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [23, tr.56]
Trong quá khứ, bản sắc ấy thể hiện ở tinh thần đoàn kết cộng sinh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và chiến thắng sức mạnh mù quáng của tự nhiên Ngày nay,
Trang 31bản sắc ấy được thể hiện ở tinh thần chấn hưng dân trí, phát triển đời sống cộng đồng và chăm lo hạnh phúc của từng thành viên trong xã hội
Bản sắc văn hoá Việt Nam hình thành và phát triển cùng lịch sử dân tộc vừa bền vững vừa biến động, gồm những đặc điểm in sâu trong tâm hồn, tình cảm, lối sống, lối tư duy của một cộng đồng qua quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương, đất nước, chống thiên tai khắc nghiệt để tồn tại và phát triển Bản sắc văn hoá Việt Nam thấm trong mọi lĩnh vực như kiến trúc, hội hoạ, văn chương, âm nhạc Bản sắc ấy còn được thể hiện qua tính cách của con người Việt Nam Song đạo lý dân tộc là loại văn hoá vô hình, là tinh tuý của bản sắc dân tộc, được vun đắp qua lịch sử lâu đời của dân tộc được xác định là :
Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tôc
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã -
Tổ quốc
Lòng nhân ái, tính khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý
Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động
Sự tinh tế trong cư xử, giản dị trong lối sống
Như vậy, bản sắc văn hóa Việt Nam hay bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, không lẫn lộn với bất kỳ dân tộc nào khác
Trang 321.2 Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế tác động vào tinh thần dân tộc, ý thức cộng đồng, kích thích tinh thần dân tộc phát triển, thúc đẩy tinh thần cạnh tranh để nâng cao vị thế văn hóa của dân tộc trong khu vực và cộng đồng quốc tế Mặt khác, cũng có thể nhận thấy một số thách thức nổi lên trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế đối với văn hóa Việt Nam như: tụt hậu (không chú ý xây dựng nền văn hóa tiên tiến), phai nhạt, hoặc đánh mất bản sắc Vì vậy, để không tụt hậu và đánh mất bản sắc đòi hỏi chúng ta phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Khái niệm “giữ gìn” được hiểu là những nỗ lực nhằm giữ gìn các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có của mỗi dân tộc, quốc gia Tuy nhiên, việc giữ gìn còn hàm nghĩa là sự lựa chọn chủ quan của chủ thề văn hóa, những gì là giá trị, là bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc, đặc biệt là những giá trị, bản sắc ấy đã và còn tiếp tục tạo nên nội lực, động lực cho sự phát triển văn hóa, xã hội hiện tại và tương lai của mỗi dân tộc và quốc gia ấy
Trong hai lần giao lưu văn hóa, lần thứ nhất từ thế kỷ I – X với văn minh Trung Hoa và lần thứ hai từ thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX với văn minh phương Tây, mà đại diện là văn hóa Pháp, một mặt chúng ta vẫn giữ gìn được các bản sắc văn hóa Đông Sơn và Đại Việt, nhưng sau mỗi lần giao lưu như vậy, văn hóa chúng ta lại càng phong phú hơn
Còn khái niệm “phát huy” thì đó là những hành động nhằm đưa văn hóa vào thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển xã hội
Như vậy, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là chăm lo cho
sự trường tồn và phát triển sức sống của dân tộc Song điều này khác hẳn xu hướng
Trang 33phục cổ như đã xảy ra gần đây ở nhiều nơi trong ma chay, cưới xin, lễ hội Trong bài nói tại Hội nghị cán bộ văn hóa ngày 30-10-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nói khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra Xem ra thì năm nay tương đối khá, còn như năm ngoái, thì khôi phục vốn cũ, thì khôi phục cả đồng bóng, rước xách thần thánh Vì khôi phục như thế, nên ở nông thôn nhiều nơi quên cả sản xuất, cứ trống mõ bì bõm, ca hát lu bù ” [50, tr.196-197]
Mỗi một quốc gia đều có những truyền thống, những bản sắc riêng của mình, điều đó giúp chúng ta phân biệt rõ mỗi một quốc gia, dân tộc Chúng ta phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một mặt để đem những tinh hoa của mình giao lưu với các nước, mặt khác giúp chúng ta “hòa nhập chứ không hòa tan” Chúng ta có bản sắc dân tộc thì mới có thể hội nhập, giao lưu với thế giới, mới có cái để giao lưu Nếu không giữ gìn được bản sắc dân tộc, chúng ta sẽ lấy gì để hội nhập với thế giới, khi đó sẽ bị nền văn hóa các nước khác chi phối, không còn bản sắc riêng của mình và như vậy, nếu văn hóa mất bản sắc thì dân tộc cũng mất
Trong vốn cổ dân tộc, chúng ta giữ lấy và phát huy những di sản nào, từ bỏ những di sản nào, điều đó không thể không đặt ra khi nói về những giá trị truyền thống Các giá trị văn hóa truyền thống cơ bản của dân tộc ta cần giữ gìn và phát huy bao gồm: chủ nghĩa yêu nước, lòng thương yêu, quý trọng con người, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng dũng cảm, bất khuẩt, đức tính cần, kiệm, khiêm tốn, giản dị, trung thực, thủy chung, lạc quan, các loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể Tuy nhiên, hiện nay mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động trực tiếp đến các giá trị văn hóa truyền thống trên, làm biến đổi và gây sức ép không nhỏ trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đó Đại hội Đảng lần thứ X đã nhận định “Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục có nhiều vấn đề bức xúc chậm được giải quyết” [24, tr.172] Đó là việc xây dựng nềp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn
Trang 34xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ Đáng chú ý là hiện tượng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức quyền, “tệ sùng bái nước ngoài, coi thường giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc” [23, tr.46] Vì vậy, đối với những mặt lạc hậu, lỗi thời, cản trở sự tiến bộ thì phải khắc phục hoặc kiên quyết loại bỏ Ví dụ như: mê tín dị đoan, tư tưởng tiểu nông (cục bộ địa phương “phép vua thua lệ làng”, bình quân chủ nghĩa…) Sự cân nhắc
và lựa chọn ấy thể hiện quá trình tự ý thức dân tộc, quá trình tự nhận thức, tự khám phá về mình xuất phát từ tầm cao mới của lịch sử, là quá trình “gạn đục khơi trong”
và là sự tiếp nối dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc trong thế giới hiện đại Với
ý nghĩa đó, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam đòi hỏi sự phát triển, sự sáng tạo không ngừng Mệnh đề “đậm đà bản sắc dân tộc” đó không thể tách rời mệnh đề “văn hóa tiên tiến” và ngược lại
Điều quan trọng hơn đối với văn hóa, nhất là văn hóa tinh thần, văn hóa phi vật thể là để bảo vệ nó phải duy trì nó trong “trạng thái sống”, do đó phải đảm bảo
sự chuyển giao liên tục giữa các thế hệ Thế hệ sau phải tiếp nhận, phải thấy đó là những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc, có như vậy bản sắc văn hóa Việt Nam mới trường tồn và phát triển cùng dân tộc
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam đã được nhân dân ta ý thức
từ rất sớm, bởi sức mạnh của văn hóa Việt Nam chính là sức mạnh của dân tộc,
sự tồn tại và ngày càng phong phú của bản sắc văn hóa dân tộc đã chứng minh điều đó “Trăm ngàn trống đồng – biểu tượng của văn hóa Văn Lang – có thể
bị nấu chảy, mà văn hóa của con cháu vua Hùng cứ tồn tại, được bảo vệ, đó là lý
do chính cắt nghĩa tại sao sau hàng ngàn năm bị đô hộ bởi một nước rộng lớn, đông dân hơn ta mấy chục lần, văn hóa cũng cao hơn mà dân ta không bị đồng hóa, nước ta hồi sinh’’[77, tr.94]
Trang 35Để được như ngày hôm nay dân tộc ta đã phải đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trong đó có những kẻ thù vô cùng hùng mạnh như giặc phương Bắc (Hán, Đường, Tống, Nguyên, Mông), đế quốc Mỹ, thực dân Pháp… Dù là một nước nhỏ, thế nhưng chúng ta vẫn chiến thắng tất cả mọi kẻ thù xâm lược, làm được điều đó
là do dân tộc ta đã tỏ rõ bản lĩnh của mình, bởi nhân dân ta có lòng nồng nàn yêu nước, tự lực tự cường, đặc biệt là tinh thần đoàn kết rất cao… đó cũng chính là bản sắc văn hóa của chúng ta “Nếu không đủ bản lĩnh giữ gìn bản sắc của mình thì có
lẽ nước ta đã bị diệt vong từ lâu, như một số nước, dân tộc khác đã có lịch sử huy hoàng” [77, tr.93]
Tiến hành mở cửa, việc giao lưu quốc tế mở rộng hơn trên tất cả các lĩnh vực trong đó có văn hóa Bên cạnh sự du nhập những tinh hoa văn hóa thế giới còn kéo theo nhiều sản phẩm văn hóa độc hại ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta Mặt khác, các thế lực thù địch tiến hành âm mưu “diễn biến hòa bình”, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng để xâm lăng văn hóa, đồng hóa văn hóa, làm cho văn hóa chúng ta mất bản sắc Nếu văn hóa mất bản sắc thì dân tộc cũng mất Bởi vậy, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế trở thành nhiệm vụ quan trọng và cấp bách góp phần tạo ra thế đứng vững chắc của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định: “Bảo vệ bản sắc dân tộc là bảo vệ Tổ quốc, là tích lũy, nhân lên gấp ngàn lần sức mạnh của đất nước, của chủ nghĩa xã hội, của con người Việt Nam, nòi giống Việt Nam ta” [7, tr.97]
Trước đây một số nước châu Á đã từng có khuynh hướng cho rằng muốn hiện đại đất nước cần vứt bỏ những gì mang tính chất quốc gia, dân tộc mình
và phải mang nền văn minh của Tây Âu Song, thực tiễn đã chứng minh những nước có nền công nghiệp phát triển ở châu Á như Nhật Bản và một số nước khác luôn coi trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình Bản sắc văn hóa Việt
Trang 36Nam được hình thành từ mấy nghìn năm, tồn tại và phát triển đến ngày nay, vẫn thích hợp với thời hiện đại và trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam không phải chỉ vì văn hóa dân tộc, mà còn là bảo vệ và phát triển con người, dân tộc Việt Nam, nguồn gốc của mọi của cải vật chất và tinh thần của đất nước Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề bản sắc dân tộc của văn hóa, nhà văn Achentina là Juyliô Cooctada đã nói một câu rất có ý nghĩa: “Cái mà ta gọi là văn hóa không phải là cái gì khác, về thực chất là sự hoàn thiện và sự vận dụng bản sắc của chúng ta toàn bộ sức mạnh của nó” Nhà nhân chủng học của Pháp là Clôdơ Lêvi xtrốtxơ cũng đã nói: “Người ta không thể quyết định đi đâu về đâu nếu trước tiên người ta không biết mình từ đâu đến” Cái gọi là từ đâu đến ấy tức là từ một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, tức là từ nơi mỗi con người sinh ra và lớn lên
Thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành bóng mờ của người khác, của dân tộc khác Tác giả Đỗ Văn Khang đã nhận xét: “Có những dân tộc chưa mạnh về kinh tế, nhưng văn hóa của họ có bản lĩnh, bản sắc riêng Nhờ đó, họ có thể vượt qua những phong ba, bão táp mà dần dần đưa nền kinh tế của họ lên đỉnh cao Nhật Bản đã cho chúng ta một kinh nghiệm quý Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật là nước bại trận, kinh tế rất khó khăn… Ấy vậy mà người Nhật không nản lòng, họ dựa vào bản sắc văn hóa độc đáo của mình, chọn con đường tối ưu để khôi phục và phát triển kinh tế” [38]
Nhận thức tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII của Đảng đã khẳng định: “Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc’’[22,
Trang 37tr.111] Đến Đại hội X Đảng ta lại tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế” [24, tr.106]
Hiện nay, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế là một yêu cầu cấp bách Chỉ có giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam thì Việt Nam ta mới xây dựng được nền văn hóa “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” của chính mình, qua đó giúp chúng ta tự hào khi tiếp xúc, giao lưu với các nền văn hóa khác Tuy nhiên, để làm được điều đó thật không dễ chút nào Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tuy đem đến cho chúng ta nhiều thuận lợi
để phát triển đất nước nhưng cũng không ít khó khăn: một số người chạy theo lối sống thực dụng, sự tràn vào của các luồng văn hóa độc hại… và như vậy để chống lại những tác hại đó đòi hỏi chúng ta phải dựa vào gốc rễ dân tộc, bản sắc của dân tộc Vì vậy, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam là vấn đề vô cùng quan trọng
1.3 Những biểu hiện chủ yếu của bản sắc văn hóa Việt Nam ở tỉnh Bến Tre
Văn hóa của cả nước vận động và biến đổi qua thời gian, trong không gian mỗi vùng đất khác nhau Mỗi vùng, miền vừa có nét chung của dân tộc, vừa có nét riêng của chính vùng đất mình, và chính nét riêng ấy là sự đóng góp vào kho tàng văn hóa phong phú của cả nước
Bến Tre không phải là vùng đất mà người Việt định cư và sinh sống lâu đời như vùng châu thổ sông Hồng Văn hóa của cư dân Bến Tre chủ yếu bắt đầu từ khi người Việt vào đây khai phá Tiến trình lịch sử của Bến Tre mới chỉ có hơn 300 năm trong lịch sử 4000 năm của dân tộc, nhưng người dân ở Bến Tre vẫn mang
Trang 38trong mình truyền thống văn hóa Việt Nam Là những lưu dân đi khai phá một vùng đất mới, buổi ban đầu, họ không chỉ mang theo mình vốn tư liệu sản xuất, vật dụng… mà mang cả vốn văn hóa trong ý thức và cả trong tiềm thức Trên vùng đất mới, ý thức và tiềm thức văn hóa ấy cùng với sự giao lưu văn hóa với các tộc người
đã phát triển trở thành vốn văn hóa của con người Bến Tre
Mấy trăm năm qua, người Bến Tre đã tạo dựng được một nền văn hóa của mình Từ những đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội và dân cư, cũng như cơ cấu tổ chức làng xã của người Việt trên đất cù lao, có tác động đến việc tạo
ra những đặc điểm riêng của bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre Bản sắc văn hóa Việt Nam ở Bến Tre chủ yếu thể hiện trong nhân cách con người nơi đây và ở di
sản văn hóa
1.3.1 Bản sắc văn hóa Việt Nam biểu hiện trong nhân cách con người Bến Tre
Con người Việt Nam nói chung có nhiều phẩm chất tốt đẹp, tích cực (nhờ tiếp thu những giá trị truyền thống, vừa được rèn đúc trong trường kỳ dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước) và đối với Nam bộ trong đó có Bến Tre, theo các nhà nghiên cứu, những người nông dân Việt đến “lập nghiệp” trên vùng đất này chủ yếu là từ các vùng, miền khác vào
Để đáp ứng nhu cầu sinh tồn của mình, trong quá trình khai phá vùng đất mới, con người đã bền bỉ đấu tranh với thiên nhiên, kiên cường trong lao động sản xuất và đấu tranh chống lại áp bức, bất công của triều đình phong kiến, chống thù trong giặc ngoài, tính cách của cư dân Bến Tre cũng được hình thành và phát triển trong chính quá trình ấy
Theo nghiên cứu bước đầu của tác giả, người Bến Tre có những tính cách nổi bật đó là: Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường, bất khuất; Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; Lòng
Trang 39nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý; Cần cù, năng động, sáng tạo, tinh thần hiếu học cao; Tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống, bộc trực, thẳng thắn, hiếu khách
Thứ nhất, về lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường, bất khuất
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó
là truyền thống quý báu của dân tộc ta” Thật vậy, lòng yêu nước của dân tộc ta đã hình thành từ thời Hùng Vương dựng nước Trải qua các triều đại từ Đại Việt đến thời đại Hồ Chí Minh nhờ vào lòng yêu nước nồng nàn mà dân tộc Việt Nam đã chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược hùng mạnh Lòng yêu nước ấy đã thấm nhuần trong mọi tầng lớp nhân dân trong đó có nhân dân Bến Tre
Yêu nước là một truyền thống tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc ta Nhưng đối với người dân Nam bộ, tính cách này được thể hiện một cách phóng khoáng, sinh động
Nó khác với lòng yêu nước của Nho giáo, không bị ràng buộc quá chặt chẽ vào “tam cương”, “ngũ thường”… Người dân chỉ trung thành với vua khi vua
là đại diện cho lợi ích của dân tộc Tinh thần yêu nước của người Nam bộ mang
hơi hướm của hình tượng Lục Vân Tiên Đó là một Trương Định với “khí phách
ngang tàng”: “Triều đình không công nhận (cuộc kháng chiến của ta) nhưng nhân dân công nhận” Nguyễn Trung Trực hiên ngang với câu: “Bao giờ nhổ hết cỏ nước
Nam thì nước Nam mới hết người đánh Tây”
Với vị trí địa lí hiểm trở, đất cù lao trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và che chở hàng ngàn chiến sĩ cách mạng Bến Tre
đã vang danh cả nước, được hàng triệu trái tim yêu chính nghĩa, công lý ngưỡng
mộ Không chỉ chiến đấu trên quê hương mình, họ đã lên đường lao vào cuộc đấu tranh sinh tử, đi chiến đấu khắp các chiến trường của nước mình và cả nước bạn Hàng ngàn con em của Bến Tre đã hy sinh và yên nghỉ ở nghĩa trang của các tỉnh bạn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Những
Trang 40người con tiêu biểu của Bến Tre như: Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thị Định… Tất cả những tấm gương, những con người khí khái đó được mảnh đất Bến Tre nuôi lớn, hun đúc cho một ý chí, một tấm lòng để rồi chính tên tuổi họ còn lưu danh mãi khi người ta nói về Bến Tre
Ngoài lòng yêu nước thì ý chí tự cường dân tộc là yếu tố rất quan trọng để nhân dân ta quyết chiến, quyết thắng bảo vệ nền độc lập dân tộc Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ các dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” [48, tr.522] Như vậy, chỉ có yêu nước và trên tinh thần tự lực, tự cường nhân dân ta mới có ý chí quyết chiến, quyết thắng để bảo
vệ nền độc lập dân tộc
Là một trong những vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất, các thế
hệ người dân Bến Tre đã bền bỉ nối tiếp nhau kế thừa một cách xuất sắc, từ buổi đầu chống quân xâm lược, qua thời kỳ thành lập Đảng, rồi kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nổi bật là trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bến Tre đã lập nhiều thành tích vang dội như: Phong trào Đồng khởi diễn ra ngày 17/1/1960 ở xã Định Thủy, Mỏ Cày và nhanh chóng lan rộng toàn miền Nam, với sự ra đời của “Đội quân tóc dài” với “Ba mũi giáp công” (đã được ghi vào Từ điển lịch sử quân sự Việt Nam) và tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam, Bến Tre được tuyên dương danh hiệu “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy” Cũng vì vậy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: “ Theo tôi biết chị Ba Định cùng nhân dân và Đảng bộ Bến Tre đấu tranh trong những năm ác liệt nhất, chị kiên cường bất khuất, là người phụ nữ đã tham gia lãnh đạo cuộc Đồng Khởi nổi tiếng ở Bến Tre Cũng trong thời gian đó hình thành sự đấu tranh rất sáng tạo, rất mới là trước sự khủng bố ác liệt như vậy, mà có thể nói hình thành được đội quân tóc dài, kết hợp chính trị, quân sự, binh vận làm thất bại âm mưu của địch, bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền lợi của nhân dân ta Nhắc đến việc làm đó mình cũng thấy rằng như vậy là có thể địch cắm đồn bót nơi