1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng cộng sản việt nam vận dụng tư tưởng hồ chí minh về quyền con người trong thời kì đổi mới ở việt nam hiện nay

152 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng cộng sản việt nam vận dụng tư tưởng hồ chí minh về quyền con người trong thời kì đổi mới ở việt nam hiện nay
Tác giả Đỗ Thị Hiện
Người hướng dẫn Phĩ Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Gầu
Trường học Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ sử học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 593,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người không chỉ dừng lại ở quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Người còn bàn tới quyền làm chủ, quyền bình đẳng trước p

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC Phĩ Giáo sư, Tiến sĩ VŨ VĂN GẦU

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008

Trang 2

Mục lục

MỞ ĐẦU………3 Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

1 1 Bối cảnh lịch sử và nguồn gốc hình thành tư tưởng

Hồ Chí Minh về quyền con người ……… 9 1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ chí Minh về quyền

con người ……….……… 21 1.3 Các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con người theo

tư tưởng Hồ Chí Minh……… 52

Chương 2 QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI

2.1 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về bảo vệ và

phát triển các quyền con người ở Việt Nam thời kì đổi mới……… 60 2.2 Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở

Việt Nam trong thời kì đổi mới………88 2.3 Một số kinh nghiệm lịch sử và giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con

người của Đảng Cộng sản Việt Nam………108

KẾT LUẬN ………136 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………140

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người là vấn đề quan trọng hàng đầu của khoa học, các vấn đề liên quan đến con người trong đó có quyền con người bao giờ cũng được các nhà khoa học bằng cách này hay cách khác ưu tiên nghiên cứu Quyền con người là một phạm trù đa diện, cũng là một phạm trù lịch sử, phát sinh, phát triển cùng với các phạm trù giai cấp, nhà nước và pháp luật

Ngày nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề quyền

con người hơn bao giờ hết cần được quan tâm giải quyết, nó được gắn với vấn đề phát triển bền vững, trở thành chủ đề lí luận cơ bản hàng đầu Việc giải quyết

vấn đề quyền con người theo các lí thuyết khác nhau, không phải bao giờ cũng có sự thống nhất, mặc dù mục đích đặt ra là vươn tới tìm kiếm một mô hình xã hội phát triển tự giác- mô hình có sự quản lí, điều tiết dựa trên tri thức khoa học và chủ nghĩa nhân văn Quá trình vận động tất yếu của lịch sử và xu thế giải quyết vấn đề quyền con người cho thấy các giá trị làm người, các quyền cơ bản của con người chỉ được bảo đảm và thực hiện đến cùng trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội hiện thực và chế độ cộng sản tương lai

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người không chỉ dừng lại ở quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Người còn bàn tới quyền làm chủ, quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền được pháp luật bảo vệ, quyền được tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội… với Hồ Chí Minh, quyền

con người không phải là sự ban phát của Nhà nước mà là quyền vốn có của người dân, do nhân dân đấu tranh mà giành được Theo Người, độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước là điều kiện tiên quyết, là tiền đề của quyền con người của các dân tộc bị áp bức

Trang 4

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam - người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, luôn đặt con

người ở vị trí trung tâm Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn đặc biệt chú ý nhằm

bảo đảm thực hiện các quyền con người trên tất cả các lĩnh vực một cách thực tế và đây cũng chính là thành tựu nổi bật khẳng định tính ưu thế của chế độ xã hội mới Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, các quyền con người được mở

rộng, có thêm những tiềm lực mới để bảo đảm và thực hiện Theo đó, quyền con

người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực phát triển của đất nước Trong

mọi đường lối chính sách của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển; đồng thời, cùng với Nhà nước, xác lập các tiền đề vững chắc thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện các quyền con người, bao gồm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Những thành tựu Việt Nam đạt được trong việc giải quyết vấn đề quyền con người là không thể phủ nhận

Tính nóng bỏng của vấn đề quyền con người là ở chỗ bọn đế quốc và

phản động quốc tế đang lợi dụng vấn đề này để tấn công vào chủ nghĩa Lênin, phong trào cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam

Mác-Trong thời gian gần đây xuất hiện một số quan điểm xuyên tạc thực trạng vấn đề quyền con người ở Việt Nam Nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người của Đảng ta trên thực tế vừa khẳng định các thành tựu đã đạt được, phát hiện các khía cạnh mới nảy sinh, vừa góp phần phê phán các quan điểm sai trái có liên quan đến nhân quyền nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc

Chính vì những lẽ trên, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng Cộng

sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong thời kì đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu quyền con người mang tính tổng hợp các tri thức triết học, kinh tế học, luật học, xã hội học… nhằm phát hiện ra quy luật bảo đảm thực hiện quyền con người một cách triệt để Vì thế, trên thế giới, vấn đề quyền con người nhận được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học

Ơû Việt Nam, quyền con người là lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới

Trong các năm 1989, 1990, có hai cuộc hội thảo khoa học về “Chủ nghĩa

xã hội và nhân quyền” Đây là đề tài khoa học gồm nhiều nước xã hội chủ nghĩa

cùng hợp tác nghiên cứu về vấn đề nhân quyền trong đó có Việt Nam

Chúng ta có thể tìm thấy tiếng nói chung về vấn đề này trong tác phẩm

“Quyền con người trong thế giới hiện đại” của hai tác giả đồng chủ biên là Phạm

Khiên Ích và Hoàng Văn Hảo do Viện thông tin Khoa học xã hội và Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức nghiên cứu, sưu tầm và biên dịch, xuất bản năm 1995

Một công trình chuyên khảo có giá trị lớn của các học giả, các nhà nghiên cứu của Việt Nam và Trung Quốc về quyền con người đã được hoàn

thành với việc ra mắt cuốn sách “Quyền con người ở Trung Quốc và Việt nam

(truyền thống, lí luận và thực tiễn)” do Trung tâm nghiên cứu Quyền con người

thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội nghiên cứu Quyền con người Trung Quốc xuất bản năm 2003

Từ khi công cuộc đổi mới được Đảng đề ra, đặc biệt là sau Đại hội VII và Chỉ thị ngày 12-07-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nhấn mạnh việc cần phải nghiên cứu khoa học về quyền con người, cần phát huy tư tưởng nhân đạo, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác-Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, thì quyền con người là vấn đề được sự quan tâm chú ý của cộng đồng, của Đảng, Nhà nước và nhiều nhà khoa học xã hội, lí luận và chính trị

Trang 6

Bắt đầu những năm 90, trong chương trình nghiên cứu cấp nhà nước

KX07: “Con người- mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội” giai

đoạn 1990-1995, lần đầu tiên quyền con người trở thành đối tượng nghiên cứu

của đề tài cấp nhà nước Đó là đề tài KX07-16 có mục đích nghiên cứu về

quyền con người và những điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con người trong

công cuộc đổi mới (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1993), “Quyền con

người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, Trung tâm tư liệu-

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội)

Năm 1997, tại Hội thảo quốc tế “Toàn cầu hóa và quyền công dân” do tổ chức UNRID- Liêân hiệp quốc tổ chức, đại biểu Việt Nam tham luận bằng bài

phát biểu “Toàn cầu hóa và quyền công dân ở Việt Nam nhìn từ khía cạnh văn

hóa” Sau này, tên bài viết trở thành tiêu đề cuốn sách do Giáo sư Tiến sĩ Trần

Văn Bính chủ biên gồm các bài viết của tập thể tác giả là các nhà khoa học và quản lí xã hội về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, xuất bản năm 1999

Gần đây, Tiến sĩ Phạm Ngọc Anh chủ biên cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về quyền con người” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005),

cuốn sách đã làm rõ nguồn gốc hình thành và những nội cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Ngoài những công trình, sách báo và bài viết tiêu biểu trên còn có khá nhiều tác phẩm quan trọng khác nghiên cứu về quyền con người Chẳng hạn:

- Chu Hồng Thanh: Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người,

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997

- Vũ Công Giao: “Nhân quyền Việt Nam: Truyền thống và hiện đại”, Tạp

chí Lý luận Chính trị, Số 12 (tr.55-60), 2001

- Trần Ngọc Đường: Bàn về quyền con người quyền công dân trong nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004

- Nguyễn Văn Động: Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp

Việt Nam, Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005

Trang 7

- Đào Duy Quát: Thành tựu và cống hiến của dân tộc ta trong sự nghiệp

phát triển và bảo vệ quyền con người, Website Đảng Cộng sản Việt Nam

- Cao Đức Thái: Sự phát triển nhận thức của Đảng ta về quyền con người,

Tạp chí Cộng sản, Số 16 (tr 45-49), 2006

Các tác giả đã đề cập nhiều mảng, nhiều khía cạnh về quyền con người, đó là sự tìm tòi sáng tạo và gợi mở nhiều hướng nghiên cứu mới về quyền con người Song, hầu như những nghiên cứu trực tiếp về sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người của Đảng ta từ cách tiếp cận Lịch sử Đảng thì chưa nhiều và chưa thực sự mang tính hệ thống Cho nên, thông qua đề tài:

“Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong thời kì đổi mới ở Việt Nam hiện nay”, bên cạnh việc kế thừa có chọn lọc

những thành tựu của các học giả đi trước, tác giả mong muốn được góp một phần nhỏ nhằm nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam một cách tập trung hơn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích:

Tìm hiểu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kì đổi mới ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

- Một là, trình bày bối cảnh lịch sử, nguồn gốc hình thành và nội dung cơ

bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

- Hai là, làm rõ việc Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo tư tưởng

Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo bảo vệ, phát triển quyền con người ở Việt Nam trong thời kì đổi mới

Trang 8

- Ba là, nêu lên một số kinh nghiệm và giải pháp vận dụng tốt hơn tư tưởng

Hồ Chí Minh về quyền con người nhằm ngày càng nâng cao mức hưởng thụ các quyền con người cho nhân dân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kì đổi mới ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận: đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể: đề tài sử dụng các phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống… trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Góp phần làm rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ chí Minh về quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Góp phần kiến nghị những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn việc bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệäu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu về quyền con người

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 2 chương, 6 tiết

Trang 9

CHƯƠNG 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người suốt đời đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam từ dân tộc nô lệ thành dân tộc tự do, đưa người Việt Nam từ thân phận bị bóc lột làm thuê lên địa vị công dân làm chủ đất nước

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã đưa ra hệ thống các luận điểm về quyền con người, từ quan niệm cho đến sự thể hiện của chúng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Người vừa là nhà tư tưởng, vừa là nhà thực hành bảo vệ quyền con người vĩ đại của thế kỉ XX Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh trong đó có tư tưởng của Người về quyền con người thật sự trở thành một bộ phận văn hóa của dân tộc Việt Nam Di sản tư tưởng về quyền con người của Hồ Chí Minh và những thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người mà Người để lại là nền tảng vật chất và tinh thần vô giá cho toàn Đảng, toàn dân ta khi bước vào thiên niên kỉ mới

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người từ cách tiếp cận lịch sử Đảng, tác giả làm rõ bối cảnh lịch sử và nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người; phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và những điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1 Bối cảnh lịch sử và nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

1.1.1 Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã làm thay đổi vị trí và tương quan lực lượng giữa các nước đế quốc, mặt khác còn đưa đến một hệ quả to lớn, ngoài ý

Trang 10

muốn của các nước tư bản, đó là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi dẫn đến sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới Từ đó, sự đối địch giữa hai phe, hai hệ thống có chế độ chính trị - xã hội khác nhau trở thành đặc điểm lớn nhất của lịch sử thế giới sau chiến tranh

Dưới ảnh hưởng trực tiếp của Cách mạng Tháng Mười Nga và chiến tranh thế giới, phong trào đấu tranh chống đế quốc ở các nước tư bản phương Tây dâng lên mạnh mẽ dẫn đến nhiều Đảng Cộng sản đã lần lượt được thành lập Tháng 3/1919, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời và tăng cường tuyên truyền tư tưởng cộng sản, đề ra đường lối, phương hướng và trực tiếp chỉ đạo, giúp đỡ các nước thuộc địa và phụ thuộc trong cuộc đấu tranh chống ách nô dịch của chủ nghĩa tư bản phương Tây Ơû châu Á, phong trào cách mạng cũng phát triển mạnh mẽ với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa đã diễn ra ở Triều Tiên, Trung Quốc, Aán Độ…

Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam cũng được diễn ra trong bối cảnh đó

Khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên ở bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng năm 1858 chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược, Việt Nam còn là một nước phong kiến độc lập Nhân dân ta đứng lên chiến đấu không ngừng để giành độc lập nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ngọn cờ ý thức hệ phong kiến do một bộ phận những nhà yêu nước giương lên không còn đủ sức đưa phong trào tiến lên Những quan điểm chính trị xã hội lấy đạo trung quân làm trọng trên cơ sở học thuyết Nho gia giờ đây đã tỏ ra bất lực trong cơn thử thách cam go của lịch sử Bên cạnh đó, những lực lượng đại điện cho xã hội cũ như địa chủ, nông dân ngày càng bị phân hóa sâu sắc; các lực lượng xã hội mới như địa chủ tư sản hóa, sĩ phu tân học hóa, tư sản, tiểu tư sản, công nhân bắt đầu xuất hiện và từng bước trưởng thành nhanh chóng

Trang 11

Sự khủng hoảng, bế tắc của phong trào yêu nước dưới ý thức hệ phong kiến cùng với sự “đâm chồi, nẩy lộc” của những luồng tư tưởng mới dưới ảnh hưởng của phong trào cách mạng thế giới đã làm lóe lên trong tư tưởng những nhà yêu nước Việt Nam những câu giải đáp hấp dẫn mà lịch sử đặt ra Hệ tư tưởng phong kiến dần bị phá sản, những tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu bước lên vũ đài chính trị với đầy vẻ mới lạ của nó Hàng loạt các tổ chức, đảng phái chính trị trong và ngoài nước đã ra đời và hoạt động mạnh mẽ, nâng phong trào cách mạng lên bước phát triển mới Tuy nhiên, do hạn chế về mặt giai cấp, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân vì mục tiêu chung giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản vẫn không giành được thắng lợi cuối cùng

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới cùng với sự phân hóa sâu sắc của giai cấp nông dân, đã làm cho giai cấp công nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng Trong quá trình phát triển về lý luận, tổ chức và tiến hành các cuộc đấu tranh yêu nước chống lại sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, chủ nghĩa yêu nước của các trí thức yêu nước Việt Nam đã được những tư tưởng cách mạng mới của giai cấp vô sản - tư tưởng triệt để nhất, cách mạng nhất cho phong trào đấu tranh giành độc lập soi sáng và lôi cuốn, để dần chuyển sang tư tưởng yêu nước theo con đường cách mạng vô sản mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đã tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX

Quê hương Hồ Chí Minh là làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An - nơi có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, hiếu học, trọng đạo lý từ bao đời Hơn thế, Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, hiếu học, trọng tình nghĩa và những giá trị văn hóa, đạo đức của quê hương, dân tộc Từ cụ Nguyễn Sinh Vượng, bà Hà Thị Hy (ông bà nội), Cụ Hoàng Đường, bà Nguyễn Thị Kép (ông bà ngoại) đến ông Nguyễn Sinh Sắc, bà

Trang 12

Hoàng Thị Loan - cha mẹ cùng các anh chị của Người đều là những người thấu hiểu cuộc sống khốn khó của nguời dân dưới chế độ thực dân, phong kiến Từ thuở thiếu thời, Người đã sớm nhận được sự quan tâm dạy bảo, giáo dục truyền thống yêu nước, thương dân của ông bà, cha mẹ, anh chị, những người thầy, người lớn tuổi trong làng Hoàn cảnh gia đình như thế có tác động lớn đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh trong đó có tư tưởng về quyền con người

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về quyền con người nói riêng là sản phẩm của dân tộc và thời đại Từ những trăn trở, suy ngẫm và những xót xa trước nỗi đau mất nước, Hồ Chí Minh xuất dương để nghiên cứu nền văn minh Pháp và phương Tây, tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” là như thế nào để rồi trở về giúp đồng bào Những điều kiện thực tiễn ấy đã giúp Người tiếp cận những ánh sáng của thời đại để tìm ra con đường giải phóng dân tộc, giành lại những quyền cơ bản, chính đáng của con người cho nhân dân, cho dân tộc

1.1.2 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Quyền con người trong tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam

Từ khi lập quốc nhân dân Việt Nam đã quyết hy sinh xương máu giành cho kỳ được quyền sống trên dải đất Giao Chỉ, Cửu Chân yêu quý xưa, mà sau là Đại Việt, nay là Việt Nam Thành quả đó là do tinh thần đầu tranh kiên

cường, bất khuất vì quyền được sống trong độc lập, tự do trên dải đất mà ông cha

mình đã lựa chọn, tên tuổi mình đã được ghi

Bà Triệu, một nữ anh hùng đất Việt đã từng khẳng định: “Tôi muốn cưỡi

gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người.”[132, tr.151]

Tới thời đại độc lập tự chủ, từ thế kỉ X, quyền sống của người Việt Nam

luôn được chăm lo trên hai phương diện: độc lập dân tộc và cải thiện dân sinh

Trang 13

Họ Khúc sau khi kháng chiến đã thi hành chính sách: “Khoan, giản, an, lạc”

Tức là khoan sức dân, giản chính sự, dân được sống an cư lạc nghiệp

Các triều đại phong kiến Lý, Trần đều lấy Phật giáo với tinh thần nhân đạo “từ bi hỷ xả, tế độ chúng sinh” làm quốc giáo Những gia nô, nô tỳ tuy tồn tại nhưng họ vẫn có thân phận con người, có quyền sống và cơ hội thành đạt như Dã Tựơng, Yết Kiêu… đều là những gia nô trở thành danh tướng, sung vào hàng ngũ quan lại

Đến thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi thì:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.”

Quyền con người được đảm bảo với phương châm:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.”

Thời cận đại, Phan Châu Trinh đi tiên phong với mục đích bảo vệ nhân

quyền được Hội nhân quyền Pháp ủng hộ Ôâng đề ra chủ trương: “Khai dân trí,

chấn dân khí, hậu dân sinh” Phan Bội Châu thì quyết hy sinh, xả thân vì quyền

độc lập, tự do của dân tộc

Có thể thấy rằng ý thức cộng đồng chính là nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam, quan hệ xã hội thường được “gia đình hóa”, “gia tộc hóa”, nước mất thì nhà tan, nước thịnh thì nhà yên… theo đó, quyền con người trong các giá trị truyền thống Việt Nam thường gắn chặt với quyền dân tộc, với độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân chứ không phải với từng cá nhân riêng biệt Giành lại hòa bình cho quê hương đã trở thành khát vọng của mỗi cá nhân, mỗi người dân mất nước Truyền thống yêu nước thương nòi ấy có sức mạnh to lớn cổ vũ tinh thần cho biết bao thế hệ Việt Nam anh hùng, bao lớp người chiến đấu và chiến thắng và điều đó thể hiện trọn vẹn trong tư tưởng Hồ Chí Minh trên đường đi tìm

và đấu tranh giải phóng dân tộc với khát vọng: “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do

cho đồng bào tôi là tất cả những gì tôi muốn, là tất cả những gì tôi hiểu.”

Trang 14

Quyền con người trong tinh hoa văn hóa nhân loại

Tư tưởng quyền con người ở phương Đông được đề cập từ rất sớm thông qua triết lý nhân sinh của Phật giáo, Nho giáo

Phật giáo trước hết khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng của con người Tôn chỉ của Phật là mong muốn xây dựng cuộc đời thuần mỹ, thiện chí, bình đẳng, yên lành, no ấm Song chưa giải thích được căn nguyên của nỗi khổ nên tư tưởng của Phật giáo chỉ dừng lại ở sự gợi mở về tự do, dân chủ và giải phóng con người về tinh thần, đạo đức, luân lý

Cùng với Phật giáo, Nho giáo cũng khẳng định quyền con người Tư tưởng nhân bản của Đức Khổng tử là tiêu biểu cho việc đề cao con người, đề cao tinh thần tập thể, đề cao trách nhiệm và nghĩa vụ của con người với xã hội… tất cả điều này được khái quát trong phạm trù “Nhân” với ý nghĩa cơ bản là lòng yêu thương con người Có thể nói từ thời cổ đại, Khổng tử vĩ đại đã khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá về sự bình đẳng về tài sản

Tinh hoa văn hóa phương Đông thời cận đại cũng được xem là một nhân tố quan trọng, tác động mạnh mẽ đến quan niệm về quyền con người của Hồ Chí Minh Tiêu biểu phải kể đến chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn với mục tiêu: “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” Sau này, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy đây là tiêu chí phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, Người đúc kết thành khẩu hiệu của cách mạng Việt Nam là: Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Ở phương Tây, hầu hết các triết gia có quan điểm duy xã hội (con người), đề cao yếu tố con người, vị trí con người trong mối quan hệ với tự nhiên Các triết gia tiêu biểu như: Pitago, Sôcrat, Aristốt luôn thể hiện quan điểm con người là vị trí trung tâm của thế giới Những quan điểm như vậy có ý nghĩa lớn trong việc nhận thức vấn đề quyền con người cho đến tận sau này

Trang 15

Quan điểm đề cao con người ở phương Tây được phát triển rực rỡ ở thời kỳ Phục hưng cuối thế kỷ XV, với sự ra đời của “khoa học tự nhiên thực sự” Châu Âu đã đạt đến sự tiến bộ khổng lồ trong lĩnh vực tự nhiên nhờ những phát kiến mới của Niutơn, Lốccơ, Hốpxơ Họ khẳng định khả năng chinh phục tự nhiên của con người Những quan niệm về con người như vậy tác động mạnh mẽ đến việc đề cập và khẳng định quyền con người Tiêu biểu ở “Thế kỉ khai sáng” phải kể đến Môngtexkiơ (1689-1755), Vônte (1694-1778), Rútxô (1712-1778)… với những tư tưởng về quyền con người, khẳng định các giá trị của con người có vai trò to lớn thúc đẩy việc đòi hỏi các quyền chính đáng của con người, đó là quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc Chính những chân giá trị ấy là ngọn cờ thúc đẩy những người bị áp bức vùng lên giành lại quyền lợi cho mình, bảo vệ con người trước các thế lực xâm hại quyền con người Đó cũng là lý do mà các bản tuyên ngôn về quyền con người xuất hiện

Trong lịch sử phát triển quyền con người thì Tuyên ngôn độc lập của Mỹ

năm 1776 có ý nghĩa rất to lớn Lần đầu tiên trong đời sống chính trị- tư tưởng

của nhân loại có một văn bản chính thức tuyên bố trước toàn thế giới rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trong những quyền ấy có quyền được sống,

quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc” Tuyên ngôn nhấn mạnh bốn

quyền cơ bản trực tiếp liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con người trong hệ thống các quyền con người là quyền được sống, quyền bình đẳng, quyền tự

do và quyền mưu cầu hạnh phúc Hơn thế, Tuyên ngôn còn yêu cầu phải xây

dựng một chính quyền nhà nước để bảo vệ quyền con người Chính quyền nhà nước ấy phải bao gồm những con người xuất phát từ nhân dân, phải tận tâm phục vụ nhân dân, nhận quyền lực từ nhân dân, thực thi quyền lực vì nhân dân và nếu chính quyền ấy không bảo vệ được quyền lợi của nhân dân thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc xóa bỏ nó và thiết lập một chính quyền mới

Trang 16

Với tư cách là một văn kiện chính trị- pháp lí quan trọng, chính thức khai

sinh ra Hợp chủng quốc Hoa kì- một nhà nước độc lập và có chủ quyền, Tuyên

ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 là cơ sở để nhà nước Hoa Kì ban hành Hiến pháp

năm 1787 và đây cũng là Hiến pháp đầu tiên trên thế giới

Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 nhắc lại và

nhấn mạnh tư tưởng Tuyên ngôn độc lập của Mỹ rằng“con người sinh ra tự do, bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi, mọi phân biệt xã hội chỉ có thể đặt trên lợi ích chung” (Điều 1) và “Mục đích của các tổ chức chính trị là giữ gìn các quyền tự nhiên và không thể bị tước bỏ của con người; các quyền này là quyền tự do, quyền sở hữu, quyền được đảm bảo an ninh và chống áp bức” (Điều 2) Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng chính trị thế

giới, Tuyên ngôn định nghĩa khái niệm “quyền tự do” là “quyền có thể làm mọi

điều không gây hại cho người khác” (Điều 14) và nêu rõ hai nguyên tắc quan

trọng trong mối quan hệ qua lại giữa công dân với pháp luật: một là, mọi công

dân đều bình đẳng trước pháp luật, theo đó, ai ai cũng có thể giữ được mọi chức vụ trong bộ máy nhà nước, không có sự phân biệt đối xử nào ngoài đạo đức và

tài năng của mỗi người; hai là, pháp luật phải được áp dụng như nhau đối với tất

cả mọi người khi nó bảo hộ hay trừng phạt

Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, hai Tuyên ngôn đã long

trọng tuyên bố trước thế giới các quyền bẩm sinh, không thể bị tước đoạt của con người; kêu gọi các nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi người phải tôn trọng và bảo vệ các quyền con người; thức tỉnh nhân loại ý thức về các quyền con người như là những giá trị cao quý nhất và thiêng liêng nhất được thừa nhận chung, từ đó quyết tâm đấu tranh giành, giữ và phát triển chúng

Hai Tuyên ngôn có ý nghĩa chính trị- pháp lí toàn thế giới, trực tiếp ảnh

hưởng tích cực tới những văn bản chính trị- pháp lí về quyền con người của Liên hợp quốc và của các nước thành viên Liên hợp quốc và đối với Hồ Chí Minh thì

Trang 17

đó là những văn bản có giá trị to lớn trong đấu tranh giải phóng dân tộc, Người cũng đã trang trọng đưa tư tưởng tôn trọng quyền con người trong hai văn bản ấy vào bản Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam sau này

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền con người

Trong di sản tư tưởng của các nhà kinh điển mácxít, vấn đề quyền con người có giá trị lí luận và thực tiễn khá lớn Một mặt, nó để lại cơ sở tư tưởng lí luận cho các nhà nghiên cứu mácxít sau này tiếp tục nghiên cứu, phân tích về nguồn gốc, bản chất, nôïi dung của quyền con người trong lịch sử, cũng như quyền con người trong thế giới hiện đại Đồng thời, cũng từ “nền” lí luận về quyền con người này, các nhà nghiên cứu mácxít cần và phải phê phán những quan điểm phi khoa học, phi giai cấp về quyền con nguời; mặt khác, từ mô hình

lí luận mácxít về quyền con người, chúng ta có thể triển khai thành những mô hình khả thi hiện thực về quyền con người phù hợp với thời đại, giai cấp và dân tộc mình

Khái niệm “quyền con người” của C.Mác được trình bày trong hệ thống tư duy chính trị dưới dạng cụ thể, sinh động, phản ánh được bản chất, nguồn gốc của vấn đề quyền con người cũng như mối quan hệ của vấn đề này với các vấn đề chính trị khác

Điểm xuất phát của C.Mác là con người, từ lòng nhân ái thương người, vì con người- con người cụ thể, con người thực tiễn Từ việc phê phán quan điểm của những nhà duy tâm, C.Mác đã góp phần quan trọng vào việc làm cho con người thoát khỏi sự tha hóa về tôn giáo, đạo đức, đặt con người trong các mối quan hệ cụ thể, đấu tranh cho bản thân mình C.Mác đã tìm ra chìa khóa để thực hiện việc giải phóng con người, làm cho con người thoát khỏi những ảo tưởng đã cản trở con người đi đến sự giải phóng đích thực của mình Chủ nghĩa nhân đạo mácxít theo đó không phải là chủ nghĩa nhân đạo dựa vào đạo đức và lòng thương người mà là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực Quyền bình đẳng trước pháp

Trang 18

luật là kết quả của cuộc đấu tranh đầy máu và nước mắt của nhân loại, song đó chưa phải là tất cả, là cuối cùng về quyền con nguời mà nhân loại phải đạt tới Quyền con người đầy đủ theo C.Mác phải là: “bình đẳng cả trong lĩnh vực kinh tế và xã hội” tức nghĩa là phải xóa bỏ áp bức giai cấp và có thể tóm tắt là “xóa bỏ chế độ tư hữu”

Mặc dù không hề đưa ra một khái niệm trực tiếp về quyền con người nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải sâu sắc về nguồn gốc, bản chất và đặc trưng của quyền con người Các ông đã xuất phát từ những tiền đề hiện thực và duy vật nhờ đó chúùng ta có thể lấy làm căn cứ cho việc rút ra khái niệm về quyền con người Chẳng hạn, theo C.Mác và Ph.Ăngghen thì con người là một động vật có xương sống, trong ấy tự nhiên đạt tới ý thức về mình, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người và “hành vi lịch sử đầu tiên là hoạt động sản xuất ra đời sống vật chất để thỏa mãn những nhu cầu trực tiếp của con người (ăn, ở, mặc, tái sản xuất ra con người)” [63, tr.608]; “trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [63, tr.610]; đặc biệt, các ông khẳng định: “nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh ra trong lịch sử”; “quyền, đến lượt nó, được quy định thành luật”; “quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội

do chế độ kinh tế quyết định”… [133, tr.67]

Các vấn đề tự do, bình đẳng, bác ái, tình người đều được C.Mác giải quyết thấu đáo trong lí luận, quan điểm của ông về chính trị Hoạt động trong thời kì chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã kế thừa, vận dụng và phát triển tư tưởng mácxít không chỉ trên lĩnh vực lí luận mà cả trong hoạt động chính trị nhất là sau Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 Theo V.I.Lênin, muốn có tự do, bình đẳng, tính người (quyền con người) thì phải qua chính trị, qua quyền lực chính trị để giải quyết Nội dung cơ bản của chính trị là phản ánh những yêu cầu kinh tế một cách tập trung thành phương hướng

Trang 19

chung, đường lối chung trên quy mô quốc gia, quốc tế Từ đó, V.I.Lênin không quan niệm quyền con người một cách chung chung phi lịch sử mà chỉ ra rằng những yêu cầu về quyền con người không thoát ly những điều kiện lịch sử cụ thể là kinh tế, chính trị và xã hội

Có thể xem bản “Tuyên ngôn về các quyền lợi của nhân dân lao động và

bị bóc lột” mà V.I.Lênin soạn thảo như văn bản lập hiến quan trọng nhất Nội

dung Tuyên ngôn cho thấy những quyền cơ bản nhất của con người, của công dân

được bảo đảm và nó được lịch sử thẩm định như một tuyên ngôn mang tinh thần

dân chủ cao hơn tất cả những chế độ dân chủ đã có Tuyên ngôn còn xác nhận về

mặt pháp lý việc thủ tiêu sự phân chia xã hội thành giai cấp, xóa bỏ mọi hiện tượng bóc lột, chế độ tư hữu về ruộng đất, mọi công xưởng, nhà máy, đường sắt, các ngân hàng cũng là sở hữu của nhà nước công nông, mọi quyền hành ở trung ương và địa phương đều thuộc về các xô viết, thành lập quốc hội lập hiến, các dân tộc đều được quyền tự do quyết định vận mệnh của mình…

Tư tưởng về quyền con người của V.I.Lênin thể hiện rõ trong nhiều chính sách lớn của Người như chính sách hòa bình, chính sách dân tộc,… hành động đầu tiên của chính quyền xô viết là thông qua sắc lệnh của V.I.Lênin về hòa bình, sắc lệnh đem chính sách cùng tồn tại hòa bình vào xử lý mối quan hệ giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức giành quyền dân tộc tự quyết, dân chủ và tiến bộ xã hội

V.I.Lênin đã phát triển sâu sắc thêm quan điểm về quyền con người của C.Mác và Ph.Ăngghen, đẩy nó lên một bước nữa trong quá trình vận dụng tư tưởng đó trong hoạt động hiện thực Gắn liền với chính sách hòa bình, cùng tồn tại hòa bình giữa các nước, V.I.Lênin rất coi trọng việc thức tỉnh các dân tộc nhỏ yếu, nhất là các dân tộc phương Đông vốn là khu vực mà quyền con người bị chà đạp nhiều nhất Vấn đề dân tộc thuộc địa và quyền tự quyết của các dân tộc đã chiếm mộït vị trí quan trọng trong tư tưởng chính trị của V.I.Lênin về quyền con

Trang 20

người V.I.Lênin cho rằng các dân tộc bị áp bức và phụ thuộc có quyền đấu tranh để tự giải phóng mình với tính cách là quyền cơ bản và hàng đầu của họ, ông cũng chỉ ra khả năng giành độc lập dân tộc, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân của các nước thuộc địa, nửa thuộc địa hoặc phụ thuộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, trong những điều kiện thuận lợi và có sự lãnh đạo của một chính đảng mácxít của giai cấp công nhân

Từ những quan điểm chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho chúng ta sự hiểu biết đúng đắn về nguồn gốc, bản chất và những nhân tố chế định quyền con người, có thể tóm tắt như sau:

Thứ nhất, nguồn gốc của quyền con người chính là mối quan hệ của con

người với tự nhiên và xã hội Con người là một bộ phận của tự nhiên, theo đó quyền con người ngay từ đầu có nguồn gốc từ tự nhiên, có thuộc tính tự nhiên; con người vừa lệ thuộc vào tự nhiên vừa có quyền uy với tự nhiên Mặt khác, con người có bản chất chủ yếu là xã hội, chính bản chất ấy đã làm biến đổi thực tế tự nhiên, làm cho đời sống của con người ngày càng mang tính xã hội hay tự nhiên được xã hội hóa; rõ ràng, con người vừa sản xuất ra môi trường xã hội lại vừa nhập vào xã hội lại vừa bị xã hội tác động; sức mạnh của cộng đồng, xã hội được tổ chức đưa lại cho mỗi cá nhân sức mạnh của cả cộng đồng Song, nguồn gốc tự nhiên và xã hội của quyền con người không đối lập nhau mà gắn bó hữu

cơ với nhau Con người biến đổi tự nhiên và xã hội đồng thời xã hội và tự nhiên cũng làm biến đổi con người

Thứ hai, quyền con người chính là hệ thống quan hệ của con người với đối

tượng (tự nhiên, xã hội) Trong đó, con người là chủ thể chinh phục, chiếm lĩnh

đối tượng theo nhu cầu phát triển tự do của bản thân mình Tự do của con người

là mục đích tự thân Con người làm ra lịch sử bằng chính sức mạnh của mình

Thứ ba, những nhân tố chế định quyền con người được hiểu theo nghĩa

những yếu tố khách quan quy định quá trình vươn tới tự do, quy định và chế ước

Trang 21

những quan hệ con nguời với tự nhiên và xã hội Đó là những nhân tố như điều kiện kinh tế- xã hội, thiết chế chính trị, trình độ dân chủ, văn hóa…

Chính những quan điểm trên của chủ nghĩa Mác- Lênin đã có tác động trực tiếp và chủ yếu tới quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và

tư tưởng của Người về quyền con người nói riêng

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề cập tới khái niệm nhân quyền và dùng nó trong các lập luận đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, bảo vệ và bênh vực nhân quyền của các dân tộc thuộc địa Trong hoạt động cách mạng, Người đã cùng với dân tộc giành lại ngọn cờ dân chủ nhân quyền từ tay chủ nghĩa thực dân, xem những quyền đó là lý tưởng, là bản chất của nhà nước ta

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người rất phong phú, ở đây tác giả mong làm rõ nội dung tư tưởng ấy thông qua việc khẳng định quan điểm của Người về quyền dân sự chính trị, quyền văn hóa, kinh tế, xã hội, quyền của các nhóm và tập thể trong xã hội như quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quyền

của các dân tộc thiểu số , quyền của phụ nữ, quyền của trẻ em, …

1.2.1 Quan điểm của Hồ chí Minh về quyền dân sự chính trị

Quyền dân sự và quyền chính trị là hai quyền cơ bản của dân quyền Nó được phát triển và hoàn thiện cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng và phong phú của xã hội Do vậy, tìm hiểu sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quyền dân sự và chính trị không thể chỉ dựa vào điều khoản này hay điều khoản khác được quy định trong Hiến pháp và pháp luật mà cần thấy sự sáng tạo trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện các quyền ấy trong đời sống hiện thực của người Việt Nam

Trang 22

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền dân sự, chính trị của con người được xuất phát từ con người, từ lòng yêu thương con người, một tình yêu mênh mông, sâu

sắc, dù họ xuất thân ở bất kì địa vị nào trong xã hội

Lòng yêu nước, thương dân của Hồ Chí Minh không phải theo nghĩa ban

ơn mà là lòng trọng dân Người coi dân là thành viên của cộng đồng dân tộc, là đại chúng, “đồng bào” Người coi “dân là gốc” và “dân là chủ” với ý nghĩa dân

là công dân chứ không phải là “con dân”, “thần dân”, trong đó bao gồm cả nhân

quyền và dân quyền và trách nhiệm của người dân trong nhiệm vụ cứu nước, giành lại độc lập cho đất nước Như vậy, con người theo Hồ Chí Minh không phải là con người chung chung, trừu tượng mà là những con người cụ thể, trước hết là đồng bào bị đọa đày đau khổ của dân tộc mình và sau đó là của cả nhân loại cần lao không phân biệt màu da, chủng tộc bị áp bức

Có thể nói, quan niệm phải lấy “dân làm gốc” của Hồ Chí Minh từ ý thức đạo đức đã trở thành ý thức chính trị, thành nguyên tắc pháp trị Đã là nguyên tắc pháp trị thì mọi thành viên trong xã hội đều phải tuân theo, phải lấy dân làm gốc Nghĩa là phải “đem sức dân, tài dân mà làm lợi cho dân” [83, tr.61] Dân đã đem tài, sức của mình để làm lợi cho mình thì người cầm quyền phải biết sử dụng tài, sức ấy để làm lợi cho nhân dân chứ không phải làm lợi cho bản thân, cho gia đình mình Xét trên phương diện lợi ích thì dân làm gốc cũng thống nhất với dân làm chủ

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân vừa là gốc, vừa là chủ cũng có nghĩa là dân chủ Nó không chỉ là động lực chiến đấu giành lại quyền cơ bản là độc lập cho dân tộc mà còn là khát vọng vươn lên để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, tự do Theo Hồ Chí Minh, độc lập của nước phải gắn liền với hạnh phúc, tự do của dân, “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự

do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [82, tr.56] Nước độc lập do dân giành lại thì không có lý do gì mà dân không được làm chủ Làm chủ trong quan hệ

Trang 23

dân nước, trong quan hệ sở hữu Không có một nước dân chủ nào khi dân đã là chủ đất nước mà lại không quy định về quyền làm chủ bản thân, làm chủ cuộc sống của người dân (quyền dân sự) Với các nước thuộc địa, quá trình dân chủ hóa là quá trình xác lập địa vị làm chủ đất nước của dân, để dân làm chủ thực sự, làm chủ mọi mặt của đời sống xã hội trong sự thống nhất giữa làm chủ của cộng đồng với làm chủ của cá nhân, thực hiện quyền dân sự và quyền chính trị

Từ quan niệm về dân như trên đã chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Hồ Chí Minh, Người hướng về nhân dân nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân lao động Người thường xuyên thực hiện và yêu cầu cán bộ, đảng viên cũng luôn thực hiện lấy dân làm gốc là phải vì dân Nghĩa là: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” [82, tr.56-57], phải gần dân, hiểu dân, học dân, thương yêu, kính trọng dân, phải tin ở dân, tin ở sức mạnh của dân là vô địch Đó là những điều sáng tạo căn bản nhất trong quan niệm về dân- chủ thể của nước dân chủ mà Hồ Chí Minh xây dựng

Đối với Hồ Chí Minh, quyền con người mà trước hết là quyền dân sự

chính trị là sự thống nhất không thể tách rời với quyền độc lập dân tộc, với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, tính chủ động giành lấy quyền làm chủ xã hội

Tư tưởng đó được Người trình bày rõ trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Có thể nói, Tuyên ngôn đã thể hiện rõ sự gặp

gỡ giữa văn minh phương Đông và phương Tây, giữa truyền thống và hiện đại, là sự thể hiện truyền thống Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và khẳng định trực tiếp với thế giới các quyền cơ bản mà chủ yếu nhất là quyền dân sự và chính trị của

nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam Qua Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã có

những luận điểm phát triển, cống hiến lớn về tư tưởng quyền con người cho văn minh nhân loại Người dẫn chân lý vững chắc của thời đại thông qua lời bất hủ

của Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và nhấn mạnh: “Suy rộng ra, câu ấy có

Trang 24

nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

Tư tưởng về quyền làm chủ xã hội của nhân dân còn thể hiện ở việc Người khẳng định: “đánh tan thực dân, giải phóng dân tộc, tranh lại thống nhất, độc lập, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ mới” [83, tr.698]

Theo Hồ Chí Minh, dân chủ cũ là dân chủ tư sản, dân chủ mới khác dân chủ cũ ở chỗ “chính quyền do người dân làm chủ” [84, tr.365] Cái đặc sắc, sự sáng tạo của Hồ Chí Minh là đã tham gia giải quyết vấn đề cơ bản trong quan niệm về dân quyền, đó là quyền lực thuộc về dân chúng cụ thể nào Lý tưởng và mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hình thức cao nhất của dân chủ đương đại Nó sẽ phát huy triệt để những ưu điểm, tích cực và khắc phục loại bỏ những tiêu cực, khiếm khuyết của các chế độ dân chủ trước đó, nhất là dân chủ tư sản Giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa tuy khác nhau về bản chất giai cấp nhưng không khác xa nhiều về những quyền tự do, dân chủ cơ bản của con người, mà như Hồ Chí Minh khẳng định đó là: “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [81, tr.555] và con người “phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” [81, tr.555] Chỗ đối lập căn bản là chế độ dân chủ tư sản xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, trên quyền tự do khế ước và sự phân quyền để chống độc quyền Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ xây dựng trên nguyên tắc: mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người, trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất, sở hữu cá nhân tồn tại bên cạnh và bên trong sở hữu xã hội Cộng đồng xã hội bằng hành động tập thể và bằng nhà nước tập quyền hoạt động theo nguyên tắc thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công, phối hợp thực thi quyền lực để thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đem lại tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mọi người

Trang 25

Tö töôûng Hoă Chí Minh veă quyeăn dađn söï, chính trò cụa con ngöôøi gaĩn chaịt vôùi quaù trình xađy döïng vaø hoaøn thieôn cheâ ñoô phaùp luaôt, xađy döïng moôt xaõ hoôi kư cöông Quan nieôm cụa Hoă Chí Minh veă cheâ ñoô dađn chụ nhađn dađn laø moôt quan

nieôm hieôn ñái Hoă Chí Minh khođng noùi cheâ ñoô dađn chụ laø dađn naĩm quyeăn löïc maø noùi dađn laøm chụ vaø lyù giại noôi dung laøm chụ moôt caùch toaøn dieôn vaø sađu saĩc: laøm chụ nhaø nöôùc, laøm chụ ruoông ñoăng, chụ nhaø maùy xí nghieôp (tö lieôu sạn xuaât)… ñeân laøm chụ veă vaín hoùa, tinh thaăn, nghóa laø dađn laøm chụ trong hieôn thöïc, cho mói ngöôøi vaø tređn mói lónh vöïc cụa ñôøi soâng xaõ hoôi Muoân vaôy, theo Ngöôøi, caăn coù nhöõng thieât cheâ vaø cô cheẫ dađn chụ, nghóa laø nhöõng thieât cheẫ vaø cô cheâ aây

phại ñöôïc xađy döïng vaø theơ hieôn moôt caùch ñaăy ñụ, roõ raøng ñeơ bạo ñạm thöïc thi

quyeăn laøm chụ cụa ngöôøi dađn Trong mói nhaø nöôùc, quyeăn mang tính phaùp lyù,

quyeăn dađn chụ ñöôïc thöøa nhaôn trong phaùp luaôt vaø ñöôïc luaôt phaùp cụa quoâc gia bạo veô, bao goăm quyeăn con ngöôøi (nhađn quyeăn) vaø quyeăn cođng dađn (dađn quyeăn)

ÔÛ nöôùc ta, quyeăn dađn chụ ñöôïc xaùc laôp töø naím 1945 khi Hoă Chí Minh vaø Ñạng Coông sạn Vieôt Nam laõnh ñáo nhađn dađn laøm Caùch máng Thaùng Taùm thaønh cođng, laôp neđn nöôùc Vieôt Nam Dađn chụ Coông hoøa

Quyeăn dađn söï vaø quyeăn chính trò cụa con ngöôøi ñöôïc Hoă Chí Minh ñeă caôp

ôû nhieău nođïi dung, nhieău khía cánh Ngöôøi khođng chư ñeă caôp tôùi quyeăn con ngöôøi noùi chung maø coøn ñeă caôp tôùi quyeăn cụa nhöõng con ngöôøi cú theơ theo giôùi, theo giai caâp, theo taăng lôùp xaõ hoôi, ñaịc bieôt Ngöôøi coi tróng vieôc phaùp luaôt hoùa caùc quyeăn con ngöôøi thaønh quyeăn cođng dađn Luùc ñoù, con ngöôøi (cođng dađn) khođng chư laø cođng dađn chính trò maø laø cođng dađn xaõ hoôi dađn chụ, xaõ hoôi cođng dađn Ngöôøi töøng noùi: nghó cho cuøng, vaân ñeă tö phaùp cuõng nhö mói vaân ñeă khaùc laø vaân ñeă ôû ñôøi vaø laøm ngöôøi

Tö töôûng veă moôt neăn laôp phaùp vì con ngöôøi coù ôû Hoă Chí Minh ngay töø

1919 trong bạn Yeđu saùch cụa nhađn dađn An Nam Tö töôûng ñoù ñöôïc Ngöôøi trình baøy roõ trong phieđn hóp ñaău tieđn cụa Chính phụ lađm thôøi ngaøy 3-9-1945, Hoă Chí

Trang 26

Minh đề nghị phải sớm xây dựng một Hiến pháp dân chủ Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua bản dự thảo Hiến pháp do Ủy ban soạn thảo Hiến pháp trình (sau khi đã chỉnh lý theo trưng cầu dân ý từ thàng 5-1946) được gọi là Hiến pháp năm 1946

Hiến pháp năm 1946 đã chú trọng xác định quyền và nghĩa vụ của công dân và đặt nó ở vị trí thỏa đáng (chương II) Việc bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân là một trong ba nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp năm 1946 Với bản Hiến pháp này, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, những người dân nô lệ trước đây thực sự trở thành người chủ đất nước, được bảo đảm các quyền tự do dân chủ như: quyền bình đẳng dân tộc, bình đẳng nam nữ, bình đẳng của công dân về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, quyền tham gia chính quyền và công việc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh; quyền tự do ngôn luận, tự

do xuất bản, tự do tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở, thư tín, quyền tư hữu tài sản Xét trên phương diện quyền con người thì đạo luật này đã tuyên bố những quyền cơ bản nhất và chỉ cho phép bắt bớ, giam cầm công dân khi có lệnh (quyết định) của tư pháp

Hiến pháp năm 1946 quy định công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí, mất công quyền Những người từ 21 tuổi trở lên (phải có quyền bầu cử, phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ) có quyền ứng cử vào các cơ quan đại diện nhà nước theo nguyên tắc phổ thông, trực tiếp, bình đẳng và bỏ phiếu kín Cùng với quyền bầu cử và ứng cử, công dân có quyền bãi miễn những đại biểu do mình bầu ra khi họ không còn đủ uy tín, có quyền quyết định về Hiến pháp và những công việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia Hiến pháp xác định địa vị cao nhất là dân Hiến pháp năm 1946 ghi: “Tất cả quyền bình trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”, Hiến pháp năm 1959 ghi: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân” Trong các bản Hiến pháp trên

Trang 27

đều có điều khoản ghi nhận hình thức dân chủ trực tiếp của nhân dân tức là ghi rõ việc dân bầu và bãi miễn đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, dân có quyền quyết phúc về những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia,

Hiến pháp cũng long trọng tuyên bố tính nhân dân của quyền lực nhà nước

và tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam đều nhất quán trong việc lựa chọn con đường thực hiện quyền lực của nhân dân, đó là nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, là những cơ quan đại diện cho

ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Ở nước ta, Quốc hội bầu ra các cơ quan hành pháp và tư pháp, và các cơ quan này phải báo cáo hoạt động và chịu trách nhiệm trước Quốc hội Như vậy hệ thống cơ quan nhà nước của ta được tổ chức theo cơ chế tập quyền Dân làm chủ Nhà nước thông qua cơ quan đại diện và được gọi là chế độ dân chủ gián tiếp, ngày nay gọi là dân chủ đại diện

Dù ra đời trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, thậm chí chưa có điều kiện công bố trước quốc dân, nhưng Hiến pháp năm 1946 đã long trọng ghi nhận những giá trị cơ bản nhất và quyền dân chủ cao nhất của nhân dân đó là quyền được sống tự do trong một quốc gia độc lập, có chủ quyền Hiến pháp năm 1959

ra đời trong hoàn cảnh đất nước tạm chia làm hai miền, miền Bắc có những thay đổi lớn trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Theo xu hướng ngày càng mở rộng các quyền dân chủ, nhất là dân chủ trong kinh tế, Hiến pháp năm 1959 đã để hẳn một chương về chế độ kinh tế- xã hội và đặt trước chương quyền và nghĩa vụ công dân

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền dân sự chính trị của con người rất phong phú và sâu sắc Tư tưởng ấy phản ánh rõ những nội dung, bản chất, dấu hiệu nội hàm cơ bản của khái niệm quyền con người nói chung trong đó có quyền dân sự chính trị Những tư tưởng ấy chính là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước ta vạch ra đường lối, chính sách và tổ chức thực

Trang 28

hiện những quyền của nhân dân lao động, nhằm giải phóng toàn diện con người, tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.2 Quan điểm của Hồ chí Minh về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội

Theo Hồ Chí Minh, công cuộc dựng nước và giữ nước, kháng chiến và kiến quốc ở nước ta diễn ra trên bốn lĩnh vực, bốn mặt trận là chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Do đó, nghiên cứu quan điểm của Người về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội thực chất là nghiên cứu phần lớn tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền

Từ giữa những năm 20 của thế kỉ XX, Hồ Chí Minh đã nêu lên phương hướng giải quyết các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước Việt Nam cách

mạng Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” Hồ Chí Minh cho rằng, cách mạng

Việt Nam cần đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, cuộc cách mạng này làm cho “dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”[80,280] Tư tưởng trên đây được thể hiện rất rõ ràng trong Hiến pháp năm

1946 Theo chúng tôi về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh đã có những quan điểm tiến bộ, dự báo khoa học

• Về các quyền kinh tế

Hồ Chí Minh sớm đề ra chủ trương trong chế độ mới, các thành phần kinh tế phát triển tự do, bình đẳng Điều 12, Hiến pháp năm 1946 viết: “Quyền tư hữu tài sản của công dân được đảm bảo” Đến năm 1947, Hồ Chí Minh nói thành phần kinh tế tư bản trong chế độ mới và đề cập đến mối quan hệ giữa chủ và thợ Người chủ trương giải quyết quan hệ ấy theo hướng chủ, thợ và Nhà nước đều có lợi Người cho rằng: chủ không thể vì mối lợi nhuận mà trả công ít cho thợ, còn thợ không thể làm ít mà đòi nhiều tiền công Ý muốn đó không thể giải quyết được chỉ gây xích mích không có lợi cho cả chủ và thợ Như vậy, chỉ khi chủ và thợ hợp tác chặt chẽ thì hai bên đều có lợi: “Chủ và thợ đều phải nhớ

Trang 29

rằng: tăng gia sản xuất chẳng những lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn lợi chung cho nền kinh tế của tổ quốc, lợi chung cho toàn thể đồng bào” [83, tr.106]

Năm 1953, trong “Thường thức chính trị”, sự tồn tại tự do bình đẳng của

các thành phần kinh tế được Hồ Chí Minh luận giải đúng đắn Người cho rằng ở thời điểm 1953, nền kinh tế nước ta có những thành phần: Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô, kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác xã, kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghiệp, kinh tế tư bản của tư nhân, kinh tế tư bản quốc gia Trong điều kiện tồn tại nhiều thành phần kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ gồm bốn điều:

1- Công tư đều lợi

Công là kinh tế quốc doanh Đây là nền tảng của nền kinh tế dân chủ mới Tư là kinh tế tư bản dân tộc, kinh tế cá nhân của nông dân và thợ thủ công Hồ Chí Minh khẳng định kinh tế tư là lực lượng rất cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước Người đòi hỏi Đảng, Chính phủ phải giúp cho thành phần kinh tế này phát triển, nhưng mặt khác họ phải phục tùng pháp luật, phù hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân Cũng với ý tưởng đó, Hồ Chí Minh nói chúng ta phải thực hiện những chính sách công và tư đều được chiếu cố

2- Chủ thợ đều có lợi

Ngoài những quan điểm đã trình bày trong “đời sống mới” năm 1947, đến đây Hồ Chí Minh phát triển thêm: nhà tư bản thì không khỏi bóc lột Nhưng Chính phủ phải có những quy định không để họ bóc lột công nhân quá tay, đồng thời vì lợi ích lâu dài anh em thợ cũng phải để cho chủ số lợi hợp lí Như vậy là có lợi cả đôi bên

3- Công nông giúp đỡ nhau

Sự giúp đỡ có lợi cho cả đôi bên và toàn xã hội

4- Lưu thông trong ngoài

Năm 1946, trong lời kêu gọi Liên hiệp quốc, Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa

Trang 30

và hợp tác trong mọi lĩnh vực” [82, tr.470] Trên cơ sở bình đẳng giữa các nước có chủ quyền Năm 1953, Hồ Chí Minh nói rõ hơn: ta ra sức khai thác lâm thổ sản bán cho các nước bạn và mua những thứ ta cần dùng Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra bán và bán cho ta những hàng hóa ta chưa chế tạo được Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau hai bên cùng có lợi Hồ Chí Minh kết luận: “bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế của nước ta” [85, tr.222] Quan điểm trên đây thể hiện sự sáng tạo, tính vượt trước của Hồ Chí Minh về các quyền kinh tế Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cho thấy sự trung thành, vận dụng sáng tạo quan điểm Hồ Chí Minh về các quyền kinh tế thông qua việc đánh giá đúng vai trò của các thành phần kinh tế

Hồ Chí Minh lên án gay gắt những bất bình đẳng về kinh tế của chế độ thực dân phong kiến Trong chế độ mới, Người sớm khẳng định: tất cả mọi người có sức lao động phải lao động, lao động nhiều thì hưởng nhiều, lao động ít thì hưởng ít Nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy dệt Nam Định, Người chỉ rõ: “Công nhân trong nhà máy, lao đôïng trí óc và chân tay đều có lương bổng Lương bổng theo sức lao động của mình… Chính phủ không phát lương cho người ngồi ăn không”[86,338] Người đòi hỏi phải đặc biệt quan tâm đến người già, trẻ

em, người tàn tật, diện chính sách thương binh, gia đình liệt sĩ Để giải quyết các quyền kinh tế một cách thỏa đáng, Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề xuất cơ chế khóan Cách đây gần nửa thể kỉ, năm 1957, Hồ Chí Minh nói rõ: “Chế độ làm khóan là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ Làm khóan là ích chung và lại lợi riêng… làm khóan tốt thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”[80, tr.341]

• Về các quyền văn hóa, xã hội

Với Hồ Chí Minh, các quyền văn hóa, xã hội trong chế độ mới khác về bản chất với chế đôï thực dân phong kiến Chế độ cũ thực hiện nền giáo dục nô

Trang 31

lệ chỉ đào tạo những kẻ làm tay sai cho thực dân Pháp, đã dẫn đến tình trạng 95% người Việt Nam mù chữ Vì vậy từ những tháng đầu tiên của chế độ mới, Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương và những biện pháp rất hiệu quả để thực hiện mục tiêu “ai cũng được học hành” [82, tr.161] Người coi đây là quyền của công dân, chế độ mới phải đáp ứng, giải quyết quyền đó Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp do Hồ Chí Minh làm trưởng ban soạn thảo và Người kí quyết định công bố ngày 1-1-1960 viết: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền học tập…, có quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ tính sáng tạo của công dân theo được sự nghiệp khoa học, văn học nghệ thuật và các sự nghiệp văn hóa khác”

Nâng cao dân trí, trước hết là thanh toán nạn mù chữ, thất học là quyền của công dân, là nhiệm vụ, trách nhiệm của nhà nước Việt Nam Dân chủ Công hòa Việc giải quyết “quyền học tập” của công dân sau Cách mạng Tháng Tám trở thành mối quan tâm lớn nhất đối với Hồ Chí Minh Người kêu gọi chống nạn thất học, diệt giặc dốt Hồ Chí Minh đặt nền móng cho một xã hội học tập ở Việt Nam: “Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ… những người chưa biết chữ hãy gắng học mà biết chữ đi Vợ chưa biết thì chồng bảo,

em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn, người làm không biết thì chủ bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, chủ nhà máy thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của mình” [82, tr.36-37] Để thoát ra khỏi tình trạng khó khăn, thiếu thốn dốt nát lúc ấy, chúng ta càng thấy rõ sự sáng tạo của Hồ Chí Minh: đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giải quyết quyền học tập của công dân thông qua công tác xã hội hóa giáo dục, Hồ Chí Minh quyết định trong bản Hiến pháp năm 1946: trường tư được mở tự

do và phải dạy theo chương trình nhà nước (Điều 15), phải thấy rõ hoàn cảnh

Trang 32

nghìn cân treo sợi tóc của năm 1946 mới thấu hiểu sự quyết đoán sáng tạo của Hồ Chí Minh Cho tới những năm gần đây, trong khi nhà nước không thể đáp ứng được quyền đó chúng ta mới cho phép mở các trường tư

Hồ Chí Minh cho rằng, việc nhà nước ta bị biến thành thuộc địa của thực dân Pháp là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng từ cuối năm 1944 đến đầu năm

1945 từ Quảng Trị trở ra hơn hai triệu người bị chết đói, tuyệt đại đa số dân ta mù chữ và chồng chất những vấn đề xã hội không thể giải quyết một sớm một chiều Do đó, việc giải quyết các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của công dân không thể tách rời cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, Người nhiều lần nói tới việc thực hiện các mục tiêu, chương trình mang tính tổng quát: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm

Đối với Người không chỉ có sự gắn bó giữa các quyền kinh tế và văn hóa mà các quyền đó còn không thể tách rời quyền độc lập dân tộc Hồ Chí Minh khẳng định: chương trình nội chính của chính phủ và quân dân ta có ba điều:

“ a) Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc, đủ ăn

b) Mở mang giáo dục, để cho ai nấy cũng biết đọc biết viết

c) Thực hành dân chủ để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do” [83, tr.444]

Trong việc giải quyết những vấn đề thuộc quyền con người nói chung, các quyền kinh tế, văn hóa xã hội nói riêng ở Hồ Chí Minh luôn có sự gắn bó giữa quyền công dân và nghĩa vụ công dân

Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta là nước dân chủ, nghĩa là Nhà nước do nhân dân làm chủ Nhân dân có quyền là chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi ngày 18-12-1959, Người khẳng định: “Trong khi được hưởng những quyền lợi do Nhà nước và tập thể mang lại cho mình thì mọi người công dân phải tự giác làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, với tập thể”[87, tr.593] Cùng với quan điểm giải quyết thỏa đáng quyền

Trang 33

công dân và nghĩa vụ công dân, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích dân tộc Người đòi hỏi mọi người phải nhận ra rằng lợi ích chung của dân tộc có phát triển củng cố thì lợi ích riêng của cá nhân mới có thể phát triển và củng cố Vì vậy, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích của dân tộc, quyết không thể đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của dân tộc Người kết luận: “Trong chế độ ta, lợi ích của Nhà nước, của tập thể cùng lợi ích của cá nhân căn bản là nhất trí” [87, tr.593]

Hồ Chí Minh không chỉ nói đến dân chủ mà Người còn đề cập đến chuyên chính Người cho rằng dân chủ là cái quý báu nhất của nhân dân, mở rộng dân chủ, phát huy dân chủ từ dưới lên, từ trên xuống là cách tốt nhất để thực hiện quyền công dân, trong đó có quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Đối với Hồ Chí Minh, quyền lợi phải gắn với nghĩa vụ, dân chủ không tách rời chuyên chính Trong chế độ mới, chuyên chính là đại đa số nhân dân chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ dân chủ của nhân dân Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Như cái hòm đựng của cải thì phải có khóa Nhà thì phải có cửa Khóa và cửa cốt đề phòng kẻ gian ăn trộm Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết Cho nên có cửa phải có khóa, nhà phải có cửa Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ” [86, tr.279-280]

1.2.3 Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về quyền tự do, tín

ngưỡng, tôn giáo

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng chỉ dưới chế độ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân mới được bảo đảm và thực hiện triệt để trên cơ sở những điều kiện thuận lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đây là cơ sở quan trọng giúp cá nhân con người được tự do lựa chọn đức tin, bày tỏ đức tin hoặc từ bỏ đức tin mà không chịu một áp lực nào

Trang 34

từ bên ngoài Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng mặt khác, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, cần phải đấu tranh chống các thế lực thù địch với những âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo không phải là một quyền của cá nhân mà là quyền của một bộ phận nhân dân có nhu cầu và nó còn tồn tại lâu dài cùng với sự phát triển tiến bộ của chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam Quan niệm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ thực tiễn đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Phương pháp tiếp cận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của Hồ Chí Minh là phương pháp lịch sử cụ thể trên cơ sở quan điểm toàn diện và phát triển để giải quyết vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Hồ Chí Minh bao giờ cũng đặt quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo gắn liền với quyền độc lập tự do của dân tộc, chỉ rõ sự thống nhất hữu cơ giữa các quyền cơ bản này, tìm sự tương đồng để giải quyết những điểm khác biệt, tạo động lực tinh thần lành mạnh để bảo vệ và xây dựng đất nước Do vậy, trong các tác phẩm, bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng tôn giáo không có câu chữ nào đả kích hay tỏ ý phủ nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận nhân dân Trong bối cảnh nào, khi đề cập đến vấn đề tôn giáo ở Hồ Chí Minh đều toát lên tinh thần thừa nhận và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và xem đó là một trong những quyền lợi chính đáng của một bộ phận nhân dân

Tôn trọng đức tin tôn giáo của Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc qua lối ứng xử của Người đối với tôn giáo, với đức tin của các tín đồ và chức sắc tôn giáo Người chỉ rõ, mặc dù thế giới quan của người cách mạng khác với thế giới quan tôn giáo, song không vì vậy mà đối đầu, nghi kị nhau, ngược lại phải tôn trọng đức tin của mỗi người Bác nhấn mạnh: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, Tín

Trang 35

đồ Giatô tin ở đức Chúa trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [82, tr.148] Trong những bức thư Hồ Chí Minh gửi cho giáo dân, giáo sĩ, tăng ni, Phật tử nhân dịp lễ Noen, lễ Phật Đản… đều thể hiện rõ sự quan tâm, tôn trọng của Người đối với đức tin của đồng bào theo đạo Người không bao giờ phân biệt đối xử giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau Chủ trương của Người là bình đẳng tôn giáo và không chấp nhận một tôn giáo nào là quốc giáo Đức tin chân chính của mỗi tôn giáo cần thiết phải được tôn trọng như nhau

Hồ Chí Minh luôn có thái độ trân trọng với tôn giáo, một sự trân trọng không chỉ dành cho đức tin của tín đồ mà ngay cả chức sắc tôn giáo Với Chúa Giêsu, Người nói: “Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do, hạnh phúc” [82, tr.50], “Cả đời Người chỉ lo cứu thế độ dân, hy sinh cho tự do bình đẳng”[82, tr.490] Với Đức Phật, Người nói: “Đức Phật là đại từ bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma” [83,197]

Là một người mácxít chân chính, Hồ Chí Minh một mặt tôn trọng đức tin tôn giáo Mặt khác, Người cũng hết sức tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do tín ngưỡng không tôn giáo là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với nhân dân, là cái thiêng liêng của mỗi người không ai xâm phạm hay làm tổn hại đến điều đó

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tức là tôn trọng nhân dân, tôn trọng nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân dân, tôn trọng yêu cầu về tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội Ngày 3-9-1945, một ngày sau lễ Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu sáu vấn đề cấp bách, trong đó vấn đề: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia

Trang 36

rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương giáo đoàn kết” [82, tr.9] Trong Mười chính sách của Việt Minh, Hồ Chí Minh đã khẳûng định quyền tự do của mọi người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng: “Hội hè, tín ngưỡng, báo chương; họp hành đi lại có quyền tự do” và trong chương trình Việt Minh, về chính trị Hồ Chí Minh đã ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân: “Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, …” [81, tr.538]

Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện để mọi công dân dù có tín ngưỡng tôn giáo hay không đều có quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng trước pháp luật Ngay sau khi giành được độc lập, Đảng và Chính phủ tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu quy định mọi công dân được thực hiện quyền tự do dân chủ, được công bằng và bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi công dân, quyền được ra ứng cử và quyền đi bầu cử để lựa chọn những đại biểu có tài, có đức vào các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước

Mặt trận Dân tộc thống nhất do Đảng lập ra trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ là những tổ chức mang tính quần chúng và chính trị có nhiệm vụ lịch sử rất quan trọng là kêu gọi, đoàn kết, tập hợp lực lượng và tổ chức đấu tranh chống đế quốc phong kiến Hoạt động tích cực của Mặt trận dân tộc thống nhất là nhân tố quan trọng dẫn đến sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và hòa bình được lập lại ở miền Bắc năm 1954 Chủ trương của Hồ Chí Minh là không ngừng mở rộng, củng cố mặt trận bằng cách tập hợp, đoàn kết tất cả những ai thực sự yêu tổ quốc, yêu hòa bình, không phân biệt đảng phái, tôn giáo Vấn đề này được Hồ Chí Minh nhận thức đúng và quán triệt cả trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Hồ Chí Minh còn nêu rõ quan điểm chống vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi

Trang 37

hình thöùc Ngay sau khi nhaø nöôùc kieơu môùi ra ñôøi, Hoă Chí Minh ñaõ ban haønh meônh leônh: “Chính quyeăn, quađn ñoôi vaø ñoaøn theơ phại tođn tróng tín ngöôõng, phong túc taôp quaùn cụa ñoăng baøo” [84, tr.565]; “Khođng neđn xuùc phám ñeân tín ngöôõng phong túc cụa dađn”[84, tr.409] Quyeăn töï do tín ngöôõng tođn giaùo laø vaân ñeă nháy cạm, phöùc táp vaø luođn bò caùc theâ löïc thöïc dađn ñeâ quoâc vaø caùc theâ löïc phạn ñoôïng lôïi dúng ñeơ phúc vú cho múc ñích chính trò xaâu xa cụa chuùng trong quaù trình xađm löôïc, bieân nöôùc ta thaønh thuoôc ñòa cụa chuùng Hoă Chí Minh ñaõ toâ caùo vaø ñöa ra nhöõng baỉng chöùng sinh ñoông veă haønh ñoông lôïi dúng tođn giaùo cụa bón thöïc dađn ñeâ quoẫc thođng qua boô phaôn trung gian laø nhöõng nhaø truyeăn ñáo Ngöôøi kieđn quyeât choâng ađm möu vaø nhöõng haønh vi lôïi dúng töï do tín ngöôõng tođn giaùo cụa thöïc dađn ñeâ quoâc vaø caùc theâ löïc phạn ñoông ñeơ phaù hoái caùch máng nöôùc ta

Sau hieôp ñònh Giônevô naím 1954, caùc theâ löïc phạn ñoông ñaõ ñöa ra luaôn ñieôu xuyeđn tác veă caùch máng, cho raỉng coông sạn seõ caâm ñáo, dieôt ñáo, do vaôy

“Chuùa vaøo Nam” ñeơ dú doê hôn 50 ván ñoăng baøo Cođng giaùo ñi theo chuùng Tröôùc tình hình ñoù, Hoă Chí Minh ñaõ vieât nhieău baøi baùo vôùi nhieău buùt danh keđu gói ñoăng baøo: “chôù nghe nhöõng lôøi bòa ñaịt” cụa nhöõng “kẹ tuyeđn truyeăn löøa bòp”,

“chôù ñeơ cho ñòch lôïi dúng” ñeơ maĩc möu ñòch Ñeơ ñoăng baøo tođn giaùo thöïc hieôn toât quyeăn töï do tín ngöôõng, tođn giaùo thì moôt trong nhöõng vieôc caăn phại laøm laø giuùp ñoăng baøo hieơu ñuùng chính saùch tođn giaùo cụa Ñạng vaø Nhaø nöôùc ta ñoăng thôøi vách traăn nhöõng thụû ñoán cụa ñòch

Trong Thö chuùc möøng ñoăng baøo cođng giaùo nhađn dòp Noen naím 1954,

Ngöôøi vieât: “Nhađn dòp naøy, tođi xin nhaĩc lái cho ñoăng baøo roõ: Chính phụ ta thaôt thaø tođn tróng tín ngöôõng töï do Ñoâi vôùi nhöõng giaùo höõu ñaõ nhaăm di cö vaøo Nam, Chính phụ ñaõ ra leônh cho ñòa phöông giöõ gìn caơn thaôn ruoông vöôøn, taøi sạn cụa

nhöõng ñoăng baøo aây vaø seõ giao trạ lái cho nhöõng ngöôøi trôû veă” [85, tr.416-417]

Hoă Chí Minh ñaõ coù caùch nhìn nhaôn, ñaùnh giaù mang tính lòch söû cú theơ, khi phađn

Trang 38

biệt những kẻ hoạt động tôn giáo phản động và những giáo dân có bản chất kính Chúa yêu nước nhưng bị kẻ địch lừa bịp, Người nói: “Một số đồng bào Công giáo tuy bản chất thì tốt nhưng bị bọn cầm đầu phản động lung lạc, nên họ hoài

nghi chính sách của Đảng và Chính phủ” [84, tr.461] Do vậy, đối với những ai

lầm đường lạc lối, Hồ Chí Minh và cách mạng luôn mở lượng khoan hồng Đối với những kẻ địch lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để tuyên truyền quần chúng hiểu sai chính sách tôn giáo của Đảng, chống lại cách mạng, Hồ Chí Minh đấu tranh không khoan nhượng Người chỉ rõ ở Điều 7 Sắc lệnh số 234-SL

“Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập chủ quyền, tuyên truyền chiến tranh phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do tư tưởng của người khác hoặc làm những việc trái pháp luật”

1.2.4 Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về quyền của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Một trong những đóng góp quan trọng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là Người đã có những quan điểm cơ bản về quyền của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng người ở Việt Nam Những quan điểm đó được thể hiện qua nhiều bài viết, bài nói của Người và được ghi thành những nguyên tắc Hiến định qua Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 do Người trực tiếp soạn thảo hoặc trực tiếp chỉ đạo soạn thảo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền của các dân tộc thiểu số được thể hiện ở nhiều khía cạnh Theo Người, Việt Nam là một quốc gia thống nhất, gồm nhiều dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta là nước thống nhất gồm nhiều dân tộc, dù là “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xê đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng

ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau” [82, tr.217] Các

Trang 39

dân tộc ở Việt Nam đều chung một dòng máu, chung một cộng đồng quốc gia, chung một vận mạng lịch sử Những cái chung đó được Hồ Chí Minh khẳng định bằng một câu nói nổi tiếng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” [82, tr.139] Đây là cái gốc của tư tưởng đoàn kết dân tộc, là cơ sở của tư tưởng làm chủ đất nước của mọi dân tộc đã cùng nhau sinh sống trên mảnh đất Việt Nam Nó bao trùm, chi phối mọi quan niệm, nhận thức và hành động cụ thể khác

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc là sự thống nhất dân tộc và quốc gia, mọi dân tộc đều là con em một nhà Nước Việt Nam là nước chung của chúng ta

“Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và chính phủ của chung chúng ta Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữõ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”[82, tr.217] Người chỉ rõ: sở dĩ “trước kia chúng ta xa cách nhau một là vì thiếu dây liên lạc, hai là có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta” [82, tr.217] Những hiện tượng ấy là trái với quy luật phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, phải kiên quyết vạch trần âm mưu chia rẽ của các loại kẻ thù và không bị mắc mưu chúng; đồng thời, phải mở rộng quan hệ, nối các sợi dây liên lạc để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Làm được hai việc đó sẽ giữ vững khối đoàn kết dân tộc

Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc Người nói, chúng ta “phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc Người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo Cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc bé nhỏ, tự ti, cái gì cũng cho mình không làm được, rồi không cố gắng” [89, tr.136] Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp Đảng và Chính phủ luôn kêu gọi các dân tộc xóa bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng

Trang 40

về quyền lợi và nghĩa vụ Trong báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kì họp thứ 11 Quốc hội khóa I, Người chỉ rõ: “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”[87, tr.587]

Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được thể hiện trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật… quyền bình đẳng đó cần được thực hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng và Nhà nước và phải được thể chế hóa bằng pháp luật Với Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên quyền công dân, quyền của các dân tộc thiểu số được ghi thành những nguyên tắc hiến định Đồng bào các dân tộc thiểu số có được những cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm tự do trong cuộc sống của mình, đồng thời có nghĩa vụ đối với dân tộc Đó là tự do, nhưng tự do cũng phải được bình đẳng Hiến pháp năm

1946 đã xác định một hệ thống quyền để bảo đảm tự do cho các dân tộc Hiến pháp ghi: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6) “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều 7) Hiến pháp năm 1959, khẳng định lần nữa quyền bình đẳng của tất cả các dân tộc có trong mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp ghi: “các dân tộc sống trêân đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyềân lợi và nghĩa vụ Nhà nước có nhiệm vụ gìn giữ và phát triển sự đoàn kết giữa các dân tộc Mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm” (Điều 3)

Hồ Chí Minh cho rằng: “nước ta có nhiều dân tộc, đấy là điểm tốt” [89, tr.137] Các dân tộc ta có những dân tộc đông như dân tộc Kinh, có những dân tộc thiểu số như dân tộc Rơmăm, song dù nhiều hay ít thì cũng là những dân tộc riêng Người khẳng định các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về mọi mặt, đều có quyền phát huy khả năng của mình trong mọi hoạt động văn

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Phạm Ngọc Anh (chủ biên) (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tác giả: TS. Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
2. Lê Trọng Ân (12/2004), “Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới”, Tạp chí Cộng sản, Số 24 (723), tr.27-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Lê Trọng Ân
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2004
3. Lương Gia Ban (2003), Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Lương Gia Ban
Nhà XB: Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
4. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2006), Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Nguyễn Thị Báo, (5/2007), “Bảo đảm quyền con người trong thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Website Tạp chí Công sản, số 9 (129), (www.tapchicongsan.org.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Nhà XB: Website Tạp chí Công sản
Năm: 2007
9. Hoàng Chí Bảo (1989), “Quyền con người trong chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Triết học, Số 2, tr.36-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 1989
10. Nguyễn Khánh Bật (1998), Những bài giảng về tư tưởng Hồ Chí Minh, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1998
11. Nguyễn Thị Bình (1993), “Bàn về quyền con người”, Tạp chí Cộng sản, Số 5, tr.13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 1993
12. Vũ Ngọc Bình (2000), Quyền con người trong quản lí tư pháp, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong quản lí tư pháp
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
13. Trần Văn Bính (chủ biên) (1999), Toàn cầu hóa và quyền con người ở Việt Nam, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa và quyền con người ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ (1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ
Tác giả: Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1996
15. Phạm Quang Cận (2000), “Bàn thêm về quyền con người”, Báo Nhân dân, Số ngày 15/03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về quyền con người
Tác giả: Phạm Quang Cận
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2000
16. TS. Vũ Thị Minh Chi (2006), “Ý thức về quyền con người trong việc xây dựng mộùt xó hội lành mạnh”, Tạp chớ Nghiờn cứu con người, Số 5 (26), tr.10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức về quyền con người trong việc xây dựng mộùt xó hội lành mạnh
Tác giả: TS. Vũ Thị Minh Chi
Nhà XB: Tạp chớ Nghiờn cứu con người
Năm: 2006
17. Doãn Chính (chủ biên), (1999), Đại cương triết học Trung quốc, Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1999
20. Phạm Hồng Chương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Lý luận chính trị
Năm: 2004
21. Vũ Hoàng Công (2000), “C.Mác và Ph.Aêngghen bàn về quyền con người”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph.Aêngghen bàn về quyền con người
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lý luận
Năm: 2000
22. Nguyễn Sinh Cúc (2007), “Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2006 và triển vọng năm 2007”, Tạp chí Cộng sản, Số 1 (771), tr.50-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2006 và triển vọng năm 2007
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2007
23. Vũ Đình Cự (2000), “Bảo vệ nhân quyền trong toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại”, Báo Nhân dân, Số ngày 06/03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ nhân quyền trong toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại
Tác giả: Vũ Đình Cự
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2000
24. Dương Văn Duyên (2003), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ chế thực hiện dân chủ”, Tạp chí Triết học, Số 1 (140), tr.10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ chế thực hiện dân chủ
Tác giả: Dương Văn Duyên
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 2003
25. Đặng Hoàng Dũng (1998), Định chế quốc tế và Việt Nam về bảo vệ môi trường, Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định chế quốc tế và Việt Nam về bảo vệ môi trường
Tác giả: Đặng Hoàng Dũng
Nhà XB: Thống kê
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w