đình”-đề tài KX 07-09 của trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ,… Tuy nhiên, với đề tài chọn nghiên cứu về Đạo Hiếu trong văn hoá gia đình người Việt ở Nam Bộ –một đề tài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
BỘ MÔN VĂN HÓA HỌC
BÙI THỊ HOA
ĐẠO HIẾU TRONG VĂN HOÁ GIA ĐÌNH
NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ
Chuyên ngành: Văn hoá học
Mã số: 60.31.70
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HOÁ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGs.Ts Nguyễn Minh Hòa
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2006
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Minh Hòa, người đã hướng dẫn tôi rất nhiệt tâm và nghiêm khắc về các vấn đề học thuật của luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Phân Viện Nghiên cứu Văn hóa thông tin tại TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi về mọi mặt để tôi hoàn tất tốt đẹp khóa học Thạc sĩ Văn hóa học tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Xin cảm ơn những ý kiến quí giá của PGS TS Nguyễn Văn Tiệp, TS Đỗ Nam Liên, PGS TS Phan Thu Hiền, TS Trần Ngọc Khánh, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng trong việc giúp tôi sửa chữa, bổ sung, nâng cao chất lượng khoa học của đề tài
Xin được tri ân gia đình thân yêu đã luôn sát cánh bên tôi, giúp tôi vững vàng trong suốt thời kỳ học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận văn
Xin cảm ơn tất cả đồng nghiệp và bạn bè, những người đã luôn động viên, khuyến khích tôi học tập và chia sẻ nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc của tôi đến Phòng Sau đại học, các thầy cô bộ môn Văn hóa học trường ĐH KHXH&NV đã tạo môi trường học thuật thuận lợi để tôi được nâng cao chuyên môn, hoàn thành bậc học Thạc sĩ và có thêm tự tin trên bước đường nghiên cứu các vấn đề văn hóa nước nhà
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang LỜI CẢM ƠN I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 5
III TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
IV ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NỘI DUNG CÁC VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG LUẬN VĂN
1 Đối tượng 10
2 Phạm vi nghiên cứu 11
3 Các vấn đề cần giải quyết trong luận văn 11
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
VI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 12
VII BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 12
Chương I: ĐẠO HIẾU LÀ NỀN TẢNG VĂN HOÁ-ĐẠO ĐỨC CỦA GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT I KHÁI NIỆM ĐẠO HIẾU 13
1 Định nghĩa 13
2 Hiếu trong mối tương quan gia đình - xã hội 18
2.1 Bản chất tự nhiên của hiếu 18
2.2 Bản chất xã hội của hiếu 21
II QUAN NIỆM VỀ HIẾU TRONG CÁC HỆ TƯ TƯỞNG, TÔN GIÁO 1 Quan niệm về hiếu của Nho giáo .32
1.1 Phù hiếu thủy ư sự thân: Hiếu bắt đầu từ thờ cha mẹ 35
1.2 Trung ư sự quân: Giữa là thờ vua 39
1.3 Chung vu lập thân: Lập thân 40
2 Quan niệm về hiếu của Phật giáo 42
2.1 Đạo hiếu thế gian 44
2.2 Đạo hiếu xuất thế gian 48
3 Quan niệm về hiếu của Thiên chúa giáo 51
III TRUYỀN THỐNG HIẾU ĐẠO CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM (Qua kho tàng văn học dân gian: ca dao-dân ca, truyện tích, sách gia huấn): 53
Trang 41 Hiếu trong ca dao-dân ca 53
2 Hiếu trong truyện tích Chử Đồng Tử 59
3 Hiếu trong sách gia huấn 62
IV VAI TRÒ CỦA ĐẠO HIẾU TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 72
Tiểu kết chương 76
Chương II: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA ĐẠO HIẾU TRONG BỐI CẢNH VĂN HÓA-XÃ HỘI NAM BỘÄ I HIẾU TRONG QUAN NIỆM CỦA CÁC TÔN GIÁO CỨU THẾ Ở NAM BỘ 1 Hiếu trong quan niệm của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương 78
2 Hiếu trong quan niệm của đạo Tứ Aân Hiếu Nghĩa 80
3 Hiếu trong quan niệm của đạo Phật giáo Hòa Hảo 83
4 Hiếu torng quan niệm của đạo Cao Đài 84
II MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ 1 Gia đình người Việt ở Nam Bộ có tính cơ động và linh hoạt 86
2 Gia đình người Việt ở Nam Bộ chịu sự ảnh hưởng ít của Nho giáo 89
3 Gia đình người Việt ở Nam Bộ là gia đình trọng đạo lý, tình người 93
III NHỮNG BIẾN THỂ CỦA ĐẠO HIẾU TRUYỀN THỐNG TRONG VĂN HÓA GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ 1 Đạo hiếu trong gia đình người Việt ở Nam Bộ gắn với hoàn cảnh thực tế và chịu ảnh hưởng Nho giáo ít 98
1.1 Đề cao vai trò người con thứ trong việc phụng dưỡng cha mẹ 99
1.2 Hiếu trong quan hệ chữ Tình-chữ Hiếu 102
1.3 Hiếu trong giáo dục gia đình 107
2 Chữ Hiếu được bổ sung, tổng hợp thêm nhiều sắc thái văn hoá mới 110
2.1 Hiếu qua phong tục thờ cúng tổ tiên 111
Quan niệm thờ cúng tổ tiên 111
Thờ tự 117
Yù nghĩa của mỹ tục thờ cúng tổ tiên 123
2.2 Tôn trọng người già 124
IV ĐẠO HIẾU TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY
Trang 51 Những biến đổi kinh tế-văn hoá-xã hội ảnh hưởng đến hiếu
1.1 Quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá 127
1.2 Kinh tế thị trường tự do 129
1.3 Sự suy giảm các chức năng gia đình 130
2 Đạo hiếu ngày nay 134
1 Đạo hiếu qua sự biến đổi của đời sống gia đình 134
2 Suy nghĩ về đạo hiếu trong tương lai gia đình 140
2.1.Đạo hiếu với bài toán gia đình 140
2.2 Chữ hiếu cần được vận dụng linh hoạt vào trong đời sống gia đình 142
Tiểu kết chương 148
KẾT LUẬN 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
Trang 6I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Ngày nay, đi cùng sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật là những thay đổi dồn dập trong đời sống gia đình-xã hội và tính chất này diễn
ra trên quy mô toàn thế giới Do vậy, vấn đề gia đình và hạnh phúc gia đình nổi lên như một mối quan tâm đặc biệt của hầu hết các quốc gia và nhiều thế hệ Vì một khi xã hội phát triển, càng quan tâm đến vấn đề con người thì lại càng phải quan tâm đến thiết chế gia đình-cũng là một thiết chế xã hội, nó giữ một vai trò thiết yếu, cơ bản trong cuộc sống loài người
Xuất phát từ thực tiễn xã hội, ý thức được những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai gia đình, Đảng và Nhà nước ta cũng đã sớm nhận thức đúng về vị trí quan trọng của gia đình trong sự phát triển và tiến bộ xã hội cũng như hạnh phúc của mỗi cá nhân Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhấn
mạnh và chỉ rõ: “Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi
dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mọi người và là tế bào lành mạnh của xã hội” Và gần đây, vấn
đề xây dựng gia đình Việt Nam hiện đại và dân tộc lại được đặt ra với những
đòi hỏi mới, có tính cụ thể hơn, đó là lần đầu tiên, bản dự thảo về “chiến
lược gia đình Việt Nam giai đoạn giai đoạn 2004-2010” được đặt ra Cốt lõi
của bản dự thảo là hướng tới xây dựng một gia đình Việt Nam hiện đại và dân tộc phải dựa trên nền tảng những giá trị bền vững của gia đình Tuy nhiên bản dự thảo vẫn chưa thể hiện, phản ánh hết được các vấn đề của gia đình, chẳng hạn như trong đời sống văn hoá gia đình thì đâu là những giá trị bền vững và đâu là những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống? nên chúng ta chưa thống nhất được một khung lý thuyết, phương pháp luận và những tiêu chí cụ thể để xem xét, đánh giá lại xem những giá trị nào đã lỗi thời, không còn phù hợp và giá trị nào cần phát huy Do vậy, chúng ta không
Trang 7thống nhất được trong việc chọn lựa những giá trị truyền thống nào để dạy cho con cái của chúng ta và áp dụng vào trong giáo dục gia đình
Tuy nhiên, khi bước sang thời kinh tế thị trường, cùng với sự du nhập thêm nhiều giá trị mới là sự suy giảm, bỏ quên, mai một nhiều giá trị truyền thống Bởi vậy mà vấn đề về khủng hoảng gia đình đang được đặt ra hết sức bức xúc cho toàn xã hội Những giá trị đạo đức truyền thống vốn có một chỗ đứng hết sức quan trọng trong đời sống gia đình, ngay cả những mối quan hệ gia đình tốt đẹp tưởng là khó gì có thể thay đổi được thì giờ đây cũng trở nên lỏng lẻo bị chi phối bởi những quan hệ mới mang tính lợi nhuận, thị trường Kinh tế thị trường đã làm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế-xã hội, và thay đổi bộ mặt gia đình, xóa đi nhiều tập quán lỗi thời, đem đến cho gia đình những vận hội mới Các thành viên gia đình không còn chỉ bó hẹp trong mối quan hệ gia đình Họ được khẳng định vai trò cá nhân và luôn có ý thức vươn lên tự khẳng định mình được xem là giá trị sống mới mà xã hội hết sức trân trọng Song đi cùng với những đổi thay ấy, sự thoát ly đời sống gia đình để mong khẳng định cái “tôi” cá nhân của mình đã khiến cho nhiều người có cảm giác
bị đẩy xa khỏi gia đình, phải đối mặt với sự cô đơn, buồn tẻ, sự nghèo nàn, thiếu thốn về tình cảm gia đình
Có thể nói, gia đình đã không còn như xưa, cái nếp nhà truyền thống có trên có dưới, có thứ có bậc, cha nói thì con phải nghe, mẹ dạy thì con phải nhớ…tất cả đều phải có khuôn phép Ngay hình ảnh ông bà, tổ tiên, bố mẹ được xem là tấm gương sáng để con cháu noi theo, học hỏi kinh nghiệm…giờ đang phải chịu tác động, thử thách trước những hệ chuẩn mới của xã hội hiện đại Hàng ngày, hàng giờ, trên các báo, tạp chí và ngay bên ngoài cuộc sống thì bao cảnh huống trái khoáy, đau lòng đập vào mắt ta, như: con bất hiếu với cha mẹ, bất kính với ông bà; con cái hất hủi cha mẹ; người già bị con cháu bỏ quên trong các trại dưỡng lão; rồi con đẩy mẹ ra đường ăn xin; con
Trang 8giết mẹ; rồi cha mẹ bắt con đi ăn xin để mẹ có tiền ở nhà cờ bạc, cha có tiền rượu chè; con kiện cha mẹ vì tranh giành đất đai, nhà cửa…đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo chung cho toàn xã hội về sự suy đồi, xuống cấp về mặt đạo đức Đối diện với thực tế ấy, nhiều người đã cảm thấy nuối tiếc, hoài vọng về hình ảnh, nền nếp gia đình xưa và vội cho rằng giới trẻ giờ mất gốc, lai căng Một số người, tích cực hơn, khi đã có cuộc sống vật chất đầy đủ thì họ bắt đầu nghĩ cho bản thân, lo cho sự mất gốc của con cái nên họ đã cố gắng củng cố tình cảm, tìm lại hơi ấm, ký ức tổ tiên bằng những việc làm thiết thực như: xây dựng nhà thờ, sửa sang lại mồ mả tổ tiên, truy tìm lại gia phả, nhận lại dòng họ, thăm hỏi, cưu mang người thân lúc sa cơ, hoạn nạn,…Tuy nhiên, khôi phục lại truyền thống không có nghĩa là quay trở lại những cái không hợp thời của gia đình kiểu cũ Quan trọng là phải biết chắt lọc những nhân tố phù hợp, biết làm mới lại những giá trị đạo đức truyền thống để giá trị ấy có thể phát huy hết được sức mạnh của nó trong sự ổn định gia đình và đem đến cho các thành viên gia đình sự tin cậy, niềm hạnh phúc Vấn đề đặt ra là đã đến lúc chúng ta cần phải nhận diện, đánh giá lại một số giá trị đạo đức gia đình cho phù hợp với bối cảnh xã hội mới mà trong đó, có giá trị hiếu đạo-một giá trị đạo đức nền tảng của văn hoá gia đình Việt Nam mà luận văn quan tâm, nghiên cứu
Gần đây, trong một bài báo đăng trên báo Đại đoàn kết tháng 1/1991,
một câu hỏi đặt ra gây bức xúc cho bạn đọc:“ Giữa thời buổi cơ chế thị trường
này, chữ Hiếu còn hay mất?” Xuất phát từ những bức xúc ấy, báo Đại đoàn
kết đã phát động thành một phong trào và lấy “tôn vinh đạo Hiếu” làm chủ đề xuyên suốt một thời gian dài của trang gia đình và xã hội Từ khi phát động, chủ đề này đã trở thành một diễn đàn chuyển tải nhiều tâm tư tình cảm của bạn đọc Sau đó mục“tâm sự người cao tuổi qua những cánh thư” được hình thành đã thu hút, ghi nhận nhiều lời giãi bày, lo lắng, trăn trở của những
Trang 9bậc làm cha mẹ về những người con không giữ được tấm lòng hiếu thảo…Gần đây, với sự trở về, muốn phục hồi lại những giá trị đạo đức căn bản nhất bị
bỏ quên, phong trào “ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền” đã được
khởi xướng, trở thành một phong trào thiết thực, thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội Phải chăng đây là sự cố gắng hàn gắn, tìm kiếm lại những giá trị đích thực của đời sống gia đình? Mục tiêu tốt đẹp là vậy, song vấn đề là chúng ta hãy nhìn nhận, đối diện với thực tế này, nhìn nhận những khủng hoảng gia đình hiện tại như là một điều không thể tránh khỏi trong quá trình phát triển xã hội Trên cơ sở đó chúng ta nhận diện và lý giải sự biến động, thay đổi này một cách khoa học và có hệ thống
Phải thừa nhận rằng, công nghiệp hoá - đô thị hoá làm tăng nhu cầu khẳng định cá nhân, làm thay đổi bộ mặt gia đình Theo đó, các mối quan hệ trong gia đình, mối liên hệ huyết thống giữa gia đình dòng họ cũng không tránh khỏi lỏng lẻo, có phần bị phai nhạt Bên cạnh đó, ở một bộ phận giới trẻ, họ xem việc hàng tháng chỉ cần góp tiền phụng dưỡng cho cha mẹ đầy đủ, là đã thể hiện được quan tâm, chăm sóc, là trọn bổn phận làm con đối với đấng song thân Nói khác hơn, chữ hiếu ở một bộ phận nhỏ đã có cách hiểu lạnh lùng như chính đồng tiền của họ Tuy nhiên, phía sau mặt trái của kinh tế thị trường, dù chủ nghĩa thực dụng, thực lợi cùng với việc quá đề cao giá trị của tự do, của chủ nghĩa cá nhân cực đoan đã làm suy yếu nhiều giá trị đạo đức gia đình Và hình ảnh gia đình- chiếc nôi trong trong đời sống mỗi người có phần suy giảm thì ở một góc nào đó của những cuộc đời trong xã hội vẫn có những con người lặng lẽ vun xới cho mái ấm gia đình bằng chính tình yêu thương, lòng hiếu thảo hết mực Tự đáy lòng họ vẫn tâm niệm đấy là bổn phận thiêng liêng, là niềm hạnh phúc của người làm con khi biết dành tình cảm, chia sẻ cả niềm vui, nỗi buồn với bậc sinh thành
Trang 10Có thể nói, ở xã hội nào cũng có những người con bất hiếu và những người con hết mực hiếu thảo với cha mẹ nhưng ở trong một giai đoạn phát triển xã hội-mà cụ thể xã hội hiện tại, ta thấy quá nhiều những đổi thay đang dội vào đời sống gia đình Và các giá trị đạo đức gia đình trong đó có giá trị hiếu đạo đang bị xem nhẹ, lãng quên, đe doạ đến sự tồn tại của thiết chế gia đình Do vậy mà, chuyện hiếu đạo với cha mẹ đã không còn chỉ là chuyện của một nhà mà nó đã trở thành mối quan tâm của xã hội Do vậy mà, tìm
hiểu Đạo Hiếu trong văn hoá gia đình người Việt ở Nam Bộ là một đề tài mà
luận văn đi sâu vào nghiên cứu nhằm ngay vào bức xúc của thực tế gia đình, xã hội đang có nhiều quan tâm Vì trong tương lai phát triển, hoạch định các chính sách về gia đình, chúng ta không thể không nghiên cứu và kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống mà hiếu đạo là một trong những giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình Đi liền với sự phát triển chung của đất nước, giá trị này cần phải được nghiên cứu một cách có hệ thống, nhằm phát huy hết sức mạnh của nó trong đời sống gia đình hiện đại và bảo vệ một lối sống tình nghĩa, truyền thống tôn trọng người già vốn có tự ngàn xưa của dân tộc Việt Nam
II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
• Tìm hiểu bản chất của chữ hiếu và nội dung của hiếu trong các hệ tư tưởng, tôn giáo Từ đó có cơ sở lý thuyết chung về hiếu, và tìm những biểu hiện của đạo hiếu trong đời sống văn hoá gia đình truyền thống người Việt
• Tìm hiểu những biểu hiện của đạo hiếu và những biến thể của chữ hiếu trong đời sống văn hoá gia đình người Việt ở Nam Bộ để qua đó thấy được tính lịch sử, tính biện chứng của quan niệm này
• Hướng tới việc nhận diện, đánh giá lại giá trị đạo hiếu trong đời sống văn hoá gia đình, qua đó, vấn đề đặt ra là phải hiểu, đánh giá, xây dựng và
Trang 11phát huy đạo hiếu truyền thống cụ thể ra sao cho phù hợp với đời sống văn hóa gia đình đương đại
III TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:
Với tác phẩm của F Engels: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và nhà nước”-một tác phẩm kinh điển được nhiều học giả, nghiên cứu trong
và ngoài nước tra cứu, gần như một cuốn sách chuyển tải những kiến thức nền về nguồn gốc, sự phát triển từ thấp đến cao của thiết chế gia đình Dựa trên những kiến giải hệ thống ấy mà gia đình ngày nay càng được đi sâu nghiên cứu, quan tâm ở nhiều chiều cạnh hơn và nó trở thành một đối tượng nghiên cứu của cả một khoa học liên ngành
Những năm gần đây, để nghiên cứu sự phát triển của gia đình và nghiên cứu những hoạt động cụ thể của đời sống gia đình hiện tại, như: tìm hiểu mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, mối quan hệ nội tại trong gia đình, cấu trúc gia đình, các chức năng gia đình Và đặc biệt đi tìm lời giải, các giải pháp cho cuộc khủng hoảng của thiết chế gia đình hiện nay: vấn đề ly hôn, vấn đề người già cô đơn, trẻ em lang thang, thì lĩnh vực gia đình trở thành đối tượng nghiên cứu của xã học gia đình để rồi qua đó thấy được những biến đổi đang diễn ra bên ngoài xã hội Vì dưới góc dộ xã hội học, gia đình được xem là một nhóm xã hội đặc thù tồn tại như một thiết chế xã hội nên sự phát triển của yếu tố gia đình xét đến cùng đều bị những thay đổi trong chế độ xã hội-kinh tế quy định Đi sâu vào mảng nghiên cứu này có thể kể đến một loạt các
công trình nghiên cứu: “Lối sống gia đình ngày nay” của tác giả Mai Huy Bích, “Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam” tập hợp nhiều bài viết khác nhau do tác giả Tương Lai chủ biên, “Hôn nhân và gia đình ở thành
phố Hồ Chí Minh (nhận diện và dự báo)” và “Hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại” của tác giả Nguyễn Minh Hoà, “Gia đình truyền thống, một số tư
Trang 12liệu nghiên cứu xã hội học” của tác giả Khuất Thu Hồng, “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố ảnh hưởng” của tác giả Vũ Tuấn
Huy,…đã cho ta nhận diện được về một hình ảnh gia đình Việt Nam đã và đang có nhiều biến động, thay đổi trong xã hội hiện đại Với mảng đề tài này đã có những đóng góp, giúp đề tài trong lý giải những thay đổi đang diễn ra trong đời sống gia đình có ảnh hưởng đến giá trị đạo đức hiếu
Không đi sâu nghiên cứu vào những biến động và những vấn đề mà gia đình đương đại đang phải đối mặt, một mảng nghiên cứu mới tiếp cận từ góc độ phát triển giới, từ góc độ tâm lý-xã hội hay tiếp cận nghiên cứu gia đình từ các chiều cơ cấu-chức năng của gia đình (có nghĩa là nghiên cứu quá trình vận hành của một cơ cấu gồm ba cực: gia đình-cá nhân-cộng đồng xã hội) và tiếp cận theo chiều lịch đại của cơ cấu gia đình trong xã hội (có nghĩa là nghiên cứu sự phát triển của gia đình trong sự vận hành khách quan của lịch sử từ quá khứ tới hiện tại)…Đây là hướng nghiên cứu nhằm đi sâu vào khai thác, khẳng định vai trò của gia đình trong sự phát triển kinh tế-xã hội và đặc biệt là nhấn mạnh vai trò của gia đình trong quá trình hình thành nhân cách con người Theo các hướng nghiên cứu, phân tích này, có thể kể đến: tập hợp
các bài viết của nhiều học giả trong và ngoài nước: “Gia đình và địa vị người
phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ” do Trung tâm khoa
học và xã hội và nhân văn quốc gia tổ chức, “Gia đình Việt Nam thời mở cửa” của tác giả Nguyễn Thị Oanh, “Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay” của
Viện khoa học xã hội Việt Nam, trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ,
“Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống” của tác giả Đặng
Cảnh Khanh, “Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt
Nam” của tác giả Lê Thi, “Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” của tác giả Lê Như Hoa, “Gia đình và vấn đề giáo dục gia
Trang 13đình”-đề tài KX 07-09 của trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ
nữ,…
Tuy nhiên, với đề tài chọn nghiên cứu về Đạo Hiếu trong văn hoá gia
đình người Việt ở Nam Bộ –một đề tài đi sâu vào nghiên cứu đạo hiếu-một
giá trị, một chuẩn mực đạo đức nền tảng cho mọi giá trị khác thì ở các công trình nghiên cứu trình bày trên dù ít nhiều được nhắc đến nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ liên hệ khi nói chung về những giá trị đạo đức gia đình truyền thống Thực ra, chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể, chưa xem hiếu là một đối tượng nghiên cứu chính Do vậy mà, đi sâu vào nghiên cứu ý nghĩa tự thân, cơ sở tồn tại và sức sống của truyền thống hiếu đạo trong đời sống gia đình như thế nào vẫn còn là mảng bỏ ngỏ Cụ thể, hiếu mới chỉ được được đề cập đến ở các khía cạnh:
Hiếu-với tư cách là một giá trị đạo đức phổ được đề cập đến trong các
luận thuyết, các giáo lý trong các hệ tư tưởng, tôn giáo, như trong: “Nho
giáo” của tác giả Trần Trọng Kim; trong Kinh thánh tân ước và cựu ước; Kinh nguyện gia đình; trong các Kinh vu lan bồn; Kinh báo ân; Bên cạnh đó còn có
rất nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các hệ tư tưởng, tôn giáo đặc biệt là khi viết về sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với con
người, gia đình Việt Nam Một số công trình được biết đến, như: “Bàn về đạo
Nho” của tác giả Nguyễn Khắc Viện,“Aûnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Tài Thư, “Nho giáo xưa và nay” do Vũ Khiêu chủ biên, “Đến hiện đại từ truyền thống” của
tác giả Trần Đình Hượu; Bên cạnh đó, hiếu đạo truyền thống cũng được nhắc
đến ít nhiều trong các công trình nghiên cứu lịch sử văn hoá tiêu biểu:“Tìm về
bản sắc văn hoá Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm, “Đại cương lịch sử Văn hoá Việt Nam” của tác giả Nguyễn Khắc Thuần, và một loạt các bài viết
tiêu biểu đăng trên các tạp chí chuyên ngành: “Về gia đình truyền thống Việt
Trang 14Nam với ảnh hưởng của Nho giáo” của tác giả Trần Đình Hượu, hay “chữ
“Hiếu” trong quan hệ gia đình, làng xã người Việt-truyền thống” của Phan
Đại Doãn-Nguyễn Văn Khánh; “sự truyền bá, phát triển và biến đổi của hệ tư
tưởng Nho gia ở Việt Nam” của tác giả Tôn Diễn Phong,
Nhìn ở góc độ phong tục-tập quán, hiếu với tư cách là một đạo lý tốt đẹp của người Việt Nam được viết trong hàng loạt các sách phong tục, như:
“Việt Nam phong tục” của phan Kế Bính, “Nếp cũ-tín ngưỡng Việt Nam” của Toan Aùnh, “Đất lề quê thói” của Vũ Văn Khiếu-Nhất Thanh, hay trong các sách viết về những con người tiêu biểu: “Nhị thập tứ hiếu” của Lý Văn Phức,
“Hai mươi gương hiếu Việt Nam” của tác giả Trương Cam Lựu và Vũ Văn
Kính biên soạn và dịch,
Bên cạnh đó, một mảng nghiên cứu có tính truyền thống hơn, được nhiều nhà nghiên cứu khai thác, chú ý quan tâm: đó là những giá trị đạo đức gia đình và sức sống của những giá trị này trong văn hoá gia đình truyền
thống Việt Nam, như: “ Văn hoá gia đình Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Khánh; “Văn hoá gia đình” do tác giả Bùi Đình Châu tuyển chọn & biên soạn, “Gia đình và dân tộc” của tác giả Nguyễn Thế Long, và đặc biệt là một loạt sách của tác giả Phạm Côn Sơn: “Đạo nghĩa trong gia đình”, “Gia lễ xưa
và nay, nề nếp gia phong”, “Đạo làm con”, Tuy nhiên, mảng nghiên cứu về
gia đình Nam Bộ thực chất vẫn là một mảng còn bỏ ngỏ, chưa có những công trình nghiên cứu sâu, nó chỉ được đề cập đến ít nhiều và được viết rải rác trong một số công trình nghiên cứu, như: một loạt sách của tác giả Sơn Nam
như “Đồng bằng sông cửu long-nét sinh hoạt xưa”, “Văn minh miệt vườn”,…
“Địa chí thành phố Hồ Chí Minh” do tác giả Trần Văn Giàu chủ biên, “Văn hoá Tâm linh Nam Bộ” của tác giả Nguyễn Đăng Duy, “Xây dựng gia đình văn hoá tại thành phố Hồ Chí Minh”-hội thảo do Sở văn hoá thông tin thành
phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 1994, “Văn hoá làng xã trước sự thách thức
Trang 15của đô thị hoá-tại thành phố Hồ Chí Minh” do tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân
chủ biên …và một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, có sự tập
trung hơn: “Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam Bộ Việt Nam” của tác giả Đỗ Thái Đồng, “Truyền thống gia đình Nam Bộ” của Sơn Nam,
Với các công trình nghiên cứu, bài viết trên thì trong nội dung đã ít nhiều đi sâu vào những giá trị đạo đức làm nên nền tảng của phong hoá gia đình truyền thống và chữ hiếu cũng được các tác giả hết sức chú ý trong nếp sống gia đình xưa-một nếp sống thuận hợp với lẽ tự nhiên, song mức độ biểu hiện vẫn chỉ mới dừng lại trong cách nhìn về nền phong hoá gia đình truyền thống nói chung và gắn liền với đạo đức Nho giáo…chứ hiếu chưa được xem là một đối tượng nghiên cứu chính, và chưa được tập hợp lại một cách hệ thống
Có thể nói những công trình kể trên, mỗi tác giả đều có những hướng tiếp cận khác nhau, đã ít nhiều nhắc tới hiếu đạo truyền thống trong văn hoá gia đình Tuy nhiên, đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận của chữ hiếu và sự thể hiện của đạo hiếu trong đời sống gia đình trong quá khứ, từ đó thử đối chiếu hiếu được thể hiện như thế nào trong gia đình người Việt ở một vùng đất cụ thể- đất Nam Bộ để thấy được những biến thể của hiếu thì chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
IV ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NỘI DUNG CÁC VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG LUẬN VĂN:
1 Đối tượng nghiên cứu:
• Khái niệm hiếu và đạo hiếu
• Bản chất của hiếu và vai trò của hiếu đạo truyền thống trong đời sống xã hội và gia đình người Việt
Trang 16• Những biến thể, biểu hiện của đạo hiếu truyền thống trong gia đình người Việt ở Nam Bộ
2 Phạm vi nghiên cứu:
Qua tìm hiểu bản thân hiếu trong đời sống gia đình và quan niệm về hiếu trong các hệ tư tưởng, tôn giáo để có một cơ sở lý thuyết chung về hiếu, qua đó tìm hiểu một số biểu hiện của đạo hiếu trong văn hoá gia đình người Việt ở Nam Bộ
3 Nội dung các vấn đề cần giải quyết trong luận văn:
-Tìm hiểu những quan niệm về hiếu, từ đó hiểu đúng khái niệm đạo
-Tìm hiểu, phân tích những nhân tố tác động đến sự thay đổi chuẩn mực đạo đức hiếu trong đời sống đương đại, qua đó nhận diện và hiểu đúng về hiếu
Trang 17V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành của Văn hóa học và trong quá trình thực hiện luận văn, vận dụng quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền tảng văn hoá gia đình, với một số phương pháp cụ thể sau:
• Phương pháp lịch sử
• Phương pháp quan sát
• Phương pháp so sánh
VI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP
CỦA LUẬN VĂN:
• Tìm hiểu và xây dựng cơ sở lý luận xoay quanh đạo hiếu góp phần bổ
sung cho lý luận và thực tiễn về vấn đề gia đình
• Từ cơ sở lý luận, hiểu và nhận diện, đánh giá đúng đắn truyền thống hiếu đạo trong quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển văn hoá gia đình, góp phần vào việc nghiên cứu một trong số các giá trị đạo đức truyền thống
tốt đẹp cần phát huy mà trong dự thảo về “chiến lược gia đình Việt Nam
giai đoạn 2004-2010” đặt ra
• Qua đề tài nghiên cứu này, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh
viên, học viên nghành văn hoá học
VII BỐ CỤC LUẬN VĂN:
Luận văn dày 166 trang, phần mở đầu 14 trang, kết luận 4 trang và 2 chương nội dung, gồm:
Chương I: Đạo hiếu là nền tảng văn hoá-đạo đức của gia đình người Việt
Chương II: Những biểu hiện của Đạo hiếu trong bối cảnh văn hoá-xã hội Nam Bộ
Chương I:
Trang 18ĐẠO HIẾU LÀ NỀN TẢNG VĂN HOÁ – ĐẠO ĐỨC
CỦA GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT
I KHÁI NIỆM ĐẠO HIẾU:
1 Định nghĩa:
Trong đời sống mỗi con người, gia đình luôn giữ một vị trí đặc biệt-nơi tiến hành quá trình xã hội hoá đầu tiên, nơi mỗi người tìm được sự an toàn trước mọi cám dỗ của xã hội và là tổ ấm yêu thương nhất Chính trong chiếc nôi thân yêu này con người được bảo bọc, yêu thương, được học hỏi những kỹ năng sống, được trao truyền những giá trị đạo đức tốt đẹp nhất của cuộc đời Và có một điều mà không một thiết chế xã hội nào có được, có tính thiêng liêng hơn cả, đó là bằng mối liên hệ, gắn bó trên cơ sở huyết thống, gia đình trở thành một giá trị văn hoá khi nó đã tạo dựng được mối liên hệ mật thiết giữa các thành viên gia đình, đem đến cho các thành viên tình yêu, hạnh phúc, trách nhiệm và cả nghĩa vụ Chính tình ruột thịt gắn bó trên cơ sở huyết thống ấy được quy định thành những cái đạo, nghĩa cụ thể, như: đạo, nghĩa cha-con; đạo, nghĩa vợ-chồng; nghĩa anh-em, trong đó đặc biệt đề cao đức hiếu đễ- xoay quanh mối quan hệ cha-con và anh- em Tuy nhiên trong bảng giá trị văn hóa gia đình thì hiếu được xem là một giá trị trung tâm, giữ một vai trò quan trọng trong việc khẳng định nhân cách của một con người và không dừng lại ở đó nó trở thành đạo lý luân thường mà đạo làm con không thể xao nhãng và trong đời sống gia đình từ xưa đến nay, giá trị này luôn được các bậc tiền nhân tâm niệm, nhắc nhở, dạy bảo con cháu
Trong quá khứ, gia đình truyền thống Việt Nam chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo Trải qua một ngàn năm Bắc thuộc và cả mười thế kỷ độc lập, nhất là thế kỷ XV kéo dài đến thế kỷ XIX, Nho giáo được truyền bá liên tục, ngày càng thấm sâu vào cuộc sống và đặc biệt trong tổ chức đời
Trang 19sống gia đình Việt Nam Với chủ trương dùng đức trị-có nghĩa là chỉ dùng đạo đức, lễ giáo để giáo hoá trăm họ, nhờ đó mà đạt được mục đích cai trị thiên hạ nên gia đình được Nho giáo đặc biệt chú ý Vì gia đình với chủ trương của Nho gia được xem là một hình mẫu để trên cơ sở đó tổ chức, xây dựng một xã hội lý tưởng-đó là một xã hội bình trị Chính vì vậy mà chữ hiếu được đề cao, đứng đầu trăm hạnh Không chỉ dừng lại là một giá trị đạo đức thông thường, hiếu qua sự hun đúc của tư tưởng Nho gia được nâng lên thành một thứ đạo làm người – đó là đạo hiếu, mà bao trùm lên tất cả đạo hiếu trở thành nền tảng văn hoá-đạo đức của gia đình Việt Nam nói riêng và một số nước Đông
Á nói chung
Hiếu là Hán tự gồm hai chữ ghép lại: một nửa chữ lão ( ) có nghĩa là già và chữ tử ( ) là con Chữ lão tượng trưng cho bậc già cả gồm ông bà,
cha mẹ chúng ta; chữ tử là hình ảnh con cái Chữ tử cõng chữ lão thành chữ
hiếu ( ) Có thể nói ý nghĩa của đạo hiếu đã thể hiện ngay tự hình của
ngôn từ Rồi hiếu ghép với chữ văn ( ) thành chữ giáo ( ) nghĩa là dạy Qua đó, ta thấy nguyên tắc dạy dỗ của người xưa là dạy nết hiếu trước, sau mới nói đến chuyện dạy văn Bởi vậy mà có câu nói “Tiên học lễ hậu học văn” phổ biến sâu rộng trong đời sống gia đình và giáo dục tại nhà trường
Theo tác giả Tôn Diễn Phong, trong bài viết “sự truyền bá, phát triển và
biến đổi của tư tưởng Nho gia ở Việt Nam” [Tôn Diễn Phong, 135, 4] thì nghĩa gốc của Hiếu là giỏi phụng sự cha mẹ, chỉ việc con cái ngoan ngoãn Ngoài ra,
hiếu còn được định nghĩa ở các chiều cạnh văn hoá-xã hội khác:
Theo bộ từ điển Bách khoa Nho-Phật-Lão [Lao Tử…,99, 504], hiếu được
định nghĩa: “Hiếu ( ) là thuật ngữ Nho giáo Khéo thờ cha mẹ thì gọi là
Hiếu Hiếu là phạm trù luân lý cơ bản nhất của Nho gia Nho gia cho rằng
Trang 20Hiếu là gốc của nhân luân, là nguồn của đạo đức Về nội dung của Hiếu, Nho gia cho rằng Hiếu bao gồm từ việc có kế thừa được di chí và sự nghiệp của tổ tiên hay không, tình cảm Hiếu kính đối với cha mẹ có xuất phát từ nội tâm hay không, và sự phụng dưỡng, ma chay, tế tự đối với cha mẹ có giữ nghiêm lễ chế hay không”
Trong Hiếu Kinh-một tác phẩm kinh điển chính thống của Nho giáo và
là một trong mười ba kinh nổi tiếng của Trung Quốc, hiếu được hiểu: “Xét ra
Hiếu là gốc của đức, là nguồn sinh ra giáo hoá” (phù Hiếu, đức chi bản dã, giáo hoá chi sở do sinh dã)
Theo bộ Bách khoa văn sử Trung Quốc, phần tư tưởng do tác giả Lâm
Đại Hùng chủ biên [ Lâm Đại Hùng, 146, 734-735}, thì: “Quan niệm hiếu đễ
trong văn hoá Trung Quốc được xem là một phương diện có tính đột khởi, nó không chỉ là một thiên lý đương nhiên mà còn là cơ sở và xuất phát điểm cho tất cả nghĩa vụ đạo đức, đồng thời trên thực tế Hiếu còn là những chuẩn tắc, quy định các hành vi ứng xử không thể đi ngược lại trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người”
Theo từ điển Hán Việt của tác giả Thiều Chửu thì “Hiếu là từ đi liền
theo là Thảo (gọi chung là Hiếu thảo) chỉ việc con thờ cha mẹ hết lòng gọi là Hiếu”
Theo bộ Đại từ điển Tiếng Việt, hiếu được định nghĩa: Đó là lòng kính
yêu và biết ơn cha mẹ
Trong Việt Nam phong tục [Phan kế Bính, 6, 26], hiếu được khái quát:
“Hiếu là biết kính trọng thương mến cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ” Trong “Đất lề quê thói”, tác giả Nhất Thanh-Vũ Văn Khiếu
đã mở rộng ra thêm: Đạo Hiếu là lửa thiêng đã hun đúc tinh thần gia tộc Các
cụ ngày trước cho là Hiếu đứng đầu trăm nết:
“Chữ Hiếu niệm cho tròn một tiết
Trang 21Thời suy ra trăm nết đều nên”
Với các quan niệm về hiếu trên, xuất phát từ trục quan hệ cha-con, phạm trù hiếu được đặt ra và nó trở thành một chuẩn mực đạo đức gia đình, là gốc của nhân luân, là nơi xuất phát của mọi ứng xử được xã hội hoá Và suy cho cùng thì việc thực hành đạo hiếu của một người không chỉ liên quan đến mối quan hệ của người đó với cha mẹ, với những thành viên khác trong gia đình mà còn liên quan đến cách cư xử đối với người khác trong xã hội Trên cơ sở ấy, tổng kết lại các định nghĩa ta có thể hiểu, trước hết hiếu được xem là tình cảm cao quý nhân bản của con người dành cho đấng sinh thành, và nó trở thành một giá trị đạo đức trung tâm của gia đình, thành một chuẩn mực đạo đức trong đời sống gia đình mở rộng ra ngoài xã hội Xuất phát từ lòng kính yêu, biết ơn công dưỡng dục sinh thành đối với cha mẹ một cách tự nhiên mà mỗi người nên tự giác có trách nhiệm, nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc,…Đồng thời, bổn phận người làm con còn phải lo tròn chữ hiếu khi bố mẹ qua đời và thờ cúng người khuất bóng sao cho không lỗi đạo làm con
Có thể nói, chu trình thực hiện hiếu đạo là một chu trình khép kín và liên tục vì cái gương thực hiện đạo hiếu của người trước sẽ ảnh hưởng đến người sau Cứ như thế chữ hiếu tạo nên xung quanh nó những giá trị văn hoá và trở thành một trục thiêng liên kết mọi thành viên gia đình Chính vì thế mà hiếu được xem là một giá trị đạo đức phổ quát Tuy nhiên, tuỳ vào phong tục, cách thức ứng xử, tâm thức văn hoá của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà chữ hiếu có những cách thể hiện tương ứng Đặc biệt, đối với văn hóa gia đình Việt Nam, hiếu được xem là một giá trị đạo đức nền tảng của mọi luân lý, nền tảng của sự khẳng định nhân cách con người và nó trở thành truyền thống hiếu đạo trong gia đình Việt Nam Do vậy mà ngay từ thời Đại Việt, dưới nhãn quan các nhà Nho học Trung Quốc, họ đã đánh giá rất cao truyền
thống hiếu đạo này Điều này được ghi nhận qua bức hoạ “Hiếu Ức Quốc”
Trang 22nổi tiếng của nhà danh hoạ Lý Công Lân (tức Lý Long Miện) người đất Chu, đại thần Nhà Tống, vào năm 1078 đã vẽ miêu tả các sứ thần Đại Việt như người của Hiếu Ức Quốc- tức chỉ đất nước của những người hiếu thảo đã phần nào khẳng định cho tinh thần ấy Đây là một bức tranh khá nổi tiếng và hiện được lưu giữ tại bảo tàng E.Guimet, Paris [ Trần Ngọc Thêm, 90, 484 ] Xuất phát từ cơ sở lý thuyết, thực tiễn lịch sử văn hoá-xã hội Việt Nam như thế, khái niệm đạo hiếu có thể hiểu là:
Với Đạo, theo Hán tự là đường đi, là đường cái thẳng và còn có nghĩa là
đạo lý, là cái lẽ nhất định ai cũng phải noi đấy mà theo Có thể nói phạm trù
Đạo trong tâm thức văn hoá của con người Việt Nam nói chung và ứng trong
đề tài này thì Đạo được hiểu ở tầng nghĩa thứ hai: là đạo lý, là cách thức ứng xử và là cái lẽ nhất định mà ai cũng phải theo Thực ra, Đạo có ý nghĩa, nội hàm rộng, gồm: đạo làm người, đạo làm con, đạo làm cha mẹ, đạo làm vợ làm chồng và cả đạo hiếu, đạo trung…và trong đời sống văn hoá gia đình Việt Nam thì phạm trù“Đạo” được biến hoá ứng với từng hành vi xử thế rất năng động Ngoài ra, từ Đạo với những hàm ý của nó không thể đồng nhất với từ Tôn giáo, nó thiên về chỉ cách thức đối nhân xử thế, mà hiểu được nó phải đi từ Tâm hơn là bằng con đường Lý trí
Trên cơ sở đó, có thể hiểu Đạo Hiếu: là một giá trị đạo đức truyền
thống của gia đình Việt Nam, là một đức hạnh chung chi phối các đức hạnh khác và tham gia điều tiết mọi hành vi của con người, bao gồm những giá trị và chuẩn mực phụng dưỡng cha mẹ, mà bổn phận người làm con phải chu toàn, không được xao nhãng, qua đó phải thể hiện được lòng kính ái, biết ơn cha mẹ một cách sâu sắc
2 Hiếu trong mối tương quan gia đình-xã hội:
Trang 232.1 Bản chất tự nhiên của hiếu:
Xét ở khía cạnh gia đình là một tổ chức tâm lý-tình cảm, phạm trù hiếu có một nội hàm nghĩa sâu xa Ơû đây hiếu được xem là một tình cảm đạo đức có tính bản nhiên của mỗi con người, được hình thành, cảm nhận ngay từ lúc còn trong bụng mẹ cho đến lúc sinh ra và trưởng thành, trở thành cơ sở cho vấn đề thai giáo Người ta thường nói “dạy con từ thuở còn thơ” chứ thực ra việc dạy con đã bắt đầu từ ngay khi còn trong bụng mẹ và vấn đề này đã trở thành phong tục Người ta tin rằng, nếu ngay từ khi đứa bé còn trong bụng mà người mẹ biết kiêng khem, biết tránh: những suy nghĩ không đúng đắn, nói những lời không hay, nổi giận,…mà phải nói năng dịu dàng, cử chỉ khoan thai, luôn tươi cười, tâm hồn và suy nghĩ phải luôn ngay thẳng,….thì đứa bé sinh ra sau này sẽ có một sự phát triển tốt cả về thể chất lẫn tâm hồn Vì thế mà chữ hiếu-là tình cảm ban đầu giữa mẹ và con cứ lớn dần lên theo năm tháng Rồi khi ra đời, đứa bé lại cảm nhận được tình yêu, sự nghiêm khắc, bao dung của người cha mà chữ hiếu- tình cảm tự nhiên ấy lại lớn dần thêm, trở thành sợi dây gắn bó tình cảm giữa cha mẹ và con ngày một khắng khít hơn Có thể nói, hiếu-là tình cảm tự nhiên được nảy sinh qua con đường tình cảm huyết thống đã tạo nên sự ràng buộc giữa con cái và cha mẹ hết sức thiêng liêng Điều này khác hẳn với động vật tự nhiên, đó là những loài mang chất bản năng thuần tuý Và rõ ràng là gà mẹ cũng ấp ủ, bảo vệ đàn gà con mỗi khi chúng có nguy cơ bị đe doạ, chim mẹ bay xa ngàn dặm kiếm mồi về mớm cho con ăn, hay hổ dữ còn không dám ăn thịt con, song thực chất đó là một phản xạ bảo bọc trong một thời gian ngắn có tính bản năng thuần tuý của động vật Còn con người sinh ra một thực thể người, bắt buộc người làm cha làm mẹ phải gắn kết lại với nhau một cách khắng khít bằng tình yêu thương, trách nhiệm và nghĩa vụ để nuôi dưỡng, dạy dỗ cái sinh thể ấy thành người
Do vậy mà gia đình, như Mác nói: “ tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát
Trang 24triển lịch sử: hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở-đó là quan hệ giữa chồng và vợ Cha mẹ và con cái, đó là gia đình…như vậy là sự sản xuất ra đời sống-đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như đời sống của người khác bằng việc sinh con biểu hiện ngay ra một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội” [Tương Lai, 130, 3] và có thể nói
chính mối quan hệ huyết thống tự nhiên ấy đã tạo cho con người có được những tình cảm nhân tính đầu tiên mà con người có thể cảm nhận được ngay từ khi còn trong bụng mẹ
Hơn thế, gia đình còn “tự nhiên” ở sự không thể chọn lựa, vì không ai
có thể chọn lựa được người sinh ra mình, chọn lựa được người bố người mẹ như mình nghĩ, cũng như người bố người mẹ cũng không thể lựa chọn con cái
Do vậy mà không một thiết chế nào có được, gia đình chính là mái ấm và trong mái ấm gia đình ấy, tình yêu thương giữa những con người nảy sinh một
cách vô thức, tự nhiên Vì “không một ai lại không tiềm tàng yêu mến những
gì đã sinh ra mình, đảm bảo sự tồn tại của mình Đó là tình cảm đầu tiên hình thành nên trái tim con người một tình cảm tự nhiên chưa hề nhuốm tính xã hội Một chất nhân tính thứ nhất” [ Ma Văn Kháng, 60, 46} và theo thời gian thì “
…xuất hiện trong cộng đồng tự nhiên gia đình một lòng kính trọng bố mẹ Đó cũng là một tình cảm tự nhiên Tình yêu đi bước trước để cho lòng kính trọng
đi bước thứ hai tiếp theo Một tình cảm tự nhiên tương ứng với sự tồn tại, một tình cảm tự nhiên tương ứng với sự phát triển vật chất của con người” [60, 46]
Ngày nay, gia đình có những bước chuyển đổi quan trọng Đi cùng với những thay đổi của điều kiện, những quan hệ sản xuất, gia đình cũng đang chuyển mình từ truyền thống sang hiện đại, từ một đơn vị tình cảm chuyển sang là một đơn vị tiêu dùng…mà với sự thay đổi này kéo theo sự biến động, khủng hoảng, đổi thay cả trong đời sống gia đình Người ta bắt đầu chú ý
Trang 25nhiều hơn đến các quan hệ ngoài gia đình, nảy sinh khuynh hướng chỉ tìm đến hạnh phúc riêng tư, cá nhân mà quên mất nghĩa vụ, đạo lý và vô tình cái tình cảm tự nhiên với người sinh ra mình cũng bị nhiều người cố tình quên lãng, xem nhẹ Tuy nhiên, chỉ khi nào có một thiết chế khác tối ưu hơn có thể thay thế được cho thiết chế gia đình và gia đình không còn cơ sở để tồn tại thì tình cảm bản nhiên ấy mới mất đi Điều này thật khó xảy ra, bởi hiện tại dù có quá nhiều biến động, khủng hoảng đang xảy ra trong đời sống gia đình, làm gia đình suy yếu đi và có nguy cơ tan vỡ nhưng thực tế gia đình vẫn đang chứng tỏ được sức sống của mình Bằng chứng là sau những bất ổn ngoài xã hội thì gia đình vẫn là một điểm tựa vững chắc cho các thành viên gia đình Người ta vẫn tìm về gia đình như một sự trở về với những điều tốt đẹp nhất của cuộc đời Bởi nơi ấy, đối với mỗi người, sức mạnh của cái “tình cảm tự nhiên” rất vô thức đó luôn đánh thức, làm ấm áp, bình ổn lại những xô đẩy của cuộc sống bên ngoài xã hội Vì đó chính là “lực hướng tâm” tạo nên sức
mạnh, nền tảng cho sự tồn tại văn hoá-đạo đức gia đình và dù “người mẹ sinh
ra ta có thể xấu, răng đen, già nua, nghèo, ít học, không biết nói lời hoa mỹ như người khác nhưng ta vẫn cứ yêu, vẫn cứ thương vì đó là tình yêu bản năng, tình yêu tự nhiên không thể nào khác được” [Nguyễn Minh Hòa, 42, 96]
Bước phát triển tiếp theo, dựa trên cơ sở -hiếu là tình cảm tự nhiên có tính bản thể như vậy, hiếu được những người sáng lập ra Nho giáo sớm tổng kết quy định, nâng lên thành một phạm trù đạo đức và trở thành một giá trị biểu trưng cho đạo lý làm người Hiếu được quy phạm hoá vào trong đời sống gia đình, được mọi người xem là chuẩn mực đạo đức và là gốc của mọi đức, cốt lõi của văn hoá gia đình người Việt Hơn thế, giá trị đạo đức hiếu-mà cụ thể là bổn phận của con cái đối với cha mẹ là nền tảng của mọi bổn phận khác được xem là nguồn cội nảy sinh của các sáng tạo nghệ thuật, còn là chiếc cầu nối cuộc sống trần thế vươn tới cõi siêu nhiên huyền bí và từ sâu sa
Trang 26nó còn là cơ sở tinh thần cho các tôn giáo: Phật giáo, Thiên chúa giáo, các tôn giáo cứu thế ở Nam Bộ
2.2 Bản chất xã hội của hiếu:
Hiếu là bản chất tự nhiên của con người nhưng nó chỉ trở thành “Đạo” khi nó mang được bản chất xã hội-thứ bản chất của con người và được quan niệm một cách có hệ thống cả trên phương diện lý thuyết và thực hành Do vậy mà quan niệm về hiếu đã sớm được Nho giáo tổng kết, từ một phạm trù đạo đức hiếu được nâng lên thành một chuẩn mực, trở thành sức mạnh của xã hội bằng những quy phạm luân lý cơ bản của gia đình mở rộng ra đến xã hội Tuy nhiên, là một thiết chế xã hội đặc thù, gia đình không thể không đổi thay theo sự đổi thay của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá Và do đó, hiếu-một phạm trù đạo đức quan trọng trong giáo dục gia đình cũng bắt buộc phải thích ứng, thay đổi phù hợp với nhu cầu mới của xã hội
Trong quá khứ, phạm trù đạo đức hiếu mang những đặc trưng, dấu ấn gắn liền với những giai đoạn lịch sử, văn hoá-xã hội nhất định và theo đó từ xã hội trở về gia đình, hiếu được thể chế hoá một cách cụ thể vào trong đời
sống Bởi “tôn ti trật tự thì có gì là xấu, hiếu đễ là sản phẩm tự nhiên của con
người có lý trí Người đứng đầu gia đình-một đơn vị xã hội-hoặc do quy ước, hoặc thật sự là người tiêu biểu, tiên tiến về mọi mặt, là cần thiết trong qúa trình tổ chức này vận hành ” và “gia đình đâu có phải là tổ chức quan liêu hành chính, chỉ nhằm bảo lưu, gìn giữ một cách cố chấp những lề luật vô bổ Nó nghiêm túc nhưng thân mật Nó có những định ước, những năng động uyển chuyển, vì trên cơ sở tình yêu thương, nó luôn là tổ chức dân chủ và thực hiện một cách tự nhiên nguyên lý đạo đức…” [Ma Văn Kháng, 60, 41] Do vậy, có
thấy được bản chất nội tại, quy luật vận động, khả năng thích ứng trước mọi
Trang 27biến động xã hội của yếu tố gia đình, cộng với những điều kiện lịch sử văn hoá-xã hội khách quan mới hiểu được tại sao hiếu-là giá trị đạo đức có phần thiêng liêng nhất trong số các giá trị đạo đức của Nho giáo lại được gia đình người Việt Nam chấp nhận, xem như một hệ giá trị đạo đức gia đình truyền thống Theo đó, khi Nho giáo vào Việt Nam đi theo con đường từ trên xuống-tức là bằng con đường từ Nhà nước đi vào xã hội, rồi đi vào từng gia đình Với tính ưu việt, là một học thuyết quan tâm đến cõi người hơn là thế giới siêu nhiên, căn cứ vào gia đình để tổ chức xã hội và rất xem trọng nguồn gốc, đó là đề cao lòng hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên nên khi vào Việt Nam-một nước nông nghiệp còn lạc hậu thì Nho giáo sớm tìm được một chỗ đứng, có ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức gia đình Theo đó đạo hiếu với những quy phạm, chuẩn mực theo tư tưởng Nho giáo được người Việt tiếp nhận, lưu giữ, chấp nhận nó như một hệ chuẩn đạo đức trong đời sống gia đình
Xuất phát từ các quan hệ trên-dưới phải phân minh, người dưới phải theo người trên mà hiếu được xem như một giá trị đương nhiên nhằm quy phạm hoá các mối quan hệ ấy thành những phương thức ứng xử hợp tình, hợp
lý Như tác giả Huỳnh Ngọc Trảng đã viết: “trong lịch sử, chúng ta đều biết
cấu trúc gia đình có những quy mô lớn hơn: bầy đàn, thị tộc, bộ lạc, tông tộc, cộng đồng làng xóm, ở đó có nhiều thế hệ sống và lao động liên kết nhau, ở đó, nhiều tấm gương của tổ tiên tiếp tục soi sáng cho bao đời sau, ở đó bảo lưu lâu dài các phong tục, ở đó những việc thờ cúng mang tính chất tính ngưỡng hay tôn giáo đã bắt rễ sâu…Và ở đó, một thiết chế có luật lệ và tôn ti được xác lập, có thể làm ngột ngạt cho một số người, nhưng lại mang đến sự ổn định và
an toàn cho tất cả Hiếu kính với cha mẹ, nói rộng ra là Hiếu đễ (Hiếu kính với cha mẹ, kính thuận với anh em) ra đời từ nhu cầu quy phạm hoá, thể chế hoá các mối quan hệ của các thành viên gia đình”[139] Tuy nhiên, trong xã hội,
Trang 28mối quan hệ giữa thế hệ sau đối với thế hệ trước không phải là bất biến, mà nó sẽ thay đổi tương ứng với sự thay đổi xã hội Theo đó, các mối quan hệ trong gia đình, cụ thể là các mối quan hệ giữa con cái đối với ông bà, cha mẹ cũng phải có những động thái thích ứng với nhu cầu phát triển của xã hội mới Do vậy, để phát huy được tính liên tục của nó trong đời sống văn hoá-xã hội thì chữ hiếu với cả lý thuyết/quan niệm và các chuẩn mực/cách thực hành nó trong đời sống văn hoá gia đình cũng phải có những thay đổi tương thích với sự phát triển gia đình Trên cơ sở đó có thể khẳng định, phạm trù hiếu là một phạm trù mang tính lịch sử và không phải là nhất thành bất biến Ở mỗi thời đại, nó đều có những nội dung thích ứng, và có thể nảy sinh những biến thể mới phản ánh sự đòi hỏi khách quan của đời sống vật chất cũng như tinh thần của một xã hội Như trong một luận điểm của K Marx viết trong tuyên
ngôn Đảng Cộng Sản: “Lịch sử tư tưởng chứng minh gì, nếu không phải là
chứng minh rằng sự sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sự sản xuất vật chất” và cũng chính trong tác phẩm này, K Marx lại nói rằng khi nền công
nghiệp ra đời thì sẽ tạo ra một sự thay đổi ghê gớm “sự đảo lộn liên tiếp ấy
trong sản xuất, sự rung chuyển không ngừng ấy của toàn bộ quan hệ xã hội…Tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ cùng với tất cả những quan niệm và tư tưởng vốn được tôn sùng từ nghìn xưa kèm theo những quan hệ ấy đang bị tiêu tan”[ Nguyễn Minh Hòa, 121, 126] Do vậy mà gia đình-một
thiết chế xã hội đặc thù, với những mối quan hệ bên trong nó, cụ thể là quan hệ cha mẹ-con cái cũng không nằm ngoài quy luật vận động ấy Vì cũng như các mối quan hệ xã hội khác, nếu mối quan hệ cha mẹ-con cái là một mối quan hệ “cứng đờ” “hoen rỉ” thì sự tồn tại của quan niệm, sự thực hành đạo hiếu chắc chắn sẽ cứng nhắc và dần dần không còn cơ sở để tồn tại, đe dọa đến sự tồn tại của yếu tố gia đình Do vậy, để thích ứng với những đòi hỏi mới của xã hội thì không riêng gì các mối quan hệ ngoài xã hội, các mối
Trang 29quan hệ bên trong gia đình và phạm trù đạo đức hiếu là biểu hiện thiêng liêng cho mối quan hệ ấy cũng cần phải có những điều chỉnh hợp lý Tuy nhiên, qua thực tế lịch sử, đi cùng với sự phát triển gia đình thì ý nghĩa cốt lõi của hiếu không thay đổi: đó là tình yêu thương, thái độ biết ơn, lòng kính trọng công ơn dưỡng dục sinh thành của người đã sinh ra mình và có biến đổi là ở cách thức biểu hiện nó như thế nào trong đời sống gia đình-xã hội Do đó, phải xét giá trị đạo đức hiếu trong sự vận động biện chứng của lịch sử và của xã hội Thực ra, ngay từ đầu, các nhà Nho học đã nói về cái đạo của
Khổng Tử: “Đạo của Ngài là đạo trung dung, phải tuỳ thời, tuỳ cảnh ngộ mà
biến đổi, chủ lấy sự thích hợp với đạo nhân làm gốc Việc Hiếu cũng như mọi việc khác, vụ lấy lòng thành thực và cung kính, còn những điều vụn vặt không hợp thời, hợp cảnh, thì bỏ đi, có ngại gì? Có biết theo thời mà biến
đổi, để giữ lấy lòng trung thì mới thật là người Nho học”[ Trần Trọng Kim,
51,145] Nhận định này đã khẳng định cho một cách hiểu uyển chuyển về hiếu mà Khổng Tử đã nhấn mạnh- đó không phải là một phạm trù bất biến mà trong quá trình phát triển văn hoá-xã hội, hiếu sẽ tích hợp vào trong nó những ý nghĩa nội hàm mới miễn là không đi ngược lại cái đạo làm người Do vậy mà ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, phạm trù hiếu được vận dụng vào muôn mặt của đời sống xã hội
Như trong lịch sử văn hoá Trung Quốc, qua tham khảo “Bộ bách khoa
văn sử Trung Quốc” [ Lâm Đại Hùng,146]-phần tư tưởng và bộ sách nghiên
cứu “Cội nguồn văn hoá Trung Hoa” [Đường Đắc Dương, 23,751-1143] nhận
thấy, hiếu luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa- xã hội Trung Hoa Trải qua từng triều đại, hiếu luôn được xác lập, phát triển, luôn được bổ sung, được vận dụng vào quản lý xã hội một cách sáng tạo và có chủ ý nhằm phục vụ đắc lực cho việc cai trị và duy trì nhà nước phong kiến lúc bấy giờ
Trang 30Từ 2000 năm về trước, người Chu đã đề xướng ra những quy phạm đạo
đức, trong đó đặc biệt lấy hiếu làm căn bản, với nội dung: “phụ từ tử hiếu,
huynh hữu đệ cung”(cha từ con hiếu, anh gần gũi em kính trọng)-đây là nội
dung luân lý khái quát về hai loại quan hệ theo tông pháp
Đến thời Tây Chu thì nội dung hiếu được xác lập tương đối hoàn chỉnh Quan niệm về hiếu của người Chu gồm có hai nội dung chính là: phụng dưỡng, cung kính cha mẹ và thờ phụng tổ tiên Hiếu theo quan niệm thứ nhất mang tính phổ biến trong dân gian và theo quan niệm thứ hai thường giới hạn trong phạm vi thiên tử, chư hầu và tông tử-người con trưởng Ở đây, hiếu có tác dụng đặc thù nhằm bảo vệ và duy trì đẳng cấp tông pháp, đảm bảo sự hài hoà, ổn định trong gia đình để dòng họ được mãi duy trì thông qua việc thờ cúng tổ tiên và hệ thống tông pháp Bởi vậy mà hiếu mang màu sắc chính trị đậm nét, tiến thêm một bước, hiếu được xác lập với “trung” trở thành những quy phạm đạo đức cơ bản nhất của xã hội phong kiến
Đến đầu thời kỳ nhà Hán thì hiếu được Hán Cao Tổ chính thức lấy “dĩ
Hiếu trị thiên hạ”(lấy Hiếu cai trị thiên hạ) và ông tự xưng là Hiếu Huệ
Đế-lấy Hiếu đặt trước tên Đến đời các vua sau, học tập vua Hán Cao Tổ, họ đều lấy Hiếu đặt trước tên hiệu, như: Hán Cảnh Đế –gọi là Hiếu Cảnh Đế, Hán Vũ Đế-gọi là Hiếu Vũ Đế Theo nghiên cứu của các học giả thời đó thì quốc gia Hung Nô và Tây Vực cũng đã học tập cách lấy tên hiệu là Hiếu đặt trước tên gọi quốc vương Ngoài ra, hiếu trong ý thức xem thiên hạ một nhà của
Trung Quốc còn thể hiện mục đích vạn quốc“thị kỳ tiên quân” (kính cả vua đời trước), bá tánh thì “thị kỳ thiên quân” (kính vua của mình), còn người trong nhà thì “thị kỳ thân” (yêu kính cha mẹ mình), bởi thế mà thiên hạ thái
bình, tai hoạ không sinh, hoạ hoạn không phát Đây được xem là diệu kế của bậc thánh minh thiên tử dùng hiếu để cai trị thiên hạ Ngoài ra, việc dùng “dĩ hiếu trị thiên hạ” còn bao hàm cả nội dung giáo hoá dân chúng Vì con người
Trang 31từ khi còn nhỏ đã có lòng thân ái đối với cha mẹ, khi lớn lên thì sự kính ái đối với cha mẹ ngày một nhân lên Xuất phát từ ý nghĩa tốt đẹp ấy mà hiếu luôn được xem là nội dung căn bản Ngoài ra, dựa trên cơ sở hiếu, nhà Hán còn
đưa tiêu chuẩn “Hiếu đễ lực điền”-có nghĩa là nếu người ở nhà chăm chỉ cấy
cày, lo phụng dưỡng cha mẹ, hoà thuận với anh em, có tiếng là người con hiếu thảo thì cũng sẽ được đề bạt làm quan trong triều Đây được xem là một chế độ tuyển cử đặc thù của nhà Hán thời bấy giờ Với cách tuyển cử này đề cao hiếu đã đi đến tiêu chuẩn chế định toàn xã hội, trở thành công cụ có tác dụng tiết chế trên thực tế Tới đời Đường, mặc dù đã thực hành theo chế độ khoa cử nhưng hiếu vẫn giữ một vai trò quan trọng trong giáo hoá dân chúng, duy trì phong hoá Cụ thể là Đường Huyền Tông đã đích thân chú Hiếu Kinh-một kinh điển chính thống của Nho gia, sau đó ban bố rộng ra ngoài thiên hạ Có thể nói, phạm trù hiếu gắn liền với những biến thiên của lịch sử các triều đại Trung Quốc và trong quá trình định hình, phát triển, hiếu luôn được xem là một giá trị đạo đức nền tảng và nó được nâng lên thành thuật để trị nước Hay nói cụ thể hơn là hiếu không chỉ giới hạn trong gia đình, nó được mở rộng ra xã hội, có phần mang màu sắc chính trị và Hiếu được xác lập, thống nhất với Trung Cụ thể hơn, Trung là điểm tận cùng của Hiếu mà Hiếu là sự thể hiện và bổ sung đối với Trung Nó điều chỉnh quan hệ gia đình lấy người cha làm uy quyền tuyệt đối, từ đó mà có tác dụng củng cố tổ chức, các
cơ cấu tầng lớp trong xã hội phong kiến Trung Quốc cổ đại Tuy nhiên, trải qua nhiều biến cố lịch sử-xã hội khác nhau thì đạo hiếu vẫn được xem là một truyền thống quan trọng làm phong phú cho nền văn hoá Trung Hoa
Còn trong tổ chức gia đình và xã hội Việt Nam trong quá khứ, quan niệm về hiếu cũng là một quá trình kế tục, chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư
tưởng Nho giáo Trong công trình nghiên cứu “Lịch sử Phật giáo Việt Nam”
tác giả Lê Mạnh Thát có viết về “quan niệm về chữ hiếu của dân tộc Việt
Trang 32Nam” Dựa trên cứ liệu Lục Độ tập kinh do Khương Tăng Hội dịch vào thời
Tam Quốc, ông khẳng định: người Việt ta thời tiền Phật giáo, tức trước khi có
sự ảnh hưởng của Nho giáo thì họ đã có một quan niệm về hiếu đạo khá đặc biệt và hoàn toàn khác hẳn đạo hiếu của người Trung Quốc Tuy nhiên, để
chứng minh cho luận điểm này thì tác giả chỉ căn cứ duy nhất vào nguồn tư liệu “Mâu tử lý hoặc luận” để chứng minh, mà nguồn tư liệu này, theo như
nghiên cứu của tác giả Minh Chi thì “có thể nói toàn bộ lời phê phán của Nho
gia trong cuốn Lý hoặc Luận đều phạm sai lầm chủ quan ấy, cái sai lầm mà logic học Phật giáo hay Nhân minh học Phật giáo gọi là Sở y bất thành”{118,
6-7} Và ngay từ đầu, bản thân “tác giả Mâu Tử là một người Hán ở Giao
Châu Có thể nói đó là một người Hán đã Việt hoá, một Nho sĩ chính thống và uyên bác, nhưng về sau lại theo đạo Phật”, và Mâu Tử khi trả lời đã ví“ Phật giáo như mặt trời giữa trưa, Nho giáo như đuốc, Phật giáo như phượng hoàng, như núi Thái Sơn, như sông Trường Giang, còn Nho giáo như chim sẻ, như gò đống, như ngòi lạch” Rõ ràng với cách nhìn thiên vị, quá đề cao Phật giáo
như vậy thì liệu cơ sở biện luận của tác giả bài viết có đủ sức thuyết phục và khách quan không? Trong một nghiên cứu phản hồi đăng trên tạp chí xưa và nay số 248 tháng 11/2005, tác giả Trương Minh Hiển đã khẳng định rằng người Việt thời Hùng Vương chưa có quan niệm Hiếu đạo và tác giả cho rằng
nếu có chăng: “người Việt thời đó nếu có một đạo thực sự thì thì đó phải là
cái đạo gì khác, như đạo thờ vật tổ(tôtem), đạo thờ mặt trời, đạo thờ tổ tiên, thờ anh hùng, thờ Lạc Long Quân, thờ Bố (cha), thờ Cái(mẹ), thờ thần núi, thần sông…chứ chưa có đạo Hiếu (chữ của đạo Nho) Theo lịch sử tiến hoá thì thời Hùng Vương người Lạc Việt còn ở thời kỳ đồ đá và đồ đồng (văn minh Hoà Bình và Đông Sơn) còn theo chế độ mẫu hệ và đa thần giáo Họ chưa có khái niệm trừu tượng về triết học và tôn giáo cho nên trong ngôn ngữ chưa có từ Hiếu Đây chỉ là từ Hán Việt vay mượn của Trung Quốc, của Khổng giáo du
Trang 33nhập vào thời Bắc Thuộc” [Trương Minh Hiển, 120, 25-26] Có thể thấy cả
hai tác giả này đều có thế mạnh riêng trong sử dụng cứ liệu để lý luận bảo vệ những kiến giải của mình Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn từ một phía ở góc độ Phật học hay Nho học không thôi thì e rằng khó đi đến một hướng giải thích thống nhất Rõ ràng là, qua thực tế sách vở, khảo cổ, ta chưa thấy có một công trình nào khẳng định và chứng minh là người Việt thời Hùng Vương đã có đạo hiếu-với từ gọi tương đương là đạo hiếu, nhưng nói như vậy không có nghĩa là người Việt thời đó không có hiếu Có thể là thời đó, người Việt chưa có một khái niệm hiếu như một phạm trù trừu tượng nhưng trong cách ứng xử thể hiện nội dung hiếu chắc chắn là đã có Qua căn cứ vào những hình ảnh được khắc họa trên trống đồng, các truyện cổ dân gian của các dân tộc Việt Nam nói về nguồn cội, về sự sống và cái chết, rồi dựa vào phong tục tang
ma còn được bảo lưu ở một số tộc người, đặc biệt là phong tục tang ma Mường thì người Việt ta thời đó đã có những quan niệm và thái độ ứng xử
riêng “về cõi chết và cõi sống, về sự chết và sự sống, về người chết và người
sống…Có thể có những hình thức cầu cúng, tưởng nhớ, tiếc thương và chăm lo người chết, ” [Văn Tân, 87, 194] Điều này đã phản ánh ít nhiều cho chúng
ta thấy về cách thể hiện chữ hiếu đối với người khuất bóng của người Việt ta thời ấy Vì hiếu-là một tình cảm tự nhiên có tính bản thể xuất phát từ tình yêu thương hết sức tự nhiên đối với người tạo ra mình, đây là một bản chất người,
ở thời đại, xã hội nào cũng có Do vậy, người Việt ở thời đại Hùng Vương cũng có những cách thức biểu hiện đạo hiếu riêng Tuy nhiên, có thể vào thời Hùng Vương, quan niệm về hiếu chưa được nâng lên thành một khái niệm có tính hệ thống, chỉ mới dừng lại ở mức độ quan niệm đơn giản xuất phát từ một đạo lý ứng xử tự nhiên-là tình người Và chỉ khi Nho giáo vào Việt Nam thì quan niệm về đạo hiếu được người Việt tiếp nhận và áp dụng, bổ sung lại cho phù hợp với gia đình Việt Nam
Trang 34Đi vào đời sống xã hội, từ khi Nho giáo vào Việt Nam thì hiếu được các triều đại phong kiến Việt Nam từ Lê đến Nguyễn đều rất quan tâm, được xem là cơ sở để tề gia và nâng hiếu lên thành một nguyên tắc quan trọng để trị nước Với tư cách là một xã hội thu nhỏ, có đủ tôn ti trật tự như một quốc gia, đủ mọi lễ nghi để đảm bảo cho cơ chế này bền vững, giá trị hiếu đã luôn được đề cao, được xem là một tình cảm mãnh liệt nhất, có sức liên kết không chỉ con cái với cha mẹ mà hết cả mọi thành viên trong gia đình Tuy nhiên, trong quá trình thể chế hóa hiếu thành những chuẩn mực ứng xử phổ biến ra ngoài xã hội thì hiếu được áp dụng vào thực tế có phần linh hoạt, không qúa nguyên tắc, ngặt nghèo như được ghi lại hết sức tỉ mỉ trong Kinh Lễ và một số sách kinh điển của Nho giáo Như trường hợp người phạm tội bất hiếu khi đem ra xử phạt thì trong một số luật cổ của ta thường chú ý xem xét hoàn cảnh gia đình, tình cảnh ông bà, cha mẹ và luôn tạo điều kiện cho người phạm tội thực hiện được bổn phận con cháu của mình Các vua triều Nguyễn còn có biện pháp giảm nhẹ hình tội để biểu dương những gương hiếu thảo, như vào thời Minh Mệnh phạm nhân Nguyễn Cư Tuấn có con trai tên Nguyễn
Cư Chỉ mới 14 tuổi đã trình đơn xin trị tội thay cha nhận hình phạt đi đày Trước hành động ấy, vua Minh Mệnh đã có lời khen ngợi và tha cho cả hai cha con [Phan Đại Doãn, 117,6] Có thể thấy, sự thực hành luật pháp vẫn theo nguyên tắc lấy cái “tình” làm trọng, sau mới xét đến cái “lý” Còn đi vào tổ chức đời sống gia đình, ta thấy gia đình Việt Nam truyền thống không phải là bản sao nguyên dạng theo cơ cấu tổ chức gia đình Trung Quốc phong kiến Nhìn trên tổng thể thì nó được cấu trúc, điều chỉnh lại sao cho phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc, với những điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam Ngay trong cách thể hiện chữ hiếu cũng là mối quan hệ hai chiều nhân bản hơn đã tồn tại khá phổ biến trong gia đình Việt Nam: “trẻ cậy cha, già cậy con”, “con hơn cha là nhà có phúc”,… khác hẳn với mối quan hệ một
Trang 35chiều quy định từ trên xuống “phu từ, tử hiếu, huynh hữu, đệ cung” của đạo Nho
Ngoài ra, hiếu qua “khúc xạ” của nền văn hoá Việt Nam đã được ứng
vào những hoàn cảnh cụ thể, tác giả Tôn Diễn Phong đã nhận xét: “Hiếu với
tư cách là một thứ luân lý đạo đức xã hội, ở Việt Nam được bảo vệ và tôn sùng có thể nói không kém mà còn hơn ở Trung Quốc Nhưng Hiếu của người Việt Nam có hai lớp nghĩa, trong đó, quan niệm về Hiếu kính đối với cha mẹ của họ hoàn toàn giống như Trung Quốc Trừ điểm đó ra, họ còn có một thứ Hiếu khác, đó là lớp nghĩa Hiếu đối với đất nước Người Việt Nam gọi Hiếu với cha mẹ là “tiểu Hiếu” và gọi Hiếu đối với đất nứơc là “đại Hiếu”” [Tôn Diễn
Phong, 135, 13-14] Đó là trường hợp, vào thế kỷ XV, bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh bị bắt giải lưu đày, Nguyễn Trãi (bấy giờ là Thái học sinh, tương đương với tiến sĩ của Trung Quốc) đã đi theo, khóc lóc tiễn đưa cha đến ải
Nam Quan Nguyễn Phi Khanh đã khuyên bảo Nguyễn Trãi “Hãy để cho em
con làm chuyện tiểu Hiếu Còn con là người có học, có tài, nên nghĩ đến việc cứu nước, cứu dân để thực hiện đại Hiếu, chứ đi theo cha khóc lóc ích gì?’
Nghe lời cha dạy, Nguyễn Trãi đã quay về “phù vua Lê, dựng mối cơ đồ” và
“mười năm quét sạch quan Ngô; ấy là đại Hiếu, nghìn thu vẫn truyền” Có thể
nói khi chuyện hiếu kính cha mẹ và chuyện lo việc nước khó có thể chu toàn được cùng một lúc, vậy nên phải biết chọn một Trên tinh thần đó, ở Việt Nam, ý nghĩa của chữ hiếu cũng đã được mở rộng Vượt khỏi phạm vi gia đình, hiếu được gắn liền với việc báo đền ơn đất nước
Khi lịch sử nước nhà sang một trang mới, đất nước thanh bình, để xã hội phát triển, làm sao cho dân giàu nước mạnh, Bác Hồ cũng đã có những vận dụng chữ hiếu hết sức linh hoạt-gắn liền với đạo đức người làm cách mạng,
đó là “Trung với nước, Hiếu với dân” Người nói: “cũng như Trung là Trung
với tổ quốc, Hiếu là hiếu với nhân dân, ta thương cha mẹ ta, mà còn phải
Trang 36thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ”[4, 281] Ơû
đây ta phải hiểu chữ Trung-là trung với tổ quốc-một đất nước cụ thể, ý nghĩa này hoàn toàn khác với chữ Trung-là trung với một ông vua, một triều đại nhất định theo quan niệm của Trung Quốc xưa Đây quả là một cách vận dụng hết sức sáng tạo của Bác Là người tinh thông Nho học, nắm được cái cốt lõi của giá trị hiếu nên Bác đã biết áp dụng bài học của người đi trước vào thực tế xã hội, bổ sung thêm nội hàm nghĩa cho hiếu, trở thành tinh thần của đạo đức người làm cách mạng, người quản lý xã hội Điều này được thể hiện khá rõ, qua câu chuyện Bác nói với một cán bộ:
-“Chú có biết người xưa đã có những cách giáo dục sâu sắc như thế nào không?
Đồng chí này còn đang suy nghĩ, Bác nói tiếp:
-Chú còn nhớ những chuyện Nhị thập tứ Hiếu không? Bác gần 80 tuổi mà
vẫn còn nhớ chuyện ông Lão Lai, vợ chồng Quách Cự, chú bé Hán Lục Tích…hiếu thảo với cha mẹ như thế nào Những chuyện hiếu thảo như thế ngày
xưa cả những người không biết chữ cũng thuộc Các chú phải biết rút kinh
nghiệm, học tập cách giáo dục của ông cha ta Các chú có thể làm tốt hơn vì đạo đức ngày nay cao rộng hơn, không phải chỉ có Hiếu với bố mẹ mà Trung với nước còn phải Hiếu với dân”[4, 304]
Có thể nói, đi liền với những biến đổi của lịch sử, văn hoá-xã hội, phạm trù hiếu cũng chịu ảnh hưởng, biến đổi cho phù hợp Do vậy, trải qua những chặng đường biến đổi của các quan hệ kinh tế dẫn đến sự thay đổi trong kết cấu xã hội thì đạo hiếu tất nhiên cũng chịu sự tác động này Theo thời gian, ý nghĩa nội hàm của hiếu lại được mở rộng, nảy sinh thêm những biến thể mới tương ứng, gắn với những biến động xã hội đó Tuy nhiên, trải qua thời gian, quan niệm hiếu dù có lúc được đề cao, có lúc bị bỏ quên, xem nhẹ rồi có lúc
Trang 37lại được phục hồi, đánh giá lại nhưng xâu chuỗi lại, nó vẫn được xem là quy phạm đạo đức có khả năng hoà nhập rất sâu rộng vào đời sống hiện tại Và trong lịch sử văn hoá nó được các hệ tư tưởng, tôn giáo hun đúc, bổ sung thêm những thành tố văn hoá mới tạo nên một truyền thống đạo đức tốt đẹp của con người, của gia đình truyền thống Việt Nam
II QUAN NIỆM VỀ HIẾU TRONG CÁC HỆ TƯ TƯỞNG, TÔN GIÁO:
1 Quan niệm về hiếu của Nho giáo:
Là học thuyết dựa trên nền tảng gia đình, lấy gia đình làm cơ sở để xây dựng một xã hội lý tưởng nên các mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình và mở rộng ra con người với xã hội luôn được Nho giáo đề cao Bởi vậy mà xuất phát từ những quan hệ gia đình: vợ-chồng, cha-con, anh-em, lấy cương thường luân lý đạo đức trong gia đình làm gốc mà gia đình được tổ
chức một cách chặt chẽ, hợp lý theo tinh thần của Nho giáo: “tề gia, trị quốc,
bình thiên hạ” và trong đó mối quan hệ cha mẹ với con cái được biểu hiện
thông qua giá trị hiếu đạo-một giá trị trung tâm của văn hoá gia đình được Nho giáo rất chú trọng
Trong lịch sử, quan niệm về hiếu được Nho giáo đẩy lên ở một tầm mức
cao hơn, xem như một thứ kinh-Kinh Hiếu-là những lời giảng dạy về hiếu
của đức Khổng Tử cho thầy Tăng Sâm, về sau được tập hợp lại thành sách và được xếp vào một trong mười ba kinh nổi tiếng của Trung Quốc Trong đó,
hiếu được xem là“thiên kinh địa nghĩa”[73], là phạm trù luân lý cơ bản nhất
của Nho gia, là nguồn cội của nhân luân, là nguồn của đạo đức Điều này
được ghi “phù Hiếu, đức chi bản dã, giáo hoá chi sở do sinh dã”(xét ra Hiếu
gốc của đức, là nguồn sinh ra giáo hoá) Hiếu là gốc rễ của đạo đức và là để
Trang 38đạt tới Nhân(hạt nhân của học thuyết luân lý đạo đức của Khổng Tử)-“tức là
khiến cho người ta bao giờ cũng có đầy những tình cảm rất hậu và thành thực Cứ lẽ thường, thì cha mẹ và anh em chị em là người thân thiết của ta, tất là ta phải kính yêu, rồi đối với người ngoài mới có lòng từ ái, trung thứ được Nếu ở với cha mẹ mà không hiếu thảo, ở với anh em mà không kính thuận, tức là tình cảm của ta rất bạc, làm thế nào mà thành được người nhân?”[Trần Trọng
Kim, 51,140] Bởi vậy, trong tư tưởng của Khổng giáo, hiếu được xem là một
chuẩn mực cơ bản trong hệ thống quản lý xã hội, nhằm đạt tới tầm giáo hoá:
“Lập ái tự thân thỉ, giáo dân mục giã Lập kính tự trưởng thỉ, giáo dân thuận giã Giáo dĩ từ mục, nhi dân quý hữu thân; giáo dĩ kính trưởng, nhi dân quý dụng mệnh Hiếu dĩ sự thân, thuận dĩ thinh mệnh, thố chư thiên hạ vô sở bất thành” (dựng lòng ái khởi đầu từ cha mẹ, là dạy dân hoà mục vậy Dựng lòng
kính khởi đầu từ người huynh trưởng, là dạy dân kính thuận vậy Lấy từ mục mà dạy dân thì dân biết quý có cha mẹ; lấy kính người huynh trưởng mà dạy dân thì dân biết quý sự theo mệnh lệnh người trên Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là để vâng mệnh người trên, đem những điều ấy mà thi thố ra thiên hạ,
thì không có điều gì là không làm được)(lễ ký: Tế nghĩa, XXIV)[Trần Trọng
Kim, 51,140] Vì thế, hiếu là đạo nghĩa đối với cha mẹ, đồng thời cũng có thể là đạo nghĩa đối với các thế hệ bên trên của gia đình-ông bà, tổ tiên và là gốc rễ của đạo đức nên một người có hiếu thì các đức tốt khác cũng sẽ có được biểu hiện không những trong quan hệ gia đình mà cả trong mối tương quan với các quan hệ xã hội khác
Chính bởi xem hiếu là nết trọng, đứng đầu trăm nết, là cốt lõi của mọi nghĩa vụ, bổn phận đạo đức của con người mà khi thể hiện tư tưởng của mình và ngay trong cách dạy bảo học trò qua sách Luận ngữ, ta thấy, Khổng Tử rất có ý thức trong việc làm sáng ý nghĩa hiếu đạo và tuỳ vào tính cách, tư chất của từng người, tuỳ lúc, tuỳ thời và tuỳ vào hoàn cảnh của từng người mà
Trang 39hiếu được Người giảng dạy tương ứng Ngay trong Hiếu kinh, quan niệm và nội dung về hiếu được tổng kết khá rõ, tương ứng với từng thứ bậc cụ thể, như: Hiếu của bậc Thiên tử, Hiếu của chư hầu, Hiếu của Khanh đại phu, Hiếu của quan sĩ, và sau cùng là Hiếu của bậc thứ dân Qua đó, ta có cơ sở để hiểu giá trị tư tưởng và hiểu đúng về hiếu theo tinh thần của Nho giáo Cụ thể, nội dung của Hiếu đạo, được thâu tóm lại trong Hiếu kinh gồm ba nội dung
chính: “Phù hiếu thuỷ ư sự thân, trung ư sự quân, chung ư lập thân” (xét ra
Hiếu bắt đầu từ thờ cha mẹ, giữa chừng là thờ vua, cuối cùng là lập thân) Dựa trên cơ sở này ta có thể hiểu cụ thể hơn về hiếu:
(1) Phù Hiếu thuỷ ư sự thân: Hiếu bắt đầu từ thờ cha mẹ:
• Hiếu gắn liền với “sự thân”-phụng sự, phục vụ cha mẹ và “thủ
thân”-giữ gìn thân mình:
Khi Tử Du hỏi về đạo Hiếu, Khổng Tử khẳng định rằng: “kim chi hiếu
giã, thị vị năng dưỡng, chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ
biệt hồ” (đời nay, hễ thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là người có
hiếu Thế nhưng, những loài thú như chó, như ngựa còn có thể được người ta nuôi nữa huống chi là cha mẹ Cho nên nuôi cha mẹ mà chẳng có lòng kính trọng thì lấy gì để phân biệt việc loài chó, loài ngựa vẫn được người ta nuôi
và việc cha mẹ được con cái nuôi nào?” (Luận ngữ, chương Vi chính) Bởi
thế, Người có Hiếu trước hết phải nuôi dưỡng cha mẹ và nuôi thì phải có
kính, chứ không kính thì không phải là hiếu
Rõ ràng, chuẩn mực hiếu không phải là ở chỗ nuôi được cha mẹ hay không Bởi giống chó, giống ngựa còn được con người nuôi, chăm bẵm nên để phân biệt được giữa việc nuôi người và nuôi vật, Nho giáo xác định là
Trang 40phải “kính” Bởi chỉ có con người mới ý thức được người sinh thành ra mình,
cho mình một hình hài và trong tương lai, mình cũng sẽ trở thành những người cha, người mẹ Và sợi dây huyết thống gắn kết tình cảm giữa những con người trong một mái gia đình luôn được củng cố và được nối dài bằng những cuộc hôn nhân Ngay cả sau khi thiết lập một gia đình mới, con cái vẫn có quan hệ mật thiết với cha mẹ của mình Cha mẹ đôi khi trở thành yếu tố tinh thần, động lực, được xây dựng thành những hệ giá trị, niềm tin cho con cái trong cuộc sống Điều này hoàn toàn khác với các loài động vật Ơû đây loài động vật cũng có một gia đình(tạm hiểu là như vậy) song cái gia đình ấy được duy trì chủ yếu là theo quan hệ, chăm sóc, bảo vệ có tính chất bản năng, tồn tại chỉ trong một thời gian ngắn và khi những đứa con của chúng được trả về với tự nhiên thì có nghĩa là cũng sẽ không còn gia đình nữa, chúng chẳng còn
gì ràng buộc nhau cả, thậm chí trở thành xa lạ nhau Như vậy, đối với con người, việc phụng dưỡng cha mẹ cốt tuỷ là ở chỗ có thành kính hay không và từ chỗ thành kính ấy mà dẫu có phải ăn gạo xấu, uống nước lã mà làm cho cha mẹ được trọn vui, được hạnh phúc thì ấy cũng là điều nên làm, được gọi
là hiếu vậy: “xuyết thúc ẩm thuỷ, tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu” (Lễ ký: Đàn cung
hạ)
Việc nuôi dưỡng, phụng sự cha mẹ được xem là một bổn phận hết sức tự nhiên và thiêng liêng của con cái đối với cha mẹ, được thể chế hoá vào trong luật và bất hiếu được xem là tội nặng nhất, bị trừng trị bởi luật hình, chịu tiếng đời khôn rửa Nho giáo quy công ơn dưỡng dục sinh thành khó nhọc của
cha mẹ đối với con cái vào chín việc, gọi “cửu tự cù lao” mà ta thường nghe dân gian nhắc nhở qua ca dao, dân ca và trong các sách giáo huấn, đó là: (1):
Sinh(đẻ), (2): Cúc(nâng đỡ), (3): Phủ(vuốt ve/âu yếm), (4): Xúc(cho bú), (5): Trưởng(nuôi nấng cho lớn mạnh), (6): Dục (dạy dỗ), (7): Cố(đoái tưởng đến), (8):Phục(săn sóc) và (9): Phúc(bảo vệ) Do vậy mà không lẽ gì